1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về hoạt động cho vay của Công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư ở Việt Nam

110 124 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 722 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ nhất, về mặt lý luận,trên cơ sở tổng hợp và phân tích các quy định của pháp luật, luận văn đã làm rõ được các vấn đề về lý luận trong hoạt động cho vay của Công ty chứng khoán tại Việt Nam. Thứ hai, trên cơ sở tổng hợp , phân tích các quy định pháp luật như trên cùng với việc nghiên cứu, đánh giá khi áp dụng các quy định đó vào thực tiễn của thị trường chứng khoán Việt Nam, luận văn đã trình bày được tổng quan những ưu điểm và nhược điểm về thực trạng pháp luật của hoạt động cho vay của các công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư tại Việt Nam. Cuối cùng, luận văn đã chỉ ra được những nội dung cơ bản cần hoàn thiện, từ đó đề xuất những định hướng, giải pháp chủ yếu để hoàn thiện pháp luật về hoạt động cho vay của các Công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư ở Việt Nam.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

VŨ XUÂN MINH

PH¸P LUËT VÒ HO¹T §éNG CHO VAY

CñA C¤NG TY CHøNG KHO¸N §èI VíI NHµ §ÇU T¦

ë VIÖT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

VŨ XUÂN MINH

PH¸P LUËT VÒ HO¹T §éNG CHO VAY

CñA C¤NG TY CHøNG KHO¸N §èI VíI NHµ §ÇU T¦

ë VIÖT NAM

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 8380101.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS TRƯƠNG THỊ KIM DUNG

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân th nh c m n! ành cảm ơn! ảm ơn! ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Vũ Xuân Minh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

Ban giám hiệu, các thầy cô giáo Khoa Luật – Đại học Quốc Gia Hà Nội vàPhòng Đào tạo đã tạo điều kiện tốt cho tôi trong suốt thời gian học tập tại đây

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, các phòng ban, cùng các cán bộcác văn phòng Luật đã hỗ trợ những điều kiện tốt nhất để tôi có thể nghiên cứu vàhoàn thành luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trương Thị Kim Dung, người

đã giúp tôi có phương pháp nghiên cứu đúng đắn, nhìn nhận vấn đề một cáchkhoa học, logic và tận tình giúp đỡ tôi về mọi mặt để hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến gia đình và các đồng nghiệp đãluôn chia sẻ, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đểhoàn thiện luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 28 tháng 09 năm 2018

Tác giả

Vũ Xuân Minh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ 5

1.1 Khái quát chung về hoạt động cho vay 5

1.1.1 Khái niệm 5

1.1.2 Nguyên tắc cho vay 6

1.1.3 Đặc điểm 7

1.2 Khái quát chung về hoạt động cho vay của Công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư 8

1.2.1 Khái niệm hoạt động cho vay của Công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư 8

1.2.2 Đặc điểm 11

1.3 Khái quát chung pháp luật về hoạt động cho vay của Công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư 19

1.3.1 Khái niệm pháp luật về cho vay của công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư 19

1.3.2 Nguồn luật điều chính hoạt động cho vay của Công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư 20

1.3.3 Quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể quan hệ cho vay của Công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư 23

1.3.4 Những yếu tố ảnh hưởng tác động đến pháp luật về hoạt động cho vay của Công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư tại Việt Nam 30

1.4 Quy trình hoạt động giao dịch ký quỹ chứng khoán 38

Kết luận chương 1 42

Trang 6

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY

CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ Ở

VIỆT NAM 43

2.1 Ưu điểm 44

2.1.1 Chủ thể trong quan hệ cho vay của công ty chứng khoán với nhà đầu tư 44

2.1.2 Quy định về Hợp đồng cho vay của công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư 51

2.1.3 Quy định về giải quyết tranh chấp từ hoạt động cho vay và hoạt động bảo đảm tiền vay của Công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư 59

2.2 Hạn chế 66

2.2.1 Hạn chế pháp luật trong việc quy định về chủ thể, quan hệ cho vay của công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư 66

2.2.2 Pháp luật quy định về tài sản bảo đảm tiền vay trong quan hệ cho vay của công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư 69

2.2.3 Pháp luật quy định về Hợp đồng cho vay và Hợp đồng bảo đảm tiền vay 70

2.2.4 Pháp luật quy định về giải quyết tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng cho vay, Hợp đồng bảo đảm tiền vay trong quan hệ cho vay của Công ty chứng khoán đối với Nhà đầu tư 77

2.3 Nhận xét chung 79

Kết luận chương 2 81

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM 82

3.1 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoạt động cho vay của Công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư tại Việt Nam 82

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay của Công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư tại Việt Nam 85

Kết luận chương 3 96

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 7

UBCKNN Ủy ban chứng khoán Nhà nước

VNDS Công ty CP Chứng khoán VNDIRECT

VSD Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam

WTO Tổ chức Thương mại thế giới

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Số hiệu Tên biểu đồ Trang

Trang 8

Biểu đồ

3.1

Báo cáo thống kê của Ủy ban chứng khoán

Nhà nước vào tháng 6/2018 86

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thị trường chứng khoán (TTCK) là một kênh huy động vốn trung, dài hạncủa nền kinh tế Theo đó, TTCK ở Việt Nam hơn 10 năm qua đã chứng kiến sự lớnmạnh và phát triển không ngừng của các công ty chứng khoán Để tạo điều kiệnphát triển cho TTCK, Quốc hội ban hành ngày Luật chứng khoán ngày 29/6/2006

và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2007 Điều này đã tạo lập được khuôn khổpháp lý cao, đồng bộ và thống nhất cho hoạt động của thị trường chứng khoán, từngbước loại bỏ được những mâu thuẫn, xung đột với các văn bản pháp luật khác cóliên quan (về cơ bản thống nhất với Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư), phù hợphơn với luật pháp, thông lệ quốc tế, tạo nền tảng cho TTCK Việt Nam khả năng hộinhập với các thị trường vốn quốc tế và khu vực, tăng cường tính công khai minhbạch cho thị trường và nâng cao khả năng quản lý giám sát thị trường của cơ quanquản lý nhà nước

Những năm vừa qua, trong bối cảnh nhu cầu vay vốn của nhà đầu tư đangtăng cao thì sự tác động của Nhà nước vào hoạt động cho vay chứng khoán củacông ty chứng khoán với nhà đầu tư là cần thiết Nhà nước kiểm soát hoạt động chovay của các công ty chứng khoán, tạo ra một cơ chế phù hợp để hoạt động cho vay

đó có thể diễn ra một cách lành mạnh, phát huy tối đa các tác động tích cực, tạo tínhthanh khoản cho TTCK; hạn chế tối đa các tác động tiêu cực của hoạt động này đốivới nền kinh tế nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng do đẩy mạnh hoạtđộng vay và cho vay dẫn đến nguy cơ lạm phát cao, khủng hoảng tài chính

Việc thể chế hóa sự kiểm soát của Nhà nước đối với hoạt động cho vay củacác công ty chứng khoán thể hiện bằng sự ra đời của nhiều văn bản pháp luật, khắcphục những hạn chế của pháp luật để pháp luật đáp ứng, phù hợp với sự phát triểncủa hoạt động cho vay giữa công ty chứng khoán và nhà đầu tư

Nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động cho vay của công ty chứng khoán đốivới nhà đầu tư trên TTCK đối với nền kinh tế Việt Nam, xuất phát từ yêu cầu bứcthiết phải hình thành một kênh huy động vốn trung và dài hạn để đáp ứng nhu cầu

Trang 10

vốn đầu tư cho nền kinh tế trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước,cũng như mong muốn làm rõ các chính sách pháp luật, hoàn thiện khung pháp lý củahoạt động cho vay của các công ty chứng khoán là hết sức cần thiết và có ý nghĩa hếtsức quan trọng đối với việc thúc đẩy sự phát triển của TTCK Việt Nam.

Qua thực tế thực thi, ngoài các ưu điểm, các quy định pháp luật đã ban hànhbộc lộ nhiều bất cập làm hạn chế làm ảnh hưởng đến công ty chứng khoán cũng nhưchính các nhà đầu tư, ảnh hưởng đến sự vận hành của TTCK Do vậy, việc đánh giálại các quy định của pháp luật này, tiếp tục nghiên cứu từ góc độ lý luận, thực tiễn

để tìm ra bất cập, có đề xuất hướng sửa đổi, thay thế và bổ sung các quy định phápluật có ý nghĩa quan trọng giúp TTCK đi vào quỹ đạo đầu tư chuyên nghiệp và “bắtnhịp” đi chung của TTCK toàn cầu Với ý nghĩa đó mà tác giả chọn đề tài “Phápluật về hoạt động cho vay của các công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư ở ViệtNam” làm đề tài Luận văn Thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Pháp luật về hoạt động cho vay của các công ty chứng khoán đối với nhà đầu

tư ở Việt Nam của Quỹ đầu tư chứng khoán là vấn đề khá mới trong hệ thống phápluật Việt Nam; được quy định rải rác trong một số văn bản pháp luật như Luậtchứng khoán và một số văn bản dưới luật

Từ khi Luật chứng khoán được ban hành, gần như không có một nghiên cứu

cụ thể, toàn diện về những quy định, bất cập của pháp luật hiện hành về hoạt độngcho vay của các công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư ở Việt Nam, cũng nhưchưa giải quyết được cụ thể và thấu đáo những vấn đề cần khắc phục, theo đó hoànthiện các quy định pháp luật về hoạt động này cả các công ty chứng khoán

Vì vậy, việc nghiên cứu cụ thể hơn đối với mảng quy định pháp luật này làviệc vừa có ý nghĩa lý luận vừa có giá trị thực tiễn cao Đây chính là nội dung chính

mà tác giả tập trung nghiên cứu trong luận văn Thạc sỹ của mình

3 Đối tượng nghiên cứu và mục đích, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về Pháp luật về hoạt

động cho vay của các công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư ở Việt Nam

Trang 11

- Mục đích nghiên cứu của đề tài: Phân tích những vấn đề lý luận về hoạt

động cho vay của các công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư ở Việt Nam cũng nhưthực trạng hoạt động cho vay dưới góc độ pháp luật Cùng với đó là xem xét vàđánh giá những mặt tích cực và hạn chế của pháp luật về hoạt động này, chỉ ra đâu

là những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó Từ đó, đề ra giải pháp hoàn thiện

hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cũng như các khía cạnh khác cầnhoàn thiện của các công ty chứng khoán đối với hoạt đông cho vay, nhằm phát triển

sự phát triển của TTCK

- Phạm vi đề tài:

+ Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động cho vaycủa các công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư;

+ Việc thực thi các quy định của pháp luật trong thực tiễn áp dụng;

+ Đưa ra những phương hướng cũng như các giải pháp hoàn thiện khungpháp lý, góp phần phát triển hoạt động cho vay của các công ty chứng khoán đối vớinhà đầu tư tại Việt Nam trong thời gian tới

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu và hoàn thiện trên cơ sở phương pháp chủ nghĩaduy vật biện chứng, theo tư tưởng quan điểm của Đảng và Nhà nước về phươnghướng xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam Ngoài ra có sựkết hợp một số phương pháp khác như: phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp;phương pháp liên hệ, so sánh; phương pháp logic học và phương pháp khoa họckhác nhằm làm sang tỏ hơn nữa các vấn đề được đặt ra trong luận văn Thạc sỹ này

5 Những đóng góp mới về khoa học của Luận văn

- Về lý luận: làm rõ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn về hoạt động cho

vay của các công ty chứng khoán ở Việt Nam Trên cơ sở tổng quan có chọn lựamột số quan điểm cơ bản của một số học giả của Việt Nam, cũng như các luật gianổi tiếng kết hợp những kinh nghiệm đúc rút từ thực tiễn, tác giả làm rõ thêm nhữngkhái niệm và các vấn đề liên quan đến hoạt động cho vay dưới góc độ pháp lý, từ đó

Trang 12

có đề xuất, kiến nghị những phương hướng, giải pháp cụ thể để hoàn thiện khungpháp lý này ở Việt Nam.

- Về đánh giá thực tiễn: trên cơ sở những nghiên cứu, đánh giá của cá nhân

tác giả cũng như tham khảo và chọn lọc nhiều nguồn tài liệu tham khảo khác, Luậnvăn đã trình bày tổng quan thực trạng pháp luật về hoạt động của cho vay của cáccông ty chứng khoán đối với nhà đầu tư tại Việt Nam, phân tích những ưu điểm -hạn chế và tìm ra những nguyên nhân chủ yếu của hệ thống pháp luật về vấn đề này

- Về đề xuất chính sách: Luận văn đã chỉ ra những nội dung cơ bản cần hoàn

thiện, từ đó đề xuất những định hướng, quan điểm cơ bản, các giải pháp chủ yếu đểhoàn thiện hệ thống pháp luật về hoạt động cho vay của các công ty chứng khoánđối với nhà đầu tư tại Việt Nam Các giải pháp này có giá trị tham khảo tốt trongxây dựng, hoạch định và triển khai các chính sách pháp luật cũng như việc thực thichúng trong thực tiễn áp dụng

Với việc nghiên cứu đề tài “Pháp luật về hoạt động cho vay của các công tychứng khoán đối với nhà đầu tư ở Việt Nam” tác giả hy vọng sẽ đóng góp được mộtphần nhỏ nào đó hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật về hoạt động cho vay củacác công ty chứng khoán, khắc phục và hoàn thiện những nhược điểm, phát huynhững ưu điểm, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trên thị trường chứngkhoán Việc nâng cao vai trò của pháp luật thực sự có ý nghĩa khoa học và thực tiễnsâu sắc cho sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam trong tương lai

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, cấu trúc luận văn bao gồm 3 chương sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về hoạt động cho vay của Công ty

chứng khoán đối với nhà đầu tư

Chương 2: Thực trạng pháp luật về hoạt động cho vay của công ty chứng

khoán đối với nhà đầu tư ở Việt Nam

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động

cho vay của công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư ở Việt Nam

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ

1.1. Khái quát chung về hoạt động cho vay

1.1.1 Khái niệm

Cho vay là hoạt động phổ biến trong đời sống thương mại Xét về khía cạnhlịch sử, hoạt động cho vay ra đời và tồn tại xuất phát từ đòi hỏi khách quan của quátrình tuần hoàn vốn, để giải quyết hiện tượng dư thừa, thiếu hụt vốn diễn ra thườngxuyên giữa các chủ thể trong nền kinh tế

Theo đó, khái niệm “cho vay” được định nghĩa khá nhiều tại các tài liệu khácnhau tuy nhiên nội hàm của khái niệm này lại không hoàn toàn đồng nhất Cụ thể,

từ điển Bách khoa toàn thư định nghĩa:

Cho vay là sự chuyển vốn dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật củamột tổ chức hoặc cá nhân (gọi chung là chủ nợ hay người cho vay) chomột tổ chức hoặc cá nhân (gọi chung là con nợ hay người đi vay) sửdụng trong một thời hạn nhất định với điều kiện có hoàn trả vốn và phảitrả thêm một khoản lãi khác gọi là lợi tức

Theo từ điển Wikipedia, khái niệm “cho vay” được đồng nhất với khái niệm

Tại từ điển Luật học, khái niệm “cho vay tài sản” được quy định với nộidung như sau:

Giao một số tiền hoặc vật cho bên vay và khi đến hạn trả bên vayphải hoàn trả tiền hoặc vật cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và

Trang 14

phải trả lãi, nếu có thả thuận hoặc pháp luật có quy định; lãi do hai bênthỏa thuận không được vượt quá 50% của lãi suất cao nhất do Ngân hàngnhà nước quy định Cho vay tài sản có thể giao kết bằng lời nói hoặcbằng văn bản, nếu pháp luật có quy định thì phải theo hình thức văn bảnluật định Bộ luật dân sự cũng phân biệt vay không kỳ hạn, có kỳ hạn(Điều 467 -475 – Bộ luật dân sự) [44].

Luật tổ chức tín dụng năm 2010 định nghĩa:

Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặccam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng và mục đích xácđịnh trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc cóhoàn trả cả gốc và lãi [12, Điều 4, khoản 16]

Như vậy hoạt động cho vay tựu chung lại được hiểu là một quan hệ kinh tế,trong quan hệ này người cho vay chuyển giao quyền sử dụng tài sản trong một thờigian nhất định cho người vay; khi đến hạn trả nợ người vay có nghĩa vụ hoàn trảđầy đủ tài sản gốc và lãi vay (nếu có) Khái niệm về hoạt động cho vay đã được thểchế rõ trong quy định về Hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Bộ luật dân sự

2015: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay

giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định” [29, Điều 463].

1.1.2 Nguyên tắc cho vay

Hoạt động cho vay sẽ tuân thủ theo các nguyên tắc cụ thể sau:

- Nguyên tắc thứ nhất: Nguyên tắc quản lý mục đích tiền vay: Mục đích của

việc đề ra nguyên tắc này là nhằm đảm bảo việc sử dụng vốn vay đúng mục đích,đúng định hướng Theo đó, bên đi vay phải đảm bảo không sử dụng vốn vay sai mụcđích vay Ví dụ: Không sử dụng vốn vay ngắn hạn sử dụng cho mục đích dài hạn hay

sử dụng vào mục đích khác với thỏa thuận trong Hợp đồng về tính mục đích của việc

sử dụng vốn vay Nguyên tắc này được đề ra cũng đảm bảo được tính an toàn chokhoản vay, tránh trường hợp thất thoát khoản vay do sử dụng sai mục đích

Trang 15

- Nguyên tắc thứ hai: Nguyên tắc hoàn trả: Bên vay vốn phải hoàn trả vốn

vay (bao gồm cả gốc và lãi (nếu có)) cho bên cho vay sau khi hết thời gian vay vốn.Thời gian vay vốn là khoảng thời gian kể từ khi bên vay nhận được khoản vốn vaylần đầu tiên đến khi bên vay trả hết nợ gốc và tiền lãi (nếu có) cho bên cho vay.Nguyên tắc hoàn trả thể hiện ở số lượng hoàn trả và thời gian hoàn trả Theo đó, sốlượng hoàn trả sẽ bằng tổng số vốn vay gốc của khoản vay và số lãi phát sinh (nếucó) trong thời gian vay vốn Thời gian hoàn trả là thời gian người vay phải hoàn trả

số vốn vay theo thoả thuận giữa hai bên được ghi trong hợp đồng vay

1.1.3 Đặc điểm

Thứ nhất, về chủ thể: Chủ thể của hoạt động cho vay thường bao gồm haibên là bên cho vay và bên vay (cá nhân, pháp nhân, tổ chức xã hội có nhu cầu vayvốn) và có thể có sự tham gia của bên thứ ba (bên bảo lãnh) tùy một số trường hợp

Thứ hai, về đối tượng của quan hệ cho vay: Đối tượng của quan hệ cho vay

là tài sản Theo quy định của Điều 105 Bộ luật dân sự 2015 thì khái niệm tài sảnđược định nghĩa như sau:

“1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.

2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai” [29, Điều 105].

Thứ ba, hoạt động cho vay phải đáp ứng về điều kiện, mục đích sử dụng vốn

vay hợp pháp theo quy định của pháp luật Ngoài ta, bên vay phải tuân thủ theo cácquy định về việc bảo đảm tài sản vay theo quy định

Thứ tư, về phương thức cho vay dựa trên các căn cứ bao gồm:

- Căn cứ vào thời gian cho vay;

- Căn cứ vào tính chất luân chuyển vốn vay;

- Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn;

- Căn cứ vào biện pháp bảo đảm tiền vay;

- Căn cứ vào phương thức hoàn trả;

- Các phương thức cho vay khác

Trang 16

1.2 Khái quát chung về hoạt động cho vay của Công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư

1.2.1 Khái niệm hoạt động cho vay của Công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư

Theo từ điển wikipedia, Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trunggian ở thị trường chứng khoán thực hiện trung gian tài chính thông qua các hoạtđộng chủ yếu như mua bán chứng khoán, môi giới chứng khoán cho khách hàng đểhưởng hoa hồng, phát hành và bảo lãnh chứng khoán, tư vấn đầu tư và quản lý quỹđầu tư Công ty chứng khoán có thể tham gia quá trình trao đổi cổ phiếu trong thịtrường với vai trò trung gian

Theo Luật chứng khoán ở Việt Nam năm 2006 (Khoản 1 Điều 59), công tychứng khoán được hiểu là doanh nghiệp thành lập theo quy định của pháp luậtdưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn Ngoài ra, Nghịđịnh số 86/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện đầu

tư, kinh doanh chứng khoán Khoản 1 Điều 2 của Nghị định này đưa ra địnhnghĩa chi tiết như sau:

Công ty chứng khoán là doanh nghiệp thành lập và hoạt động theopháp luật chứng khoán để thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các nghiệpvụ: Môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hànhchứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán và được cung cấp các dịch vụtài chính theo quy định của pháp luật chứng khoán [39]

Tại Thông tư 210/2012/TT-BTC của Bộ tài chính hướng dẫn về thành lập

và hoạt động của công ty chứng khoán, định nghĩa Công ty chứng khoán được

quy định như sau: “Công ty chứng khoán là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh

chứng khoán, thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các nghiệp vụ: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán” [6, Điều 2].

Theo quy định tại khoản 8 Điều 2 Văn bản hợp nhất số 07/ VBHN-BTC

Trang 17

ngày 5/4/2016 hợp nhất Thông tư số 210/2012/TT-BTC ngày 30/11/2012 và Thông

tư số 07/2016/TT-BTC ngày 18/1/2016 về việc hướng dẫn thành lập và hoạt động

công ty chứng khoán của Bộ tài chính: “Cho vay là hình thức theo đó công ty

chứng khoán giao hoặc cam kết giao cho bên nhận hoặc bên sử dụng một khoản tiền, tài sản, chứng khoán trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và có thể có lãi hoặc không” [9, Điều 2]

Như vậy, khi được cấp phép hoạt động công ty chứng khoán có thể giao hoặccam kết giao cho cá nhân hoặc tổ chức một khoản tiền, tài sản, chứng khoán để sửdụng trong khoảng thời gian mà hai bên đã đồng ý trong văn bản thỏa thuận vớinguyên tắc cá nhân hoặc tổ chức nhận khoản tiền, tài sản, chứng khoán từ công tychứng khoán sẽ phải hoàn trả gốc (bắt buộc) và lãi (nếu hai bên có thỏa thuận).Hoạt động cho vay này của công ty chứng khoán phải đảm bảo tuân thủ các quyđịnh của pháp luật về hoạt động của công ty chứng khoán được quy định cụ thểtrong văn bản hợp nhất đã nêu

Cũng theo quy định tại Điều 43 của Văn bản hợp nhất số 07/ VBHN-BTC ngày5/4/2016 hợp nhất Thông tư số 210/2012/TT-BTC ngày 30/11/2012 và Thông tư số07/2016/TT-BTC ngày 18/1/2016 về việc hướng dẫn thành lập và hoạt động công tychứng khoán của Bộ tài chính, Công ty chứng khoán bị hạn chế cho vay Cụ thể như sau:

Điều 43 Hạn chế cho vay

1 Trừ trường hợp quy định tại Khoản 4, Khoản 5 Điều này, công tychứng khoán không được cho vay tiền, chứng khoán dưới mọi hình thức

2 Công ty chứng khoán không được dùng tiền, tài sản của công tyhoặc của khách hàng để bảo đảm nghĩa vụ thanh toán cho bên thứ ba

3 Công ty chứng khoán không được cho vay dưới bất kỳ hìnhthức nào đối với Chủ sở hữu, cổ đông lớn, thành viên Ban Kiểm soát,thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, thành viênBan Giám đốc, kế toán trưởng, các chức danh quản lý khác do Hội đồngquản trị công ty chứng khoán bổ nhiệm và người có liên quan của nhữngđối tượng nêu trên

Trang 18

4 Công ty chứng khoán đã được thực hiện giao dịch ký quỹ theoquy định pháp luật được cho khách hàng vay tiền mua chứng khoán dướihình thức giao dịch ký quỹ theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.

5 Công ty chứng khoán được cho vay chứng khoán để sửa lỗigiao dịch, hoặc cho vay để thực hiện các giao dịch hoán đổi chứng chỉquỹ hoán đổi danh mục hoặc các hình thức khác theo quy định của phápluật có liên quan [9, Điều 43]

Như vậy, theo quy định của pháp luật, Công ty chứng khoán không được chovay tiền, chứng khoán dưới mọi hình thức Trừ trường hợp công ty chứng khoán đãđược thực hiện giao dịch ký quỹ theo quy định pháp luật được cho khách hàng vaytiền mua chứng khoán dưới hình thức giao dịch ký quỹ theo hướng dẫn của Bộ Tàichính; và công ty chứng khoán được cho vay chứng khoán để sửa lỗi giao dịch,hoặc cho vay để thực hiện các giao dịch hoán đổi chứng chỉ quỹ hoán đổi danh mụchoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật có liên quan

Có thể thấy, quy định hạn chế cho vay đối với công ty chứng khoán theo quyđịnh tại Điều 43 của Văn bản hợp nhất số 07/ VBHN-BTC ngày 5/4/2016 nêu trên làkhá hợp lý Quy định đó góp phần giúp công ty chứng khoán được phép thực hiệnmột dịch vụ để hỗ trợ cho khách hàng, nhà đầu tư trong việc đầu tư chứng khoán màkhông “lấn sân” sang nghiệp vụ đặc thù của các ngân hàng thương mại

Tuy nhiên, hiện nay tại thị trường chứng khoán Việt Nam, xét trên khía cạnhcho vay đối với nhà đầu tư, Công ty chứng khoán chỉ được phép cho khách hàngvay tiền để mua chứng khoán khi Công ty chứng khoán đã được thực hiện giao dịch

ký quỹ theo quy định của pháp luật

Cho vay ký quỹ là hình thức cấp tín dụng của công ty chứng khoán chokhách hàng của mình để họ mua chứng khoán và sử dụng các chứng khoán đó làmvật thế chấp cho chính khoản vay Khách hàng chỉ cần ký quỹ một phần, số còn lại

sẽ do công ty chứng khoán ứng trước tiền thanh toán Đến kỳ hạn thoả thuận, kháchhàng phải hoàn trả đủ số gốc vay cùng với lãi cho công ty chứng khoán Trườnghợp khách hàng không trả được nợ, thì công ty sẽ phát mãi số chứng khoán đã mua

để thu hồi nợ

Trang 19

Đối với công ty chứng khoán, thì hoạt động cho vay cụ thể là giao dịch kýquỹ có vai trò tích cực giúp công ty thu thêm phí dịch vụ và tiền lãi từ cho vay Việccung cấp các sản phẩm dịch vụ ký quỹ thuận lợi và nhanh chóng cũng giúp công tychứng khoán có thể thu hút được khách hàng tới mở tài khoản và giao dịch.

Tuy nhiên, giao dịch ký quỹ cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến công tychứng khoán khi gặp rủi ro không thu đủ tiền cho vay và tiền lãi, không bán đượcchứng khoán thế chấp và phải hạch toán vào tài sản của công ty Công ty chứngkhoán cũng có thể gặp các rủi ro về tài chính khi không tuân thủ các quy định vềquản trị rủi ro hệ thống Thêm vào đó, thiệt hại cho khách hàng cũng sẽ đem lạithiệt hại cho chính công ty khi có thể mất đi một khách hàng tiềm năng trong tươnglai, doanh thu cung cấp dịch vụ sụt giảm

Ngoài ra, công ty chứng khoán thực hiện nghiệp vụ cho vay ký quỹ cũngphải tuân thủ điều khoản về các hạn mức cho vay giao dịch ký quỹ cũng như điềukiện về vốn chủ sở hữu quy định của pháp luật về chứng khoán

Cụ thể, hạn mức cho vay giao dịch ký quỹ được quy định tại Điều 13 Quyếtđịnh 637/QĐ-UBCK như sau:

Điều 13 Hạn mức cho vay giao dịch ký quỹCông ty chứng khoán phải tuân thủ các hạn mức cho vay giaodịch ký quỹ quy định tại Điều này Hạng mục vốn chủ sở hữu của công

Trang 20

ty chứng khoán nêu tại Điều này được xác định theo Báo cáo tài chínhkiểm toán gần nhất nhưng không quá 06 tháng kể từ thời điểm tính toán.

1 Tổng dư nợ cho vay giao dịch ký quỹ của một công ty chứng khoánkhông được vượt quá 200% vốn chủ sở hữu của công ty chứng khoán;

2 Tổng mức cho vay giao dịch ký quỹ của công ty chứng khoánđối với một khách hàng không được vượt quá 3% vốn chủ sở hữu củacông ty chứng khoán;

3 Tổng dư nợ cho vay giao dịch ký quỹ của một công ty chứngkhoán đối với một loại chứng khoán không được vượt quá 10% vốn chủ

sở hữu của công ty chứng khoán;

4 Tổng số chứng khoán cho vay giao dịch ký quỹ của một công

ty chứng khoán không được vượt quá 5% tổng số chứng khoán niêm yết

của một tổ chức niêm yết [40, Điều 13].

- Bên vay: Cũng giống như hoạt động cho vay thông thường, chủ thể bên vaytrong hoạt động cho vay của Công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư cũng là những

cá nhân, pháp nhân, tổ chức có nhu cầu vay

Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 4 Điều 43 Văn bản hợp nhất số 07/ BTC ngày 5/4/2016 hợp nhất Thông tư số 210/2012/TT-BTC ngày 30/11/2012 vàThông tư số 07/2016/TT-BTC ngày 18/1/2016 về việc hướng dẫn thành lập và hoạtđộng công ty chứng khoán của Bộ tài chính có quy định công ty chứng khoán đã đượcthực hiện giao dịch ký quỹ theo quy định pháp luật được cho khách hàng vay tiền muachứng khoán dưới hình thức giao dịch ký quỹ theo hướng dẫn của Bộ Tài chính

VBHN-Mặt khác, theo quy định tại Điều 10 Quyết định 87/QĐ-UBCK về việchạn chế giao dịch ký quỹ cũng nêu rõ các trường hợp công ty chứng khoánkhông được cho khách hàng vay tiền để thực hiện giao dịch ký quỹ trong cáctrường hợp cụ thể như sau:

1 Công ty chứng khoán không được cho khách hàng vay tiền đểthực hiện giao dịch ký quỹ trong các trường hợp sau:

a) Đối với cổ phiếu, chứng chỉ quỹ do chính công ty chứng khoán

Trang 21

bảo lãnh phát hành theo hình thức cam kết chắc chắn kể từ thời điểmcông ty chứng khoán ký hợp đồng bảo lãnh đến hết sáu (06) tháng tính từkhi hoàn tất đợt phát hành;

b) Đối với cổ phiếu của công ty niêm yết sở hữu từ 50% trở lênvốn điều lệ của công ty chứng khoán và đối với cổ phiếu của công tyniêm yết, cổ phiếu của công ty đăng ký giao dịch do công ty chứngkhoán sở hữu từ 50% trở lên vốn điều lệ;

c) Đối với cổ phiếu của chính công ty chứng khoán phát hành;d) Khi khách hàng không bảo đảm tỷ lệ ký quỹ theo quy định tạiHợp đồng mở tài khoản giao dịch ký quỹ và các quy định tại Quy chế này;

đ) Khách hàng là nhà đầu tư nước ngoài;

e) Khi khách hàng là những đối tượng được quy định tại khoản 4Điều 13 Quy chế này [42, Điều 10]

Khoản 4, Điều 13 của Quyết định 87/QĐ-UBCK đã liệt kê các đối tượngkhông được phép mở tài khoản giao dịch ký quỹ, cụ thể:

4 Tài khoản giao dịch ký quỹ không được mở cho các đối tượngdưới đây:

a) Là những đối tượng sau trong công ty chứng khoán: chủ sởhữu, cổ đông lớn, thành viên góp vốn, thành viên Hội đồng quản trị/Hộiđồng thành viên, Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc (Giám đốc), Phó TổngGiám đốc (Phó Giám đốc), kế toán trưởng, các chức danh khác do Hộiđồng quản trị/Hội đồng thành viên/Chủ sở hữu công ty chứng khoán bổnhiệm và những người có liên quan đến các đối tượng trên;

b) Là pháp nhân đang trong tình trạng giải thể, phá sản theo cácquy định của pháp luật hiện hành;

c) Các đối tượng vi phạm hợp đồng mở tài khoản giao dịch chứngkhoán ký quỹ theo quy định của công ty chứng khoán.[42, Khoản 4, Điều 13].Như vậy, không phải bất kỳ cá nhân, pháp nhân, tổ chức nào có nhu cầu vay

Trang 22

cũng được công ty chứng khoán cho vay Công ty chứng khoán chỉ cho vay đối vớinhững cá nhân, pháp nhân, tổ chức là khách hàng của mình và phải thỏa mãn điềukiện là không thuộc các đối tượng nêu tại Khoản 1, Điều 10 Quyết định 87/QĐ-UBCK nêu trên

1.2.2.2 Đối tượng và mục đích vay

Tại Khoản 5 Điều 2 Nghị định 86/2016/NĐ-CP đã quy định về giao dịch ký

quỹ như sau: “5 Giao dịch ký quỹ là giao dịch mua chứng khoán có sử dụng tiền

vay của công ty chứng khoán, trong đó chứng khoán vừa mua và các chứng khoán được phép ký quỹ khác của khách hàng được sử dụng làm tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên” [13, Điều 2].

Như vậy, giao dịch ký quỹ thực tế là một hình thức cấp tín dụng mà trong đónhà đầu tư được thực hiện vay tiền của Công ty chứng khoán để mua chứng khoán và

sử dụng chính chứng khoán trên tài khoản vay để làm tài sản đảm bảo cho nghĩa vụđối với khoản vay Nói cách khác, bằng hình thức này, người mua chứng khoán cóthể nâng cao khả năng mua chứng khoán của mình bằng tiền đi vay của Công tychứng khoán Tuy nhiên, do khoản tiền sử dụng trong giao dịch ký quỹ này là tiềnvay nên người mua chứng khoán sẽ phải chịu lãi suất trên số tiền vay đó và các chứngkhoán trong tài khoản margin sẽ trở thành tài sản thế chấp cho các khoản vay

Mặt khác, không phải tất cả chứng khoán đều được các Công ty chứng khoáncho phép giao dịch ký quỹ mà Công ty chứng khoán chỉ được phép cho vay ký quỹ

để mua đối với các chứng khoán được giao dịch ký quỹ Khoản 1, Điều 2 về “Giảithích từ ngữ”, Quy chế hướng dẫn giao dịch ký quỹ chứng khoán ban hành kèm

Quyết định số 87/QĐ-UBCK quy định: “Chứng khoán được phép giao dịch ký quỹ

là chứng khoán đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Quy chế này.” Tại Quyết

định 87 nêu trên, Ủy ban chứng khoán cũng liệt kê một loạt các quy định về chứngkhoán không được phép giao dịch ký quỹ (thời gian niêm yết, kết quả kinh doanh,

…) để làm cơ sở để các công ty chứng khoán xác định được danh sách các chứngkhoán được phép cho vay giao dịch ký quỹ

Thông thường, công ty chứng khoán sẽ chỉ cho vay ký quỹ đối với một số

Trang 23

chứng khoán thuộc một danh sách giới hạn đã được công ty chứng khoán lựa chọncho vay ký quỹ và danh sách này không thuộc danh sách các chứng khoán khôngđược vay ký quỹ và mỗi chứng khoán sẽ được cho vay với một tỷ lệ cho vay nhấtđịnh tùy thuộc vào sự đánh giá của công ty chứng khoán.

Cổ phiếu được giao dịch mua chứng khoán ký quỹ phải là cổ phiếu niêm yếttrên các sở giao dịch chứng khoán, có thời gian niêm yết từ 6 tháng trở lên; là cổphiếu có giá trị sổ sách lớn hơn mệnh giá tính theo báo cáo tài chính kiểm toán nămgần nhất và báo cáo tài chính quý gần nhất của các công ty niêm yết; cổ phiếu củacông ty niêm yết có thời gian thành lập và hoạt động tối thiểu 5 năm, có vốn điều lệtối thiểu là 20 tỷ, không có lỗ trong năm hoạt động liền trước, có tỷ lệ lợi nhuậntrước thuế trên vốn chủ sở hữu tại thời điểm cuối năm tối thiểu là 3%; cổ phiếukhông thuộc diện bị kiểm soát hoặc dừng giao dịch

Ngoài ra, công ty chứng khoán không được cho khách hàng vay giao dịchmua ký quỹ đối với cổ phiếu do chính công ty phát hành cũng như cổ phiếu dochính công ty bảo lãnh phát hành cho đến hết ba (3) tháng sau khi hoàn tất đợt pháthành; cổ phiếu của công ty sở hữu từ 50% vốn điều lệ của công ty chứng khoán

Đối với nhà đầu tư, chỉ được phép sử dụng tiền vay từ công ty chứng khoán

để mua chứng khoán trên tài khoản giao dịch mua ký quỹ chứng khoán, không được

sử dụng tiền vay vào bất kỳ mục đích nào khác

Về yêu cầu ký quỹ, cũng theo khoản 7 Điều 2, Điều 5 Quy chế ban hành kèmtheo Quyết định số 87/QĐ-UBCK ngày 25/01/2017 về việc ban hành quy chếhướng dẫn giao dịch ký quỹ chứng khoán của Ủy ban chứng khoán Nhà nước - BộTài chính đã xác định tỷ lệ ký quỹ là tỷ lệ % giữa khoản tiền khách hàng phải có tạithời điểm thực hiện mua chứng khoán ký quỹ so với khoản tiền vay từ công tychứng khoán Căn cứ tình hình thị trường, điều kiện của mình và mức độ tín nhiệmcủa từng khách hàng, công ty chứng khoán có thể quyết định tỷ lệ ký quỹ đối vớitừng trường hợp, nhưng không thấp hơn 50% giá trị chứng khoán tại thời điểm muachứng khoán Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có thể thay đổi tỷ lệ này tùy theo tìnhhình của thị trường

Trang 24

1.2.2.3 Thời hạn và lãi suất

Theo quy định tại Điều 11 của Quyết định 87/QĐ- UBCK ngày 25-01-2017của Ủy ban chứng khoán có quy định về thời hạn, lãi suất, cách tính tiền lãi vay chovay giao dịch ký quỹ, cụ thể như sau:

Điều 11 Thời hạn, lãi suất, cách tính tiền lãi vay cho vay giaodịch ký quỹ

1 Thời hạn khoản vay giao dịch ký quỹ do công ty chứng khoán vàkhách hàng thỏa thuận trong Hợp đồng mở tài khoản giao dịch ký quỹnhưng không quá ba (03) tháng tính từ ngày thực hiện giải ngân khoản vay

2 Công ty chứng khoán có thể tiếp tục gia hạn thời hạn cho vaytrên cơ sở văn bản đề nghị của khách hàng Thời gian gia hạn mỗi lầnkhông quá ba (03) tháng

3 Lãi suất cho vay giao dịch ký quỹ được xác định trên cơ sở thỏathuận bằng văn bản giữa công ty chứng khoán và khách hàng và theo quyđịnh của Bộ Luật Dân sự

4 Cách tính tiền lãi vay được xác định trên cơ sở thỏa thuận bằng văn bản giữa công ty chứng khoán và khách hàng [42, Điều 11]

Như vậy, thời hạn cho vay giao dịch mua ký quỹ sẽ do công ty chứng khoán

và khách hàng thỏa thuận nhưng không được quá ba (3) tháng; tùy thuộc vào mức

độ tín nhiệm của khách hàng, công ty chứng khoán có thể tiếp tục gia hạn cho vay,nhưng không quá một kỳ 3 tháng tiếp theo

Có thể thấy, quy định về thời hạn cho vay của Công ty chứng khoán là rấtđặc thù Nó khác với hoạt động cho vay dân sự thông thường hoặc hoạt động chovay của ngân hàng thương mại khi thời hạn cho vay đã được quy định cứng là 03tháng và có thể được gia hạn nhưng không được quá một kỳ 3 tháng tiếp theo trongkhi các hoạt động vay khác có thể có thời hạn vay linh động hơn (ngắn hạn hoặc dàihạn) tùy thuộc vào thỏa thuận của bên vay và bên cho vay

Về phần lãi suất, lãi suất cho vay giao dịch mua ký quỹ được xác định trên

cơ sở thỏa thuận ghi trong hợp đồng giữa công ty chứng khoán và khách hàng vàtheo quy định của Bộ luật Dân sự

Trang 25

Bộ Luật Dân sự năm 2015 đã quy định hạn mức lãi suất tối đa mà các bênđược thỏa thuận đã được hạ xuống, đồng thời pháp luật đã mở rộng quyền thỏathuận cho các bên trong trường hợp hợp đồng cho vay có tính lãi nhưng không xácđịnh lãi cụ thể Điều 468 của Bộ luật này quy định:

1 Lãi suất vay do các bên thỏa thuận

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏathuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợpluật khác có liên quan quy định khác Căn cứ tình hình thực tế và theo đềxuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnhmức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạnđược quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực

2 Trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng khôngxác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác địnhbằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thờiđiểm trả nợ [29, Điều 468]

Thời điểm bắt đầu tính lãi suất là thời điểm công ty chứng khoán giải ngânkhoản vay cho giao dịch vay mua chứng khoán ký quỹ

1.2.2.4 Hình thức bảo đảm khoản vay

Để đảm bảo nghĩa vụ đối với khoản vay, tất cả chứng khoán khách hàng mua

ký quỹ là tài sản thuộc sở hữu của khách hàng và phải được giữ tại công ty chứngkhoán làm tài sản thế chấp Đối với chứng khoán được đặt mua trong đợt phát hànhmới, chưa được chuyển giao thì mọi hóa đơn thanh toán tiền phải được giữ làm vậtthế chấp thay thế cho đến khi chứng khoán được chuyển giao

Tại các Điều 5, Điều 6, Điều 7 và Điều 8 của Quyết định 87/QĐ-UBCK vềviệc ban hành quy chế hướng dẫn giao dịch ký quỹ chứng khoán đã quy định rất cụthể viêc việc ký quỹ, thế chấp tài sản và xử lý tài sản thế chấp

Theo đó, khách hàng có nghĩa vụ đảm bảo tỷ lệ ký quỹ không thấp hơn tỷ lệ

ký quỹ duy trì Trường hợp tỷ lệ ký quỹ trên tài khoản giao dịch ký quỹ của khách

Trang 26

hàng giảm xuống thấp hơn tỷ lệ ký quỹ duy trì, công ty chứng khoán phát hành lệnhgọi ký quỹ bổ sung gửi tới khách hàng theo các phương thức liên hệ được thoảthuận trong Hợp đồng mở tài khoản giao dịch ký quỹ Khách hàng có nghĩa vụ bổsung tài sản thế chấp trong thời hạn theo yêu cầu của công ty chứng khoán nhưngkhông quá ba (03) ngày làm việc Thời hạn cụ thể do công ty chứng khoán và kháchhàng thỏa thuận trên cơ sở Hợp đồng mở tài khoản giao dịch ký quỹ [42, Điều 7].

Việc xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp khách hàng không thực hiện bánchứng khoán hoặc thực hiện việc bổ sung tiền hoặc bổ sung tài sản thế chấp để tốithiếu đảm bảo tỷ lệ ký quỹ duy trì được thực hiện như sau:

Điều 8 Xử lý tài sản thế chấp

1 Công ty chứng khoán có quyền bán chứng khoán thế chấp trêntài khoản giao dịch ký quỹ của khách hàng khi khách hàng không bổsung hoặc bổ sung không đầy đủ tài sản thế chấp trong thời hạn theo lệnhgọi ký quỹ bổ sung

a) Trường hợp khách hàng không bổ sung hoặc chỉ bổ sung mộtphần tài sản thế chấp, tùy thuộc vào giá trị tài sản thế chấp cần bổ sungcòn lại nhỏ hơn hoặc lớn hơn tổng giá trị chứng khoán có trên tài khoảngiao dịch ký quỹ, công ty chứng khoán được thực hiện bán một phầnhoặc toàn bộ số chứng khoán thế chấp;

b) Trước khi thực hiện lệnh bán chứng khoán thế chấp, công tychứng khoán có trách nhiệm thông báo cho khách hàng và sau khi bán,công ty chứng khoán có trách nhiệm gửi cho khách hàng bảng sao kê kếtquả giao dịch bán chứng khoán thế chấp theo phương thức được thỏathuận bằng văn bản giữa công ty chứng khoán và khách hàng

2 Trường hợp công ty chứng khoán bán toàn bộ chứng khoán cótrên tài khoản giao dịch ký quỹ theo yêu cầu của khách hàng hoặc khithực hiện lệnh gọi ký quỹ bổ sung, khách hàng chỉ được rút phần tiềncòn lại (nếu có) từ số tiền bán chứng khoán trên tài khoản giao dịch kýquỹ sau khi đã khấu trừ dư nợ ký quỹ

Trang 27

3 Trường hợp tổng tài sản trên tài khoản giao dịch ký quỹ củakhách hàng sau khi bán chứng khoán thế chấp không đủ bù đắp dư nợ kýquỹ và khách hàng không thực hiện việc thanh toán phần nợ vay còn lạitheo thỏa thuận tại Hợp đồng mở tài khoản giao dịch ký quỹ, công tychứng khoán thực hiện việc thu hồi nợ theo phương thức thỏa thuậntrong Hợp đồng mở tài khoản giao dịch ký quỹ và theo quy định phápluật [42, Điều 8].

Qua đây, có thể thấy, việc xử lý tài sản đảm bảo của công ty chứng khoáncũng được quy định theo hướng chủ động hơn cho công ty chứng khoán dưới tưcách là bên cho vay Đây cũng là một điểm khác biệt trong đặc điểm về hoạt độngcho vay của công ty chứng khoán đối với hoạt động cho vay khác

1.3 Khái quát chung pháp luật về hoạt động cho vay của Công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư

1.3.1 Khái niệm pháp luật về cho vay của công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư

Pháp luật được hiểu là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung

do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, phục vụ

và bảo vệ quyền lợi của các tầng lớp dân cư trong xã hội

Quy định của pháp luật về hoạt động cho vay đã được thể chế hóa trong cácquy định tại Điều 463 của Bộ Luật Dân sự cũng như Thông tư 39/2016/TT-NHNNcủa Ngân hàng Nhà nước Căn cứ vào các quy định pháp luật tại các văn bản trên,quy định về cho vay của Công ty chứng khoán cũng đã được quy định tại khoản 8Điều 1 Thông tư số 07/2016/TT-BTC ngày 18/01/2016 về việc sửa đổi, bổ sung một

số điều của Thông tư 210/2012/TT-BTC ngày 30 tháng 11 năm 2012 hướng dẫn về

thành lập và hoạt động công ty chứng khoán của Bộ tài chính: “Cho vay là hình thức

theo đó công ty chứng khoán giao hoặc cam kết giao cho bên nhận hoặc bên sử dụng một khoản tiền, tài sản, chứng khoán trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và có thể có lãi hoặc không” [8, Điều 1].

Như vậy, pháp luật về hoạt động cho vay của Công ty chứng khoán đối vớinhà đầu tư có thể được hiểu là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung

Trang 28

do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ có liên quanđến hoạt động cho vay của Công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư, phục vụ và bảo

vệ quyền lợi của Công ty chứng khoán cũng như nhà đầu tư

1.3.2 Nguồn luật điều chính hoạt động cho vay của Công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư

Kề từ thời điểm hoạt động cho vay của công ty chứng khoán với nhà đầu tưđược diễn ra trên thực tiễn thì hoạt động này cũng chịu sự điều chỉnh của nhiềunguồn luật khác nhau, để đảm bảo các vấn đề phát sinh liên quan đến hoạt động này

Pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của công ty chứng khoán và nhà đầu

tư được hiểu là tổng thể các nguồn luật điều chỉnh, các quy phạm pháp luật điềuchỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các công ty chứng khoán cho nhàđầu tư vay thông qua các nghiệp vụ được nhà nước bảo hộ và cho phép thực hiện

a Nguồn luật quốc tế

Đó là các cam kết quốc tế về dịch vụ chứng khoán mà Việt Nam tham gia

- Nguyên tắc cơ bản của WTO:

Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN) là việc nếu một nước dành cho mộtđối tác thương mại của mình một hay một số ưu đãi nào đó thì nước này cũng phảiđối xử tương tự như vậy đối với tất các thành viên còn lại của WTO để tất cả cácquốc gia thành viên đều được “ưu đãi nhất”, không phân biệt đối với bất kỳ đối tácthương mại nào

Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT) là đối xử bình đẳng giữa sản phẩm nướcngoài và sản phẩm nội địa

Cam kết của Việt Nam về dịch vụ chứng khoán trong WTO

+ Phương thức cung cấp dịch vụ qua biên giới: Việt Nam chỉ cam kết chophép cung cấp dịch vụ qua biên giới (không đòi hỏi phải thông qua hiện diệnthương mại) đối với các dịch vụ: C(k) và C(l)

+ Phương thức tiêu dùng ở nước ngoài: Việt Nam cam kết không hạn chế,không giới hạn việc tiêu dùng dịch vụ ngoài biên giới đối với toàn bộ các dịch vụchứng khoán được liệt kê tại Biểu cam kết dịch vụ

Trang 29

+ Phương thức hiện diện thương mại: Đối với hình thức liên doanh, văn phòngđại diện, ngay khi gia nhập, các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài đượcthành lập văn phòng đại diện và công ty liên doanh với đối tác Việt Nam trong đó tỷ

lệ vốn góp của phía nước ngoài không vượt quá 49% Từ năm 2012, cho phép thànhlập công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam

và cho phép các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài thành lập chi nhánhđối với các dịch vụ từ C(i) tới C(l) Tuy nhiên, Việt Nam cam kết không hạn chế vềđối xử quốc gia đối với phương thức hiện diện thương mại

+ Phương thức Hiện diện thể nhân: Việt Nam đều chưa cam kết về hạn chếtiếp cận thị trường và hạn chế đối xử quốc gia, trừ các cam kết chung

- Cam kết về dịch vụ chứng khoán trong Hiệp định TPP

Hiệp định TPP là nền tảng cho hội nhập khu vực Đối với lĩnh vực dịch vụtài chính, các nước đưa ra bốn nguyên tắc riêng gồm (i) minh bạch, không phân biệtđối xử, (ii) đối xử công bằng đối với các dịch vụ tài chính mới; (iii) bảo hộ đầu tư

và cơ chế giải quyết tranh chấp và (iv) đảm bảo chủ quyền của các nước, đặc biệttrong trường hợp có khủng hoảng tài chính

Nội dung cam kết về dịch vụ chứng khoán của Hiệp định TPP nằm tại Chương

11 – Dịch vụ Tài chính Phần này bao gồm 22 điều, đưa ra các định nghĩa chung, đốitượng, phạm vi điều chỉnh, các nghĩa vụ trong hiệp định, các quy định về các tổ chứcđược ủy quyền quản lý Liên quan đến dịch vụ chứng khoán là nội dung về giao dịchcung cấp, chuyển thông tin tài chính, xử lý dữ liệu tài chính qua biên giới

b Nguồn luật trong nước

- Bộ luật dân sự: Bộ luật dân sự của Việt Nam qua nhiều lần thay thế, sửa đổi,

bổ sung thì cũng đều có quy định về hoạt động cho vay Bộ luật này cũng đưa ra khái

niệm hợp đồng vay tài sản tại Bộ luật dân sự 2015: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa

thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định” [29, Điều 463].

Ngoài ra, bộ luật này còn quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợpđồng, lãi suất vay, thực hiện hợp đồng vay có kỳ hạn, hợp đồng vay không có kỳ hạn

Trang 30

Để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ thì Bộ luật dân sự cũng quy địnhcác biện pháp bảo đảm là: Cầm cố tài sản; thế chấp tài sản; đặt cọc; ký cược; kýquỹ; bảo lưu quyền sở hữu; bảo lãnh; tín chấp; cầm giữ tài sản.

Trong các biện pháp bảo đảm nói trên thì hiện nay có hai biện pháp bảo đảmđược áp dụng nhiều trong hoạt động cho vay liên quan tới chứng khoán đó là cầm

cố và thế chấp

- Luật các tổ chức tín dụng: Hiện nay Luật các tổ chức tín dụng 2010 đang

có hiệu lực có quy định về cho vay theo quy định tại khoản 16 Điều 4 như sau:

“Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao

cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” [24] Theo

đó, cho vay là một hoạt động của ngân hàng thương mại, của công ty tài chính vimô… Hoạt động cho vay cũng chịu sự điều chỉnh thông qua đối tượng áp dụng, cácquyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hoạt động cho vay, các giới hạn về quyền

mà các bên phải tuân theo trong luật này

-Trong các văn bản liên quan đến lĩnh vực chứng khoán, Khoản 8 Điều 2 Vănbản hợp nhất số 07/ VBHN-BTC ngày 5/4/2016 hợp nhất Thông tư số 210/2012/TT-BTC ngày 30/11/2012 và Thông tư số 07/2016/TT-BTC ngày 18/1/2016 về việchướng dẫn thành lập và hoạt động công ty chứng khoán của Bộ tài chính cũng đã

định nghĩa cho vay như sau: “Cho vay là hình thức theo đó công ty chứng khoán

giao hoặc cam kết giao cho bên nhận hoặc bên sử dụng một khoản tiền, tài sản, chứng khoán trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và có thể có lãi hoặc không”

-Bộ luật hình sự: So với Bộ luật hình sự 1999, Bộ luật hình sự sửa đổi 2009thì Bộ luật hình sự 2015 có đưa thêm phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của phápnhân thương mại Pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự liên quanđến lĩnh vực chứng khoán theo các yếu tố cấu thành tội danh sau: Điều 209 (tội cố ýcông bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán);Điều 210 (tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán); Điều 211 (tộithao túng thị trường chứng khoán)

Trang 31

Qua những văn bản pháp luật trên cho thấy Nhà nước đã tạo lập thị trường chứngkhoán, đưa ra các chuẩn mực để vận hành thị trường chứng khoán nói chung và hoạtđộng cho vay nói riêng, các quy định để khắc phục những khuyết tật của thị trườngchứng khoán Nhìn chung, pháp luật quy định về thị trường chứng khoán đã được đồng

bộ, điều chỉnh hoạt động thị trường chứng khoán, phù hợp với thực tiễn phát triển thịtrường chứng khoán Việt Nam cũng như kinh nghiệm và các thông lệ quốc tế, từ đó giúpcho thị trường chứng khoán hoạt động tốt hơn, đảm bảo tính công bằng, minh bạch

1.3.3 Quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể quan hệ cho vay của Công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư

a Quyền và nghĩa của công ty chứng khoán

- Đưa ra các điều kiện cấp tín dụng cho các đối tượng khách hàng là các nhàđầu tư chứng khoán Đó là các điều kiện về: đối tượng có thể vay vốn đầu tư chứngkhoán, tài sản bảo đảm tiền vay, hạn mức tín dụng đối với khách hàng…

- Yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh phương án sử dụng vốnkhả thi, khả năng tài chính của mình, mục đích sử dụng vốn hợp pháp, tài sản bảođảm tiền vay… trước khi cấp hạn mức cho vay

- Quyết định cho hoặc không cho nhà đầu tư vay trên cơ sở thẩm định hồ sơvay vốn Công ty chứng khoán chỉ cho nhà đầu tư vay tiền nếu họ đáp ứng được cácđiều kiện do công ty chứng khoán đưa ra, trường hợp ngược lại, công ty chứngkhoán có quyền từ chối cho vay

Khi quyết định cho vay, công ty chứng khoán có quyền quyết định các vấn

đề liên quan như số tiền, thời hạn, lãi suất cho vay, phương thức thực hiện hợpđồng… trên cơ sở có sự chấp thuận từ phía nhà đầu tư theo quy định tại Điều 11 củaQuyết định 87/QĐ-UBCK ngày 25/1/2017 về quy chế hướng dẫn giao dịch ký quỹchứng khoán do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ban hành

- Kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay và trả nợ của nhà đầu tư Công tychứng khoán có quyền yêu cầu khách hàng báo cáo sự việc sử dụng vốn vay vàchứng minh vốn vay được sử dụng đúng mục đích Khi thực hiện việc này, công tychứng khoán có thể kiểm tra xem khách hàng sử dụng vốn vay có đúng mục đích vàthực hiện đúng các thỏa thuận trong hợp đồng đã ký không Việc kiểm tra, giám sát

Trang 32

khách hàng cũng giúp việc thực hiện vốn vay, phát hiện kịp thời các sai phạm củakhách hàng, đồng thời nhận biết được khả năng trả nợ của khách hàng, từ đó có thểcan thiệp trong các trường hợp cần thiết Nếu công ty chứng khoán thực hiện tốt việckiểm tra, giám sát thì có thể giảm thiểu rủi ro đối với các khoản tiền đã cho vay.

Nếu phát hiện ra những sai phạm trong việc sử dụng vốn vay, các công tychứng khoán có quyền áp dụng các chế tài theo thỏa thuận trong hợp đồng tín chovay đã ký, kể cả việc đơn phương chấm dứt hợp đồng và thu hồi nợ trước hạn

- Thu hồi nợ bao gồm cả gốc và lãi theo đúng thỏa thuận đã ký giữa các bên.Việc xử lý tài sản thế chấp được quy định tại Điều 9 của Quyết định 87/QĐ-UBCK.Việc thu hồi nợ diễn ra khi thời hạn của hợp đồng đã hết Ngoài ra, một số trườnghợp, công ty chứng khoán có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng và yêu cầu kháchhàng thanh toán nợ trước hạn Nếu khách hàng không trả được nợ đến hạn và nếucác bên không có thỏa thuận nào khác thì công ty chứng khoán có quyền xử lý tàisản bảo đảm cho khoản vay của nhà đầu tư để thu hồi nợ

Bên cho vay có nghĩa vụ:

- Phải từ chối giải ngân và không cho phép giao dịch mua chứng khoán kể cảbằng tiền mặt trong trường hợp Công ty chứng khoán không đảm bảo được hạn mứccho vay giao dịch ký quỹ theo quy định tại Điều 9 của Quyết định 87/QĐ-UBCKngày 25/1/2017 Hạn mức cho vay cụ thể như sau:

1 Tổng dư nợ cho vay giao dịch ký quỹ của một công ty chứng khoánkhông được vượt quá 200% vốn chủ sở hữu của công ty chứng khoán

2 Tổng mức cho vay giao dịch ký quỹ của công ty chứng khoánđối với một khách hàng không được vượt quá 3% vốn chủ sở hữu củacông ty chứng khoán

3 Tổng dư nợ cho vay giao dịch ký quỹ của một công ty chứngkhoán đối với một loại chứng khoán không được vượt quá 10% vốn chủ

sở hữu của công ty chứng khoán

4 Tổng số chứng khoán cho vay giao dịch ký quỹ của một công

ty chứng khoán không được vượt quá 5% tổng số chứng khoán niêm yếtcủa một tổ chức niêm yết [42, Điều 9]

Trang 33

- Công ty chứng khoán cũng phải đảm bảo không được cho khách hàng vaytiền để thực hiện giao dịch ký quỹ đối với các trường hợp hạn chế giao dịch ký quỹđược quy định tại Điều 10 của Quyết định 87/QĐ-UBCK ngày 25/01/2017 của Ủyban chứng khoán Nhà nước Cụ thể:

a) Đối với cổ phiếu, chứng chỉ quỹ do chính công ty chứng khoánbảo lãnh phát hành theo hình thức cam kết chắc chắn kể từ thời điểmcông ty chứng khoán ký hợp đồng bảo lãnh đến hết sáu (06) tháng tính từkhi hoàn tất đợt phát hành;

b) Đối với cổ phiếu của công ty niêm yết sở hữu từ 50% trở lênvốn điều lệ của công ty chứng khoán và đối với cổ phiếu của công tyniêm yết, cổ phiếu của công ty đăng ký giao dịch do công ty chứngkhoán sở hữu từ 50% trở lên vốn điều lệ;

c) Đối với cổ phiếu của chính công ty chứng khoán phát hành;d) Khi khách hàng không bảo đảm tỷ lệ ký quỹ theo quy định tạiHợp đồng mở tài khoản giao dịch ký quỹ và các quy định tại Quy chế này;

đ) Khách hàng là nhà đầu tư nước ngoài;

e) Khi khách hàng là những đối tượng được quy định tại khoản 4Điều 13 Quy chế này

2 Trường hợp chứng khoán không còn nằm trong danh sáchchứng khoán được phép giao dịch ký quỹ, công ty chứng khoán khôngđược thực hiện cho vay mới đối với các chứng khoán này và không đượctính chứng khoán này làm tài sản thực có của khách hàng trên tài khoảngiao dịch ký quỹ nhưng vẫn được coi chứng khoán này làm tài sản bảođảm cho khoản vay giao dịch ký quỹ trừ khi có thỏa thuận khác vớikhách hàng [42, Điều 10]

- Công ty chứng khoán phải giải ngân cho nhà đầu tư các khoản nằmtrong hạn mức khi khách hàng đáp ứng đầy đủ các điều kiện giải ngân, điều kiện

về tài sản bảo đảm và các tỷ lệ bảo đảm theo đúng quy định của hợp đồng và quyđịnh của pháp luật

Trang 34

- Phải thông báo cho khách hàng các thay đổi về danh mục ký quỹ, các tỷ lệliên quan đến xử lý, quản lý tài sản bảo đảm… các tài liệu đi kèm và phát sinh (nếucó) theo phương thức do Công ty chứng khoán quyết định.

- Thực hiện đúng các thỏa thuận với khách hàng Về nguyên tắc, công tychứng khoán phải tuân thủ nghiêm túc và đầy đủ điều khoản trong hợp đồng Nếucông ty chứng khoán vi phạm hợp đồng thì phải chịu các chế tài theo quy định củapháp luật và theo thỏa thuận trong hợp đồng như bồi thường thiệt hại và phạt viphạm hợp đồng…

- Ngoài các nghĩa vụ nêu trên, Công ty chứng khoán còn phải thực hiện nghĩa

vụ báo cáo đối với Ủy ban chứng khoán nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán liênquan đến hoạt động giao dịch ký quỹ của mình theo quy định tại Điều 14 Quyếtđịnh 87/QĐ-UBCK:

Điều 14 Nghĩa vụ báo cáo của công ty chứng khoán

1 Trước ngày giao dịch thứ năm của tháng tiếp theo, công tychứng khoán phải gửi Sở giao dịch chứng khoán danh sách chứng khoán

mà mình thực hiện giao dịch ký quỹ theo mẫu quy định tại Phụ lục số

01 của Quy chế này

2 Công ty chứng khoán có nghĩa vụ báo cáo theo yêu cầu của Ủyban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán về hoạt độnggiao dịch ký quỹ

3 Trường hợp công ty chứng khoán thay đổi hệ thống quản lýgiao dịch ký quỹ phải báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước tối thiểutrước 15 ngày trước ngày dự kiến chính thức tổ chức triển khai thực hiện.Nội dung báo cáo phải chứng minh được hệ thống quản lý giao dịch mớitiếp tục đáp ứng quy định về quản lý giao dịch ký quỹ hiện hành

b Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư

- Được chủ động trong việc sử dụng vốn vay Nhà đầu tư chứng khoán cóquyền sử dụng tiền vay để đầu tư chứng khoán Họ có toàn quyền quyết định việc

Trang 35

mua loại chứng khoán nào, số lượng bao nhiêu cũng như thời điểm mua bán cácloại chứng khoán đó…

- Được hưởng lợi nhuận phát sinh từ hoạt động đầu tư chứng khoán (nếu có),sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước

- Có quyền nhận thông báo về việc thay đổi chính sách của công ty chứngkhoán liên quan tới các điều khoản và điều kiện về giao dịch ký quỹ chứng khoántheo phương thức do công ty chứng khoán quyết định theo quy định tại điểm đkhoản 5 Điều 13 của Nghị quyết 87/QĐ-UBCK

- Chấm dứt các điều kiện và điều khoản về giao dịch ký quỹ chứng khoántrước thời hạn với điều kiện đã thanh toán mọi khoản nợ cho công ty chứng khoán

- Có quyền khiếu nại, khởi kiện công ty chứng khoán nếu vi phạm các quyđịnh tại các điều kiện điều khoản về giao dịch ký quỹ chứng khoán

- Nhà đầu tư phải cam kết mình có đầy đủ tiêu chuẩn và điều kiện để mở tàikhoản ký quỹ, không thuộc trường hợp cấm mở tài khoản ký quỹ theo quy định củapháp luật và của từng công ty chứng khoán Ví dụ như tại Công ty TNHH chứngkhoán ACB thì các trường hợp cấm là cổ đông lớn, thành viên hội đồng thành viên,thành viên ban kiểm soát hay thành viên ban tổng giám đốc, kế toán trưởng hoặcngười có liên quan những đối tượng này

- Nhà đầu tư phải cam kết chịu trách nhiệm về tính chính xác và đúng đắn củacác thông tin đã cung cấp cho công ty chứng khoán trong quá trình mở tài khoản Khi

có thay đổi về những thông tin đã cung cấp thì nhà đầu tư có trách nhiệm thông báocho công ty chứng khoán

- Nhà đầu tư phải cam kết có đầy đủ quyền sở hữu trọn vẹn và riêng rẽ đốivới toàn bộ tài sản được nhà đầu tư sử dụng để thực hiện giao dịch ký quỹ hoặc làmtài sản bảo đảm cho dư nợ Các tài sản không phải là tài sản được ủy thác hoặc đang

bị tranh chấp về quyền sở hữu với bên thứ ba bất kỳ

- Nhà đầu tư phải thừa nhận việc tham gia giao dịch chứng khoán chứa đựngnhững rủi ro do giá cổ phiếu có thể lên hoặc xuống, trong một số trường hợp giá cổphiếu có thể bằng không Đặc biệt các rủi ro này có thể gia tăng nhiều lần khi nhà

Trang 36

đầu tư thực hiện kinh doanh chứng khoán thông qua phương thức giao dịch ký quỹ.Nhà đầu tư cam kết rằng nhà đầu tư đã hiểu rõ các rủi ro và tự chịu trách nhiệm đốivới mọi rủi ro phát sinh từ việc kinh doanh chứng khoán của mình Một số rủi ro(không phải tất cả), có liên quan đến giao dịch ký quỹ:

+ Giao dịch ký quỹ làm gia tăng sức mua, cho phép nhà đầu tư mua số lượngchứng khoán nhiều hơn do đó nhà đầu tư cũng sẽ phải chịu ảnh hưởng của rủi robiến động giá chứng khoán nhiều hơn, trong trường hợp giá chứng khoán thay đổikhông theo chiều hướng nhà đầu tư mong muốn thì nhà đầu tư sẽ phải chịu tổn thấtnhiều hơn, thậm chí là mất toàn bộ khoản đầu tư

+ Hợp đồng ký quỹ chứng khoán thường không có điều khoản giới hạnkhoản lỗ của nhà đầu tư tối đa bằng toàn bộ tài sản nhà đầu tư sử dụng để đầu tưchứng khoán Do đó, trong trường hợp Công ty chứng khoán xử lý tài sản bảo đảmcủa nhà đầu tư để thanh toán dư nợ, nếu không đủ thì sẽ làm phát sinh nghĩa vụthanh toán của nhà đầu tư đối với công ty chứng khoán còn thiếu

+ Khi thị trường thay đổi hoặc theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nướchoặc quản lý rủi ro Công ty chứng khoán có thể thay đổi tỷ lệ vay, tỷ lệ duy trì, tỷ

lệ ký quỹ bổ sung hoặc tỷ lệ xử lý Hệ quả của việc thay đổi này là công ty chứngkhoán có thể xử lý tài sản bảo đảm của nhà đầu tư để thu hồi dư nợ theo quy địnhcủa hợp đồng

- Trong trường hợp nhà đầu tư có ủy quyền cho một bên thứ ba quản lý tàikhoản chứng khoán của nhà đầu tư, nhà đầu tư cam kết chấp nhận mọi kết quả giaodịch ký quỹ do bên thứ ba thực hiện trong phạm vi ủy quyền

- Trong trường hợp nhà đầu tư vi phạm các nghĩa vụ thanh toán cũng nhưcác cam kết được quy định của hợp đồng, công ty chứng khoán có quyền cungcấp thông tin cho các tổ chức khác theo quy định của thỏa thuận và theo quyđịnh của pháp luật

- Nếu không được sự đồng ý của Công ty chứng khoán, khách hàng cam kếtkhông thực hiện bất kỳ giao dịch nào đối với các chứng khoán ký quỹ nằm trong tàikhoản giao dịch ký quỹ mà giao dịch đó không được thực hiện qua Sở giao dịch

Trang 37

chứng khoán có liên quan Các giao dịch không được thực hiện bao gồm nhưngkhông giới hạn ở cầm cố, thế chấp chứng khoán để đảm bao cho một nghĩa vụ thanhtoán, để thừa kế, cho tặng hoặc góp vốn bằng chứng khoán.

- Nhà đầu tư cam kết trong các trường hợp đặc biệt dưới đây, khi công tychứng khoán có thông báo yêu cầu, nhà đầu tư sẽ sử dụng các tài sản khác thuộc sởhữu của nhà đầu tư để thực hiện nghĩa vụ thanh toán dư nợ của mình đối với Công

+ Chứng khoán ký quỹ không có giao dịch khớp lệnh trên Sở giao dịchchứng khoán có liên quan trong một thời hạn nào đó theo thỏa thuận hoặc theo quyđịnh của công ty chứng khoán;

+ Sở giao dịch chứng khoán nơi chứng khoán ký quỹ niêm yết, bị ngừnghoặc tạm dừng hoạt động với thời hạn ngừng hoặc tạm dừng hoạt động trên bamươi ngày hoặc không xác định;

+ Công ty chứng khoán không còn được phép cho khách hàng vay để thựchiện Giao dịch ký quỹ theo quy định của pháp luật hoặc quyết định của cơ quan cóthẩm quyền

- Nhà đầu tư cam kết cung cấp và cập nhật đầy đủ cho Công ty chứng khoáncác thông tin liên quan đến việc nhà đầu tư thuộc đối tượng công bố thông tin theoquy định của pháp luật do sở hữu các chứng khoán ký quỹ có liên quan Việc cungcấp và cập nhật được thực hiện khi nhà đầu tư ký kết hợp đồng hay ngay khi nhà

Trang 38

đầu tư trở thành đối tượng của nghĩa vụ công bố thông tin Bên cạnh đó, nhà đầu tưcam kết thực hiện nhanh chóng và đầy đủ nghĩa vụ công bố thông tin theo quy địnhcủa pháp luật do có sở hữu các chứng khoán ký quỹ có liên quan.

Khách hàng cam kết tự gánh chịu thiệt hại và tổn thất và/hoặc bồi thườngtoàn bộ thiệt hại và tổn thất, trực tiếp và gián tiếp, gây ra cho công ty chứng khoántrong trường hợp nhà đầu tư vi phạm và có quyền thực hiện các biện pháp cần thiếthoặc khởi kiện nhà đầu tư ra tòa để bắt buộc hoặc yêu cầu nhà đầu tư thực hiệnnghĩa vụ bồi thường

1.3.4 Những yếu tố ảnh hưởng tác động đến pháp luật về hoạt động cho vay của Công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư tại Việt Nam

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến các quy định về pháp luật trong hoạt độngcho vay của Công ty chứng khoán đối với nhà đầu tư tại Việt Nam trong đó nhữngyếu tố thuộc về chủ quan và các yếu tố khách quan

Các yếu tố chủ quan

Do các yếu tố như tiềm lực tài chính, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, nhân lực, quytrình quản lý rủi ro của công ty chứng khoán có tác động trực tiếp đến hoạt độnggiao dịch ký quỹ chứng khoán Tiềm lực tài chính của công ty chứng khoán là mộttrong những yêu cầu đặt ra đối với yêu cầu công ty chứng khoán phải đáp ứng khinộp hồ sơ đăng ký thực hiện hoạt động giao dịch ký quỹ

Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 của Nghị định 86/2016/NĐ-CP quy địnhđiều kiện đầu tư, kinh doanh chứng khoán có hiệu lực vào ngày 11/7/2016 thì công

ty chứng khoán được thực hiện giao dịch ký quỹ sau khi Ủy ban Chứng khoán Nhànước chấp thuận trên cơ sở đáp ứng các Điều kiện sau:

a) Được cấp phép thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán vàđược Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữu công

ty chứng khoán thông qua việc thực hiện giao dịch ký quỹ;

b) Là thành viên của Sở Giao dịch chứng khoán, Trung tâm Lưu

ký chứng khoán Việt Nam và không đang trong tình trạng cảnh báo,kiểm soát, kiểm soát đặc biệt, đình chỉ hoạt động, tạm ngừng hoạt động,hợp nhất, sáp nhập, giải thể, phá sản;

Trang 39

c) Không có lỗ lũy kế bằng hoặc lớn hơn 50% vốn Điều lệ tínhtheo báo cáo tài chính năm gần nhất đã được kiểm toán hoặc báo cáo tàichính bán niên gần nhất đã được soát xét, đảm bảo không quá 06 thángtính đến thời Điểm đăng ký cung cấp dịch vụ giao dịch ký quỹ Ý kiếnkiểm toán tại báo cáo tài chính năm và báo cáo tài chính soát xét gầnnhất phải là ý kiến chấp nhận toàn phần;

d) Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu không vượt quá 03 lần, vốnchủ sở hữu không thấp hơn mức vốn pháp định, trích lập đầy đủ cácKhoản dự phòng;

đ) Tỷ lệ vốn khả dụng đạt tối thiểu 180% liên tục trong 12 thánggần nhất tính đến thời Điểm đăng ký cung cấp dịch vụ giao dịch ký quỹ.Quy định này cũng ảnh hưởng đến nguồn tiền tài trợ cho hoạt động dịch kýquỹ đối với nhà đầu tư tại công ty chứng khoán Nếu công ty chứng khoán có vốnchủ sở hữu thấp, khả năng vay ngân hàng kém, tình hình tài chính không ổn định thìkhông đảm bảo được nguồn tiền cho khách hàng sử dụng dịch vụ giao dịch ký quỹ,hạn mức cho vay cũng thấp, thời hạn vay ngắn và không ổn định Nếu công tychứng khoán làm ăn thua lỗ, vốn chủ sở hữu giảm khá nhiều có khả năng không cóvốn để cho nhà đầu tư vay và có thể bị các ngân hàng hoặc công ty tài chính từ chốicho vay Nếu công ty chứng khoán cố vốn chủ sở hữu lớn, tình hình tài chính lànhmạnh, lợi nhuận và doanh thu tăng trưởng thì ngoài vốn tự có, công ty chứng khoáncòn có thể vay ngân hàng hoặc công ty tài chính để tài trợ cho hoạt động giao dịch

ký quỹ của mình

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật chính là hệ thống giao dịch, phần mềm của công tychứng khoán Cũng theo quy định tại Nghị định 86/2016/NĐ-CP thì một trong cácđiều kiện để công ty chứng khoán thực hiện giao dịch kỹ quỹ là:

Có hệ thống giao dịch phục vụ giao dịch ký quỹ, giám sát tàikhoản giao dịch ký quỹ; hệ thống để quản lý tiền gửi giao dịchchứng khoán tách biệt tới từng nhà đầu tư tại ngân hàng; quy trìnhnghiệp vụ và quy trình quản lý rủi ro, kiểm soát nghiệp vụ giao dịch

ký quỹ [13, Điều 8, Khoản 1, Điểm e]

Trang 40

Như vậy, hệ thống phần mềm này đóng vai trò rất quan trọng và ảnh hưởngtrực tiếp đến hoạt động giao dịch ký quỹ của công ty chứng khoán Phần mềm nàyphải thiết kế dành riêng cho giao dịch ký quỹ, có thể tự động tính hạn mức mua củakhách, tự động tính toán tỷ lệ ký quỹ hiện tại và đưa ra cảnh báo khi tỷ lệ giảmxuống thấp hơn tỷ lệ ký quy duy trì Khi khách hàng không đảm bảo được tỷ lệ kýquỹ duy trì và chạm ngưỡng an toàn thì hệ thống tự động bán cổ phiếu để thu tiền.Nếu phần mềm của công ty chứng khoán hiện tại, có khả năng cảnh báo và tự xử lýthì việc cung cấp dịch vụ giao dịch ký quỹ của công ty chứng khoán sẽ đảm bảo antoàn, hạn chế rủi ro Ngược lại, nếu phần mềm của công ty chứng khoán không đápứng được yêu cầu của giao dịch ký quỹ, không tự động thanh toán các hạn mức thì

sẽ xảy ra rủi ro rất lớn, ảnh hưởng tới giao dịch của nhà đầu tư cũng như hoạt độngtài chính của công ty chứng khoán

Nguồn nhân lực tại công ty chứng khoán như bộ phận môi giới là bộ phậntrực tiếp tiếp xúc với khách hàng Một đội ngũ môi giới giàu kinh nghiệm có đạođức nghề nghiệp sẽ tư vấn trung thực cho khách hàng, khách hàng sẽ giảm đượcnhững quyết định sai lầm trong đầu tư như không dùng dịch vụ giao dịch ký quỹ khithị trường xấu Ngược lại, nếu môi giới không có đạo đức nghề nghiệp, chú trọngtới doanh số và hoa hồng, tư vấn cho khách hàng giao dịch không hiệu quả sẽ làmgiảm uy tín của công ty và trong một số trường hợp có thể khiến khách hàng để lại

nợ xấu cho công ty

Bộ phận quản lý rủi ro có trách nhiệm theo dõi các tỷ lệ tài chính liên quanđến khách hàng và các công việc liên quan đến xử lý nợ cũng như hồ sơ tín dụngcủa khách hàng Ngoài hệ thống tự động xử lý các giao dịch ký quỹ của khách hàng,công ty chứng khoán còn có bộ phận quản lý rủi ro giám sát hệ thống để phòng hệthống có thể có sự cố và xử lý vấn đề phát sinh Ngoài ra bộ phận này theo dõi hồ

sơ tín dụng của khách hàng để đánh giá khách hàng Nếu khách hàng có lịch sử tàichính rõ ràng, không vi phạm các quy định của công ty chứng khoán thì có thể đánhgiá cao hơn, tỷ lệ cho vay sẽ cao hơn Nếu bộ phận này được đào tạo bài bản, tuântheo chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp thì công ty chứng khoán sẽ hạn chế được

Ngày đăng: 24/11/2019, 13:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w