Phân bổ nguồn lực khoa học và công nghệ cho phát triển kinh tế: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt NamPhân bổ nguồn lực khoa học và công nghệ cho phát triển kinh tế: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt NamPhân bổ nguồn lực khoa học và công nghệ cho phát triển kinh tế: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt NamPhân bổ nguồn lực khoa học và công nghệ cho phát triển kinh tế: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN HƯƠNG GIANG
PHÂN BỔ NGUỒN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
VÀ HÀM Ý CHO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
Hà Nội – 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN HƯƠNG GIANG
PHÂN BỔ NGUỒN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
VÀ HÀM Ý CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành : Kinh tế quốc tế
Mã số : 60 31 01 06
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN CẨM NHUNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Việc sử dụng kết quả, trích dẫn tài liệu của người khác đảm bảo theo đúng các quy định Các nội dung trích dẫn và tham khảo các tài liệu, sách báo, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Tác giả luận văn
Nguyễn Hương Giang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được
sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình từ cán bộ Phòng Đào tạo, Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới tất cả các cơ quan, tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu này
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Kinh Tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội cùng các thầy cô giáo đã truyền đạt nhiều kiến thức trong suốt thời gian học tập tại trường
Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin chân thành cảm ơn
TS Nguyễn Cẩm Nhung đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2018 Tác giả
Nguyễn Hương Giang
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN BỔ NGUỒN LỰC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ 6
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6
1.2 Một số khái niệm cơ bản 8
1.2.1 Khái niệm về khoa học 8
1.2.2 Khái niệm về công nghệ 9
1.2.3 Khái niệm về nguồn lực khoa học công nghệ 11
1.2.4 Cơ chế phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ 14
1.2.5 Tiêu chí đánh giá hiệu quả phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ 15
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Phương pháp nghiên cứu thu thập số liệu 17
2.2 Phương pháp so sánh 17
2.3 Phương pháp xử lý số liệu 18
2.4 Phương pháp case study 19
CHƯƠNG 3 KINH NGHIỆM VỀ PHÂN BỔ NGUỒN LỰC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Ở ĐAN MẠCH, NHẬT BẢN VÀ MỸ 21
3.1 Vai trò của phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ 21
3.2 Kinh nghiệm về phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ ở Nhật Bản 25
3.2.1 Cơ chế phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ ở Nhật Bản 25
Trang 63.2.2 Thực trạng phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ ở Nhật Bản 29
3.3 Kinh nghiệm về phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ ở Đan Mạch 41
3.3.1 Cơ chế phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ ở Đan Mạch 41
3.3.2 Thực trạng phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ ở Đan Mạch 43
3.3.3 Hiệu quả phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ ở Đan Mạch 47
3.4 Kinh nghiệm về phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ ở Mỹ 48
3.4.1 Cơ chế phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ ở Mỹ 48
3.4.2 Thực trạng phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ ở Mỹ 51
3.4.3 Hiệu quả phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ ở Mỹ 54
3.5 Đánh giá chung 56
CHƯƠNG 4 BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ HÀM Ý CHO VIỆT NAM 59
4.1 Đánh giá về phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ ở Việt Nam 59
4.1.1 Thực trạng phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ ở Việt Nam 59
4.1.2 Đánh giá chung 68
4.2.Các chính sách, định hướng của Chính Phủ 69
4.2.1 Vai trò của Chính phủ trong quá trình phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ 69
4.2.2 Giải pháp hỗ trợ và phát triển phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ trong bối cảnh mới 72
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Tên viết tắt Dịch nghĩa Nguyên nghĩa
1 BERD Business Enterprise research
and development
Doanh nghiệp nghiên cứu và phát triển
2 DKK Denmark Krone Krone Đan Mạch
3 GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm nội địa
4 GERD Gross domestic expenditure
on research and development
Tổng chi tiêu trong nước dành cho nghiên cứu và phát triển
5 ICT Information and
9 JPY Japanese Yen Đồng Yên Nhật Bản
10 NCKH Nghiên cứu khoa học
13 USD United State Dollar Đồng Đô-la Mỹ
14 R&D Research and Development Nghiên cứu và phát triển
15 STI Science, technology,
innovation Khoa học, công nghệ và đổi mới
16 S&T Science and Technology Khoa học và công nghệ
17 STEM Science, Technology,
Engineering and Mathematics
Khoa học, công nghệ, kỹ thuật
và toán học
Trang 8DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 3.1 Đầu tư cho R&D của Mỹ 55
2 Bảng 3.2 Tỉ lệ R&D/ %GDP giai đoạn 2011 – 2016 57
3 Bảng 4.1 Đầu tư NSNN cho KHCN 66
4 Bảng 4.2 Thống kê số lượng đội ngữ NCKH 67
Trang 9DANH MỤC HÌNH
1 Hình 3.1 Chi tiêu cho nghiên cứu khoa học công nghệ và đổi mới
từ năm 2001 – 2016 31
2 Hình 3.2 Tỉ lệ % GDP chi cho R&D năm 2005 33
3 Hình 3.3 So sánh kết quả KHCNĐM năm 2014 với các quốc gia
4 Hình 3.4 Thành phần cấu trúc của BERD năm 2011 36
5 Hình 3.5 Chi phí R&D/ %GDP giai đoạn 1993 – 2003 43 Hình 3.6 Tổng chỉ tiêu trong nước dành cho R&D tại Đan Mạch 44
6 Hình 3.7 Phân bổ tài chính cho nghiên cứu khoa học cơ bản năm
7 Hình 3.8 Phân bổ R&D vào các ngành nghiên cứu khoa học 46
8 Hình 3.9 Đầu tư vào các trường đại học giai đoạn 2008 - 2013 47
9 Hình 3.10 So sánh kết quả KHCNĐM năm 2014 với các quốc gia
10 Hình 3.11 Đầu tư vào R&D giai đoạn 2010 - 2016 56
11 Hình 4.1 Ngân sách nhà nước đầu tư cho KHCN theo năm (tỷ
12 Hình 4.2 Tỷ lệ chi KHCN từ NSNN so với tổng chi NSNN và
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã và đang đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động làm chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của các quốc gia và làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội loài người Việc nhanh chóng vận dụng những thành tựu của khoa học công nghệ đã làm thay đổi cục diện của nhiều khu vực và nhiều nước trên thế giới Hay nói một cách khác, công nghệ bao giờ cũng quyết định vị trí và thứ bậc phát triển của các quốc gia Nếu từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVII, Trung Hoa thực sự là trung tâm và làm thay đổi thế giới nhờ 4 phát minh công nghệ là thuốc súng, kỹ thuật in, giấy và la bàn nam châm, thì từ thế kỷ XVIII, vị trí này không còn nữa do châu Âu đã vượt qua nước này về công nghệ bằng cuộc cách mạng công nghệ lần thứ nhất với phát minh ra máy hơi nước Nhờ biết thay thế lao động con người bằng lao động máy móc, nước Anh đã lên ngôi bá chủ thế giới Một trăm năm sau, cuộc cách mạng công nghệ lần thứ hai trong các lĩnh vực: điện, hóa chất, dược phẩm, ô-tô, hóa dầu đã khởi phát và tới lượt các nước Đức và Mỹ chiếm ưu thế, còn nước Anh bị bỏ rơi vì không bắt kịp sự phát triển các ngành công nghiệp mới.Lại 100 năm nữa, vào lúc chuyển giao hai thế kỷ XX và XXI, trong cuộc cách mạng công nghệ lần thứ ba, tri thức và việc ứng dụng tri thức vào sản xuất đã đóng vai trò quyết định cho sự giàu có của đất nước Lịch sử loài người đã trải qua 3 cuộc cách mạng công nghiệp trên và hiện nay được cho là đang diễn ra cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4 với các đột phá công nghệ như hệ thống thực tế - ảo, kết nối internet sự vật – IoT, điện toán đám mây, dữ liệu lớn, robot, in 3D, cảm biến,… Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ tác động sâu sắc đến nền kinh tế thế giới như tổ chức lại chuỗi
Trang 11sản xuất kéo theo thay đổi dòng đầu tư và thương mại quốc tế; tác động đến chuyển dịch cán cân kinh tế thế giới; thúc đẩy các nước nhìn nhận lại mô hình công nghiệp hóa
Ngày nay, phần lớn các nền kinh tế đang thực hiện bước chuyển quan trọng từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức Với bước chuyển mình như này cho thấy được nguồn lực khoa học công nghệ đang ngày càng trở nên quan trọng, dần dần nguồn lực này sẽ chiếm vị trí đầu tiên trong tất cả các nguồn lực, là nguồn lực cơ bản nhất đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở
xã hội hiện đại và phát triển này
Vai trò quan trọng là thế, nhưng làm như thế nào để có thể ứng dụng nguồn lực khoa học công nghệ này vào trong quá trình phát triển kinh tế? Chính sách phân bổ và ứng dụng nguồn lực này vào thực tiễn ra sao? Làm thế nào để có thể phát huy được toàn bộ sức mạnh của nguồn lực? Có rất nhiều câu hỏi quan trọng và cần thiết để từ đó chúng ta có cái nhìn tổng quan hơn về nguồn lực khoa học công nghệ Từ những kinh nghiệm và kế thừa những thành quả từ trước, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu đã tiếp tục phát triển và không ngừng nâng cao chất lượng, không ngừng sáng tạo dựa trên những thành tựu của đời trước để tạo ra những sáng kiến, phát minh vĩ đại cho đời sau Ví dụ cụ thể nhất cho thấy sự phát triển thần kì dựa trên việc ứng dụng khoa học công nghệ - đất nước Nhật Bản giai đoạn sau Chiến tranh thế giới thứ hai Dù là nước thua trận, xong chỉ sau một thời gian ngắn, nhờ vào những ứng dụng trong công nghệ, Nhật Bản đã dần trở thành một trong những nền kinh tế thị trường nổi bật trên thế giới Bằng việc tận dụng những khoa học công nghệ dở dang và được bảo tồn, người dân Nhật Bản đã kế thừa và phát huy, đẩy mạnh và phát triển những công nghệ đó lên một tầm cao mới Đó là lí do vì sao có một Nhật Bản đã rất thành công trong các ngành sản xuất đòi hỏi tri thức
Trang 12công nghệ cao như sản xuất ô tô, thiết bị điện tử, đặc biệt là các vi điện tử, máy móc thiết bị, tàu, hoá chất…
Nếu như có thể tận dụng và sử dụng các nguồn lực công nghệ một cách hợp lý và hiệu quả, kế thừa những tiến bộ khoa học từ những quốc gia phát triển trên thế giới và ứng dụng những thành tựu đó vào trong quá trình phát triển kinh tế, kết hợp với những công nghệ kĩ thuật sẵn có,nguồn lực con người với trình độ cao, các nguồn thông tin cùng với các nguồn tài chính được kêu gọi từ phía Chính phủ hoặc từ các tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước, sử dụng và phân bổ có hiệu quả và linh hoạt tất cả các nguồn lực trên; Việt Nam sẽ ngày càng dần hoàn thiện bản thân và ngày càng phát triển hơn nữa
Chính vì vậy, em lựa chọn đề tài “Phân bổ Nguồn lực khoa học và công
nghệ cho phát triển kinh tế: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam” để
cho thấy được tầm quan trọng của khoa học công nghệ và quá trình phân bổ nguồn lực này trong công cuộc phát triển kinh tế cho một quốc gia như thế nào Và cũng từ những kinh nghiệm của một số quốc gia đi trước, Việt Nam
có thể rút ra những bài học trong việc phân bổ nguồn lực này hướng tớinhững công nghệ mới, sáng chế mới nhằm mục đích phát triển kinh tế bền vững
2 Câu hỏi nghiên cứu
Việc sử dụng và phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ có vai trò và tác động gì đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia? Làm thế nào để có thể phát huy được hết sức mạnh của khoa học công nghệ?
Dựa trên những nghiên cứu về phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ, thực trạng phân bổ, các chính sách phân bổ ở 3 quốc gia Đan Mạch, Nhật Bản
và Mỹ, Việt Nam sẽ làm như nào để xây dựng chính sách và giải pháp để phát
Trang 13triển, phân bổ, sử dụng các nguồn lực trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa?
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Đánh giá và luận giải được những tác động, vai
trò, thuận lợi và hạn chế trong quá trình phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ của một số nước trên thế giới để từ đó đưa ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về phân bổ nguồn lực trong khoa học và công nghệ nói chung và ở ba nước Đan Mạch, Nhật Bản và
Mỹ nói riêng
Nghiên cứu cơ sở và đưa ra các chính sách, giải pháp cho việc phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ của Việt Nam trong tương lai
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung vào vấn đề phân bổ nguồn lực
khoa học công nghệ
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ của Đan Mạch, Nhật Bản và Mỹ
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau: phương pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp thống kê và so sánh để khái quát, hệ thống và khẳng định kết quả nghiên cứu
6 Kết cấu của luận văn
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về phân bổ
nguồn lực khoa học công nghệ
Trang 14Chương 2 Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Kinh nghiệm về phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ ở
Đan Mạch, Nhật Bản và Mỹ
Chương 4 Bài học kinh nghiệm và hàm ý cho Việt Nam
Do kinh nghiệm, thời gian và kiến thức còn hạn chế nên luận văn khó tránh khỏi còn những vấn đề chưa được hoàn chỉnh, rất mong nhận đươc sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo để bài viết được hoàn thiện và có ý nghĩa thực tiễn hơn
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ
LÝ LUẬN VỀ PHÂN BỔ NGUỒN LỰC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã và đang đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động, làm chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của các quốc gia và làm thay đổi sâu sắc mọi mặt đời sống xã hội loài người Theo đó, cùng với việc xuất hiện các cơ hội phát triển mới trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư thì nguy cơ tụt hậu về kinh tế, khoa học và công nghệ, thông tin…
sẽ là những thách thức lớn đối với nhiều quốc gia trên thế giới; trong đó có Việt Nam
Việt Nam hiện đang trong quá trình vươn mình biến đổi từ nền kinh tế chỉ huy tập trung sang nền kinh tế thị trường Quá trình tái cơ cấu nền kinh tế
đã và đang tạo ra những bước chuyển dịch lớn về phương thức quản lý nguồn lực, trong đó có nguồn nhân lực (lao động) làm việc tại các ngành, lĩnh vực, thành phần kinh tế, các vùng lãnh thổ.Trong những năm qua, thực hiện cơ chế phân bổ nguồn lực hiệu quả giữa các vùng, các thành phần, các ngành là một trong những giải pháp quan trọng nhằm phục vụ quá trình tái cấu trúc nền kinh tế Song một tồn tại đáng lo ngại là hiện nay, khu vực kinh tế nhà nước được hưởng rất nhiều ưu đãi nhưng hiệu quả hoạt động lại kém hơn hẳn khu vực kinh tế tư nhân Nguồn lực sản xuất của quốc gia bị phân tán, đầu tư công
và cả đầu tư tư nhân bị dàn trải; các vùng kinh tế trọng điểm vừa chưa phát huy hết tiềm năng và thiếu tính liên kết trong phát triển Thực tế này đang đòi hỏi việc xem xét về cơ chế phân bổ nguồn lực hiệu quả, trong đó có nguồn lực khoa học công nghệ
Trang 16Cho đến nay đã có một số nghiên cứu của các tổ chức quốc tế và các nhà khoa học trong nước nghiên cứu về thực trạng phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ theo các ngành, vùng và khu vực kinh tế Điển hình là các nghiên cứu của OECD và Ngân hàng Thế giới (WB) về Khoa học, công nghệ và Đổi mới sáng tạo ở Việt Nam, Báo cáo tổng quan “Việt Nam 2035: hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ” của Ngân hàng Thế giới và Bộ
Kế hoạch và Đầu tư của Việt Nam (2016), Báo cáo sơ kết giai đoạn
2011-2015 về thực hiện chiến lược phát triển khoa học công nghệ 2011-2020, và các tác giả như Đặng Hữu và cộng sự (2016), và Ngô Doãn Vịnh (2010) Trước hết, các nghiên cứu đã có chủ yếu tập trung vào phân tích về thực trạng các tổ chức Nghiên cứu và phát triển (R&D) của Việt Nam, ví dụ OECD (2014), trong đó nêu hiện trạng số lượng cán bộ nghiên cứu, tính chất hoạt động R&D…
Một hướng nghiên cứu nữa về hoạt động khoa học công nghệ ở Việt Nam
là đánh giá về trình độ công nghệ của các doanh nghiệp ở Việt Nam, trong đó
có đề cập đến các khía cạnh về trình độ đổi mới công nghệ, số lượng đơn xin quyền sở hữu công nghiệp (thương hiệu), bằng độc quyền sáng chế, …
Một số nghiên cứu khác cũng xem xét phân bổ nguồn lực nhà nước (chẳng hạn như nguồn vốn) cho hoạt động khoa học công nghệ Đặng Hữu và cộng sự (2016) cho rằng ít khi thấy rõ đóng góp cụ thể của các hoạt động R&D do Chính phủ đầu tư vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội đặt
ra và hầu như không thể đo lường kết quả thực hiện (nếu có) Đặng Hữu và cộng sự (2016) cũng cho rằng kết nối giữa trường đại học hoặc cơ quan nghiên cứu với khu vực tư nhân còn rất mờ nhạt Cuối cùng, sự tách biệt giữa
hệ thống nghiên cứu và hệ thống đào tạo ngay chính trong các cơ sở nghiên cứu và đào tạo gây chồng chéo, giảm hiệu suất, làm cho nguồn lực mỏng càng thêm dàn trải (Đặng Hữu và cộng sự, 2016)
Trang 17Ngoài ra cũng có một số nghiên cứu khác đề cập đến hiện trạng hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông, hay hiệu quả việc ứng dụng công nghệ (ví dụ Ngô Doãn Vịnh, 2010), hiện trạng nguồn lực khoa học công nghệ và R&D …
Như vậy, có thể thấy rằng nguồn lực khoa học công nghệ có vai trò quan trọng như nào và việc phân bổ sử dụng các yếu tố nguồn lực một cách hợp lý
và có hiệu quả ra sao sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế Cần phải có cái nhìn toàn diện và khách quan cụ thể về phân bổ nguồn lực KHCN, cần phải nắm vững được những thông tin, khái niệm cơ bản trước khi đào sâu vào trong quá trình nghiên cứu Dựa trên những kinh nghiệm của các quốc gia đi trước để lấy làm bài học thực tiễn cho Việt Nam Bài nghiên cứu sẽ có một cái nhìn tổng quan hơn về phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ trong bối cảnh thời kì đổi mới
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Khái niệm về khoa học
Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới, học thuyết mới… về tự nhiên và xã hội Những kiến thức hay học thuyết mới nầy, tốt hơn, có thể thay thế dần những cái cũ, không còn phù hợp Thí dụ: Quan niệm thực vật là vật thể không có cảm giác được thay thế bằng quan niệm thực vật có cảm nhận
Như vậy, khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về qui luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, và tư duy Nó giải thích một cách đúng đắn nguồn gốc của những sự kiện ấy, phát hiện ra những mối liên hệ của các hiện tượng, vũ trang cho con người những tri thức về qui luật khách quan của thế giới hiện thực để con người áp dụng váo thực tiễn sản xuất và đời sống1 Khoa học còn được hiểu là một hoạt động
1
GS Nguyễn Văn Lê: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học Nhà xuất bản trẻ, 1995, trang 12
Trang 18xã hội nhằm tìm tòi, phát hiện qui luật, hiện tượng và vận dụng các qui luật ấy
để sáng tạo ra nguyên lý các các giải pháp tác động vào các sự vật, hiện tượng, nhằm biến đổi trạng thái của chúng Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội Phân biệt
ra 2 hệ thống tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học
Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên Quá trình nầy giúp con người hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa những con người trong xã hội Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chưa thật
sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy được hết các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự vật và con người Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhưng tri thức kinh nghiệm là
cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học
Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt động NCKH, các họat động nầy có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học Không giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các
sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học (discipline) như: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học…
“Trích từ trang Khoa học công nghệ thông tin - Trường Đại học Mỏ Địa chất”
1.2.2 Khái niệm về công nghệ
Thuật ngữ công nghệ (technology) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là technología, trong đó téchnē mang nghĩa là “nghệ thuật, kỹ năng nghề”, hoặc
“thủ công” và logía mang nghĩa là “châm ngôn”, “nghiên cứu” Vì vậy, thuật
Trang 19ngữ technología hàm nghĩa về các công cụ, kỹ năng và mưu mẹo của con người trong các hoạt động sống Ngày nay, công nghệ được xem là hệ thống các phương pháp, công cụ và năng lực giải quyết vấn đề, hay quy trìnhtạo ra sản phẩm (vật thể và phi vật thể)2 Vậy “công nghệ”là gì?
Theo Luật khoa học và công nghệ (năm 2000) định nghĩa: “Công nghệ
là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”
Trước đây, khi đề cập đến công nghệ, thông thường chúng ta bàn đến lĩnh vực kỹ thuật Nhưng nay, công nghệ còn bao hàm trong lĩnh vực dịch vụ (có thể gắn với kỹ thuật hoặc không phải kỹ thuật), vì giải pháp trong lĩnh vực dịch vụ cũng biến đổi nguồn lực thành sản phẩm (sản phẩm dịch vụ) Ví dụ, công nghệ trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, ngân hàng, trong đó có những cách thức, biện pháp huy động vốn, sử dụng vốn, nâng cao số lượng vòng quay của vốn một cách hiệu quả Đồng thời, công nghệ không chỉ dừng lại trong lĩnh vực kỹ thuật, hay lĩnh vực kinh doanh Về tổng thể, công nghệ có thể xuất hiện trong mọi lĩnh vực kể cả lĩnh vực quân sự, an ninh quốc phòng đến các hoạt động vui chơi, giải trí,…
Tuy nhiên, đối với một số học giả, nhà nghiên cứu khác thì họ lại cho rằng định nghĩa về công nghệ theo Luật khoa học công nghệ chưa đầy đủ và
chi tiết Theo ý kiến của PGS TS Trần Văn Hải khi tham gia Kỷ yếu Hội thảo, Tổ chức và hoạt động chuyển giao công nghệ: Kinh nghiệm của Australia và đề xuất cho Việt Nam - Hội thảo do Trường Đại học Khoa học xã
hội và nhân văn tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 30/12/2014 Ông
cho rằng: “Công nghệ là vật thể, chất thể, vật liệu sinh học, giống cây trồng, giống vật nuôi, quy trình, bí quyết, hoặc các giải pháp khác có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản
2
Trích từ Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Trang 20phẩm” Đây là khái niệm ông Hải cho rằng rõ ràng, dễ hiểu và giúp người đọc
có thể hình dung ngay ra công nghệ là gì, bao gồm các đối tượng nào
Dù được định nghĩa theo nhiều hướng khác nhau, song công nghệ có thể được tóm tắt và hiểu rằng đó là những phương pháp, quy trình, bí quyết, kĩ năng, công cụ dụng cụ, … được sử dụng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm
1.2.3 Khái niệm về nguồn lực khoa học công nghệ
Để hiểu được nguồn lực khoa học công nghệ là gì, trước hết cần phải
hiểu khái niệm Nguồn lực là gì? Lâu nay không có gì tranh luận lớn, nhưng
nhìn nhận về nguồn lực chưa nhất quán và thiếu cách nhìn định lượng; chưa quan tâm đúng mức đến việc tranh giành và độc quyền đối với một số nguồn lực nhờ danh nghĩa tổ chức nhà nước Việc lãng phí nguồn lực cũng chưa được xem xét đúng mức Những thứ được coi là nguồn lực phải là những thứ được sử dụng hoặc có khả năng sử dụng trong thời kỳ dự kiến phát triển Tiềm năng chưa đưa được vào sử dụng hoặc chưa có khả năng đưa vào sử dụng thì chưa được xem là nguồn lực
Theo ông Ngô Doãn Vịnh (bài đăng “Nguồn lực là gì? Động lực là gì? ngày 28/10/2009) cho rằng các nguồn lực được xem xét dưới nhiều góc độ
Có nghĩa là dưới nhiều góc độ, người ta chia các nguồn lực thành các loại khác nhau để có thái độ đúng đắn và có cách ứng xử với chúng thích hợp Với cách nhận thức như thế và trên quan điểm thiết thực, việc phân chia các nguồn lực được tiến hành theo hai cách chủ yếu:
Cách thứ nhất: người ta chia ra thành nguồn lực vật chất và nguồn lực tinh thần
Nhóm nguồn lực vật chất gồm có: tài nguyên thiên nhiên (tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên thuỷ điện, tài nguyên nước, tài nguyên khí hậu, vị trí địa kinh tế ) và cơ sở vật chất kỹ thuật đã tạo dựng (nhà cửa, công trình công cộng, đường sá, hải cảng, sân bay, hệ thống sản
Trang 21xuất và truyền tải điện, hệ thống cung cấp và thoát nước, hệ thống xử lý chất thải, hệ thống viễn thông và truyền thông )
Nhóm nguồn lực con người (gắn với tài nguyên trí thức) và tài nguyên thông tin Trí tuệ của con người có giá trị đặc biệt và không thể tự có được mà con người phải mất công, mất sức mới có Muốn có trí tuệ, con người phải có thể lực và trí lực cùng hoàn cảnh thuận lợi Đối với vấn đề xây dựng trí tuệ, việc giáo dục quan trọng như thế nào thì việc cải tạo nòi giống cũng quan trọng không kém Trong lĩnh vực xây dựng nguồn lực con người, không thể xem nhẹ việc bồi dưỡng và tập trung đầu tư, hỗ trợ kiến thức, kĩ năng cho người lao động nhằm mục đích nâng cao chất lượng đầu vào, đảm bảo chất lượng đầu ra, nhằm cung cấp được nguồn lực có kĩ thuật cao
Cách thứ hai, căn cứ vào nguồn gốc của các nguồn lực để phân loại
Căn cứ vào nguồn gốc của nguồn lực, người ta chia chúng ra thành hai nhóm lớn: nguồn lực trong nước và nguồn lực ngoài nước Nguồn lực trong nước bao giờ cũng giữ vai trò quyết định Bằng cơ chế, chính sách, người ta tạo ra môi trường hấp dẫn để thu hút các nguồn lực bên ngoài, nhất là thu hút nhân tài Thông qua cơ chế, chính sách, nhà nước và các doanh nghiệp có thể biến ngoại lực thành nội lực Phần lớn các nguồn lực đều hữu hạn Vì thế, việc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực và dự trữ các nguồn lực trong điều kiện có thể là một trong những quốc sách quan trọng
Vậy từ khái niệm nguồn lực là gì, chúng ta có thể rút ra khái niệm nguồn lực khoa học công nghệ là gì?
“Nguồn lực khoa học công nghệ chúng ta có thể hiểu là: Khả năng nghiên cứu, sáng tạo ra các công nghệ mới và năng lực tổ chức chuyển giao các kết quả nghiên cứu đó vào ứng dụng vào trong các hoạt động sản xuất – kinh doanh – dịch vụ, nhằm tạo cho nền kinh tế phát triển nhanh, vững chắc,
Trang 22đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả cao”3
Hai là, tổ chức chuyển giao các công nghệ nghiên cứu được ứng dụng vào đời sống và sản xuất Nghiên cứu đã là vấn đề khó khăn, phức tạp, xong việc đưa được kết quả nghiên cứu vào cuộc sống không phải dễ dàng Thực tế
đã cho thấy rằng có không ít nghiên cứu, phát minh làm ra bị bỏ trong ngăn kéo của các nhà khoa học, hoặc phải mất tới vài năm, thậm chí vài chục năm các phát minh đó mới được đưa vào ứng dụng thực tế
Bởi vậy, một quốc gia muốn có tiềm lực khoa học – công nghê hùng mạnh, phải luôn gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu, phát minh, sáng chế và tổ chức chuyển giao các kết quả đó vào ứng dụng thực tiễn trong đời sống Tuy nhiên, cũng cần có lưu ý đó là những quốc gia không mạnh về nghiên cứu cơ bản thì cần đầu tư mạnh mẽ cho nghiên cứu ứng dụng để có thể bắt kịp với trình độ phát triển chung của toàn nhân loại, điều này hoàn toàn có thể thực hiện được khi xu hướng toàn cầu hóa hiện nay ngày phát triển, việc nhập khẩu công nghệ không còn khó khăn như trước
Để có được tiềm lực khoa học – công nghệ mạnh cần phải chú trọng vào
2 vấn đề sau:
3 Trích từ Chương trình Khoa học công nghệ cấp nhà nước KX.01 – Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 23 Một là, đầu tư một cách thỏa đáng cho việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học – kĩ thuật đông đảo về số lượng và có trình độ cao về chuyên môn, có đủ năng lực để nghiên cứu, giải quyết những vấn đề về lý luận – khoa học – công nghệ do thực tiễn phát triển của quốc gia đặt ra.; cũng như có khả năng tiếp thu, ứng dụng các kết quả nghiên cứu, phát minh mà nhân loại đã đúc kết để đưa vào thực tiễn
Hai là, phải đầu tư thỏa đáng cho lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng Để ứng dụng được các nghiên cứu vào trong thực tiễn, cần một nguồn chi phí đầu
tư rất lớn Đầu tư chi phí vào máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất, tài liệu nghiên cứu, thông tin nghiên cứu,… và đặc biệt là đầu tư vào con người
1.2.4 Cơ chế phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ
Để có thể cân nhắc đưa ra các phương thức nhằm mục đích đầu tư cho KHCN một cách chính xác và phù hợp, thì cần phải tuân theo và dựa trên cơ chế phân bổ để từ đó, tiến hành các hoạt động cho nghiên cứu KHCN đạt hiệu quả, ứng dụng các thành tựu đó vào trong kinh tế xã hội Vậy cơ chế phân bổ nguồn lực ra sao cho hợp lý? Đó chính là:
Đầu tư đúng mức và có trọng điểm cho nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu phát triển lý luận, nghiên cứu phục vụ hoạch định đường lối, chính sách phát triển đất nước, bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường
Ưu tiên nguồn lực để triển khai các chương trình KHCN quốc gia, phát triển sản phẩm quốc gia, đổi mới công nghệ, phát triển công nghệ cao
Chuyển hướng mục tiêu nghiên cứu từ khoa học cơ bản những năm trước đây sang nghiên cứu ứng dụng trong những năm gần đây để phục vụ sự
phát triển kinh tế
Khuyến khích và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế nghiên cứu phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ Tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học trong các trường đại học Đổi mới cơ chế
Trang 24quản lý, nhất là cơ chế tự chủ về tài chính, tổ chức và hoạt động của tổ chức khoa học, công nghệ công lập Hoàn thiện thể chế định giá tài sản trí tuệ, tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, xử lý nghiêm các vi phạm Hỗ trợ nhập khẩu công nghệ nguồn, công nghệ cao và kiểm soát chặt chẽ việc nhập khẩu công nghệ
Xây dựng một số viện nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại, phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo và vườn ươm công nghệ Tạo thuận lợi thúc đẩy phát triển mạnh doanh nghiệp khoa học, công nghệ Có chính sách trọng dụng và tôn vinh đội ngũ khoa học, công nghệ Khuyến khích các nhà khoa học tham gia hoạt động khoa học, công nghệ trong và ngoài nước
Thực hiện bước cải cách căn bản về cơ chế tài chính đối với lĩnh vực khoa học và công nghệ, đặc biệt là việc đẩy mạnh cơ chế trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức khoa học và công nghệ Các cơ chế thu hút, thúc đẩy đầu tư vào khoa học và công nghệ tiếp tục được đổi mới và hoàn thiện, bao gồm cả việc thu hút nguồn lực của xã hội
1.2.5 Tiêu chí đánh giá hiệu quả phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ
Để đánh giá được hiệu quả phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ có đạt hay không, mỗi quốc gia sẽ có những tiêu chí đánh giá và tỉ lệ cho từng tiêu chí
sẽ là khác nhau Các tiêu chí đánh giá bao gồm:
Việc xây dựng các văn bản pháp lý, cơ chế, chính sách khoa học công nghệ trong việc thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực hay phân bổ nguồn lực cho các đối tượng khoa học công nghệ, … Các văn bản pháp lý, cơ chế chính sách có ý nghĩa quan trọng, nhằm góp phần cung cấp các luận cứ lý thuyết và thực tế cho quá trình hoạch định chính sách phân
bổ nguồn lực
Trang 25 Về nhân lực: Đây là lực lượng lao động đặc biệt mang tư duy đổi mới
và năng lực sáng tạo, có vai trò quan trọng trong quá trình quá trình nghiên cứu, khảo nghiệm và ứng dụng các quy trình công nghệ mới sẽ được quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đồng bộ cả về số lượng và chất lượng phục vụ giải quyết các vấn đề KHCN theo yêu cầu, phù hợp với định hướng phát triển các ngành kinh tế Chất lượng nhân lực ra sao, có phù hợp với định hương chung của khoa học công nghệ hay không đóng góp quan trọng trong việc đánh giá sự thành công của việc nghiên cứu KHCN
Về tài chính: được xây dựng và phân bổ dựa trên các văn bản pháp lý, cơ chế để thuận lợi và tạo điều kiện để thu hút đầu tư trong và ngoài nước Phân
bổ hợp lý, chính xác, đúng đối tượng và ưu tiên những ngành công nghệ cao
Quá trình chuyển giao công nghệ, hạ tầng khoa học, hệ thống hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm, phòng thí nghiệm chuyên ngành
Số lượng nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản và nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng Dựa vào tiêu chí đánh giá trên, mỗi quốc gia sẽ tự đánh giá về hiện trạng phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ; để từ đó có thể tiếp tục nghiên cứu, đưa ra những chính sách, cơ chế mới nhất nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế
Kết luận:
Chương 1 là tổng quan cơ sở nghiên cứu khoa học về lý luận phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ Dựa vào những cơ sở lý thuyết đã thu thập được từ các nguồn, tác giả có cái nhìn tổng quát và cụ thể hơn về các khái niệm khoa học là gì? Công nghệ là gì? Nguồn lực KHCN là gì? Các tiêu chí đánh giá, cơ chế phân bổ nguồn lực KHCN như thế nào để từ đó có thể nghiên cứu và phân tích cụ thể cho từng đối tượng trong bài luận văn
Trang 26CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp nghiên cứu
ví dụ so sánh quan điểm về nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao từ quan điểm của nhóm quản lý, nhóm chuyên gia… Chả hạn nghiên cứu các tài liệu về phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ của Nhật Bản, Đan Mạch và
Mỹ và các tiêu chí phân bổ cho nguồn lực ra sao?
2.1.2 Phương pháp so sánh
Dựa trên các thông tin dữ liệu đã được thu thập từ nhiều nguồn, tiến hành so sánh các yếu tố khác nhau dựa trên một tiêu chí đánh giá chung Cụ
thể là so sánh cơ chế phân bổ nguồn lực KHCN giữa Việt Nam và Nhật Bản
Sau quá trình so sánh, đưa ra những giải thích, kết luận về các vấn đề để cho thấy sự phân bổ khác nhau và vai trò của các yếu tố đóng góp cho quá trình phát triển KHCN Đánh giá vai trò của KHCN đối với sự phát triển kinh tế của môt quốc gia và đưa ra những chính sách phù hợp cho quá trình phân bổ nguồn lực KHCN hợp lý, nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển kinh tế Việt Nam
Trang 272.1.3 Phương pháp xử lý số liệu
– Phương pháp tổng hợp và phân tích: Hoạt động nghiên cứu sẽ kết hợp
việc tổng hợp và kết hợp cả phương pháp định tính và định lượng, trong đó phương pháp định tính đóng vai trò chủ đạo và các phân tích định lượng đóng vai trò minh họa, hỗ trợ Dựa vào các tài liệu thu thập, tác giả tiến hành tổng hợp và phân tích, so sánh để tìm ra những mặt hạn chế trong quá trình phân
bổ nguồn lực KHCN Phân tích kinh nghiệm phân bổ nguồn lực KHCN của Nhật Bản, Đan Mạch và Mỹ để từ đó rút ra được bài học kinh nghiệm Ví dụ: cần tìm hiểu và xác định được nguồn lực là gì? Nguồn lực khoa học công nghệ là gì? Vai trò ra sao? Các chính sách, cơ chế tài chính, chuyển giao công nghệ, có tác động ra sao khi áp dụng vào trong thực tế để thu hút nguồn đầu tư?
Phương pháp tổng hợp lý thuyết: Tổng hợp những mặt, những bộ phận, những mối quan hệ thông tin từ các tài liệu đã thu thập được thành một chỉnh thể để tạo ra một hệ thống lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về chủ đề nghiên cứu
Phương pháp tổng hợp kinh nghiệm: Kinh nghiệm là một tập hợp những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo đã được đúc kết từ thực tiễn Để sử dụng phương pháp này, tác giả đã triển khai nghiên cứu nhiều tài liệu liên quan ở trong và ngoài nước, khái quát hoá những kinh nghiệm cùng loại xảy ra trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định nào đó và có thể vận dụng vào thực tế nhằm phổ biến những bài học đó
Phương pháp thống kê mô tả: Tác giả dùng phương pháp này để phân tích nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập từ báo cáo thường niên hàng năm của các
tổ chức kinh tế thế giới như OECD, World Bank, UNESCO để phản ảnh được hiệu quả phân bổ nguồn lực KHCN của các đối tượng nghiên cứu
Trang 282.1.4 Phương pháp case study
Phương pháp nghiên cứu tình huống (case study) là một phương pháp nghiên cứu đang được sử dụng rất phổ biến trong các nghiên cứu kinh tế Trong nghiên cứu, tác giả sử dụng nghiên cứu về nguồn lực khoa học công nghệ và phân bổ nguồn lực trong thời kì kinh tế đổi mới và phát triển Do mỗi quốc gia có một đặc thù riêng nên phương pháp này sẽ nhằm làm rõ hơn đối tượng được nghiên cứu
2.2 Quá trình nghiên cứu
Nghiên cứu của luận văn được dựa trên cơ sở lý thuyết và thực trạng về phân bổ nguồn lực khoa học và công nghệ ở ba quốc gia Đan Mạch, Nhật Bản
và Hoa Kì, việc thực hiện phân bổ ở 3 quốc gia này đã đem lại những kết quả nhất định và cho thấy được những tác động tích cực trong quá trình phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ Trên cơ sở nghiên cứu về thực trạng phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ cho phát triển kinh tế, luận văn đưa ra hàm ý
về quá trình phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ ở Đan Mạch, Nhật Bản
và Hoa Kì để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
2.3 Các bước nghiên cứu
Bước 1: Tiếp cận các bài báo, bài nghiên cứu khoa học, tài liệu từ các tổ chức kinh tế thế giới như OECD, WTO, World Bank, …về việc phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ cho phát triển kinh tế
Bước 2: Tiếp cận trực tiếp với quá trình phân bổ nguồn lực ở Đan Mạch, Nhật Bản và Hoa Kì
Bước 3: Đánh giá thực tiễn kinh nghiệm ở 3 quốc gia trên và rút ra hàm ý cho Việt Nam
Trang 30CHƯƠNG 3 KINH NGHIỆM VỀ PHÂN BỔ NGUỒN LỰC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Ở ĐAN MẠCH, NHẬT BẢN VÀ MỸ
3.1 Vai trò của phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ
Để tiến tới một nền kinh tế công nghiệp hóa – hiện đại hóa, mỗi quốc gia cần phải có chiến lược nhằm thúc đẩy, hỗ trợ các nhân tố kinh tế đồng thời cùng phát triển Hiện nay, sự phân bố về trình độ chuyên môn và tài sản tri thức trên toàn thế giới đã thay đổi do sự gia tăng vốn tài chính và nhân lực phân bổ cho các hoạt động nghiên cứu và đổi mới giữa các nước không giống nhau, làm thay đổi các điều kiện và tính chất cạnh tranh đối với “tài sản tri thức”
Những tiến bộ khoa học và thay đổi công nghệ là những động lực quan trọng trong hoạt động kinh tế gần đây Khả năng sáng tạo, phân phối và khai thác các nguồn kiến thức đã trở thành một lợi thế cạnh tranh, tạo ra sự giàu có cho quốc gia và đồng thời nâng cấp chất lượng cuộc sống Một trong số những đặc điểm chính của sự chuyển đổi này là tác động mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT – informations and communications technology) đối với nền kinh tế và xã hội; ứng dụng nhanh chóng các tiến bộ khoa học vào trong các sản phẩm và quy trình mới; chuyển sang các ngành và dịch vụ có nhiều kiến thức chuyên sâu hơn; và yêu cầu nâng cao trình độ kĩ năng cá nhân
Những thay đổi này hàm ý rằng khoa học, công nghệ và đổi mới hiện nay là chìa khóa để cải thiện hiệu quả kinh tế Tuy nhiên, nếu Chính phủ muốn thu được lợi ích từ việc chuyển đổi này, họ sẽ phải đưa ra các chính sách phù hợp Các giới hạn về chi tiêu công, cạnh tranh gia tăng và toàn cầu hóa, những thay đổi trong tiến trình điều khiển của quá trình đổi mới, và cần hiểu rõ hơn về vai trò của khoa học và công nghệ trong hiệu quả kinh tế; và
xã hội thay đổi đã khiến chính phủ phải làm sắc nét và rõ ràng hơn các công
Trang 31cụ chính sách của họ Càng ngày, Chính phủ sẽ dần trở thành người hỗ trợ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người tiêu dùng thích nghi với nhu cầu và
cơ hội của nền kinh tế mới Nhưng có những lĩnh vực khác, chẳng hạn như đầu tư vào nghiên cứu cơ bản và đảm bảo sự tham gia của các bên liên quan trong thiết kế và thực hiện chính sách, nơi vai trò tích cực của chính phủ là không thể thiếu
Theo phân tích gần đầy nhất của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD, khoa học công nghệ đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế Trong những năm gần đây, năng suất đa yếu tố (MTP – multifactor productivity) đã tăng ở một vài quốc gia trong OECD, ví dụ như
Úc, Đan Mạch, Ireland, Phần Lan, Mỹ, … phản ảnh hiệu quả cao trong quá trình sử dụng vốn và nhân lực Tốc độ tăng trưởng của MFP diễn ra nhanh hơn thường là do thực tiễn quản lý được cải thiện,thay đổi tổ chức và quan trọng nhất là cách sản xuất hàng hóa và dịch vụ thông minh hơn và sáng tạo hơn Sự gia tăng MFP không phải là dấu hiệu duy nhất của tiến bộ công nghệ nhanh hơn Chất lượng vốn và lao động cũng tăng lên, do đầu tư mạnh vào vốn công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) và các kỹ năng tăng cao của công nhân trung bình trong nền kinh tế OECD Đặc biệt, truyền thông thông tin là một yếu tố quan trọng, và đã có tác động mạnh mẽ đến năng suất ở một
số nước, đặc biệt là khi đi kèm với sự thay đổi tổ chức và kỹ năng công nhân tốt hơn Nó cũng đã giúp cải thiện hiệu suất tronglĩnh vực dịch vụ trì trệ trước đây,tạo điều kiện giao tiếp, giảm chi phí giao dịch và cho phép mở rộng mạng
và hợp tác rộng hơn giữa các công ty
Vai trò ngày càng tăng của sự đổi mới và thay đổi công nghệ có thể được liên kết với những thay đổi trong quá trình đổi mới Đổi mới đã trở thành nhiều điều hướng thị trường, và các cuộc điều tra đổi mới cho 12 nước châu
Âu cho thấy hơn 30% doanh thu sản xuất dựa trên các sản phẩm mới hoặc cải
Trang 32tiến Sản lượng khoa học tiếp tục tăng trên toàn khu vực OECD và dữ liệu bằng sáng chế cho thấy sự đột biến của tất cả các nước OECD và trên nhiều lĩnh vực công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin và công nghệ sinh học Nhiều tài trợ cho sự đổi mới hiện đang hướng tới các công ty mới và các dự án nguy hiểm Đổi mới cũng dựa nhiều hơn vào mạng và hợp tác, bao gồm giữa khoa học và công nghiệp Một phân tích gần đây về các trích dẫn bằng sáng chế của Hoa Kỳ cho thấy rằng hơn 70% trích dẫn công nghệ sinh học là các giấy tờ có nguồn gốc duy nhất tại các tổ chức khoa học công Đổi mới toàn cầu hơn, phát sinh từ nhiều nguồn và được lan truyền rộng rãi hơn trong các lĩnh vực,bao gồm các dịch vụ, do đó mở rộngcơ sở cho tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, một phần ngày càng tăng của xuất khẩu sản xuất bao gồm hàng hóa công nghệ cao và trung bình, đặc biệt là ở Ireland, Nhật Bản và Hoa Kỳ
Đầu tư vào tài sản vô hình - giáo dục, nghiên cứu và phát triển (R&D), phần mềm - cũng mạnh mẽ Giáo dục là quan trọng, vì các công nghệ mới đòi hỏi công nhân lành nghề Trong giai đoạn những năm 2000 so với giai đoạn trước, tỷ lệ người trưởng thành có trình độ trung học phổ thông tăng từ 44% lên 72% tổng dân số OECD và tỷ lệ người lớn có trình độ đại học trở lên tăng gấp đôi, từ 22% lên 41%4
Theo số liệu thống kê mới nhất năm 2017 của một báo cáo OECD về giáo dục cho thấy, 85% thanh niên (25 - 34 tuổi) đã đạt trình độ trung học phổ thông Gần ½ (43%) có trình độ học tập cao hơn và đã
có bằng đại học Một số quốc gia có tỷ lệ thanh niên tốt nghiệp đại học thậm chí còn cao hơn, 50% trở lên, bao gồm Canada (61%), Ireland (52%), Nhật Bản (60%), Hàn Quốc (70%), Lithuania (55%) và Liên bang Nga (60%) Tỷ trọng các lĩnh vực tri thức về giá trị gia tăng và việc làm cũng tiếp tục tăng
4
Dịch trích từ Science, Technology and Innovation in new economy, OECD, tháng 09/2000
Trang 33Trong những năm gần đây, đầu tư vào R&D đã tăng lên Thâm hụt ngân sách của chính phủ đã được cải thiện và các quốc gia như Phần Lan và Nhật Bản đã tăng cường tài trợ công của họ Điều kiện kinh tế vĩ mô đã được cải thiện ở nhiều nước và đã có tác động đáng kể trong kinh doanh R&D, đặc biệt
là ở Đan Mạch, Phần Lan, Nhật Bản, Thụy Điển và Hoa Kỳ
Có thể thấy, việc phân bổ các nguồn lực vào trong khoa học công nghệ đóng vai trò quan trọng; để từ đó dựa trên các nghiên cứu sẵn có, các nhà kinh
tế học có thể đưa ra những chính sách, chiến lược nhằm hỗ trợ cho Chính phủ đưa ra các quyết định mang tầm vĩ mô
Phân bổ nguồn lực một cách hợp lý và khoa học sẽ hỗ trợ rất nhiều trong quá trình đưa ra quyết sách nhằm mục đích phát triển kinh tế Phân bổ không hợp lý, hay lãng phí trong quá trình phân bổ sẽ ảnh hưởng tới các nhân tố liên quan, gây mất thời gian
Trên thế giới đã và đang có rất nhiều quốc gia tìm lời giải cho bài toán phân bổ nguồn lực như thế nào được coi là hiệu quả, trong đó có Việt Nam
Và để tìm lời giải cho bài toán trên, Việt Nam đang trong quá trình nghiên cứu và học hỏi từ những quốc gia có nền kinh tế phát triển, tiêu biểu là Đan Mạch, Nhật Bản và Mỹ Ba quốc gia trên đều là những nền kinh tế phát triển,
có nền tảng khoa học công nghệ kĩ thuật sáng tạo và đổi mới, ứng dụng mạnh
mẽ những công nghệ đó vào thực tiễn kinh tế khoa học Với những khó khăn chồng chất sau khi Thế chiến kết thúc, Nhật Bản đã cho thấy được khả năng vươn mình vượt trên đống đổ nát để trở thành một trong những cường quốc lớn mạnh như hiện tại Việc ứng dụng và không ngừng phát triển khoa học kinh tế, tập trung vào các lĩnh vực chủ yếu về điện tử, người máy, … với sự
hỗ trợ từ Chính phủ Nhật Bản với 5 bản chính sách STI (1995 – 2020) đã góp phẩn đẩy mạnh KHCN ngày càng phát triển Hay như Đan Mạch với những tiến bộ vượt bậc về khoa học công nghệ thông tin, việc nghiên cứu và ứng
Trang 34dụng KHCN đã hỗ trợ cho những doanh nghiệp thuận tiện hơn trong việc đăng kí kinh doanh, rút ngắn thời gian và giảm thiểu các thủ tục hành chính trong quá trình hoạt động Từ những kinh nghiệm trên, Việt Nam có thể tự đưa ra những chính sách phù hợp, quá trình phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ cho phát triển kinh tế
3.2 Kinh nghiệm về phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ ở Nhật Bản
3.2.1 Cơ chế phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ ở Nhật Bản
Là một quốc gia vốn không giàu có về tài nguyên thiên nhiên, lại bị tàn phá kiệt quệ sau Chiến tranh thế giới thứ II Từ trong đống đổ nát hoang tàn, Nhật Bản đã vươn lên và đến nay đã trở thành một quốc gia có nền kinh tế phát triển lớn thứ ba thế giới Để đạt được thành công đó là nhờ Nhật Bản có đường lối phát triển kinh tế phù hợp, biết phát huy tinh thần dân tộc kết hợp với kí thuật phương Tây, đặc biệt Nhật Bản đã thành công trong việc phát huy các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở khuyến khích động lực lợi ích kinh tế từ mỗi cá nhân, của từng doanh nghiệp và từng tổ chức, … Một số động lực cho sự thay đổi xuất phát từ hiệu suất tăng trưởng kém của nền kinh tế Nhật Bản kể từ đầu những năm 1990, chẳng hạn như các bảng cân đối tài chính yếu kém, xu hướng các gia đình Nhật Bản ưu tiên cho tiết kiệm thay vì tiêu dùng, …tuy những yếu tố trên ít liên quan đến khoa học và công nghệ song cũng đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới nền kinh tế Nhật bản thời kì bấy giờ Sau thời gian đó, Chính phủ Nhật Bản thấy rằng, đầu tư vào khoa học và công nghệ (S&T – Science and Technology) và sử dụng kết quả của những nghiên cứu đó áp dụng vào nền kinh tế thực tiễn được coi là điều kiện tiên quyết quan trọng để thúc đẩy trở lại nhằm mục đích tăng trưởng ổn định trong dài hạn Quan điểm cơ bản này dường như có sự hỗ trợ chính trị trên diện rộng và kết quả là chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển (R&D) tiếp tục được ưu tiên cao từ cả khu vực tư nhân và chính phủ
Trang 35Việc ban hành Luật Cơ bản mới về Khoa học và Công nghệ vào năm
1995 đã đánh dấu sự khởi đầu cho sự phát triển của chính sách khoa học và công nghệ Theo luật này, Chính phủ bắt buộc phải lập các Kế hoạch cơ bản cho khoa học và công nghệ trong thời gian năm năm một lần Bản đầu tiên bao gồm giai đoạn 1996-2000 và bao gồm những thay đổi có hệ thống trong
hệ thống R&D, chủ yếu là những phần chịu ảnh hưởng của chính phủ Các chủ đề chính là:
Tăng cường hợp tác giữa các ngành, các trường đại học và chính phủ tổ chức nghiên cứu
Khuyến khích thành lập các liên doanh mới dựa trên công nghệ hạt giống hoặc ý tưởng từ các trường đại học hoặc viện nghiên cứu
Tăng cường hỗ trợ cho các nhà nghiên cứu trẻ bằng cách tăng mạnh số lượng học bổng sau tiến sĩ
Tăng tính di động của các nhà nghiên cứu
Cạnh tranh hơn cho các quỹ nghiên cứu và mức độ tập trung cao hơn quỹ nghiên cứu
Tăng nguồn lực của chính phủ cho R&D
Kế hoạch thứ hai kêu gọi phân phối vốn đầu tư chiến lược, thiết lập tám lĩnh vực ưu tiên cho nghiên cứu và phát triển R&D, tập trung vào bốn lĩnh vực khoa học đời sống, thông tin và viễn thông, khoa học môi trường và công nghệ nano và vật liệu Mặc dù tăng ngân sách thường xuyên đã được tập trung vào các khu vực ưu tiên, song việc phân phối lại ngân sách cho các khu vực này cho đến nay vẫn còn khá khiêm tốn
Xây dựng dựa trên kết quả đầu tư thông qua kế hoạch đầu tiên và thứ hai, Kế hoạch cơ bản về S&T thứ 3 tìm kiếm nguồn cấp dữ liệu cho nghiên cứu S&T được hỗ trợ từ phía xã hội Bản kế hoạch thứ ba khuyến khích sáng
Trang 36tạo ra môi trường nghiên cứu – nơi dành cho bất kì nhà nghiên cứu nào cũng
có thể tham giam, đặc biệt là những nhà nghiên cứu trẻ, những nhà nghiên cứu là nữ hay là những nhà nghiên cứu nước ngoài; Tăng cường chức năng của các trường đại học, sáng tạo ra hệ thống giáo dục và nghiên cứu nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao có khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội (Kế hoạch hành động 5 năm để thúc đẩy giáo dục đại học và hỗ trợ tài chính cho sinh viên tiến sĩ), mở rộng phạm vi nguồn nhân lực; Cải tiến và nâng cao môi trường nghiên cứu cạnh tranh, tiến hành đầu tư tập trung vào R&D một cách
có hiệu quả, loại bỏ những hệ thống lạc hậu kìm hãm phát triển trong quá trình nghiên cứu; Hệ thống hóa các quan hệ hợp tác quốc tế, tạo môi trường điều kiện thuận lợi nhằm tăng cường hoạt động nghiên cứu cho các nghiên cứu sinh nước ngoài;…
Ảnh hưởng của trận động đất phía Đông Nhật Bản cùng với vụ nổ lò hạt nhân Fukushima Daiichi, Nhật Bản đang trong quá trình đối mặt với quá nhiều cuộc khủng hoảng và thiên tai Trước những vấn đề đó, bản Kế hoạch thứ 4 được đưa ra nhằm mục tiêu biến Nhật Bản thành một quốc gia đạt được tăng trưởng bền vững và phát triển xã hội trong tương lại dù đất nước đang trong quá trình tái kiến thiết cấu trúc sau những thảm họa đã xảy ra; Đảm bảo cuộc sống an toàn, đầy đủ cho công dân; Thúc đẩy và duy trì KHCN, nhấn mạnh vào việc sử dụng nguồn năng lượng ổn định và năng lượng ít khí thải carbon; Xây dựng các hệ thống mới cho Khoa học – Công nghệ - Đổi mới STI (Science – Technology – Innovation); …
Bộ Khoa học Công nghệ Nhật Bản hoạt động tuấn theo các chính sách
cơ bản của Hội đồng khoa học, công nghệ và đổi mới (CSTI – Council of Science, Technology and Innovation) do Thủ tướng Chính phủ chủ trì, và hoạt động để thúc đẩy KHCN phối hợp với các bộ liên quan Kế hoạch cơ bản
Trang 37được thực hiện 5 năm một lần và bốn Kế hoạch cơ bản về khoa học và công nghệ đã được thiết lập kể từ khi ban hành Luật cơ bản về khoa học và công nghệ vào năm 1995 Kế hoạch cơ bản về khoa học và công nghệ lần thứ 5 (từ
2016 - 2020) có hiệu lực từ tháng 4/2016 Kế hoạch cơ bản không có các ưu tiên trong R&D ở mức chi tiết, nhưng có thể được xem là nhận diện rộng rãi của chính phủ về các lĩnh vực nghiên cứu quan trọng và nguyện vọng đổi mới
hệ thống Đổi mới hệ thống ngụ ý cải tiến, thường là trênmức độ trừu tượng cao như “khoa học mở”, với nhiều hệ thống liên quan đến khoa học và công nghệ Cuối cùng, các hướng này sẽ chuyển xuống các thay đổi khác, ví dụ: phương pháp quản lý ngân sách khoa học và công nghệ và một loạt các quy tắc liên quan đến nghiên cứu khoa học và công nghệ Việc xác định các lĩnh vực nghiên cứu quan trọng là chỉ dẫn của chính phủ quốc gia về những lĩnh vực học thuật được xem là chiến lược trong R&D trong năm năm tới Mục tiêu là tập trung các nguồn lực chính sách của chính phủ vào các lĩnh vực đó
Sự ưu tiên trong hai kế hoạch gần đây đã được củng cố vững chắc trong những thách thức lớn đối với Nhật Bản, như tăng trưởng bền vững bao gồm nguồn năng lượng ổn định, xã hội lão hóa, an toàn công cộng và an ninh liên quan đến cả tự nhiên (động đất) và nhân tạo thảm họa
Trải qua hơn 20 năm cải cách công nghệ, năm bản Kế hoạch cơ bản về Khoa học và Công nghệ, Nhật Bản cho thấy sự thay đổi dần về cơ cấu tập trung nghiên cứu sang các nguồn lực thành phần khác Nếu như ở kế hoạch lần 1, Chính phủ tập trung vào yếu tố giáo dục con người mang tầm quan trọng nhằm tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, sau đó là nguồn lực tài chính cần có dành cho nghiên cứu khoa học; cuối cùng mới là tập trung vào đầu tư nghiên cứu và phát triển Tới bản Kế hoạch lần 2, Nhật Bản đã mở rộng thêm nhiều lĩnh vực cần nghiên cứu, vẫn tập trung chủ yếu vào R&D
Trang 38song tuy nhiên ở giai đoạn này, việc phân bổ chính sách lại không đạt hiệu quả, còn nhiều yếu kém Tới giai đoạn 2010 – 2015, bản Kế hoạch thứ ba ra đời với nội dung tập trung chủ yếu về con người, về nguồn nhân lực chất lượng cao với các yêu cầu nâng cao chất lượng về giáo dục, về trường đại học, … dù tài thời điểm đó, nền kinh tế đang suy giảm trầm trọng do ảnh hưởng cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 Giai đoạn 2016 – 2020, bị ảnh hưởng bởi động đất và thiên tai, song Nhật Bản vẫn duy trì tiếp nối khoa học công nghệ và dần hướng tới phát triển công nghệ xanh Và hiện tại, Nhật đang trong quá trình thực hiện các chính sách dựa trên bản Kế hoạch lần 5 với việc thay đổi và nâng cao chất lượng, sử dụng nguồn tài chính một cách có hiệu quả Tóm lại, các yếu tố về con người, về nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình tiến hành nghiên cứu khoa học và công nghệ; sau đó là các yếu tố về tài chính; sau đó là về các công cụ hỗ trợ thực hiện nghiên cứu cùng với việc kế thừa thông tin từ những nghiên cứu, những bản Kế hoạch cơ bản trước
3.2.2 Thực trạng phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ ở Nhật Bản
Với phương châm “tinh thần Nhật Bản + công nghệ phương Tây”, Nhật Bản sớm đã lựa chọn ưu tiên quốc gia vào phương thức tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến từ các nước phương Tây Đây được coi là cách ngắn nhất của giai đoạn đầu trong việc nắm bắt nhanh công nghệ, tạo cơ sở cho sự phát triển tiếp theo là làm chủ và phát triển sáng tạo công nghệ mới thích nghi với các nhu cầu của sản xuất, dịch vụ và đời sống xã hội theo nhu cầu thị trường Đồng thời, với quá trình tiếp thu công nghệ, Nhật Bản từng bước phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ có trình độ cao, tiếp cận với các hướng phát triển mới nhất của khoa học công nghệ thế giới Chả hạn, để tiếp cận với
xu hướng phát triển tự động hóa trên thế giới, ngay từ những năm 80, Nhật Bản đã thành lập Viên nghiên cứu ứng dụng và phát triển tự động hóa nhằm
Trang 39xây dựng các trung tâm gia công không người MUM (Method Unmaned Engineering) và chỉ trong vòng 8 năm (1980 – 1988), Nhật Bản đã có 5 trung tâm MUM (trong khi Mỹ là một siêu cường quốc kinh tế và khoa học công nghệ lại chưa có mô hình này) Tự động hóa đã áp dụng rộng rãi trọng mọi ngành, mọi lĩnh vực kinh tế và văn hóa xã hội, nhờ đó Nhật Bản trở thành quốc gia tự động hóa đứng đầu thế giới Tương tự như vậy, chủ yếu qua còn đường tiếp cận, làm chủ, sáng tạo và phát triển công nghệ theo nhu cầu thị trường mà Nhật Bản đã trở thành một nước đi đầu trong lĩnh vực công nghệ cao: sản xuất nilon, sản xuất điện tử dân dụng,… Sau mỗi một giai đoạn, Nhật Bản cho thấy được khả năng tiềm tàng trong quá trình thích ứng được với nền khoa học công nghệ trên thế giới
Sau khi thế chiến thứ II kết thúc, Nhật Bản cho thấy dấu hiệu của sự hồi phục Đây là nền kinh tế lớn thứ ba trên thế giới về tốc độ tăng trưởng GDP chỉ đứng sau Hoa Kỳ và Trung Quốc Nền kinh tế Nhật Bản đã trải qua một
sự suy giảm liên tục kể từ những năm 1990 và triển vọng tăng trưởng của nó đang bị đe dọa bởi tỉ lệ dân số già, áp lực tài chính về chi tiêu an sinh xã hội,
nợ công cao (trên 180% GDP) và tác động của khủng hoảng tài chính, thảm họa thiên nhiên diễn ra hàng năm
Tuy vậy, Nhật Bản vẫn dành một khoản đầu tư với giá trị 3,35% GDP dành riêng cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển R&D, và nằm trong số các quốc gia có các hoạt động R&D chuyên sâu nhất thế giới Kế hoạch Cơ bản về KHCN lần thứ 4 (2011-2016) đề xuất và thúc đẩy tiếp cận tích hợp theo nhiều hướng vấn đề, các chính sách đổi mới,… được tạo ra nhằm thúc đẩy cùng với xã hội Dành các mối ưu tiên cho môi trường, năng lượng, sức khỏe và chăm sóc y tế, và những thách thức xã hội Năm 2013, Nhật Bản đã thông qua Chiến lược toàn diện về Khoa học, Công nghệ và Đổi mới như một tầm nhìn và lộ trình dài hạn đối với nền kinh tế lý tưởng của Nhật Bản
Trang 40Dựa vào hình 3.1 ta có thể thấy, bắt đầu từ giai đoạn thực hiện Kế hoạch
cơ bản S&T lần thứ 2 (2001 – 2005), xu hướng đầu tư vào S&T giảm dần do đây là thời điểm Nhật Bản tập trung vào xây dựng và phân bổ các nghiên cứu tập trung vào 4 lĩnh vực chính là khoa học đời sống, thông tin và viễn thông, khoa học môi trường và công nghệ nano và vật liệu; song tuy nhiên quá trình phân bổ chưa phù hợp, gây lãng phí và không đạt hiệu quả trong quá trình nghiên cứu
Hình 3.1 Chi tiêu cho nghiên cứu khoa học công nghệ và đổi mới từ năm
2001 - 2016
(Nguồn: Science, Technology and Innovation Japan policy, September 2017)
Giai đoạn 2006 – 2010, Kế hoạch S&T lần 3 được thực hiện với mức đầu tư mạnh mẽ vào giáo dục, vào đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao Đây là giai đoạn nên kinh tế Nhật Bản gặp khó khăn do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, song tuy nhiên không vì vậy mà quốc gia này hạn chế mức đầu tư vào NCKH Cụ thể cho thấy vào năm 2009, con số này đạt xấp xỉ 5000 tỷ Yên Nhật, mức đầu tư cao thứ 2 trong suốt giai đoạn 2001 – 2016 bất chấp tác động khủng hoảng kinh tế; do đó có thể thấy
Ngân sách dành cho STI (Đơn vị tính: tỷ Yên)