Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới tinh thần khởi nghiệp của sinh viên qua đó đề xuất các giải pháp nâng cao tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội. Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới tinh thần khởi nghiệp của sinh viên qua đó đề xuất các giải pháp nâng cao tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội.
Trang 1- -
LƯƠNG NGỌC MINH
NGHIÊN CỨU NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TINH THẦN KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
HÀ NỘI - 2019
Trang 2- -
LƯƠNG NGỌC MINH
NGHIÊN CỨU NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TINH THẦN KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 9 34 01 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: GS TS BÙI XUÂN PHONG
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án “Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội” hoàn toàn là công trình
nghiên cứu của riêng cá nhân tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Trong quá trình thực hiện luận án, tôi đã thực hiện nghiêm túc các quy tắc đạo đức nghiên cứu; các kết quả trình bày trong luận án là sản phẩm nghiên cứu, khảo sát của riêng cá nhân tôi; tất cả các tham khảo sử dụng trong luận án đều được trích dẫn tường minh, theo đúng quy định Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về tính trung thực của luận án
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Nghiên cứu sinh
Lương Ngọc Minh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Viện Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Kinh
tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa đào tạo tiến sĩ ngành Quản trị kinh doanh
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể các giảng viên, các nhà khoa học công tác tại Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình chia sẻ và giúp đỡ tôi hoàn thành các học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ của nhà trường
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn khoa học – GS TS Bùi Xuân Phong đã luôn động viên, giúp đỡ, tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành
luận án này
Tôi cũng xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới các thầy cô, các bạn đồng nghiệp, gia đình, bạn bè và các cán bộ, giảng viên và sinh viên đang công tác, học tập tại các trường Đại học trong và ngoài công lập trên địa bàn Hà Nội đã hỗ trợ, hợp tác, chia sẻ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận án
Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng chắc chắn luận án này không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp của các nhà khoa học, các nhà quản lý, các bạn đồng nghiệp và những người quan tâm để tác giả có thể hoàn thiện nghiên cứu của mình
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Nghiên cứu sinh
Lương Ngọc Minh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC BẢNG i
DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ iii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TINH THẦN KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN 8
1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 8
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về khởi nghiệp và tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên thế giới 8
1.1.2 Kinh nghiệm hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới 14
1.1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước 19
1.1.4 Khoảng trống nghiên cứu 25
1.2 Khởi nghiệp và tinh thần khởi nghiệp của sinh viên 27
1.2.1 Khởi nghiệp 27
1.2.2 Tinh thần khởi nghiệp 31
1.2.3 Tinh thần khởi nghiệp của sinh viên 36
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên 38
1.3.1 Các nhân tố từ bên trong bản thân sinh viên 39
1.3.2 Các nhân tố từ bên ngoài 44
1.4 Mô hình và các giả thuyết nghiên cứu của luận án 50
1.4.1 Mô hình nghiên cứu 50
1.4.2 Các giả thuyết nghiên cứu 50
Tóm tắt chương 1 52
Trang 6CHƯƠNG 2: BỐI CẢNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 53
2.1 Thực trạng khởi nghiệp gắn với sinh viên hiện nay 53
2.1.1 Thực trạng khởi nghiệp gắn với sinh viên trên thế giới 53
2.1.2 Thực trạng môi trường kinh doanh cho khởi nghiệp ở Việt Nam 57
2.2 Tiến trình nghiên cứu 66
2.3 Phương pháp nghiên cứu định tính 67
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu định tính 67
2.3.2 Nội dung và kết quả thảo luận với chuyên gia 68
2.3.3 Kết quả nghiên cứu định tính 71
2.4 Thiết kế nghiên cứu định lượng 72
2.4.1 Khảo sát thử 72
2.4.2 Khảo sát chính thức 73
2.5 Mã hóa các khái niệm, thang đo và phiếu khảo sát 77
2.6 Phương pháp đánh giá tinh thần khởi nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội 79
2.6.1 Phương pháp đánh giá tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội 79
2.6.2 Phương pháp đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội 80
Tóm tắt chương 2 81
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TINH THẦN KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 82
3.1 Thực trạng tinh thần khởi nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội 82
3.1.1 Kiểm định các khái niệm, thang đo nghiên cứu 82
3.1.2 Xây dựng mô hình và giả thuyết nghiên cứu 87
Trang 73.1.3 Thực trạng tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội 90
3.1.4 Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội 91
3.2 Thực trạng mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng dến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội 98
3.2.1 Kiểm định dữ liệu phân phối chuẩn 98
3.2.2 Mô hình hồi quy và các giả thuyết nghiên cứu 99
3.2.3 Xây dựng mô hình nghiên cứu tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội bằng phương pháp hồi quy bội 101
3.3 Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu 108
Tóm tắt chương 3 111
CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO TINH THẦN KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 112
4.1 Xu hướng phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam 112
4.2 Một số đề xuất giải pháp thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp cho sinh viên trên địa bàn Hà Nội 113
4.2.1 Đánh thức ý tưởng khởi nghiệp trong mỗi sinh viên ngay từ trên ghế nhà trường đại học 113
4.2.2 Thay đổi phương pháp đào tạo định hướng kiến tạo khởi nghiệp cho sinh viên 115
4.2.3 Thay đổi nội dung chương trình đào tạo định hướng khởi nghiệp cho sinh viên 128
4.2.4 Giải pháp nâng cao khả năng huy động vốn cho khởi nghiệp 133
4.2.5 Các giải pháp khác 135
4.3 Một số kiến nghị đối với cơ quan quản lý Nhà nước 137
4.3.1 Truyền thông về tinh thần doanh nhân trong toàn xã hội và trọng tâm là trong trường đại học trên địa bàn thủ đô 138
Trang 84.3.2 Tổ chức các hoạt động khuyến khích khởi nghiệp 138
4.3.3 Đa dạng hóa và tăng cường các hình thức giáo dục đào tạo 139
4.3.4 Tích cực hỗ trợ tài chính cho các chương trình khởi nghiệp 140
4.3.5 Hoàn thiện khung thể chế chính sách hỗ trợ khởi nghiệp 140
4.3.6 Sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản tạo cơ sở pháp lý hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp 143
4.4 Hạn chế của nghiên cứu và các định hướng nghiên cứu tiếp theo 143
4.4.1 Hạn chế của nghiên cứu 143
4.4.2 Các hướng nghiên cứu tiếp theo 144
Tóm tắt chương 4 148
KẾT LUẬN 150
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ 152
TÀI LIỆU THAM KHẢO 153 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Bảng tóm tắt một số nghiên cứu ngoài nước có liên quan 13
Bảng 1.2: Bảng tóm tắt một số nghiên cứu trong nước có liên quan 24
Bảng 1.3: Bảng tổng hợp thang đo Tinh thần khởi nghiệp của sinh viên 38
Bảng 1.4: Bảng tóm tắt thang đo các nhân tố ảnh hưởng tới tinh thần khởi nghiệp của sinh viên 48
Bảng 2.1: Tình hình doanh nghiệp, vốn và lao động đăng ký thành lập mới theo lĩnh vực hoạt động 11 tháng 2017 so với cùng kỳ 58
Bảng 2.2: Kết quả trao đổi với chuyên gia 69
Bảng 2.4: Bảng cơ cấu mẫu khảo sát 76
Bảng 2.5: Mã hóa các thang đo 77
Bảng 3.1: Bảng tóm tắt các hệ số khi phân tích nhân tố khám phá EFA lần 1 của 35 thang đo trong nghiên cứu 82
Bảng 3.2: Tổng phương sai được giải thích trong phân tích EFA lần 1 của 35 thang đo trong nghiên cứu 83
Bảng 3.3: Bảng tóm tắt các hệ số khi phân tích nhân tố khám phá EFA lần 2 của 34 thang đo trong nghiên cứu 84
Bảng 3.4: Tổng phương sai được giải thích trong phân tích EFA lần 2 của 34 thang đo trong nghiên cứu 84
Bảng 3.5: Bảng mã hóa lại các khái niệm và thang đo nghiên cứu 85
Bảng 3.6: Bảng tóm tắt hệ số Cronbach‟s Alpha của các khái niệm nghiên cứu 87 Bảng 3.7: Thống kê mô tả thực trạng tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội 90
Bảng 3.8: Thống kê mô tả nhân tố Kỳ vọng của bản thân 92
Bảng 3.9: Thống kê mô tả nhân tố Thái độ về việc khởi nghiệp 93
Trang 10Bảng 3.10: Thống kê mô tả nhân tố Cảm nhận về năng lực bản thân có thể
khởi nghiệp 93
Bảng 3.11: Thống kê mô tả nhân tố Cảm nhận về tính khả thi 94
Bảng 3.12: Thống kê mô tả nhân tố Sự tự tin khởi nghiệp 95
Bảng 3.13: Thống kê mô tả nhân tố Chuẩn mực niềm tin 95
Bảng 3.14: Thống kê mô tả nhân tố Sự giáo dục 96
Bảng 3.15: Thống kê mô tả nhân tố Nguồn vốn cho khởi nghiệp 97
Bảng 3.16: Kết quả kiểm định dữ liệu phân phối chuẩn thang đo các nhân tố ảnh hưởng tới tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội 98
Bảng 3.17: Bảng quy ước lại các khái niệm và thang đo nghiên cứu 100
Bảng 3.18: Bảng kết quả hồi quy của mô hình TTKN 102
Bảng 3.19: Kết quả phân tích phương sai ANOVA 103
Bảng 3.20: Kết quả phân tích hồi quy đa biến 103
Bảng 3.21: Kết quả phỏng vấn sâu về kết quả hồi quy 107
Bảng 3.22: Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết 109
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và số doanh nghiệp đang hoạt
động giai đoạn 2012-2016 57
Biểu đồ 2.2: Vốn đăng ký bình quân/ DN thành lập mới 59
giai đoạn từ 2011-2016 59
Sơ đồ 1.1: Các nhân tố ảnh hưởng đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên 50
Sơ đồ 2.1: Quy trình nghiên cứu của luận án 67
Sơ đồ 3.1: Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết 110
Trang 12LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ năm 2014 đến nay, Việt Nam nói chung và thủ đô Hà Nội nói riêng đã chứng kiến sự xuất hiện một “tinh thần” và “dòng chảy” khởi nghiệp mới với nhiều dấu ấn đậm nét Thị trường khởi nghiệp Việt Nam đang có sức sống và tiềm năng phát triển mạnh mẽ tương đồng với một số nước trong khu vực ASEAN như Thái Lan và Indonesia Việt Nam nói chung và thủ đô Hà Nội nói riêng đang chứng kiến sự trỗi dậy của một thế hệ doanh nhân ngày càng trẻ hơn
về tuổi đời, đặc biệt là thế hệ sinh viên với khả năng đổi mới sáng tạo và tinh thần khởi nghiệp mạnh mẽ đã tạo ra những làn sóng khởi nghiệp, khởi nghiệp sáng tạo và thành lập doanh nghiệp, đóng góp vào sự phát triển chung trong công cuộc tái cấu trúc và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.Nhìn lại những năm qua (2014-2018), ở Việt Nam đã xuất hiện khái niệm “start-up” hay “khởi nghiệp sáng tạo”, tinh thần khởi nghiệp là chủ đề đang được cả nước quan tâm,
nhiều chương trình, cuộc thi về khởi nghiệp của các cơ quan tổ chức đã được thực hiện nhằm khích lệ tinh thần khởi nghiệp của sinh viên và tinh thần thành lập doanh nghiệp để lập nghiệp của thanh niên Nhưng để hiểu đúng, nhận thức đúng và hành động đúng thì đòi hỏi thanh niên, sinh viên khởi nghiệp phải trang
bị nhiều kiến thức cơ bản về lý thuyết khởi nghiệp, đồng thời cần có môi trường
để thử nghiệm, trải nghiệm và ươm tạo ý tưởng để thành công
Mặc dù bên cạnh làn sóng khởi nghiệp mạnh mẽ đã tạo ra nhiều sự thay đổi cả về chính sách của nhà nước và nhiều mô hình thành công trong thực tế, tuy nhiên theo Báo cáo Chỉ số Khởi nghiệp Việt Nam 2015-2016 của Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI) dựa trên kết quả khảo sát 2000 người trưởng thành và 36 chuyên gia đã chỉ ra: nhận thức về cơ hội kinh doanh
ở Việt Nam tăng mạnh trong 3 năm gần đây, nhưng nhận thức về năng lực kinh
Trang 13doanh vẫn chưa thật sự được cải thiện Trên thực tế, để có thể khởi nghiệp thành công tại Việt Nam là điều không hề dễ dàng, với hệ sinh thái khởi nghiệp còn non trẻ, nhà khởi nghiệp phải đối mặt với vô vàn khó khăn và rủi ro của dự án, đặc biệt là các nhà khởi nghiệp trẻ và không ít trong số đó là sinh viên Trong khi, nghiên cứu của các học giả nước ngoài về khoa học giáo dục chỉ ra rằng, chỉ
số PISA của học sinh Việt Nam (2016) rất cao, xếp thứ 8 về Khoa học, thứ 22
về môn Toán và thứ 32 về môn Đọc hiểu trong số 72 quốc gia và vùng lãnh thổ Tuy nhiên tỷ lệ học sinh, sinh viên biết và tham gia khởi nghiệp thấp nhất trong
72 nước [9]
Quyết tâm của Thủ tướng Chính phủ và Chính phủ là rất rõ ràng, mục tiêu đến năm 2020 sẽ có một triệu doanh nghiệp hoạt động, riêng Thủ đô Hà Nội cam kết đến 2020 ít nhất có 400.000 doanh nghiệp hoạt động Để thực hiện được điều này đòi hỏi phải huy động tất cả các nguồn lực lao động trong xã hội, trong
đó sinh viên thông qua khởi nghiệp sẽ là lực lượng và đội ngũ kế cận cho việc hình thành lên cộng đồng doanh nhân, doanh nghiệp trẻ Việt Nam [18] Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, cả nước có tới trên 280.000 sinh viên tốt nghiệp đại học chưa có việc làm thì việc khởi nghiệp nói chung và khởi nghiệp của sinh viên nói riêng là rất cần thiết
Tuy nhiên, để giải quyết vấn đề này thì cần phải có cơ sở lý luận dẫn đường, hiện nay đa số các nghiên cứu về khởi nghiệp thường tiếp cận theo hai hướng chính là về ý định khởi nghiệp và hoạt động khởi nghiệp mà chưa có các nghiên cứu về tinh thần khởi nghiệp của sinh viên Các nghiên cứu về ý định khởi nghiệp chủ yếu dựa trên lý thuyết hành vi có kế hoạch TPB và được thúc đẩy bởi các nhân tố xuất phát chủ yếu từ bên trong chủ thể mà thiếu đi những tác động từ các nhân tố bên ngoài Trong khi đó, tinh thần khởi nghiệp thể hiện sự chủ động, ý chí quyết tâm, không ngừng chủ động tìm kiếm các cơ hội để có thể khởi nghiệp, nó ở một trạng thái cao hơn của ý định khởi nghiệp và nó cần được
Trang 14nuôi dưỡng không chỉ khi mới có ý định mà còn phải làm cho ý định đó trở nên mạnh mẽ, liên tục để thôi thúc chủ thể thực hiện hành vi Từ góc tiếp cận này cho thấy, cần thiết phải có một nghiên cứu về tinh thần khởi nghiệp và các nhân
tố ảnh hưởng đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên nhằm xây dựng khung lý thuyết và đề xuất các gợi ý giải pháp cho việc thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp nơi thế hệ trẻ
Hiện nay, khác với các thành phố lớn trên thế giới, phần lớn sinh viên Hà Nội ra trường đều có xu hướng đi đăng ký tuyển dụng ở các doanh nghiệp đang hoạt động, rất ít người muốn khởi sự kinh doanh, thậm chí sau khi tốt nghiệp sẵn sàng “nằm chờ” ở nhà để khi nào kiếm được việc mới đi làm Trong khi đó, Hà Nội với 69 trường đại học, hàng năm đào tạo ra hơn 200.000 lao động có chất lượng ở các hệ đào tạo và đây đa số là những người trẻ tuổi, có ước mơ, có hoài bão, có sáng tạo…, để có thể khởi nghiệp kinh doanh Mặt khác, Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị, xã hội của cả nước, nơi đây có nhiều cơ hội để khởi nghiệp cho những người trẻ tuổi, là nơi để khẳng định tài năng…, vì thế sẽ tạo ra các điều kiện thuận lợi để sinh viên Hà Nội có thể biến ý tưởng thành hiện thực
để xây dựng sự nghiệp của riêng mình Tuy nhiên, kết quả của một số nghiên cứu về ý định khởi nghiệp kinh doanh chỉ ra, sinh viên ở các trường đại học hiện nay có ý định khởi nghiệp tương đối cao nhưng thực tế số lượng thực hiện khởi nghiệp lại thấp, điều này có thể là do tinh thần khởi nghiệp của sinh viên còn thấp nên chưa thể biến từ ý định thành hành vi khởi nghiệp Do vậy, để nâng cao tinh thần khởi nghiệp của sinh viên thủ đô và trang bị hành trang trên con đường
đi đến thành công của sinh viên, đồng thời tạo động lực phát triển DNNVV của
thủ đô Hà Nội, một số câu hỏi cấp thiết được đặt ra là: (1) Thực trạng tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội hiện nay như thế nào? (2) Những nhân tố nào tác động đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội? (3) Giải pháp nào cần được thực hiện để nâng cao tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội?
Trang 15Xuất phát từ những lý do trên, với mong muốn đóng góp cho sự phát triển của khởi nghiệp sinh viên Việt Nam nói chung và khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội nói riêng, tác giả đã chọn đề tài: “Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội” để nghiên cứu trong luận án của mình
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên qua đó đề xuất các giải pháp nâng cao tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước
về tinh thần khởi nghiệp, đặc biệt là tinh thần khởi nghiệp của sinh viên, từ đó xây dựng cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu đề tài luận án
Phân tích, đánh giá thực trạng tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội hiện nay
Đánh giá thực trạng mức độ và chiều hướng tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội hiện nay
Đưa ra các căn cứ nhằm đề xuất được các giải pháp nâng cao tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội trong thời gian tới
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tinh thần khởi nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian: Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn Hà Nội với
mẫu khảo sát tại 08 trường đại học lớn bao gồm cả trường công lập và ngoài
Trang 16công lập và không xem xét đối với đối tượng sinh viên của khối các trường về quốc phòng, an ninh và y tế
Về mặt thời gian: Nghiên cứu định tính được tiến hành từ đầu năm 2016
đến nửa đầu năm 2018, tiếp đó nghiên cứu định lượng được tiến hành khảo sát, thu thập và xử lý dữ liệu trong khoảng thời gian từ tháng 5/2018 đến hết tháng 9/2018
Về mặt nội dung: Nghiên cứu này tiến hành đánh giá thực trạng tinh thần
khởi nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội mà không đánh giá thực trạng khởi nghiệp của sinh viên Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên nhưng trong nghiên cứu này, tác giả chỉ xem xét hai nhóm nhân tố bên trong gồm (1)
Kỳ vọng của bản thân; (2) Thái độ về việc khởi nghiệp; (3) Cảm nhận về năng lực bản thân có thể khởi nghiệp; (4) Cảm nhận về tính khả thi; (5) Sự tự tin khởi nghiệp, và nhóm nhân tố bên ngoài gồm (1) Chuẩn mực niềm tin; (2) sự giáo dục; (3) Nguồn vốn cho khởi nghiệp Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội trong thời gian tới Nghiên cứu này cũng không xem xét việc có hay không tồn tại sự khác biệt về tinh thần khởi nghiệp của sinh viên giữa các nhóm về giới tính, niên khoa, ngành học…, vì rất khó để đưa ra các tác động riêng để nâng cao tinh thần khởi nghiệp
của từng nhóm khi mà bản thân các chính sách chung còn đang rất hạn chế
4 Những đóng góp mới của luận án
4.1 Về mặt lý luận
Luận án đã làm rõ được khái niệm về tinh thần khởi nghiệp của sinh viên,
sự khác biệt của tinh thần khởi nghiệp với ý định khởi nghiệp và hoạt động khởi nghiệp của sinh viên, cùng với đó, luận án cũng chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng tới tinh thần khởi nghiệp của sinh viên
Luận án đã khái quát được mô hình nghiên cứu về tinh thần khởi nghiệp của sinh viên và các nhân tố ảnh hưởng tới tinh thần khởi nghiệp của sinh viên
Trang 17Trong đó đã xem xét thêm 02 nhân tố bên ngoài tác động đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên là “Sự giáo dục” và “Nguồn vốn cho khởi nghiệp” Bởi đối với các khởi nghiệp không phải là sinh viên thì thường họ đã có nền tảng kiến thức rất lớn từ nhà trường, xã hội và có nhiều kinh nghiệm cũng như khả năng tài chính nhưng riêng đối với sinh viên thì nền tảng giáo dục của họ chủ yếu đến
từ nhà trường và vì thế có thể sự giáo dục từ phía nhà trường sẽ có ảnh hưởng không nhỏ tới tinh thần khởi nghiệp của sinh viên Bên cạnh đó, nguồn vốn là nhân tố được xem như điều kiện để tiến hành khởi nghiệp thì sinh viên lại rất yếu, thường là không tự có mà phải huy động từ các nguồn bên ngoài, do vậy nhân tố này cũng có thể ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên
Luận án đã xây dựng bộ công cụ đánh giá mức độ của tinh thần khởi nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng tới tinh thần khởi nghiệp của sinh viên theo phương pháp bình quân có trọng số Factor score, với phương pháp này, các kết quả sẽ có độ chính xác cao hơn so với phương pháp bình quân không có trọng số thông thường
Luận án đã phát hiện mới 01 nhân tố ảnh hưởng đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội và được gọi là nhân tố “Sự tự tin khởi nghiệp”
4.2 Về mặt thực tiễn
Luận án đã lượng hóa và đánh giá được thực trạng tinh thần khởi nghiệp
và thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội
Luận án đã đánh giá được mức độ tác động và hướng tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội
Luận án đã chỉ ra được sự tác động thuận chiều của nhân tố “Sự giáo dục”
và “Nguồn vốn cho khởi nghiệp” đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội, đặc biệt nhân tố “Nguồn vốn cho khởi nghiệp” còn có mức độ tác động rất mạnh, chỉ đứng thứ hai sau nhân tố “Sự tự tin khởi nghiệp”
Trang 18Luận án đã đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội trong thời gian tới
5 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục các công trình đã công
bố của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo, và phần phụ lục, luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về tinh thần khởi nghiệp của sinh viên
Chương 2: Bối cảnh và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu về tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội
Chương 4: Đề xuất giải pháp nâng cao tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội
Trang 19CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ
LUẬN VỀ TINH THẦN KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN
1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về khởi nghiệp và tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên thế giới
Trên thế giới đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về khởi nghiệp và tinh thần khởi nghiệp và chủ yếu được tiếp cận theo các hướng nghiên cứu như sau:
Hướng nghiên cứu về độ tuổi tác động đến tinh thần khởi nghiệp
Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu theo hướng này là các tác giả như Blanch Flower and Oswald (1998), Walstad và Kourilsky (1998), Greene (2005)…, các nghiên cứu đều có điểm chung khi cho rằng lực lượng trẻ có đặc điểm nổi trội về nhiệt huyết và tính sáng tạo và luôn có xu hướng sẵn sàng gây dựng một sự nghiệp cho riêng mình Blanch Flower and Oswald (1998) chỉ ra trong nghiên cứu của họ về 23 quốc gia OECD vào đầu những năm 1990, tinh thần của những người trẻ tuổi ưa chuộng việc tự kinh doanh (self-employment) hơn việc đi làm thuê [43] Delmar & Davidson (2000) cũng chỉ ra, tuổi tác là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tiềm năng khởi nghiệp, về mặt này những người trẻ tuổi được xem là ưu thế [47] Greene (2005) cũng khẳng định phát hiện này: hai phần ba thanh niên Mỹ và hơn một nửa giới trẻ châu Âu ưa thích việc tự kinh doanh [16] Tương tự, Walstad và Kourilsky (1998) đã chứng minh rằng tại Mỹ những người trẻ đang quan tâm tới việc bắt đầu một doanh nghiệp nhiều hơn người già [67] Hay như nghiên cứu mới đây của Bouncken và cộng sự (2016) đã chỉ ra độ tuổi của người khởi nghiệp có ảnh hưởng tới tinh thần khởi nghiệp và kết quả khởi nghiệp, những người trẻ tuổi thường sẵn sàng hơn trong việc bắt đầu một công việc mới [44] Các tác giả đều cho thấy những khó khăn trong việc khởi nghiệp của sinh viên, đặc biệt là trong
Trang 20vấn đề tiếp cận nguồn tài chính Thập kỷ qua đã chứng kiến sự nở rộ của các nghiên cứu theo lý thuyết khởi nghiệp với nhiều góc nhìn khác nhau
Tuy nhiên các nghiên cứu này có một số hạn chế, đó là: Tập trung chủ yếu tại các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển – nơi mà người ta khuyến khích con người làm giàu từ rất sớm, với các yếu tố môi trường kinh doanh thuận lợi cho phát triển doanh nghiệp; cùng với đó là sự hình thành đồng
bộ và vận hành hiệu quả của các hệ thống kinh tế thị trường, ví dụ như Mỹ, Anh, Australia, Trung Quốc Các nghiên cứu chưa xây dựng được một cách đầy đủ
và khoa học về mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến tinh thần và sự khởi nghiệp thành công của sinh viên Các đề xuất đưa ra còn thiếu tính khả thi và khó áp dụng trong tình hình kinh tế hiện nay đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam
Hướng nghiên cứu về yếu tố đào tạo đại học với tinh thần khởi nghiệp:
Trước đây, khi trường phái sử dụng tính cách cá nhân để giải thích hành
vi khởi nghiệp chi phối các nghiên cứu trong lĩnh vực khởi nghiệp kinh doanh thì người ta cho rằng đào tạo không thể giúp sản xuất ra doanh nhân mà chỉ có thể giúp phát hiện ra doanh nhân; doanh nhân là được sinh ra chứ không phải được tạo ra (born not made) bởi vì chỉ những người có tố chất và tính cách doanh nhân thì mới có khả năng khởi nghiệp kinh doanh, những người không có
tố chất đó sẽ không thể trở thành doanh nhân được
Sau này, nhiều nghiên cứu như của Autio & Keeley (2001) [39], Landstrom (2005) [72], Gnyawali & Fogel (1994)…, đã ủng hộ quan điểm giáo dục và đào tạo là một trong những nhân tố quan trọng nhất trong phát triển con người và nguồn lực con người [55] Robinson và cộng sự (1994) lập luận rằng kinh nghiệm làm việc tác động đến khả năng sở hữu doanh nghiệp nhỏ, nhưng không mạnh như giáo dục [81] Aronsson (2004) cho rằng kinh nghiệm chỉ dạy cho một người trở thành chủ doanh nghiệp, trong khi giáo dục và đào tạo sẽ làm
Trang 21cho họ trở thành một doanh nhân [38] Rotefoss và cộng sự (2005) kết luận rằng giáo dục có ý nghĩa nhiều hơn đối với các doanh nhân mới khởi nghiệp [82] Hynes và cộng sự (2007) thừa nhận rằng giáo dục có ý nghĩa đối với khởi nghiệp và nó không chỉ giới hạn trong trường đại học [62] Các trường đại học đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tinh thần doanh nhân ở sinh viên vì các thể chế giáo dục là nơi lý tưởng nhất để truyền tải về văn hóa, tư duy, suy nghĩ mang tính sáng tạo, đổi mới không ngại rủi ro của doanh nhân cho sinh viên Đặc biệt đối với đối tượng sinh viên đang trên giảng đường đại học, những gì họ được tiếp nhận trong thời kỳ học đại học có tác động lớn tới việc hình thành suy nghĩ, quan điểm sống sau này Trên quan điểm đó, sau này với sự nổi lên của các nghiên cứu dựa trên tâm lý học xã hội về hành vi dự định thì nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra chương trình đào tạo đại học nói chung và đào tạo khởi nghiệp nói riêng, môi trường học đại học, các hỗ trợ của trường, các hoạt
động của sinh viên ở trường đại học có tác động rất tích cực tới mong muốn, sự
quan tâm và định hướng khởi nghiệp kinh doanh trong tương lai của sinh viên, thậm chí tác động tới cả sự thành công của các doanh nghiệp được thành lập sau ngày sinh viên ra trường Nghiên cứu trên quy mô lớn của Kim và Hunter (1993) đã khẳng định rằng đào tạo đại học có tác động tới thái độ của các cá nhân về khởi nghiệp, thái độ tích cực và ham muốn khởi nghiệp làm cho cá nhân
có dự định khởi nghiệp (50% người có thái độ tích cực với khởi nghiệp thì có dự định khởi sự và 30% dự định khởi nghiệp đã biến thành hành vi khởi nghiệp kinh doanh thực tế) [65] Tương tự, Zeithaml và cộng sự (1987) và Smith (2008) trong nghiên cứu mối quan hệ giữa giáo dục khởi nghiệp với ý định khởi nghiệp cũng cho thấy, tồn tại mối quan hệ tuyến tính giữa giáo dục khởi nghiệp với ý định khởi nghiệp và hoạt động khởi nghiệp của sinh viên [85],[ 94] Mô hình vai trò của giáo dục đối với ý định khởi nghiệp của sinh viên được đề xuất bởi
Trang 22Rengiah (2013) đã cho thấy, nội dung chương trình, phương pháp đào tạo và vai trò kiến tạo của nhà trường có ảnh hưởng đến thái độ và ý định khởi nghiệp của sinh viên [79]
Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo khởi nghiệp nói riêng tới dự định và quyết định khởi nghiệp là rất yếu, không phải chương trình giáo dục đào tạo khởi nghiệp nào cũng có tác động tốt tới thái độ và sự tự tin khởi nghiệp của sinh viên
Hướng nghiên cứu về yếu tố truyền cảm hứng khởi nghiệp:
Truyền cảm hứng cho khởi nghiệp kinh doanh (inspiration) là sự thay đổi
cảm xúc và suy nghĩ của cá nhân do bị tác động bởi sự kiện hoặc nhân tố nào đó của chương trình học khởi nghiệp hướng tới cân nhắc về việc có sẵn sàng khởi nghiệp hay không Truyền cảm hứng thường liên quan tới sự truyền tải ý tưởng hoặc mục đích nào đó vào suy nghĩ của cá nhân và đánh thức, tạo ra một cảm xúc mới cho cá nhân Truyền cảm hứng thường dẫn tới một suy nghĩ mới, hành
vi mới hoặc thay đổi cảm xúc
Souitaris và cộng sự (2007) cho rằng truyền cảm hứng khởi nghiệp tạo ra xúc cảm về một phong cách sống, tình yêu với nghề doanh nhân như vậy làm gia tăng tiềm năng khởi nghiệp của sinh viên đại học Mặc dù kết quả nghiên cứu định lượng của Souitaris và cộng sự (2007) trên các sinh viên đang theo học chương trình đào tạo khởi nghiệp theo mô hình TPB lại chưa cho thấy có mối quan hệ giữa truyền cảm hứng và thái độ và cảm nhận về khả năng kiểm soát hành vi khởi nghiệp Nghiên cứu trên được thực hiện trong bối cảnh nghiên cứu tác động của khóa học khởi nghiệp tới sinh viên khối kỹ thuật ở Anh [86]
Có nhiều nhà nghiên cứu khác cũng có cùng quan điểm với Souitaris và
cộng sự “Lý thuyết về thay đổi thái độ và hành vi” Jens Uwe Martens (1998)
cho rằng để thay đổi hành vi của một cá nhân, thì việc cung cấp kiến thức cho họ
là chưa đủ mà phải thay đổi thái độ, suy nghĩ, cảm xúc của họ [89] Tri thức và
Trang 23cảm xúc luôn đi đôi với nhau Việc học tập qua sách vở chỉ cung cấp kiến thức thuần túy Như vậy, các mục tiêu giáo dục chỉ đạt được nếu nhà trường kết hợp giáo dục kiến thức với giáo dục ý thức, xúc cảm của người học Nghiên cứu định tính của Florin và cộng sự (2007) cũng cho rằng nhiệm vụ trọng tâm của các trường đại học nói chung và các chương trình đào tạo khởi nghiệp nói riêng là tạo ra một thái độ tích cực về khởi nghiệp và làm chủ doanh nghiệp qua việc truyền bá tư tưởng, giáo dục ý thức [1] Gnyawali and Fogel (1994) cũng đã chỉ
ra sự ưa thích nghề nghiệp của sinh viên dễ bị tác động các yếu tố môi trường đại học vì họ đang còn trẻ và đang trong quá trình tìm kiếm con đường thích hợp
do vậy các hoạt động định hướng, giáo dục nhận thức là rất quan trọng đối với sinh viên khi còn trên giảng đường đại học [55] Alsos và cộng sự (1998), Krueger và cộng sự (2000) cho rằng nguồn cảm hứng, sự đam mê kinh doanh có ảnh hưởng lớn đến việc quyết định tự mình khởi sự kinh doanh và là một phần tạo nên sự thành công trong kinh doanh [36],[ 71] Kolvereid và cộng sự (2006) phát hiện ra người có cảm hứng khởi nghiệp có ý định khởi nghiệp cao hơn người có cảm nhận rủi ro khi khởi nghiệp [66] Nghiên cứu của Autio (2001) trên ở sinh viên các ngành kỹ thuật trên 4 nước thì tác động của môi trường nhận thức là nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất thái độ của sinh viên về khởi nghiệp hơn các
hỗ trợ về nguồn lực và thể chế [39] Theo Fiet (2014), các hoạt động việc kể lại các giai thoại làm giàu, các tấm gương doanh nhân thành đạt, các lời khuyên định hướng nghề nghiệp của thầy cô làm cho sinh viên có khát vọng kinh doanh và mở doanh nghiệp và làm tăng cảm nhận của sinh viên về tự tin khởi nghiệp [40]
Từ việc tổng hợp các công trình nghiên cứu của các tác giả ngoài nước về khới nghiệp, tác giả xin khái quát một số nhân tố mà các công trình nghiên cứu này
đã đề cập đến theo ba hướng nghiên cứu trong bảng tổng hợp dưới đây:
Trang 24Bảng 1.1: Bảng tóm tắt một số nghiên cứu ngoài nước có liên quan
Hướng nghiên cứu về độ tuổi tác động đến tinh thần khởi nghiệp
Trang 251.1.2 Kinh nghiệm hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới
Tham khảo các đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học ở một số nước trên thế giới, đặc biệt là các nước có nền văn hóa tương đồng với nền văn hóa Việt Nam, nền kinh tế mà xuất phát điểm trước khi phát triển gần giống với Việt Nam hiện nay như Nhật Bản, Hàn quốc, Singapore, Israel…., Chính phủ các nước thường đưa ra chính sách, định hướng và cách thức triển khai hỗ trợ cho sinh viên khởi nghiệp như, xác định mục tiêu, xây dựng nội dung chương trình đào tạo, lập kế hoạch sử dụng trang thiết bị, đội ngũ giáo viên, việc thực hành thực tập tại doanh nghiệp ; Hình thành những tổ chức nhằm kết nối giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực, nghiên cứu chuyển giao khoa học công nghệ…, trong đó đặc biệt lưu ý việc xây dựng hệ thống thông tin hỗ trợ hoạt động kết nối giữa đào tạo và sử dụng nhân lực; Có sự hợp tác giữa Nhà nước và tư nhân trong đầu tư cho sinh viên khởi nghiệp; Xây dựng và hoàn thiện các chương trình hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp và phát triển kinh doanh; Thực hiện chương trình phổ cập các kiến thức kỹ năng khởi sự doanh nghiệp cho các cá nhân muốn khởi sự, nhất là thanh niên, học sinh, sinh viên và kể cả các hộ kinh doanh cá thể; Nâng cao hàm lượng khoa học trong các
dự án kinh doanh; Có cơ chế tài chính hợp lý của Nhà nước đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp Có quỹ hỗ trợ khởi nghiệp được thành lập từ các cơ quan quản lý Nhà nước
Singapore là một đảo quốc bé nhỏ chỉ 5,4 triệu dân mới chính thức giành
độc lập từ năm 1965 nhưng lại luôn được xếp trong danh sách những quốc gia sáng tạo nhất thế giới và sở hữu hệ sinh thái khởi nghiệp sôi động bậc nhất khu vực với tổng cộng hơn 42.000 startup (trong đó có 5200 startup công nghệ - 2016) – cũng có nghĩa là cứ hơn 100 người Singapore bất kỳ thì lại có một người sáng lập startup, Một trong những lợi thế để khởi nghiệp ở Singapore là những người khao khát kinh doanh có thể tiếp cận các khoản tài trợ được nhiều
cơ quan chính phủ, tổ chức giáo dục giải ngân để hỗ trợ start-up Mỗi khoản tiền
Trang 26tài trợ như vậy đều đi kèm với những điều kiện và điều khoản, bao gồm các tiêu chí chất lượng, phương pháp giải ngân Thông thường, các khoản tiền tài trợ chỉ chiếm một tỷ lệ nhất định trong số vốn mà doanh nghiệp cần Chủ doanh nghiệp
sẽ phải tự xoay khoản vốn còn lại Hầu hết các khoản tài trợ cho start-up được thiết kế theo cách khuyến khích đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và phát triển hoặc phục vụ xã hội Những người muốn khởi nghiệp phải cân nhắc điều khoản tài trợ
trước khi nộp đơn lên cơ quan chính phủ, tổ chức giáo dục tương ứng Thành lập các vườn ươm doanh nghiệp khởi nghiệp - đây là nguồn đầu tư vô cùng
hữu ích đối với các doanh nhân khởi nghiệp không chỉ tìm kiếm nguồn tiền mà còn mong muốn được chỉ dẫn và học hỏi bí quyết kinh doanh Nhìn chung, các vườn ươm kinh doanh tạo ra không gian thực cho doanh nghiệp mới hoạt động
và tiếp cận các dịch vụ chia sẻ nhau với chi phí tiết kiệm, được hướng dẫn hoạt động và hỗ trợ tài chính trong giai đoạn phát triển ban đầu Mô hình này rất lý tưởng cho các start-up muốn tìm kiếm hỗ trợ thường xuyên, được tư vấn, rót vốn
và kết nối với chi phí thấp Có ít nhất 4 chương trình vườn ươm đang hoạt động
ở Singapore Ví dụ, trong Chương trình Vườn ươm công nghệ NRF, 15 vườn ươm công nghệ được lựa chọn để nuôi dưỡng các start-up công nghệ cao của Singapore bằng cách tư vấn và rót vốn cho họ NRF sẽ cung cấp tới 85% khoản tiền cùng đầu tư cho mỗi start-up trong vườn ươm, với số tiền tối đa là S$500.000 Vườn ươm sẽ phải đầu tư số tiền còn lại với tỷ lệ ít nhất 15% NRF
và vườn ươm sẽ nắm giữ cổ phần trong công ty theo tỷ lệ tương ứng với tiền đầu
tư Các vườn ươm doanh nghiệp khởi nghiệp thường được đặt nhiều tại các Trường đại học để tạo dựng môi trường thuận lợi, lý tưởng cho sinh viên tham gia khởi nghiệp, đẩy mạnh tinh thần khởi nghiệp trong sinh viên
Israel được cả thế giới xem là Quốc gia khởi nghiệp thành công, tại đây
Chính phủ đã tạo sức hút nhà đầu tư, hình thành môi trường khởi nghiệp và một trong các yếu tố quan trọng nhất của văn hóa khởi nghiệp tại Israel là giáo dục
Trang 27Sinh viên ở trường đại học hầu hết không đăng ký vào học từ 18 tuổi ngay sau phổ thông mà thường rơi vào độ tuổi từ 23-24 tuổi Sau phổ thông, họ gia nhập quân ngũ theo nghĩa vụ quân sự (nam 3 năm, nữ 2 năm), và thường sau đó
họ chưa đi học ngay, đa phần đi làm hay du lịch nhiều nơi trên thế giới, đến tầm tuổi trên mới nhập học thì đã tích lũy nhiều kiến thức lẫn trải nghiệm thực tế từ môi trường quân ngũ và cuộc sống, cũng như đặt ra nhiều câu hỏi hóc búa cần giải đáp Đó là lúc tư duy đổi mới sáng tạo nảy mầm và được ươm trồng trong
môi trường đại học (Theo Bà Billy Shapira, Hiệu trưởng Đại học Hebrew)
Ví dụ tại một trường đại học (Đại học Hebrew) có 6 khuôn viên (campus) với 14 trường trải rộng ở nhiều nơi tại Israel, trong đó có 3 khuôn viên ở Jerusalem gồm khu trường Y, trường nghiên cứu về Hải dương học và trường nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn (khuôn viên chính và lâu đời nhất Israel, bắt đầu xây dựng từ 1918, khai giảng từ 1925 bởi Albert Einstein cùng bốn thành viên, trước cả thời điểm lập quốc của Israel năm 1948) ĐH Hebrew được
ví von như 'mẹ đẻ của các trường Đại học khác tại Israel' khi các trường khác vốn là một nhánh rồi tách ra Mỗi năm trường có 23.000 sinh viên, tầm 2.000 sinh viên quốc tế, với 9.000 sinh viên tiếp tục học tiến sĩ (PhD) và Master Trình
độ học thuật, cấp độ bằng cấp trải rộng hơn 5.000 khóa học, và thành tựu nghiên cứu được thúc đẩy bởi 950 giảng viên, giáo sư giảng dạy, 4.000 cán bộ nhân viên Sinh viên được cung cấp các công cụ cần thiết, cụ thể, sinh viên luôn được khuyến khích sử dụng công nghệ để bổ trợ cho việc học của mình, có một phòng thí nghiệm (labs), nơi tất cả các sinh viên của trường đều có thể sử dụng mà không cần phải đúng chuyên ngành mình đang học Họ có thể pha trộn những ý tưởng của mình với khoa học công nghệ tại phòng labs để tạo ra những phát kiến mới Tiếp sức thêm cho phòng thí nghiệm là một 'nông trại máy điện toán' (computing farm) nơi các sinh viên có thể đến khai thác sức mạnh của hệ thống
xử lý thông tin điện toán cấp độ rất lớn để tìm ra thông tin phục vụ nghiên cứu của mình
Trang 28Bên cạnh đó, thư viện là nơi giúp sinh viên mở rộng kiến thức bổ trợ liên ngành Israel quan niệm rằng tốt nghiệp đại học với tầm bằng sau 3-4 năm học chuyên ngành là chưa đủ kiến thức, mà sinh viên còn cần rất nhiều kiến thức bổ trợ liên ngành Như sinh viên Luật cần học không chỉ về ngành Luật mà còn học tâm
lý học, quá trình phát triển của Loài người bổ trợ để cho kiến thức toàn diện
Israel khuyến khích sinh viên tranh luận với giáo sư, thậm chí về những vấn đề nhạy cảm để nói lên chính kiến của mình, và thực tế đó cũng là đặc tính của sinh viên tại trường Việc này đến từ thực tế cuộc sống tại Israel, sinh viên ở trường đại học hầu hết không đăng ký vào học từ 18 tuổi ngay sau phổ thông mà thường rơi vào độ tuổi từ 23-24 tuổi Thật sự ở đây không có khái niệm chỉ giáo viên dạy sinh viên, mà giáo viên và sinh viên đang chia sẻ lẫn nhau, điểm khác biệt là tự do ngôn luận và tự do học thuật khi sinh viên có thể hỏi bất kỳ câu hỏi nào, thậm chí có thể dẫn đến sự tranh cãi kịch liệt
Không ngại thất bại, thích nói về thất bại Tư duy tìm tòi sáng tạo đổi mới được cổ vũ bởi một đặc tính có phần 'kỳ lạ' với những nơi khác trong văn hóa khởi nghiệp tại Israel, đó là không e ngại thất bại, thậm chí thích nói về nó Tỉ lệ trung bình số công ty khởi nghiệp thất bại ở Israel là 97%, 3% còn lại gặt hái
được thành công ở giai đoạn ban đầu (Theo báo của trường Đại học Hebrew)
Các startup trong nhóm 3% thực tế cũng đã thất bại nhiều lần trước đó Và trái ngược với tâm lý thường thấy ở nhiều nơi, startup thất bại ở Israel mạnh dạn nói
về điều đó không e ngại, họ được mời đến chia sẻ tại các buổi nói chuyện với hàng trăm startup khác trong cộng đồng hàng tuần, hoặc luôn sẵn sàng nói về kinh nghiệm thất bại đau đớn đó với bất kỳ startup nào quan tâm tìm hiểu để tránh được các sai lầm đó, giúp hạn chế phần nào tỉ lệ thất bại cho cộng đồng startup
Ngoài Singapore, Israel, các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp của các nước như Mỹ, Úc, Ấn Độ, Hàn Quốc,… thường sử dụng các mốc 3 năm hoặc 5 năm
Trang 29để xác định giai đoạn khởi nghiệp, hỗ trợ sinh viên Theo Báo cáo của GrowAdvisor, JFDI (2012), các đối tượng khởi nghiệp thường trải qua 7 giai đoạn chi tiết như sau: (1) Cá nhân (2) Nhóm (3) Xác định được đúng nhu cầu thị trường (4) Sản phẩm mẫu (5) Xác định mô hình kinh doanh (6) Đầu tư ươm mầm (7) Đầu tư vốn vòng A, giai đoạn phát triển
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc hỗ trợ khởi nghiệp cho sinh viên:
Qua việc nghiên cứu kinh nghiệm điển hình của Singapore và Israel co thấy, để hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp thì có 03 vấn đề cực kỳ quan trọng cần phải quan tâm và xem đó như điều kiện tiên quyết:
Một là: Tập trung vào nhận thức về khởi nghiệp cho sinh viên thông qua
tác động từ các nhà trường Cụ thể là cần phải thay nội dung chương trình, thay đổi phương pháp giải dạy và nhà trường phải đồng hành cùng với sinh viên khởi nghiệp, nhà trường phải là nơi nuôi dưỡng, khơi dạy những giấc mơ khởi nghiệp cho sinh viên…
Hai là: Phải có nguồn vốn dành cho khởi nghiệp, cần phải tạo lập các quỹ
tài trợ cho khởi nghiệp, các qũy này có thể đến từ chính phủ hoặc các công ty đầu tư mạo hiểm, các công ty khởi nghiệp đã thành công… Cùng với đó là phải hướng dẫn, đào tạo sinh viên xây dựng các dự án khởi nghiệp và kỹ năng kêu gọi vốn…
Ba là: Tạo ra môi trường kiến tạo cho khởi nghiệp, để cho tinh thần khởi
nghiệp của sinh viên luôn được duy trì ở mức độ cao thì họ phải được sống trong một môi trường gắn liền với phong trào khởi nghiệp Ngay từ trong trường đại học, trường phổ thông phải có các trung tâm hướng nghiệp, các câu lạc bộ khởi nghiệp, các trung tâm đào tạo và hỗ trợ khởi nghiệp ở bên ngoài, sự vào cuộc của chính phủ, các tổ chức xã hội…, nhằm tạo ra sư hỗ trợ sớm nhất đối với các ý tưởng khởi nghiệp của sinh viên
Trang 301.1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước
Việt Nam là nền kinh tế mới chuyển đổi sang cơ chế kinh tế thị trường, đang trong giai đoạn chuyển đổi mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu nền kinh tế, môi trường kinh doanh và thể chế cũng như nhận thức vẫn còn những đặc trưng của một nước đang phát triển Hiện nay có rất ít những nghiên cứu về tinh thần khởi nghiệp và phong trào khởi nghiệp được thực hiện ở các nền kinh tế chuyển đổi nói chung và Việt Nam nói riêng, trong khi có sự khác biệt rõ ràng về môi trường, hoàn cảnh khởi nghiệp ở nền kinh tế chuyển đổi Linan và Chen (2009)
đã chỉ ra rằng ở các nền kinh tế đang phát triển, giới trẻ thường có khao khát tạo dựng sự nghiệp tương lai của mình thành doanh nhân cháy bỏng hơn ở những quốc gia đã phát triển dù động cơ khởi nghiệp là như nhau [73] Người phương Tây nhìn nhận địa vị của doanh nhân không giống như ở các nước phương Đông Bởi thế, nhân tố ảnh hưởng thúc đẩy tiềm năng khởi nghiệp ở sinh viên Việt Nam có thể còn nhiều sự khác biệt so với các nước phát triển khác
Tại Việt Nam, đề tài này tuy không mới mẻ nhưng những nghiên cứu trước đây mới chỉ tập trung vào một số khía cạnh như đưa ra các đề án, cuộc thi khởi nghiệp cho sinh viên hay nghiên cứu về sự tác động của một vài nhân tố tới
ý định khởi nghiệp hoặc nghiên cứu trên các đối tượng không phải sinh viên nói chung, như phụ nữ, thanh niên như các nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Nam
(2011) nghiên cứu về “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của phụ nữ
ở Việt Nam” [7], Lê Ngọc Thông (2013) với “Thực trạng và giải pháp phát triển tinh thần doanh nhân của sinh viên học chương trình tiên tiến chất lượng cao tại Đại học Kinh tế Quốc dân” [16], Nguyễn Thu Thủy (2014) với nghiên cứu về
“ Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học ” [21] Hiện nay mới chỉ có tiến sĩ Nguyễn Thu Thủy có những
nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề khởi nghiệp của sinh viên dưới nhiều góc nhìn
như “Đào tạo đại học với khởi sự doanh nghiệp xã hội” (2012), “Khởi sự kinh
Trang 31doanh, các mô hình lý thuyết và định hướng nghiên cứu tương lai” (2012),
“Thúc đẩy tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên qua đào tạo ở bậc đại học” (2013), “Các nhân tố ảnh hưởng tới tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học” (2014), song cũng chưa thực hiện được một nghiên cứu nào bao
hàm toàn bộ cả các nhân tố ảnh hưởng, thực trạng cũng như giải pháp phát triển khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn thành phố Hà Nội
Nghiên cứu mới đây của Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2016) về “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên khối ngành quản trị kinh doanh tại các trường đại học/cao đẳng ở thành phố Cần Thơ”,
nghiên cứu được tiến hành dựa trên việc khảo sát ý kiến của 400 sinh viên của các trường đại học/cao đẳng trên địa bàn thành phố Cần Thơ, kết quả nghiên cứu
đã chỉ ra có 04 nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên
là, thái độ và sự đam mê, sự sẵn sàng kinh doanh, quy chuẩn chủ quan, giáo dục Trong đó, yếu tố thái độ và sự đam mê có tác động mạnh nhất đến ý định KSDN của sinh viên ngành QTKD [6]
Hay nghiên cứu của Phạm Cao Tố và cộng sự (2017) về “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của năm 2, năm 3 vùng Đông Nam Bộ”, nghiên cứu được tiến hành dựa trên kết quả khảo sát ý kiến của 411 sinh viên năm 2 và năm 3 ở các Trường ở TPHCM, Bình Dương, Đồng Nai và Trường Cao đẳng nghề Du lịch Vũng Tàu, nghiên cứu đã chỉ ra, có 4 nhóm nhân
tố, Sự đam mê kinh doanh, Kinh nghiệm, Giáo dục ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên vùng Đông Nam Bộ [22]
Nghiên cứu của Nguyễn Hải Quang và cộng sự (2017) về “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên khoa quản trị kinh doanh trường Đại học Kinh tế - Luật”, nghiên cứu chỉ ra có 6 yếu tố ảnh hưởng đến ý định KSDN của sinh viên bao gồm: (1) nhận thức kiểm soát hành vi, (2) động cơ chọn làm công cho một tổ chức, (3) môi trường cho khởi nghiệp, (4) động cơ tự
Trang 32làm chủ, (5) quy chuẩn chủ quan và (6) sự hỗ trợ của môi trường học thuật Trong đó, yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi có tác động mạnh nhất đến ý định khởi sự doanh nghiệp [11]
Nghiên cứu của Đoàn Thị Thu Trang và Lê Hiếu Học (2018) về “Các nhân tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp sinh viên ngành kĩ thuật: Nghiên cứu trường hợp Đại học Bách Khoa Hà Nội”, nghiên cứu được thiết kế trên nền tảng
lý thuyết hành vi có kế hoạch và tiến hành khảo sát 302 sinh viên tại Đại học Bách khoa Hà Nội Kết quả cho thấy ý định khởi nghiệp chịu tác động trực tiếp của tính khả thi cảm nhận và thái độ với việc khởi nghiệp, chịu tác động gián tiếp bởi năng lực bản thân cảm nhận và tính khả thi cảm nhận còn hai nhân tố kỳ vọng bản thân và chuẩn mực niềm tin không cho thấy có ảnh hưởng rõ ràng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên trường hợp Đại học Bách Khoa Hà Nội [23]
Hà Kiên Tân và cộng sự (2018) về “Vai trò của giáo dục đối với nhận
thức và ý định khởi Nghiệp của sinh viên trường đại học kinh tế - kỹ thuật Bình Dương”, nghiên cứu được tiến hành dựa trên đánh giá của 1375 sinh viên và kiểm định vai trò của yếu tố giáo dục đối với nhận thức và ý định khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Bình Dương Kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt động đào tạo và kiến tạo tác động dương rất lớn đến nhận thức khởi nghiệp và nhận thức khởi nghiệp cũng có tác động dương khá mạnh đến ý định khởi nghiệp của sinh viên [12]
Nghiên cứu của Phan Thị Lệ Thu và cộng sự (2017) về “Ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên trường cao đẳng nghề Ninh Thuận”, nghiên cứu này xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của 5 yếu tố đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên gồm, thái độ, giáo dục kinh doanh, cảm nhận sự khát khao khởi sự kinh doanh, cảm nhận tính khả thi khởi sự kinh doanh, ý kiến người xung quanh và nguồn vốn Kết quả khảo sát 200 sinh viên năm cuối Trường Cao đẳng Nghề Ninh Thuận đã kiểm định được giả thuyết 5 yếu tố trên có ảnh hưởng
Trang 33đến ý định khởi sự kinh doanh, qua đó đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm khởi dậy và hình thành ý định khởi sự kinh doanh trong sinh viên [24]
Nghiên cứu của Lưu Thanh Thủy (2018) về “Kinh nghiệm khởi nghiệp sáng tạo từ thung lũng Silicon và bài học cho startup ngành công nghệ Việt Nam”, nghiên cứu chỉ ra, để thành công thì các nhà sáng lập ngoài năng lực, đam mê và tự tin, cần có đội nhóm, sự khác biệt, công nghệ thu thập, lưu trữ, khai thác dữ liệu khách hàng trong thời đại IOT (Internet of things) và chinh phục được các nhà đầu tư [20]
Nghiên cứu của Võ Thành Khởi (2018) về “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên tại trường cao đẳng Bến Tre”, kết quả khảo sát thực tế 297 sinh viên cho thấy có 5 nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên tại trường Cao đẳng Bến Tre bao gồm: (1) Thái độ; (2) Giáo dục; (3) Đam mê và kinh nghiệm; (4) Sự ủng hộ; (5)
Sự sẵn sàng kinh doanh Trong đó, nhân tố “Giáo dục” có tác động mạnh nhất đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên tại trường Cao đẳng Bến Tre [4]
Nghiên cứu của Lưu Tiến Thuận và cộng sự (2018) về “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp xã hội của sinh viên Đại học Cần Thơ”, nghiên cứu tiến hành khảo sát 225 sinh viên năm ba và năm tư của đại học chính quy Đại học Cần Thơ Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, có 4 nhân
tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên là: sự tự tin và chấp nhận rủi ro; nghĩa vụ đạo đức; nhận thức hành vi; và chính sách Nhà nước Hàm ý của nghiên cứu này được mong đợi là đóng góp vào việc cải tiến chương trình khởi
sự doanh nghiệp xã hội và chính sách của chính phủ [19]
Nghiên cứu của Huỳnh Quốc Tuấn và cộng sự (2018) về “Khơi dậy ý tưởng khởi nghiệp trong sinh viên”, nghiên cứu tập trung vào việc trình bày các vấn đề liên quan đến khởi nghiệp và ý tưởng khởi nghiệp trong sinh viên Kết quả nghiên cứu chỉ ra các giải pháp tác động đến việc thúc đẩy ý tưởng khởi
Trang 34nghiệp trong sinh viên và theo 03 giai đoạn: (1) giai đoạn thúc đẩy ý tưởng khởi nghiệp; (2) giai đoạn nuôi dưỡng và triển khai ý tưởng khởi nghiệp và (3) giai đoạn chia sẻ ý tưởng khởi nghiệp [28]
Nghiên cứu của Vũ Thanh Tùng và cộng sự (2018) về “Các nhân tố tác
độ ng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học: nghiên cứu mộ t số trường hợp điển hình trên địa bàn TPHCM”, nghiên cứu xác định các yếu tố quan trọng tác động đến khởi nghiệp của sinh viên đại học hiện nay tại TPHCM bao gồm: nền tảng gia đình, xu hướng chấp nhận mạo hiểm, tư duy làm chủ, thái độ ham muốn kinh doanh, kinh nghiệm làm việc, giáo dục, quy chuẩn chủ quan và các yếu tố môi trường tác động [30]
Ngoài ra, còn một số các nghiên cứu liên quan khác như: Hoàng Thị Phương Thảo và cộng sự (2013) về “Ý định khởi nghiệp của nữ học viên MBA tại TP.HCM” [13] Hai nghiên cứu của Phan Anh Tú và cộng sự (2015) về “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên kinh tế đã tốt nghiệp trên địa bàn thành phố Cần Thơ” [26] và Phan Anh Tú và cộng sự (2015)
về “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp: trường hợp sinh viên khoa kinh tế và quản trị kinh doanh trường Đại học Cần Thơ” [27] Hoàng Thị Tư (2016) về “Cơ chế, chính sách hỗ trợ đặc biệt cho doanh nghiệp khởi nghiệp” [25]; Lê Thị Khánh Vân (2017) về “Tạo lập môi trường khởi nghiệp - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam” [31]…, các nghiên cứu trên chủ yếu cũng theo hướng tiếp cận các nhân tố ảnh hưởng đến tinh thần, ý định khởi nghiệp của sinh viên, giúp cung cấp thêm cơ sở lý luận cho việc tiến hành nghiên cứu này
Tóm lại, các nghiên cứu này hầu như chưa đánh giá đầy đủ và hệ thống về thực trạng khởi nghiệp của sinh viên và các nhân tố ảnh hưởng, quyết định đến thành công của khởi nghiệp trên địa bàn Hà Nội, cũng như chưa đưa ra được những giải pháp cụ thể, thiết thực về đào tạo nhằm nâng cao tiềm năng và thúc
Trang 35đẩy, phát triển khởi nghiệp của nhóm đối tượng này Các mầm tạo khởi nghiệp này sẽ là những hạt nhân trong “vườn ươm doanh nghiệp”- những tiềm năng lớn cần được nuôi dưỡng và khai thác trong “thung lũng silicon” của Việt Nam Do
đó, vấn đề khởi nghiệp, đặc biệt là của sinh viên đang được cả xã hội quan tâm Nhiều tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam đang phối hợp với các trường đại học và các học viện, tạo mọi điều kiện để hỗ trợ ý tưởng khởi nghiệp của sinh viên thông qua việc tổ chức và tài trợ nhiều cuộc thi khuyến khích ý tưởng sáng tạo trong kinh doanh (CFA IRC, Dynamic, SIFE ) Tạo cho sinh viên cơ hội để bắt đầu kinh doanh riêng của họ và có được kinh nghiệm thực tế trong hoạt động đầu tư trong khi vẫn đang theo học tại các trường đại học và vừa tốt nghiệp là việc cần được nhà trường, các công ty, tổ chức, Bộ GDĐT, Bộ KHCN và cả xã hội quan tâm bởi sinh viên là những người có kiến thức nền tảng, có niềm đam
mê mạnh mẽ, sức trẻ và trí tuệ để biến những ý tưởng sáng tạo trở thành những hoạt động kinh doanh thực sự
Bảng 1.2: Bảng tóm tắt một số nghiên cứu trong nước có liên quan
Các nhân tố ảnh hưởng tinh
Trang 361.1.4 Khoảng trống nghiên cứu
Từ việc tổng quan tình hình nghiên cứu về khởi nghiệp và tinh thần khởi nghiệp của sinh viên ở trong và ngoài nước, tác giả xin khái quát một số vấn đề như sau:
Thứ nhất: Các nghiên cứu ở ngoài nước chủ yếu tập trung vào hoạt động khởi nghiệp, ý định khởi nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp nói chung và của sinh viên nói riêng Tuy nhiên, kết quả của những nghiên cứu này không dễ dàng để áp dụng vào Việt Nam khi mà còn tồn tại nhiều khác biệt về kinh tế, văn hóa, xã hội, chính sách… giữa nước ta với các nước phương Tây phát triển
Thứ hai: Hầu hết các nghiên cứu ở Việt Nam được tiến hành trên đối tượng sinh viên và tập trung nhiều ở phía Nam Các nghiên cứu này chủ yếu dựa trên lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên với các nhân tố chủ yếu là (1) Kỳ vọng của bản thân (mong muốn khởi nghiệp); (2) Thái độ với khởi nghiệp; (3) Chuẩn mực niềm tin (sự tin tưởng của gia đình, bạn bè, người thân…); (4) Cảm nhận về năng lực bản thân (sự tự tin vào năng lực bản thân); (5) Cảm nhận về tính khả thi khởi nghiệp Còn lại, rất ít nghiên cứu đề cập đến nền tảng giáo dục, nguồn vốn dành cho khởi nghiệp hoặc nếu có thì thường là nghiên cứu sâu của riêng yếu tố giáo dục, yếu tố vốn tác động tới ý định khởi nghiệp của sinh viên Trong khi đó, nền tảng giáo dục tạo nên vốn tri thức còn nguồn vốn tài trợ cho các dự
án khởi nghiệp thì chẳng khác gì máu trong cơ thể, hai nhân tố này tạo ra các điều kiện tiên quyết cho việc biến ý định thành hành vi khởi nghiệp, qua đó có thể tác động không nhỏ tới tinh thần khởi nghiệp của sinh viên
Thứ ba: Các nghiên cứu ở cả trong và ngoài nước chưa tiếp cận và làm rõ mối quan hệ giữa ý định khởi nghiệp và tinh thần khởi nghiệp nói chung và của sinh viên nói riêng mà chỉ làm rõ về mối quan hệ giữa ý định khởi nghiệp, hành
Trang 37vi khởi nghiệp và kết quả khởi nghiệp mặc dù nhiều nghiên cứu dựa trên lý thuyết hành vi có kế hoạch TPB
Thứ tư: Ở Việt Nam, cho tới nay có rất ít các nghiên cứu về tinh thần khởi nghiệp của sinh viên và điển hình với nghiên cứu của Lê Ngọc Thông (2013) về tinh thần khởi nghiệp của sinh viên chương trình chất lượng cao của trường Đại học Kinh tế quốc dân, nhưng nghiên cứu này vẫn chưa làm rõ sự khác biệt giữa tinh thần khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp Bên cạnh đó, mẫu nghiên cứu cũng nhỏ và rất đặc thù là trên đối tượng sinh viên chương trình đào tạo tiên tiến của trường Kinh tế quốc dân nên kết quả nghiên cứu sẽ ít có ý nghĩa thực tiễn đối với sinh viên trên địa bàn Hà Nội nói chung
Thứ năm: Rất nhiều các nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của sinh viên ở Việt Nam cho kết quả sinh viên có ý định khởi nghiệp tương đối cao nhưng trong các báo cáo của CEM từ năm 2014 đến nay thì tỉ lệ người có độ tuổi từ 18 – 22 tham gia khởi nghiệp là rất thấp, nghĩa là từ ý định cho đến hành vi khởi nghiệp vẫn có một khoảng cách rất lớn phản ánh tinh thần khởi nghiệp của sinh viên chưa liên tục, ý chí quyết tâm chưa cao, thiếu sự chủ động trong việc hiện thực hóa các ý định khởi nghiệp của mình
Như vậy, để giải quyết những vấn đề còn tồn tại của các nghiên cứu trước,
đề tài “Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội”sẽ kế thừa kết quả của các nghiên cứu trước, dựa trên
lý thuyết hành vi có kế hoạch TPB để chỉ ra và phân tích một số nhân tố ảnh hưởng đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên tại các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội trong đó có xem xét thêm các nhân tố về giáo dục và nguồn vốn hỗ trợ cho khởi nghiệp Nghiên cứu này sẽ cung cấp những căn cứ về mặt khoa học và thực tiễn cho việc đề xuất các kiến nghị, giải pháp đào tạo nâng cao năng lực khởi nghiệp của sinh viên, cũng như các kiến nghị có liên quan đến
cơ chế chính sách nhằm hỗ trợ, thúc đẩy và phát triển khởi nghiệp của sinh viên tại Hà Nội
Trang 381.2 Khởi nghiệp và tinh thần khởi nghiệp của sinh viên
1.2.1 Khởi nghiệp
1.2.1.1 Một số khái niệm liên quan
Khởi nghiệp, là một thuật ngữ chung bao hàm nhiều vấn đề và được định nghĩa bằng rất nhiều cách khác nhau Định nghĩa khởi nghiệp theo từ điển Tiếng Việt được giải nghĩa là bắt đầu sự nghiệp Thuật ngữ này trong tiếng Anh được gọi là Entrepreneurship (hay startup) có nguồn gốc từ tiếng Pháp “Entreprendre” với ý nghĩa là sự đảm đương
Theo từ điển mở Wikipedia thì khởi nghiệp là quá trình mà một cá nhân (hoặc nhóm) xác định một cơ hội kinh doanh; mua lại và triển khai các nguồn lực cần thiết để khai thác nó, việc khai thác các cơ hội kinh doanh có thể bao gồm các hoạt động như phát triển một kế hoạch kinh doanh, thuê nguồn nhân lực, huy động được nguồn tài chính và nguyên vật liệu, xây dựng đội ngũ lãnh đạo, và chịu trách nhiệm cho sự thành công hay thất bại của công việc kinh doanh
Định nghĩa khởi nghiệp đã thay đổi theo thời gian với cách tư duy của các nhà nghiên cứu khác nhau Theo Richard (1734), khởi nghiệp là sự tự làm chủ doanh nghiệp dưới bất kỳ hình thức nào Đến đầu thế kỷ 20, định nghĩa khởi nghiệp đã được hoàn thiện hơn và được diễn đạt là quá trình tạo dựng một
tổ chức kinh doanh và người khởi nghiệp là người sáng lập nên doanh nghiệp đó [5] Cole (1949) định nghĩa khởi nghiệp là một hoạt động có mục đích để khởi xướng, duy trì và làm mạnh thêm xu hướng lợi nhuận của một doanh nghiệp
Theo Mitch (2002) và Austin (2006) thì khởi nghiệp kinh doanh là việc tận dụng các cơ hội kinh doanh để làm giàu bằng cách khởi xướng các phương thức hoạt động sáng tạo trong điều kiện môi trường ràng buộc bởi nguồn lực có hạn [24] Còn theo Nguyễn Ngọc Huyền (2016) khởi nghiệp kinh doanh là bắt đầu công việc kinh doanh là quá trình thực hiện toàn bộ các công việc cần thiết
để triển khai một hoạt động kinh doanh nào đó [3] Vậy khởi nghiệp kinh doanh
Trang 39là quá trình tạo dựng một công việc kinh doanh mới của cá nhân (hoặc cá nhân kết hợp cùng với người khác)
Sự khởi nghiệp là một quá trình hoàn thiện và bền bỉ bắt đầu từ việc nhận biết cơ hội, từ đó phát triển ý tưởng để theo đuổi cơ hội qua việc thành lập doanh nghiệp mới Theo tổ chức Global Entrepreneurship Monitor (GEM) thì một doanh nghiệp khi vừa thành lập sẽ trải qua 3 giai đoạn: từ hình thành, phát triển ý tưởng đến thành lập doanh nghiệp và cuối cùng là duy trì và phát triển doanh nghiệp Các học giả trong lĩnh vực kinh tế lao động cho rằng khởi nghiệp
là sự lựa chọn giữa việc đi làm thuê và tự tạo việc làm cho mình Vì vậy, khởi nghiệp là sự chấp nhận rủi ro để tự làm chủ tạo lập một doanh nghiệp mới và thuê người khác làm việc cho mình Trong nghiên cứu này có thể định nghĩa:
“khởi nghiệp là việc một cá nhân tận dụng cơ hội thị trường và năng lực của bản thân để tạo dựng một công việc kinh doanh mới”
Hiểu theo nghĩa rộng: Khởi nghiệp là quá trình hiện thực ý tưởng kinh
doanh ở giai đoạn đầu để tiến tới mô hình kinh doanh ổn định, thông thường gắn với việc thành lập doanh nghiệp Chủ thể thực hiện khởi nghiệp có thể là cá nhân, nhóm cá nhân hoặc tổ chức Với cách hiểu này, khởi nghiệp không gắn với đặc điểm cụ thể nào, áp dụng công nghệ mới, trí tuệ hay đổi mới sáng tạo mà chủ yếu
là hiện thực hóa ý tưởng, kế hoạch kinh doanh Như vậy, tổ chức, cá nhân thành lập doanh nghiệp để thực hiện kinh doanh thì được coi là khởi nghiệp
Đối với Khởi nghiệp sáng tạo hay còn gọi là startup, theo Cơ quan phát
triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Hoa Kỳ - SBA (US Small Business Administrator) đưa ra khái niệm: Startups là doanh nghiệp dựa trên công nghệ,
và có khả năng tăng trưởng nhanh” (business that is typically technology oriented and has high growth potential); Nhà nghiên cứu về khởi nghiệp Steve Blank, Bob Dorf cho rằng: Startup là tổ chức được hình thành để tìm kiếm mô hình kinh doanh có khả năng tăng trưởng và nhân rộng nhanh (organization
Trang 40formed to search for a repeatable and scalable business model) Còn tại Việt Nam, theo Đề án Hỗ trợ Hệ sinh thái Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đến năm
2025 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 844/QĐ-TTgCP ngày 18/5/2016, thì Khởi nghiệp sáng tạo là quá trình hiện thực ý tưởng kinh
doanh dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ và mô hình kinh doanh mới nhằm tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao, có khả năng tăng trưởng nhanh Chủ thể thực hiện khởi nghiệp theo nghĩa này cũng có thể là cá nhân, nhóm cá nhân hoặc tổ chức
Với cách hiểu này, các công ty khởi nghiệp sáng tạo không giống như các công ty thương mại, sản xuất truyền thống vì yếu tố nghiên cứu công nghệ và sáng tạo trong các doanh nghiệp khởi nghiệp rất cao Do đó, khởi nghiệp gắn liền với nhiều rủi ro Nhưng nếu vượt qua các khó khăn thì có thể đem lại các giá trị kinh tế rất lớn vì sản phẩm, mô hình của các công ty khởi nghiệp có giá trị gia tăng cao, và đặc biệt là có khả năng nhân rộng được
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm khởi nghiệp được đề xuất bởi Nguyễn Ngọc Huyền (2016) khi cho rằng, khởi nghiệp kinh doanh là bắt đầu công việc kinh doanh là quá trình thực hiện toàn bộ các công việc cần thiết để triển khai một hoạt động kinh doanh nào đó
1.2.1.2 Ý nghĩa của khởi nghiệp kinh doanh với sự phát triển kinh tế
Theo số liệu thống kê hiện nay, cả nước ta có khoảng 660 nghìn doanh nghiệp nhỏ và vừa đang hoạt động và thực hiện nghĩa vụ thuế Là khu vực phát triển nhanh và năng động nhất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp gần 50% GDP, tạo việc làm cho hơn 60% số lao động và nắm giữ gần 50% tổng vốn trong khối doanh nghiệp (số liệu thống kê năm 2016) Vì vậy, khởi sự kinh doanh đã đóng góp cho nền kinh tế một số ý nghĩa như sau:
Tạo việc làm cho người lao động và tăng chất lượng cuộc sống: mức độ
sử dụng lao động tăng có ý nghĩa rất lớn đối với Việt Nam, một nước có dân số