Nghiên cứu đầu tư trực tiếp của Việt Nam vào Campuchia trong các giai đoạn trước và sau khi AEC được thành lập. Từ đó rút ra phương hướng để đẩy mạnh đầu tư trực tiếp của Việt Nam vào Campuchia trong thời gian tới.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Hà Nội – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Đầu tƣ trực tiếp của Việt Nam tại Campuchia sau khi cộng đồng kinh tế ASEAN đƣợc thành lập” là kết quả
nghiên cứu của riêng tôi, chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Việc sử dụng kết quả, trích dẫn tài liệu của người khác đảm bảo theo đúng các quy định Các nội dung trích dẫn và tham khảo các tài liệu, sách báo thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả
Vũ Việt Anh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC BẢNG BIỂU i
DANH MỤC HÌNH ii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA VIỆT NAM TẠI CAMPUCHIA 4
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 4
1.1.1.Các nghiên cứu liên quan đến đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoài 4
1.1.2Các nghiên cứu liên quan đến đầu tư trực tiếp của Việt Nam tại Campuchia 6
1.1.3 Khoảng trống rút ra từ tổng quan và vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu 7
1.2.Cơ sở lý luận của đầu tư trực tiếp của Việt Nam tại Campuchia sau khi AEC được thành lập 7
1.2.1.Khái niệm, đặc điểm, hình thức và tác động của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đối với nước đi đầu tư 7
1.2.2.Các lý thuyết và các nhân tố tác động đến FDI 18
1.3.Cơ sở thực tiễn của đầu tư trực tiếp của Việt Nam tại Campuchia sau khi AEC được thành lập 33
1.3.1.Nhu cầu thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Campuchia 33
1.3.2.Nhu cầu đầu tư của Việt Nam vào Campuchia 38
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 44
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN SỐ LIỆU 45
2.1 Các phương pháp nghiên cứu 45
2.1.1 Phương pháp thu thập số liệu 45
2.1.2 Phương pháp so sánh 45
2.1.3 Phương pháp phân tích và tổng hợp 46
2.2 Nguồn số liệu 46
Trang 52.2.1 Nguồn số liệu thứ cấp 46
2.2.2 Nguồn số liệu sơ cấp 46
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 47
Chương 3 THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA VIỆT NAM TẠI CAMPUCHIA SAU KHI AEC ĐƯỢC THÀNH LẬP 48
3.1 Khái quát về FDI của Việt Nam ra nước ngoài nói chung và tại Campuchia nói riêng 48
3.1.1 Khái quát về FDI của Việt Nam ra nước ngoài 48
3.1.2 Phân tích tình hình đầu tư trực tiếp của Việt Nam vào Campuchia 51
3.2 Phân tích thực trạng đầu tư của Việt Nam tại Campuchia sau khi AEC được thành lập 59
3.2.1 Về quy mô và xu hướng 59
3.2.2 Về cơ cấu đầu tư 60
3.3 Đánh giá kết quả đầu tư trực tiếp của Việt Nam vào Campuchia 67
3.3.1 Những mặt thành công 67
3.3.2.Những mặt hạn chế 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 72
CHƯƠNG 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA VIỆT NAM SANG CAMPUCHIA TRONG THỜI GIAN TỚI 73
4.1 Bối cảnh kinh tế thế giới, trong nước và định hướng của Việt Nam trong thời gian tới về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 73
4.1.1 Bối cảnh kinh tế thế giới 73
4.1.2 Bối cảnh kinh tế Việt Nam 77
4.1.3 Định hướng của Việt Nam thời gian tới về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 79
4.2 Các giải pháp nhằm thúc đẩy đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang Campuchia trong thời gian tới 80
4.2.1 Tăng cường nghiên cứu cơ chế chính sách về môi trường đầu tư của Campuchia 80
Trang 64.2.2 Liên doanh hợp tác giữa các Doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp 81
Campuchia 81
4.2.3 Xây dựng các tập đoàn mạnh có năng lực và lợi thế tăng cường đầu tư sang Campuchia 82
4.2.4 Các giải pháp khác 82
4.3 Các kiến nghị đối với Chính phủ, các bộ ngành và doanh nghiệp 84
4.3.1 Đối với Chính phủ 84
4.3.2 Đối với các Bộ ngành 85
4.3.3 Đối với các Doanh nghiệp 86
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 87
KẾT LUẬN 88
DANH MỤC TAI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 738
2 Bảng 3.1 Vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam giai
3 Bảng 3.2 OFDI của Việt Nam sang Campuchia, 1999 – 2018 52
4 Bảng 3.3 Tình hình đầu tư của m i thành viên ASEAN tại Việt
Nam từ năm 2012 đến tháng 10 2017 58
5 Bảng 3.3 Cơ cấu đầu tư của Việt Nam sang Campuchia 61
6 Bảng 3.4 Đầu tư của Việt Nam sang Campuchia đến hết năm
Trang 8DANH MỤC HÌNH
1 Hình 3.1 Tình hình đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong quý
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hợp tác toàn diện, trong đó đặt trọng tâm về quan hệ hợp tác kinh tế nhằm phục
vụ mục tiêu phát triển là xu thế chung hiện nay của các quốc gia Với việc thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) đã tạo ra bước phát triển trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước khác trong ASEAN nói chung và giữa Việt Nam với Campuchia nói riêng Quan hệ giữa Việt Nam với Campuchia là mối quan hệ đặc biệt Đầu tư trực tiếp của Việt Nam tại Campuchia không chỉ có ý nghĩa về kinh tế
mà còn còn có ý nghĩa chính trị sâu sắc Trong mối quan hệ đặc biệt đó, quan hệ kinh tế luôn được coi là điểm sáng, là nhân tố quan trọng góp phần thắt chặt hơn nữa mối quan hệ song phương giữa hai bên Thời gian qua, chúng ta chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của quan hệ đầu tư song phương Việt Nam – Campuchia
Để thắt chặt hơn nữa quan hệ với Campuchia, Chính phủ Việt Nam luôn coi trọng thúc đẩy quan hệ đầu tư, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước xúc tiến các hoạt động đầu tư tại Campuchia Với những n lực đó, hiện Việt Nam, đang nằm trong số 5 quốc gia đầu tư lớn nhất tại Campuchia với số vốn hiện nay vào khoảng 2,86 tỷ USD Số vốn đầu tư này đã góp phần đáng kể trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở Campuchia, đặc biệt là xây dựng tình hữu nghị đoàn kết bền vững giữa Chính phủ và nhân dân hai nước Để thúc đẩy hơn nữa hoạt động đầu
tư song phương, bài nghiên cứu này đặt mục tiêu đánh giá thực trạng quan hệ đầu tư Việt Nam – Campuchia qua đó đề xuất một số giải pháp thúc đẩy mối quan hệ đó, góp phần thắt chặt quan hệ đặc biệt giữa hai nhà nước xứng tầm với mong muốn
của hai chính phủ là xây dựng một mối quan hệ đặc biệt theo phương châm "Láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài", trong
bối cảnh cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được thành lập
Do vậy việc nghiên cứu đề tài:"Đầu tƣ trực tiếp của Việt Nam tại Campuchia sau khi AEC đƣợc thành lập" là có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Qua
nghiên cứu đề tài sẽ thấy được những điểm mạnh và hạn chế trong quá trình tham
Trang 10gia đầu tư vào Campuchia của Việt Nam, từ đó có những phương hướng khắc phục trong thời gian tới
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
2.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu thực trạng đầu tư trực tiếp của Việt Nam tại Campuchia sau khi AEC được thành lập sẽ làm rõ những mặt thành công và hạn chế của đầu tư trực tiếp của Việt Nam tại Campuchia; từ đó góp phần thúc đẩy môi trường đầu tư,
kinh tế giữa hai nước tương xứng với mối quan hệ đặc biệt của hai nước
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đầu tư trực tiếp của Việt Nam sau khi AEC được thành lập
- Thực trạng đầu tư trực tiếp của Việt Nam tại Campuchia sau khi AEC được thành lập (tức là từ năm 2016 đến 2018) So sánh trước và sau khi AEC được thành lập
- Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy đầu tư trực tiếp của Việt Nam vào Campuchia trong thời gian tới
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động đầu tư trực tiếp của Việt Nam tại Campuchia sau khi AEC được thành lập
3.2.Phạm vi nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu đầu tư trực tiếp của Việt Nam tại Campuchia đặt trong bối cảnh AEC được thành lập tức là từ năm 2016 đến 2018
4 Những đóng góp mới của luận văn
- Luận văn nghiên cứu chỉ ra những điểm khác nhau trong việc đầu tư của Việt Nam vào Campuchia trước và sau khi AEC được thành lập
- Luận văn góp phần chỉ ra những ưu điểm, hạn chế của Việt Nam trong việc đầu tư vào Campuchia
Trang 11- Từ đó luận văn đưa ra các kiến nghị và giải pháp từ phía doanh nghiệp và từ phía chính phủ nhằm thúc đẩy đầu tư của Việt Nam sang Campuchia trong thời gian tới phát triển hơn
5 Câu hỏi nghiên cứu
- Sau khi AEC được thành lập đã tác động đến tình hình đầu tư trực tiếp của Việt Nam tại Campuchia như thế nào?
- Thực trạng đầu tư trực tiếp của Việt Nam tại Campuchia sau khi AEC được thành lập đạt được mức độ nào? Tác động như thế nào tới tình hình đầu tư của hai nước?
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các bảng biểu và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 4 chương như sau :
CHƯƠNG 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận và thực tiễn của đầu tư trực tiếp của Việt Nam tại Campuchia
CHƯƠNG 2: Phương pháp nghiên cứu và nguồn số liệu
CHƯƠNG 3: Thực trạng đầu tư trực tiếp của Việt Nam tại Campuchia sau khi AEC được thành lập
CHƯƠNG 4: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang Campuchia trong thời gian tới
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA VIỆT NAM TẠI CAMPUCHIA
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1 Các nghiên cứu liên quan đến đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoài
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam đã được đề cập trong các bài nghiên cứu tạp chí và một số luận án tiến sĩ dưới góc độ quản lý nhà nước, thực trạng đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam
Vũ Thị Minh Ngọc (2016) đề cập đến quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu
tư ra nước ngoài của Việt Nam, sử dụng các số liệu điều tra để đánh giá đổi mới quản lý nhà nước dưới nhiều góc độ: cơ quan quản lý, các doanh nghiệp và các chuyên gia kinh tế, đánh giá được những hạn chế và thành công trong đổi mới quản
lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Nguyễn Hải Đăng (2012) phân tích thực trạng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam theo góc nhìn từ chính sách Theo đó, chính sách của chính phủ ảnh hưởng rất lớn tới dòng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Như giai đoạn 1999 – 2005 có số dự án và số vốn tăng vọt so với giai đoạn 1989 – 1998, người viết cho rằng nguyên nhân là do chính phủ đã ban hành Nghị định số
22 1999 NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn khác, hình thành cơ sở pháp lý tạo điều kiện cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam Giai đoạn
2006 – 2011 là thời kỳ bùng nổ của đầu tư trực tiếp ra ngoài do có Luật đầu tư 2005
và Nghị định 78 2006 NĐ-CP của Chính phủ
Nguyễn Huy Nhựt (2010) đã khảo sát 165 doanh nghiệp có dự định đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, trong đó 72% doanh nghiệp ngoài nhà nước, 15% là doanh nghiệp FDI và 13% là doanh nghiệp nhà nước Kết quả cho thấy lý do lớn nhất mà các doanh nghiệp chưa mạnh dạn mở rộng hoạt động kinh doanh của mình ra nước ngoài là nguồn vốn còn hạn chế (trên 50%), khoảng 46% doanh nghiệp chưa tự tin
về năng lực và kinh nghiệm của mình để thực hiện đầu tư ra nước ngoài vì chưa am
Trang 13hiểu thị trường nước ngoài và chưa có nhiều kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp tại các quốc gia khác Yếu tố thiếu thông tin địa điểm đầu tư cũng là một trong những nhân tố mà doanh nghiêp chưa mạnh dạn đầu tư ra nước ngoài, khoảng 36% doanh nghiệp có thông tin cụ thể về thị trường mà họ dự định đầu tư, 65% doanh nghiệp tự tin đầu tư trực tiếp ra nước ngoài khi biết rõ được chất lượng, giá cả, cung cầu, triển vọng sản phẩm, trên 60% doanh nghiệp đồng ý rằng thông tin về môi trường đầu tư
sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của dự án
Mạnh Phan (2012) thì cho rằng dòng vốn đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam mặc dù không mạnh mẽ như dòng vốn đầu tư vào Việt Nam nhưng cũng báo hiệu đầy triển vọng Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài ít nhiều dẫn đến tình trạng chảy máu ngoại tệ, khả năng đầu tư trong nước giảm sút, chưa kể đến rất nhiều rủi ro mà doanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp phải
Thu Hằng (2011) quan tâm đến lợi nhuận doanh nghiệp Việt Nam chuyển về nước Theo đó, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước có xu hướng gia tăng đầu tư ra nước ngoài, nhưng lợi nhuận chuyển về nước rất thấp, trong khi việc quản lý giám sát khó khăn
Quang Minh (2011) sau khi tổng kết thực trạng đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam giai đoạn 1989 – 2010 thấy rằng hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam
đã đạt được một số thành công, trong đó hoàn thiện hệ thống pháp luật góp phần tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư là việc làm cần thiết mà cơ quan quản lý nhà nước cần tính đến
Đinh Trọng Thịnh (2005) đề cập tới các nhân tố ảnh hưởng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam đó là tiềm lực tài chính, sự minh bạch
rõ ràng của thủ tục cấp phép cho các dự án đầu tư ra nước ngoài, sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng của Chính phủ như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính, cơ chế vay ngoại tệ đề đầu tư ra nước ngoài Tác giả cho rằng đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp góp phần làm tăng thu ngân sách nhà nước, góp phần sử dụng quản lý tốt hơn các nguồn lực trong nước, giúp Việt Nam thể hiện được sức mạnh kinh tế, nâng cao uy tín của mình trên trường quốc tế [6, tr.29,31]
Trang 14Như vậy, các công trình nghiên cứu OFDI ở trong nước đã đề cập đến thực trạng OFDI của Việt Nam dưới nhiều góc độ như quản lý nhà nước về OFDI, góc
độ doanh nghiệp, ở một địa bàn đầu tư hay ở lĩnh vực cụ thể mà chưa đề cập đến các nhân tố tác động đến OFDI của Việt Nam
1.1.2 Các nghiên cứu liên quan đến đầu tư trực tiếp của Việt Nam tại Campuchia
Ngày 11 tháng 8 năm 2017 tại Hà Nội đã diễn ra Hội thảo Khoa học về Quan
hệ Việt Nam – Campuchia 50 năm hợp tác và phát triển Hội thảo quy tụ các chuyên gia đầu ngành về Đông Nam Á, và các giảng viên đến từ các trường đại học uy tín trên cả nước Tại buổi hội thảo, trên cơ sở đánh giá thực trạng, thành tựu và những vấn đề đang đặt ra trong quan hệ đầu tư giữa hai nước, kết quả chỉ ra rằng mặc dù
cả hai nước vẫn đang cần thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế nhưng trong thời gian qua đầu tư song phương giữa Việt Nam và Campuchia không ngừng phát triển Cụ thể, tính đến cuối năm 2017 Việt Nam đã đầu tư 183 dự án vào Campuchia với tổng vốn đăng ký gần 2,86 tỷ USD, trong đó
đã giải ngân khoảng 1,5 tỷ USD, đứng thứ 5 trong số các quốc gia đầu tư vào nước này [14]
Lê Vĩnh Tân (2015) với bài viết Phát triển kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng – an ninh tuyến biên giới đất liền Việt Nam – Campuchia trên Tạp chí Cộng sản, số
100 (4 2015) cũng đá nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hợp tác kinh tế và đầu tư vào Campuchia Tuy nhiên, song song với đó, do chịu những tác động của lịch sử, chính trị… việc hợp tác phát triển này cần phải gắn với bảo đảm chủ quyền an ninh quốc gia phía tây nam tổ quốc [2]
Nguyễn Thành Văn (2015), Sự gia tăng ảnh hưởng của các đảng đối lập ở Campuchia và tác động của nó đến Việt Nam, trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam
Á, số 9 2015 đã chỉ ra những trở ngại lớn cho việc đầu tư của Việt Nam vào Campuchia Đặc biệt các đảng này tuyên truyền sai sự thật và kích động nhân dân chống phá các dự án đầu tư của Việt Nam tại Campuchia khi cho rằng động cơ của các dự án đầu tư của Việt Nam là nhằm “gặm nhấm”, “chiếm đất” của Camuchia và
Trang 15từng bước “biến Campuchia thành thuộc địa” của Việt Nam, do đó, người Khmer phải đứng lên bảo vệ lợi ích của mình, bảo vệ lãnh thổ ở Campuchia [5]
Tuy có những khó khăn, nhưng cũng có những thuận lợi Phạm Quang Vinh (2012), Bốn mươi lăm năm quan hệ ngoại giao Việt Nam – Campuchia trên Tạp chí Cộng sản số 836 (6 2012) đã đưa ra những thuận lợi cho việc đầu tư của Việt Nam vào Campuchia Trong 45 năm hợp tác và phát triển, các dự án đầu tư của Việt Nam
đã góp phần đáng kể trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở Campuchia, đặc biệt là xây dựng tình hữu nghị đoàn kết bền vững giữa Chính phủ
và nhân dân hai nước Bài viết cũng đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy mối quan hệ giữa hai nước xứng tầm với mong muốn của hai chính phủ là xây dựng mối quan hệ đặc biệt theo phương châm „„Láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài‟‟ [10]
Qua các bài viết và nghiên cứu đã vẽ lên một cái nhìn tổng thể về những khó khăn, thuận lợi, cơ hội triển vọng cho đầu tư của Việt Nam vào Campuchia
1.1.3 Khoảng trống rút ra từ tổng quan và vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Sau khi tổng quan các công trình nghiên cứu trước, người viết nhận thấy các công trình nghiên cứu mới chỉ đề cập đến thực trạng OFDI của Việt Nam, thực trạng quản lý OFDI của Việt Nam mà chưa có công trình nghiên cứu nào về OFDI của Việt Nam vào Campuchia, đặc biệt trong bối cảnh cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được thành lập Đây chính là khoảng trống mà người viết muốn nghiên cứu
để đưa ra bức tranh tổng quan hơn về hoạt động của đầu tư trực tiếp của Việt Nam vào Campuchia, các nhân tố tác động, những thuận lợi và khó khăn để từ đó rút ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của đầu tư của Việt Nam vào Campuchia
1.2 Cơ sở lý luận của đầu tƣ trực tiếp của Việt Nam tại Campuchia sau khi AEC đƣợc thành lập
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, hình thức và tác động của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đối với nước đi đầu tư
1.2.1.1.Khái niệm
Theo tổ chức thương mại thế giới (WTO) (1996): Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài xuất hiện khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài
Trang 16sản ở nước khác (nước tiếp nhận đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương tiện quản lý là yếu tố để phân biệt đầu tư trực tiếp ra nước ngoài với các công cụ tài chính khác
Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF (1993), đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là vốn đầu
tư thực hiện để thu được lợi ích lâu dài theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó
Theo UNCTAD (1998) thì đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được định nghĩa là một khoản đầu tư trong thời gian dài, phản ánh lợi ích lâu dài và sự kiểm soát của một công ty ở trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hay công ty mẹ) đối với công ty con ở nền kinh tế khác
John Dunning (2008) đầu tư trực tiếp ra nước ngoài phải có sự di chuyển tài sản hay sản phẩm trung gian, bao gồm vốn tài chính, chuyên gia quản lý, công nghệ,…và không bao gồm bất kỳ sự thay đổi nào về sở hữu hay quyền kiểm soát các quyết định
về việc sử dụng các nguồn nhân lực nằm trong tay nhà đầu tư [6, tr 35]
Ở Việt Nam, khái niệm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được quy định trong Nghị định số 83 2015 NĐ-CP, theo đó, đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn hoặc thanh toán mua một phần hoặc toàn bộ cơ sở kinh doanh hoặc xác lập quyền sở hữu để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh ngoài lãnh thổ Việt Nam, đồng thời trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó
Như vậy, các khái niệm trên đều bàn đến việc chuyển vốn từ một nền kinh tế này sang một nền kinh tế khác để thực hiện hoạt động kinh doanh và đảm nhiệm điều hành hoạt động của nhà đầu tư, các nhà đầu tư có được nhiều lợi nhuận hơn từ việc đầu tư ra nước ngoài Tóm lại, có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài như sau: “Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là hình thức đầu tư quốc
tế mà chủ đầu tư bỏ vốn để xây dựng mới hoặc sáp nhập hoặc mua lại phần lớn, thậm chí toàn bộ các cơ sở kinh doanh ở nước ngoài để trờ thành chủ sở hữu toàn
bộ hoặc từng phần cơ sở đó và trực tiếp quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm về hoạt động của đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư” [11]
Trang 171.2.1.2.Đặc điểm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được thực hiện thông qua các phương thức: Xây dựng mới, mua lại toàn bộ hay từng phần của một cơ sở đang hoạt động, mua cổ phiếu của các công ty cổ phần để thao túng hoặc sát nhập các doanh nghiệp với nhau
Thứ hai, các nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp quản lý và điều hành dự án mà họ
bỏ vốn đầu tư Quyền quản lý doanh nghiệp phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn của chủ đầu tư trong vốn pháp định của dự án Nếu doanh nghiệp góp 100% vốn trong vốn pháp định thì doanh nghiệp hoàn toàn thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và cũng do họ quản lý toàn bộ
Thứ ba, đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ đưa vốn vào nước tiếp nhận mà
có thể cả bí quyết kỹ thuật, công nghệ và kinh nghiệm quản lý hiện đại, tạo ra năng lực sản xuất mới và mở rộng thị trường cho cả nước tiếp nhận đầu tư và nước đi đầu tư Thứ tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một dự án mang tính lâu dài [6, tr 36, 37]
1.2.1.3.Phân loại đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Căn cứ vào hình thức đầu tư:
Có 3 hình thức chính là đầu tư mới (Green investment), Sáp nhập (Merge)
và Mua lại (Acquisitions)
Đầu tư mới (Green investment): là việc một công ty đầu tư để xây dựng một cơ
sở sản xuất, cơ sở marketing hay cơ sở hành chính mới, trái ngược với việc mua lại những cơ sở sản xuất kinh doanh đang hoạt động Như tên gọi đã thể hiện, hãng đầu
tư thường mua một mảnh đất trống và xây dựng nhà máy sản xuất, chi nhánh marketing, hoặc các cơ sở khác để phục vụ cho mục đích sử dụng của mình
Sáp nhập (merge): là một dạng đặc biệt của mua lại mà trong đó hai công ty sẽ
cùng góp vốn chung để thành lập một công ty mới và lớn hơn Sáp nhập là hình thức phổ biến hơn giữa các công ty có cùng quy mô bởi vì họ có khả năng hợp nhất các hoạt động của mình trên cơ sở cân bằng tương đối Giống như liên doanh, sáp nhập có thể tạo ra rất nhiều kết quả tích cực, bao gồm sự học hỏi và chia sẻ nguồn
Trang 18lực giữa các đối tác với nhau, tăng tính lợi ích kinh tế của quy mô, giảm chi phí bằng cách loại bỏ những hoạt động thừa, các chủng loại sản phẩm, dịch vụ bán hàng rộng hơn và sức mạnh thị trường lớn hơn Sự sáp nhập qua biên giới cũng đối mặt với nhiều thách thức do những sự khác biệt về văn hóa, chính sách cạnh tranh, giá trị doanh nghiệp và phương thức hoạt động giữa các quốc gia Sự thành công đòi hỏi phải có sự nghiên cứu, lập kế hoạch và những cam kết trước chắc chắn
Mua lại (acquisitions): là việc đầu tư hay mua trực tiếp một công ty đang hoạt
động hay cơ sở sản xuất kinh doanh Các doanh nghiệp đa quốc gia thường ưu tiên mua lại hơn là đầu tư mới vì bằng cách mua lại một doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động, doanh nghiệp đa quốc gia sẽ tận dụng được đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm và quyền sở hữu những tài sản đã có như nhà máy, trang thiết bị, và nguồn nhân lực cũng như là kế thừa được nguồn cung ứng và khách hàng Thêm vào đó, mua lại sẽ mang lại một dòng doanh thu ngay lập tức và làm tăng hệ số thu nhập trên đầu tư của doanh nghiệp đa quốc gia nếu so sánh với đầu tư mới Ngược lại, Chính phủ của các nước sở tại thường thích các doanh nghiệp đa quốc gia đầu tư mới hơn bởi vì nếu so với mua lại, đầu tư mới sẽ tạo ra việc làm mới và tăng năng lực sản xuất, chuyển giao công nghệ tiên tiến và những bí quyết sản xuất cho các doanh nghiệp địa phương cũng như cải thiện mối liên kết với thị trường toàn cầu Rất nhiều Chính phủ đã đưa ra những ưu đãi để khuyến khích đầu tư mới, và những
ưu đãi này đủ để bù đắp lại những lợi ích thay thế do hình thức mua lại tạo ra
Căn cứ vào bản chất của quyền sở hữu trong đầu tư trực tiếp nước ngoài
Các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể chọn mức độ kiểm soát họ mong muốn duy trì trong liên doanh mới thành lập Điều này có thể đạt được thông qua việc sở hữu toàn phần hay một phần Quyền sở hữu cho biết mức độ kiểm soát toàn phần hay một phần đối với các vấn đề của doanh nghiệp – ví dụ như những quyết định về các sản phẩm mới, việc mở rộng kinh doanh và phân chia lợi nhuận Các công ty có thể chọn giữa một liên doanh sở hữu toàn phần hoặc một liên doanh hợp tác để có được quyền kiểm soát Sự lựa chọn này sẽ quyết định mức độ cam kết tài chính của công ty đối với liên doanh nước ngoài
Trang 19Đầu tư trực tiếp toàn phần (Wholly owned direct investment): là hình thức đầu
tư trực tiếp, trong đó nhà đầu tư giữ quyền sở hữu hoàn toàn tài sản ở nước ngoài Công ty mẹ nắm 100% quyền sở hữu việc kinh doanh và có quyền kiểm soát quản
lý hoàn toàn đối với các hoạt động của doanh nghiệp
Liên doanh vốn cổ phần (Equity Joint Venture): là một dạng của hợp tác trong
đó một công ty được thành lập qua việc đầu tư hoặc góp tài sản chung của hai hay nhiều hãng đối tác để tạo nên một pháp nhân mới Một đối tác trong liên doanh có thể nắm giữ phần lớn, 50-50 hoặc nắm rất ít quyền sở hữu Quyền sở hữu thường muốn nói đến mức độ kiểm soát; tuy nhiên, cách mà hội đồng quản trị được thành lập và quyền bỏ phiếu được phân phối giữa các đối tác như thế nào sẽ thể hiện chính xác hơn sức mạnh tương đối của các đối tác
Rất nhiều công ty thấy liên doanh là một lựa chọn hấp dẫn bởi vì sự phức tạp của các thị trường nước ngoài Các liên doanh hợp tác có thể làm lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ bằng cách cấp nguồn vốn cho họ
Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT): Là một phương thức
đầu tư trực tiếp được thực hiện trên cơ sở văn bản được ký kết giữa nhà đầu tư (có thể là tổ chức, cá nhân nước ngoài) với cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở nước nhận đầu tư để xây dựng kinh doanh công trình kết cấu, hạ tầng trong thời gian nhất định
Hơp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (BTO): Là phương thức đầu tư
dựa trên văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước nhận đầu tư
và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài sẽ chuyển giao công trình cho nhà nước nhận đầu tư Nước nhận đầu tư sẽ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý
Hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT): là một phương thức đầu tư nước ngoài
trên văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước nhận đầu tư và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng Sau khi xây dựng xong, nhà đầu
tư chuyển giao công trình đó cho nước nhận đầu tư, Chính phủ nước nhận đầu tư
Trang 20tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiẹn dự án khác để thu hồi vốn đầu tư
và lợi nhuận hợp lý
Căn cứ vào mức độ hợp nhất:
Sự phân loại thứ ba về đầu tư trực tiếp nước ngoài đó là sự hợp nhất theo chiều dọc và hợp nhất theo chiều ngang
Hợp nhất theo chiều dọc (Vertical FDI): là một liên kết từ đó công ty sở hữu,
hay tìm cách sở hữu nhiều công đoạn của chu i giá trị để sản xuất, bán hàng và vận
chuyển hàng hóa hoặc dịch vụ FDI theo chiều dọc có hai dạng Với dạng hợp nhất tiến (Forward vertical intergration), công ty phát triển khả năng bán các đầu ra của mình bằng cách đầu tư vào cơ sở kinh doanh chu i giá trị xuôi dòng – nghĩa là các hoạt động marketing và bán hàng Hợp nhất tiến ít phổ biến hơn hợp nhất lùi (backward vertical intergration), theo đó công ty tìm cách cung cấp đầu vào cho các
nhà sản xuất trong nước hoặc ngoài nước của mình bằng cách đầu tư vào cơ sở kinh
doanh ngược dòng, điển hình như các nhà máy, nhà máy lắp ráp hay các hoạt động
tinh chế Các công ty có thể sở hữu cả hai hoạt động FDI phía trước và FDI ngược
Hợp nhất theo chiều ngang (Horizontal FDI): là một liên kết từ đó công ty sở hữu hoặc tìm cách sở hữu các hoạt động liên quan đến một bước đơn lẻ của chu i
giá trị của công ty
Liên doanh hợp tác quốc tế (International Collaborative Ventures)
Một liên doanh hợp tác quốc tế là một sự hợp tác giữa hai hoặc nhiều công ty, bao gồm cả những liên doanh góp vốn cổ phần chung và liên doanh dựa trên dự án không góp vốn cổ phần Các liên doanh hợp tác quốc tế thỉnh thoảng được hiểu như
là các Công ty hợp danh quốc tế (International partnership) và những Liên minh phương thức quốc tế (International Strategic Alliance) Một liên doanh
trên thực tế là một dạng đặc biệt của hợp tác bằng cách công ty mẹ đầu tư vốn để mua cổ phần
Sự hợp tác giúp các công ty khắc phục được rủi ro và chi phí của kinh doanh quốc tế Hợp tác giúp các dự án thành công và từ đó mở rộng năng lực của công ty Các tập đoàn hay công ty thường hợp tác để đạt được những mục tiêu quy mô lớn
Trang 21như phát triển công nghệ mới hay hoàn thành những dự án quan trọng như các nhà máy năng lượng Bằng cách hợp tác, công ty mẹ có thể thu hút một loạt công nghệ
bổ sung, từ đó sẽ giúp cải tiến và phát triển các sản phẩm mới Lợi thế của việc hợp tác đã giúp giải thích tại sao việc thành lập các công ty hợp danh ngày càng có xu hướng tăng lên trong vài thập kỉ vừa qua
Việc hợp tác có thể diễn ra ở cùng một mức độ hoặc ở các mức độ khác nhau của chu i giá trị, đặc biệt ở khâu nghiên cứu & phát triển R&D, sản xuất hoặc marketing Các liên doanh hợp tác quốc tế đang ngày càng ý thức rõ hơn tầm quan trọng của việc nghiên cứu và phát triển chung trong các lĩnh vực công nghệ cao và
có hàm lượng tri thức lớn như các ngành chế tạo rô bốt, chất bán dẫn, máy bay, các trang thiết bị y tế và dược phẩm
Có hai loại hình doanh nghiệp liên doanh hợp tác cơ bản là: các liên doanh góp
vốn cổ phần (Equity Joint Venture) và các liên doanh dựa trên dự án không góp vốn
cổ phần (Project – based non Equity Venture) Các liên doanh góp vốn cổ phần là
loại hình hợp tác quen thuộc đã có từ rất lâu Tuy nhiên, trong những thập kỉ gần đây xuất hiện hình thức hợp tác mới, hợp tác dựa trên dự án
Các liên doanh góp vốn cổ phần
Các liên doanh này được thành lập khi không một bên nào sở hữu tất cả tài sản cần thiết để nắm quyền quyết định Trong đầu tư quốc tế, đối tác nước ngoài thường đóng góp vốn, công nghệ, chuyên môn quản lý, đào tạo, hoặc sản phẩm Đối tác địa phương đóng góp nhà máy hoặc cơ sở vật chất kinh doanh khác, kiến thức về ngôn ngữ và văn hóa địa phương, các bí quyết sản xuất định hướng thị trường, sự kết nối hữu ích với chính phủ của nước sở tại hoặc những yếu tố sản xuất với chi phí thấp hơn như lao động hay nguyên liệu thô Các công ty phương Tây thường tìm kiến các liên doanh để có thể thâm nhập nhanh hơn vào thị trường Châu Á Việc liên doanh cho phép công ty nước ngoài có được kiến thức về thị trường trọng tâm, tăng khả năng thâm nhập ngay lập tức tới hệ thống phân phối và các khách hàng, và đat được sự kiểm soát lớn hơn đối với các hoạt động ở địa phương
Trang 22 Các liên doanh dựa trên dự án, không góp vốn cổ phần
Với mức độ ngày càng phổ biến trong việc kinh doanh qua biên giới, liên doanh dựa trên dự án, không góp vốn cổ phần là một sự hợp tác trong đó các đối tác tạo ra một dự án với một phạm vi tương đối hẹp và một thời gian biểu rõ ràng mà không tạo ra một pháp nhân mới Bằng cách kết hợp đội ngũ công nhân viên, các nguồn lực và các khả năng, các đối tác hợp tác cho đến khi liên doanh làm ăn có kết quả, hay cho đến khi cả hai bên không còn thấy lợi ích trong việc hợp tác nữa Các bên đối tác sẽ hợp tác phát triển chung về các công nghệ mới, các sản phẩm hay chia sẻ
ý kiến chuyên môn với nhau Sự hợp tác như vậy có thể giúp họ theo kịp đối thủ trong sự phát triển công nghệ
1.2.1.4.Tác động của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đối với nước đi đầu tư và nước nhận đầu tư
1.2.1.4.1.Đối với nước chủ đầu tư
a) Các tác động tích cực
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đem lại lợi nhuận cao hơn ở trong nước Đây là vấn
đề quan trọng hàng đầu đối với các nhà đầu tư Việc đầu tư ra nước ngoài làm cho yêu cầu tương đối về lao động ở trong nước giảm hay năng suất giảm Ngược lại, tổng lợi nhuận thu được từ đầu tư ra nước ngoài tăng, lợi suất đối với yếu tố lao động giảm và yếu tố tư bản tăng Như vậy, thu nhập từ việc đầu tư ở nước ngoài có
sự tái phân phối thu nhập quốc nội từ lao động thành tư bản
Đầu tư trực tiếp nước ngoài kích thích việc xuất khẩu trực tiếp thiết bị máy móc Đặc biệt là khi đầu tư vào các nước đang phát triển có nền công nghiệp cơ khí lạc hậu hoặc khi các công ty mẹ cung cấp cho các công ty con ở nước ngoài máy móc thiết
bị, linh kiện, phụ tùng và nguyên liệu Nếu công ty của nước đầu tư muốn chiếm lĩnh thị trường thì đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động vào việc xuất khẩu các linh kiện tương quan, các sản phẩm tương quan để tăng tổng kim ngạch xuất khẩu
Đối với nhập khẩu, nếu các nước đầu tư đầu tư trực tiếp vào ngành khai thác của nước chủ nhà, họ có được nguyên liệu giá rẻ Trong điều kiện nhập khẩu ngang nhau, họ có thể giảm được giá so với trước đây nhập từ nước khác Nếu sử dụng giá
Trang 23lao động rẻ của nước ngoài để sản xuất linh kiện rồi xuất về trong nước để sản xuất thành phẩm, họ có thể giảm được giá thành phẩm mà trước đây họ phải nhập khẩu Trong dài hạn, việc đầu tư ra nước ngoài sẽ đem lại ảnh hưởng tích cực cho cán cân thanh toán quốc tế của nước đầu tư Đó là do việc xuất khẩu thiết bị máy móc, nguyên vật liệu… cộng với một phần lợi nhuận được chuyển về nước đã đem ngoại
tệ trở lại cho nước đầu tư Các chuyên gia ước tính thời gian hoàn vốn cho một dòng tư bản trung bình là từ 5 đến 10 năm
b) Các tác động tiêu cực
Trước mắt, do sự lưu động vốn ra nước ngoài mà việc đầu tư trực tiếp này lại gây ra ảnh hưởng tiêu cực tạm thời cho cán cân thanh toán quốc tế Nguyên nhân là
do trong năm có đầu tư ra nước ngoài, chi tiêu bên ngoài của nước đầu tư tăng lên
và gây ra sự thâm hụt tạm thời trong cán cân thanh toán ngân sách Vì vậy, nó khiến một số ngành trong nước sẽ không được đầu tư đầy đủ
Việc xuất khẩu tư bản có nguy cơ tạo ra thất nghiệp ở nước đầu tư Hãy xem xét một trong những nguyên nhân mà các nhà tư bản đầu tư ra nước ngoài là nhằm
sử dụng lao động không lành nghề, giá rẻ của những nước đang phát triển Điều này tất yếu làm tăng thất nghiệp cơ cấu trong số lao động không lành nghề của nước đầu
tư Thêm vào đó, nước sở tại lại có thể xuất khẩu sang nước đầu tư hoặc thay cho việc nhập khẩu trước đây từ nước đầu tư, họ tự sản xuất được hàng hoá cho mình càng làm cho nguy cơ thất nghiệp này thêm trầm trọng Xu hướng giảm mức thuê mướn nhân công ở nước chủ đầu tư và tăng mức thuê công nhân ở nước sở tại dẫn đến sự đối kháng về lao động ở nước đầu tư và quyền lợi lao động ở nước chủ nhà
1.2.1.4.2 Đối với nước tiếp nhận đầu tư
a) Tác động tích cực
FDI bổ sung vốn cho nền kinh tế: FDI không chỉ bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển mà còn là một luồng vốn ổn định hơn so với các luồng vốn đầu tư quốc tế khác, bởi FDI dựa trên quan điểm dài hạn về thị trường, về triển vọng tăng trưởng
và không tạo ra nợ cho chính phủ nước tiếp nhận đầu tư, do vậy, ít có khuynh hướng thay đổi khi có tình huống bất lợi
Trang 24FDI cung cấp công nghệ mới cho sự phát triển: Có thể nói công nghệ là yếu tố quyết định tốc độ tăng trưởng và sự phát triển của mọi quốc gia, đối với các nước đang phát triển thì vai trò này càng được khẳng định rõ Bởi vậy, tăng cường khả năng công nghệ luôn là một trong những mục tiêu ưu tiên phát triển hàng đầu của mọi quốc gia Tuy nhiên, để thực hiện mục tiêu này đòi hỏi không chỉ cần nhiều vốn
mà còn phải có một trình độ phát triển nhất định của khoa học – kỹ thuật
FDI giúp phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm: Phát triển nguồn nhân lực
và tạo việc làm là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Mục tiêu của nhà đầu tư nước ngoài là thu được lợi nhuận tối đa, củng cố ch đứng và duy trì thế cạnh tranh trên thị trường thế giới Do đó, họ đặc biệt quan tâm đến việc tận dụng nguồn lao động rẻ ở các nước tiếp nhận đầu tư Số lao động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp FDI ngày càng tăng nhanh ở các nước đang phát triển Ngoài ra, các hoạt động cung ứng dịch vụ và gia công cho các dự án FDI cũng tạo ra thêm nhiều cơ hội việc làm Trên thực tế, ở các nước đang phát triển, các dự án FDI sử dụng nhiều lao động đào tạo nhiều việc làm cho phụ nữ trẻ Điều này không chỉ mang lại cho họ lợi ích về thu nhập cao mà còn góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng phụ nữ ở các nước này FDI cũng có tác động tích cực trong phát triển nguồn nhân lực của nước chủ nhà thông qua các dự án đầu tư vào lĩnh vực giáo dục đào tạo Các cá nhân làm việc cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có cơ hội học hỏi, nâng cao trình độ bản thân khi tiếp cận với công nghệ và kỹ năng quản
lý tiên tiến Các doanh nghiệp FDI cũng có thể tác động tích cực đến việc cải thiện nguồn nhân lực ở các công ty khác mà họ có quan hệ, đặc biệt là các công ty bạn hàng Những cải thiện về nguồn nhân lực ở các nước tiếp nhận đầu tư còn có thể đạt hiệu quả lớn hơn khi những người làm việc trong các doanh nghiệp FDI chuyển sang làm việc cho các doanh nghiệp trong nước hoặc tự mình thành lập doanh nghiệp mới Đầu tư nước ngoài còn có vai trò đáng kể đối với tăng cường sức khoẻ
và dinh dưỡng cho người dân nước chủ nhà thông qua các dự án đầu tư vào ngành y
tế, dược phẩm, công nghệ sinh học và chế biến thực phẩm
Trang 25FDI giúp mở rộng thị trường và thúc đẩy xuất khẩu: Xuất khẩu là yếu tố quan trọng của tăng trưởng Nhờ có đẩy mạnh xuất khẩu, những lợi thế so sánh của yếu
tố sản xuất ở nước chủ nhà được khai thác có hiệu quả hơn trong phân công lao động quốc tế Các nước đang phát triển tuy có khả năng sản xuất với mức chi phí có thể cạnh tranh được nhưng vẫn rất khó khăn trong việc thâm nhập thị trường quốc
tế Bởi thế, khuyến khích đầu tư nước ngoài hướng vào xuất khẩu luôn là ưu đãi đặc biệt trong chính sách thu hút FDI của các nước này Thông qua FDI các nước tiếp nhận đầu tư có thể tiếp cận với thị trường thế giới, vì hầu hết các hoạt động FDI đều
do các TNC thực hiện Ở tất cả các nước đang phát triển, các TNC đều đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng xuất khẩu do vị thế và uy tín của chúng trong hệ thống sản xuất và thương mại quốc tế Đối với các TNC, xuất khẩu cũng đem lại nhiều lợi ích cho họ thông qua sử dụng các yếu tố đầu vào rẻ, khai thác được hiệu quả theo quy mô sản xuất (không bị hạn chế bởi quy mô thị trường của nước chủ nhà) và thực hiện chuyên môn hoá sâu từng chi tiết sản phẩm ở những nơi có lợi thế nhất, sau đó lắp ráp thành phẩm
FDI thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ là đòi hỏi của bản thân sự phát triển nội tại nền kinh tế mà còn là đòi hỏi của xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay FDI là một bộ phận quan trọng của hoạt động kinh tế đối ngọi, thông qua đó các quốc gia sẽ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình liên kết kinh tế giữa các nước trên thế giới, đòi hỏi phải thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với sự phân công lao động quốc tế Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của m i quốc gia phù hợp với trình độ phát triển chung trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động FDI Ngược lại, chính FDI lại góp phần thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế ở nước chủ nhà, vì nó làm xuất hiện nhiều lĩnh vực và ngành nghề kinh tế mới và góp phần nâng cao nhanh chóng trình độ kỹ thuật và công nghệ ở nhiều ngành kinh tế, phát triển năng suất lao động của các ngành này Mặt khác, dưới tác động của FDI, một số ngành nghề được kích thích phát triển, nhưng cũng
có một số ngành nghề bị mai một và dần bị xoá bỏ
Trang 26b) Tác động tiêu cực
Về lâu dài, việc các công ty xuyên quốc gia (TNCs) đem vốn đến đầu tư và hàng năm lại chuyển lợi nhuận về nước sẽ tạo ra gánh nặng ngoại tệ đối với các nước này, đặc biệt là sau khi TNCs thu hồi vốn
Vấn đề việc làm không phải lúc nào cũng đi theo chiều hướng mong đợi của chúng ta, những nước tiếp nhận vốn đầu tư Những năm gần đây, do sự phát triển của khoa học công nghệ, lao động không lành nghề trở nên có hiệu suất thấp Thực
tế cho thấy, các công ty có vốn FDI nhìn chung ít sử dụng lao động tại ch (trừ những doanh nghiệp gia công xuất khẩu hoặc doanh nghiệp chỉ sử dụng công nhân với lao động giản đơn, dễ đào tạo) và để hạ giá thành sản phẩm, họ đã sử dụng phương thức sản xuất tập trung tư bản nhiều hơn Nó có tác động làm giảm việc làm, đi ngược với chiến lược việc làm của các nước đang phát triển
Các ngành công nghiệp mới mẻ, hiện đại của các nước công nghiệp phát triển
đã có điều kiện xuất hiện ở những quốc gia này song chủ yếu lại bị các nước đầu tư kiểm soát, kết cấu kinh tế thì bị phụ thuộc vào đối tượng ngành hàng sản xuất mà nước đầu tư quyết định kinh doanh Không chỉ có vậy, sự dịch chuyển những kỹ thuật công nghệ kém tiên tiến, tiêu hao nhiều năng lượng từ các nước đầu tư đã gây
ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức…
1.2.2 Các lý thuyết và các nhân tố tác động đến FDI
1.2.2.1 Các lý thuyết về FDI
a) Lý thuyết chu kỳ sống
Lý thuyết này giải thích tại sao các nhà sản xuất lại chuyển hướng hoạt động kinh doanh từ xuất khẩu sang thực hiện FDI Lý thuyết cho rằng đầu tiên các nhà sản xuất tại chính quốc đạt được lợi thế độc quyền xuất khẩu nhờ việc cho gia đời những sản phẩm mới, sản xuất vẫn tiếp tục tập trung tại chính quốc này cả khi phí sản xuất ở nước ngoài có thể thấp hơn.Trong thời kỳ này để xâm nhập thị trường nước ngoài thì các nước thực hiện việc kỹ năng tăng trưởng các nhà sản xuất khuyến khích đầu tư ra nước ngoài nhằm tận dụng chi phí sản xuất thấp và quan trọng hơn là ngăn chặn khả năng để rời thị trường và nhà sản xuất địa phương
Trang 27b) Lý luận về quyền lợi thị trường
Lý luận cho rằng FDI tồn tại do những hành vi đặc biệt của độc quyền nhóm trên phạm vi quốc tế như phản ứng độc quyền nhóm, hiệu quả kinh tế bên trong do quy mô sản xuất và sự liên kết đầu tư nước ngoài theo chiều rộng Tất cả những hành vi này đều nhằm hạn chế cạnh tranh mở rộng thị trường và ngăn không cho đối thủ khác xâm nhập vào ngành
FDI theo chiều rộng tồn tại khi các công ty xâm nhập vào nước khác và sản xuất các sản phẩm trung gian, sau đó các sản phẩm này được xuất ngược trở lại và được sản xuất với tư cách là đầu vào cho sản xuất của chủ nhà hay tiêu thụ những sản phẩm đó hoàn thành cho những người tiêu thụ cuối cùng
Theo thuyết này các công ty thực hiện FDI vì một số lý do: Thứ nhất do nguồn cung cấp nguyên liệu ngày càng khan hiếm các công ty địa phương không đủ khả năng tham dò khai thác Do vậy các MNC tranh thủ lợi thế cạnh tranh trên cở sở khai thác nguyên liệu tại địa phương Điều đó giải thích tại sao FDI theo chiều rộng được thực hiện ở các nước đang phát triển Thứ hai thông qua các liên kết FDI dọc các công ty độc quyền nhóm lập nên các hàng rào không cho các công ty khác tiếp cận tới những nguồn nguyền liệu của chung Thứ ba FDI theo chiều rộng còn tạo ra lợi thế về chi phí thông qua việc cải tiến kỹ thuật bằng cách phối hợp sản xuất và chuyển giao các sản phẩm giữa các công đoạn khác nhau của quá trình sản xuất
c) Lý thuyết về tính không hoàn hảo của thị trường
Lý thuyết này cho rằng khi xuất hiện trên thị trường cho hoạt động kinh doanh kém hiệu quả đi các công ty thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm khuyến ókhích hoạt động kinh doanh và vượt qua yêu tố không hoàn hảo đó Cs hai yếu tố không hoàn hảo của thị trường là rào cản thương mại và kiến thức đặc biệt
Các rào cản thường mại thuế và hạn ngạch…
Kiến thực đặc biệt là chuyên môn kỹ thuật của các kỹ sư hay khả năng tiếp thị đặc biệt của các nhà quản lý khi các kiến thức này chỉ là chuyên môn kỹ thuật thì các công ty cú thể bán cho các công ty nước ngoài với một giá nhất định để họ có thế sản xuất sản phẩm tương tự Những cơ hội thị trường tại nước ngoài là thực hiện
Trang 28FDI Mặt khác nếu các công ty bán các kiến thức đặc biệt cho nước ngoài thì họ lại
sợ tạo ra đối thủ cạnh tranh trong tương lai
d) Lý luận về chu kỳ sản phẩm
Lý luận này đề cập tới chu kỳ phát triển của chu kỳ tuổi thọ của sản phẩm quyết định các doanh nghiệp phải đầu tư ra ngoài để chiếm lĩnh vực thị trường ra nước ngoài Lý thuyết này được RAYMOND VENON xây dựng năm 1966, nhấn mạnh
về vòng đời của một sản phẩm bao gồm 3 thời kỳ: Thời kỳ sản phẩm mới, thời kỳ sản phẩm hoàn thiện, thời kỳ sản phẩm tiêu chuẩn hay chín muối Lý thuyết này chỉ
ra rằng chỉ được thực hiện khi sản phẩm bước sang thời kỳ chuẩn hóa và chi phí sản xuất là yếu tố quyết định khi cạnh trạnh
Lý luận này vạch ra sự khác nhau về tầm quan trọng của các yếu tố sản xuất trong các giai đoạn phát triển sản phẩm, làm nảy sinh quy luật chiến dịch lợi thế
e) Lý thuyết cấu thành hữu cơ của đầu tư
Cạnh tranh thị trường đang được mở rộng, tiền đề sống của xí nghiệp là phải tiếp tục tăng trưởng Đầu tư ra nước ngoài nhằm bảo vệ vị trí của mình trên thị trường ngày càng mở rộng Xét dưới góc độ của quy luật đầu tư, muốn duy trì năng lực thu lời của đầu tư thì phải tiến hành đầu tư mới nếu không thì lợi nhuận của đầu tư sẽ giảm, các nhà đầu tư sẽ đầu tư ra nước ngoài với mục đích ngăn ngừa đối thủ cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường
f) Lý luận về phân tán rủi ro
H.M.Markawitey cho rằng sự lựa chọn đầu tư có hiệu quả là đầu tư đa dạng hóa sản phẩm, tức là phân tán hóa, mức bù trừ lợi nhuận giữa các hạng mục đầu tư thấp hoặc ấm sẽ cú thể khiến cho lợi nhuận dự kiến bị biến
Đa dạng hóa làm cho sản phẩm có sự khác biệt, sự khác biệt theo chiều ngang,
sự khác biệt theo chiều rộng có thế phân tán rủi ro
g) Lý thuyết chiết trung
Các công ty sẽ thực hiện FDI khi hội tụ đủ ba lợi thế: địa điểm, sở hữu, nội địa hóa Về địa điểm là các ưu thế có được do tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh tại một địa điểm nhất định những ưu thể về địa điểm cú thể là các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động lành nghề và rẻ…
Trang 29Sở hữu là ưu thế cho một công ty có cơ hội tham gia sở hữu một số tài sản nhất định như nhãn hiệu sản phẩm, kiến thức kỹ thuật hay cơ hội quản lý
Nội địa hóa là ưu thể đạt được cho việc nội hoá hoạt động sản xuất thay vì chuyển nó đến một thị trường kém hiệu quả hơn
Thuyết này khẳng định rằng khi hội tụ đầy đủ các lợi thế trên, các công ty sẽ thực hiện FDI
1.2.2.2 Các nhân tố tác động đến FDI
a) Các nhân tố liên quan đến chủ đầu tư
Mục tiêu của các chủ đầu tư, đặc biệt là các chủ đầu tư tư nhân khi tiến hành đầu
tư là nhằm thu lợi nhuận càng nhiều càng tốt Muốn vậy họ không thể dừng lại ở thị trường trong nước mà phải tìm cách vươn ra thị trường nước ngoài Để xâm nhập thị trường nước ngoài, các chủ đầu tư có thể sử dụng nhiều cách khác nhau (xuất khẩu, tiến hành FDI, nhượng quyền…) Vấn đề đặt ra cho các chủ đầu tư là phải lựa chọn được hình thức xâm nhập phù hợp, đem lại hiệu quả cao nhất và góp phần thực hiện mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận
Thông thường chủ đầu tư sẽ quyết định đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức FDI khi bản thân họ có các lợi thế độc quyền riêng và FDI sẽ giúp họ tận dụng được lợi thế nội bộ hóa các tài sản riêng này
Chủ đầu tư đặc biệt là các MNC và TNC có thể nghĩ đến việc đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức FDI khi họ sở hữu một hoặc một số lợi thế cạnh tranh độc nhất (lợi thế về quyền sở hữu, năng lực đặc biệt), lợi thế này giúp các chủ đầu tư khắc phục những bất lợi trong cạnh tranh với các công ty của nước nhận đầu tư trong chính lãnh thổ nước nhận đầu tư và cả với các công ty của nước chủ đầu tư, đặc biệt
nó cho phép doanh nghiệp vượt qua các khó khăn về chi phí hoạt động ở nước ngoài Chủ đầu tư khi xây dựng nhà máy ở nước ngoài phải trả những chi phí phụ trội so với đối thủ cạnh tranh của nước đó do:
(i) Sự khác biệt về văn hóa, luật pháp, thể chế và ngôn ngữ;
(ii) Thiếu hiểu biết về các điều kiện thị trường nội địa
(iii) Chi phí thông tin liên lạc và hoạt động do sự cách biệt về địa lý Cácchi phí phụ trội này được gọi là “chi phí nước ngoài” (costs of foreigness)
Trang 30Muốn tồn tại được ở nước ngoài, các chủ đầu tư sẽ phải tìm cách để có được thu nhập cao hơn hoặc tiết kiệm được các chi phí khác để bù lại chi phí nước ngoài Muốn vậy chủ đầu tư phải có một số các lợi thế không bị chia sẻ với các đối thủ cạnh tranh Các lợi thế này phải là lợi thế riêng biệt của doanh nghiệp, do doanh nghiệp sở hữu độc quyền và sẵn sàng chuyển giao trong nội bộ các chi nhánh, các công ty con ở các nước khác nhau Khi khai thác các lợi thế này ở nước ngoài chủ đầu tư sẽ có được thu nhập cận biên cao hơn hoặc chi phí cận biên thấp hơn so với các đối thủcạnh tranh, như vậy chủ đầu tư sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn Các lợi thế này được chia thành 3 nhóm cơ bản
Kiến thức công nghệ: bao gồm tất cả các hoạt động phát minh (sản phẩm mới,qui trình sản xuất, kỹ năng marketing và quản lý, năng lực sáng tạo, nền tảng kiến thức của doanh nghiệp)
Giảm chi phí nhờ hoạt động với qui mô lớn (lợi thế quản lý chung): giảm chi phí nhờ chia sẻ kiến thức, tiếp cận dễ hơn các nguồn tài chính lớn của các công ty nước ngoài, và các lợi thế từ việc đa dạng hóa mang tính quốc tế các tài sản và rủi
ro, đa dạng hóa sản phẩm
Lợi thế độc quyền tập trung vào MNC dưới hình thức ưu tiên hoặc độc quyền tiếp cận các thị trường đầu vào và đầu ra thông qua các quyền về patent, sở hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên khan hiếm, Lợi thế về nội bộ hóa
Nghĩa là việc sử dụng các tài sản riêng của doanh nghiệp ở nước ngoài thông qua FDI sẽ có lợi hơn các cách sử dụng khác Để có mặt trên một thị trường, các chủ đầu tư có nhiều hình thức xâm nhập khác nhau (xuất khẩu, cấp license, nhượng quyền, liên doanh góp vốn với chủ đầu tư nước sở tại, lập chi nhánh, ….) Doanh nghiệp có thể xâm nhập thị trường nước ngoài bằngcách đơn giản là xuất khẩu sản phẩm của mình
Tuy nhiên hình thức này có thể gặp phải một số vấn đề như chi phí nghiên cứu thị trường cao, các rào cản thuế quan và phi thuế quan không cho phép xâm nhập hoặc xâm nhập nhưng với chi phí cao
Trang 31Tương tự, doanh nghiệp có thể cấp license cho đối tác nước ngoài phân phối sản phẩm nhưng doanh nghiệp có thể phải lo ngại về hành vi cơ hội của đối tác dẫn đến những thiệt hại về uy tín, doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp Thêm vào
đó, thực tế đã chứng minh, các thị trường ở các nước thường không hoàn hảo, gây khó khăn cho việc giao dịch bằng con đường thương mại thông thường
Ví dụ thị trường công nghệ, nhất là phần mềm Các phần mềm công nghệ là các tài sản vô hình và mang đặc trưng riêng của doanh nghiệp, vì vậy rất khó cho cả người chủ sở hữu lẫn người mua trong việc định giá công nghệ Người bán phải giải thích cho người mua xem sử dụng công nghệ như thế nào nhưng không được giải thích nhiều để người mua không thể tự tái tạo lại công nghệ đó Điều này có thể dẫn đến hành vi cơ hội nghĩa là m i bên cố gắng đưa ra các điều khoản có lợi cho mình
Vì vậy chuyển giao công nghệ thông qua con đường thương mại không hề dễ dàng Trong khi đó nếu công nghệ được chuyển giao trong nội bộ một doanh nghiệp thì các vấn đề về chi phí, bảo mật, … không cần đặt ra
Các chủ đầu tư, đặc biệt là các TNC và MNC, với các lợi thế riêng của mình sẽ thích thành lập các chi nhánh do mình sở hữu 100% hoặc sở hữu phần lớn (Nghĩa là dưới hình thức FDI) hơn là các chi nhánh chỉ có quyền sở hữu thiểu số hoặc cấp license, hoặc giao dịch thương mại thông thường Lợi thế nội bộ hóa chính là lợi thế
mà các chủ đầu tư có được thông qua việc tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đồng bộ ở nhiều nước, sử dụng thương mại trong nội bộ doanhnghiệp để lưu chuyển hàng hoá, dịch vụ và các yếu tố vô hình giữa các chi nhánh của chúng Phương thức hoạt động này giúp các chủ đầu tư hạn chế được những yếu kém của thị trường như
đã trình bày ở trên
Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng nội bộ hóa cũng kéo theo những chi phí phụ trội Một trong những chi phí quan trọng nhất đó là chi phí quản lý, nghĩa là chi phí điều hành một công ty lớn với nhiều công ty thành viên hợp tác trong cùng ngành hoặc trong các ngành có tính chất bạn hàng của nhau, các doanh nghiệp này có thị trường nội bộ rất phức tạp về hàng hóa, dịch vụ và các tài sản vô hình Thứ hai,việc liên kết kinh doanh, để có thể cạnh tranh được trên toàn cầu, cũng đòi hỏi các nguồn tài
Trang 32chính khổng lồ mà có thể doanh nghiệp không có sẵn hoặc có nhưng với chi phí cao hơn so với chi phí cho các hình thức giao dịch khác Thứ ba, các phương pháp kinh doanh mới có thể đòi hỏi những năng lực quan trọng hoặc cáctài sản chuyên dụng
mà MNC không có Các chủ đầu tư khi cân nhắc sử dụng haykhông sử dụng lợi thế
về nội bộ hóa phải tính đến các chi phí phụ trội kể trên
b) Các nhân tố liên quan đến nước chủ đầu tư
Các biện pháp liên quan trực tiếp đến đầu tư ra nước ngoài và một số biện pháp khác có liên quan gián tiếp đến đầu tư ra nước ngoài các của các nước có ảnh hưởng rất lớn đến việc định hướng và đến lượng vốn của nước đó chảy ra nước ngoài Các nước có thể có các biện pháp khuyến khích, h trợ cho các chủ đầu tư nước mình tiến hành đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và trong những trường hợp cần thiết, cũng
có thể áp dụng các biện pháp để hạn chế, hoặc cấm đầu tư ra nước ngoài
Các biện pháp khuyến khích đầu tư trực tiếp ra nước ngoài bao gồm:
- Tham gia ký kết các hiệp định song phương và đa phương về đầu tư hoặc có liên quan đến đầu tư Các Hiệp định này thường có các qui định bảo hộ và khuyến khích hoạt động đầu tư giữa các nước thành viên
- Chính phủ đứng ra bảo hiểm cho các hoạt động đầu tư ở nước ngoài Việc đầu
tư ra nước ngoài có nguy cơ gây ra cho các chủ đầu tư rất nhiều rủi ro Các hãng bảo hiểm tư nhân có thể bán các hợp đồng bảo hiểm cho các chủ đầu tư ra nước ngoài để bảo hiểm chống lại một số rủi ro Tuy nhiên, có nhiều rủi ro đặc biệt là các rủi ro về chính trị và phi thương mại (bị quốc hữu hóa, tổn thất do chiến tranh, …) các công ty bảo hiểm tư nhân không sẵn sàng đứng ra bảo hiểm Chính vì vậy, nếu Chính phủ các nước đứng ra bảo hiểm cho các rủi ro này thì các nhà đầu tư của các nước đó sẽ yên tâm hơn khi tiến hành đầu tư ra nước ngoài
- Ưu đãi thuế và tài chính, có thể dưới dạng các h trợ tài chính trực tiếp cho các chủ đầu tư (chính phủ cấp vốn, cấp tín dụng hoặc tham gia góp vốn vào dự án đầu
tư ở nước ngoài); h trợ xây dựng cơ sở hạ tầng (KCN, cầu, đường,…); tài trợ cho các chương trình đào tạo của các dự án FDI ở nước ngoài; miễn hoặc giảm thuế (miễn thuế chuyển nhượng tài sản, giảm thuế cho các chủ đầu tư đầu tư vào các
Trang 33ngành hay địa bàn khuyến khích đầu tư, …), hoãn nộp thuế đối với các khoản thu nhập từ đầu tư ở nước …
- Khuyến khích chuyển giao công nghệ Chính phủ các nước có thể h trợ vốn,trợ giúp về kỹ thuật, dành các ưu đãi cho các dự án FDI ở nước ngoài có kèmtheo chuyển giao công nghệ
- Các biện pháp này thường được chính phủ các nước công nghiệp phát triển áp dụng để khuyến khích các chủ đầu tư nướcmình chuyển giao công nghệ sang các nước đang phát triển thông qua FDI
- Trợ giúp tiếp cận thị trường, dành ưu đãi thương mại (thuế quan và phi thuế quan) cho hàng hóa của các nhà đầu tư nước mình sản xuất ở nước ngoài và xuất khẩu trở lại nước chủ đầu tư Nước chủ đầu tư cũng có thể đàm phán để nước nhận đầu tư dỡ bỏ các rào cản đối với FDI và với thương mại giữa hai nước Nước chủ đầu tư có thể tham gia vào các liên kết kinh tế khu vực, liên khu vực hoặc quốc tế
để tạo thuận lợi cho các chủ đầu tư nước mình trong quá trình đầu tư và tiến hành trao đổi thương mại với các nước khác
- Cung cấp thông tin và trợ giúp kỹ thuật Chính phủ hoặc các cơ quan của Chính phủ đứng ra cung cấp cho các chủ đầu tư các thông tin cần thiết về môi trường và
cơ hội đầu tư ở nước nhận đầu tư (hành lang pháp lý, môi trường kinh tế,chính trị,
xã hội, các thông tin cụ thể của ngành, lĩnh vực hay địa bàn đầu tư).Việc h trợ kỹ thuật cho nước nhận đầu tư để cải thiện môi trường đầu tư, cảicách luật pháp, chính sách theo hướng rõ ràng, minh bạch hơn và nâng cao hiệu quả của bộ máy hành chính cũng sẽ tạo thuận lợi cho hoạt động FDI
Các biện pháp hạn chế đầu tư:
- Hạn chế chuyển vốn ra nước ngoài Để kiểm soát cán cân thanh toán, hạn chế thâm hụt, các nước chủ đầu tư có thể áp dụng biện pháp này
- Hạn chế bằng thuế, đánh thuế đối với thu nhập của chủ đầu tư ở nước ngoài (chủ đầu tư phải nộp thuế thu nhập hai lần cho nước nhận đầu tư và cho cả nước chủ đầu tư); có các chính sách ưu đãi về thuế đối với đầu tư trong nướckhiến cho đầu tư
ra nước ngoài kém ưu đãi hơn, áp dụng các chính sách định giá chuyển giao để xác
Trang 34định lại các tiêu chuẩn định giá, từ đó xác định lại thu nhập chịu thuế và thuế thu nhập doanh nghiệp của các công ty có hoạt động đầu tư ra nước ngoài…
- Hạn chế tiếp cận thị trường, đánh thuế cao hoặc áp dụng chế độ hạn ngạch hay các rào cản phi thương mại khác đối với hàng hóa do các công ty nước mình sản xuất ở nước ngoài và xuất khẩu trở lại
- Cấm đầu tư vào một số nước Do căng thẳng trong quan hệ ngoại giao, chính trị,nước chủ đầu tư có thể không cho phép chủ đầu tư nước mình tiến hành hoạt độngđầu tư ở một nước nào đó
c) Các nhân tố liên quan đến nước nhận đầu tư
Khi lựa chọn địa điểm để đầu tư ở nước ngoài, chủ đầu tư sẽ phải cân nhắc đến các điều kiện sản xuất, kinh doanh ở địa điểm đó xem có thuận lợi hay không nghĩa
là cân nhắc đến các yếu tố có liên quan đến lợi thế địa điểm của nước nhận đầu tư Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi thế địa điểm của các nước nhận đầu tư được chia thành ba nhóm:
Thứ nhất là khung chính sách về FDI của nước nhận đầu tư, bao gồm các qui
định liên quan trực tiếp đến FDI và các qui định có ảnh hưởng gián tiếp đến FDI Các qui định của luật pháp và chính sách liên quan trực tiếp FDI bao gồm các qui định về việc thành lập và hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài (cho phép, hạn chế, cấm đầu tư vào một số ngành, lĩnh vực; cho phép tự do hay hạn chế quyền
sở hữu của các chủ đầu tư nước ngoài đối với các dự án; cho phép tự do hoạt động hay áp đặt một số điều kiện hoạt động; có hay không các ưu đãi nhằm khuyến khích FDI; …), các tiêu chuẩn đối xử đối với FDI (phân biệt hay không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư có quốc tịch khác nhau, …) và cơ chế hoạt động của thị trường trong đó có sự tham gia của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (cạnh tranh có bình đẳng hay không; có hiện tượng độc quyền không; thông tin trên thị trường có rõ ràng, minh bạch không; …) Các qui định này ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng và kết quả của hoạt động FDI Các qui định thông thoáng, có nhiều ưu đãi, không có hoặc ít có các rào cản, hạn chế hoạt động FDI sẽ góp phần tăng cường thu hút FDI vào và tạo thuận lợi cho các dự án FDI trong quá trình hoạt động
Trang 35Ngược lại, hành lang pháp lý và cơ chế chính sách có nhiều qui định mang tính chất hạn chế và ràng buộc đối với FDI sẽ khiến cho FDI không vào được hoặc các chủ đầu tư không muốn đầu tư Các qui định của luật pháp và chính sách sẽ được điều chỉnh tùy theo định hướng, mục tiêu phát triển của từng quốc gia trong từng thời kỳ, thậm chí có tính đến cả các qui hoạch về ngành và vùng lãnh thổ
Bên cạnh đó, một số các qui định, chính sách trong một số ngành, lĩnh vực khác cũng có ảnh hưởng đến quyết định của chủ đầu tư như:
Chính sách thương mại có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư vì FDI gắn với sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ Ví dụ các nước theo đuổi chiến lược phát triển sản xuất trong nước để thay thế nhập khẩu sẽ thu hút được nhiều FDI vào sản xuất các hàng tiêu dùng phục vụ nhu cầu trong nước nhưng sau đó một thời gian khi thị trường đã bão hòa nếu nước đó không thay đổi chính sách thì sẽ không hấp dẫn được FDI
Chính sách tư nhân hóa liên quan đến việc cổ phần hóa, bán lại các công ty Những nước cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào quá trình tư nhân hóa sẽ tạo cho các nhà đầu tư nước ngoài nhiều cơ hội, nhiều sự lựa chọn hơn trước khi quyết định đầu tư
Chính sách tiền tệ và chính sách thuế có ảnh hưởng quan trọng đến sự ổn định của nền kinh tế Các chính sách này ảnh hưởng đến tốc độ lạm phát, khả năng cân bằng ngân sách của nhà nước, lãi suất trên thị trường Như vậy các chính sách này ảnh hưởng rất nhiều đến quyết định đầu tư Các chủ đầu tư đều muốn đầu tư vào các thị trường có tỷ lệ lạm phát thấp Lãi suất trên thị trường nước nhận đầu tư sẽ ảnh hưởng đến chi phí vốn, từ đó ảnh hưởng đến thu nhập của các chủ đầu tư nước ngoài Chính sách thuế của nước nhận đầu tư cũng thu hút được sự quan tâm rất lớn của các chủ đầu tư Thuế thu nhập doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của các dự án FDI Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thuế tiêu thụ đặc biệt, … ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm Nhìn chung các chủ đầu tư đều tìm cách đầu tư ở những nước có các loại thuế thấp
Trang 36Chính sách tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến giá các tài sản ở nước nhận đầu tư,giá trị các khoản lợi nhuận các chủ đầu tư thu được và năng lực cạnh tranh của các hàng hóa xuất khẩu của các chi nhánh nước ngoài Một nước theo đuổi chính sách đồng tiền quốc gia yếu sẽ có lợi trong việc thu hút ĐTNN và xuất khẩu hàng hóa Chính
vì vậy chính sách này ảnh hưởng đến FDI
Chính sách liên quan đến cơ cấu các ngành kinh tế và các vùng lãnh thổ (khuyến khích phát triển ngành nào, vùng nào; ngành nào đã bão hòa rồi; ngành nào, vùng nào không cần khuyến khích, …)
Chính sách lao động: có hạn chế hay không hạn chế sử dụng lao động nước ngoài; ưu tiên hay không ưu tiên cho lao động trong nước, …
Chính sách giáo dục, đào tạo, chính sách y tế, … ảnh hưởng đến chất lượng nguồn lao động cung cấp cho các dự án FDI
Các qui định trong các hiệp định quốc tế mà nước nhận đầu tư tham gia ký kết Ngày nay, các qui định này thường tạo thuận lợi cho FDI vì nó bảo vệ quyền lợi cho các nhà đầu tư, hướng tới không phân biệt các chủ đầu tư theo quốc tịch, …
Nhìn chung các chủ đầu tư nước ngoài thích đầu tư vào những nước có hành lang pháp lý, cơ chế, chính sách đầy đủ, đồng bộ, thông thoáng, minh bạch và có thể
dự đoán được Điều này đảm bảo cho sự an toàn của vốn đầu tư
Thứ hai là các yếu tố của môi trường kinh tế Nhiều nhà kinh tế cho rằng các
yếu tố kinh tế của nước nhận đầu tư là những yếu tố có ảnh hưởng quyết định trong thu hút FDI Tùy động cơ của chủ đầu tư nước ngoài mà có thể có các yếu tố sau của môi trường kinh tế ảnh hưởng đến dòng vốn FDI:
Các chủ đầu tư có động cơ tìm kiếm thị trường sẽ quan tâm đến các yếu tố như dung lượng thị trường và thu nhập bình quân đầu người; tốc độ tăng trưởng của thị trường; khả năng tiếp cận thị trường khu vực và thế giới; các sở thích đặc biệt của người tiêu dùng ở nước nhận đầu tư và cơ cấu thị trường
Đối với các chủ đầu tư muốn mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm thì dung lượng thị trường của nước nhận đầu tư là một yếu tố rất quan trọng khi chủ đầu tư cân nhắc để lựa chọn địa điểm đầu tư Một nước với dân số đông, GDP bình quân
Trang 37đầu người cao, GDP tăng trưởng với tốc độ cao, sức mua lớn sẽ có sức hấp dẫn đối với FDI vì đem lại cho chủ đầu tư cơ hội tăng thị phần và lợi nhuận
Thị trường trong nước nhận đầu tư cũng rất quan trọng đối với các chủ đầu tư là các hãng cung ứng dịch vụ Lý do chính trong trường hợp này không phải vì hàng rào thuế quan hay phi thuế quan mà do tính đặc thù của sản phẩm dịch vụ là không thể vận chuyển sản phẩm từ nước này sang nước khác, từ nơi này sang nơi khác Chính vì vậy để đáp ứng nhu cầu dịch vụ ở nước ngoài các công ty dịch vụ phải thiết lập các cơ sở cung ứng ở chính nước đó
Bên cạnh thị trường trong nước, các chủ đầu tư nước ngoài ngày càng quan tâm nhiều hơn đến khả năng tiếp cận thị trường khu vực và thế giới của hàng hóa sản xuất ra tại nước nhận đầu tư Trong xu thế tăng cường liên kết kinh tế quốc tế và khu vực ngày nay, những nước tham gia vào nhiều các liên kết quốc tế sẽ có lợi thế trong thương mại quốc tế vì hàng hóa từ nước này xuất khẩu sang các nước thành viên khác trong liên kết sẽ được hưởng chế độ thương mại ưu đãi hơn hàng hóa từ các nước không phải thành viên chảy vào Chính vì vậy chủ đầu tư nước ngoài chỉ cần đầu tư vào một nước có tham gia vào nhiều các liên kết kinh tế khu vực và thế giới sẽ có cơ hội tiếp cận một thị trường rộng lớn hơn rất nhiều thị trường nước nhận đầu tư Đây là một lợi thế mà các chủ đầu tư nước ngoài không thể bỏ qua khi cân nhắc lựa chọn địa điểm đầu tư
Các chủ đầu tư tìm kiếm nguồn nguyên liệu và tài sản sẽ quan tâm đến tài nguyên thiên nhiên; lao động chưa qua đào tạo với giá rẻ; lao động có tay nghề;công nghệ, phát minh, sáng chế và các tài sản do doanh nghiệp sáng tạo ra(thương hiệu, …); cơ sở hạ tầng phần cứng (cảng, đường bộ, hệ thống cung cấp năng lượng, mạng lưới viễn thông)
Lực lượng lao động dồi dào, trình độ thấp và giá rẻ ở nhiều nước đang phát triển cũng thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài Lực lượng này đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp chế tạo cần nhiều lao động Ngược lại, những ngành, lĩnh vực, những dự án đầu tư đòi hỏi công nghệ cao kèm theo yêu cầu
về lao động có trình độ cao, có tay nghề, được đào tạo bài bản
Trang 38Không phải lúc nào các chủ đầu tư nước ngoài cũng đem công nghệ cùng với vốn đi đầu tư ở các nước khác Bản thân họ cũng kỳ vọng tìm được những công nghệ, phát minh, sáng chế và các tài sản mới do doanh nghiệp ở nước nhận đầu tư sáng tạo ra và sở hữu độc quyền Điều này đặc biệt đúng với các dòng vốn FDI chảy giữa các nước công nghiệp phát triển với nhau
Các chủ đầu tư tìm kiếm hiệu quả sẽ chú trọng đến chi phí mua sắm các nguồn tài nguyên và tài sản được đề cập ở phần trên, có cân đối với năng suất lao động; các chi phí đầu vào khác như chi phí vận chuyển và thông tin liên lạc đi đến hoặc trong nước nhận đầu tư; chi phí mua bán thành phẩm; tham gia cáchiệp định hội nhập khu vực tạo thuận lợi cho việc thành lập mạng lưới cácdoanh nghiệp toàn khu vực
Khi các chủ đầu tư chú trọng đến việc giảm chi phí thì một trong những chi phí được các chủ đầu tư chú ý nhiều đó là chi phí lao động Điều này đặc biệt đúngtrong những ngành, những lĩnh vực sử dụng nhiều lao động Các chủ đầu tư sẽ tìm đến những thị trường có nguồn lao động rẻ, phù hợp Tất nhiên chủ đầu tư cũng phải tính toán cân đối giữa tiền lương, chi phí đào tạo, các chi phí khác liên quan đến việc sử dụng lao động với năng suất lao động để quyết định đầu tư ở địa điểm nào
có hiệu quả sử dụng lao động cao nhất Các ngành có tỷ trọng chi phí nguyên vật liệu cao trong giá thành sản phẩm lại chú ý nhiều đến việc giảm các chi phí liên quan đến việc mua các nguyên vật liệu, …
Cơ sở hạ tầng như cảng, đường bộ, hệ thống cung cấp năng lượng, mạng lưới viễn thông cũng ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả hoạt động đầu tư Chính vì vậy khi lựa chọn địa điểm đầu tư các chủ đầu tư nước ngoài phải cân nhắc vấn đề này
Thứ ba là các yếu tố tạo thuận lợi trong kinh doanh, bao gồm chính sách xúc
tiến đầu tư; các biện pháp ưu đãi, khuyến khích đầu tư; giảm các tiêu cực phí bằng cách giải quyết nạn tham nhũng, cải cách thủ tục hành chính để nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý Nhà nước; nâng cao chất lượng các dịch vụ tiện ích
xã hội để đảm bảo chất lượng cuộc sống cho các chủ đầu tư nước ngoài (các trường song ngữ, chất lượng cuộc sống, …), các dịch vụ hậu đầu tư Từ lâu các nước nhận đầu tư đã ý thức được tầm quan trọng của các yếu tố này, vì vậy các nước thường
Trang 39tìm cách cải tiến các yếu tố này nhằm tạo thuận lợi nhiều hơn cho các chủ đầu tư Xúc tiến đầu tư bao gồm hoạt động xây dựng và giới thiệu hình ảnh đất nước, đặc biệt giới thiệu môi trường đầu tư, cơ hội đầu tư cho các nhà đầu tư nước ngoài; các hoạt động h trợ cho đầu tư và các dịch vụ tạo thuận lợi cho đầu tư
Xúc tiến đầu tư đặc biệt quan trọng đối với các nước mới mở cửa thu hút FDI hoặc vừa thay đổi các chính sách liên quan đến FDI chuyển từ hạn chế sang mở cửa
và khuyến khích FDI Hoạt động xúc tiến đầu tư lúc này sẽ giúp các chủ đầu tư biết đến những chính sách thuận lợi dành cho FDI mới được ban hành ở nước nhận đầu
tư Từ đó chủ đầu tư sẽ cân nhắc và đi đến quyết định có đầu tư hay không vào nước đó Thực tế cho thấy một số nước đang phát triển không thành công trong thu hút FDI mặc dù đã đưa ra nhiều cải tiến về chính sách có liên quan đến FDI theo hướng tạo thuận lợi và dành nhiều ưu đãi cho FDI, lý do vì các chủ đầu tư nước ngoài không được biết đến các thay đổi này Như vậy hoạt động xúc tiến đầu tư sẽ giúp các chủ đầu tư nước ngoài biết đến và phản ứng kịp thời với các thay đổi trong chính sách FDI của nước nhận đầu tư, đặc biệt hoạt động này giúp các chủ đầu tư phát hiện được các cơ hội mới mà nếu tự tìm hiểu thì có thể chủ đầu tư sẽ không kịp thời thấy được các cơ hội này Xúc tiến đầu tư sẽ giúp rút ngắn khoảng cách về mặt địa lý giữa nước nhận đầu tư và chủ đầu tư vì thông tin đến được với chủ đầu tư kịp thời Việc giới thiệu môi trường đầu tư, cơ hội đầu tư có thể được tiến hành thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, cũng có thể qua những cuộc tiếp xúc riêng với các nhà đầu tư Thậm chí đối với các chủ đầu tư là các TNC, MNC lớn, công tác xúc tiến đầu tư có thể được tiến hành với riêng từng chủ đầu tư
Các hoạt động h trợ cho đầu tư và các dịch vụ tạo thuận lợi cho đầu tư cũng có ảnh hưởng nhiều đến chất lượng xúc tiến đầu tư và từ đó ảnh hưởng đến dòng vốn FDI chảy vào một nước Các hoạt động h trợ này có thể là h trợ trong việc nghiên cứu thị trường, tìm kiếm đối tác, cơ hội đầu tư; h trợ trong việc lập hồ sơ dự án và xin phép đầu tư; h trợ trong quá trình triển khai dự án; h trợ trong suốtquá trình hoạt động của dự án và h trợ khi dự án làm thủ tục để chuẩn bị chấm dứt hoạt động Ngày nay, nhiều nước đã áp dụng cơ chế một cửa nhằm giúp các nhà đầu tư
Trang 40nước ngoài chỉ cần thông qua một đầu mối có thể được h trợ về mọi mặt và trong suốt quá trình từ khi tìm kiếm cơ hội đầu tư đến khi chấm dứt hoạt động đầu tư Cơ chế này đã tạo thuận lợi rất nhiều cho các nhà đầu tư, giúp họ tiết kiệm được thời gian và chi phí Với chính sách xúc tiến đầu tư tốt, dòng vốn FDI chảy vào một nước có thể tăng lên rất nhiều
Các chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư (ưu đãi về thuế, ưu đãi tài chính,các
ưu đãi khác) cũng là một công cụ mà nhiều nước sử dụng để tăng cường thu hút FDI Các ưu đãi này giúp các chủ đầu tư tăng tỷ suất lợi nhuận, giảm chi phí hoặc hạn chế được rủi ro Thông thường, các chính sách này được áp dụng riêng cho một hoặc một số doanh nghiệp hoạt động trong một ngành, một lĩnh vực haymột địa bàn nào đó nhằm khuyến khích doanh nghiệp hoạt động theo ý muốn của Chính phủ (muốn điều chỉnh cơ cấu ngành, cơ cấu vùng lãnh thổ, muốn khuyến khích chuyển giao công nghệ cao, …) Như vậy các ưu đãi đầu tư có thể giúp các nước tăng cường thu hút FDI có trọng điểm
Các nghiên cứu của các tác giả ở nhiều nước cho thấy tham nhũng ở nước nhận đầu tư sẽ làm nản lòng các chủ đầu tư nước ngoài Tham nhũng khiến cho chi phí đầu tư và chi phí kinh doanh tăng lên và các nhà đầu tư không thể dự đoán trước được chi phí có thể tăng đến mức nào Tham nhũng cũng làm cho các cơ hội đầu tư trở nên không chắc chắn Dù đã phải chi tiền cho các quan chức chính phủ nhưng các nhà đầu tư vẫn không biết chắc mình có được đầu tư hay không vì không có một ràng buộc chặt chẽ nào từ phía các quan chức này Chính vì vậy,nhiều khi không cần cân nhắc đến các yếu tố khác, khi thấy một nước có nạn tham nhũng nặng nề, các chủ đầu tư sẽ không tìm đến nước đó nữa
Thủ tục hành chính cũng ảnh hưởng rất nhiều đến chi phí và cơ hội đầu tư Nhiều trường hợp chỉ vì thủ tục hành chính quá rườm rà, mất nhiều thời gian mà khi hoàn thành xong các thủ tục theo đúng qui định của nước nhận đầu tư thì cơ hội đầu
tư cũng đã qua mất Chính vì vậy khi lựa chọn địa điểm đầu tư, các chủ đầu tư thường ưu tiên những nơi, những nước không đòi hỏi phải tiến hành nhiều thủ tục đầu tư rườm rà Đặc biệt các chủ đầu tư thích tìm đến những địa điểm đầu tư ở đó