Đề tài nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật môi trường để đưa pháp luật môi trường vào đời sống thực tiễn ở huyện Đan Phượng, bảo đảm môi trường được giữ gìn, bảo vệ, đảm bảo quyền và lợi ích của người dân sống trên địa bàn huyện được thụ hưởng môi trường có chất lượng.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH
*** *** ***
NGUYỄN VĂN KHANH
TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
ĐÔ THỊ TRONG BẢO ĐẢM AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG Ở HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)
Hà Nội - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH
*** *** ***
NGUYỄN VĂN KHANH
TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
ĐÔ THỊ TRONG BẢO ĐẢM AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG Ở HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
Chuyên ngành: Quản trị An ninh phi truyền thống
Mã số: Chương trình thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN HỮU PHÚC
Hà Nội - 2019
Trang 3CAM KẾT
Tác giả cam kết rằng kết quả nghiên cứu trong luận văn là kết quả lao động của chính tác giả thu được chủ yếu trong thời gian học và nghiên cứu và chưa được ông bố trong bất cứ một chương trình nghiên cứu nào của người khác
Những kết quả nghiên cứu và tài liệu của người khác (trích dẫn, bảng,
biểu, công thức, đồ thị cùng những tài liệu khác) được sử dụng trong luận văn
này đã được các tác giả đồng ý và trích dẫn cụ thể
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ luận văn, Khoa Quản trị và Kinh doanh và pháp luật về những cam kết nói trên
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Khanh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Kính thưa: các Nhà khoa học trong Hội đồng và quý vị đại biểu
Kính thưa: TS Nguyễn Hữu Phúc - Thầy hướng dẫn khoa học
Thưa toàn thể các đồng chí và các bạn
Học viên rất xúc động và phấn khởi trước những kết quả đạt được sau thời gian học tập, rèn luyện và nghiên cứu khoa học, cũng như kết quả nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình Có được kết quả này, bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của bản thân là sự tạo điều kiện về mọi mặt của lãnh đạo, chỉ huy các cấp, của các thầy, cô và sự động viên kích lệ của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
Trước hết, cho phép Học viên được gửi lời cảm ơn đến các Nhà khoa học trong Hội đồng về những nhận xét, đánh giá khách quan, chính xác đối với sản phẩm nghiên cứu của mình
Xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong Khoa Quản trị và Kinh doanh, Đại học Quốc gia Hà Nội đã động viên, bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện học viên trong suốt quá trình học tập
Xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Hữu Phúc, Thầy hướng dẫn khoa học Thầy luôn động viên, giúp đỡ Học viên trong nghiên cứu, tìm tòi để Học viên có được kết quả như hôm nay
Cuối cùng, xin kính chúc các Nhà khoa học trong Hội đồng, các quý vị đại biểu, cùng toàn thể các đồng chí và các bạn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công
Xin cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ TRONG BẢO ĐẢM AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG 8
1.1 Lý luận chung về an ninh phi truyền thống 8
1.2 Khái niệm tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị 10
1.2.1 Môi trường đô thị 10
1.2.2 Pháp luật bảo vệ môi trường đô thị 14
1.2.3 Tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị 23
1.3 Chủ thể, nội dung của tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị 25
1.3.1 Chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị 25
1.3.2 Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị 28
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị ở huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội 28
1.5 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị ở huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội 31
1.6 Kinh nghiệm tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị của một số nước trên thế giới 34
1.6.1 Kinh nghiệm của Thái Lan 35
1.6.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 35
1.6.3 Kinh nghiệm của Singapore 37
1.6.4 Kinh nghiệm của Mỹ 38
1.6.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản 39
Trang 6CHƯƠNG 2 CÔNG TÁC TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ Ở HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 43 2.1 Điều kiện tự nhiên - xã hội của thành phố Hà Nội nói chung, huyện Đan Phượng nói riêng và thực trạng môi trường đô thị hiện nay 43 2.2 Hoạt động của các chủ thể tham gia tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị ở thành phố Hà Nội và huyện Đan Phượng 50 2.3 Thực trạng ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành pháp luật bảo vệ môi trường đô thị ở thành phố Hà Nội và huyện Đan Phượng 52
2.2.1 Tình hình ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành 52
2.4 Thực trạng công tác phổ biến giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường
đô thị ở huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội 54 2.5 Thực trạng các điều kiện bảo đảm cho việc thi hành pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 58 2.6 Thực trạng thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại,
tố cáo trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở huyện Đan Phượng, thành phố
Hà Nội 60 CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ TRONG BẢO ĐẢM ANPTT Ở HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 63 3.1 Quan điểm nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị ở thành phố Hà Nội nói chung, huyện Đan Phượng nói riêng 63 3.2 Một số giải pháp tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị
ở thành phố Hà Nội nói chung, huyện Đan Phượng nói riêng 64
3.2.1 Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác ban hành, tập huấn các văn bản liên quan đến pháp luật bảo vệ môi trường 64
Trang 73.2.2 Hoàn thiện quy định về môi trường và bảo vệ môi trường đô thị 67 3.2.3 Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về môi trường nhằm xây dựng phong trào người dân chủ động, trực tiếp bảo vệ
môi trường 70
3.2.4 Hoàn thiện các thiết chế tổ chức thực hiện pháp luật và tăng cường các điều kiện vật chất, kỹ thuật liên quan đến việc tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường 71
3.2.5 Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ 71
3.2.6 Phối hợp chặt chẽ giữa các cấp ủy đảng, các cấp chính quyền, các đoàn thể nhân dân trong tổ chức thực hiện pháp luật 74
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 78
Trang 8GTVT Giao thông vận tải
HĐND Hội đồng nhân dân
CBM Cam kết bảo vệ môi trường
KQM Kế hoạch quản lý môi trường
RBNUDP-NM Chương trình đô thị miền núi phía bắc
TN&MT Tài nguyên và Môi trường
QLDA Quản lý dự án
GDĐT Giáo dục đào tạo
LĐTB&XH Lao động thương binh và xã hội
GDP Tổng sản phẩm
Trang 9
1
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Hiện nay, an ninh phi truyền thống (ANPTT) đang là mối đe dọa chung Chúng ta đang sống trong một thế giới có nhiều biến động về môi trường: Khí hậu biến đổi, nhiệt độ trái đất tăng lên, mực nước biển dâng lên, thu hẹp không gian sinh tồn đang bị co hẹp lại và phân cách khác nhau, ô nhiễm môi trường ngày càng nặng nề, dân số ngày càng tăng, sức ép của công nghiệp hoá, toàn cầu hoá ngày càng lớn Những thay đổi trên đây đang ảnh hưởng trực tiếp đến công cuộc phát triển của các nước nói chung, Việt Nam nói riêng
Sự phát triển kinh tế trên thế giới ngày nay, không những đang dẫn đến những vấn đề môi trường khó giải quyết mà còn nẩy sinh nhiều vấn đề chính trị, xã hội đáng lo ngại, sự cách biệt giàu nghèo giữa các nước và các vùng ngày càng xa.Việt Nam là một quốc gia đang phát triển và cũng không nằm ngoài xu hướng đó Môi trường của Việt Nam thực chất vẫn đang tiếp tục bị xuống cấp, có nơi đã đến mức báo động, đất đai bị xói mòn, chất lượng nguồn nước bị suy giảm mạnh, không khí ô nhiễm nặng, mức độ độc hại của chất thải ngày càng gia tăng, không có quy hoạch, đa dạng sinh học bị đe doạ nghiêm trọng Việc phát triển công nghiệp cả về số lượng, chất lượng, tăng dân số, các thảm hoạ do thiên tai và những diễn biến xấu về biến đổi khí hậu đang tăng gây áp lực lớn về môi trường, đặt công tác bảo vệ môi trường đứng trước những thách thức không nhỏ
Trong những năm qua, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững đất nước, cùng với trọng tâm phát triển kinh tế, đảm bảo tiến độ và công bằng xã hội, Việt Nam luôn coi trọng công tác bảo vệ môi trường và đã có rất nhiều văn bản pháp luật quan trọng về bảo vệ môi trường được ban hành: Luật bảo
vệ môi trường năm 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2005); Nghị quyết số
Trang 1041-2
NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010
và định hướng đến năm 2020, Quyết định số 166/2014/QĐ-TTg ngày 21 tháng 01 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch thực hiện Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Hiện nay tốc độ đô thị hóa ở thành phố Hà Nội nói chung, huyện Đan Phượng nói riêng ngày càng cao, năng lực quản lý của chính quyền đô thị còn nhiều bất cập nên đặt ra những vấn đề bức xúc trong lĩnh vực môi trường Rút kinh nghiệm từ các đô thị lớn của Việt Nam và quá trình đô thị hóa diễn ra trong thời gian qua, khi chúng ta phát triển kinh tế, thu hút đầu
tư, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng chưa chú trọng thỏa đáng đến môi trường, đề tài mong muốn trang bị nhận thức cho các nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách khi bắt đầu phát triển đô thị phải đi theo hướng phát triển đô thị bền vững Hiện nay, trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đô thị, khâu có nhiều bất cập là khâu tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan nhà nước, đặc biệt là của chính quyền đô thị Hơn nữa, các cơ quan chính quyền thành phố quản lý đô thị vẫn còn yếu kém, bị phân tán, và có nguồn lực hạn chế
Hiện nay chất lượng môi trường đô thị ở huyện Đan Phượng đang đứng trước những thách thức cơ bản sau:
Hạ tầng kỹ thuật cùng với trang bị, thiết bị bảo vệ môi trường còn hạn chế, lạc hậu, vấn đề ô nhiễm môi trường đô thị không có chiều hướng giảm, thậm chí ngược lại, trong khi đó khoản kinh phí đầu tư chưa cao, chuyên môn của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước quản lý môi trường chưa đạt yêu cầu
Sự gia tăng dân số, di dân từ các địa phương khác dồn về gây ra áp lực lớn đối với tài nguyên và môi trường
Các giải pháp bảo vệ môi trường chưa đồng bộ Bảo vệ môi trường chưa được lồng ghép một cách khoa học với sự phát triển kinh tế- xã hội ngày
Trang 113
càng sôi động, dẫn đến khó khăn cho ngăn ngừa ô nhiễm và bảo đảm phát triển bền vững tương lai
Nhận thức về vai trò môi trường và phát triển bền vững chung chưa đầy
đủ, một bộ phận người dân ý thức bảo vệ môi trường chưa cao
Về mặt lý luận, vấn đề tổ chức thực hiện pháp luật về môi trường trong bảo đảm an ninh phi truyền thống là những vấn đề mới cần có những nghiên cứu chuyên sâu phục vụ cho hoạt động giảng dạy và hoạt động quản lý của
Nhà nước
Xuất phát từ những lý do trên, học viên lựa chọn đề tài “Tổ chức thực
hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị trong bảo đảm an ninh phi truyền thống ở huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội hiện nay” làm đề tài luận
văn tốt nghiệp
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Để có cái nhìn khách quan, toàn diện về vấn đề nghiên cứu, tìm ra yếu
tố có thể kế thừa, bổ sung và phát triển, Đề tài khoa học sẽ tìm hiểu tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường
đô thị ở thành phố Hà Nội đã được công bố ở trong và ngoài nước
2.1 Một số công trình nghiên cứu liên quan đến thực hiện pháp luật
Về mặt lý luận, thực hiện pháp luật (THPL) đã được nhiều công trình nghiên cứu đề cập, đặc biệt là các nhà khoa học pháp lý Liên Xô và các nước
XHCN Đông Âu trước đây, theo đó, các vấn đề lý luận như: khái niệm, đặc điểm, hình thức, vai trò đã được làm rõ trong nhiều chuyên khảo, Giáo trình
Lý luận Nhà nước và pháp luật Nó còn được nghiên cứu dưới góc độ bộ phận cấu thành của cơ chế điều chỉnh pháp luật, trong quan hệ với xây dựng và bảo
vệ pháp luật, tăng cường pháp chế
Gần đây, THPL trở thành chủ đề quan tâm của nhiều chuyên khảo, hội thảo khoa học: Chuyên khảo: “Thực hiện và áp dụng pháp luật ở Việt Nam” của PGS TS.Nguyễn Minh Đoan đã làm rõ khái niệm, mục đích, ý nghĩa,
Trang 124
hình thức, quy trình, các bảo đảm và tiêu chí đánh giá hiệu quả THPL ở Việt Nam, thực trạng và đề xuất các giải pháp; làm rõ về áp dụng pháp luật (khái niệm, đặc điểm, các trường hợp, nguyên tắc, quá trình và quyết định áp dụng);
áp dụng pháp luật tương tự, giải thích pháp luật
2.2 Một số công trình liên quan đến việc tổ chức thực hiện pháp luật
Bài viết: “Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức THPL,
nhiệm vụ trọng tâm xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của dân, do dân và vì dân” của GS.TS.Trần Ngọc Đường đã làm rõ tính tất yếu
khách quan của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức THPL, đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện ở nước ta từ góc độ lập pháp, hành pháp,
tư pháp
Bài viết: „Thực hiện pháp luật và cơ chế thực hiện pháp luật" của GS TSKH.Đào Trí Úc đã làm rõ khái niệm, đặc trưng của THPL và các yếu tổ (bộ phận) cấu thành cơ chế THPL và vị trí/ vai trò của từng yếu tố
2.3 Một số công trình liên quan đến việc tổ chức thực hiện pháp luật bảo
vệ môi trường đô thị
Đề tài cấp bộ KX 01.04 “Nghiên cứu về sự biến đổi khí hậu các thành phố ở Việt Nam hiện nay” Bộ Khoa học Công nghệ môi trường năm 2014;
Trần văn Tình, luận án tiến sĩ “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp bảo
vệ môi trường ở nước ta hiện nay” năm 2012;
Nguyễn Thọ Đoàn, luận án tiến sĩ “Tác động của môi trường đến sự phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam hiện nay” năm 2013;
Trần Anh Công, luận án tiến sĩ, “Giải pháp bảo vệ môi trường ở nông thôn Việt Nam”, năm 2014;
Sách chuyên khảo “Lý luận và thực tiễn bảo vệ môi trường trong điều kiện phát triển kinh tế hiện nay”, NXB Đồng Nai 2011;
Đồng Thanh Tuấn, luận văn cao học “Hoàn thiện pháp luật về môi trường ở nước ta hiện nay”, năm 2015
Trang 135
2.4 Đánh giá kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan đến tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị ở thành phố Hà Nội hiện nay
Từ kết quả của các công trình nghiên cứu đã khảo sát trên đây, có thể rút
ra một số nhận xét, đánh giá có giá trị tham khảo cho đề tài khoa học như sau:
Một là, pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị còn ít các công trình khai
thác Từ nhóm các công trình nghiên cứu ít về số lượng đó, đã chưa hệ thống hóa và làm rõ được một số vấn đề lý luận cơ bản về vị trí, vai trò của hệ thông pháp luật bảo vệ môi trường đô thị ở thành phố Hà Nội nói chung, các quận , huyện nói riêng
Hai là, các công trình nghiên cứu về thực hiện pháp luật thì nhiều, đa
dạng trên nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng đi sâu nghiên cứu vấn đề tổ chức thực hiện pháp luật còn rất ít, tản mạn dưới dạng các bài viết nhỏ lẻ chưa có tính hệ thống, đặc biệt chưa có công trình nào viết về tổ chức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường gắn với nội hàm an ninh phi truyền thống và cách tiếp cận đang dừng lại ở việc “bàn về ” Thực tiễn cho thấy đối với công tác xây dựng pháp luật thì công tác tổ chức thực hiện pháp luật là khâu chưa được đầu tư thỏa đáng
Ba là, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về việc tổ chức thực
hiện pháp luật ở đô thị Tính đặc thù của đô thị đã được khoa học chứng minh,
từ tính đặc thù này nó quy định đến việc tổ chức chính quyền ở đô thị cũng phải đặc thù
2.4 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
Trên cơ sở tiếp thu các công trình và phát huy kết quả nghiên cứu cuả các công trình nghiên cứu có khảo sát, lựa chọn, học viên thấy còn có nhũng vấn đề sau đây cần tiếp tục trao đổi:
Nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ về nội hàm pháp luật bảo vệ môi trường nói chung, môi trương đô thị ở cấp quận, huyện thành phố Hà
Trang 146
Nội nói riêng Đề tài khoa học cũng sẽ đưa ra những quan niệm về hiệu quả
và hệ tiêu chí về hiệu qủa trong việc tổ chức thực hiện pháp luật về môi trường gắn với địa phương cụ thể
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu chung
Đề tài được nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường ở huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội để đưa pháp luật bảo vệ môi trường đô thị vào đời sống thực tiễn, đảm bảo cho quá trình
đô thị hóa diễn ra theo hướng phát triển bền vững
3.2 Mục tiêu cụ thể
- Làm rõ các khía cạnh lý luận chung về tổ chức thực hiện pháp luật và gắn lý luận chung về tổ chức thực hiện pháp luật với một lĩnh vực pháp luật chuyên ngành - Pháp luật bảo vệ môi trường đô thị
- Đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị ở huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, chỉ ra những tồn tại và tìm nguyên nhân của những tồn tại làm cơ sở cho việc xây dựng các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật môi trường đô thị ở huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội
- Xác định phương hướng và xây dựng hệ thống giải pháp, đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu qủa tổ chức thực hiện pháp luật môi trường ở huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội trong thời gian tới
4 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về tổ chức thực hiện pháp luật môi trường đô thị ở huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội trong bảo đảm ANPTT
5 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu ở huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội
- Về thời gian: Từ 2014 đến nay (năm ban hành Luật bảo vệ môi trường)
Trang 157
6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp tổng hợp và phân tích
dữ liệu Các dữ liệu được tổng hợp từ 2 nguồn:
Dữ liệu thứ cấp: là những dữ liệu đã được sàng lọc; tác giả sử dụng từ các báo, tạp chí, báo cáo địa phương về lĩnh vực thực hiện Pháp luật BVMT
Dữ liệu sơ cấp: là những dữ liệu cần sàng lọc, tác giả thực hiện phỏng vấn các chuyên gia, lãnh đạo địa phương và người dân địa phương để khẳng định các thông tin mà tác giả đưa vào luận văn Sau đó, tác giả thiết kế bảng hỏi và thực hiện điều tra xã hội học Trong nội dung này, tác giả sử dụng phần mềm excel để tổng hợp số liệu điều tra
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, Luận văn chia thành 3 chương
Trang 168
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ TRONG BẢO ĐẢM AN NINH
PHI TRUYỀN THỐNG
1.1 Lý luận chung về an ninh phi truyền thống
Nhà nước, độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, an ninh cộng đồng,
an ninh xã hội, trong đó an ninh con người là vấn đề hạt nhân, “con ngườilà trung tâm của chiến lược phát triển”1 Điều đó đã được minh chứng khi quan điểm của Đảng, Nhà nước ta xác định: “Sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng - an ninh”2, “Những vấn đề toàn cầu như an ninh tài chính, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh có nhiều diễn biến phức tạp Cộng đồng quốc tế phải đối phó ngày càng quyết liệt hơn với các thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống, đặc biệt là
an ninh mạng và các hình thái chiến tranh kiểu mới”3
Kể từ sau Tuyên bố chung ASEAN - Trung Quốc về hợp tác trên những lĩnh vực ANPTT, Việt Nam cùng các nước ASEAN đã triển khai với các nước đối thoại, đặc biệt là với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ,
EU, các tổ chức quốc tế trong hợp tác đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia cũng như các lĩnh vực an ninh phi truyền thống khác Mới đây nhất, ngay tại tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 28- 29 tổ chức ngày 7/9/2016 tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, ngoài hai Hội nghị Cấp cao 28 -29 của ASEAN, còn có một số hội nghị cấp cao liên quan gồm Hội nghị cấp cao ASEAN – Trung Quốc lần thứ 19; Hội nghị cấp cao ASEAN – Nhật Bản lần
Trang 179
thứ 19; Hội nghị cấp cao ASEAN – Hàn Quốc lần thứ 18; Hội nghị cấp cao ASEAN + 3 lần thứ 19; Hội nghị cấp cao ASEAN – Australia lần thứ 2; Hội nghị cấp cao ASEAN – Liên hợp quốc lần thứ 8; Hội nghị cấp cao ASEAN -
Ấn Độ lần thứ 14; Hội nghị cấp cao ASEAN – Mỹ lần thứ 4; Hội nghị cấp cao Đông Á lần thứ 11; Hội nghị cấp cao Mê Công – Nhật Bản lần thứ 8, các nhà lãnh đạo ASEAN cùng các đối tác“ đã trao đổi về các thách thức khu vực
và quốc tế, trong đó có các hoạt động khủng bố, cực đoan, tội phạm mạng, vấn đề biến đổi khí hậu và bệnh dịch…”, trong đó khẳng định một trong những bảo đảm chính cho ANPTT là sử dụng công cụ pháp luật
Trở lại với pháp luật thực định của nước ta trong bảo đảm ANPTT hiện nay, chúng ta nhận thấy hệ thống pháp luật đã ngày được hoàn thiện, tiêu biểu bao gồm các luật như:Hiến pháp 2013, Luật Quốc phòng năm 2005, Luật An ninh quốc gia năm 2004, Luật bảo vệ môi trường năm 2014, Luật phòng, chống thiên tai năm 2013, Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm
2010, Luật tài nguyên môi trường và hải đảo năm 2015,Luật đất đai năm
2013, Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989, Luật bảo hiểm y tế năm
2008, Luật khám, chữa bệnh năm 2009, Luật doanh nghiệp năm 2014, Luật phá sản năm 2005, Luật đầu tư năm 2014, Bộ luật hình sự năm 2015 (Hiệu lực thi hành từ ngày 01.7.2018), Luật xử lý vi pham hành chính năm 2012, mới đây nhất, tại Bộ luật hình sự năm 2015 đã bổ sung thêm 34 tội danh mới, trong đó có các tội danh đe dọa ANPTT như tội phạm xâm hại về môi trường
…đặc biệt theo Bộ luật hình sự mới sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại Sự hoàn thiện pháp luật trên ở nước ta trong thời gian qua rất đáng ghi nhận, một mặt là thể chế hóa quan điểm của Đảng ta, mặt khác thể hiện những cam kết quốc tế cũng như nội luật hóa những công ước, hiệp ước, hiệp định, nghị định thư mà Việt Nam đã tham gia ký kết hoặc phê chuẩn Tuy nhiên trước những diễn biến rất phức tạp, trước những “nhóm” thách thức ANPTT nổi cộm như môi trường, tội phạm công nghệ cao… đang
Trang 1810
hiện hữu, đe dọa an ninh truyền thống, đòi hỏi bên cạnh những yếu tố bảo đảm ANPTT như thể chế, hợp tác quốc tế, chia sẻ thông tin, tài trợ…thì yếu
tố pháp luật cần hết sức chú trọng
Quan niệm về ANPTT tương đối rộng lớn, đang là những thách thức,
đe dọa nghiêm trọng đến ổn định, trật tự xã hội Điều đó đòi hỏi tương ứng với mỗi mảng, mỗi lĩnh vực ANPTT cần hiện diện kịp thời, đầy đủ hệ thống quy phạm, trước hết và chủ yếu là quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm và kiểm soát có hiệu quả các mối đe dọa từ ANPTT
Lĩnh vực môi trường là nội hàm quan trọng của an ninh phi truyền thống, là nhân tố đe dọa chính đến an ninh cộng đồng Điều này đã được các nhà khoa học, các chuyên gia ANPTT như Thượng tướng, TS Nguyễn Văn Hưởng, Thượng tướng, PGS, TS Bùi Văn Nam, PGS, TS Hoàng Đình Phi xác định ở phương trình:
C1= Chi phí quản trị rủi ro
C2= Chi phí, hậu quả của khủng hoảng
C3= Chi phí khắc phục hậu quả
Như vậy, dù tiếp cận ở góc độ nào, môi trường cũng là một trong nhưng đối tượng quan trọng trong bảo đảm ANPTT, được các chủ thể hướng tới trong thực hiện chức năng quản lý nhà nước
1.2 Khái niệm tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị
1.2.1 Môi trường đô thị
Dưới chuyên ngành pháp luật và an ninh phi truyền thống, môi trường
là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn
Trang 1911
tại và phát triển của con người và sinh vật4 Nói cách khác, môi trường là tất
cả những gì có xung quanh con người, cung cấp cho con người điều kiện sống
và phát triển
Theo quan điểm chung của hầu hết các quốc gia trên thế giới “đô thị được hiểu là nơi tập trung dân cư đông đúc, là trung tâm của một vùng lãnh thổ với hoạt động kinh tế chủ yếu là công nghiệp và dịch vụ”5 Còn theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, đô thị được định nghĩa là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh
tế phi nông nghiệp6
Từ những khái niệm về môi trường và đô thị nêu trên, chúng ta có thể hiểu môi trường đô thị là môi trường sống, nơi cư trú và diễn ra các hoạt động
của dân cư đô thị Môi trường đô thị gồm rất nhiều thành phần khác nhau như
nhà ở, các công trình công cộng, hạ tầng giao thông, công viên, cây xanh, các công xưởng nhà máy, các tòa nhà thương mại, hạ tầng môi trường đô thị (cấp nước, cấp điện, xử lý nước thải, quản lý rác thải…)
Tiêu chuẩn và chỉ tiêu phân loại đô thị được quy định tại Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 và Thông tư số 34/2009/TT-BXD ngày 30/9/2009 của Bộ Xây dựng (gồm 6 tiêu chuẩn và 49 chỉ tiêu):
2.1 Tiêu chuẩn 1 (đánh giá chức năng đô thị):
a) Chỉ tiêu về vị trí và tính chất của đô thị
b) Chỉ tiêu kinh tế xã hội
2.2 Tiêu chuẩn 2 (quy mô dân số đô thị), trong đó:
a) Chỉ tiêu dân số toàn đô thị
b) Chỉ tiêu dân số nội thị
c) Chỉ tiêu tỷ lệ đô thị hoá
Trang 2012
2.3 Tiêu chuẩn 3 (mật độ dân số)
2.4 Tiêu chuẩn 4 (tỷ lệ lao động phi nông nghiệp)
2.5 Tiêu chuẩn 5 (về hệ thống công trình hạ tầng đô thị), trong đó: a) Các chỉ tiêu về nhà ở
b) Chỉ tiêu về công trình công cộng cấp đô thị
c) Chỉ tiêu về hệ thống giao thông
d) Chỉ tiêu về hệ thống cấp nước
e) Chỉ tiêu về hệ thống thoát nước
g) Chỉ tiêu về cấp điện và chiếu sáng đô thị
h) Chỉ tiêu về hệ thống thông tin, bưu chính viễn thông
i) Chỉ tiêu về cây xanh, thu gom xử lý chất thải và nhà tang lễ
2.6 Tiêu chuẩn 6 (về kiến trúc cảnh quan đô thị), trong đó:
a) Chỉ tiêu về quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc đô thị
b) Các chỉ tiêu về khu đô thị mới
c) Chỉ tiêu về tuyến phố văn minh đô thị
d) Chỉ tiêu về không gian công cộng
e) Chỉ tiêu về công trình kiến trúc tiêu biểu
Bảng 1.1 Tổng hợp các tiêu chuẩn phân loại đô thị (7
1 Dân số toàn đô thị (1000 người) 1,4-2 2
2 Dân số nội thị (1000 người) 2,8-4 4
7
Thông tư số 34/2009/TT-BXD ngày 30/9/2009 của Bộ Xây dựng Quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ về việc phân loại đô thị
Trang 2113
3 Tỷ lệ đô thị hóa (%) 2,8-4 4
1 Mật độ dân số (người/km2) 3,5-5 5
IV Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp 3,5-5 5
1 Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp (%) 3,5-5 5
TT Các yếu tố đánh giá Thang điểm Điểm tối đa
7 Hệ thống thông tin, bưu chính viễn
8 Cây xanh, thu gom xử lý chất thải và
1 Quy chế quản lý kiến trúc đô thị 1,4-2 2
2 Khu đô thị mới kiểu mẫu 1,4-2 2
3 Tuyến phố văn minh đô thị 1,4-2 2
4 Không gian công cộng 1,4-2 2
5 Tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến
Trang 221.2.2 Pháp luật bảo vệ môi trường đô thị
Theo khoản 3 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014, hoạt động bảo
vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành
Bảo vệ môi trường đô thị là một nội dung của công tác bảo vệ môi
trường, nên chúng ta có thể hiểu pháp luật bảo vệ môi trường đô thị là Pháp
luật về bảo vệ môi trường đô thị là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các mối quan hệ giữa các chủ thể trong hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế những tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; bảo vệ cảnh quan môi trường đô thị và bảo vệ đa dạng sinh học
Pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị gồm những nội dung như: Các quy định về bảo vệ môi trường đô thị nhằm ngăn ngừa, hạn chế những tác động xấu đến môi trường đô thị Đó là các quy định pháp luật về quy hoạch môi trường đô thị, pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị; các quy định pháp
8
Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ về việc phân loại đô thị
Trang 2315
luật về yêu cầu chung về bảo vệ môi trường đối với đô thị, bảo vệ môi trường nơi công cộng, bảo vệ môi trường đối với các hộ gia đình tại đô thị và các quy định khác của pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị Ví dụ, pháp luật quy định quy hoạch bảo vệ môi trường đô thị bao gồm hệ thống các công trình kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường như hệ thống công trình thu gom, xử lý nước thải tập trung; hệ thống tiêu thoát nước mưa; hệ thống cây xanh, vùng nước… nhằm hạn chế, ngăn ngừa những tác động xấu đến môi trường đô thị như hiện tượng sự cố môi trường, suy thoái môi trường, hạn chế các chất gây ô nhiễm môi trường tại các đô thị…; các quy định về yêu cầu đối với bảo vệ môi trường đô thị như yêu cầu về bảo vệ môi trường nơi công cộng, yêu cầu về bảo vệ môi trường đối với các hộ gia đình, yêu cầu đối với tổ chức tự quản bảo vệ môi trường tại các đô thị nhằm giữ cho môi trường đô thị trong lành, sạch đẹp, khắc phục, giảm thiểu ô nhiễm môi trường đô thị như bỏ rác vào đúng nơi quy định
Cụ thể gồm các nhóm sau:
+ Các quy định pháp luật về quy hoạch bảo vệ môi trường đô thị
Quy hoạch bảo vệ môi trường đô thị là một trong những biện pháp chính để ngăn chặn, phòng ngừaa ô nhiễm môi trường tại các đô thị Công tác quy hoạch bảo vệ môi trường đô thị ở nước ta đang nhận được sự quan tâm lớn và từng bước được hiện diện trong pháp luật Hiện tại theo quy định, quy định quy hoạch bảo vệ môi trường đô thị phải là một trong nhưng phần chính của quy hoạch đô thị
Trong các yêu cầu đối với quy hoạch đô thị thì bảo vệ môi trường là một yêu cầu quan trọng cần được các cơ quan, tổ chức, cá nhân tuân thủ khi tiến hành lập quy hoạch, thực hiện các hoạt động liên quan đến quy hoạch đô thị
Nội dung quy hoạch bảo vệ môi trường đô thị gồm các quy hoạch về đất đai cho xây dựng kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường và các hệ thống công trình kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường, cụ thể là:
Trang 2416
Hệ thống công trình thu gom, xử lý nước thải tập trung; hệ thốngtiêu thoát nước mưa; hệ thống cơ sở thu gom, tập kết, xử lý, tái chế chất thải rắn Khu quy hoạch đô thị cần xác định tổng lượng chất thải, vị trí, quy mô trạm trung chuyển, cơ sở xử lý chất thải rắn, công trình phụ trợ, khoảng cách ly vệ sinh của cơ sở xử lý chất thải rắn; xác định tổng lượng nước thải, vị trí và quy
mô công trình thoát nước gồm mạng lưới tuyến ống thoát, nhà máy, trạm xử
lý nước thải, khoảng cách ly vệ sinh và hành lang bảo vệ công trình thoát nước thải đô thị
Hệ thống cấp nước phục vụ người dân, sản xuất nông nghiệp bao gồm các vấn đề về chất lượng nguồn nước cấp; vị trí và quy mô các công trình cấp nước gồm mạng lưới tuyến truyền tải và phân phối, nhà máy, trạm làm sạch, phạm vi bảo vệ nguồn nước và hành lang bảo vệ công trình cấp nước
Hệ thống khu vui chơi công cộng, thể thao giải trí và các công trình vệ sinh chung khác
cơ quan quản lý theo quy định
+ Một số các quy định của pháp luật hiện hành về yêu cầu chung bảo vệ môi trường đô thị, bảo vệ môi trường nơi những nơi công cộng và
Trang 2517
bảo vệ môi trường trong lành đối với các hộ gia đình sinh sống tại đô thị
Bảo vệ môi trường là trách nhiệm chung của các chủ thể, là tất yếu của tất cả các ngành nghề, lĩnh vực, đối với mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công đồng Riêng đối với bảo vệ môi trường đô thị, pháp luật nước ta
đã quy định nhiều yêu cầu về bảo vệ môi trường trong lành đối với đô thị, yêu cầu bảo vệ môi trường nơi sinh hoạt chung và yêu cầu bảo vệ môi trường đối với các hộ gia đình sinh sống tại đô thị
Các yêu cầu về bảo vệ môi trường đối với đô thị
Thứ nhất, bảo vệ môi trường đô thị thực hiện theo nguyên tắc phát triển
bền vững gắn với việc duy trì các yếu tố tự nhiên, văn hóa, lịch sử và bảo đảm
tỷ lệ không gian xanh theo quy hoạch Điều này đảm bảo việc bảo vệ môi trường đô thị phù hợp với mục tiêu bảo vệ môi trường quốc gia
Thứ hai, có kết cấu hạ tầng nhằm bảo vệ môi trường tổng thể và đồng
bộ, phù hợp với quy hoạch thiết kế của đô thị, khu dân cư tập trung đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt Như đã trình bày, quy hoạch thiết kế bảo vệ môi trường là một nội dung chính yếu của quy hoạch đô thị hiện nay, bởi vậy phần kết cấu hạ tầng về bảo vệ môi trường đô thị cần phải phù hợp với thiết
kế quy hoạch đô thị đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Theo đó, các đô thị đều phải có hệ thống công trình thu gom, xử lý nước thải tập trung; hệ thống tiêu thoát nước mưa; hệ thống cơ sở thu gom, tập kết, xử
lý, tái chế chất thải rắn; hệ thống cấp nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất; hệ thống công viên, khu vui chơi, giải trí, công trình vệ sinh công cộng; hệ thống cây xanh, vùng nước và khu vực mai táng được xây dựng đảm bảo tuân theo đúng quy hoạch đã được phê duyệt
Thứ ba, có công cụ, phương tiện tiên tiến, địa điểm rõ ràng để phân loại
tại nguồn, thu gom, tập trung chất thải rắn sinh hoạt của cộng đồng phù hợp với khối lượng, chủng loại chất thải và đủ khả năng tiếp nhận chất thải đã được phân loại tại nguồn từ các hộ gia đình trong khu dân cư Có thể khẳng
Trang 2618
định lượng chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị, nhất là các trung tâm đô thi lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Vũng Tàu v.v đang có xu hướng phát sinh ngày càng tăng mạnh Tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại các đô thị loại III và một số đô thị loại IV là các trung tâm kinh tế của các địa phương trên cả nước tính đến nay lên đến 6,5 triệu tấn/năm Đô thị có lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh lớn nhất là Thành phố Hồ Chí Minh khoảng gần 6.000 tấn mỗi ngày (dân số hiện đang sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 20.000.000 người), Hà Nội khoảng hơn 2.000 tấn/ngày Theo Dự báo của cơ quan quản lý Trung ương, đến năm
2017, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt của các đô thị ở nước ta khoảng gần
40 nghìn tấn/ngày và đến 2020 là trên 60 nghìn tấn/ngày9
Thứ tư, bảo đảm yêu cầu về cảnh quan đô thị xanh, sạch đẹp, đảm bảo
nơi vệ sinh môi trường; bố trí lắp đặt công trình vệ sinh nơi công cộng
Thứ năm, đối với khu dân cư phân tán phải có địa điểm, hệ thống thu
gom, xử lý rác thải; có hệ thống cung cấp nước sạch và các hoạt động phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp và an toàn
Yêu cầu về bảo vệ môi trường nơi công cộng
- Cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có trách nhiệm thực hiện các
quy định về bảo vệ môi trường và giữ gìn vệ sinh nơi công cộng; phân loại, chuyển rác thải vào thùng chứa rác công cộng hoặc đúng nơi quy định tập trung rác thải; không để vật nuôi gây mất vệ sinh nơi công cộng
- Tổ chức, cá nhân quản lý công viên, khu vui chơi, giải trí, khu du lịch, chợ, nhà ga, bến xe, bến tàu, bến phà và khu vực công cộng khác có trách nhiệm sau:
+ Bố trí nhân lực thu gom chất thải, làm vệ sinh môi trường trong phạm
vi quản lý;
9
http://www.moitruongdothidaklak.com.vn/t.aspx?id=629
Trang 2719
+ Bố trí công trình vệ sinh công cộng; phương tiện, thiết bị thu gom chất thải đáp ứng nhu cầu giữ gìn vệ sinh môi trường;
+ Niêm yết quy định về giữ gìn vệ sinh nơi công cộng
Yêu cầu bảo vệ môi trường đối với các hộ gia đình
- Giảm thiểu, phân loại tại nguồn, thu gom và chuyển rác thải sinh hoạt đến đúng nơi quy định
- Giảm thiểu việc xả nước thải sinh hoạt đảm bảo đúng nơi quy định
- Không được phát tán khí thải, gây tiếng ồn, độ rung và tác động khác vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến cộng đồng dân cư xung quanh
- Nộp đủ và đúng thời hạn phí bảo vệ môi trường; chi trả cho dịch vụ thu gom, xử lý chất thải theo quy định của pháp luật;
- Tham gia hoạt động bảo vệ môi trường công cộng và tại khu dân cư
- Có công trình vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm bảo đảm
vệ sinh, an toàn
Tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường đô thị
- Nhà nước khuyến khích cộng đồng dân cư thành lập tổ chức tự quản
về bảo vệ môi trường nơi mình sinh sống
- Tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường được thành lập và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, cộng đồng trách nhiệm, tuân theo quy định của pháp luật và thực hiện các nhiệm vụ sau:
+ Kiểm tra, đôn đốc hộ gia đình, cá nhân thực hiện quy định về giữ gìn
vệ sinh và bảo vệ môi trường;
+ Tổ chức thu gom, tập kết và xử lý chất thải;
+ Giữ gìn vệ sinh môi trường tại khu dân cư và nơi công cộng;
+ Xây dựng và tổ chức thực hiện hương ước về bảo vệ môi trường; tuyên truyền, vận động nhân dân xóa bỏ hủ tục, thói quen mất vệ sinh, có hại cho sức khỏe và môi trường;
Trang 2820
+ Tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường của
cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn
- UBND cấp xã quy định về tổ chức, hoạt động và tạo điều kiện để tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường hoạt động có hiệu quả
Vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường đô thị
Pháp luật xã hội chủ nghĩa nói chung, pháp luật của Nhà nước ta nói
riêng có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội Có thể xem xét vai trò của pháp luật trên các góc độ khác nhau, trên các mối quan hệ khác nhau như quan hệ giữa pháp luật với kinh tế, chính trị, nhà nước, đạo đức, phong tục tập quán, với ý thức xã hội, với các tổ chức xã hội Ngày nay, trong công cuộc xây dựng, quản lý đất nước, pháp luật lại càng có vai trò to lớn hơn nữa Vai trò đó được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau đây:
- Pháp luật là công cụ chủ yếu để thiết lập, củng cố, duy trì nề nếp, trật
- Pháp luật có vai trò giáo dục mạnh mẽ
- Ngoài ra pháp luật xã hội chủ nghĩa còn có vai trò góp phần tạo dựng những quan hệ mới; tạo ra môi trường ổn định cho việc thiết lập các mối quan
hệ hợp tác và phát triển
Từ vai trò chung của pháp luật, vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường
đô thị được thể hiện:
Trang 2921
Thứ nhất, pháp luật bảo vệ môi trường đô thị là cơ sở pháp lý quy định
các quy tắc xử sự cho các cư dân đô thị khi tác động đến môi trường xung quanh họ Từ đó ngăn ngừa, hạn chế những tác động xấu đối với môi trường
đô thị Trong thực tế khi các chủ thể tham gia các quan hệ xã hội, quan hệ pháp luật thường coi trọng lợi ích cá nhân, xem nhẹ lợi ích chung của cộng đồng, bỏ qua nghĩa vụ phải thực hiện với môi trường và không tự giác thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường đô thị Khi đó, chế tài với tư cách là các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được quy định trong pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng trong hiện tại và lợi ích tương lai lâu dài của xã hội Các chế tài pháp luật được sinh ra không chỉ có chức năng trừng trị vi phạm pháp luật môi trường, ngăn ngừa, giáo dục cải tạo người vi phạm mà còn cảnh báo, răn đe đến toàn xã hội để mọi tổ chức
và cá nhân đều có nghĩa vụ tự giác chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, qua đó phòng ngừa và hạn chế những tác động không tốt
do con người gây ra cho môi trường đô thị hiện đại Bên cạnh đó, theo quy định hiện hành, các biện pháp cưỡng chế còn được áp dụng cho các tổ chức
và cá nhân khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị như kỷ luật công vụ, kỷ luật hành chính, truy cứu hình sự kể cả pháp nhân thương mại, nhằm trừng trị đối tượng vi phạm, đồng thời răn đe các đối tượng khác không thực hiện các hành vi xam phạm ô nhiễm môi trường đô thị
Thứ hai, quy định bảo vệ môi trường đô thị được xác định là công cụ
để phòng ngừa ô nhiễm, tái tạo và cải thiện môi trường đô thị thông qua việc tạo ra cơ chế hoạt động cho các chủ thể cũng như đòi hỏi ở trách nhiệm của các cá nhân trong việc bảo vệ môi trường sống Nhờ có quy định của pháp luật, nhà nước triển khai và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường với các nội dung chính yếu như: Kiểm soát ô nhiễm, sự cố môi trường; đánh giá tác động môi trường và đánh giá môi trường chiến lược; kiểm soát ô nhiễm nguồn nước, không khí, suy thoái nguồn đất, nguồn gen và
Trang 3022
kiểm soát ô nhiễm đối với các hoạt động có ảnh hưởng đặc biệt tới môi trường; Bộ Tài nguyên và Môi trường với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước sẽ hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị; các hộ gia đình có nghĩa vụ thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường đô thị như thu gom, chuyển chất thải sinh hoạt đến đúng nơi quy định, xả nước thải vào hệ thống thu gom nước thải theo quy định; tham gia hoạt động vệ sinh môi trường đường phố, thôn làng, ngõ xóm, nơi sinh hoạt chung và hoạt động tự quản về bảo vệ môi trường đô thị đang dần trở thành thói quen; thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường trong hương ước làng xóm, các bản cam kết bảo vệ môi trường trong các cơ quan, đơn vị và ở các đại phương
Thứ ba, xuất phát từ vai trò của mình, pháp luật về bảo vệ môi trường
đô thị là căn cứ pháp luật cho công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lí các hành vi vi phạm Việc thanh tra, giám sát cần được xây dựng có kế hoạch, được thực hiện thường xuyên theo tháng, quý, định kì kiểm tra không báo trước dựa vào các quy định do nhà nước ban hành Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với hành vi vi phạm được áp dụng cho mọi đối tượng cả trong và ngoài nước có những hành vi vô ý hay cố ý vi phạm các quy định nhà nước trong lĩnh vực môi trường
VD: Theo khoản 9 điều 141 luật bảo vệ môi trường, Bộ trưởng bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm: Kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật
Tóm lại, các quy định về môi trường có chức năng rất quan trọng đối với công cuộc bảo vệ môi trường đô thị thông qua việc điều chỉnh tất cả các nội dung nhằm đạt được các mục đích đề ra về bảo vệ môi trường đô thị như: giữ cho môi trường đô thị luôn trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế những ảnh hưởng xấu đến môi trường đô thị, xử lý kịp thời sự cố môi trường
Trang 3123
tại các đô thị; giữ gìn cảnh quan môi trường đô thị; khắc phục nhanh chóng và cải thiện môi trường đô thị bị ô nhiễm do sự phát triển “nóng” mang lại Với các lý do như vậy pháp luật với tư cách là công cụ quản lý nhà nước sẽ phát huy cao độ vai trò của mình trong quá trình thực hiện
1.2.3 Tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị
+ Tổ chức thực hiện pháp luật
Tổ chức thực hiện pháp luật là mọi hoạt động nhằm đưa pháp luật vào cuộc sống, biến quy định pháp luật trở thành hành vi của các chủ thể Tổ chức thực hiện pháp luật được xem là công đoạn nối liền và tiếp nối quá trình xây dựng pháp luật Xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật được xem
là hai mặt hoạt động cơ bản của một nhà nước
Cách tiếp cận như vậy về tổ chức thực hiện pháp luật cũng tương đồng với những lý luận chung về đời sống của một văn bản pháp luật từ góc nhìn của khoa chính sách công Theo lý luận về chính sách công được thừa nhận rộng rãi ở Việt Nam và các nước trên thế giới, đời sống của một chính sách công thể hiện trong các văn bản pháp luật được cấu trúc gồm 4 phần chính là khởi sự chính sách, hoạch định/ban hành chính sách, thực thi chính sách (hay còn gọi là thi hành chính sách công) và đánh giá chính sách Theo lý luận về chính sách công được thừa nhận rộng rãi ở Việt Nam và các nước trên thế giới, thực thi chính sách công chính là quá trình đưa chính sách công vào thực tiễn đời sống xã hội nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách Chính thông qua hoạt động thi hành chính sách này mà mục tiêu của chính sách (thể hiện trong các văn bản pháp luật) được hiện thực hóa trong đời sống Bản thân việc thi hành chính sách cũng là công đoạn kiểm chứng lại tính đúng đắn của chính sách, qua đó góp phần hoàn thiện chính sách đã ban hành
Để làm rõ nội dung của khái niệm “tổ chức thực hiện pháp luật”, trước
hết, cần giải thích về ngữ nghĩa và cách vận dụng thuật ngữ “tổ chức” và
Trang 3224
nhóm từ “thực hiện pháp luật”, hai bộ phận ngôn ngữ chính được sử dụng để
thể hiện khái niệm này
Một tổ chức (organization) được định nghĩa là có từ hai người trở lên cùng làm việc, cùng phối hợp với nhau để nhằm đạt mục đích Trong khi đó,
tổ chức (organize) là một quá trình đề ra những sự liên hệ chính thức giữa những con người và tài nguyên để đi đến mục tiêu Chức năng tổ chức là sự phối hợp các nỗ lực qua việc thiết lập một cơ cấu về cách thực hiện công việc trong tương quan với quyền hạn Nói một cách khác, chức năng tổ chức là tiến trình sắp xếp các công việc tương đồng thành từng nhóm, để giao phó cho từng khâu nhân sự có khả năng thi hành, đồng thời phân quyền cho từng khâu nhân sự tùy theo công việc được giao phó Qua cách định nghĩa trên, chúng ta thấy những cụm từ quan trọng trong chức năng tổ chức là “sắp xếp công việc”, “khâu nhân sự”, và “phân quyền”
Nhóm từ “thực hiện pháp luật” được sử dụng trong khoa học và thực tiễn pháp lý với một số nghĩa khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích và yêu cầu
đặt ra Với mục đích nghiên cứu, so sánh và phân biệt các hình thức thực hiện
pháp luật, gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ và cách thức thể hiện hành
vi của chủ thể, trong lý luận chung về nhà nước và pháp luật, thi hành pháp luật được hiểu theo nghĩa tương đồng với nghĩa của chấp hành pháp luật và được xem như là một hình thức thực hiện pháp luật, được đặc trưng bằng việc chủ thể pháp luật phải thực hiện các nghĩa vụ bắt buộc bằng hành động tích cực10 Hình thức này khác với hình thức sử dụng pháp luật, là hình thức thực hiện quyền, chủ thể pháp luật có thể lựa chọn cách ứng xử phù hợp, có thể thực hiện hoặc không thực hiện Hình thức này cũng được phân biệt với hình thức áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước và hình thức tuân thủ pháp luật Tuy nhiên, đây chỉ là cách tiếp cận và giải quyết về mặt lý thuyết vấn đề các
10
Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2011, Trang 185
Trang 3325
hình thức thực hiện pháp luật, còn trong thực tiễn của đời sống pháp luật, nhóm từ thi hành pháp luật thường được sử dụng với nghĩa rộng, có tính phổ biến và có nghĩa tương đồng với khái niệm thực hiện pháp luật
Trong Đại Từ điển Tiếng Việt thì thuật ngữ “thực hiện” là làm cho trở thành cái có thật bằng hoạt động cụ thể; làm theo thủ tục, trình tự nhất định11
Đối chiếu vào lĩnh vực pháp luật và thực tiễn của đời sống pháp luật, xét trên mọi khía cạnh đều cho thấy, các ý nghĩa được hàm chứa trong thuật ngữ “thực hiện” phản ánh tính chất và yêu cầu của pháp luật, đều là các quá trình, hoạt động để đưa pháp luật vào cuộc sống và hiện thực hoá nó
+ Tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị
Tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị là tổng hợp các nội dung, biện pháp của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền sử dụng các công cụ pháp luật như Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư, Quyết định nhằm triển khai pháp luật bảo vệ môi trường đô thị vào cuộc sống, bảo đảm cho pháp luật bảo vệ môi trường đô thị được thực hiện nghiêm chỉnh, đầy đủ, nghiêm túc, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên địa bàn
1.3 Chủ thể, nội dung của tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường
đô thị
1.3.1 Chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị
Xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật là các yếu tố cấu thành cơ bản để duy trì sự tồn tại của đời sống pháp luật; đồng thời, thể hiện sống động sự phân công quyền lực nhà nước theo các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước pháp quyền Các yếu tố này cùng tồn tại, tác động lẫn nhau, bổ sung cho nhau và ảnh hưởng lẫn nhau Công tác
tổ chức thực hiện pháp luật trong cuộc sống chủ yếu thuộc về trách nhiệm và
11
Đại Từ điển Tiếng Việt, GS Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Thành phố
Hồ Chí Minh, 2010, Trang 1.555
Trang 34Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
Tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp
lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ quốc hội
Thủ tướng Chính phủ có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
Lãnh đạo công tác của Chính phủ; lãnh đạo việc xây dựng chính sách
và tổ chức thi hành pháp luật;
Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; đình chỉ việc thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ;
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ là thành viên Chính phủ và là người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ, lãnh đạo công tác của bộ, cơ quan ngang bộ; chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực được phân công; tổ chức thi hành và theo dõi việc thi hành pháp luật liên quan đến ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc
Trang 3527
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành văn bản pháp luật để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó và xử lý các văn bản trái pháp luật theo quy định của luật
Chính quyền địa phương
Chính quyền địa phương tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật tại địa phương; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên
+ Hội đồng nhân dân: quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân
Uỷ ban nhân dân: tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao
- Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ
Tư pháp Theo đó, Bộ Tư pháp được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về theo dõi thi hành pháp luật trong phạm vi cả nước; hướng dẫn, đôn đốc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong công tác theo dõi, đánh giá, báo cáo về tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi cả nước;
- Nghị định số 16/2009/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2009 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 8 Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Theo đó, Sở
Tư pháp có chức năng tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc theo dõi thi hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn cấp tỉnh;
- Chỉ thị số 636/CT-TTg ngày 20 tháng 5 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về triển khai thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Trang 3628
năm 2008 và các biện pháp thi hành Luật giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tài chính, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ hướng dẫn định mức chi cho hoạt động theo dõi chung về thi hành pháp luật
- Thông tư số 03/2010/TT-BTP ngày 03 tháng 3 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật
1.3.2 Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị
(1) Ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật
(2) Ban hành kế hoạch và triển khai các biện pháp thực hiện, trong đó
có hoạt động thông tin, phổ biến tuyên truyền pháp luật;
(3) Tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật; (4) Đảm bảo các điều kiện thi hành như nguồn lực, tài chính, tổ chức bộ máy, cán bộ;
(5) Giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân, tổ chức
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị ở huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội
Tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị tốt hay không tốt, hiệu quả cao hay thấp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó các yếu tố cơ bản là:
Thứ nhất, chất lượng hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường nói chung;
trực tiếp, chủ yếu là pháp luật bảo vệ môi trường đô thị nói riêng Đây là yếu
tố quan trọng trước tiên để “thông” cho việc tổ chức thực hiện pháp luật bảo
vệ môi trường đô thị có hiệu quả Không có pháp luật thì không có công cụ để thực hiện, để quản lý, không có hệ thống pháp luật có chất lượng thì cũng không tổ chức thực hiện có hiệu quả nhất Chất lượng hệ thống pháp luật
không thuộc trách nhiệm của UBND cấp huyện như huyện Đan Phượng,
thành phố Hà Nội, đây chỉ là cấp tổ chức thực hiện pháp luật
Thứ hai, năng lực của chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi
trường đô thị Đây là yếu tố ảnh hưởng quan trọng nhất đến việc tổ chức thực
Trang 3729
hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị Khái niệm “năng lực” đã được nhiều ngành khoa học tiếp cận với những cấp độ và khía cạnh khác nhau Theo nghĩa thông thường, năng lực là khả năng thực tế mà mỗi con người có được thông qua trau dồi học vấn, hoạt động thực tiễn, tích luỹ kinh nghiệm, tự giáo dục và tự đào tạo để đáp ứng yêu cầu của công việc được giao nhằm giải quyết những nhiệm vụ hay xử lý những tình huống đặt ra trong đời sống hàng ngày, trong công tác
Theo Từ điển tiếng Việt “Năng lực là phẩm chất sinh lý và tâm lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [63, tr.656] Dưới góc độ tâm lý học: Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao
Về mặt khoa học quản lý, thì “năng lực nói chung chính là các khả năng đặc biệt của con người Những khả năng thực hành mà một người thu nhận được với thời gian sẽ trở thành năng lực của người đó” Năng lực có liên hệ chặt chẽ với kỹ năng, năng lực đạt được thông qua phát triển trình độ chuyên môn, còn kỹ năng thì thông qua công việc; khi mất đi một kỹ năng trong một lĩnh vực cụ thể nào thì năng lực cũng sẽ dễ mất theo, hoặc rất khó khăn khi thực hiện công việc trong lĩnh vực đó Mỗi con người có thể tích hợp trong mình nhiều năng lực tiềm ẩn, những năng lực tiềm ẩn đó được bộc lộ ra hay không, điều đó tùy thuộc vào điều kiện chủ quan và khách quan Khi bàn về năng lực người ta còn nhận thấy giữa năng lực với tư chất, với tri thức và kỹ năng, kỹ xảo, với xu hướng của con người có mối liên hệ biện chứng Năng lực là yếu tố trước tiên và quan trọng nhất cùng với quyền lực của pháp luật hợp thành sức mạnh tổng hợp để đội ngũ can bộ, công chức có thể thực thi công vụ nhà nước
Chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị bao gồm các cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
Trang 3830
Nhưng chủ thể trực tiếp, chủ yếu là các cơ quan hành chính nhà nước Theo quy định của Hiến pháp về Chính phủ, về Ủy ban nhân dân các cấp, quy định của Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân và mới đây là Luật Tổ chức chính quyền địa phương thì Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp có chức năng, nhiệm
vụ tổ chức thực hiện pháp luật
Thứ ba, trình độ phát triển của nền kinh tế thị trường Đây là yếu tố
kinh tế, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị Vì yếu tố này tác động đến pháp luật, đến tổ chức hành chính, đến con người với vai trò là cơ sở hạ tầng của đời sống xã hội
Thứ tư, ảnh hưởng của tư tưởng tâm lý xã hội thần dân Đó là tư tưởng
tâm lý coi nhà nước là chủ thể , người dân là yếu tố phụ thuộc, mọi thứ đều do nhà nước ban phát, mạng lại, người dân thụ động trông chờ vào nhà nước, đó
là tâm lý coi thường pháp luật
Thứ bảy, sự phối hợp giữa các cơ quan hành chính nhà nước với thị
trường và xã hội (xã hội công dân) trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị
Thứ tám, ảnh hưởng của tư duy - Tư duy tuyệt đối hóa vai trò của nhà
nước đẫn tới tâm lý trông chờ, ỷ nại vào Nhà nước
Thứ chín, điều kiện vật chất đảm bảo tổ chức thực hiện pháp luật bảo
vệ môi trường đô thị như bảo đảm nguồn lực (tài chính, con người) phương tiện kỹ thuật cho hoạt động khảo sát, điều tra, xây dựng quy hoạch, kế hoạch, phổ biến giáo dục pháp luật Trong các yếu tố trên, yếu tố này đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng tổ chức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường của huyện Hoài Đức do nguồn lực về tài chính còn nhiều khó khăn so với mặt
bằng chung của các quận, huyện khác của thành phố Hà Nội
Trang 39độ, trách nhiệm của đội ngũ công chức
Bàn về các tiêu chí đo lường, đánh giá văn hóa pháp luật và hiệu quả pháp luật của một quốc gia, TS Nguyễn Sỹ Dũng và PGS-TS Phạm Duy Nghĩa đã chia thành các tiêu chí đánh giá luật trên giấy và các tiêu chí đánh giá luật trong hành vi (còn gọi là thực hiện pháp luật) Các tiêu chí đánh giá thực hiện pháp luật bao gồm việc thực hiện pháp luật phải đạt được các mục tiêu chính sách đề ra; chi phí thực hiện pháp luật phải hợp lý; đảm bảo tôn trọng quyền con người; việc tổ chức thực hiện pháp luật phải phù hợp với hệ thống pháp luật; đảm bảo
sự công bằng, nhất quán và nghiêm minh; công khai, minh bạch
Phân tích đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật của cơ quan nhà nước, GS-TS Trần Ngọc Đường nêu lên 4 yếu tố: Phương hướng, nội dung và kết quả đạt được về tổ chức và hoạt động thực hiện pháp luật của các cơ quan nhà nước và cán bộ công chức có thẩm quyền; Chi phí về thời gian để tiến hành tổ
12
“Tiêu chí đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật: Phải xuất phát từ thực tế” Hội thảo về xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật của cơ quan nhà nước
Trang 4032
chức các hoạt động thực hiện pháp luật; Cách thức hoạt động thực hiện pháp luật của các cơ quan nhà nước và cán bộ nhân viên nhà nước có thẩm quyền; Các chi phí về cán bộ, kỹ thuật, xã hội và tài chính để thi hành và đảm bảo thực hiện pháp luật của cơ quan nhà nước Điều quan trọng là “phải xem xét kết quả đạt được trên thực tế trong mối quan hệ với hiệu quả về tổ chức và hoạt động thực hiện pháp luật của cơ quan nhà nước”
Theo TS Lê Đăng Doanh, để đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật, người ta thường xét đến các điều kiện, tiền đề cần thiết trong thực thi pháp luật và để đo lường, người ta có thể sử dụng các tiêu chí định tính và định lượng Các điều kiện cần thiết là sự hợp lý và đầy đủ của các quy định pháp luật, các điều kiện vật chất và tinh thần, ý thức của người dân và chế tài phải
đủ sức răn đe, chi phí về thời gian và tiền bạc
Theo tác giả Ngô Duy Long (13), tiêu chí đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật bao gồm việc thực hiện pháp luật phải đạt được các mục tiêu chính sách đề ra; chi phí thực hiện pháp luật phải hợp lý; đảm bảo tôn trọng quyền con người; việc tổ chức thực hiện pháp luật phải phù hợp với hệ thống pháp luật; đảm bảo sự công bằng, nhất quán và nghiêm minh; công khai, minh bạch Việc đo hiệu lực và hiệu quả thực hiện pháp luật phải dựa trên cả yếu tố định tính và định lượng
Nếu xét đến tiêu chí đánh giá tình hình thi hành pháp luật thì hiện nay, hoạt động thi hành pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện trên các phương diện hoạt động chính là:
(1) Ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật; kiểm tra, xử lý văn bản; (2) Ban hành kế hoạch và triển khai các biện pháp thực hiện, trong đó
có hoạt động thông tin, phổ biến tuyên truyền pháp luật;
13
“Một số suy nghĩ bước đầu về xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật” http://ngoduylong.esy.es/mot-suy-nghi-buoc-dau-ve-xay-dung-bo-tieu-chi-danh-gia-hieu-qua-thi- hanh-phap-luat/