1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam theo cơ chế tự chủ

116 140 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn đáp ứng các yêu cầu cơ bản. Học viên hoàn thành luận án theo quyết nghị của Hội đồng.Luận văn đáp ứng các yêu cầu cơ bản. Học viên hoàn thành luận án theo quyết nghị của Hội đồng.Luận văn đáp ứng các yêu cầu cơ bản. Học viên hoàn thành luận án theo quyết nghị của Hội đồng.Luận văn đáp ứng các yêu cầu cơ bản. Học viên hoàn thành luận án theo quyết nghị của Hội đồng.Luận văn đáp ứng các yêu cầu cơ bản. Học viên hoàn thành luận án theo quyết nghị của Hội đồng.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn Thạc sỹ quản lý kinh tế: “Hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam” là do chính tôi thực hiện dưới

sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Đức Hiệp Các số liệu, tài liệu, dẫn chứng mà tôi

sử dụng trong luận văn do chính tôi thu thập, xử lý mà không có sự sao chép không hợp lệ nào

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và bản luận văn này, bên cạnh những nỗ lực của bản thân, tác giả đã nhận được sự quan tâm, động viên, giúp đỡ tận tình của các thầy cô, gia đình và bạn bè trong suốt quá trình học tập, công tác

Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:

- Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Đức Hiệp - người Thầy đã

hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này

- Các thầy cô giáo Khoa Kinh tế Chính trị - Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, các thầy cô giáo đã giảng dạy cho tác giả trong thời gian tham gia khóa học tại Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội

- Ban lãnh đạo Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ và cung cấp tài liệu cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Mặc dù đã rất tâm huyết để hoàn thành Luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của bản thân, tuy nhiên Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô và bạn đọc để tác giả có thể hoàn thiện tốt hơn luận văn của mình

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả

Nguyễn Thái Hƣng

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Danh mục chữ viết tắt i

Danh mục bảng biểu ii

Danh mục hình vẽ iii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN BỘ MÁY TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA TỔ CHỨC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CÔNG LẬP THEO CƠ CHẾ TỰ CHỦ 4

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4

1.2 Cơ sở lý luận về bộ máy tổ chức quản lý 7

1.2.1 Khái niệm về quản lý, bộ máy quản lý và chức năng tổ chức trong quản lý 7

1.2.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý 10

1.2.3 Cơ chế phối hợp hoạt động của bộ máy quản lý 14

1.2.4 Các nguyên tắc tổ chức bộ máy quản lý 15

1.2.5 Một số mô hình bộ máy tổ chức quản lý 17

1.3 Hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý của tổ chức khoa học công nghệ công lập theo cơ chế tự chủ 21

1.3.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về cơ chế tự chủ của tổ chức khoa học công nghệ công lập 21

1.3.2 Hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý của tổ chức khoa học công nghệ theo cơ chế tự chủ 25

1.3.3 Nội dung hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý của tổ chức khoa học công nghệ theo cơ chế tự chủ 29

1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý của tổ chức khoa học công nghệ công lập theo cơ chế tự chủ 32

Trang 6

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.1 Phương pháp luận 35

2.1.1 Quan niệm về phương pháp luận 35

2.1.2 Ứng dụng phương pháp luận trong luận văn 36

2.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 36

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 36

2.2.2 Phương pháp thống kê mô tả 37

2.2.3 Phương pháp phân tích - tổng hợp 37

2.3 Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu 38

2.3.1 Địa điểm nghiên cứu 38

2.3.2 Thời gian thực hiện nghiên cứu 38

2.4 Các công cụ được sử dụng 38

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HOÀN THIỆN BỘ MÁY TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA VIỆN KHOA HỌC THỦY LỢI VIỆT NAM THEO CƠ CHẾ TỰ CHỦ 39

3.1 Khái quát về Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam 39

3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 39

3.1.2 Hoạt động khoa học công nghệ và sản xuất kinh doanh của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam theo cơ chế tự chủ 40

3.2 Thực trạng hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam theo cơ chế tự chủ giai đoạn 2015 - 2017 46

3.2.1 Kế hoạch hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Viện giai đoạn 2015 - 2017 46

3.2.2 Tổ chức thực hiện rà soát bộ máy và chức năng nhiệm vụ cụ thể của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam 48

3.2.3 Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm quyền hạn của các bộ phận trong bộ máy quản lý 62

3.3 Đánh giá chung 74

3.3.1 Về tổ chức bộ máy và kết quả hoạt động của đơn vị 74

Trang 7

3.3.2 Tồn tại, hạn chế 78

3.3.3 Nguyên nhân 80

CHƯƠNG 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ THEO CƠ CHẾ TỰ CHỦ CỦA VIỆN KHOA HỌC THUỶ LỢI VIỆT NAM 83

4.1 Định hướng chung 83

4.1.1 Định hướng thực hiện cơ chế tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ theo Nghị định số 54/2016/NĐ-CP 83

4.1.2 Định hướng hoạt động của Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam 85

4.1.3 Mục tiêu, yêu cầu của việc hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý theo cơ chế tự chủ 87

4.2 Giải pháp hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý theo cơ chế tự chủ 90

4.2.1 Giải pháp đổi mới hoạt động theo cơ chế tự chủ 90

4.2.2 Giải pháp kiện toàn tổ chức bộ máy 92

4.2.3 Giải pháp đổi mới phương thức quản lý điều hành 93

4.2.4 Giải pháp về phân cấp quản lý 96

4.2.5 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng nhân lực và tinh giảm biên chế 97

KẾT LUẬN 103

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Trang 8

6 KHTL Khoa học thuỷ lợi

7 NCKH Nghiên cứu khoa học

9 NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

10 NSNN Ngân sách nhà nước

11 SXKD Sản xuất kinh doanh

12 VKHTLVN Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỀU

STT Bảng Nội dung Trang

1 Bảng 3.1 Kinh phí thực hiện nghiên cứu KHCN năm 2015 đến

2 Bảng 3.2 Doanh thu từ hoạt động SXKD năm 2015 đến 2017 42

3 Bảng 3.3 Dự toán thu, chi ngân sách nhà nước toàn viện 43

4 Bảng 3.4 Số lượng viên chức, NLĐ qua các năm 52

5 Bảng 3.5 Số lượng lao động theo ngạch, chức danh nghề nghiệp 52

Trang 10

DANH MỤC HÌNH VẼ

STT Hình Nội dung Trang

2 Hình 1.2 Mô hình cơ cấu theo trực tuyến 17

6 Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam 48

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đã từ lâu trong cả lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng: quản lý là nhân

tố cơ bản quyết định tới sự thành công của một tổ chức, một doanh nghiệp, một quốc gia Tuy nhiên, trong hệ thống quản lý thì vai trò của chủ thể quản lý là đặc biệt quan trọng vì quản lý xét đến cùng là do chủ thể quản lý làm nên thành công của quản lý và cả tổ chức Đối với tổ chức hoặc doanh nghiệp nhỏ thì chủ thể quản

lý là một cá nhân cụ thể, còn một tổ chức hoặc doanh nghiệp lớn thì Bộ máy quản lý chính là chủ thể quản lý theo nghĩa rộng Chủ thể quản lý là người điều hành, người

ra quyết định đồng thời phải chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của một tổ chức, một doanh nghiệp Chính vì vậy, chủ thể quản lý muốn đóng được vai trò đặc biệt quan trọng của mình thì cần phải có bộ máy quản lý có hiệu lực, hiệu quả, đó là yêu cầu đòi hỏi khách quan với mọi tổ chức và doanh nghiệp cho đến cả quốc gia

Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam là một đơn vị sự nghiệp khoa học được thành lập theo Quyết định số 594/QĐ-TTg ngày 10/5/2007 của Thủ tướng chính phủ trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại Viện Khoa học Thủy lợi và Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, bao gồm Ban Giám đốc; 3 Ban tham mưu; 3 Viện vùng; 13 đơn vị sự nghiệp khoa học trực thuộc Viện Tuy nhiên, từ khi thành lập tới nay, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam chưa chủ động khai thác nguồn thu thực hiện chế độ tự chủ, chủ yếu trông chờ vào ngân sách nhà nước Một số đơn vị trực thuộc thực hiện không hết chức năng, nhiệm vụ được giao dẫn đến lãng phí biên chế, tài chính nhà nước

Hệ thống bộ máy tổ chức của các đơn vị trực thuộc Viện chưa khoa học, còn cồng kềnh, chưa tinh gọn và chưa phù hợp với thực tiễn phát triển của Viện bối cảnh toàn ngành đang triển khai mạnh mẽ đề án tái cơ cấu ngành theo cơ chế tự chủ

và theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vũng theo Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ, dẫn đến hoạt động của một

số đơn vị trực thuộc có hiệu quả thấp, thậm chí không hiệu quả Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu thực tiễn khách quan hiện nay đối với Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, đòi hỏi phải tiếp tục tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị trực thuộc, thì việc tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý và tổ chức lại hệ thống bộ máy của các đơn vị trực thuộc theo cơ chế tự chủ hiện nay là hết sức cần thiết

Trang 12

Từ thực tiễn đó, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ là

“Hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam theo c

ch tự chủ" là phù hợp với mã số và chuyên ngành Quản lý kinh tế

* Câu hỏi nghiên cứu chính của đề tài là:

Những giải pháp cơ bản nào để hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam trong quá trình đổi mới hoạt động theo cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp KHCN công lập giai đoạn 2018 -2020 và các mục tiêu xa hơn

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu chủ yếu của luận văn là đề

xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện Bộ máy quản lý của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam theo cơ chế tự chủ trong thời gian tới

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận về Bộ máy tổ chức quản lý, hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý của tổ chức khoa học công nghệ công lập theo cơ chế tự chủ

- Khảo sát, phân tích, làm rõ thực trạng về bộ máy tổ chức quản lý của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam trong giai đoạn 2015 - 2017 Từ đó rút ra những kết quả đạt được, những mặt hạn chế cần tiếp tục hoàn thiện và nguyên nhân của các hạn chế này

- Đề xuất giải pháp hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý của tổ chức khoa học công nghệ công lập theo cơ chế tự chủ

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam có không gian trải khắp đất nước với quy mô rộng lớn bao gồm Bộ máy quản lý cấp Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam và bộ máy tổ chức quản lý của các đơn vị trực thuộc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam Luận văn tập trung nghiên cứu Bộ máy quản lý cấp Viện Khoa

Trang 13

học Thủy lợi Việt Nam Bộ máy quản lý thuộc các đơn vị trực thuộc chỉ được đề cập ở mức độ liên quan cần thiết

- Về thời gian: Giới hạn phân tích thực trạng giai đoạn 2015 - 2017, giải pháp đề xuất đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

- Vê nội dung: Đề tài được tiếp cận liên ngành trong đó khoa học tổ chức và quản lý kinh tế là các cách tiếp cận chủ yếu Chủ thể quản lý được xác định ở đây là Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam

4 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung chính của luận văn được bố cục thành 4 chương:

Chương 1 Các công trình nghiên cứu có liên quan và cơ sở lý luận về bộ máy tổ chức quản lý của tổ chức khoa học công nghệ công lập theo cơ chế tự chủ

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng bộ máy tổ chức quản lý của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam theo cơ chế tự chủ

Chương 4: Định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện bộ máy tổ chức quản

lý theo cơ chế tự chủ của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam

Trang 14

CHƯƠNG 1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN BỘ MÁY TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA TỔ CHỨC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CÔNG LẬP THEO CƠ CHẾ TỰ CHỦ

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Cho đến nay, ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến bộ máy quản

lý và cán bộ quản lý của tổ chức hay doanh nghiệp Ngoài ra, còn có các tài liệu đề cập đến các nội dung liên quan đến các vấn đề hoàn thiện bộ máy quản lý, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý nói chung Trong số đó, có thể kể đến các nghiên cứu:

Trần Xuân Sầm (1998), Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị đổi mới, Chính trị Quốc gia, Hà Nội Trong sách trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xác định tiêu chuẩn cán bộ; thực trạng việc thực hiện tiêu chuẩn đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị; xác định tiêu chuẩn cán bộ trong những năm tới và phương hướng, giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ theo tiêu chuẩn xác định

Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (2001), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Chính trị Quốc gia, Hà Nội Nội dung đề cập đến cơ sở lý luận của việc sử dụng tiêu chuẩn cán bộ trong công tác cán bộ; những kinh nghiệm xây dựng tiêu chuẩn cán bộ của Đảng phù hợp với từng giai đoạn cách mạng; những quan điểm, phương hướng chung trong việc nâng cao chất lượng công tác cán bộ, trong

đó có nội dung về “tiêu chuẩn hóa cán bộ” Cuốn sách nêu bật lên được cán bộ, công chức là nhân tố có tính quyết định đối với sự phát triển của mỗi quốc gia

Nguyễn Hữu Tri (2006), Kiện toàn và đổi mới tổ chức bộ máy của Đảng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, Chính trị quốc gia, Hà Nội Tác giả cho rằng, tổ chức có vai trò to lớn đối với hoạt động của con người và xã hội, bởi vì nó tạo ra sự thống nhất và nhân sức mạnh của tập thể và mỗi người lên gấp bội Trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, theo cách nói của Lênin, giai cấp vô sản không có vũ khí nào tốt hơn là "sự tổ chức"

Trang 15

Trần Đình Hoan (2009), Đánh giá quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Chính trị quốc gia, Hà Nội., Đây là kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học "Những vấn đề lý luận và thực tiễn

về đánh giá, quy hoạch luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" Cuốn sách khẳng định, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, gần 80 năm qua, cách mạng Việt Nam đã giành được nhiều thắng lợi vẻ vang Từ một nước nô lệ, Việt Nam đã trở thành một quốc gia độc lập, là ngọn cờ tiên phong trong phong trào giải phóng dân tộc Trong hơn 20 năm qua, công cuộc đổi mới đã giành được nhiều thành tựu quan trọng, tạo điều kiện và cơ sở vững chắc cho quá trình phát triển đất nước trong những năm tiếp theo Có được những thắng lợi đó là nhờ đường lối chính trị đúng đắn, là do Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã dày công xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng những yêu cầu và nhiệm vụ của mỗi giai đoạn cách mạng Quan điểm của Hồ Chí Minh cho rằng, cán bộ là gốc của mọi công việc, muốn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém Quan điểm này luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam quán triệt và thực hiện Trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ở Việt Nam hiện nay, đội ngũ cán bộ lãnh đạo ngày càng vươn lên, năng động, sáng tạo, góp phần xứng đáng vào thành tựu to lớn của đất nước Song các tác giả cho rằng trong hoàn cảnh mới, sự tác động của kinh tế thị trường đã bộc lộ những yếu kém, khuyết điểm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo Một bộ phận không nhỏ cán bộ bị thoái hoá về chính trị và phẩm chất, tham ô, lãng phí, quan liêu, bè phái, mất đoàn kết, cơ hội và thực dụng, không ít cán

bộ bị giảm sút uy tín, không còn là công bộc của dân, thậm chí trù dập, ức hiếp nhân dân Nhìn chung đội ngũ cán bộ hiện nay, xét về chất lượng, số lượng và cơ cấu có nhiều mặt chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ đẩy mạnh

Đỗ Minh Cương, Quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 Nội dung của cuốn sách đã đề cập đến những vấn đề: Sự cần thiết của công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý trong công tác cán bộ nói chung; các yêu cầu và quan điểm đối với công tác quy hoạch Quy hoạch cán bộ có vai trò quan trọng trong công tác cán bộ, xây dựng Đảng vững mạnh; quy hoạch cán bộ là để có

Trang 16

kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đáp ứng các yêu cầu của công tác tổ chức cán

bộ nói chung Cuốn sách là tài liệu bổ ích cho luận văn này nghiên cứu, bởi việc thực hiện đào tạo bồi dưỡng cán bộ cần phải gắn với công tác quy hoạch cán bộ

Vấn đề hoàn thiện bộ máy tổ chức cán bộ quản lý tại các tổ chức, doanh nghiệp là vấn đề được đặc biệt quan tâm trong các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, dưới nhiều góc độ khác nhau như:

Nguyễn Thị Hồng Nhung (2013) với luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại Tổng công ty cổ phần Xây lắp Thủy sản Việt Nam” đã đề cập đến cơ sở lý luận của tổ chức bộ máy quản lý, phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, xác định mục tiêu việc thiết kế cơ cấu tổ chức, quá trình thiết kế cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý

Còn luận văn thạc sĩ „„Mô hình tổ chức quản lý công ty lâm nghiệp Nghi Lộc‟‟ của tác giả Nguyễn Văn Hà (2014) mới đề cập đến Bộ máy quản lý, cán bộ quản lý một cách tách rời, chưa đề cập đến mối liên quan, quan hệ biện chứng một cách chặt chẽ giữa hai phạm trù Bộ máy và Cán bộ

Luận văn Thạc sỹ kinh tế: “Hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý của Tổng công ty Bưu điện Việt Nam” của tác giả Phí Công Chung (2015) tuy có đề cập đến

bộ máy quản lý và vấn đề hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý nhưng đối tượng nghiên cứu lại là Tổng công ty Bưu điện Việt Nam, với cơ cấu tổ chức và hoạt động

cá biệt và không tổng quát

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đều đề cập đến vấn đề cán

bộ, công chức, các tiêu chuẩn đối với cán bộ công chức, coi yếu tố con người trong

tổ chức bộ máy là nhân tố đặc biệt quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của một tổ chức Ngoài ra, một số nghiên cứu cũng nêu vai trò của tổ chức nói chung, con người phải gắn với tổ chức thì mới phát huy được sức mạnh của tổ chức,

cá nhân trong tổ chức Để sử dụng đúng con người trong tổ chức một số tài liệu đã nêu ra yêu cầu quy hoạch cán bộ quản lý, cán bộ lãnh đạo trong các tổ chức chính quyền, tổ chức Đảng nói chung Các tài liệu này đã cung cấp nhiều tư liệu quý báu

về cơ sở lý luận, kiến thức, kinh nghiệm về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức,

cán bộ lãnh đạo quản lý Tuy nhiên, đề tài “Hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý của

Trang 17

Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam theo c ch tự chủ” có đối tượng nghiên cứu khác

với các tài liệu nghiên cứu về cán bộ, công chức, bộ máy tổ chức chính quyền, tổ chức Đảng Điều này thể hiện ở đặc điểm của Viện là cơ quan sự nghiệp của nhà nước Do vậy các yêu cầu về bộ máy quản lý và cán bộ quản lý khác với yêu cầu về

bộ máy chính quyền và cán bộ công chức trong bộ máy chính quyền

Qua các công trình nêu trên có thể khẳng định rằng: Đề tài nghiên cứu không trùng lặp với bất kỳ công trình nào đã được công bố Tuy nhiên, một số vấn đề lý luận về bộ máy và cán bộ quản lý sẽ được luận văn chú ý kế thừa có chọn lọc và phát triển trong khung lý thuyết của đề tài

1.2 Cơ sở lý luận về bộ máy tổ chức quản lý

1.2.1 Khái niệm về quản lý, bộ máy quản lý và chức năng tổ chức trong quản lý

1.2.1.1 Khái niệm về quản lý

Theo những cách giải thích và nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, quản lý

có thể được hiểu như là quá trình thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và mục đích đã định Quản lý là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức của con người, là một tiến trình bao gồm việc hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra - kiểm soát hoạt động trong một tổ chức nhằm hoàn thành mục tiêu của tổ chức đó

Có nhiều khái niệm khác nhau, nhưng khái niệm khái quát nhất được sử dụng rộng rãi đó là: Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản

lý nhằm đạt mục tiêu của tổ chức trong điều kiện biến động của môi trường (Phan

Trung Chính, 2008 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đổi mới tổ chức bộ máy

quản lý của c quan Chính phủ Đề tài khoa học-Học viện Chính trị Quốc gia Hồ

Chí Minh)

Trong khái niệm trên có các yếu tố:

Chủ thể quản lý: Luôn là con người với tư cách là cá nhân hay tập thể (Bộ máy quản lý) Vì vậy hoạt động của toàn bộ hệ thống quản lý đều phụ thuộc vào chủ thể quản lý, đó là: Trình độ, năng lực, phẩm chất, tư cách của người hay tập thể đội ngũ lao động quản lý Một tổ chức mạnh hay yếu hoạt động hiệu quả hay yếu kém, tổ chức quản lý gọn nhẹ, năng động hay cồng kềnh, chồng chéo… phụ thuộc trước hết bởi đội ngũ lao động quản lý của tổ chức đó

Trang 18

Đối tượng quản lý: Trong phạm vi luận văn này, chỉ nghiên cứu đối tượng quản

lý với tư cách là một tập thể con người khác nhau về tính cách, hoàn cảnh, trình độ văn hóa, chuyên môn, nghề nghiệp… luôn luôn hoạt động vì mục tiêu của tổ chức

Mục tiêu quản lý: là trạng thái mong đợi của toàn bộ hệ thống cần đạt định hướng ngắn hạn, có tính chất hoạt đông cụ thể, có thể lượng hóa được tới trong tương lại Do vậy mà mục tiêu càng rõ ràng, chính xác và khả thi thì hiệu quả hoạt động quản lý càng cao

Môi trường và các nguồn lực: là tập hợp các yếu tố bên ngoài tác động qua lại với tổ chức Đó là môi trường chính trị pháp lý, kinh tế xã hội, môi trường vĩ mô,

vi mô… nó tác động trực tiếp tới hoạt động quản lý và ảnh hưởng tới mục tiêu quản

lý của tổ chức Môi trường luôn luôn biến động, do đó việc phân tích, đánh giá môi trường và vận dụng vào hoạt động của tổ chức là một yêu cầu quan trọng với mỗi nhà quản lý

Những yếu tố trên tác động lẫn nhau thể hiện nội dung cơ bản của khái niệm quản lý nói chung và quản lý ngành nói riêng

Hình 1.1 Mối quan hệ trong quản lý

(Nguồn: Tác giả tổng hợp) 1.2.1.2 Bộ máy quản lý

* Khái niệm bộ máy quản lý

Bộ máy quản lý về mặt lý luận là cách nói ẩn dụ được bắt nguồn từ quan điểm lý luận thuộc trường phái cổ điển với triết lý „„cơ học‟‟ xem tổ chức như một

Chủ thể quản lý

Đối tượng quản lý

Môi trường và nguồn lực

Mục tiêu

Trang 19

cỗ máy hoàn chỉnh có cơ cấu gồm tổng thể các chi tiết máy hợp thành được thiết kế theo những nguyên lý nhất định và cơ cấu đó quyết định một cơ chế vận hành phù hợp Khi vận dụng cho bộ máy có con người tham dự thì mỗi con người trong tổ chức được coi như là một chi tiết máy Khi quản lý một tổ chức lớn với hai phân hệ: Phân hệ quản lý và phân hệ bị quản lý thì hình thành một bộ máy quản lý (Phan

Trung Chính, 2008 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đổi mới tổ chức bộ máy

quản lý của c quan Chính phủ Đề tài khoa học-Học viện Chính trị Quốc gia Hồ

Chí Minh)

Bộ máy quản lý thực hiện chức năng của phân hệ quản lý, đóng vai trò là chủ thể quản lý, đối với phân hệ bị quản lý đóng vai trò là đối tượng quản lý Từ đó rút

ra một số đặc điểm của bộ máy quản lý như sau:

(1) Là một chỉnh thể được cấu thành bởi nhiều bộ phận khác nhau để thực hiện các chức năng quản lý trong quá trình quản lý để đạt mục tiêu

(2) Toàn bộ các bộ phận cần thiết của bộ máy quản lý hình thành cơ cấu tổ chức quản lý đảm nhiệm những chức năng, nhiệm vụ khác nhau nhưng mục đích cuối cùng là hoạt động để đạt được mục tiêu quản lý đã xác định

(3) Các bộ phận cấu thành bộ máy quản lý có mối quan hệ khăng khít với nhau tạo thành một chỉnh thể có tác động qua lại lẫn nhau theo một trật tự thứ bậc chặt chẽ, thống nhất và có những mối quan hệ ngang, quan hệ dọc nhưng luôn đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ để thực hiện chức năng của chủ thể quản lý

(4) Bộ máy quản lý vừa mang tính hệ thống, vừa là một bộ phận của hệ thống Một mặt nếu thiếu tính hệ thống thì các bộ phận cấu thành đó không có sự phối hợp, tác động qua lại lẫn nhau một cách đồng bộ, hoạt động rời rạc, đơn nhất thì không trở thành bộ máy Mặt khác, đặt trong những mối quan hệ khác, hệ thống

đó lại là bộ phận của một bộ máy lớn hơn Do đó, quan niệm về bộ máy luôn mang tính tương đối

(5) Bộ máy quản lý cũng như từng bộ phận cấu thành của nó cần sự ổn định

để đảm bảo tính liên tục trong hoạt động nhưng không phải là bất biến Khi điều kiện và hoàn cảnh cụ thể thay đổi thì bộ máy quản lý cũng phải thay đổi cho phù hợp với yêu cầu mới

Trang 20

(6) Cơ cấu tổ chức quyết định cơ chế vận hành hay cơ chế hoạt động của bộ máy quản lý

Từ phân tích trên có thể hiểu và sử dụng thuật ngữ "Bộ máy quản lý" như sau:

Bộ máy quản lý của một tổ chức là hệ thống các bộ phận, các con người được liên kết với nhau theo những nguyên tắc nhất định tạo thành một cơ cấu và cơ chế hoạt động đồng bộ để thực hiện các chức năng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã xác định

1.2.1.3 Chức năng tổ chức trong quản lý

Chức năng tổ chức trong quản lý là hoạt động quản lý nhằm thiết lập một hệ thống các vị trí cho mỗi cá nhân và bộ phận sao cho các cá nhân và bộ phận có thể phối hợp với nhau một cách tốt nhất để thực hiện mục tiêu của tổ chức Chức năng

tổ chức trong quản lý gồm hai nội dung cơ bản đó là: Thiết lập cơ cấu tổ chức và phối hợp hoạt động của con người trong cơ cấu tổ chức

Hai nội dung tương ứng trong hai trạng thái tĩnh và động Ở trạng thái tĩnh: Thiết lập cơ cấu tổ chức; Ở trạng thái động: Phối hợp hoạt động trong cơ cấu tổ chức

1.2.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý

1.2.2.1 Khái niệm

Cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý là một tổng thể các bộ phận hợp thành, các

bộ phận này có mối liên hệ mật thiết hữu cơ phụ thuộc lẫn nhau được chuyên môn hoá, thực hiện các chức năng quản lý với những trách nhiệm và quyền hạn nhất định nhằm đạt mục tiêu chung của tổ chức (Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm, 2001

Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị

Quốc gia)

1.2.2.2 Các thuộc tính c bản của c cấu bộ máy tổ chức quản lý

Khi xem xét cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý thường đề cập các yếu tố cơ bản sau:

Trang 21

* Hình thành các bộ phận

Là sự phân chia thành các bộ phận trong cơ cấu tổ chức, bao gồm sự phân chia tổng thể thành các bộ phận mang tính độc lập tương đối thực hiện những hoạt động nhất định Việc hình thành các bộ phận của tổ chức phản ánh quá trình chuyên môn hóa và hợp thành nhóm hoạt động theo chiều ngang Nếu không biết cách phân chia tổ chức thành các bộ phận thì cấp quản lý trực tiếp có thể sẽ làm hạn chế quy

mô của tổ chức Việc hợp nhóm các hoạt động và con người tạo thành các bộ phận nhằm mở rộng tổ chức để khai thác, huy động nguồn nhân lực thực hiện các mục

tiêu kế hoạch (Nguyễn Hồng Sơn và Phan Huy Đường, 2013 Giáo trình khoa học

quản lý Trường Đại học Kinh tế-Đại học Quốc gia Hà Nội)

* Chuyên môn hoá công việc

Đó là sự phân chia chức năng, nhiệm vụ thành các công việc mang tính độc lập tương đối cho các bộ phận và cá nhân Chuyên môn hoá còn được gọi là phân công lao động có lợi thế là phát huy khả năng chuyên sâu và tăng hiệu suất làm việc cho bộ phận và cá nhân Chuyên môn hoá là cơ sở để phân chia ra các bộ phận và biến mỗi cá nhân thành chuyên gia trong một số công việc nhất định tạo cho mỗi cá nhân có thể lựa chọn cho mình những công việc và vị trí phù hợp với tài năng và lợi ích của họ, đồng thời cũng là cơ sở cho chức năng tổ chức chọn được đúng người, giao đúng việc vào từng bộ phận trong cơ cấu tổ chức

* Quyền hạn và trách nhiệm

- Quyền hạn

Quyền hạn là quyền tự chủ trong hành động, trong quá trình quyết định và đòi hỏi sự tuân thủ quyết định gắn liền với một vị trí (hay chức vụ) quản lý nhất định trong tổ chức Quyền hạn của một vị trí quản lý sẽ được giao phó cho người nào nắm giữ vị trí đó Quyền hạn là chất kết dính trong cơ cấu tổ chức, là sợi dây liên kết các bộ phận với nhau, là phương tiện mà nhờ đó các hoạt động được đặt dưới sự chỉ huy của một nhà quản lý và sự phối hợp giữa các đơn vị được thực hiện Trong tổ chức quyền hạn chia làm 3 loại: Quyền hạn trực tiếp, quyền hạn tham mưu

và quyền hạn chức năng (Phan Huy Đường, 2012 Giáo trình quản lý nhà nước về

kinh t Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội)

Trang 22

+ Quyền hạn trực tiếp: Là quyền hạn cho phép người quản lý đưa ra quyết định và giám sát trực tiếp đối với cấp dưới Là một mắt xích trong dây chuyển chỉ huy, mỗi nhà quản lý với quyền hạn trực tuyến có quyền ra quyết định cho cấp dưới trực tiếp và nhận sự báo cáo từ họ

+ Quyền hạn tham mưu: Bản chất của mối quan hệ tham mưu là cố vấn Chức năng của các tham mưu (hay bộ phận tham mưu) là điều tra, khảo sát, nghiên cứu, phân tích và đưa ra những ý kiến tư vấn cho những người quản lý trực tuyến mà họ có trách nhiệm phải quan hệ Sản phẩm lao động của cán bộ hay bộ phận tham mưu là những lời khuyên chứ không phải là các quyết định cuối cùng

+ Quyền hạn chức năng: là quyền trao cho một cá nhân ra quyết định và kiểm soát những hoạt động nhất định của một bộ phậnchức năng được chuyên môn hoá Để thu được kết quả tốt nhất trong việc giao phó quyền hạn chức năng, nhà quản lý của tổ chức cần đảm bảo rằng phạm vi quyền hạn đó được chỉ rõ cho người được ủy quyền và cả những người chịu sự tác động của quyền hạn đó

- Trách nhiệm

Khi các nhà quản lý được trao quyền hạn, họ sẽ chịu trách nhiệm - đó là bổn phận phải hoàn thành trong những hoạt động được phân công và đạt được mục tiêu xác định Quyền hạn không gắn với trách nhiệm một cách tương ứng sẽ tạo cơ hội cho sự lạm dụng và ngược lại cũng không để nhà quản lý phải chịu trách nhiệm về một việc nào đó nếu người đó không có đủ quyền hạn thực hiện nó

* Cán bộ quản lý trong cơ cấu bộ máy tổ chức

- Khái niệm

Cán bộ quản lý là các cá nhân có vị trí trong cơ cấu bộ máy tổ chức để thực hiện chức năng và nhiệm vụ quản lý nhất định của bộ máy quản lý nhằm đảm bảo cho tổ chức đạt được những mục đích của mình với kết quả và hiệu quả cao

(Nguyễn Đức Lợi, 2008 Giáo trình khoa học quản lý Học Viện Tài chính)

Một cán bộ quản lý được xác định bởi ba yếu tố cơ bản:

- Thứ nhất, có vị trí và vị thế trong cơ cấu tổ chức với quyền hạn nhất định trong quá trình ra quyết định

- Thứ hai, có chức năng thực hiện chức năng và nhiệm vụ quản lý nhất định trong bộ máy quản lý

Trang 23

- Thứ ba, có chuyên môn nghiệp vụ để đáp ứng những đòi hỏi nhất định của công việc

* Những yêu cầu về kỹ năng quản lý

Kỹ năng là khả năng của con người có thể đưa kiến thức vào thực tế nhằm đạt được những kết quả mong muốn với hiệu quả cao Các kỹ năng cần thiết đối với các nhà quản lý có thể chia thành ba nhóm: kỹ năng kỹ thuật; kỹ năng thực hiện các mối quan hệ con người; kỹ năng nhận thức

- Kỹ năng kỹ thuật: là khả năng của nhà quản lý thể hiện kiến thức và tài năng trong quá trình quản lý các hoạt động thuộc lĩnh vực chuyên môn của mình

Nó bao gồm các kỹ năng thực hiện các quá trình quản lý

- Kỹ năng thực hiện các mối quan hệ con người: là khả năng của một con người có thể làm việc được với những người khác

- Kỹ năng nhận thức: là khả năng phát hiện, phân tích vài giải quyết những vấn đề phức tạp Kỹ năng đòi hỏi nhà quản lý phải có khả năng thấy được bức tranh toàn cảnh về thực trạng và xu thế biến động của đơn vị do mình phụ trách, của toàn

tổ chức và môi trường Nhận ra được những nhân tố chính trong mỗi hoàn cảnh, nhận thức được mối quan hệ giữa các phần tử, bộ phận trong tổ chức và mối quan

hệ của tổ chức với môi trường

* Yêu cầu về phẩm chất đạo đức cá nhân

Để làm việc có kết quả, bên cạnh kỹ năng, nhà quản lý còn cần có những phẩm chất cá nhân nhất định Phẩm chất cá nhân là cơ sở, nền tảng để cán bộ quản

lý phát huy tài năng của mình đóng góp vào sự phát triển của tổ chức và của xã hội

Có thể khái quát những yêu cầu về phẩm chất cá nhân đối với các nhà quản

lý bao gồm:

- Có ước muốn làm công việc quản lý: người quản lý thành đạt có ước muốn mãnh liệt được làm công việc quản lý, có được ảnh hưởng đối với những người khác và thu được kết quả thông qua những cố gắng tập thể của cấp dưới

- Có tính nguyên tắc trong công việc: biết đặt lợi ích của xã hội, lợi ích của tổ chức lên trên lợi ích cá nhân

- Cán bộ quản lý phải là người có văn hóa: có kiến thức, có thái độ đúng mực đối với những người xung quanh, tạo được ấn tượng tốt, gây được sự chú ý và kính

Trang 24

trọng, tỏ ra tự tin trong hành động và lời nói; hành động một cách đúng đắn và có sáng tạo theo pháp luật và chuẩn mực đạo đức xã hội

- Có ý chí: chấp nhận rủi ro, có khả năng duy trì công việc trong điều kiện bất định hoặc không chắc chắn Chịu được căng thẳng, duy trì được công việc ngay

cả khi phải chịu những áp lực nặng nề

- Có tư duy phục thiện: nhà quản lý phải biết tiếp thu phê bình và tự phê bình, dám thừa nhận cái sai của mình và cái đúng của người khác

1.2.3 Cơ chế phối hợp hoạt động của bộ máy quản lý

1.2.3.1 Quan niệm về c ch phối hợp

Cơ chế phối hợp là quá trình liên kết hoạt động của những con người, bộ phận, phân hệ và hệ thống riêng rẽ nhằm thực hiện có hiệu lực, hiệu quả các mục tiêu chung của tổ chức Không có phối hợp, con người không thể nhận thức được vai trò của mình trong tổng thể Nguyên tắc của phối hợp là tạo ra sức mạnh lớn hơn sức mạnh của từng cá nhân riêng lẻ trong bộ máy quản lý Mục tiêu của cơ chế phối hợp là đạt được sự thống nhất hoạt động của các bộ phận cả bên trong và bên ngoài bộ máy quản lý

Để phối hợp được phải mô tả chi tiết sự phân chia công việc lên một sơ đồ Sơ

đồ chỉ rõ các ô vị trí của từng bộ phận có chức năng, nhiệm vụ cụ thể Sơ đồ chỉ rõ các quan hệ ngang, quan hệ chéo để phối hợp giữa các bộ phận chức năng Các quan hệ dọc chỉ rõ các cấp quản lý và cấp trên, cấp dưới trực tiếp

1.2.3.2 Sự phân quyền trong quản lý

Phân quyền là sự phân chia thẩm quyền và quyền hạn ra quyết định quản lý trong một cơ cấu tổ chức cho các cấp quản lý khác nhau

Thẩm quyền là quyền hạn được tổ chức trao cho một cá nhân hay một bộ phận trong cơ cấu tổ chức của hệ thống quản lý Thẩm quyền của một cấp hoặc cá nhân người quản lý được gọi là quyền hạn của cấp đó hoặc cá nhân đó Thẩm quyền quản lý chỉ phát huy tác dụng khi hội đủ ba điều kiện:

(1) Tính hợp pháp khi được bổ nhiệm chức vụ

(2) Cấp dưới phải thừa nhận thẩm quyền đó là chính đáng

(3) Bản thân nhà quản lý phải có năng lực và uy tín để cấp dưới tin tưởng vào thẩm quyền của nhà quản lý

Trang 25

Sự phân quyền là giải pháp giúp vừa phát huy sức mạnh tổ chức, vừa phát huy năng lực và sáng kiến của các cấp quản lý trong hệ thống Phân quyền

có thể mang tính cố định lâu dài, có thể phân quyền theo vụ việc, tình huống, thời gian cụ thể Một tổ chức bộ máy được coi là phân quyền mạnh khi:

- Nhiều số lượng quyết định được thông qua ở các cấp bên dưới

- Thực hiện mạnh chế độ uỷ quyền trong quản lý Uỷ quyền là hành vi cấp trên trao cho cấp dưới một số quyền hạn để họ nhân danh mình ra quyết định hoặc thực hiện những công việc nhất định

- Phân quyền là xu hướng phân tán mạnh quyền ra quyết định cho cấp dưới trong hệ thống thứ bậc quản lý

Mỗi tổ chức, mỗi doanh nghiệp đều phải xác định được cơ chế hoạt động với những phương án phân quyền phù hợp mà vẫn đảm bảo được nguyên tắc vừa thống nhất trong chỉ huy, vừa phát huy tính năng động, sáng tạo, trách nhiệm của các cấp quản lý

1.2.4 Các nguyên tắc tổ chức bộ máy quản lý

1.2.4.1 Nguyên tắc gắn với phư ng hướng, mục tiêu của tổ chức

Phương hướng, mục tiêu của tổ chức hay doanh nghiệp sẽ chi phối cơ cấu và

cơ chế hoạt động của bộ máy quản lý Nếu tổ chức hay doanh nghiệp có mục tiêu, phương hướng và quy mô hoạt động rất lớn (phạm vi cả nước hay khu vực) thì cơ cấu tổ chức cũng phải có quy mô tương ứng và yêu cầu năng lực, trình độ của cán

bộ quản lý hoạt động trong bộ máy cũng cần có trình độ tương thích nhất định Như vậy, bộ máy quản lý luôn phải gắn với phương hướng, mục tiêu của tổ chức, đồng thời phải tương thích về cơ cấu, cơ chế hoạt động và cán bộ quản lý trong bộ máy

1.2.4.2 Nguyên tắc chuyên môn hóa, cân đối

Nguyên tắc này đòi hỏi cơ cấu tổ chức bộ máy phải được phân công tới các

bộ phận mang tính chuyên ngành, chuyên sâu vừa đảm bảo độ sâu về chuyên môn trong từng lĩnh vực, vừa không bị chồng chéo giữa các chức năng Chuyên môn hoá đảm bảo sự phân chia chức năng, nhiệm vụ rõ ràng, minh bạch với sự cân xứng với trách nhiệm, quyền hạn Chuyên môn hoá giúp các bộ phận chức năng đề xuất các quyết định có căn cứ khoa học và thực tiễn cho người ra quyết định mà còn là cơ sở

để phân cấp, uỷ quyền trong quản lý

Trang 26

1.2.4.3 Nguyên tắc quản lý hệ thống

Là một hệ thống hoàn chỉnh gồm các bộ phận cấu thành có tác động qua lại, tương tác, hỗ trợ lẫn nhau phục vụ mục đích chung của đơn vị Để đảm bảo tính hệ thống, việc tổ chức bộ máy của đơn vị phải xây dựng hợp lý và không ngừng tăng cường được các mối liên hệ dọc và ngang, mỗi thành viên phải là một đơn vị thống nhất hoàn chỉnh,vừa có khả năng độc lập hoạt động và thích nghi với môi trường khách quan, vừa nằm trong sự lãnh đạo trong khuân khổ thống nhất của toàn hệ thống Để đảm bảo tính hệ thống khi xây dựng tổ chức bộ máy quản lý phải tính đến các tính chất của nguyên tắc quản lý hệ thống ngành, đó là tính tập hợp (thể hiện ở từng bộ phận, từng cấp độ được tập trung như quản lý nguồn vốn, nhân lực, hệ thống thu chi, thông tin, kiểm tra kiểm toán…); tính liên hệ (bao gồm cả những mối liên hệ xuôi và ngược của các yếu tố nguồn lực có quan hệ hữu cơ với nhau); tính mục đích (mục đích quản lý tài chính ngân sách rõ ràng) và tính thích ứng (phải thích ứng với môi trường phát triển kinh tế xã hội địa phương, bên trong và bên ngoài, vĩ mô và vi mô…)

1.2.4.4 Nguyên tắc thống nhất trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích

Cả ba yếu tố trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích không thể tách rời trong một thực thể đặc biệt đối với người lãnh đạo quản lý, việc tổ chức bộ máy quản lý phải đảm bảo xác định rõ ràng ba yếu tố trên đối với mỗi bộ phận, mỗi cá nhân người quản lý Chỉ khi người lãnh đạo có đầy đủ quyền hạn và trách nhiệm họ mới có khả năng và điều kiện thành hệ thống tốt và nếu không có lợi ích tương xứng thì sẽ không bảo đảm điều kiện vật chất để người lãnh đạo có khả năng hoàn thành trách nhiệm, bảo đảm yếu tố lãnh đạo, quản lý;

Quản lý phải chú ý đến lợi ích của con người, đảm bảo sự kết hợp hài hòa các lợi ích, trong đó lợi ích của con người lao động là động lực trực tiếp, đồng thời chú ý đến lợi ích của tổ chức và của xã hội, kết hợp hài hòa các lợi ích Giải quyết các mối quan hệ lợi ích trong quản lý sẽ bảo đảm cho hệ thống quản lý vận hành thuận lợi và có hiệu quả, ngược lại, nếu quan hệ lợi ích bị rối loạn sẽ là nguyên nhân của sự rối loạn tổ chức, phá vỡ hệ thống quản lý

Trang 27

1.2.4.5 Nguyên tắc hiệu lực, hiệu quả

Là nguyên tắc rất quan trọng trong cơ cấu tổ chức

Nguyên tắc này yêu cầu cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý phải thu được kết quả hoạt động cao nhất, đảm bảo hiệu lực của người lãnh đạo, hiệu quả của bộ máy, hiệu suất hoạt động của tổ chức Vận dụng nguyên tắc đòi hỏi người quản lý phải nắm rõ nội dung

và thực chất của nguyên tắc, nắm vững sự diễn biến của đối tượng quản lý, từ đó mà sáng tạo những hình thức và biện pháp thích hợp để tác động vào đối tượng quản lý, đồng thời cũng tự mình tôn trọng và thực hiện đúng nguyên tắc quản lý

Để đạt được yêu cầu hiệu quả, cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý phải đảm bảo hợp lý nhất, phù hợp với quy mô của hệ thống Bộ máy tổ chức quản lý phải tạo ra được và duy trì một phong cách văn hóa của đơn vị Cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý phải tạo ra các bộ phận có quy mô hợp lý tương ứng với trình độ và khả năng tổ chức của cán bộ lãnh đạo quản lý

1.2.5 Một số mô hình bộ máy tổ chức quản lý

1.2.5.1 Mô hình tổ chức trực tuy n

Cơ cấu theo thực tuyến là một mô hình tổ chức quản lý, trong đó nhà quản trị

ra quyết định và giám sát trực tiếp đối với cấp dưới và ngược lại, mỗi người cấp dưới chỉ nhận sự điều hành và chịu trách nhiệm trước một người lãnh đạo trực tiếp

cấp trên (Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm, 2001 Luận cứ khoa học cho việc

nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia)

Cơ cấu theo trực tuyến được minh họa qua sơ đồ sau:

Hình 1.2 Mô hình cơ cấu theo trực tuyến

(Nguồn: Tác giả tổng hợp)

Trang 28

Đặc điểm cơ bản của loại hình này là: Mối quan hệ giữa các thành viên trong

bộ máy tổ chức được thực hiện theo trực tuyến Người thừa hành chỉ nhận mệnh lệnh từ một người phụ trách trực tiếp Là một mắt xích trong dây chuyền chỉ huy, mỗi nhà quản trị với quyền hạn trực tuyến có quyền ra quyết định cho cấp dưới trực tiếp và nhận sự báo cáo của họ

Cơ cấu trực tuyến có ưu điểm là tạo thuận lợi cho việc áp dụng chế độ thủ trưởng, tập trung, thống nhất, làm cho tổ chức nhanh nhạy linh hoạt với sự thay đổi của môi trường và có chi phí quản lý doanh nghiệp thấp Tuy nhiên cơ cấu theo trực tuyến lại hạn chế việc sử dụng các chuyên gia có trình độ nghiệp vụ cao về từng mặt quản lý và đòi hỏi người lãnh đạo phải có kiến thức toàn diện để chỉ đạo tất cả các

bộ phận quản lý chuyên môn

1.2.5.2 Mô hình tổ chức theo chức năng

Cơ cấu theo chức năng là loại hình cơ cấu tổ chức trong đó từng chức năng quản lý được tách riêng do một bộ phận một cơ quan đảm nhận Cơ cấu này có đặc điểm là những nhân viên chức năng phải là người am hiểu chuyên môn và thành thạo nghiệp vụ trong phạm vi quản lý của mình

Hình 1.3 Mô hình cơ cấu theo chức năng

(Nguồn: Tác giả tổng hợp)

Trang 29

Cơ cấu này có ưu điểm là: Thực hiện chuyên môn hoá các chức năng quản

lý, thu hút được các chuyên gia có kiến thức sâu về nghiệp vụ chuyên môn vào công tác quản lý, tránh được sự bố trí chồng chéo chức năng, nhiệm vụ giữa các bộ phận Thúc đẩy sự chuyên môn hoá kỹ năng nghề nghiệp, nâng cao chất lượng và kỹ năng giải quyết vấn đề Tuy nhiên cơ cấu theo chức năng làm cho cấp dưới phải phục tùng nhiều đầu mối chỉ đạo khác nhau của cùng một cơ quan quản lý cấp trên làm suy yếu chế độ thủ trưởng

2013 Giáo trình khoa học quản lý Trường Đại học Kinh tế-Đại học Quốc gia Hà Nội),

Hình 1.4 Mô mình tổ chức hỗn hợp

(Nguồn: Tác giả tổng hợp)

Tổng giám đốc

Phó Tổng giám đốc nhân sự Phó Tổng giám đốc kinh doanh

Phó Tổng giám đốc tài chính

Chức

năng

Giám đốc khu vực miền Nam

Giám đốc khu vực miền Trung

Giám đốc khu vực miền Bắc

Địa dƣ

Quản lý giao dịch và các cơ quan nhà nước

Quản lý bàn lẻ Quản lý bán buôn

Khách hàng/

sản phẩm

Trang 30

Mặt khác, cơ cấu tổ chức này có thể làm cho việc hình thành các bộ phận, phân

hệ quá nhỏ và tăng thêm nhược điểm của mỗi loại mô hình hơn là ưu điểm Tuy vậy, việc kết hợp đúng đắn các mô hình thuần túy có thể giảm được các nhược điểm nói trên

1.2.5.4 Mô hình tổ chức ma trận

Cơ cấu ma trận là kiểu cơ cấu quản lý hiệu quả, hiện đại Cơ cấu này được xây dựng bằng cách kết hợp cơ cấu trực tuyến và chương trình - mục tiêu Việc quản lý các chương trình được tổ chức phù hợp với cơ cấu chương trình - mục tiêu Trong cơ cấu này, các cán bộ quản trị theo chức năng và theo sản phẩm đều có vị thế ngang nhau Họ chịu trách nhiệm báo cáo cho cùng một cấp lãnh đạo và có thẩm quyền ra quyết định thuộc lĩnh vực mà họ phụ trách (Nguyễn Phú Trọng và Trần

Xuân Sầm, 2001 Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ

trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hà Nội: Nhà xuất

đốc Tài chính

Phó Tổng giám đốc Sản xuất

Trưởng phòng thiết kế

Trưởng phòng

cơ khí

Trưởng phòng điện

Trưởng phòng thủy lực

A

B

Trang 31

Ưu điểm của cơ cấu tổ chức theo ma trận là: giảm bớt công việc của người lãnh đạo cấp trên bằng cách giao cho cấp quản lý trung gian quyền ra quyết định trong điều kiện duy trì sự thống nhất giữa công tác phối hợp và kiểm tra những quyết định về tổ chức kỹ thuật chủ chốt ở cấp trên Bảo đảm tính mềm dẻo và linh hoạt để sử dụng các nguồn lực khi thực hiện một số chương trình trong phạm vi tổ chức: Xoá bỏ những khâu và cơ cấu trung gian trong việc quản lý các chương trình

về mặt nghiệp vụ Tăng cường trách nhiệm cá nhân của người lãnh đạo đối với chương trình nói chung cũng như với từng yếu tố của chương trình

Tuy nhiên cơ cấu này còn một số hạn chế: khi tổ chức áp dụng mô hình cơ cấu theo ma trận làm cho nhân viên dưới quyền lâm vào tình trạng bối rối khi phải nhận những mệnh lệnh trái ngược nhau từ hai cấp quản lý Mặt khác khi có sự trùng lắp về quyền hạn và trách nhiệm của các nhà quản trị sẽ tạo ra các xung đột Hơn nữa đây là một loại hình cơ cấu phức tạp và không bền vững, nó dễ bị thay đổi trước những tác động của môi trường

1.3 Hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý của tổ chức khoa học công nghệ công lập theo cơ chế tự chủ

1.3.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về cơ chế tự chủ của tổ chức khoa học công nghệ công lập

1.3.1.1 Khái niệm, đặc điểm của tổ chức khoa học công nghệ công lập

* Khái niệm

Đơn vị sự nghiệp KHCN là tổ chức có chức năng chủ yếu là NCKH, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ KHCN, được thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật

Các tổ chức KHCN công lập gồm: các tổ chức NCKH; tổ chức NCKH và phát triển công nghệ; tổ chức dịch vụ KHCN, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập

* Đặc điểm của đ n vị sự nghiệp khoa học công nghệ công lập

Là một ĐVSN có thu của Nhà nước, tổ chức khoa học công nghệ công lập phải thực hiện đồng thời hai chức năng: thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ và SXKD

Về thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ:

- Căn cứ vào định hướng ưu tiên phát triển KHCN của Nhà nước, nhu cầu của xã hội, nhu cầu của doanh nghiệp, chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực hoạt động

Trang 32

của mình, các tổ chức KHCN tự xác định nhiệm vụ KHCN và biện pháp tổ chức thực hiện

- Căn cứ vào danh mục các nhiệm vụ KHCN, các Bộ, ngành và địa phương công bố hàng năm, các tổ chức KHCN tự quyết định việc tham gia tuyển chọn, đấu thầu thực hiện nhiệm vụ KHCN của Nhà nước và biện pháp tổ chức thực hiện

- Các tổ chức KHCN tự quyết định biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ KHCN do các cơ quan nhà nước giao hoặc đặt hàng, đảm bảo chất lượng và tiến độ theo yêu cầu

- Các tổ chức KHCN được quyền:

+ Ký hợp đồng thực hiện các nhiệm vụ KHCN, dịch vụ KHCN với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức KHCN

+ Trực tiếp quyết định việc mời chuyên gia, các nhà khoa học nước ngoài vào Việt Nam và cử cán bộ ra nước ngoài công tác

+ Quyết định việc đầu tư phát triển từ vốn vay, vốn huy động các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của tổ chức KHCN

Về hoạt động SXKD:

Về hoạt động SXKD, các tổ chức KHCN được thực hiện các quyền sau đây:

- Sản xuất, kinh doanh hàng hóa, thực hiện các dịch vụ thuộc lĩnh vực hoạt động chuyên môn của tổ chức KHCN và các lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật; được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

- Liên doanh, liên kết sản xuất với các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước Sử dụng tài sản để liên doanh, liên kết hoặc góp vốn liên doanh với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư xây dựng, mua sắm máy móc thiết bị phục vụ hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị theo quy định hiện hành của nhà nước

- Xuất khẩu, nhập khẩu trực tiếp công nghệ và sản phẩm hàng hóa thuộc lĩnh vực hoạt động chuyên môn của tổ chức KHCN theo quy định của pháp luật

- Tham gia đấu thầu thực hiện các hợp đồng sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ phù hợp với lĩnh vực hoạt động chuyên môn của tổ chức KHCN

Trang 33

- Quyết định mua sắm tài sản, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, vốn huy động, theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

1.3.1.2 C ch tự chủ của tổ chức khoa học công nghệ công lập

- Quan niệm về c ch tự chủ

* Thuật ngữ "Cơ chế" theo từ điển Le Petet Larousse của Pháp xuất bản năm

1999 được giải nghĩa là: "Cách thức hoạt động của một tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau"] Theo Từ điển tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn năm

2000 giải nghĩa: "Cơ chế là cách thức mà theo đó một quá trình được thực hiện" Như vậy dù tiếp cận khác nhau và giải nghĩa khác nhau nhưng có thể hiểu:

- Cơ chế tĩnh bao giờ cũng là một tập hợp các yếu tố có mối quan hệ phụ thuộc vào nhau Một cơ chế đồng bộ khi tất cả các yếu tố đảm bảo sự quan hệ phụ thuộc lẫn nhau được hoàn thiện

- Cơ chế động là cách thức vận hành mà theo đó một quá trình được thực hiện Với cách tiếp cận trên, cơ chế có thể được hình thành và vận động một cách

tự động và khách quan để một quá trình được thực hiện Mặt khác, con người có thể nhận thức được tính tất yếu khách quan mà hình thành cơ chế và có cách thức tác động để một quá trình được thực hiện

Như vậy, "Cơ chế" là cách thức hoạt động của một sự vật, hiện tượng, một

hệ thống trong quá trình tồn tại và phát triển

* Thuật ngữ "Tự chủ" theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 2010 giải nghĩa: "Tự chủ là việc tự điều hành, quản lý mọi công việc của

cá nhân hoặc tổ chức, không bị cá nhân, tổ chức khác chi phối"

Như vậy, theo hàm ý "Cơ chế" là những quy định của con người cho cá nhân hoặc tổ chức thì phải dựa trên nhận thức được các yếu tố khách quan chi phối thì

"cơ chế" là chủ quan trên cơ sở phù hợp với yếu tố khách quan để một quá trình được thực hiện có kết quả mong muốn

Từ các quan niệm trên cơ chế tự chủ được hiểu là: "Cách thức tự điều hành,

tự quản lý mọi công việc của một tổ chức không bị tổ chức khác chi phối của một tập hợp yếu tố phụ thuộc vào nhau mà theo đó một quá trình thực hiện"

Trang 34

- C ch tự chủ của các đ n vị sự nghiệp khoa học công nghệ công lập

* Với quan niệm "Cơ chế tự chủ của các ĐVSN khoa học công nghệ công lập" được hiểu là:

Thứ nhất, tổ chức KHCN công lập với tư cách là một ĐVSN do Nhà nước thành lập để thực hiện nhiệm vụ của Nhà nước giao trong lĩnh vực chuyên môn, kinh phí hoạt động chủ yếu do Nhà nước cấp, bộ máy quản lý và nhân sự do Nhà nước sắp xếp quy định

Thứ hai, thực hiện cơ chế tự chủ thì các yếu tố cấu thành bao gồm: nhiệm vụ, tài chính, bộ máy quản lý, nhân sự của tổ chức KHCN phải theo cơ chế tự chủ đảm bảo sự đồng bộ giữa các yếu tố trên để tự điều hành, quản lý mọi công việc của tổ chức KHCN

Thứ ba, để ĐVSN tự chủ hoàn toàn là một quá trình bao gồm: tự chủ từng phần, từng giai đoạn, thực chất đó là quá trình đổi mới cơ chế quản lý của Nhà nước nhằm tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các ĐVSN công lập Quá trình đã và đang diễn ra từ năm 1995 Đến nay đang là thời điểm đòi hỏi phải thúc đẩy nhanh hơn có tính cấp thiết hơn

Trong giai đoạn phát triển hiện nay, nhà nước đặt ra mục tiêu ưu tiên mọi nguồn lực xã hội cho phát triển KHCN và đổi mới cơ chế hoạt động của hệ thống KHCN quốc gia Theo đó, một số loại hình tổ chức KHCN buộc phải chuyển sang hoạt động theo hình thức tự trang trải kinh phí hoặc doanh nghiệp KHCN

Chính sách chuyển đổi tổ chức KHCN sang mô hình doanh nghiệp là kết quả của một quá trình dài cải cách cơ chế hoạt động nói chung và chính sách tài chính nói riêng của các đơn vị khoa học công nghệ công lập với mục tiêu là trao quyền tự chủ thật sự cho cơ quan, đơn vị trong việc tổ chức công việc, sử dụng lao động, tăng cường huy động và quản lý thống nhất các nguồn thu Đồng thời, sử dụng tiết kiệm

và có hiệu quả các nguồn tài chính nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động

sự nghiệp, tạo điều kiện cho các ĐVSN đảm bảo trang trải kinh phí hoạt động và nâng cao thu nhập của cán bộ, viên chức

Nhà nước cho phép các tổ chức KHCN được lựa chọn chuyển đổi theo 1 trong 3 loại hình tổ chức:

Trang 35

- Thứ nhất là tổ chức KHCN nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược chính sách phục vụ quản lý nhà nước, được ngân sách tiếp tục đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên nhưng sử dụng theo phương thức khoán tương ứng với nhiệm

vụ được giao Loại hình tổ chức này về cơ bản vẫn được nhà nước “bao cấp” như trước đây nhưng với mức độ tự chủ cao hơn

- Thứ hai là tổ chức KHCN tự trang trải kinh phí hoạt động (gọi tắt là tổ chức chuyển đổi), được hiểu là đơn vị tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên (quỹ lương và chi hoạt động bộ máy), sau khi chuyển đổi vẫn là một tổ chức KHCN hoạt động theo Luật KHCN, được nhà nước tiếp tục hỗ trợ kinh phí thông qua nhiệm vụ

và đầu tư phát triển, đồng thời nếu có hoạt động SXKD thì được hưởng những quyền lợi khác như doanh nghiệp mới thành lập

- Thứ ba là doanh nghiệp KHCN, được hiểu là doanh nghiệp đa sở hữu mới khởi nghiệp, hoạt động trong lĩnh vực KHCN theo Luật Doanh nghiệp, SXKD các sản phẩm mới dựa trên kết quả NCKH, bí quyết công nghệ, kết quả ươm tạo công nghệ, được hưởng chính sách ưu đãi cao của nhà nước trong giai đoạn đầu hình thành và phát triển

1.3.2 Hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý của tổ chức khoa học công nghệ theo

cơ chế tự chủ

1.3.2.1 Khái niệm

Theo từ điển tiếng Việt: “Hoàn thiện” có nghĩa “Tốt và đầy đủ đến mức thấy không cần phải làm gì thêm nữa” Tuy nhiên, trong thực tế không có khái niệm “Hoàn thiện” mãi mãi mà nó chỉ đúng trong một khoảng thời gian nhất định Đối với bộ máy tổ chức quản lý chịu ảnh hưởng của các nhân tố bên trong và bên ngoài luôn biến động; nhân tố bên trong trước hết là phải xuất phát từ chức năng hoạt động của tổ chức để thiết

kế bộ máy quản lý mà chức năng này cũng chỉ ổn định trong một thời gian nhất định; nhân tố bên ngoài luôn biến động mà bộ máy quản lý phải thích nghi Do đó có thể quan niệm về hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý như sau:

Hoàn thiện bộ máy quản lý là việc rà soát, bố trí, sắp xếp lại các bộ phận trong bộ máy quản lý sao cho các bộ phận đó trở lên tinh gọn, được phối hợp hoạt động nhịp nhàng, ổn định, không chồng chéo, không trùng lặp nhiệm vụ nhằm nâng

Trang 36

cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Bộ máy quản lý, hoàn thành nhiệm vụ đặt ra trong một giai đoạn nhất định

1.3.2.2 Mục tiêu và yêu cầu hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý của tổ chức khoa

học công nghệ công lập theo c ch tự chủ

* Mục tiêu

Mục tiêu cơ bản của việc hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý là xây dựng bộ máy tinh gọn, hợp lý Cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, chức năng nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn rõ ràng, minh bạch, cơ chế hoạt động đồng bộ, thống nhất được xây dựng trên cơ sở có luận cứ khoa học vững chắc, phù hợp với thực tế, đảm bảo cho bộ máy quản lý hoạt động có hiệu lực, hiệu quả để thực hiện tốt các chức năng quản lý

- Bộ máy quản lý tinh gọn có nghĩa là: Số lượng, chất lượng các bộ phận của

cơ cấu tổ chức đủ để đảm bảo hoàn thành các chức năng, nhiệm vụ của tổ chức, không thừa, không thiếu

- Số lượng, chất lượng của từng bộ phận chính là yếu tố cán bộ quản lý phải lựa chọn đúng người, giao đúng việc được định biên về số lượng và đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực

- Cơ cấu hoạt động và phối hợp phải đồng bộ theo chiều ngang (ngang quyền) giữa các khâu chức năng và thống nhất theo chiều dọc (không ngang quyền) theo các cấp quản lý

* Yêu cầu

Yêu cầu hoàn thiện bộ máy quản lý phải đảm bảo được các yêu cầu sau:

- Bộ máy quản lý gọn, nhẹ đáp ứng được yêu cầu và phạm vi quản lý của tổ chức

- Chuyên môn hoá các hoạt động của Bộ máy quản lý đặc biệt là những lĩnh vực quan trọng của tổ chức

- Sự phối hợp hài hoà, đồng bộ ăn khớp trong toàn bộ máy hướng tới mục tiêu đã xác định

- Sự thống nhất của điều hành và mệnh lệnh của mối quan hệ trực tuyến (theo chiều dọc) của tổ chức

- Sự tương thích giữa chức năng, nhiệm vụ với trách nhiệm, quyền hạn và sự cân bằng giữa trách nhiệm với thẩm quyền

Trang 37

- Sự phân chia các bộ phận hợp lý và có khả năng liên kết cao

- Khả năng linh hoạt, sáng tạo cao thích ứng với các điều kiện thay đổi

1.3.2.3 Căn cứ để hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý của tổ chức khoa học công nghệ công lập theo c ch tự chủ

Để hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý của tổ chức KHCN công lập căn cứ vào nội dung của cơ chế tự chủ trong các nghị định của Chính phủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập nói chung, đơn vị KHCN nói riêng gồm:

Trong đó: tự chủ về bộ máy tổ chức và nhân sự cần:

- Căn cứ vào mục tiêu của việc hoàn thiện

- Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của tổ chức trong giai đoạn cần hoàn thiện

- Căn cứ vào kết quả đánh giá bộ máy tổ chức quản lý hiện tại để rút ra những mặt hạn chế, nguyên nhân của hạn chế và tìm giải pháp hoàn thiện

Sau một thời gian triển khai thực hiện Nghị định số 10/2002/NĐ-CP, Bộ Tài chính đã phối hợp cùng các bộ, ngành và các địa phương tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các ĐVSN có thu Trên cơ sở đó đã tiếp tục hoàn thiện và trình Chính phủ ban hành Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 Quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với ĐVSN công lập So với trước, giai đoạn này được sửa đổi bổ sung thêm một số vấn đề mới như sau:

Đối tượng thực hiện: mở rộng thêm đối tượng là các ĐVSN Loại III - ĐVSN không có nguồn thu sự nghiệp hay có nguồn thu thấp, là những đơn vị mà NSNN phải cấp toàn bộ kinh phí đế bảo đảm hoạt động thường xuyên của đơn vị

Về kinh phí của ĐVSN được phân thành 2 phần:

Kinh phí giao tự chủ: để bảo đảm hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao; Bao gồm kinh phí NSNN cấp chi thường xuyên (trừ các đơn vị Loại I) và các khoản thu sự nghiệp được đê lại

Trang 38

Kinh phí không giao tự chủ: các nguồn kinh phí do NSNN cấp để thực hiện các nhiệm vụ được giao

Về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của ĐVSN:

Thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc xác định nhiệm vụ, xây dựng kế hoạch và tổ chức hoạt động

Tự chủ về tổ chức bộ máy: được thành lập mới, sát nhập, giải thể các tổ chức

sự nghiệp trực thuộc

Tự chủ về biên chế: các đơn vị thuộc Loại I được tự quyết định biên chế; các đơn vị thuộc Loại II và Loại III: thủ trưởng đơn vị xây dựng kế hoạch biên chế hàng năm gửi cơ quan chủ quản trực tiếp để tổng hợp, giải quyết theo thẩm quyền; các ĐVSN được ký hợp đồng lao động

Tự chủ về sử dụng nguồn tài chính:

- Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, đối với các khoản chi thường xuyên đơn vị được quyết định một số mức chi cao hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định (trừ một số khoản chi đơn vị phải tuân theo chế độ quy định) Được quy định mức thu phí, lệ phí trong khung quy định của cấp có thẩm quyền

Đối với đơn vị thuộc Loại III: được quyết định một số mức chi quản lý, chi hoạt động nghiệp vụ, nhưng tối đa không vượt quá mức chi do cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền quy định Các đơn vị phải xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, thông qua hội nghị CBVC, gửi KBNN để kiểm soát chi và gửi cơ quan chủ quản để làm căn cứ kiểm tra, giám sát

Được huy động vốn của cán bộ viên chức của đơn vị, vay vốn ngân hàng, liên doanh liên kết để mở rộng hoạt động dịch vụ và nâng cao chất lượng hoạt động

sự nghiệp Đối với những hoạt động dịch vụ, liên doanh, liên kết, đơn vị được quyết định các khoản thu, mức thu cụ thể theo nguyên tắc bảo đảm đủ bù đắp chi phí và

có tích lũy

Căn cứ tính chất công việc, thủ trưởng đơn vị được quyết định phương thức khoán chi phí cho từng bộ phận, đơn vị trực thuộc; được quyết định đầu tư xây dựng, mua sắm mới và sửa chữa lớn tài sản theo quy định

Trang 39

Về thu nhập: cuối kỳ kế toán chênh lệch thu - chi được sử dụng để chi trả thu nhập tăng thêm cho cán bộ, viên chức

Đối với Loại I: được quyết định tổng mức thu nhập trong năm cho người lau động theo quy chế chi tiêu nội của đơn vị (không khống chế mức tối đa), sau khi đã thực hiện trích lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp tối thiểu 25% chênh lệch thu - chi

Đối với Loại II: được quyết định tổng mức thu nhập trong năm cho NLĐ, nhưng tối đa không quá 3 lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm do nhà nước quy định, sau khi đã thực hiện trích lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp tối thiểu 25% chênh lệch thu - chi

Đối với Loại III: được xác định tổng mức chi trả thu nhập trong năm của NLĐ tối đa không quá 2 lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ

Việc chỉ trả thu nhập cho từng NLĐ do Thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu của đơn vị (không khống chế mức tối đa)

Về trích lập các quỹ: sau khi xác định được chênh lệch thu - chi cuối kỳ, được sử dụng để chi trả thu nhập tăng thêm và trích lập các quỹ

Loại I và Loại II: được trích lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp (tối thiểu 25% chênh lệch thu - chi), Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập; đối với 2 Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi, mức trích tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm

Loại III: được chi tăng cường cơ sở vật chất, chi khen thưởng, chi phúc lợi, lập quỹ dự phòng ổn định thu nhập

1.3.3 Nội dung hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý của tổ chức khoa học công nghệ theo cơ chế tự chủ

Đây là nội dung do bộ phận chức năng chuyên sâu về tổ chức nhân sự thực hiện theo phạm vi chức năng tổ chức trong quản lý Chức năng tổ chức là chức năng

kế tiếp của chức năng hoạch định và đến lượt mình chức năng tổ chức tạo ra tiền đề

để thực hiện các chức năng lãnh đạo và kiểm tra Nó có vị trí, vai trò rất quan trọng quyết định tới hoạt động có hiệu quả của cả tổ chức Nội dung hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý bao gồm:

Trang 40

1.3.3.1 Xây dựng k hoạch hoàn thiện c cấu bộ máy tổ chức quản lý phù hợp với quá trình thực hiện c ch tự chủ

Cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý phụ thuộc nhiều yếu tố Trước hết là chức năng của tổ chức còn các yếu tố khác như: quy mô, địa bàn hoạt động của tổ chức cũng cần được quan tâm đúng mức Việc lựa chọn quyết định một cơ cấu phù hợp nhất có ý nghĩa quyết định tính hiệu lực, hiệu quả của bộ máy quản lý Mặc dù các nhà khoa học và kinh nghiệm thực tiễn đã tổng kết một số mẫu cơ cấu tổ chức điển hình nhưng không thể sao chép máy móc để áp dụng cho tổ chức của mình Mặt khác, cơ cấu tổ chức quyết định cơ chế hoạt động của bộ máy và khi kết hợp cả cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động sẽ chi phối cả mục tiêu và cả chủ thể (người đứng đầu tổ chức, đứng đầu

bộ máy), đồng thời chi phối tới mọi cá nhân hoạt động trong cơ cấu tổ chức Chính

vì vậy, cơ cấu tổ chức được thiết kế không bất biến mà luôn cần phải hoàn thiện cho phù hợp nhất với tổ chức

Một cơ cấu bộ máy tổ chức được đánh giá là hợp lý khi đảm bảo các yêu cầu sau đây:

- Chức năng, nhiệm vụ của tổ chức được phân chia và phân công rõ ràng, không chồng chéo

- Đảm bảo sự phối hợp của cơ cấu tổ chức với chức năng, nhiệm vụ của tổ chức nghĩa là vừa đủ các bộ phận cần thiết để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được phân công

- Sự phân công nhiệm vụ hợp lý cho từng bộ phận và cá nhân

- Cơ cấu tổ chức hợp lý còn phải có cơ cấu hoạt động rõ ràng, đồng bộ, đảm bảo sự phối hợp giữa các bộ phận nhịp nhàng, ăn khớp

- Lựa chọn được con người có đủ năng lực, phẩm chất, kỹ năng để thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao

1.3.3.2 Tổ chức thực hiện hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý theo c ch tự chủ

Thứ nhất là: Phân tích c cấu tổ chức bộ máy, rà soát, xác định lại chức năng cụ thể của tổ chức trong giai đoạn hiện tại

Về mặt lý thuyết: Chức năng là những nhiệm vụ tổng quát mà chủ thể quản lý phải thực hiện trong quá trình quản lý để đạt mục tiêu quản lý Như vậy,

Ngày đăng: 23/11/2019, 17:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w