Huyền thoại hóa và một số phương thức biểu hiện của văn xuôi Việt Nam đương đại. Phương thức huyền thoại hóa từ bình diện hình tượng thẩm mĩ. Một số phương thức, khuynh hướng tái tạo huyền thoại Huyền thoại hóa và một số phương thức biểu hiện của văn xuôi Việt Nam đương đại. Phương thức huyền thoại hóa từ bình diện hình tượng thẩm mĩ. Một số phương thức, khuynh hướng tái tạo huyền thoại
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
-
-LÊ QUỐC HIẾU
PHƯƠNG THỨC HUYỀN THOẠI HÓA TRONG
VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
(Qua một số sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp,
Tạ Duy Anh, Nguyễn Xuân Khánh)
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI - 10/2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
-
-LÊ QUỐC HIẾU
PHƯƠNG THỨC HUYỀN THOẠI HÓA TRONG
VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI (Qua một số sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp,
Tạ Duy Anh, Nguyễn Xuân Khánh)
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN
HỌC MÃ SỐ: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
\
Người hướng dẫn khoa học:
TS DIÊU LAN PHƯƠNG
HÀ NỘI - 10/2015
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lí do chọn đề tài 3
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
4 Phương pháp nghiên cứu 16
5 Cấu trúc của luận văn 17
CHƯƠNG 1: HUYỀN THOẠI HÓA VÀ MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN CỦA VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 18
1.1 Huyền thoại và phê bình huyền thoại 18
1.1.1 Huyền thoại 18
1.1.2 Phê bình huyền thoại 25
1.2 Huyền thoại và hành trình tìm kiếm phương thức biểu hiện của văn xuôi Việt Nam sau 1975 27
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG THỨC HUYỀN THOẠI HÓA TỪ BÌNH DIỆN HÌNH TƯỢNG THẨM MĨ 39
2.1 Nhân vật huyền thoại 39
2.1.1 Nhân vật theo cấu trúc đối lập nhị nguyên 41
2.1.2 Nhân vật mang màu sắc huyền thoại 44
2.2 Không gian huyền thoại 49
2.2.1 Không gian theo cấu trúc đối lập nhị nguyên 52
2.2.2 Không gian tâm linh, huyền ảo 58
2.2.3 Không gian biểu tượng 61
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC, KHUYNH HƯỚNG TÁI TẠO HUYỀN THOẠI: HUYỀN THOẠI CỔ ĐIỂN, TÂN HUYỀN THOẠI 70
3.1 Tái tạo, hòa trộn những motif, điển tích trong huyền thoại phương Đông và phương Tây 70
3.1.1 Motif Đứa bé thần kì và Sự ra đời kì lạ 72
3.1.2 Motif Hóa thân 77
Trang 43.1.4 Motif Tội ác - trừng phạt 79
3.1.5 Motif Hành trình 81
3.2 Giễu nhại, giải huyền thoại 83
3.2.1 Quan niệm về giễu nhại, giải huyền thoại 83
3.2.2 Các xu hướng giải huyền thoại 86
3.2.2.1 Giải huyền thoại về lịch sử, chính trị 86
3.2.2.2 Giải huyền thoại về tâm thức dân gian 91
3.3 Thế giới cổ mẫu, biểu tượng 106
3.3.1 Cổ mẫu đất - nước 111
3.3.2 Cổ mẫu sông - biển 116
3.3.3 Cổ mẫu giấc mơ 121
KẾT LUẬN 123
TÀI LIỆU THAM KHẢO 130
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong khoảng thời gian hai thập niên trở lại đây, vấn đề “huyền thoại” (myth);phê bình huyền thoại (myth criticism); cổ mẫu (archetype) trở thành mối quan tâmlớn của các nhà nghiên cứu Một trong những nguyên nhân cốt lõi để hướng nghiêncứu huyền thoại cổ mẫu ngày càng khẳng định ưu thế trong việc khám phá, giải mãtác phẩm là bởi chúng đã trở thành những chất liệu nghệ thuật, “đi vào”, “ngả bóng”nơi các sáng tác văn học, hình thành một khuynh hướng sáng tác huyền thoại độcđáo Khuynh hướng này bắt nguồn từ sự chuyển hướng mạnh mẽ trong tư duy vănxuôi (tiểu thuyết, truyện ngắn) sau năm 1975 mà cội nguồn của nó là ý thức “vựcdậy” những sáng tác truyền kì trung đại, hoặc những nhân vật, motif trong huyềnthoại, truyền thuyết Đông - Tây Khuynh hướng sáng tác huyền thoại không phảiđến bây giờ mới xuất hiện mà huyền thoại với vai trò là “cái nôi nguyên hợp củavăn hóa loài người”, “hình thức cổ xưa nhất”, “thể loại” tồn tại lâu đời nhất trướckhi phân rã thành những hình thái ý thức khác nhau, đã trở thành suối nguồn dồidào, chất liệu sáng tác của mọi loại hình nghệ thuật không riêng gì văn học Nhànghiên cứu Pierre Brunel quan niệm, văn chương, nghệ thuật (và hiện nay là điệnảnh) có vai trò như một “phòng lưu trữ huyền thoại” Huyền thoại được tái sinh, baobọc bởi văn chương Huyền thoại “lấp lánh bí ẩn”, “phát sáng thông điệp”, nó trởthành cái nôi của văn học, vì ở huyền thoại có những tình huống/hoàn cảnh/câuchuyện mẫu với khả năng thâm nhập, tái sinh không ngừng trong cấu trúc nghệthuật Không chỉ vậy, chính vì huyền thoại xuất phát từ vô thức tập thể (collectiveunconscious) của cộng đồng, nhân loại nên nó như một di chỉ của kí ức, văn hóa ănsâu vào tiềm thức, chi phối, kiến tạo nên chất liệu trong quá trình sáng tác của ngườinghệ sĩ Hướng tiếp cận huyền thoại mở ra những khả năng/triển vọng mới trongnghiên cứu văn học nhưng đồng thời cũng gợi mở những hướng thăm dò mới trongnghiên cứu quá trình tương tác (interaction), xâm lấn (penetration), ứng xử(behavior) với những chất liệu huyền thoại (materials of myth) ở từng loại hìnhnghệ thuật (âm nhạc, điện ảnh, sân khấu, kịch, điêu khắc…)
Trang 6Tuy nhiên, trong thực tế nghiên cứu văn học, chúng ta vẫn chưa khu biệt mộtcách chính xác giữa “huyền thoại” và “thần thoại”? Liệu đây có phải là hai thuậtngữ có nội hàm khái niệm tương đồng? Mặt khác, những vấn đề của “huyền thoại”trong sự tương tác/xâm lấn/“đi vào” văn học; vấn đề phê bình huyền thoại, phê bình
cổ mẫu, phương thức huyền thoại hóa (mystification), giải huyền thoại(demystification) và các khuynh hướng sáng tác huyền thoại vẫn chưa được nghiêncứu một cách hệ thống Khi “đi vào” sáng tác văn học, huyền thoại đã tạo nênnhững biến đổi gì trong cấu trúc thể loại của truyện ngắn, tiểu thuyết?
Thêm nữa, nhìn từ các phương thức biểu hiện của văn xuôi Việt Nam đươngđại, chúng ta thấy sự nở rộ của các kĩ thuật viết mới mẻ Có những tác phẩm là sựthống hợp của nhiều bút pháp sáng tác khác nhau (tả thực mới, phúng dụ, huyềnthoại, giễu nhại, bút pháp tượng trưng, liên văn bản, hậu hiện đại ) Nhìn từphương diện này, huyền thoại hóa thực chất là một phương thức, kĩ thuật sáng táctiêu biểu của văn chương đương đại Vậy vấn đề đặt ra, khi sử dụng kĩ thuật này,một cách chủ ý hoặc vô thức nhà văn đã tái tạo, ứng xử với những chất liệu huyềnthoại ra sao, đồng thời có những biến đổi gì về mặt cấu trúc, tư duy thể loại, hìnhtượng thẩm mĩ và trần thuật?
Huyền thoại không chỉ đơn giản như một phương thức, kĩ thuật sáng tác, màhơn hết, huyền thoại còn được xem như một “tiền văn bản”, một thể loại tồn tại lâuđời nhất, một hình thức nguyên hợp sơ khai, nơi lưu giữ văn hóa nhân loại Từ mốiquan hệ giữa huyền thoại và văn học (một trong những mảnh vỡ, hình thái ý thứcriêng biệt “thoát thai” từ huyền thoại), tác phẩm văn học chính là mảnh đất màu mỡcho sự tham dự, phóng chiếu (projection) của huyền thoại, tư duy huyền thoại nảymầm biểu hiện bằng sự cố kết, gia tăng, lặp đi lặp lại những cổ mẫu, ẩn dụ, biểutượng, từ đó hình thành nên những khuynh hướng sáng tác huyền thoại đa dạng
Từ thực tiễn trong hoạt động sáng tác và nghiên cứu văn học, chúng tôi lựa
chọn đề tài Phương thức huyền thoại hóa trong văn xuôi Việt Nam đương đại (Qua một số sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Nguyễn Xuân Khánh) hướng
đến giải quyết những luận điểm khoa học được đặt ra ở trên
Trang 72 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Như đã nhấn mạnh về vai trò của huyền thoại như là “trạng thái đầu tiên” củacái mà sau này sẽ được gọi là “ý thức xã hội của một cộng đồng dân tộc” hoặc “liêndân tộc”, do vậy, nghiên cứu về huyền thoại đã có một lịch sử kéo dài Luận văn tìmhiểu “phương thức huyền thoại hóa” - một vấn đề của huyền thoại, tức là nghiêncứu quá trình, cơ chế xâm lấn của huyền thoại, tư duy huyền thoại trong văn họcviết, mà phạm vi cụ thể là văn xuôi Việt Nam đương đại Do vấn đề nghiên cứu, tuychỉ chạm đến một khía cạnh nhỏ của huyền thoại, nhưng lại mở ra “đại lộ thênhthang” về lịch sử nghiên cứu huyền thoại Mặt khác, vấn đề này trong những nămgần đây đã nhận được sự quan tâm của các dịch giả, nhà nghiên cứu Tuy nhiên, nếu
so sánh với các hướng nghiên cứu đã thực sự tạo dựng thành một khuynh hướngtrong khoa học văn học ở Việt Nam hiện nay như: Tự sự học (Narratology), Hậuhiện đại (Postmodern), Diễn ngôn (Discourse), Liên văn bản (Intertextuality),Chuyển thể (Adaptation),… rõ ràng, Phê bình huyền thoại vẫn còn khá mờ nhạt Sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Nguyễn Xuân Khánh đã trởthành “mảnh đất” được đào xới, thâm canh nhiều Có thể nêu tên một số công trình
nghiên cứu tiêu biểu được xuất bản trong thời gian qua như: Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp (Phạm Xuân Nguyên sưu tầm và biên soạn, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2001); Giã biệt bóng tối, tác phẩm & lời bình (Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2010); Lịch sử và văn hóa - Cái nhìn nghệ thuật Nguyễn Xuân Khánh (Nxb Phụ nữ, Hà
Nội, 2012)…, đó là còn chưa kể hàng trăm công trình luận văn, luận án, các bàinghiên cứu… có liên quan mà chúng tôi chưa thể khảo sát hết được Tuy vậy, vấn
đề huyền thoại hóa trong văn xuôi Việt Nam đương đại vẫn có những khoảng trốngcần được nghiên cứu một cách hệ thống
Trong phần này, chúng tôi không khảo sát lịch sử nghiên cứu theo hướng tiếpcận lịch đại, đồng đại mà triển khai theo từng cấp độ và hình thức nghiên cứu cụthể Luận văn tìm hiểu vấn đề huyền thoại hóa trong văn xuôi Việt Nam đương đạiqua nghiên cứu trường hợp (case study) sáng tác của ba tác giả, do vậy lịch sử vấn
đề chúng tôi triển khai theo hai hướng cụ thể, bao quát từ phạm vi rộng đến hẹp:
Trang 8Tiếp nhận và quảng bá lí thuyết về huyền thoại, cổ mẫu và Về các khuynh hướng nghiên cứu huyền thoại.
2.1 Tiếp nhận và quảng bá lí thuyết về huyền thoại, cổ mẫu
Khoảng thời gian một thập niên trở lại đây, những công trình dịch thuật, cáctài liệu nghiên cứu huyền thoại và thi pháp huyền thoại trong sáng tác văn học đãtăng hẳn lên Tiếp nhận lí thuyết về huyền thoại trong giới khoa học văn học ở ViệtNam khá muộn mằn Theo tìm hiểu của chúng tôi, bài viết “Fzan Kafka - và vấn đề
“huyền thoại” trong văn học” của Hoàng Trinh đăng trên tạp chí Văn học (tháng
5/1970) có vai trò “tiên phong” trong việc luận bàn về “huyền thoại” trong nghiêncứu văn học ở Việt Nam Theo tác giả, “không nên nghĩ rằng trong các tiểu thuyết
Lâu đài, Vụ án và các truyện ngắn trong tập Vạn lí trường thành, Biến dạng…
Kafka muốn phản ánh hay ghi lại những câu chuyện có thật nào đó theo quan niệmthông thường của các nhà văn hiện thực”, hơn hết những tư liệu này chỉ là cái “cớ”
để thông qua đó dựng lên “huyền thoại” - “tức là những hình tượng văn học giántiếp và có tầm khái quát lớn, mang một ẩn ý sâu, phản ánh những tư tưởng triết họccủa tác giả về những vấn đề nào đó đang đặt ra trong cuộc sống” [76; tr.95] Những
lí giải của Hoàng Trinh chưa thật thuyết phục và rõ ràng Vì “huyền thoại” trong hai
sáng tác Vụ án, Lâu đài của Kafka chỉ dựa trên những ẩn dụ khá kín đáo của cấp độ
hình ảnh và câu chữ nên một người đọc nếu không nắm rõ những điển tích, motiftrong huyền thoại phương Tây sẽ rất khó để hiểu được Cũng trong bài viết này,Hoàng Trinh đã đưa ra những nhận xét xác đáng về khái niệm huyền thoại trong vănhọc Theo ông, huyền thoại không gì khác chính là những “hình ảnh” có nguồn gốc,được “rút ra” trong hệ thống thần thoại, điển tích hoặc là
những hình ảnh khác thường, “phi lí tính” do nhà văn sáng tạo ra, qua đó nói lên mộtcách ẩn ý những sự thật, những nỗi niềm, những ước vọng nào đó của cá nhân mìnhđồng thời cũng là thời đại mình Nó là một tấm voan mờ ảo khoác lên trên nhữnghiện thực sinh động, mà nhà văn đã chủ động che bớt ánh sáng hoặc phá bỏ kích tấc[76; tr.95]
Trang 9Rõ ràng, theo quan điểm của Hoàng Trinh, huyền thoại không chỉ trở thành mộtsuối nguồn chất liệu dồi dào mà còn trở thành phương thức biểu hiện, biện phápcảm thụ thế giới, và là “nơi gửi gắm những điều thực tế nhà văn muốn nói”.
Bài viết của Phùng Văn Tửu “Vấn đề huyền thoại trong văn học nghệ thuật”
đăng trên tạp chí Nghiên cứu Nghệ thuật, số tháng 3/1976 đã soi chiếu huyền thoại
như một “phương thức nghệ thuật đang có xu hướng trở thành một trong những kĩthuật sáng tác của tiểu thuyết hiện đại” [78; tr.111] Phùng Văn Tửu luận bàn kháiniệm “huyền thoại”, đồng thời chỉ ra sự quan tâm đến huyền thoại của các nhànghiên cứu Việt Nam và thế giới qua việc liệt kê những công trình nghiên cứu, sángtác tiêu biểu Không chỉ vậy, nhìn vào đời sống văn học Việt Nam, tác giả còn lígiải nguyên nhân mà huyền thoại trở thành vấn đề “xa lạ”, “ít ai quan tâm” bằngnhững dẫn chứng khá thuyết phục Đó là do hoàn cảnh đất nước ta, với hai cuộcchiến tranh liên miên kéo dài, chủ nghĩa anh hùng cách mạng với những nguyên tắc
mĩ học phải được đề cao Vậy nên ở giai đoạn văn học cách mạng, sáng tác cũngnhư lí luận phê bình thế kỉ XX, huyền thoại - với quan niệm, nhận định liên quanđến sự mơ hồ, kì ảo ít được chú ý Tuy nhiên, tình hình đã có biến đổi, khởi sắc Từsau năm 1986, “trên văn đàn những tác phẩm với các nhân vật, các sự kiện siêunhiên hoặc được xây dựng trên cơ sở của trí tưởng tượng sáng tạo, vượt ra ngoàikhuôn khổ chân thực cụ thể lịch sử” xuất hiện ngày càng nhiều Bài viết của PhùngVăn Tửu đưa ra những kiến giải khoa học sắc sảo, gợi mở khả năng mới trong ứngdụng nghiên cứu huyền thoại, cổ mẫu
Tác giả Lại Nguyên Ân (“Thần thoại, văn học, văn học huyền thoại” đăng trên
tạp chí Văn học, số tháng 3/1992) bày tỏ những quan ngại về tình trạng nghiên cứu
huyền thoại Thứ nhất, giới nghiên cứu “chưa chú ý đến mối liên hệ giữa văn họcvới thần thoại” (Lại Nguyên Ân đồng nhất giữa hai thuật ngữ “huyền thoại” và
“thần thoại” - LQH chú thích) Thứ hai, thái độ xem thường, thậm chí là phủ nhậnnhững sáng tác huyền thoại ở văn học thế kỉ XX Thứ ba, khẳng định một cáchmạnh mẽ “thế giới quan thần thoại” không hề mất đi cùng với việc “ý thức nguyênhợp đã mất đi khi phân lập thành các hình thái ý thức riêng biệt”, nên không chú ý
Trang 10đến hiện tượng “ý thức huyền thoại hóa” Bài viết chỉ ra sự bùng nổ mạnh mẽ củacác kiểu sáng tác huyền thoại trong văn học thế giới thế kỉ XX Tác giả khẳng địnhkhả năng/ý thức huyền thoại hóa đang ngày càng lớn mạnh trong cả đời sống xã hội
và văn học, cùng sự cảnh báo những hệ quả của ý đồ huyền thoại hóa
Chùm bài “Phương pháp phê bình huyền thoại học” (Đỗ Lai Thúy giới thiệu)
đăng trên tạp chí Văn học nước ngoài, số 2/2001 gồm: “J Grimm - Huyền thoại
Đức”; “Gilbert Durand và phương pháp phê bình huyền thoại học”, Jean-YvesTadié và “Huyền thoại trong tiểu thuyết của Emile Zola” của Lê Ngọc Tân tiếp tụcđóng góp những diễn giải về huyền thoại, ứng dụng lí thuyết huyền thoại trongnghiên cứu văn học Đặc biệt, trong bài viết “Gilbert Durand và phương pháp phêbình huyền thoại học”, tác giả Jean-Yves Tadié đã chỉ ra vai trò của phương phápnày là “phân tích văn bản huyền thoại” để tìm kiếm “chuyện kể nằm bên dướichuyện kể, gắn liền với ý nghĩa của mọi chuyện kể” [62; tr.208] Đồng thời, tác giảcòn đưa ra ba giai đoạn của phương pháp phê bình huyền thoại: một “bản liệt kênhững chủ đề huyền thoại”, những tình huống phối hợp các nhân vật và các trangtrí, cuối cùng, sự đối chiếu những bài học của huyền thoại với những huyền thoạikhác thuộc “một thời đại hay một không gian văn hóa khá xác định” [62; tr.208].Năm 2004, nhóm dịch giả Song Mộc, Trần Nho Thìn giới thiệu công trình
dịch Thi pháp của huyền thoại (1976) của nhà nghiên cứu văn học dân gian lỗi lạc
người Nga E.M Meletinsky Có thể khẳng định, đây là công trình có ý nghĩa khoahọc lớn lao trong việc giới thiệu tư tưởng lí luận về huyền thoại của Meletinsky.Công trình gồm ba phần Phần thứ nhất, giới thiệu những lí thuyết mới về huyềnthoại và cách tiếp cận văn học từ góc độ nghi lễ - huyền thoại Phần thứ hai, trìnhbày những hình thức cổ điển của huyền thoại (tư duy huyền thoại, chức năng củahuyền thoại, huyền thoại cổ về sự sáng tạo, về lịch biểu, về chu kì, về người anhhùng…) và sự thể hiện của huyền thoại trong truyện kể dân gian Phần thứ ba mangtính chất ứng dụng nhiều hơn Tác giả đã phân tích sự xuất hiện của “chủ nghĩahuyền thoại” trong văn học thế kỉ XX, nghiên cứu trường hợp tiểu thuyết của James
Trang 11Joyce, Thomas Mann và Kafka Công trình đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng,
mở ra những triển vọng mới, “con đường sáng” cho hướng nghiên cứu huyền thoại Hai công trình xuất bản liên tiếp trong hai năm 2007, 2008 của Nxb Đại họcQuốc gia thành phố Hồ Chí Minh đã minh chứng thêm mối hoài tâm ngày càng sâu
rộng về huyền thoại của các nhà nghiên cứu Năm 2007, công trình Huyền thoại và văn học tập hợp những bài nghiên cứu, dịch thuật công phu như: “Để góp phần
nghiên cứu huyền thoại và thi pháp huyền thoại trong sáng tác văn học” (Chu XuânDiên); “Huyền thoại” (Daniel-Henri-Pageaux, Nguyễn Thị Thanh Xuân lược dịch);
“Tính uyển chuyển của huyền thoại” (Th.P Van Baaren, Lê Thụy Tường Vy dịch);
“Từng bước đến với phê bình huyền thoại” (Gilbert Durand, Nguyễn Thị Thanh
Xuân phỏng dịch) Công trình Phê bình huyền thoại (Nxb Đại học Quốc gia HCM,
2008) của tác giả Đào Ngọc Chương cấu trúc thành ba chương Chương một trìnhbày những vấn đề xung quanh thuật ngữ và đặc trưng của huyền thoại Chương haitrình bày vấn đề nguyên lí và lịch sử của phê bình huyền thoại Chương ba thuần
túy là chương ứng dụng phê bình huyền thoại trong tác phẩm Chơi giữa mùa trăng của Hàn Mặc Tử và Chuyện cổ tích về loài người của Xuân Quỳnh Cũng trong
chương ba, tác giả nghiên cứu về cổ mẫu “cái bóng” (shadow) trong một số tácphẩm văn học nước ngoài
2.2 Về các khuynh hướng nghiên cứu huyền thoại
Phần viết này, chúng tôi chỉ ra một số hướng tiếp cận huyền thoại trong vănhọc, đặc biệt chúng tôi lưu tâm đến những công trình, bài viết nghiên cứu về huyềnthoại trong những sáng tác của các tác giả thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn.Quá trình khảo sát tư liệu, chúng tôi khái quát một số hướng nghiên cứu về huyềnthoại như sau:
Hướng thứ nhất, tìm hiểu phương thức huyền thoại trong văn học Việt Nam
đương đại Ở hướng này, mục đích của tác giả tập trung đi vào những biểu hiện củathủ pháp, kĩ thuật huyền thoại hóa và chỉ ra sự tồn tại của hệ thống các cổ mẫu, biểutượng và motif trong sự gắn bó mật thiết với huyền thoại cổ, huyền thoại phươngĐông và phương Tây
Trang 12Trước hết bằng cách nói trực tiếp hoặc gián tiếp, các tác giả đều khẳng định ýthức sử dụng huyền thoại trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp Nguyễn Vy Khanhtrong bài “Nguyễn Huy Thiệp - những chuyện huyền kỳ, núi, sông và nước…” códẫn phỏng vấn của Nguyễn Huy Thiệp ở Seattle:
Khi viết văn tôi luôn luôn tìm lại những giá trị truyền thống (…) Tôi nghĩ một nhàvăn phải bắt đầu từ những kinh nghiệm nguyên thủy nhất của dân tộc mình Tóm lại,phải đi từ con người Việt Nam từ nguồn gốc, từ đó lần về sau [46; tr.383]
Còn T.N Philimonova thấy rằng:
yếu tố dân gian chiếm một vị trí to lớn trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp (…)Hầu như trong mỗi truyện ngắn của anh đều hiện diện vết tích của các huyền thoại,truyền thuyết dân ca, tục ngữ … [46; tr.59]
Với Văn Tâm, ông rút ra bốn nét đặc thù về phong cách Nguyễn Huy Thiệp bao
gồm: Sắc độ hiện đại thẫm; Cảm hứng huyền thoại mạnh; Tính nhiều tầng đa nghĩa; Tính hệ thống mở có khẩu độ lớn
Tác giả Trần Viết Thiện trong bài viết “Huyền thoại trong truyện ngắn đươngđại Việt Nam” có nhận định “sự thâm nhập của huyền thoại vào văn học viết là mộthiện tượng lạ” và ở mảng truyện ngắn sau năm 1986 “lại càng lạ hơn” Thiết nghĩ,vấn đề huyền thoại trong sáng tác văn học là một hiện tượng tất yếu bởi quá trìnhtiếp thu những thành tựu của Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mĩ La tinh những năm
60 thế kỉ XX, bởi xu hướng “vực dậy”, tiếp nối những sáng tác truyền kì trung đại
và các huyền thoại cổ vốn bắt rễ trong tâm thức dân tộc Những yếu tố “nội sinh vàngoại sinh” đã hình thành nên dòng truyện ngắn huyền thoại Bài viết cũng phântích kiểu “nhại cổ tích” trong các sáng tác huyền thoại Tuy nhiên, cần phải minhđịnh dấu vết của huyền thoại trong một số truyện cổ tích - “mảnh vỡ của huyềnthoại” (Meletinsky), và văn học Việt Nam đương đại đã tiếp biến, ứng xử với nhữngchất liệu cổ tích qua đó gợi nhắc/ám chỉ đến những motif, truyện cổ trong huyềnthoại như thế nào? Có những sáng tác “nhại cổ tích” nhưng lại không phải là sángtác huyền thoại Điều này đã được tác giả Nguyễn Thị Như Trang nhấn mạnh:
Hành trình của tư duy huyền thoại đến với văn học dân gian chỉ dừng lại ở mức chiphối và ảnh hưởng, không làm thay đổi đặc trưng thể loại Văn học dân gian đặc biệt
Trang 13là cổ tích, thực sự ‘là hình thức bảo lưu và hình thức vượt qua huyền thoại’ [Thi
pháp của huyền thoại, tr 237] [74; tr.31]
Tác giả cũng nhấn mạnh những “yếu tố cần lí giải” trong sự tham gia của huyềnthoại vào “việc hình thành cấu trúc tự sự của văn học dân gian” như: những motif,biểu tượng mang sắc màu/có nguồn gốc từ huyền thoại và tâm thế của huyền thoạitrong cái nhìn cuộc sống của cá nhân và xã hội” [74; tr.31]
Nguyễn Thái Hoàng trong bài viết “Không gian huyền thoại trong văn xuôiViệt Nam đương đại” đã phân tích những thủ pháp xây dựng không gian huyềnthoại: kĩ thuật tái tạo các motif huyền thoại; khuynh hướng giải huyền thoại; Huyềnthoại hóa không gian hiện thực Bài viết phân tích sơ lược các sáng tác của NguyễnHuy Thiệp, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Danh Lam, Nhật Chiêu… Theo tác giả,không gian huyền thoại trong văn xuôi Việt Nam đương đại
không chỉ là không gian của cõi âm, của giấc mơ mà còn là không gian của cái thực
bị biến dạng đi Không gian huyền thoại ấy được xây dựng trên cơ sở cảm quan vềcái phi lí, thể hiện tâm thức về trạng thái hiện sinh nghiệt ngã, phi lí của con ngườihiện đại Trong không gian huyền thoại, cái bí ẩn, hoang đường đan xen với cái bìnhthường, hiện thực khiến con người khó phân biệt thực - ảo, gây cảm giác bất an, hoàinghi Đời sống gần gũi hóa ra xa lạ bởi tính chất nghịch dị, bí ẩn và bất khả giải [28;tr.82]
Tuy nhiên, như những “tầm đón đợi” gợi ra từ tiêu đề của bài viết (Không gian huyền thoại trong văn xuôi Việt Nam đương đại), tác giả bài viết đã không đi theo
hướng chỉ ra những kiểu loại không gian huyền thoại mà khởi đi từ việc chỉ ra cácthủ pháp xây dựng không gian huyền thoại Theo chúng tôi, đứng từ góc độ thipháp, bài viết đã phân tích một cách khá rõ nét những kĩ thuật tái tạo không gianhuyền thoại trong văn xuôi Việt Nam đương đại Nhưng, xét từ góc độ bản chất, đặttrong mối liên hệ với huyền thoại cổ Đông - Tây, bài viết thiếu sự gắn kết, logictrong việc chỉ ra những đặc trưng của tư duy huyền thoại (biểu tượng, mô hình cấutrúc đối lập nhị nguyên…) trong việc tác động đến cấu trúc không thời gian củahuyền thoại Đặc điểm này của không thời gian huyền thoại chúng tôi sẽ phân tích
cụ thể hơn trong phần viết 2.2.1 Không gian theo cấu trúc đối lập nhị nguyên.
Trang 14Triển khai theo hướng phân tích này phải kể đến bài viết của Thái Thị Hòa An
“Dấn ấn phương thức huyền thoại hóa của Franz Kafka trong sáng tác của Phạm Thị
Hoài” đăng trên tạp chí Khoa học Văn hóa và Du lịch, số 13, 2013 Tác giả đã phân
tích, đối sánh một cách thuyết phục những biểu hiện của phương thức huyền thoại
hóa trong sáng tác Thiên sứ của Phạm Thị Hoài với sáng tác của Franz Kafka trên các phương diện: Tái tạo lại những motif trong thần thoại phương Tây; Nhại huyền thoại, Huyền thoại hóa thế giới hiện thực [1].
Bài viết “Tìm hiểu “phương thức huyền thoại hóa” trong một số tiểu thuyếtViệt Nam thời kỳ đổi mới” của Trần Thị Mai Nhân đăng trên www.khoavanhoc-ngonngu.edu.vn đã khái quát một số đặc trưng của phương thức huyền thoại hóa(tuy chưa thật hệ thống, lớp lang, thuyết phục) là: thủ pháp “huyền thoại, huyền ảo”kết hợp với thủ pháp đồng hiện; mượn điển tích hoặc tạo ra những “huyền tích”
riêng dựa trên quá trình phân tích các tiểu thuyết Lời nguyền hai trăm năm (Khôi Vũ); Thiên sứ Phạm Thị Hoài và Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) [47].
Bên cạnh đó phải kể đến hệ thống luận văn được bảo vệ tại Khoa văn học,
trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn: Biểu tượng như một phương thức phản ánh của văn xuôi đương đại (qua tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái) (Trần Thị Hoài Phương, Luận văn Văn học, 2009); Thời gian và không gian huyền thoại trong Trăm năm cô đơn của Gabriel García Márquez (Nguyễn Thị Hảo, Luận văn Văn học, 2010); Huyền thoại trong tiểu thuyết Cái trống thiếc của Gunter Grass (Nguyễn Thị Huyền Trang, Luận văn Văn học, 2012); Huyền thoại trong Quà của Chúa của Dorota Terakowska (Nguyễn Thị Thu Hường, Luận văn Văn học, 2013); Thi pháp huyền thoại trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (Hoàng Thị Bích Thảo, Luận văn Văn học, 2014)… Các luận
văn trên tập trung tìm hiểu huyền thoại trên bình diện hình tượng thẩm mĩ (khôngthời gian, nhân vật) [Nguyễn Thị Hảo, Hoàng Thị Bích Thảo, Nguyễn Thị ThuHường]; một số phương thức huyền thoại: Nhại truyền thuyết, Nhại tôn giáo, Táisinh cổ tích, Giải thiêng lịch sử [Hoàng Thị Bích Thảo] Luận văn của Trần ThịHoài Phương tiếp cận sâu một số loại hình biểu tượng (biểu tượng thành thị, biểu
Trang 15tượng nông thôn, biểu tượng về những cõi miền phi-thực-có-thực, biểu tượng giảihuyền thoại… Luận văn đã gợi mở nhiều luận điểm mới cho quá trình tham khảocủa người viết “Điểm dừng” trong những nghiên cứu về huyền thoại, và phươngthức huyền thoại sẽ là “điểm bắt đầu” của chúng tôi trong luận văn này
Hướng thứ hai, tiếp cận từ lí thuyết cổ mẫu Khuynh hướng phê bình cổ mẫu
(Archetypal Criticism) được xem như một nhánh chủ lực của phê bình huyền thoại(Myth Criticism) là bởi có một sự gắn kết không thể tách rời giữa cổ mẫu và huyềnthoại Cổ mẫu cùng với ẩn dụ, biểu tượng đã trở thành những hạt nhân trung tâm,phương tiện biểu đạt của huyền thoại Cùng với khuynh hướng phê bình cổ mẫu màchúng tôi đã đề cập trong công trình của Đào Ngọc Chương còn có bài “Bí ẩn của
những siêu mẫu” (in trong sách Phân tâm học và văn hoá nghệ thuật, S Freud
-C.G Jung - G Bachelard - G Tucci - V Dundes) của nhà tâm phân học -C.G Jung.Tiếp tục khuynh hướng đọc cổ mẫu trong văn học, tác giả Nguyễn Quang Huytrong bài biết “Thử dẫn vào nghiên cứu văn học từ góc nhìn cổ mẫu (archétype)”
(Tạp chí Sông Hương, số 281, tháng 7/2012) đã minh định khái niệm “cổ mẫu”
-thuật ngữ vốn chưa ngã ngũ trong giới nghiên cứu Đồng thời, tác giả chỉ ra nhữngtính chất của cổ mẫu: sự tham dự một cách tập trung và đậm đặc yếu tố cảm xúc;mỗi cổ mẫu là một biểu tượng văn hóa vĩnh cửu chứa đựng chiều sâu tâm lí của cảcộng đồng; cổ mẫu mang tính định hướng vì tạo ra cho con người những “kiểu loạithái độ, những khung kinh nghiệm tri giác và cảm xúc nào đó…”; tính chuyển hóacủa cổ mẫu; tính siêu thời gian và không gian Bài viết đậm đặc tính lí luận nàyquan tâm đến mối liên hệ máu thịt giữa cổ mẫu với vô thức tập thể, biểu tượng vàmối liên hệ của chúng với motif và huyền thoại
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Xuân trong bài viết “Phê bình cổ mẫu và cổ mẫu
nước trong văn chương Việt Nam” (Nghiên cứu văn học Việt Nam những khả năng
và thách thức, Nxb Thế giới, 2009) dựa trên lí thuyết, quan niệm về phê bình cổ
mẫu của Carl Gustav Jung, Gaston Bachelard và Northrop Frye để khám phá cổmẫu Nước trong văn chương Việt Nam xuyên qua các sáng tác từ văn học dân gianđến văn học thành văn, đặc biệt tập trung vào tác phẩm của các tác giả: Hồ Xuân
Trang 16Hương, Trần Dần, Nguyễn Huy Thiệp Ở trường hợp sáng tác của Nguyễn HuyThiệp, tác giả Nguyễn Thị Thanh Xuân đã chỉ ra sự hiện diện một cách đậm đặc của
cổ mẫu nước ở trạng thái phi hình và hữu hình
Tiếp tục khuynh hướng “khai quật” những cổ mẫu phải kể đến bài nghiên cứuứng dụng lí thuyết cổ mẫu của Nguyễn Quang Huy “Những miền mơ tưởng mẫu
tính và nữ tính vĩnh hằng trong Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh (một
tiếp cận từ lí thuyết Cổ mẫu)” Bằng lối hành văn cũng đầy mơ mộng, sáng tạo,Nguyễn Quang Huy đã phân tích một cách thuyết phục sự hiện diện đậm đặc của
“mẫu tính” và “nữ tính” trong tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn Tác giả nhấn mạnh
một cách thuyết phục, hấp dẫn những đặc điểm của mẫu tính, nữ tính trong hư cấunhân vật, đồng thời, chỉ ra sự tái lặp triền miên những cổ mẫu/biểu tượng đôi vú,trăng, rừng, hang, nước, sữa trong vai trò bồi đắp mẫu tính, nữ tính Cùng với bài
“Thử dẫn vào nghiên cứu văn học từ góc nhìn cổ mẫu (archétype)” (Tạp chí Sông Hương, số 281, tháng 7/2012), bài viết tiếp tục khơi mở một động hướng nghiên
cứu đem lại những khả năng mới cho nghiên cứu văn học Việt Nam
Ngoài ra, phải kể đến một số luận văn nghiên cứu thành công hệ thống motif,
và vai trò của motif như một trong những cổ mẫu khởi nguyên, bền chặt của nhân
loại như: Mô típ “hành trình” trong Những linh hồn chết của N.V Gogol (Trần Thị
Hồng Hoa, Luận văn Văn học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội,
2008); Motip Kitô giáo trong Anh em nhà Karamazov của F Dostoevsky (Trần Thị
Thanh Thủy, Luận văn Văn học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội,
2009); Thơ Bùi Giáng dưới lăng kính phê bình cổ mẫu (Trần Nữ Phượng Nhi, Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hồ Chí Minh, 2011)
Hướng thứ ba, tiếp cận từ phương diện thể loại, các tác giả đã nỗ lực nghiên
cứu những đặc trưng trong thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn huyền thoại, đồng thờichỉ ra sự tác động của tư duy huyền thoại đến cấu trúc thể loại Hai công trìnhnghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Như Trang có giá trị tham khảo lớn cho ngườiviết: “Huyền thoại từ văn học dân gian đến tiểu thuyết tân huyền thoại thế kỉ XX -
Những biến đổi trong cấu trúc tự sự” (Tạp chí Văn hóa dân gian, số 4/2010);
Trang 17Những đặc điểm thi pháp của tiểu thuyết huyền thoại hiện đại qua Nghệ nhân và Margarita của M Bulgakov (Luận án Tiến sĩ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn, 2012) Với luận án tiến sĩ, tác giả Nguyễn Thị Như Trang khẳng định sự hìnhthành của dòng tiểu thuyết huyền thoại thế kỉ XX, đề xuất khái niệm, đồng thờiphân biệt nó với những sáng tác có sự tham dự của yếu tố huyền thoại ở thế kỉ XIX
Từ sự phân tích hệ thống liên văn bản, các bình diện thẩm mĩ, trần thuật, tác giả chỉ
ra sự tác động của tư duy huyền thoại lên cấu trúc trần thuật và xác định những đặcđiểm về phong cách văn xuôi Bulgakov Có thể thấy, hướng nghiên cứu này hết sứcmới mẻ, nhiều triển vọng với đối tượng văn học Việt Nam Đây cũng là một trongnhững vấn đề mà luận văn quan tâm, tìm hiểu
Hướng tiếp cận cuối cùng, đó là nghiên cứu sự triển diễn của huyền thoại
như một “siêu liên văn bản” trong hệ thống sáng tác nghệ thuật Trong quá trìnhthực hiện, chúng tôi đã chỉ ra một số huyền thoại (Trương Chi, Don Juan…) đã trởthành chất liệu nghệ thuật dồi dào cho sáng tạo nghệ thuật của nhân loại Vậy vấn
đề đặt ra, khi một/nhiều huyền thoại “đi vào”, “ngả bóng” nơi sáng tác nghệ thuật(không riêng gì văn học), vậy cách triển khai, xử lí, tái tạo huyền thoại sẽ bộc lộ thái
độ ứng xử, tư tưởng của người nghệ sĩ Mặt khác, nếu “xếp chồng” các sáng tác, soichiếu hệ thống huyền thoại, cổ mẫu, những điểm tương đồng nào xuất hiện như mộtsáng tạo vô thức
Nói chung, những hướng tiếp cận kể trên cùng quá trình minh họa từ một sốcông trình tiêu biểu đã phần nào chứng minh hướng nghiên cứu huyền thoại có tínhnăng động, triển vọng trong nghiên cứu văn học Với sáng tác của ba tác giả thuộcđối tượng nghiên cứu, vẫn cần có cái nhìn mang tính hệ thống, có chiều sâu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu “phương thức huyền thoại hóa”, chúng tôi hướngđến việc chỉ ra sự tham dự, phóng chiếu của huyền thoại, sự xâm lấn của tư duyhuyền thoại vào tư duy văn xuôi, hình thành nên những khuynh hướng sáng táchuyền thoại mới
Trang 18Để làm sáng rõ phương thức huyền thoại hóa trong văn xuôi Việt Nam đươngđại chúng tôi chọn lựa sáng tác của ba tác giả đương đại: Nguyễn Huy Thiệp, TạDuy Anh, Nguyễn Xuân Khánh Những sáng tác được khảo sát chủ yếu trong luận
văn này là: hai tiểu thuyết Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh), Mẫu thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh) và các truyện ngắn Chảy đi sông ơi, Muối của rừng, Con gái thủy thần, Mưa, Vàng lửa, Mưa Nhã Nam, Những ngọn gió Hua Tát, Như những ngọn gió… (Nguyễn Huy Thiệp)… Tất nhiên, do phạm vi nghiên cứu rộng,
nên đối tượng nghiên cứu đã nêu ở trên chưa thể giúp bao quát, triển diễn hết được
sự phong phú, sinh động của huyền thoại và phương thức huyền thoại Vì thế, khicần thiết, chúng tôi sẽ khảo sát thêm một số sáng tác văn xuôi đương đại khác Chúng tôi ý thức rằng, việc luận bàn, nghiên cứu vấn đề huyền thoại dù chỉkhuôn trong văn học, cũng thực sự là một phạm vi nghiên cứu rộng mở Do vậy,luận văn chỉ tập trung chủ chốt vào “phương thức huyền thoại hóa” - một trongnhững phương diện của huyền thoại Cụ thể hơn, nhìn từ góc độ kĩ thuật sáng tác,
“huyền thoại hóa” chính là kĩ thuật, thủ pháp nổi bật của văn xuôi Việt Nam đươngđại Tuy nhiên, chúng tôi còn quan tâm đến quá trình “đi vào”, cơ chế xâm lấn, táitạo của huyền thoại vào văn chương thông qua các huyền thoại cổ, motif, cổ mẫu,biểu tượng Từ bình diện hình tượng thẩm mĩ (nhân vật, không thời gian…) chúngtôi nghiên cứu sự ảnh hưởng của huyền thoại/tư duy huyền thoại trong sáng tác vănchương đương đại Luận văn cũng tập trung nghiên cứu những phương thức tái tạohuyền thoại cổ thành những huyền thoại văn chương (cá nhân), tân huyền thoại: sựtái tạo, hòa trộn những motif, điển tích; giễu nhại/giải huyền thoại; xu hướng giảithiêng huyền thoại
Phạm vi nghiên cứu kể trên chỉ mới chạm đến một vài vấn đề nhỏ hẹp củahuyền thoại, chúng tôi coi đây là những bước khởi đầu cho một đường hướngnghiên cứu dài hơi hơn
4 Phương pháp nghiên cứu
Để làm sáng tỏ đối tượng nghiên cứu (phương thức huyền thoại hóa), luận văn
sử dụng các phương pháp và thao tác khoa học sau:
Trang 19Về mặt phương pháp luận, chúng tôi sử dụng kết hợp đồng thời các công cụ lí
thuyết sau: Phê bình huyền thoại, Trần thuật học, Kí hiệu học, Liên văn bản…
Về mặt thao tác khoa học, nhằm chỉ ra sự đối sánh giữa “huyền thoại gốc” và
sự biến đổi, tái tạo thành các tân huyền thoại, chúng tôi cũng sử dụng các thao tác
khoa học để biện giải, phân tích vấn đề như: so sánh, đối chiếu, thống kê, phân
loại, khảo sát văn bản…
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Thư mục tham khảo, phần Nội dung
luận văn gồm có các chương sau:
Chương 1: Huyền thoại hóa và một số phương thức biểu hiện của văn xuôi Việt Nam đương đại.
Chương 2: Phương thức huyền thoại hóa từ bình diện hình tượng thẩm mĩ Chương 3: Một số phương thức, khuynh hướng tái tạo huyền thoại: huyền thoại cổ điển, tân huyền thoại.
Trang 20CHƯƠNG 1: HUYỀN THOẠI HÓA VÀ MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN CỦA VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
1.1 Huyền thoại và phê bình huyền thoại
1.1.1 Huyền thoại
Thuật ngữ huyền thoại (Myth), phương thức huyền thoại hóa (Mystification)không xa lạ với giới khoa học ngữ văn Trong cuộc sống, chúng ta nghe thấy/hoặcdùng từ “huyền thoại” rất nhiều nhưng trong cách dùng đã có nhiều sai khác hoặcmới lạ so với nghĩa từ nguyên của huyền thoại1 Huyền thoại - một thuật ngữ có nộihàm khái niệm rộng mở và không ngừng được bồi đắp, sản sinh nghĩa đang ngàycàng trở nên phức tạp không chỉ ở những hướng nghiên cứu về nó mà ngay từ bảnthân mỗi cách hiểu khác nhau về huyền thoại biến thiên theo từng giai đoạn Đúng
như những gì Gilbert Durand và Simone chỉ ra trong hội thảo Huyền thoại và cái huyền thoại:
Hiện nay có sự lạm phát trong sử dụng thuật ngữ huyền thoại, và sự nhập nhằng củathuật ngữ cái huyền thoại” [79; tr.300]
Tác giả Richard Chase, trong bài luận “Ghi chú về nghiên cứu huyền thoại” (Notes
on the Study of Myth) đã nhấn mạnh tình trạng huyền thoại bị “khuếch tán và mơ
hồ trong văn hóa của chúng ta” thay vì “trong văn hóa nguyên thủy, huyền thoại làmột phạm vi hoạt động có thể được định nghĩa một cách tương đối rõ ràng” [82].Huyền thoại đã trở thành đối tượng nghiên cứu của rất nhiều học giả, là đối tượngcủa nghệ thuật, chất liệu sáng tác của nghệ sĩ các thời đại Không chỉ có thế, ở mỗihướng tiếp cận, lại có những cách hiểu khác nhau về huyền thoại Nỗ lực nắm bắt,khái quát thuật ngữ này cũng khó khăn, phức tạp như chính những cách hiểu về nó.Bởi vậy, trong bài viết “Những diễn ngôn về huyền thoại”, tác giả Johan Degenaar
đã phân tích ba diễn ngôn cơ bản về huyền thoại: tiền hiện đại (premodern), hiện đại(modern) và hậu hiện đại (posmodern) [83] Để thấy được sự phức tạp trong quátrình diễn giải, ứng dụng huyền thoại, chúng tôi đưa ra một vài những định nghĩa vềhuyền thoại như sau:
1 Trong cách nói thông thường, chúng ta thường dùng “huyền thoại” để chỉ sự đánh giá một nhân vật, hiện tượng hay sự kiện mà nó không có thật hoặc đạt đến mức kinh ngạc, thán phục Ví dụ như: Huyền thoại Phạm Văn Đồng, Huyền thoại Điện Biên Phủ, Cú sút huyền thoại…
Trang 21Từ điển Encyclopædia Britannica2 có định nghĩa: Huyền thoại là:
một câu chuyện mang tính biểu tượng, thường không rõ nguồn gốc và ít nhất là mộtphần nào đó truyền thống, nó có vẻ kể lại những sự kiện có thật và đặc biệt liên kếtvới niềm tin tôn giáo Nó được phân biệt từ những hành vi mang tính biểu tượng (thờcúng, nghi lễ) và những địa điểm hoặc vật thể mang tính biểu tượng (đền miếu,tượng thánh) Huyền thoại miêu tả cụ thể về những vị thần hoặc những siêu anh hùng
có liên quan đến những sự kiện hoặc tình huống phi thường trong một thời giankhông xác định nhưng lại được ngầm hiểu như đang tồn tại tách rời kinh nghiệm conngười bình thường Thuật ngữ huyền thoại học chứng tỏ cả nghiên cứu về huyềnthoại và những huyền thoại thuộc về một truyền thống tôn giáo riêng biệt” [84]
Nhóm tác giả công trình Từ điển thuật ngữ văn học đồng nhất giữa hai khái
niệm “huyền thoại” và “thần thoại”, “huyền thoại học” và “thần thoại học” Thầnthoại là
thể loại truyện ra đời và phát triển sớm nhất trong lịch sử truyện kể dân gian các dântộc Đó là toàn bộ những truyện hoang đường, tưởng tượng về các vị thần hoặcnhững con người, những loài vật mang tính chất thần kì, siêu nhiên do con người thờinguyên thủy sáng tạo ra để phản ánh và lí giải các hiện tượng trong thế giới tự nhiên
và xã hội theo quan điểm vạn vật có linh hồn (hay thế giới quan thần linh) của họ”[26; tr.298]
Đứng từ quan điểm khác so với các tác giả của công trình Từ điển thuật ngữ văn học, tác giả A.A Radugin trong công trình Từ điển bách khoa văn hóa học lại
đưa ra một cách hiểu khác về huyền thoại:
Huyền thoại - biện pháp tồn tại và nhận thức thế giới của con người, dựa trên sự kếtnối con người với thế giới, khi con người chưa phân biệt được ý nghĩa tâm linh của
đồ vật với tính chất khách quan của chúng, và coi các hiện tượng thiên nhiên lànhững thứ có hồn” [58; tr.203]
2 Từ điển Encyclopædia Britannica Ultimate Reference Suite định nghĩa: “a symbolic narrative, usually of
unknown origin and at least partly traditional, that ostensibly relates actual events and that is especially associated with religious belief It is distinguished from symbolic behaviour (cult, ritual) and symbolic places
or objects (temples, icons) Myths are specific accounts of gods or superhuman beings involved in extraordinary events or circumstances in a time that is unspecified but which is understood as existing apart
from ordinary human experience The term mythology denotes both the study of myth and the body of myths
Trang 22Huyền thoại là hình thái văn hóa đầu tiên trong lịch sử, bổ sung cho sự chưa có khảnăng chế ngự vật chất bằng thực hành, bằng cách dùng óc tưởng tượng quan hệ vớivật chất” [58; tr.204].
Xét từ lí thuyết kí hiệu học, Roland Barthes lại cho rằng:
thần thoại là hệ thống kí hiệu thứ hai (second order semiological system) hay siêungôn ngữ (metalanguage) Nó là ngôn ngữ thứ hai mà nói về ngôn ngữ ở cấp độ thứnhất Kí hiệu học của hệ thống thứ nhất (cái biểu đạt và cái được biểu đạt) mà sinh ra
ý nghĩa ngoại biểu, trở thành cái biểu đạt cho trật tự thứ hai của ý nghĩa nội hàm”[10; tr.118]
Sự phong phú về định nghĩa huyền thoại cho thấy với mỗi hướng tiếp cận sẽ
có những cách hiểu, quan niệm khác về huyền thoại Chúng tôi đưa ra một số vấn
đề xung quanh thuật ngữ huyền thoại ngõ hầu xác định hướng giải quyết một số vấn
đề đặt ra trong luận văn như sau:
Thứ nhất, “huyền thoại” (tiếng Anh: Myth; tiếng Pháp: Mythe) có nguồn gốc
từ tiếng Hy Lạp là “Mythos” (μῦθος)3 Xét về mặt từ nguyên học (Etymology)Mythos (μῦθος) trên www.en.wiktionary.org4 được hiểu là “lời, lời nói, câu chuyện,
là truyền thuyết, truyền thoại” Thêm nữa, từ điển Wiktionary cho biết, huyền thoại(myth) đồng nghĩa với thuật ngữ “fabula”5 (truyện ngụ ngôn, chuyện hoang đường,bịa đặt, không có thật…), đây cũng chính là sự trùng lặp cơ bản trong cách hiểu vềhuyền thoại ở hầu hết các nhà nghiên cứu Tác giả Phùng Văn Tửu trong bài viết
“Phương thức huyền thoại trong sáng tác văn học” cho rằng, “mythos là lời nói(thoại) mơ hồ tối nghĩa (huyền), cần phải giải mã mới tìm ra được ẩn ý” [79;tr.300] Quan điểm này có lẽ được hình thành dựa trên chính ý kiến của nhà sử học
Hy Lạp thời cổ là Hérodote đã phân biệt giữa “mythos” và “logos”6 “Mythos” kểnhững câu chuyện hoang đường không có thật và nó cũng không nỗ lực trong việc
3 Căn cứ này chúng tôi tham khảo trên trang: https://en.wiktionary.org/wiki/mythos
4 https://en.wiktionary.org/wiki/%CE%BC%E1%BF%A6%CE%B8%CE%BF%CF%82#Ancient_Greek
5 “Fabula” vốn là tiếng Latin, tiếng Anh có nghĩa là “Fable” mượn từ tiếng Pháp cổ.
6 Về thuật ngữ Logos có thể tham chiếu một cách định nghĩa tương tự trong Từ điển bách khoa văn hóa học:
(Chủ biên G.S A.A Radugin; người dịch: Vũ Đình Phòng), “Thuật ngữ của triết học Cổ Hy Lạp, trong đó lồng ghép hai nghĩa, một là “ngôn ngữ” với tính chất hình thức bên ngoài của sự vật, hiện tượng, quá trình, hai là “ý nghĩa” của nó Khái niệm “logos” phản ánh hoạt động của tư duy, phân tích của trí óc nhằm đưa thế giới vào trật tự, hài hòa Theo nghĩa này, tính lô gich đối lập với tính huyền thoại và đồng nghĩa với tính lí trí” (Tài liệu lưu hành nội bộ, Viện Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật, tr 281).
Trang 23chứng minh câu chuyện đó là thật, chỉ đơn giản là không thực tế, vì vậy thườngđược cho là dối trá, sai lầm, lầm lạc đối lập với “logos” - bởi câu chuyện đó có thểchứng minh được Cụ thể hơn, theo cách hiểu của chúng tôi, “mythos” là hình thái
tư duy tiền logic, thế giới “tinh thần”, “khoa học” của người nguyên thủy và “logos”
là hình thái đối lập với “mythos”, nghĩa là có sự xuất hiện của nhà nước, giai cấp,của khoa học theo nghĩa hiện đại
Như vậy, nghĩa ban đầu của huyền thoại là các truyện kể thiêng liêng cónhững yếu tố siêu nhiên, hoang đường giải thích sự hình thành và tồn tại của thếgiới, con người, sự ra đời của những vị thần bằng các hình thức ẩn dụ, cổ mẫu,biểu tượng đầy sức gợi Huyền thoại mang tính phổ quát, tính vĩnh cửu Chính từnhững đặc điểm này, mà huyền thoại thường bị nhầm lẫn/rất khó phân biệt với cái:hoang đường; kì ảo; kì dị; Những yếu tố vừa nêu trên có một sự gần gũi rất lớnvới huyền thoại Hay nói chính xác hơn, ở một/hệ huyền thoại thường bao gồmnhững yếu tố đó Dĩ nhiên, đây là cách hiểu xa xưa về huyền thoại cổ Những huyềnthoại hiện đại không chỉ dừng lại ở việc phản ánh về tự nhiên, thần thánh… mà còn
là những ẩn dụ về thân phận con người Vậy đâu là điểm khu biệt giữa hai kiểu sángtác: huyền thoại, sử dụng yếu tố huyền thoại với sáng tác có các yếu tố nêu trên?Tác phẩm phải có liên hệ sâu sắc từ sự gợi nhắc, ám chỉ đến việc tái tạo, hoán cảicác yếu tố, thành phần, hoặc cả huyền thoại trong kho tàng các huyền thoại cổ Đó
là khi nhà văn kiến tạo nên những huyền thoại văn chương, những huyền thoại hiệnđại dựa trên những huyền thoại gốc (monomyth) - huyền thoại nguyên mẫu, gắnliền với những vấn đề đương đại
Trong quan điểm của một số nhà nghiên cứu, huyền thoại và thần thoại là hai
thuật ngữ tương đồng: Lại Nguyên Ân [5]; nhóm tác giả công trình Từ điển thuật ngữ văn học: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi [26]… Mặt khác, sự
phân biệt giữa hai khái niệm này đã được phân tích trong một số công trình như:
Phê bình huyền thoại (Đào Ngọc Chương) [15]; “Sáng tác huyền thoại trong tiểu thuyết hiện đại phương Tây” (Trần Hinh, in trong Những vấn đề mới trong nghiên cứu và giảng dạy văn học) [37]; chương 1 “Thần thoại” (phần viết của Vũ Anh
Trang 24Tuấn) in trong Giáo trình văn học dân gian [77]; thậm chí trong cuốn Từ điển văn học (bộ mới) [50] tồn tại song song hai thuật ngữ Huyền thoại (Đỗ Đức Hiểu viết từ trang 668 - 669) và Thần thoại (Chu Xuân Diên viết từ trang 1647 - 1648)… Mặt khác, trong lời tựa cuốn Từ điển huyền thoại (Nxb Rocher, 1988) nhà nghiên cứu
Pierre Brunel còn chỉ ra sự nhập nhằng trong cách gọi “huyền thoại” và “truyềnthuyết”: “về thuật ngữ, luôn có một sự mập mờ mà chắc chắn chúng ta không baogiờ xóa hết” [36; tr.23] Tác giả Vũ Anh Tuấn, ở phần so sánh giữa “thần thoại” và
“huyền thoại” lại cho rằng giữa hai thuật ngữ này hết sức khác biệt bởi “huyền thoại
về cơ bản và giản yếu mà nói thì đó chính là nghệ thuật thần thoại (chúng tôi nhấn mạnh) ở thời kì đã tự phát định hình một cung cách sáng tạo, một thủ pháp đặc trưng (…) được người đời sau tiếp tục kế thừa, phát triển và hoàn thiện thành một
phương pháp sáng tạo nghệ thuật ở nhiều loại hình khác nhau…” [77; tr.45] Không
xuất phát từ góc độ nghệ thuật để lí giải, tác giả Nguyễn Thị Bích Hà trong Giáo trình văn học dân gian (Nxb Đại học Sư phạm) cho rằng “huyền thoại chính là thần
thoại buổi đầu được tiếp tục phát triển lên và tồn tại đến tận thời hiện đại” [25;tr.21] Rõ ràng, thần thoại (truyền thoại), truyền thuyết, truyện cổ tích… là nhữngthể loại đã ổn định của văn học dân gian, đồng thời, phạm vi của nó hạn hẹp hơn sovới huyền thoại bởi nó gắn với việc giải thích, liên quan đến một địa điểm, nhân vật,
sự kiện, câu chuyện thuộc về lịch sử hoặc sự tích về các thánh, thần7 Thuật ngữ
“thần thoại” ngay từ tên gọi đã gợi nhắc đến yếu tố “thần” với tính chất siêu nhiên,
kì bí, hoang đường, ma quái Rõ ràng, biên độ ngữ nghĩa của “huyền thoại” rộng mởhơn rất nhiều so với “thần thoại”, bởi nó bao quát những vấn đề thuộc về lịch sử, tựnhiên, con người và cả thánh thần Huyền thoại không chỉ phản ánh những điều linhthiêng huyền bí, câu chuyện về các vị thần, sự ra đời của thế giới mà còn nhằm giảithích về nó đồng thời đi đến việc kiến tạo nên những cổ mẫu, biểu tượng nghệ thuật
7 Ví dụ như truyền thuyết Thánh Gióng với những yếu tố thần kì là biểu tượng cho tình thần, ý thức bảo vệ
đất nước, đồng thời thể hiện quan niệm và ước mơ của nhân dân về người anh hùng cứu nước chống giặc
ngoại xâm trong buổi đầu của lịch sử; truyền thuyết Sự tích hồ gươm giải thích tên gọi hồ Hoàn Kiếm đồng
thời ca ngợi tính chất chính nghĩa và chiến thắng vẻ vang của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh xâm lược do Lê Lợi lãnh đạo ở đầu thế kỉ XV…
Trang 25có sức khái quát và ám gợi lớn thông qua những “hằng số” cổ mẫu ẩn chứa trongmỗi huyền thoại
Thứ hai, xét từ yếu tố vai trò, chức năng thì huyền thoại là “dạng thức văn hóa
đầu tiên trong lịch sử” (A.A Radughin) [59; tr.227]; “chất liệu khởi thủy từ đó sinh
ra mọi thứ”, “thế giới của những hình tượng khởi thủy”; “là vật chất nguyên sơ, từ
đó nảy sinh ra mọi cái” (Schelling) [45; tr.10]; “trạng thái đầu tiên của cái mà vềsau sẽ được gọi bằng “ý thức xã hội” của một cộng đồng người - một cộng đồng dântộc hoặc “liên dân tộc”” (Lại Nguyên Ân) [5; tr.59], là mô hình đầu tiên của mọi hệ
tư tưởng, là cái nôi nguyên hợp của các loại hình văn hóa khác nhau; “cái mang tảikinh nghiệm nhân loại đặc biệt quan trọng, quý giá đối với mọi thời đại” (Jung);
“thể loại lâu đời nhất, tồn tại trong cái thời gian đầu tiên là lúc mà những khu biệtthể loại chưa có, lúc mà sự phân cách giữa con người và tự nhiên chưa thực sự xảyra” (Đào Ngọc Chương) [15; tr.20]… Có thể thấy, không ít nhà nghiên cứu đã dànhnhững lời đánh giá đầy trân trọng đối với huyền thoại bởi chính “huyền thoại là sựsống đã nảy mầm thành văn chương” [82] Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có nhữngcách nhìn khác/cảnh báo về tính chất mơ hồ, giả dối của huyền thoại chính trị/tôngiáo - thứ huyền thoại dựng nên những câu chuyện khiến người ta mê lú nhằm phục
vụ cho những lợi ích chính trị/ý đồ riêng8 Vì vậy, xét từ một phương diện nhấtđịnh, giải huyền thoại cũng chính là quá trình giải ý thức hệ (ideology) sâu sắc
Thứ ba, đối tượng của huyền thoại được nghiên cứu trong luận văn là những
huyền thoại văn chương, huyền thoại hiện đại Ở đó, tác giả đã cải biên, tái sinh,quy chiếu về/từ huyền thoại cổ trong kho tàng huyền thoại dân tộc, huyền thoạiĐông - Tây để tạo nên những huyền thoại mới - hiện đại Huyền thoại cổ phản ánhbằng một hệ thống năng động, ý nghĩa những cổ mẫu, biểu tượng, là những truyện
kể ra đời trong thời đại nguyên sơ giải thích về sự ra đời của thế giới, câu chuyện vềcác vị thần, bán thần, con người Còn những huyền thoại mới lại không ngừng quychiếu về huyền thoại cổ hoặc được sáng tạo hoàn toàn mới, dù theo cách nào đi
8 Ở Việt Nam có khá nhiều những “huyền thoại chính trị” kiểu dạng này “Huyền thoại” Lê Văn Tám được Trần Huy Liệu bịa ra để gợi nhớ đến huyền thoại người anh hùng làng Gióng, nhằm “tuyên truyền, cổ vũ tinh
thần chiến đấu của quân dân ta” Luận điểm này chúng tôi sẽ phân tích cụ thể hơn ở phần viết 3.2.2.1 Giải
Trang 26chẳng nữa thì mỗi huyền thoại đều được nâng cấp trở thành biểu tượng nghệ thuật
có ý nghĩa thẳm sâu đối với một cộng đồng người/dân tộc/toàn nhân loại Dĩ nhiên,những huyền thoại mới - hiện đại này vẫn phải có những “huyền thoại gốc” làm hạtnhân trung tâm Bàn về quá trình huyền thoại “đi vào” (chữ dùng của Đào NgọcChương) văn chương, tác giả Daniel-Henri Pageaux nhấn mạnh về tình trạng sángtác văn chương “bao bọc” các huyền thoại Ở đó huyền thoại vừa được tái sinhnhưng cũng vừa được văn chương cấp thêm những nghĩa mới, đồng nghĩa với khảnăng “huyền thoại gốc” mất đi “tính chất gốc, tính chất chân thật và tính khuyếtdanh” [36; tr.27] Phân chia huyền thoại từ một góc độ khác, tác giả Lê Ngọc Tân
đã chỉ ra hai kiểu huyền thoại: huyền thoại được văn chương hóa (hay còn gọi làhuyền thoại cổ đại) và huyền thoại văn học (huyền thoại mới):
Huyền thoại cổ đại được André Siganos gọi là huyền thoại được văn chương hóa bởi
vì vốn tồn tại truyền khẩu sau được ghi chép lại, còn huyền thoại mới thì ông gọi làhuyền thoại văn học (mythe littéraire) Huyền thoại mới khác với huyền thoại cổ đại
ở chỗ nó bao giờ cũng là sáng tạo của một cá nhân, một nhà văn, chứ không phải làmột tập thể vô danh Tuy vậy, huyền thoại mới bao giờ cũng xuất phát từ một huyềnthoại cũ, huyền thoại nguyên mẫu, tức là một huyền thoại cũ được “cải biên” để đảmbảo tính liên văn bản, tính liên tục của kí ức Cuối cùng, vật liệu để kiến trúc nênhuyền thoại mới phải gắn liền với thời đại, với những vấn đề đương đại [64; tr.211]
Thứ tư, phương thức huyền thoại hóa, một mặt “làm ta nhớ đến khái niệm
“chủ đề hóa” như là quá trình huyền thoại thâm nhập vào văn học và như một vậtliệu đi vào văn bản” [36; tr.28], mặt khác, huyền thoại hóa còn là
một vận hành có nhiệm vụ biến những hiện tượng ngẫu nhiên mang tính lịch sử trongmột nền văn hóa thành những câu chuyện, những điều thiêng liêng, thần thánh, hoặcnhững chân lí hiển nhiên, không còn gì thắc mắc hay đáng ngờ [10; tr.290]
Có thể đưa ra một số những đặc điểm trong phương thức huyền thoại hóa như sau:
- Sử dụng một cách ngẫu nhiên những yếu tố hoang đường, huyền ảo như mộtthủ pháp nghệ thuật nhằm lạ hóa tác phẩm, tạo nên không thời gian/khí quyểnhuyền thoại bao bọc truyện kể Cái thực được diễn đạt qua cái ảo, cái bình thườngđược thể hiện bằng cái kì lạ, phi thường
Trang 27- Nhân vật trong huyền thoại thường có căn tính thần thánh với chức năng khaisáng văn hóa, nhân loại, hoặc gợi sự liên hệ đến những nhân vật trong huyền thoại.Nhân vật được bao phủ bởi lớp sương mù huyền thoại Với kiểu sáng tác giải huyềnthoại, những nhân vật này lại đang trên hành trình xác lập căn tính người, đồng thờibao quanh nhân vật là những cặp lưỡng phân nhị nguyên
- Tái tạo, vận dụng motif, biểu tượng từ huyền thoại cổ đại, huyền thoại Đông– Tây hoặc sáng tạo nên những huyền thoại mới được “mã hóa”, ẩn chứa những suyngẫm, triết lí
1.1.2 Phê bình huyền thoại
Mục từ “Phê bình huyền thoại” vẫn còn trống trong rất nhiều từ điển văn học
Theo công trình Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ XX, thì phê bình huyền thoại - “khuynh hướng có
thanh thế trong nghiên cứu văn học Anh, Mỹ thế kỷ XX, cũng được mệnh danh làphê bình “nghi lễ” (ritual) và phê bình “mẫu gốc” (archétype)” [30; tr.357] Trong
số những nhà nghiên cứu về huyền thoại thì nhà khoa học người Canada NorthropFrye có tầm ảnh hưởng đặc biệt trong việc xây dựng phương pháp luận của phê bìnhhuyền thoại Theo ông,
huyền thoại là hạt nhân của toàn bộ nền văn chương của nhân loại mà huyền thoạitrung tâm hay huyền thoại gốc của nó là huyền thoại - truy tìm (quest - myth) [15;tr.75]
Đồng thời, Frye cũng đưa ra những đánh giá về thành quả của Jung trong nghiêncứu huyền thoại dựa trên học thuyết về “cổ mẫu” Phê bình huyền thoại có hainhánh: phê bình nghi lễ (ritual) (xuất phát từ phương pháp nghiên cứu của Frazer -nhà dân tộc học người Anh) và phê bình cổ mẫu (archétype) (còn gọi là phê bình
“kiểu Jung” vì khái niệm cổ mẫu vốn bắt nguồn từ những công trình nghiên cứu của
C Jung - nhà tâm lí học Thụy Sĩ) Tuy hình thành từ hai cách thức nghiên cứu khácnhau nhưng hai hướng nghiên cứu này chẳng những không triệt tiêu lẫn nhau màcòn bổ sung cho nhau rất hiệu quả trong nỗ lực lí giải toàn bộ nền văn học của nhân
loại lấy huyền thoại là trung tâm Trong chuyên khảo Phê bình huyền thoại, tác giả
Trang 28khẳng định, xuất phát từ thuật ngữ cơ bản: huyền thoại - myth/mythe, huyền thoạiđược hiểu vừa như một đơn vị (gồm các yếu tố tình tiết…), vừa như một tổng thể(từ sức khái quát chung của nó, chứ không phải một toàn bộ hay một tổng số củaphép cộng), lại vừa như một hoạt động nhận thức/tồn tại của con người Và cả baphương diện ấy của huyền thoại là một trong tất cả các vai trò của nó [15; tr.16].Xuất hiện và được lưu giữ trong lòng xã hội nguyên thủy nên bối cảnh đượcxem là thích hợp nhất để huyền thoại phát huy tối đa vai trò của nó là trong khônggian nghi lễ Cũng từ tính chất này mà một trong hai cách mà phê bình huyền thoạidùng làm phương pháp nghiên cứu là nghiên cứu huyền thoại dưới góc độ nghi lễ,tức là người nghiên cứu trực tiếp thâm nhập vào không gian thiêng mà nó tồn tại đểhiểu hơn về nó chứ không thuần nghiên cứu trên văn bản Phương pháp còn lạiđược triển khai dựa trên quan niệm của Jung Ông cho rằng trong bất kì huyền tíchnào cũng tồn tại những “cổ mẫu” ẩn mình trong đó mà để hiểu được ý nghĩa củanhững câu chuyện ấy, chúng ta phải lần ra các cổ mẫu Cổ mẫu bao gồm những biểutượng, đề tài, motif mang tính chất tiên thiên, nguyên khởi Người đọc huyền thoạitheo tinh thần cổ mẫu là bằng kinh nghiệm cá nhân kết hợp với những trải nghiệmcủa cộng đồng được cất giấu trong tầng vô thức tập thể để phát hiện ra những “biểutượng mang tính hằng số” tuy lúc nào cũng không ngừng phát ra tín hiệu mời gọinhưng lại không dễ nhận diện được.
Theo Gilbert Durand - nhà phê bình huyền thoại tiêu biểu của thế kỉ XX, mụcđích của phê bình huyền thoại là tìm ra những “chuyện kể nằm bên dưới chuyện kể”
và “gắn liền với ý nghĩa của mọi chuyện kể” [62; tr.208], đồng thời ông cũng xácđịnh ba giai đoạn của phương pháp:
một “bản kê những chủ đề” huyền thoại, những tình huống phối hợp các nhân vật vàcác trang trí, cuối cùng, sự đối chiếu những bài học của huyền thoại với những huyềnthoại khác thuộc “một thời đại hay một không gian văn hóa khá xác định [62; tr.208]
Trang 29Trong sự chuyển hóa vào văn học, huyền thoại gốc9 (monomyth) không ngừng tiếpnhận thêm những sáng tạo mới, biến cải tùy thuộc vào cá tính nghệ sĩ và tinh thầnthời đại Chính vì vậy, theo Durand, phê bình huyền thoại là nghiên cứu trên tinhthần kết hợp giữa một “yếu tố văn hóa” và một “tập hợp xã hội nhất định” và “việcxem xét các tác phẩm từ phê bình huyền thoại” sẽ cho chúng ta biết về “linh hồn cánhân hay tập thể” Đối với tiểu thuyết được sáng tác theo khuynh hướng huyềnthoại hóa của thế kỉ XIX, XX thì huyền thoại là chất liệu không thể thiếu để chuyểntải ý nghĩa của tác phẩm dù cho đó là những câu chuyện mang đậm tính thời sự.Không khí huyền thoại cùng ý nghĩa phổ quát của hệ thống nguyên sơ tượng (cổmẫu) giúp nâng tầm câu chuyện và khiến cho chúng trở nên gần gũi và dễ dàng tìmđược sự đồng cảm với những gì vốn nằm ở tầng sâu vô thức của nhân loại Chúngtôi chủ yếu dựa trên học thuyết về “cổ mẫu” của Jung để triển khai phương pháp
nghiên cứu Vấn đề cổ mẫu chúng tôi phân tích cụ thể hơn ở phần 3.3 Thế giới biểu tượng, cổ mẫu (Chương 3).
Từ những chỉ dẫn trên về phê bình huyền thoại, có thể thấy, đây là khuynhhướng nghiên cứu có mục đích “giải thích” các sáng tác đương đại, xa hơn nữa làcác sáng tác dân gian hay những hình tượng nghệ thuật thông qua việc “lặp đi lặplại trong văn học những đề tài và hình tượng mang tính hằng số qua những dị bản
9 Huyền thoại gốc (Thần thoại gốc) - thuật ngữ của phê bình thần thoại học Được dùng để trỏ thần thoại “đầu tiên” mà, theo nhiều nhà nghiên cứu, nó làm cơ sở của toàn bộ trần thuật thần thoại về sau và toàn bộ sáng tác nghệ thuật nói chung (…) Thần thoại gốc còn được hiểu như một “mẫu gốc (archétype) của toàn bộ văn học, một môtip phổ quát của văn học” (Xin xem thêm mục “Thần thoại gốc”, phần “Phê bình thần thoại
học”, trong sách Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ
Trang 30cổ tích, thần thoại…) được xem như là những mảnh vỡ của huyền thoại (fragments
of myth) Rồi từ nguồn mạch dân gian dồi dào ấy đã cung cấp một chất liệu sáng tác
vô tận cho văn học viết Huyền thoại và phương thức/kĩ thuật huyền thoại hóakhông chỉ khuôn hạn trong địa hạt văn chương mà còn có ảnh hưởng không hề nhỏtrong các loại hình nghệ thuật khác như sân khấu, điện ảnh, kịch, hội họa…
Tuy nhiên, văn học cũng như rất nhiều các loại hình nghệ thuật khác, đang rơivào tình trạng “lâm nguy” (chữ dùng Tododov) bởi sự lên ngôi của những loại hìnhnghệ thuật mới mẻ hơn, hấp dẫn hơn và bởi chính nhu cầu thẩm mĩ đa dạng củacông chúng nghệ thuật Trong thời đại kĩ trị, “nghệ thuật số”, sự ra đời, lớn mạnhkhông ngừng của điện ảnh, âm nhạc, các loại hình giải trí mới… đang ngày càngtiếm ngôi, truất quyền những loại hình nghệ thuật truyền thống… đang ngày càng tỏ
ra ưu thế, chiếm số lượng công chúng áp đảo thì văn học đang thực sự phải cạnhtranh một cách khốc liệt Do vậy, chưa bao giờ như lúc này, các nhà văn đang trăntrở trong việc nỗ lực tìm kiếm những phương thức biểu đạt mới Và đi cùng vớinhững nỗ lực đó là sự biến đổi, rạn nứt, thậm chí là phá vỡ những mô hình của cấutrúc thể loại truyền thống hình thành một cấu trúc thể loại mới Trên hành trình vậnđộng, đổi mới không ngừng của văn xuôi Việt Nam đương đại, bên cạnh sự hìnhthành những tư duy mới về thể loại còn có sự tìm tòi các phương thức, kĩ thuật biểuhiện, kiến tạo nên những khuynh hướng sáng tác nổi bật Chính những phương thứcmới đã giúp nhà văn khám phá, phản ánh hiện thực đa dạng của đời sống bằng cáinhìn đa chiều kích Văn học Việt Nam đương đại là bức tranh đa sắc màu về sựthống hợp của những phương thức biểu đạt mới Phần viết này, chúng tôi khái lượcmột số phương thức cơ bản trong văn xuôi Việt Nam đương đại như: bút pháp tảthực mới, bút pháp giễu nhại, bút pháp liên văn bản, bút pháp hậu hiện đại, bút pháphuyền thoại…
Trước hết phải kể đến bút pháp tả thực mới Nhìn từ ngọn nguồn của lí luận vềnghệ thuật, bút pháp tả thực có cơ sở từ chính tư tưởng của Aristotle về nghệ thuật
là “sự mô phỏng” (mimesis) Tư tưởng này có ảnh hưởng sâu sắc đến quan niệm vềnghệ thuật trong suốt giai đoạn Phục Hưng, thế kỉ XVII, XVIII ở phương Tây, gắn
Trang 31liền với chủ nghĩa hiện thực trong văn học nhiều thế kỉ Với xu hướng “tôn trọngthực tế” các nhà văn giai đoạn này một mặt vừa công khai giễu nhại những tư tưởngcực đoan, mơ mộng của văn học lãng mạn vừa cố gắng miêu tả một cách chân thựckhách quan những biến động của xã hội Các nhà văn hiện thực đều nhất quán với
“cái nhìn hiện thực” và lấy nó làm tiêu chí hàng đầu trong sáng tác Ở Việt Nam,vấn đề, yếu tố “tả thực” đã được chú ý trong thơ văn trung đại: Đặng Trần Côn,Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ… và sáng tác của một số tác giả thuộc giai đoạngiao thời như: Nguyễn Trọng Quản, Trương Duy Toản, Trần Chánh Chiếu, ĐặngTrần Phất Nhưng, trên bình diện lí luận với tư cách là một thuật ngữ, nó được
nhắc đến lần đầu trên tạp chí Nam Phong trong bài viết “Điều lệ về cuộc thi” sáng
tác thơ văn Trong các điều lệ này, chú ý nhất đến điều lệ số 4 về quy cách sáng táctiểu thuyết: “Tiểu thuyết phải làm theo lối Âu Châu, tự đặt ra, không được dịchhoặc bắt chước truyện Tàu, truyện Tây Phải dùng phép “tả thực” không được bịađặt những việc hoang đường kì quái Trọng nhất là tả được cái tâm lí người ta cùngcái tình trạng trong xã hội” Những quy định này đã gợi mở sâu sắc các quan niệm
sơ khai về tiểu thuyết, về tả thực giai đoạn giao thời Tiếp sau đó, cũng trên tạp chí
này, Phạm Quỳnh đã ca ngợi tác phẩm Sống chết mặc bay (Phạm Duy Tốn) là “một
bài văn tả thực tuyệt khéo”; “một lối văn riêng tây lấy sự tả chân làm nòng cốt”…
Có thể thấy những quan niệm về tả thực của Phạm Quỳnh có sự liên hệ sâu sắc vớichủ nghĩa hiện thực xuất hiện ở phương Tây vào những năm 30 của thế kỉ XIX vàđạt mức cực thịnh từ những năm 40 trở đi Một trong những nguyên tắc mĩ học củachủ nghĩa hiện thực đó là việc mô tả cuộc sống bằng chính các hình tượng điển hìnhđồng thời thừa nhận mối quan hệ biện chứng giữa con người với môi trường sống,giữa tính cách và hoàn cảnh
Với văn học giai đoạn 45-75, phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa
có tính độc tôn, sáng tác nhằm phục vụ nền cách mạng, do vậy, cái hiện thực mà nómiêu tả, đôi khi, là thứ “hiện thực phải đạo” (Hoàng Ngọc Hiến) Tính chất miêu tảthẳng, thật, khách quan như hiện thực vốn có, đã bị thay bằng việc miêu tả cho hợp,cho đúng với định hướng chính trị - văn hóa của Đảng, Nhà nước Ở giai đoạn này,
Trang 32chúng ta đã cĩ một nền văn học thống thất nhưng đơn điệu Tuy nhiên, đến giaiđoạn đổi mới, với việc “cởi trĩi” cho văn nghệ, nhu cầu nhìn thẳng vào sự thật chưabao giờ trở nên cấp thiết như lúc này Khơng cịn những đề tài cấm kị, thay vào đĩ
là việc bĩc trần những “mặt nạ”, phơi bày những “gĩc khuất”, khoét sâu những vếtthương mưng mủ, sưng tấy Nhà văn chẳng cịn phải nhân danh tập thể nĩi sai khácvới suy nghĩ của mình, cũng chẳng cịn một thứ “hiện thực phải đạo” (Hồng NgọcHiến) đầy xơ cứng, trơ lì đến chán ngán Thay vào đĩ, là cách tiếp cận, nhìn nhậnhiện thực một cách đa chiều kích, một thứ hiện thực đầy sinh động Bút pháp tả thựcmới đã đem đến cho văn học giai đoạn này những hồi sinh, sức sống mạnh mẽ với
sự xuất hiện của Lê Lựu (Thời xa vắng, Chuyện làng cuội), Nguyễn Khắc Trường (Mảnh đất lắm người nhiều ma), Chu Lai (Ăn mày dĩ vãng, Vịng trịn bội bạc…), Dương Hướng (Bến khơng chồng), Nguyễn Khải (Thương đế thì cười), Đào Thắng (Dịng sơng mía)…
Bên cạnh bút pháp tả thực mới, giễu nhại (parody) cũng trở thành một trongnhững bút pháp “chủ lực” của văn học Việt Nam đương đại Giễu nhại, nhìn từ bảnchất lịch sử, đã gắn với những tác phẩm, loại hình nghệ thuật ngay từ thời sơ khaicủa con người Nĩi như Aristotle “Người là sinh vật duy nhất biết cười” [7; tr.77]
Cĩ lẽ bởi vậy mà trong sinh hoạt dân gian, những trị chơi, lễ hội thường mang đếntiếng cười, sự hài hước vui vẻ Nhưng đĩ chỉ là một trong những cấp độ cơ bản củatrào tiếu Tiếng cười cịn cĩ chức năng châm biếm đả kích phê phán nhằm đi đếnhành động hạ bệ, lật đổ những thứ vốn được cho là trang nghiêm, lộng lẫy Nhà triếthọc, nhà nghiên cứu ngữ văn xuất chúng người Nga M Bakhtin trong cơng trình
Sáng tác của Francois Rabelais và nền văn hĩa dân gian Trung cổ và Phục hưng,
thơng qua việc phân tích tác phẩm của Francois Rabelais đã chỉ ra vai trị của tiếngcười và các hình thức của tiếng cười trong sinh hoạt văn hĩa trào tiếu dân gian ởchâu Âu10
Theo tác giả I.P Iplin trong bài viết “Chủ nghĩa Hậu hiện đại - một số kháiniệm và thuật ngữ”, giễu nhại là một trong những thuật ngữ điển hình của hậu hiện
10 Xin xem thêm phần viết về Mikhạl Bakhtine (1895-1975) trong loạt bài “Phê bình văn học thế kỉ XX” của Thụy Khuê, nguồn: http://thuykhue.free.fr/tk05/PBVH5-6.html
Trang 33đại11 Tuy nhiên, nhìn sâu hơn vào văn học dân tộc, giễu nhại, trào lộng đã được sửdụng nhiều trong sáng tác của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tản
Đà, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan… chỉ đến khi chủ nghĩa hậuhiện đại xuất hiện cùng với cảm thức hậu hiện đại (postmodern sensibility) và lốiviết/kĩ thuật hậu hiện đại (postmodern technique) thì giễu nhại mới trở thành bútpháp nổi bật Tiếng cười trong văn học được biểu hiện dưới nhiều hình thức: hàihước, giễu nhại, trào phúng nhằm mỉa mai, châm biếm Trong các cấp độ của cáihài, rõ ràng “giễu nhại” vừa là một hình thức giống với các hình thức kể trên về việcbộc lộ cái hài, sự giễu cợt nhưng xét theo cấp độ “nhại”, “bắt chước” thì thuật ngữnày có độ sâu rộng hơn cả vì bao gồm cả hai quá trình “nhại” (bắt chước) và “giễu”(giễu cợt) Tác giả Nguyễn Hưng Quốc cho rằng, tính phản tỉnh và tính liên văn bản
là hai đặc trưng tiêu biểu của văn học hậu hiện đại Chính tính phản tính dẫn đến thủpháp “siêu hư cấu” (metafiction) và tính “liên văn bản” dẫn đến thủ pháp cắt dán(collage) và nhại (parody) Theo nhà nghiên cứu, giễu nhại (parody) có thể đượcxem là “hình thức tổng hợp của cả hai tính chất tự phản tỉnh và liên văn bản, biểuhiện của cái giới nghiên cứu thường gọi là “thi pháp của sự mâu thuẫn” (poetics ofcontradiction) vốn bàng bạc trong hầu hết các tác phẩm văn học hậu hiện đại chủnghĩa” [57] Nhìn từ một góc độ nào đó, các thủ pháp như cắt dán, nhại, trích dẫn,lắp ghép và phương thức chuyển thể đều là những khía cạnh/thủ pháp khác nhaucủa liên văn bản Phương thức “giễu nhại” với ý đồ chủ động bắt chước, giễu cợtmột văn bản (từ, câu, đoạn hay toàn văn), một phong cách, một thể loại, mộtphương pháp sáng tác, hay quan điểm thẩm mĩ… nhằm tạo ra cái hài hoặc đi đếnviệc nhại/nhạo báng, chế giễu thậm chí là lật đổ, giải thiêng đối tượng/những giá trịtruyền thống từng ăn sâu hóa rễ trong tâm thức dân tộc/những đặc tính vốn có củađối tượng bị giễu nhại Chính đặc điểm này là nơi thể hiện rõ nhất tính liên văn bảngiữa đối tượng giễu nhại và đối tượng bị giễu nhại Điều này gợi mở một hướngnghiên cứu tuy không còn mới mẻ trên thế giới nhưng vẫn khá mới ở Việt Nam, đó
là giễu nhại cùng một đối tượng trong tương tác giữa các loại hình nghệ thuật
11 I.P Iplin, “Chủ nghĩa Hậu hiện đại - một số khái niệm và thuật ngữ”, in trong Văn học hậu hiện đại thế
Trang 34Với văn học Việt Nam đương đại, giễu nhại trở thành bút pháp chủ lực của tự
sự, đồng thời giọng điệu giễu nhại trở thành chủ âm (tonique) Nhà nghiên cứu LãNguyên trong bài viết “Nhìn lại các bước đi, lắng nghe những tiếng nói (Về văn họcViệt Nam thời đổi mới 1975-1991)” đã khẳng định đặc điểm nổi bật của văn họcsau 1975 với:
Giọng lu loa sừng sộ, tiếng gầm gào cuộn réo trong văn học thời đổi mới không thểcất lên thành tiếng hát Cái vô lí, cái phi lí, chất văn xuôi và vẻ đẹp của đời sốngphồn tạp chỉ có thể hóa thân vào tiếng cười trào tiếu, giễu nhại để văn học thế sự biếnthành tiếng nói nghệ thuật Hình như giễu nhại đã trở thành kiểu quan hệ đời sốngmang phong cách thời đại… [43; tr.210]
Thực vậy, thủ pháp nhại mang lại những hiệu quả tự sự độc đáo ở sáng tác củaPhạm Thị Hoài (nhại huyền thoại, cổ tích…), Hồ Anh Thái (nhại tôn giáo), Võ ThịHảo (nhại lịch sử), Tạ Duy Anh, Nguyễn Huy Thiệp (nhại huyền thoại, cổ tích)…Với vấn đề giễu nhại, chúng tôi quan tâm đến khía cạnh giễu nhại và giải huyềnthoại trong văn xuôi Việt Nam đương đại Một trong những đặc trưng của thủ phápgiễu nhại, đó là việc luôn gắn với sự “giải thiêng” Giải thiêng, hiểu một cách đơngiản là tước bỏ tính chất linh thiêng của một đối tượng nào đó, trả nó về/biến nóthành một đối tượng đầy tính trần tục, bình dân Đôi khi giải thiêng gắn với việctước bỏ “sử tính” (Roland Bathes), tính huyền thoại, huyền bí của đối tượng khiếnngười ta không còn nể sợ, sùng bái Mạnh mẽ hơn nữa, giải thiêng gắn liền với quátrình hạ bệ, lật đổ một đối tượng linh thiêng, huyền bí Song song với “huyền thoạihóa” là quá trình “giễu nhại/giải huyền thoại” Trong sáng tác của một số nhà văn,huyền thoại còn được dùng như một công cụ để tự giải huyền thoại về chính nó.Tức là khuynh hướng “tự giễu nhại” của chính đối tượng Vấn đề này chúng tôi sẽ
đề cập cụ thể hơn trong phần 3.2 của chương 3
Không phải đến hậu hiện đại, khái niệm liên văn bản mới xuất hiện, nhưng ởhậu hiện đại liên văn bản đã mang diện mạo và nội hàm mới Nó cung cấp một cáchđọc mới, một phương pháp tiếp cận tác phẩm văn chương về cả nội dung lẫn nghệthuật, sâu xa hơn nữa là về lịch sử, thời đại, xã hội, phông văn hóa của tác giả cũngnhư vùng miền nơi tác phẩm thuộc về Thậm chí, khái niệm liên văn bản còn làm
Trang 35thay đổi cả nội hàm của khái niệm văn bản: không có một văn bản nào không phải
là một liên văn bản và ngược lại, liên văn bản nào cũng tồn tại như một văn bản.Theo Rjanskaya trong “Liên văn bản - sự xuất hiện của khái niệm về lịch sử và líthuyết của vấn đề”, thuật ngữ liên văn bản lần đầu tiên xuất hiện trong một thamluận của Kristeva nói về sáng tác của Bakhtin, đọc tại hội thảo do R Barthes chủ trìnăm 1966 Mùa xuân năm 1967, tham luận được công bố dưới dạng một bài báo
đăng trên tạp chí Critique (Phê bình) với nhan đề: “Bakhtin, lời nói, đối thoại và
tiểu thuyết” (Word, Dialogue and Novel) Theo Kristeva,
văn bản không được hình thành từ những ý đồ sáng tác riêng tây của người cầm bút
mà chủ yếu là từ những văn bản khác đã hiện hữu trước đó: mỗi văn bản là một sựhoán vị của các văn bản, nơi lời nói từ các văn bản khác gặp gỡ nhau, tan loãng vàonhau và trung hoà sắc độ của nhau [59]
Nói một cách khác đi, không có văn bản nào thực sự cô lập, một mình một cõi, nhưmột sự sáng tạo tuyệt đối: văn bản nào cũng chịu sự tác động của văn bản văn hoá,
và chứa đựng ít nhiều những cấu trúc ý thức hệ và quyền lực thể hiện qua các hìnhthức diễn ngôn khác nhau trong xã hội Kristeva còn xem văn bản có tính sản xuất(productivity): lúc nào nó cũng là một quá trình vận động và tương tác liên tục Từ
đó, đi xa hơn, bà cho rằng mỗi văn bản là một liên văn bản, ở đó, các văn bản kháccùng hiện hữu để góp phần chi phối và làm thay đổi diện mạo của văn bản ấy; mỗivăn bản là một sự hấp thụ và chuyển thể của văn bản khác, là một tấm vải mới dệt
từ những trích dẫn cũ, ở đó, có vô số những mảnh vụn của các mã ngôn ngữ, cácquy ước văn học, các khuôn mẫu nhịp điệu, các hình thức diễn ngôn vốn từng phổbiến trong xã hội Tuy nhiên, theo Kristeva, cũng nên lưu ý, phần lớn những mảnhvụn này là vô danh và có khi vĩnh viễn không ai có thể truy nguyên được xuất xứcủa chúng, đó chỉ là những trích dẫn tự động, từ vô thức, và không mang bất cứ mộtdấu hiệu đặc biệt nào để nhận diện sự trích dẫn ấy cả [59] Theo nghĩa rộng nhất,khái niệm này có thể hiểu là “sự tương tác của các văn bản” Có rất nhiều nhữngcách hiểu khác nhau về liên văn bản tùy thuộc theo từng chủ ý, trường phái nghiêncứu khác nhau Ở lí thuyết liên văn bản, chúng tôi quan tâm đến ba diễn giải của tác
Trang 36giả Rjanskaya: 1) thủ pháp văn học cụ thể; 2) nguyên lí phổ quát của sự tồn tại củavăn bản văn học; 3) hình ảnh “thế giới như văn bản” [60]
Trong lĩnh vực điện ảnh, liên văn bản thể hiện rõ nhất qua việc chuyển thể từtác phẩm văn học sang tác phẩm điện ảnh Đối với những tác phẩm không thuộcchuyển thể, liên văn bản thể hiện qua những “trích dẫn”, “lắp ghép” ngôn ngữ điệnảnh (dàn cảnh, dựng phim, âm thanh, ánh sáng, trang phục, cảnh/trường đoạn…);phong cách điện ảnh… giữa hai hoặc nhiều tác phẩm điện ảnh/đạo diễn Vấn đề nàygợi mở một hướng nghiên cứu còn rất mới mẻ, đó là việc so sánh cách chuyển thể,thái độ ứng xử với những huyền thoại/ chất liệu huyền thoại giữa tác giả văn học vàđạo diễn điện ảnh Điển hình nhất là từ hình tượng Don Juan - một nhân vật có thậttrong lịch sử, nhưng cấu trúc/nội dung của hình tượng huyền thoại Don Juan đãkhông dừng lại ở nội dung ngữ nghĩa ban đầu Trải qua thời gian, huyền thoại DonJuan đã không ngừng được tái sinh, tiếp biến trở thành chất liệu sáng tác, đối tượng
“giễu nhại” của giới nghệ sĩ: đạo diễn, kịch gia, thi sĩ, tiểu thuyết gia Trong lĩnhvực điện ảnh, ước tính đã có hơn 100 bộ phim khác nhau lấy chất liệu, motif từhuyền thoại này Vấn đề đặt ra là, cách ứng xử với huyền thoại Don Juan ở từngnghệ sĩ đã làm biến đổi trong cấu trúc huyền thoại Don Juan như thế nào? Tương tự
như vậy, những vị thần, người anh hùng trong Thần thoại Hi Lạp cũng trở thành
chất liệu trong các loại hình nghệ thuật
Sáng tác của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Võ ThịHảo… tiêu biểu cho bút pháp liên văn bản Với luận văn này, chúng tôi quan tâmđến yếu tố liên văn bản ở khía cạnh của sự tái lặp motif, cổ mẫu, biểu tượng tronghuyền thoại phương Đông, phương Tây Mặt khác, sự xâm lấn ngày càng mạnh mẽcủa truyện cổ/mô thức tự sự dân gian đến văn học viết hiện đại về mặt nhân vật, cốttruyện, motif cũng là vấn đề liên văn bản sẽ được chúng tôi triển khai trong cácphần tiếp theo của luận văn
Một trong những khuynh hướng cơ bản của văn học Việt Nam đương đại đó làvăn học hậu hiện đại Vì vậy, bên cạnh việc sử dụng các bút pháp như tả thực mới,liên văn bản, giễu nhại, hậu hiện đại được xem như là bút pháp điển hình nhất Xuất
Trang 37hiện sau Thế chiến thứ hai ở phương Tây, đỉnh cao là vào những năm 70 - 80, vớihàng loạt các kĩ thuật sáng tác và tư tưởng văn nghệ mới để phản ứng lại các quychuẩn văn học của chủ nghĩa hiện đại, hậu hiện đại (postmodern) được J.F Lyotard
định danh trong công trình triết học Hoàn cảnh hậu hiện đại… Một tác phẩm được xem là văn chương hậu hiện đại chỉ khi nó hội đủ hai yếu tố: cảm thức hậu hiện đại
và kĩ thuật viết hậu hiện đại “Cảm thức hậu hiện đại” xem bản chất của thế giới là
hỗn mang Con người hậu hiện đại nhận thấy sự “đổ vỡ của những trật tự đời sống”,hoài nghi các đại tự sự (grand narratives); sự bất định, đảo lộn trong “thang bảnggiá trị đời sống”; sự thất tín, lạc loài, vong thân, hồ nghi về tồn tại và tự mình luôncảm thấy bất an trước cuộc sống thiên biến vạn hóa Những kĩ thuật thường gặp củatiểu thuyết hậu hiện đại là sự dịch chuyển liên tục các điểm nhìn; cốt truyện lỏnglẻo; hiện thực trong tác phẩm là những mảnh vỡ (fragments); cấu trúc phi đơntuyến, không có nhân vật trung tâm, điển hình; lối kể nhảy cóc, đa âm; lời thoại rờirạc, phi logic; thủ pháp liên văn bản, bút pháp huyền ảo; nhại ngôn ngữ các thể loạikhác và làm nhoà “cái tinh tuyển” và “cái bình dân” trong ngôn ngữ
Tuy nhiên, nghệ thuật không phải là sự sao chép vụng về sự thật đời sống.Kiểu tư duy phản ánh hiện thực đơn giản và bút pháp miêu tả hiện thực thô sơ đãkhông còn chiếm giữ vị trí độc tôn trong phương thức biểu hiện của văn học, thayvào đó là sự nở rộ của những kiểu kĩ thuật, phương thức mới mẻ - là kết quả của sựthay đổi quan niệm, tư duy thể loại Phương thức huyền thoại không phải chỉ đếngiai đoạn văn học đương đại mới sử dụng mà trước đó, sâu xa hơn trong văn hóa,văn học mỗi quốc gia, huyền thoại luôn tồn tại, tái sinh dưới nhiều dạng thức khácnhau Như đã trình bày, huyền thoại chính là cái nôi tư tưởng văn hóa đầu tiên củanhân loại, huyền thoại là những câu chuyện mẫu, cung cấp những “tình huống mẫu”
kể về sự ra đời, hình thành của thế giới, câu chuyện về các vị thần Những mảnh vỡ,
tư duy huyền thoại được tái sinh trong các truyện kể dân gian: thần thoại, truyềnthuyết, truyện cổ tích, sử thi… Với mỗi quốc gia dân tộc, nguồn mạch văn hóa dângian - có cơ sở sâu xa từ huyền thoại, đã không ngừng tiếp biến, tái sinh và trởthành chất liệu sáng tác dồi dào của/trong văn học viết
Trang 38Vậy tại sao, phương thức huyền thoại đã trở thành một trong những bút pháp/
kĩ thuật tiêu biểu của sáng tác đương đại?
Do hoàn cảnh lịch sử và chịu ảnh hưởng sâu sắc từ chính sách, đường lối củaĐảng, văn học Việt Nam mà trong đó dòng văn học cách mạng chiếm vị thế chủ lưusuốt một thời gian dài với nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc Những mệnh đềđại loại như: văn học phản ánh hiện thực, nhà văn là thư kí trung thành của thờiđại… đã trở nên xơ cứng trong tư duy sáng tác đương đại Nói như vậy không cónghĩa là huyền thoại đối lập với hiện thực Cho nên, sáng tác cũng như phê bình, líluận văn học không chú ý đến huyền thoại và phương thức huyền thoại
Thêm vào đó, huyền thoại như một tôn giáo, như một nơi an trú cho nhữnghoang mang, bất lực, cho niềm tin đổ vỡ, cho những phi lí của đời sống hiện thực
mà con người không thể/chưa thể vượt thoát Nói như nhà nghiên cứu Meletinsky
trong công trình Thi pháp của huyền thoại:
Trong thế kỷ XX, do tâm trạng thất vọng đối với các giá trị tích cực, cao trào táihuyền thoại hóa xuất hiện nổi bật trong văn chương hiện đại chủ nghĩa - một triếtthuyết đoạn tuyệt kiên quyết với những truyền thống lịch sử của thế kỉ XIX, chối bỏnguyên tắc xã hội và nguyên tắc lịch sử, vượt khỏi khuôn khổ xã hội lịch sử nhằmthể hiện những bản nguyên vĩnh cửu của đời sống và tâm tư nhân loại [45, tr.xvii]
Mặt khác, huyền thoại đối lập với khoa học tự nhiên, tư duy lí tính Vì thể sựquay trở về với huyền thoại bằng việc sử dụng những phương thức huyền thoại làbiểu hiện của việc chống lại sức mạnh tha hóa của trí tuệ, tư duy lí tính đối với đờisống và nhận thức con người
Trong bài viết “Kí hiệu học và sáng tạo nghệ thuật”, nhà nghiên cứu văn họcNga Khrapchenko đã bày tỏ sự đồng tình với suy nghĩ của nhà điêu khắc Xô viếtX.T Konenkov về nền nghệ thuật tương lai:
Theo tôi, sau này cũng như hiện nay, người ta sẽ đánh giá cao nền nghệ thuật soisáng tâm hồn sử dụng những phương thức gợi cảm xúc động như: ẩn dụ, tượngtrưng, biểu cảm [33; tr.110]
Những nhận xét này đã tìm được một mối đồng cảm sâu sắc với khuynhhướng tái tạo và trở về huyền thoại trong văn học thế giới thế kỉ XX và văn học
Trang 39Việt Nam đương đại Huyền thoại là nơi huy động, cấu kết các hệ thống biểu tượng,
ẩn dụ, cổ mẫu nhằm xây dựng những “tình huống mẫu”, những câu chuyện/hoàncảnh mẫu, mang giá trị phổ quát đối với văn hóa dân tộc/liên dân tộc
Chúng tôi chưa dám quả quyết về sự xuất hiện của dòng tiểu thuyết huyềnthoại trong văn học Việt Nam đương đại Tuy nhiên, trên thế giới, tiểu thuyết huyềnthoại thế kỉ XX đã thực sự trở nên lớn mạnh, và huyền thoại đã đi từ một chất liệu,yếu tố, tư tưởng để trở thành một phương thức, kĩ thuật và tiến tới hình thành, xáclập một thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn huyền thoại đa dạng Với văn học ViệtNam đương đại, chúng tôi khẳng định có sự tồn tại mạnh mẽ của dòng truyện ngắn
huyền thoại với sự xuất hiện của các cây bút tên tuổi như: Hòa Vang (Nhân sứ, Sự tích những ngày đẹp trời, Bụt mệt, Sự tích con lợn ống tiền…), Võ Thị Hảo (Hành trang của người đàn bà Âu Lạc, Nàng tiên xanh xao, Nữ hoàng bóng đêm, Đêm bướm ma, Lãnh cung, Nghiệp chướng…), Nguyễn Huy Thiệp (Trương Chi, Con gái thủy thần, Vàng lửa, Phẩm tiết…), Lê Minh Hà (An Dương Vương, Tiếng trăng, Ngày xưa cô Tấm, Sơn Tinh Thủy Tinh, Gióng…), Trần Chiến (Hai đức Chúa Ông), Nguyễn Hiệp (Dưa huyết), Trần Hạ Tháp (Cuộc cờ lều Ngộ Vân), Hà Khánh Linh (Chim hạc đen), Ngô Văn Phú (Giấc mơ hoàng hậu)…
Tiểu kết
Trong chương 1, chúng tôi đã trình bày sơ lược hai vấn đề trọng tâm: Huyền thoại và Hành trình tìm kiếm phương thức biểu đạt của văn xuôi Việt Nam sau
1975 Ở vấn đề thứ nhất, chúng tôi nỗ lực làm rõ sự triển diễn đến phức tạp của khái
niệm huyền thoại thông qua một số định nghĩa điển hình Từ đó, chúng tôi chỉ ranhững vấn đề cơ bản xoay quanh thuật ngữ này Huyền thoại khởi đi từ “văn hóatinh thần”, “thế giới quan triết học” của người nguyên thủy, trở thành chất liệu nghệthuật dồi dào từ văn học dân gian đến văn học viết Không chỉ vậy, nhìn sâu hơnvào mạng lưới kĩ thuật biểu hiện của văn xuôi Việt Nam đương đại, huyền thoại còntrở thành bút pháp/phương thức điển hình của tự sự Huyền thoại hiện đại không chỉ
là những đại tự sự về lịch sử, về thánh thần, về tôn giáo Những câu chuyện thiêng
về những nhân vật, sự kiện anh hùng, thậm chí những sự vật bình thường, giản dị
Trang 40nhưng có sức điển hình, phổ biến trong văn hóa đại chúng, thì tự bản thân chúng đãtrở thành huyền thoại Huyền thoại cũng giống như tôn giáo, nó rất cần được “nuôidưỡng”, “tưới tắm”, được “tôn thờ”… nếu không nó sẽ “mất thiêng”, sẽ bị lãngquên trong tâm thức cộng đồng Để xác lập nền tảng phương pháp nghiên cứu, trongchương 1, chúng tôi còn trình bày một cách giản lược lí thuyết phê bình huyềnthoại