Đặc biệt, sau khi Việt nam gia nhập tổ chứcthương mại thế giới WTO và những động thái thay đổi trong chính sách của Ngânhàng Nhà nước và Chính phủ bao gồm việc cho phép thành lập các ngâ
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Như chúng ta đã biết, ngân hàng đóng một vai trò rất quan trọng trong nềnkinh tế quốc dân của mỗi quốc gia Sự phát triển, tín nhiệm hay nói cách khác là
"sức khỏe" của mỗi ngân hàng đều có những tác động nhất định đến tình hình kinh
tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia Đặc biệt, sau khi Việt nam gia nhập tổ chứcthương mại thế giới WTO và những động thái thay đổi trong chính sách của Ngânhàng Nhà nước và Chính phủ bao gồm việc cho phép thành lập các ngân hàng tưnhân và nước ngoài và việc chuyển đổi một lượng lớn các ngân hàng nhà nướcthành các ngân hàng cổ phần trong giai đoạn vừa qua đã cho thấy sự phát triểnmạnh mẽ trong khu vực ngân hàng đó là số lượng các ngân hàng ngày một nhiềuhơn và mức độ cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt hơn khi các ngân hàngthương mại Việt nam không những phải hoạt động trong môi trường cạnh tranh vớicác ngân hàng nội địa mà còn phải cạnh tranh với các tổ chức tài chính nước ngoàivừa có tiềm lực kinh tế dồi dào vừa có nhiều kinh nghiệm hoạt động cạnh tranh.Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của khoa kỹ thuật và ứng dụng công nghệ trongviệc cung cấp dịch vụ ngân hàng làm cho cạnh tranh của các ngân hàng thương mạiViệt Nam trở nên không có giới hạn về không gian và thời gian, do vậy để biết rõtừng ngân hàng hoạt động ra sao, có độ tin cậy như thế nào là một vấn đề quantrọng hiện nay
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện các cam kết quốc tế ViệtNam từng bước mở cửa dịch vụ ngân hàng, nhằm hướng đến xây dựng hệ thốngngân hàng cạnh tranh bình đẳng trên bình diện quốc tế theo khuôn khổ pháp lý phùhợp và thống nhất Hơn bao giờ hết sự cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ngàycàng trở nên gay gắt, thách thức đối với các NHTMVN càng gia tăng khi Chính phủViệt Nam tháo dỡ rào cản đối với các ngân hàng thương mại nước ngoài(NHTMNNg) và tiến đến xóa bỏ những bảo hộ của Nhà nước đối với ngân hàngtrong nước
Trang 2Thực trạng ở Việt Nam cho thấy vấn đề xếp hạng năng lực cạnh tranh ngânhàng chưa thực sự được quan tâm đúng mức, chưa đi vào một qui trình cụ thể vàchưa được nhà nước chú tâm như là một vấn đề trọng yếu.Vì vậy, xây dựng một môhình đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của các ngân hàngthương mại một cách toàn diện về chất lượng dịch vụ, tình trạng hoạt động, mức độtín nhiệm và tốc độ tăng trưởng trong điều kiện hiện nay nhằm giúp cho các ngânhàng tìm kiếm được các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh phù hợp với đặcđiểm cụ thể của từng ngân hàng nhằm tồn tại và phát triển trong cạnh tranh trởthành nhu cầu cấp thiết đối với mỗi ngân hàng.
Qua xếp hạng ngân hàng, chúng ta sẽ có cái nhìn tốt hơn về các ngân hàngViệt Nam, về vị thế phát triển cũng như sự cạnh tranh của các ngân hàng trên thịtrường.Đồng thời dựa vào bảng xếp hạng này chúng ta sẽ đánh giá được mức độphát triển của ngân hàng qua các năm nhằm có chính sách quản lý điều hành đểcủng cố cho sự phát triển bền vững khu vực ngân hàng ở Việt Nam
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh củangân hàng thương mại
- Xây dựng một mô hình để phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh của cácNHTM dựa trên những nhân tố tác động
- Xem xét sự khác biệt về mức độ cạnh tranh của các ngân hàng thương mạitheo từng đặc điểm của ngân hàng
- Nhận diện và đo lường những yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh củacác ngân hàng thương mại
- Đề ra các giải pháp cụ thể để nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTMVN
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp luận về mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh của các NHTM
3.2 Phạm vi nghiên cứu
40 ngân hàng thương mại Việt Nam (Không nghiên cứu về NHNNg và NHLD)
Trang 34 CÁCH TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Cách tiếp cận
- Tác giả sử dụng phương pháp phân tích nhân tố để đánh giá và phân tích sựcạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam từ đó xác định tầm quan trọngcủa mỗi nhân tố ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của các NHTM
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, kết hợp với phương pháp thống
kê, so sánh, phân tích, tổng hợp…nhằm làm rõ các vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu: Trong nghiên cứu này sử dụng phương phápnghiên cứu thư viện, sử dụng số liệu thứ cấp như báo cáo thường niên, bản công bốthông tin từ cơ quan thống kê, tạp chí, báo cáo của Ngân hàng nhà nước… vàphương pháp chuyên gia để thu thập ý kiến đóng góp cho vấn đề nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp định lượng: sử dụng phần mềm SPSS và AMOS để thực hiện cácphân tích thống kê cao cấp như phân tích nhân tố, hồi quy, ANOVA, kiểm định mô hìnhnăng lực cạnh tranh dựa trên bộ dữ liệu thu nhập từ các NHTMVN
5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
hàng thương mại
tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam
tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Kết luận
Trang 4CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm và đặc trưng về cạnh tranh của ngân hàng thương mại.
Cạnh tranh của NHTM là khả năng tạo ra và sử dụng có hiệu quả các lợi thế
so sánh, để giành thắng lợi trong quá trình cạnh tranh với các NHTM khác, là nỗ lựchoạt động đồng bộ của ngân hàng trong một lĩnh vực khi cung ứng cho khách hàngnhững sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao, chi phí rẻ nhằm khẳng định vị trí củangân hàng vượt lên so với các ngân hàng khác trong cùng lĩnh vực hoạt động.Môitrường hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại (NHTM) có sự cạnhtranh ngày càng gay gắt Do xuất phát từ những đặc thù của hoạt động kinh doanhngân hàng và những ảnh hưởng của hoạt động ngân hàng đối với nền kinh tế nêncạnh tranh của NHTM có những đặc trưng riêng:
- Đặc thù của môi trường cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng là các đối thủcạnh tranh có số lượng giới hạn và sự gia tăng hay giảm bớt số lượng này là rất khókhăn và hạn chế, do việc cho phép một tổ chức được tham gia hoặc rút lui khỏi thịtrường dịch vụ ngân hàng đòi hỏi phải tuân thủ một quy trình kiểm soát chặt chẽ vớinhững điều kiện ngặt nghèo từ phía nhà nước, nhằm tránh cho nền kinh tế và côngchúng khỏi những tổn thất lớn do hoạt động yếu kém, không rõ ràng, minh bạch củacác tổ chức này mang lại và làm cho thị trường trở nên an toàn, lành mạnh hơn
- Trong cạnh tranh các NHTM phải tuân theo các nguyên tắc, luật lệ quốc tế:Quá trình hội nhập đưa các hoạt động kinh tế thế giới theo một quỹ đạo chung trên
cơ sở các cam kết, hiệp định thương mại Lĩnh vực ngân hàng rất nhạy cảm đối vớinền kinh tế của một quốc gia, phạm vi hoạt động và ảnh hưởng rộng trong khu vực
và thế giới, nên các NHTM muốn hoạt động lành mạnh và phát triển bền vững phải
ký kết và tuân thủ những nguyên tắc này
Trang 5- Công nghệ là nhân tố trung tâm của cuộc cạnh tranh giữa các NHTM: Sựcạnh tranh trước hết phải dựa trên nền tảng kỹ thuật công nghệ đáp ứng được yêucầu của hoạt động kinh doanh tối thiểu Vì khi một NHTM mở ra một loại hình dịch
vụ cung ứng cho khách hàng là đã phải chấp nhận cạnh tranh với các NHTM khácđang hoạt động trong cùng lĩnh vực, tuy nhiên, muốn lĩnh vực dịch vụ này đượcthực hiện thì đòi hỏi phải đáp ứng tối thiểu về điều kiện hạ tầng cơ sở tài chính màthiếu nó thì không thể hoạt động được Như vậy, cạnh tranh giữa các NHTM đòi hỏi
và chịu sự chi phối mạnh mẽ của điều kiện hạ tầng cơ sở tài chính, trong đó côngnghệ thông tin đóng vai trò quan trọng, có tính quyết định đối với hoạt động kinhdoanh của các ngân hàng Công nghệ đang làm thay đổi hàng ngày phương thứchoạt động, mang lại nhiều cơ hội phát triển cho các NHTM Các NHTM phải thấyđược hai khả năng công nghệ có thể là nhân tố giúp ngân hàng sử dụng tạo lợi thếcạnh tranh riêng, mặt khác có thể giúp các đối thủ vuợt trước, dẫn đến nguy cơ tụthậu cho ngân hàng mình, để có chiến lược phát triển cho mình Rõ ràng là, sự cạnhtranh của các NHTM là loại hình cạnh tranh bậc cao, đòi hỏi những chuẩn mực khắtkhe hơn bất cứ loại hình kinh doanh nào khác
- Các NHTM cạnh tranh nhau gay gắt nhưng có sự hợp tác với nhau: Sự dễthay đổi của khách hàng trong quan hệ giao dịch và đặc điểm dịch vụ ngân hàng cótính tương đồng, tính xã hội hóa và tính nhạy cảm cao là nguyên nhân làm cho cạnhtranh giữa các NHTM trở lên quyết liệt Mặt khác thị trường dịch vụ ngân hàng rấtđặc biệt, không ngân hàng nào có thể hoạt động bình thường nếu không có sự liên kếtbình đẳng và minh bạch với các đối thủ Các điều kiện về vốn, mạng lưới, công nghệcủa các ngân hàng đều có hạn trong khi nhu cầu về dịch vụ ngân hàng ngày càng caođòi hỏi các NHTM phải liên kết với nhau trong quá trình tác nghiệp Đây là sự liênkết tự nhiên, có tính quy luật và có thể dự báo trước Trong điều kiện hội nhập sự hợptác giữa các NHTM sẽ càng được mở rộng cả về quy mô và chất lượng
- Cạnh tranh giữa các NHTM phải hướng tới thị trường lành mạnh, tránh rủi
ro hệ thống: Hoạt động kinh doanh của các NHTM có liên quan đến tất cả các tổchức kinh tế, chính trị – xã hội, đến từng cá nhân thông qua các hoạt động huy động
Trang 6tiền gửi tiết kiệm, cho vay cũng như các loại hình dịch vụ tài chính khác; đồng thời,trong hoạt động kinh doanh của mình, các NHTM cũng đều mở tài khoản cho nhau
để cùng phục vụ các đối tượng khách hàng chung Như vậy, hành vi cạnh tranh củacác NHTM có tính nguy hiểm cao vì uy tín và lợi ích, hoạt động của mỗi ngân hàng
có ảnh hưởng mang tính dây truyền đến hệ thống các quyền lợi khác nhau trong xãhội: người gửi tiền, người vay tiền, các ngân hàng, tổ chức tín dụng khác Chính vìvậy, nếu như một NHTM bị khó khăn trong kinh doanh, có nguy cơ đổ vỡ, thì tấtyếu sẽ tác động dây chuyền đến gần như tất cả các NHTM khác, không những thế,các tổ chức tài chính phi ngân hàng cũng sẽ bị “vạ lây” Chính vì vậy, các NHTMtrong kinh doanh luôn vừa phải cạnh tranh lẫn nhau để dành giật thị phần, nhưngluôn phải hợp tác với nhau, nhằm hướng tới một môi trường lành mạnh vì mục tiêutạo an toàn hoạt động cho toàn hệ thống
- Cạnh tranh giữa các NHTM phụ thuộc nhiều vào môi trường bên ngoài:Kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ là lĩnh vực kinh doanh rất nhạy cảm, chịu tácđộng bởi rất nhiều nhân tố về kinh tế, chính trị, xã hội, tâm lý, truyền thống vănhoá… mỗi một nhân tố này có sự thay đổi dù là nhỏ nhất cũng đều tác động rấtnhanh chóng và mạnh mẽ đến môi trường kinh doanh chung Chẳng hạn: Chỉ cầnmột tin đồn thổi dù là thất thiệt cũng có thể gây nên cơn chấn động rất lớn, thậm chí
đe dọa sự tồn vong của cả hệ thống các tổ chức tín dụng Một NHTM hoạt động yếukém, khả năng thanh khoản thấp cũng có thể trở thành gánh nặng cho nhiều tổ chứckinh tế và dân chúng trên địa bàn… Chính vì vậy, trong kinh doanh, các NHTMvừa phải cạnh tranh để từng bước mở rộng khách hàng, mở rộng thị phần, nhưngcũng không thể cạnh tranh bằng mọi giá, sử dụng mọi thủ đoạn, bất chấp pháp luật
để thôn tính đối thủ của mình, bởi vì, nếu đối thủ là các NHTM khác bị suy yếu dẫnđến sụp đổ, thì những hậu quả đem lại thường là rất to lớn, thậm chí dẫn đến đổ vỡluôn chính NHTM này do tác động dây chuyền
- Các NHTM cạnh tranh trên cơ sở có sự can thiệp của ngân hàng Trungương: Do hoạt động của các NHTM có liên quan đến tất cả các chủ thể, đến mọimặt hoạt động kinh tế – xã hội, cho nên, để tránh sự hoạt động của các NHTM mạo
Trang 7hiểm nguy cơ đổ vỡ hệ thống, Ngân hàng Trung ương (NHTW) các nước đều cần
có sự giám sát chặt chẽ thị trường này và đưa ra hệ thống cảnh báo sớm để phòngngừa rủi ro Thực tiễn đã chỉ ra những bài học đắt giá, khi mà NHTW thờ ơ trướcnhững diễn biến bất lợi của thị trường đã dẫn đến hậu quả là sự đổ vỡ của thị trườngtài chính – tiền tệ làm suy sụp toàn bộ nền kinh tế quốc dân Trong thị trường dịch
vụ ngân hàng, mặc dù Nhà nước khuyến khích sự cạnh tranh nhưng vẫn luôn ưu tiênmục tiêu giữ ổn định nền kinh tế và bảo vệ quyền lợi của công chúng, Nhà nước cóthể can thiệp vào quá trình cạnh tranh bằng việc thực thi những chính sách đặc thùnhư chính sách tiền tệ hay chính sách kiểm soát đặc biệt Sự can thiệp này có thểkhiến cho giới hạn cạnh tranh giữa các đối thủ trên thị trường dịch vụ ngân hàng cóphần bị thu hẹp, ảnh hưởng đến sự vận hành bình thường của quy luật cạnh tranh
- Cạnh tranh giữa các NHTM chịu sự tác động của thị trường tài chính quốctế: Hoạt động của các NHTM liên quan đến lưu chuyển tiền tệ, không chỉ trongphạm vi một nước, mà có liên quan đến nhiều nước để hỗ trợ cho các hoạt độngkinh tế đối ngoại; do vậy, kinh doanh trong hệ thống NHTM chịu sự chi phối củanhiều yếu tố trong nước và quốc tế, như: Môi trường pháp luật, tập quán kinh doanhcủa các nước, các thông lệ quốc tế… Điều đó cũng có nghĩa là, sự cạnh tranh trong
hệ thống các NHTM trước hết phải chịu sự điều chỉnh bởi rất nhiều thông lệ, tậpquán kinh doanh tiền tệ của các nước Như vậy, sự mở rộng quan hệ hợp tác vàphạm vi hoạt động của các chủ thể kinh tế nói chung và các NHTM nói riêng ra thịtrường quốc tế làm cho hoạt động kinh doanh của các NHTM chịu sự ảnh hưởng từphía đối tác, đồng thời gắn chặt với các diễn biến về tỷ giá, lãi suất của thị trườngtài chính quốc tế Các NHTM phải có các chính sách kinh doanh và cạnh tranh thíchứng với những diễn biến của thị trường tài chính quốc tế
1.1.2 Các nhân tố tác động đến mức độ cạnh tranh của các ngân hàng thương mại.
1.1.2.1.Các nhân tố thuộc môi trường ngành
Các NHTM mới tham gia thị trường: Các NHTM mới tham gia thị trường với
những lợi thế quan trọng như: i/ Mở ra những tiềm năng mới, ii/ Có động cơ và ước
Trang 8vọng giành được thị phần, iii/ Đã tham khảo kinh nghiệm từ những NHTM đang hoạtđộng; iv/ Có được những thống kê đầy đủ và dự báo về thị trường…Như vậy, bất kểthực lực của NHTM mới là thế nào, thì các NHTM hiện tại đã thấy một mối đe dọa
về khả năng thị phần bị chia sẻ; ngoài ra, các NHTM mới có những kế sách và sứcmạnh mà các NHTM hiện tại chưa thể có thông tin và chiến lược ứng phó
Các NHTM hiện tại: Đây là những mối lo thường trực của các NHTM trong
kinh doanh Đối thủ cạnh tranh ảnh hưởng đến chiến lược hoạt động kinh doanhcủa NHTM trong tương lai Ngoài ra, sự có mặt của các đối thủ cạnh tranh thúcđẩy ngân hàng phải thường xuyên quan tâm đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượngcác dịch vụ cung ứng để chiến thắng trong cạnh tranh
Sức ép từ phía khách hàng: trong những đặc điểm quan trọng của ngành ngân
hàng là tất cả các cá nhân, tổ chức kinh doanh sản xuất hay tiêu dùng, thậm chí là cácngân hàng khác cũng đều có thể vừa là người mua các sản phẩm dịch vụ ngân hàng,vừa là người bán sản phẩm dịch vụ cho ngân hàng Những người bán sản phẩm thôngqua các hình thức gửi tiền, lập tài khoản giao dịch hay cho vay đều có mong muốn
là nhận được một lãi suất cao hơn; trong khi đó những người mua sản phẩm (vay vốn)lại muốn mình chỉ phải trả một chi phí vay vốn nhỏ hơn thực tế Như vậy, ngân hàng
sẽ phải đối mặt với sự mâu thuẫn giữa hoạt động tạo lợi nhuận có hiệu quả và giữchân được khách hàng cũng như có được nguồn vốn thu hút rẻ nhất có thể
Sự xuất hiện các dịch vụ mới: Sự ra đời ồ ạt của các tổ chức tài chính trung
gian đe dọa lợi thế của các NHTM khi cung cấp các dịch vụ tài chính mới cũngnhư các dịch vụ truyền thống vốn vẫn do các NHTM đảm nhiệm Các trung giannày cung cấp cho khách hàng những sản phẩm mang tính khác biệt và tạo cho ngườimua sản phẩm có cơ hội chọn lựa đa dạng hơn, thị trường ngân hàng mở rộng hơn.Điều này tất yếu sẽ tác động làm giảm đi tốc độ phát triển của các NHTM, suy giảmthị phần Ngày nay, người ta cho rằng, khi các NHTM mạnh lên nhờ sự rèn luyệntrong cạnh tranh, thì hệ thống NHTM sẽ mạnh hơn và có sức đàn hồi tốt hơn sau các
cú sốc của nền kinh tế
Trang 91.1.2.2 Các nhân tố thuộc môi trường nội bộ ngân hàng
Bên cạnh các nhân tố khách quan tác động đến năng lực cạnh tranh của cácNHTM, trên thực tế, nhóm các nhân tố thuộc về nội tại của hệ thống NHTM cũngảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng này, chúng bao gồm:
- Năng lực điều hành của ban lãnh đạo ngân hàng
- Quy mô vốn và tình hình tài chính của NHTM
- Công nghệ cung ứng dịch vụ ngân hàng
- Chất lượng nguồn nhân lực
- Cấu trúc tổ chức
- Danh tiếng và uy tín của NHTM
- Bên cạnh đó, đặc điểm sản phẩm và đặc điểm khách hàng của NHTM cũng
là nhân tố chi phối đến khả năng cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của NHTM
Cụ thể:
+ Đặc điểm sản phẩm: Cạnh tranh trong kinh doanh của NHTM bị chi phối bởicác đặc điểm hoạt động kinh doanh của nó Sản phẩm chính sử dụng trong hoạtđộng kinh doanh của NHTM là tiền, đó là loại sản phẩm có tính xã hội và có tínhnhạy cảm cao, chỉ một biến động nhỏ (thay đổi lãi suất) cũng có ảnh hưởng to lớnđến hoạt động kinh doanh của các NHTM nói riêng và hoạt động của toàn xã hội nóichung Từ đặc điểm này dẫn đến cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng trở nên quyếtliệt Có nghĩa là, chính vì sản phẩm kinh doanh có tính nhạy cảm cao đã làm tăng tínhcạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của NHTM
+ Đặc điểm khách hàng: Khách hàng của NHTM không phải là khách hàngluôn “trung thành” mà rất dễ bị lôi kéo và thay đổi quan hệ giao dịch Mức độtrung thành của khách hàng phụ thuộc vào sự đối xử của NHTM với họ, mà cao nhất
là lợi ích trực tiếp thu được từ quan hệ giao dịch với ngân hàng Khách hàng có thểngay lập tức thay đổi quan hệ với ngân hàng để tìm mối lợi lớn hơn nếu họ biết rằngmức lãi mà họ nhận được cao (nếu là sản phẩm bán) và mức lãi suất thấp (nếu là sảnphẩm mua) so với ngân hàng họ quan hệ Vì khách hàng thường có thể vừa là ngườimua vừa là người bán của nhiều sản phẩm dịch vụ cùng một lúc nên khi họ thay đổi
Trang 10quan hệ với ngân hàng có thể dẫn đến sự mất mát lớn hơn rất nhiều so với khách hàngcủa một doanh nghiệp thông thường Các đặc điểm nêu trên được coi là các nhân tố vềphía NHTM tạo nên tính cạnh tranh cao của kinh doanh ngân hàng.
1.1.3 Công cụ cạnh tranh của các ngân hàng thương mại
Cạnh tranh bằng giá Giá cả phản ánh giá trị của sản phẩm, giá cả có vai
trò quan trọng đối với quyết định của khách hàng Đối với các NHTM, giá cảchính là lãi suất và mức phí áp dụng cho các dịch vụ cung ứng cho các khách hàngcủa mình Trong việc xác định mức lãi suất và phí, các NHTM luôn phải đối mặtvới những mâu thuẫn: Nếu như NHTM quan tâm tới khả năng cạnh tranh để mởrộng thị phần, thì cần phải đưa ra các mức lãi suất và phí ưu đãi cho các kháchhàng của mình, tuy nhiên, điều này sẽ làm giảm thu nhập của NHTM, thậm chí cóthể khiến NH bị lỗ Nhưng nếu NHTM chỉ chú trọng đến thu nhập thì phải đưa ramức lãi suất và phí sao cho đáp ứng được mục tiêu tăng thu nhập, tuy nhiên, điềunày có thể dẫn đến NH sẽ bị mất dẫn khách hàng, giảm thị phần trong kinh doanh,bởi suy cho cùng thì NH luôn quan tâm tới mục tiêu tối thượng là tối đa hoá lợinhuận, mà để đạt được điều đó thì cần phải tiết giảm các chi phí đầu vào Điều này
có nghĩa là cạnh tranh bằng giá cả đang trở thành một biện pháp nghèo nàn nhất, vì
nó làm giảm bớt lợi nhuận của các NHTM
Xuất phát từ mâu thuẫn trên, việc định giá theo đúng ngang giá trị thị trường
sẽ cho phép các NHTM giữ được khách hàng, duy trì và phát triển thị trường Trênthực tế, việc vận dụng nhân tố giá để cạnh tranh chỉ phù hợp khi xâm nhập thịtrường mới và để vận dụng tốt công cụ này, các NHTM thường đưa ra mức lãi suấtthấp hơn mức lãi suất của các đối thủ nhằm lôi kéo khách hàng và chiếm lĩnh thịphần Lãi suất và phí là tín hiệu phản ánh tình hình biến động của thị trường, làthông số qua đó các NHTM có thể nắm bắt được khả năng thanh toán của kháchhàng cũng như khả năng cạnh tranh của các đối thủ trên thương trường
Do vậy, việc xác định lãi suất trên thị trường là quan trọng, song theo dõithông tin phản hồi từ khách hàng là rất cần thiết để NHTM đưa ra mức lãi suất vàphí có tính cạnh tranh Đôi khi lãi suất và phí mà các NHTM xác định chỉ thu được
Trang 11lợi nhuận nhỏ, hoà vốn thậm chí chịu thua lỗ tạm thời để đạt được mục đích chiếmlĩnh thị trường.
Cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ Trong nền kinh tế hiện đại ngày nay,
khi mà khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, sản phẩm ra đời ngày càng phongphú đa dạng, tạo thuận lợi cho sự lựa chọn của người tiêu dùng và đặt nhà kinh doanhtrước các áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt.Vì thế, việc nâng cao chất lượng sảnphẩm hàm ý phải thỏa mãn cao nhất những yêu cầu đòi hỏi từ phía khách hàng
Theo quan niệm của khách hàng, một sản phẩm ngân hàng có chất lượng phảiđáp ứng được tốt nhất, nhiều nhất nhu cầu mong muốn của khách hàng, đem lại chokhách hàng một tập hợp tiện ích và lợi ích Do vậy, khi đánh giá một sản phẩm ngânhàng có chất lượng, khách hàng thường dựa vào các tiêu chí sau:
- Mức độ tham gia của khách hàng vào quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ
1.2 Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
1.2.1 Quan niệm về năng lực cạnh tranh
Điểm lại lý thuyết cạnh tranh và năng lực cạnh tranh trong lịch sử có thể thấyhai trường phái tiêu biểu: Trường phái cổ điển và trường phái hiện đại Trường phái
cổ điển với các đại biểu tiêu biểu như A.Smith, John Stuart Mill, Darwin và K.Mác
đã có những đóng góp nhất định trong lý thuyết cạnh tranh sau này Trường pháihiện đại với hệ thống lý thuyết đồ sộ với 3 quan điểm tiếp cận: Tiếp cận theo tổchức ngành với đại diện là trường phái Chicago và Harvard; Tiếp cận tâm lý với đại
Trang 12diện là Meuger, Mises, Chumpeter, Hayek thuộc trường phái Viên; Tiếp cận “cạnhtranh hoàn hảo” phát triển lý thuyết của Tân cổ điển.
Hiện nay, còn nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh trên cáccấp độ: quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm Và hiện chưa có một lý thuyết nàohoàn toàn có tính thuyết phục về vấn đề này, do đó không có lý thuyết “chuẩn” vềnăng lực cạnh tranh Tuy nhiên hai hệ thống lý thuyết với hai phương pháp đánh giáđược các quốc gia và các thiết chế kinh tế quốc tế sử dụng nhiều nhất: Phương phápthứ nhất do Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) thiết lập trong bản Báo cáo cạnh tranhtoàn cầu; Phương pháp thứ hai do Viện Quốc tế về quản lý và phát triển (IMD) đềxuất trong cuốn Niên giám cạnh tranh thế giới Cả hai phương pháp trên đều do một
số Giáo sư đại học Harvard như Michael Porter, Jeffrey Shach và một số chuyên giacủa WEF như Cornelius, Mache Levison tham gia xây dựng
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện các cam kết quốc tế ViệtNam từng bước mở cửa dịch vụ ngân hàng, nhằm hướng đến xây dựng hệ thốngngân hàng cạnh tranh bình đẳng trên bình diện quốc tế theo khuôn khổ pháp lý phùhợp và thống nhất Hơn bao giờ hết sự cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ngàycàng trở nên gay gắt, thách thức đối với các NHTMVN càng gia tăng khi Chính phủViệt Nam tháo dỡ rào cản đối với các ngân hàng thương mại nước ngoài(NHTMNNg) và tiến đến xóa bỏ những bảo hộ của Nhà nước đối với ngân hàngtrong nước Vì vậy, đánh giá chính xác năng lực và vị thế cạnh tranh của NHTMVNtrong điều kiện hiện nay là yêu cầu cần thiết
Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì vàphát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuậncao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng, đồng thời đảm bảo hoạt động antoàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi củamôi trường kinh doanh
Trong cạnh tranh những lợi thế NHTM đang có thể thay đổi khi các đối thủkhông ngừng nỗ lực đổi mới, cải tiến để giành lợi thế cạnh tranh về phía mình Dovậy năng lực cạnh tranh của NHTM là một khái niệm động, bao gồm cả việc ngânhàng phải liên tục duy trì và phát triển năng lực cạnh tranh
Trang 13Nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM là nâng cao sức mạnh và lợi thếcủa ngân hàng so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi củakhách hàng để thu lợi ngày càng cao
Nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM nhằm mục đích tạo ra các dịch vụngân hàng đa năng với giá cả cạnh tranh để thu hút khách hàng, chiếm lĩnh thịtrường nhưng vẫn đảm bảo an toàn kinh doanh và đạt tỷ suất lợi nhuận cao Đây làviệc làm thường xuyên của các NHTM để giành thế chủ động trong cạnh tranh,được coi là điều kiện sống còn của các ngân hàng trong bối cảnh cạnh tranh ngàycàng gay gắt của ngành ngân hàng hiện nay
1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại
Thứ nhất, do tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam khi chính thức được
công nhận là thành viên của tổ chức thương mại Quốc tế WTO ngày 7/11/2006 vànhững diễn biến phức tạp của kinh tế thế giới trong bối cảnh hậu khủng hoảng tàichính năm 2008, doanh nghiệp Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội cũng như tháchthức quan trọng.Một trong những thách thức đó là mức độ cạnh tranh trong nướcngày càng gay gắt, khi lộ trình tham gia WTO đã tiến tới gần thời điểm dỡ bỏ cácgiới hạn về hoạt động của các NHNNg, thay vào đó là sự tham gia và cạnh tranhbình đẳng của các ngân hàng nước ngoài có tiềm lực tài chính tốt, có trình độ quản
lý và đặc biệt là kinh nghiệm hoạt động trong môi trường cạnh tranh.Đây là lý dobuộc các ngân hàng thương mại Việt Nam phải nâng cao năng lực cạnh tranh củamình để có thể tồn tại và phát triển.Để tạo ra lợi thế cạnh tranh ngân hàng cần phảiđặt vấn đề nhận dạng, nuôi dưỡng và phát triển các nguồn lực để có thể tạo nên lợithế cạnh tranh trên thị trường nội địa và từng bước trên thị trường quốc tế
Thứ hai, với quá trình mở cửa nền kinh tế, tự do hóa và hội nhập thị trường
tài chính tiền tệ, sự cạnh tranh đối với ngành ngân hàng tất yếu sẽ ngày càng trở nêngây gắt và quyết liệt Hiện nay, cạnh tranh giữa các NHTM không chỉ dừng ở cácloại hình dịch vụ truyền thống (huy động và cho vay) mà còn cạnh tranh ở thịtrường sản phẩm dịch vụ mới Phân tích những yếu tố dưới đây có thể thấy đượcnhu cầu dịch vụ ngân hàng trong tương lai gần sẽ ngày càng tăng cao: i/Sự biến đổi
Trang 14về cơ cấu dân cư, sự tăng dân số (đặc biệt là khu vực đô thị), sự tăng lên của cáckhu công nghiệp, khu đô thị mới dẫn đến số doanh nghiệp và cá nhân có nhu cầu sửdụng dịch vụ ngân hàng tăng lên rõ rệt.ii/Thu nhập bình quân đầu người ở hầu hếtcác quốc gia đều được nâng lên, qua đó các dịch vụ ngân hàng cũng sẽ có nhữngbước phát triển tương ứng iii/ Các hoạt động giao thương quốc tế ngày càng pháttriển làm gia tăng nhu cầu thanh toán quốc tế qua ngân hàng iv/Số lao động di cưgiữa các quốc gia tăng lên nên nhu cầu chuyển tiền cũng như thanh toán qua ngânhàng có chiều hướng tăng cao
Thứ ba, do số lượng nhà cung cấp cùng cung ứng một loại sản phẩm dịch
vụ trên thị trường ngày càng tăng trong điều kiện hội nhập quốc tế và do nhu cầucủa khách hàng luôn thay đổi, vì vậy việc nâng cao năng lực cạnh tranh để tạo một
ưu thế nổi trội so với các đối thủ là một nhiệm vụ sống còn của các nhà cung cấp
để đánh bại được các đối thủ, thu hút và giữ chân khách hàng nhằm bán được hàng
và kiếm được lợi nhuận
Thứ tư, sự phát triển của thị trường tài chính và các ngành phụ trợ liên quan
với ngành ngân hàng Thị trường tài chính càng phát triển thì khách hàng càng cónhiều sự lựa chọn Các yêu cầu của khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng sẽ ngàycàng cao hơn cả về chất lượng, giá cả, các tiện ích lẫn phong cách phục vụ Đâychính là áp lực buộc các NHTM phải đổi mới và hoàn thiện mình hơn nhằm đápứng nhu cầu của khách hàng và nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.Mặt khác,đặc điểm hoạt động của các loại hình định chế tài chính có mối liên hệ rất chặt chẽ
và có sự bổ trợ lẫn nhau, như ngành bảo hiểm và thị trường chứng khoán vớingành ngân hàng Sự phát triển của thị trường bảo hiểm và thị trường chứngkhoán, một mặt chia sẻ thị phần với ngân hàng, nhưng mặt khác cũng hỗ trợ cho sựtăng trưởng của ngành ngân hàng thông qua việc cắt giảm chi phí và tạo điều kiệncho các NHTM đa dạng hóa các dịch vụ, tăng khả năng cạnh tranh nhờ tận dụnglợi thế theo phạm vi Sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đang ngàycàng trở lên quyết liệt khi ngân hàng và các đối thủ cạnh tranh mở rộng danh mụcdịch vụ Lúc này, ngân hàng không chỉ cạnh tranh với các đối thủ trực tiếp là các
Trang 15NHTM trong nước và nước ngoài mà còn cạnh tranh với các định chế tài chínhkhác như: hiệp hội tín dụng, các công ty chứng khoán, công ty tài chính, công tybảo hiểm…
Ngoài ra, sự phát triển của ngành ngân hàng còn phụ thuộc rất nhiều vào sựphát triển của khoa học kỹ thuật cũng như sự phát triển của các ngành, lĩnh vựckhác như tin học viễn thông, giáo dục đào tạo, kiểm toán Đây là những ngành phụtrợ mà sự phát triển của nó sẽ giúp ngân hàng nhanh chóng đa dạng hóa các dịchvụ,tạo lập thương hiệu và uy tín, thu hút nguồn nhân lực cũng như có những kếhoạch đầu tư hiệu quả trong một thị trường tài chính vững mạnh
Thứ năm, trong lĩnh vực ngân hàng thì việc áp dụng công nghệ là một trong
những yếu tố tạo nên sức mạnh cạnh tranh của các NHTM Để nâng cao chấtlượng sản phẩm dịch vụ nhằm đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng thì nhu cầucông nghệ là vô cùng quan trọng Công nghệ sẽ góp phần tạo nên những chuyểnbiến mang tính độc đáo và tiện ích hơn, nó giúp các NHTM có thể cung ứng sảnphẩm dịch vụ mà không bị giới hạn về không gian và thời gian.Ngày nay, cácNHTM đang triển khai phát triển những sản phẩm ứng dụng công nghệ cao, và sửdụng các sản phẩm dịch mang tính chất công nghệ làm thước đo cho sự cạnh tranh,đặc biệt là trong lĩnh vực thanh toán và các sản phẩm dịch vụ điện tử khác
Trong diễn đàn quốc tế “banking vietnam” khẳng định việc sử dụng côngnghệ thông tin là công cụ chính để khẳng định năng lực cạnh tranh của các NHTM,
sự phát triển các sản phẩm dịch vụ E-banking là xu hướng thời thượng, công nghệ
là yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa các NHTM trong kinh doanh
1.2.3 Các tiêu thức đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
1.2.3.1 Các chỉ tiêu định tính.
Uy tín và thương hiệu của NHTM Uy tín và thương hiệu của ngân
hàng là những dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sảnphẩm dịch vụ nào đó được cung cấp bởi một NHTM Thương hiệu là một loại tàisản của NHTM, thường được cấu thành từ một cái tên, hay các chữ, các cụm từ,một logo, một biểu tượng, một hình ảnh hay sự kết hợp của các yếu tố trên Uytín và thương hiệu được thể hiện số năm hoạt động và chất lượng dịch vụ mà
Trang 16một NHTM cung cấp cho khách hàng Một ngân hàng thương mại được gọi là
có thương hiệu khi được nhiều khách hàng thừa nhận và đánh giá cao vềchất lượng dịch vụ và đây chính là tạo ra sự khác biệt với đối thủ cạnh tranh trongkinh doanh ngân hàng, làm cơ sở cho việc tăng doanh thu và lợi nhuận
Năng lực công nghệ Trong lĩnh vực ngân hàng, công nghệ đang ngày càng
đóng vai trò như là một trong những nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh quan trọngnhất của mỗi ngân hàng.Công nghệ ngân hàng không chỉ bao gồm những côngnghệ mang tính tác nghiệp như hệ thống thanh toán điện tử, hệ thống ngân hàngbán lẻ, máy rút tiền tự động ATM…Công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng cònbao gồm hệ thống thông tin quản lý MIS, hệ thống cảnh báo rủi ro… trong nội bộngân hàng Khả năng nâng cấp và đổi mới công nghệ của các ngân hàng thương mạicũng là chỉ tiêu phản ánh năng lực công nghệ của một ngân hàng Vì với tốc độ pháttriển rất nhanh của ngành công nghệ thông tin nói chung và công nghệ lĩnh vựcngân hàng nói riêng, nếu chỉ tập trung phân tích vào khả năng công nghệ hiện tại
mà không chú ý tới khả năng nâng cấp và thay đổi trong tương lai thì sẽ rất
dễ có những nhận thức sai lầm về năng lực công nghệ của các ngân hàng Vì thế,năng lực công nghệ không chỉ thể hiện ở số lượng,chất lượng công nghệhiện tại mà còn bao gồm cả khả năng mở (nghĩa là khả năng đổi mới) của các côngnghệ hiện tại về mặt kỹ thuật cũng như kinh tế
Nguồn nhân lực.Nguồn nhân lực là nguồn lực không thể thiếu của bất kỳ
doanh nghiệp cũng như ngân hàng nào.Năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực củamột doanh nghiệp nói chung thể hiện ở những yếu tố nhứ: trình độ chuyên môn đàotạo, trình độ thành thạo nghiệp vụ và kỹ năng tác nghiệp, động cơ phấn đấu, mức độcam kết gắn bó với doanh nghiệp Nhân sự của một ngân hàng là yếu tố mang tínhkết nối các nguồn lực của ngân hàng, đồng thời cũng là cái gốc của mọi cải tiến hayđổi mới Trình độ hay kỹ năng của người lao động là những chỉ tiêu quan trọng thểhiện chất lượng của nguồn nhân lực Động cơ phấn đấu và mức độ cam kết gắn bócũng là những chỉ tiêu quan trọng phản ánh một ngân hàng có lợi thế cạnh tranh từnguồn nhân lực của mình hay không.Ngân hàng là một ngành đòi hỏi người lao
Trang 17động phải có kinh nghiệm và trình độ cao được tích luỹ theo thời gian Rõ ràng, nếumột ngân hàng có tốc độ luân chuyển nhân viên cao sẽ không phải là một ngân hàng
có lợi thế về nguồn nhân lực Quá trình tuyển dụng và đào tạo một chuyên viênngân hàng thường rất tốn kém cả về thời gian và công sức Hiệu quả của các chínhsách nhân sự, đặc biệt là chính sách tuyển dụng, cơ chế thù lao là một chỉ tiêu quantrọng để đánh giá khả năng duy trì một đội ngũ nhân sự chất lượng cao của mộtngân hàng
Năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức.Năng lực quản lý phản ánh năng lực
điều hành của Hội đồng quản trị cũng như Ban giám đốc của một ngân hàng Nănglực quản lý được đánh giá dựa trên trình độ học vấn, năng lực điều hành và lãnhđạo, các chính sách và quy trình quản lý rủi ro, khả năng tuân thủ pháp luật và cácquy định, khả năng lên kế hoạch và đối phó với những biến động của môi trường vànhững kết quả từ sự thành công trong quản lý Việc đánh giá năng lực quản lý cũngcần xem xét đến những chất lượng của những hoạt động kinh doanh và tất cả cácchính sách cho vay, đầu tư và kinh doanh, cũng như sự tham gia của Ban giám đốc
và các cổ đông Căn cứ vào đặc trưng và phạm vi hoạt động của ngân hàng, hoạtđộng quản lý có thể xem xét đến một số hoặc tất cả những rủi ro sau: rủi ro tíndụng, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động, hoặc các giao dịch, danh tiếng, chiến lược,khả năng tuân thủ, tính pháp lý và thanh khoản của ngân hàng Ngoài ra, năng lựcquản lý còn thể hiện ở mức độ chi phối và khả năng giám sát của Hội đồng quản trịđối với Ban giám đốc cũng như việc duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh củangân hàng; chính sách tiền lương và thu nhập đối với ban giám đốc, số lượng, chấtlượng và hiệu lực thực hiện của các chiến lược, chính sách và quy trình kinh doanhcũng như quy trình quản lý rủi ro, kiểm soát nội bộ Năng lực quản lý quyết địnhhiệu quả sử dụng các nguồn lực của ngân hàng Một Hội đồng quản trị hay một Bangiám đốc yếu kém, không có khả năng đưa ra những chínhsách, chiến lược hợp lý,thích ứng với những thay đổi của thị trường… sẽ làm lãng phí các nguồn lực vàlàm yếu đi năng lực cạnh tranh của ngân hàng đó Năng lực quản lý của Hội đồng
Trang 18quản trị cũng như Ban giám đốc bị chi phối bởi cơ cấu tổ chức của ngân hàngthương mại.
Cơ cấu tổ chức là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh cơ chế phân bổ các nguồnlực của một ngân hàng có phù hợp với qui mô trình độ quản lý của ngân hàng; phủhợp với đặc trưng cạnh tranh của ngành và yêu cầu của thị trường hay không.Cơ cấu
tổ chức của một ngân hàng thể hiện ở sự phân chia các phòng ban chức năng,các bộphận tác nghiệp, các đơn vị trực thuộc… Hiệu quả của cơ chế quản lý không chỉ phảnánh ở số lượng các phòng ban, sự phân công, phân cấp giữa các phòng ban màcòn phụ thuộc vào mức độ phối hợp giữa các phòng ban, các đơn vị trong việc triểnkhai chiến lược kinh doanh, các hoạt động nghiệp vụ hàng ngày, khả năng thích nghi
và thay đổi của cơ cấu trước những biến động của ngành hay những biến động trongmôi trường vĩ mô…
Hệ thống kênh phân phối và mức độ đa dạng hóa các dịch vụ cung cấp.
Hệ thống kênh phân phối luôn là một yếu tố quan trọng trong hoạt động củacác ngân hàng thương mại Hệ thống kênh phân phối của ngân hàng thương mạiđược thể hiện ở số lượng các chi nhánh và các đơn vị trực thuộc khác (như
sở giao dịch) và sự phân bổ các chi nhánh theo địa lý lãnh thổ Việc triển khai cáccông nghệ ngân hàng hiện đại đang làm rút ngắn khoảng cách về không gian và làmgiảm tác động của một mạng lưới chi nhánh rộng khắp đối với năng lực cạnh tranhcủa một ngân hàng Tuy nhiên, vai trò của một mạng lưới chi nhánh rộnglớn vẫn rất có ý nghĩa, đặc biệt là trong điều kiện các dịch vụ truyền thốngcủa ngân hàng vẫn còn phát triển.Hiệu quả của mạng lưới chi nhánh rộngcũng là một chỉ tiêu quan trọng, thể hiện thông qua tính hợp lý trong phân bố chinhánh ở các vùng, miền cũng như vấn đề quản lý, giám sát hoạt động của các chinhánh Mức độ đa dạng hoá các dịch vụ cung cấp cũng là một chỉ tiêu phảnánh năng lực cạnh tranh của một ngân hàng Một ngân hàng có nhiều loạihình dịchvụ cung cấp phù hợp với nhu cầu thị trường và năng lực quản lý của ngânhàng sẽ là một ngân hàng có lợi thế cạnh tranh Sự đa dạng hoá các dịch vụ một mặttạo cho ngân hàng phát triển ổn định hơn, mặt khác cho phép ngân hàng phát huylợi thế nhờ quy mô.Tất nhiên, sự đa dạng hoá các dịch vụ cần phải được
Trang 19thực hiện trong tương quan so với các nguồn lực hiện có của ngân hàng.Nếu không,việc triển khai quá nhiều dịch vụ có thể khiến ngân hàng kinh doanhkhông hiệu quả do dàn trải quá mức các nguồn lực.
1.2.2.2 Các chỉ tiêu định lượng
Năng lực tài chính: Năng lực tài chính của một NHTM là khả năng tạo lập
nguồn vốn và sử dụng vốn phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngânhàng Đây là thước đo sức mạnh của NHTM tại một thời điểm nhất định, đồng thờiphản ánh tiềm năng, triển vọng phát triển trong tương lai của ngân hàng, gồm cácchỉ tiêu sau:
* Quy mô vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu của NHTM bao gồm vốn điều
lệ, các quỹ dự trữ bổ sung và các tài sản khác Quy mô vốn chủ sở hữu có thể thay
đổi trong quá trình hoạt động của NHTM
Hoạt động ngân hàng gặp rất nhiều rủi ro do đối tượng khách hàng đa dạng
và chịu tác động lớn từ môi trường kinh tế, vì vậy vốn chủ sở hữu là nguồn tàichính quan trọng hàng đầu để chống đỡ với các rủi ro, đồng thời nó cũng quyếtđịnh sức mạnh và khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong tất cả các hoạt động.Cụthể như sau:
- Đối với hoạt động huy động vốn: vốn tự có lớn tạo niềm tin cho khách hàng
do có chức năng bảo vệ người gửi tiền nên được khách hàng lấy làm căn cứ khi lựachọn ngân hàng để gửi tiền, chỉ tiêu này càng lớn càng thu hút khách hàng gửi tiền
- Đối với hoạt động cho vay và đầu tư: Quy mô vốn cho vay và đầu tư bị giớihạn bởi các tỷ lệ về giới hạn tín dụng trong mối tương quan với vốn tự có, do đóvốn tự có càng lớn, càng tăng khả năng cho vay của ngân hàng đối với nhiều đốituợng khách hàng và nhiều khách hàng lớn, đồng thời nó là cơ sở để khách hàng tintưởng vào năng lực cho vay và giải ngân của ngân hàng Ngân hàng còn có thể đạtmức lãi suất cho vay hợp lý, cạnh tranh nhờ vào lợi thế quy mô
- Đối với hoạt động cung cấp dịch vụ thanh toán và các dịch vụ ngân hàngkhác: vốn chủ sở hữu là nguồn đầu tư công nghệ, trang thiết bị máy móc để pháttriển dịch vụ mới và tăng năng suất, tính nhanh chóng, hiệu quả, an toàn tiện chocác dịch vụ ngân hang hiện tại tăng cường tính cạnh tranh của ngân hàng
Trang 20Mặt khác, vốn chủ sở hữu quyết định việc mở rộng quy mô, phạm vi hoạtđộng của ngân hàng Vốn tự có còn được dùng xác định quy mô huy động vốn, các
tỷ lệ giới hạn tín dụng đối với khách hàng, các tỷ lệ về an toàn hoạt động để làm căn
cứ quản lý và kiểm soát hoạt động của các NHTM Ở Việt Nam, các tỷ lệ này đượcquy định trong luật ngân hàng sẽ được đề cập trong những phần sau Trong xu thếhội nhập, nâng cao tính cạnh tranh của vốn tự có là yêu cầu khách quan đối với mỗiNHTM để đáp ứng các chuẩn mực quốc tế trong hoạt động ngân hàng và mở rộnghoạt động ra thị trường tài chính quốc tế
* Mức độ an toàn vốn Theo quy định của Basel 1, một tổ chức tài chính
được gọi là đủ vốn khi hệ số đủ vốn (Capital Adequacy Ratio – CAR) đạt tốithiểu 8% giữa vốn tự có so với tổng tài sản “Có” rủi ro chuyển đổi (RWA)
Theo đó, ngân hàng có mức vốn tốt là ngân hàng có CAR > 10%, có mứcvốn thích hợp khi CAR > 8%, thiếu vốn khi CAR < 8%, thiếu vốn rõ rệt khi CAR
< 6% và thiếu vốn trầm trọng khi CAR < 2%
Vốn cấp 1, cấp 2 và cấp 3: Thành tựu cơ bản của Basel I là đã đưa ra đượcđịnh nghĩa mang tính quốc tế chung nhất về vốn của ngân hàng và một cái gọi là tỷ
lệ vốn an toàn của ngân hàng Tiêu chuẩn này quy định:
Vốn cấp 1 ≥ Vốn cấp 2 + Vốn cấp 3Vốn cấp 1 là lượng vốn dự trữ sẵn có và các nguồn dự phòng được công bố,như là khoản dự phòng cho các khoản vay, bao gồm: Vốn chủ sở hữu; Dự trữ công
bố (Lợi nhuận giữ lại); Lợi ích thiểu số (minority interest) tại các công ty con, cóhợp nhất báo cáo tài chính; Lợi thế kinh doanh (goodwill)
Vốn cấp 2 (Vốn bổ sung) gồm: Lợi nhuận giữ lại không công bố; Dự phòng
đánh giá lại tài sản; Dự phòng chung/dự phòng thất thu nợ chung; Công cụ vốn hỗnhợp; Vay với thời hạn ưu đãi; Đầu tư vào các công ty con tài chính và các tổ chứctài chính khác
Trang 21Vốn Cấp 3 (Dành cho rủi ro thị trường) = Vay ngắn hạn
Tài sản đã điều chỉnh rủi ro (RWA) = ∑ (Tài có nội bảng x Hệ số rủi ro) + ∑(Tài sản ngoại bảng x Hệ số chuyển đổi x Hệ số rủi ro)
Basel I đưa ra trọng số rủi ro gồm 3 mức: quốc gia 0%; ngân hàng 20%;doanh nghiệp 100% Trọng số rủi ro không phản ánh độ nhạy cảm rủi ro trong mỗiloại này
Basel II sử dụng khái niệm“Ba trụ cột”:
(1) Trụ cột thứ I: liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc Theo đó, tỷ lệ vốnbắt buộc tối thiểu (CAR) vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi ro như Basel I Tuynhiên, rủi ro được tính toán theo ba yếu tố chính mà ngân hàng phải đối mặt: rủi rotín dụng, rủi ro vận hành (hay rủi ro hoạt động) và rủi ro thị trường So với Basel I,cách tính chi phí vốn đối với rủi ro tín dụng có sự sửa đổi lớn, đối với rủi ro thịtrường có sự thay đổi nhỏ, nhưng hoàn toàn là phiên bản mới đối với rủi ro vậnhành Trọng số rủi ro của Basel II bao gồm nhiều mức (từ 0% -150% hoặc hơn) vàrất nhạy cảm với xếp hạng
(2) Trụ cột thứ II: liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân hàng, Basel
II cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những “công cụ” tốt hơn so vớiBasel I Trụ cột này cũng cung cấp một khung giải pháp cho các rủi ro mà ngânhàng đối mặt, như rủi ro hệ thống, rủi ro chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro thanhkhoản và rủi ro pháp lý, mà hiệp ước tổng hợp lại dưới cái tên rủi ro còn lại(residual risk)
(3) Trụ cột thứ III: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cáchthích đáng theo nguyên tắc thị trường Basel II đưa ra một danh sách các yêu cầubuộc các ngân hàng phải công khai thông tin, từ những thông tin về cơ cấu vốn,mức độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngânhàng với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro vận hành và quy trình đánh giá củangân hàng đối với từng loại rủi ro này
* Chất lượng tài sản có: Tài sản của ngân hàng được thể hiện ở bên trái của
bảng cân đối kế toán, trong đó phần lớn tài sản tập trung ở khoản mục cho vay vàđầu tư Đây là phần tài sản mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng, đồngthời là tài sản có tính rủi ro cao nhất Vì vậy, đánh giá chất lượng tài sản chủ yếu tập
Trang 22trung vào chất lượng của loại tài sản cơ bản hình thành nên tài sản có của ngân hàngthương mại đó chính là chất lượng hoạt động tín dụng, thể hiện qua các chỉ tiêu sau:
“Nợ quá hạn” là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã
quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao chứng tỏ chất lượng tín dụngcủa ngân hàng đó kém
“Nợ xấu” (NPL) là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 quy định tại Điều
6 hoặc Điều 7 Quyết định 493
Hai chỉ tiêu nợ quá hạn và nợ xấu phản ánh chất lượng của hoạt động tíndụng của một ngân hàng thương mại Điều này cho thấy một ngân hàng có chínhsách tín dụng hợp lý, quy trình cấp tín dụng và kiểm soát tín dụng có hiệu quả haykhông
Ngoài ra, chỉ tiêu mức độ tập trung tín dụng cũng cho biết mức độ tập trungcho vay của ngân hàng đối với một ngành kinh tế Tỷ trọng dư nợ cho vay từngngành tăng cao đồng nghĩa với việc khi có biến động xã hội lớn đối với ngành kinh
tế này thì sẽ làm giảm chất lượng tài sản của ngân hàng đó
trên thị trường và cũng là yếu tố thể hiện năng lực cạnh tranh của một NHTM.Thị phần của mỗi NHTM trên thị trường được phán ánh qua số lượng kháchhàng, khả năng huy động vốn, qui mô dư nợ,…
* Khả năng huy động vốn: Hoạt động huy động vốn cung cấp nguồn vốn
chủ yếu cho các hoạt động sinh lời của ngân hàng NHTM có khả năng huy động
Trang 23vốn tốt có nhiều cơ hội để mở rộng quy mô kinh doanh, tăng lợi nhuận…do đó phánánh năng lực hoạt động, uy tín và khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị
trường Các chỉ tiêu phán ảnh khả năng huy động vốn của NHTM:
- Quy mô, thị phần và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động;
- Triển vọng phát triển các nhóm nguồn vốn huy động trong tương lai
Các chỉ tiêu trên càng cao chứng tỏ năng lực cạnh tranh của ngân hàng vềviệc huy động vốn tốt và ngân hàng có tiềm năng phát triển mở rộng qui mô hoạtđộng huy động vốn
* Khả năng cho vay và đầu tư: Phán ánh năng lực sử dụng vốn của ngân
hàng, thể hiện qua các chỉ tiêu sau :
- Quy mô dư nợ tín dụng
- Tốc độ tăng trưởng hoạt động tín dụng, đầu tư:
Đây là các chỉ tiêu tuyệt đối và tương đối phán ánh mức độ mở rộng hay thuhẹp tín dụng Quy mô và thị phần lớn hơn so với các kỳ trước, tốc độ tăng trưởngtín dụng, đầu tư cao, đồng nghĩa với việc khả năng cho vay và đầu tư càng được mởrộng Việc tìm kiếm, khai thác và lựa chọn được nhiều khách hàng, lĩnh vực tốt đểcho vay và đầu tư sẽ giúp hạn chế rủi ro, hơn nữa mang lại thu nhập lớn, tăng cườngkhả năng cạnh tranh cho ngân hàng
Khả năng sinh lời Khả năng sinh lời là các chỉ tiêu đánh giá hiệu
quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, có thể được đánh giá thông quanhững chỉ tiêu cụ thể như: giá trị tuyệt đối của lợi nhuận sau thuế, tốc độ tăngtrưởng lợi nhuận, cơ cấu của lợi nhuận (cho biết lợi nhuận được hình thành
từ nguồn nào, từ hoạt động kinh doanh thông thường hay từ các khoản thu nhập bấtthường), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản có (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ
sở hữu (ROE) và tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM)
* Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA): Chỉ tiêu này phản ánh
tính hiệu quả của việc sử dụng tài sản của ngân hàng, cho biết bình quân một đơn vịtài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đơn vị lợinhuận ròng
Trang 24Các ngân hàng thường sử dụng ROA để đo lường mối quan hệ sinh lời củatài sản và nguồn vốn bởi vì một bộ phận nguồn vốn được sử dụng tạo nên tài sảnkhông sinh lời và có một bộ phận tài sản sinh lời lại tham gia tạo nên thu nhập chongân hàng Do vậy, nếu ROA lớn chúng tỏ hiệu quả kinh doanh của ngân hàngthương mại tốt, cơ cấu tài sản hợp lý.Tuy nhiên, nếu ROA quá lớn sẽ làm cho cácnhà quản trị lo lắng vì rủi ro nhìn chung luôn đi song hành với lợi nhuận.
* Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE): ROE là chỉ tiêu
được các ngân hàng quan tâm đến nhiều nhất, cho thấy khả năng sinh lời từ mộtđồng vốn của chủ, số lợi nhuận ròng mà một cổ đông có được
Do vậy, các ngân hàng luôn cố gắng tăng chỉ tiêu ROE để tăng tínhhấp dẫn đối với các cổ đông bằng phương pháp như: kiểm soát chi tiêu, đầu tư,quản lý rủi ro có hiệu quả… Tuy nhiên, việc tăng ROE quá cao so với ROA chứng
tỏ nguồn vốn tự có của ngân hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn
và do vậy ảnh hưởng đến mức độ lành mạnh trong hoạt động của ngân hàngthương mại
* Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM): là chỉ tiêu phản ánh trung bình một đơn
vị tài sản có sinh lời sẽ tạo ra bao nhiêu đơn vị lãi thuần (chênh lệch giữa thu nhậplãi và chi phí lãi)
Trang 25Đây là chỉ tiêu đo lường thu nhập lãi ròng trên một đồng tổng tài sản sinhlời, phản ánh năng lực của hội đồng quản trị, ban lãnh đạo và cán bộ, nhân viênngân hàng trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu từ lãi so với mứctăng chi phí lãi Do đó được các NHTM quan tâm theo dõi để dự báo khả năng lãithông qua việc kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và việc tìm kiếm những nguồnvốn có chi phí thấp.Nếu ngân hàng không có chiến lược điều chỉnh cơ cấu thu nhậpthì khi mức độ canhh tranh của các ngân hàng càng cao sẽ dẫn đến việc làm cho tỷ
lệ thu nhập lãi thuần có xu hướng giảm
Các chỉ tiêu về khả năng sinh lời phán ánh năng lực cạnh tranh của NHTM vì
có năng lực cạnh tranh tốt ngân hàng mới giành được thắng lợi, tạo ra mức sinh lờicao Mặt khác NHTM có mức sinh lời cao có điều kiện tăng quy mô lợi nhuận giữlại, làm gia tăng vốn tự có để mở rộng mạng lưới giao dịch, nâng cấp công nghệ,phát triển các hoạt động để duy trì và tăng cường khả năng thu hút khách hàng gửitiền vào ngân hàng, tạo ra lợi thế cạnh tranh cho ngân hàng
* Khả năng thanh khoản: là khả năng của ngân hàng trong việc đáp ứng
nhu cầu thanh toán tiền của khách hàng, được tạo lập bởi tính thanh khoản của tàisản và tính thanh khoản của nguồn vốn Khả năng thanh khoản của ngân hàng đượcthể hiện thông qua các chỉ tiêu như:
Khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại là việc ngân hàng cókhả năng tính toán và duy trì một lượng tiền mặt và các tài sản có tính thanh khoản
đủ để đáp ứng nhu cầu rút tiền của người gửi tiền cũng như những tài sản nợ đếnhạn phải trả khác.Việc quản lý rủi ro thanh khoản đối với ngân hàng thương mại làrất quan trọng.Sự thiếu hụt thanh khoản của một ngân hàng có thể dẫn đến tìnhtrạng ngân hàng chỉ đang từ chỗ phải đối phó với rủi ro thanh khoản đến chỗ phảiđối mặt với rủi ro phá sản và có những tác động nghiêm trọng đến toàn hệ thốngngân hàng
Trang 26* Tỷ lệ dự trữ sơ cấp trong tổng tài sản Dự trữ sơ cấp của ngân hàng
thương mại gồm tiền mặt, các khoản coi như tiền mặt và các khoản tiền gửi, đây làcác tài sản có tính thanh khoản cao nhất, do đó tỷ lệ này càng cao khả năng thanhkhoản của ngân hàng càng tốt
* Tỷ lệ cho vay/Tiền gửi của khách hàng: Hệ số này được duy trì ổn định,
không vượt quá 1 là dấu hiệu cho thấy khả năng thanh khoản của ngân hàng luônđược duy trì Tuy nhiên, duy trì cụ thể ở mức nào còn phụ thuộc vào khả năng quản
lý, quản trị rủi ro và khả năng huy động của từng ngân hàng
Để duy trì an toàn thanh khoản ngân hàng cần phải duy trì các tỷ lệ về thanhkhoản ở mức phù hợp, tuy nhiên việc duy trì mức thanh khoản thế nào cần phảitính đến sự hợp lý giữa việc đáp ứng cầu thanh khoản và việc sử dụng nguồn vốnmột cách tốt nhất vì tính thanh khoản liên quan trực tiếp đến tính sinh lời củaNHTM Điều này đòi hỏi mỗi ngân hàng phải có chiến lược quản trị, quản lý thanhkhoản hợp lý trong từng thời kỳ kinh doanh
Năng suất lao động của CBNV Năng suất lao động của CBNV phán ảnh
hiệu quả sử dụng lao động của mỗi NHTM và cũng là một yếu tố thể hiện năng lựccạnh tranh của NHTM Năng suất lao động được thể hiện qua các chỉ tiêu như:
- Tổng tài sản bình quân/người,
- Dư nợ bình quân/người,
- Lợi nhuận bình quân/người
1.3 Tổng quan các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh và đánh giá năng lực cạnhtranh của các ngân hàng trong nước và quốc tế
1.3.1 Tổng quan các nghiên cứu quốc tế về năng lực cạnh tranh và đánh giá năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại
Trong lý thuyết quản lý, các doanh nghiệp thành công thường có sự hiểu biếtđúng đắn về thời điểm và địa điểm sử dụng các nguồn lực của mình Nói cách khác,nếu các nhà quản lý sử dụng các nguồn lực của mình như quy trình, thể chế, côngnghệ, tài chính, kiến thức khoa học, trí tuệ, sự đổi mới và khách hàng để tăng khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp, thì sẽ cải thiện được năng lực hoạt động đáng kể(Feurer and Chabarbaghi, 1994; Shurchuluu,2002) Sức cạnh tranh tại doanh
Trang 27nghiệp, ngành và cả quốc gia được hiểu là chất lượng đạt được thông qua sự vượttrội trên thị trường và định hình nên những hoạt động dựa trên nền tảng lợi thế cạnhtranh và so sánh; khả năng cạnh tranh của quốc gia tăng lên ở phạm vi toàn cầu, đấtnước hưởng lợi nhiều hơn từ quá trình hội nhập thông qua việc tiếp cận dễ dàng hơnvào thị trường quốc tế Ngược lại, quốc gia có khả năng cạnh tranh kém hơn sẽkhông chỉ không được hưởng lợi, mà thậm chí còn tổn hại từ hội nhập kinh tế quốc
tế (Behkish,2005)
Tăng khả năng cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp là bước đầu tiên để tiếnđến tăng khả năng cạnh tranh của quốc gia Tăng khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp sẽ dẫn tới sự phát triển của quan điểm về cạnh tranh trong xã hội, cuối cùng
nó sẽ thúc đẩy mức độ cạnh tranh quốc gia, và tạo lập nền tảng cần thiết để tham giavào quá trình toàn cầu hóa (Chikan,2008)
Định nghĩa lợi thế cạnh tranh: Lợi thế cạnh tranh là những đặc điểm vànguồn lực cho phép một tổ chức vượt lên so với đối thủ của mình (Ling, 2000) Nóicách khác, lợi thế cạnh tranh được hiểu là tính vượt trội của doanh nghiệp về mộthoặc một số nhân tố, nó cho phép doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tốt hơn, ấn địnhgiá trị cao hơn đối với khách hàng, và do vậy hoạt động tốt hơn so với các đối thủ
Để có thể tồn tại trên thị trường, doanh nghiệp phải thích ứng với sự thay đổi củamôi trường kinh doanh bằng cách xây dựng những công cụ điều chỉnh phù hợp(Guan et al, 2004) Doanh nghiệp muốn trụ vững được phải có khả năng đối diệnvới những thay đổi của nhu cầu, khó khăn về ngân sách, và mức độ cạnh tranh giatăng bằng cách điều chỉnh hoạt động của mình để đáp ứng yêu cầu mới của thịtrường Ngược lại, những doanh nghiệp không có những khả năng đó sẽ bị phá sản
Do vậy, khả năng điều chỉnh trước tác động của môi trường xung quanh là đặc điểmthen chốt của khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp (Irina,2000)
Một số tác giả nhìn nhận cạnh tranh như là một hiện tượng kinh tế vĩ mô vàtìm kiếm nguyên nhân của nó trong một số nhân tố như tỷ giá, lãi suất, và mức thâmhụt của quốc gia (Hauner and Peiris, 2005; Fu and Shelagh, 2009, Claessers andLaeven, 20030, Hmpell, 2002; Bikker and Groeneveld, 2002) Một cách tiếp cận
Trang 28khác nhìn nhận cạnh tranh là kết quả của việc dồi dào nguồn lao động và nhân cônggiá rẻ Một cách tiếp cận khác coi sức mạnh cạnh tranh bắt nguồn từ việc giàu có vềnguồn tài nguyên.
Gần đây, nhiều cách tiếp cận mới tin rằng sức cạnh tranh chịu ảnh hưởng lớn
từ các chính sách của chính phủ Có một cách tiếp cận khác cho rằng sức mạnh cạnhtranh bắt nguồn từ những khác biệt về quan điểm quản lý và hoạt động kinh tế, ví
dụ cách tiếp cận về mối quan hệ lao động và giới chủ (Hondroyiannis et al , 1999;Yeyati and Micco, 2007, Buchs and Mthisen, 2003, Claessens , 2006)
Với mỗi cách tiếp cận nêu trên, nhiều ví dụ đã được nêu ra Sức mạnh cạnhtranh về tổ chức được nhiều nhà nghiên cứu nhìn nhận là một khái niệm đa chiều(Ajitabh and Momaya, 2002) Irina (2000) cũng nhìn nhận cạnh tranh là một kháiniệm đa chiều và xác định nó ở cấp độ tổ chức Trong thực tế, khái niệm này có thểnhìn nhận từ ba khía cạnh: cấp độ quốc gia, ngành, và doanh nghiệp
Nhiều nhà nghiên cứu đã đánh giá lại chủ đề về cạnh tranh trong hệ thốngngân hàng Burger và Menon đã xem xét lại mối quan hệ giữa việc tập trung thịtrường và khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong giai đoạn 1983 tới 1995 tại Mỹ(Fu and Shelagh, 2009) Họ không tìm ra được mối quan hệ nào giữa tác động củahành vi cạnh tranh phi giá với hiệu quả hoạt động của những doanh nghiệp có thịphần lớn
Một số nghiên cứu cũng đã xem xét mức độ ảnh hưởng của các quy định, cấutrúc đặc biệt và những nhân tố khác mà có mối liên quan với môi trường cạnh tranhcủa hoạt động ngân hàng (Barth et al , 2001) Trong những nghiên cứu này, cácràng buộc pháp lý của ngân hàng thương mại trong năm 1999, bao gồm những giớihạn và những hoạt động của việc gia nhập và rút lui đã được đánh giá lại Sử dụngnhững dữ liệu này, các nhà nghiên cứu thấy rằng các yêu cầu về việc gia nhập khắtkhe hơn có quan hệ trái chiều với hiệu quả hoạt động của ngân hàng, nó làm phátsinh các chi phí và lãi suất tăng cao, trong khi đó các ngân hàng có vốn đầu tư nướcngoài lại đòi hỏi tính linh hoạt cao hơn trong hệ thống ngân hàng (Barth et al,
Trang 292003) Lý thuyết thị trường cạnh tranh cho phép doanh nghiệp tự do gia nhập và rútlui khỏi thị trường nhấn mạnh rằng lý thuyết này sẽ giúp các doanh nghiệp chỉ phảitrả những khoản phí tương đương nhau.
Mô hình về Mức độ Nhạy cảm Lãi suất (DIRS) cũng đã được nêu ra Mô hìnhnày đo lường tác động của lãi suất tới khả năng cạnh tranh của ngân hàng Trong bàiviết này, việc xem xét rủi ro lãi suất và quản lý đúng đắn được xem là nhân tố sốngcòn đối với các ngân hàng thương mại trong việc cạnh tranh với đối thủ
Moutinho và Phillips (2002) đã giải thích việc lập kế hoạch chiến lược trong
hệ thống ngân hàng là một trong những nhân tố có ảnh hưởng lớn tới khả năng cạnhtranh của chúng
Cuối cùng, nhiều nghiên cứu đã tập trung vào duy nhất các chỉ tiêu tài chính
để đánh giá hoạt động chung của một ngân hàng trong ngành ngân hàng Mathuva
(2009) đã giải thích rằng các nhà làm luật và phân tích của khu vực ngân hàng đã sử
dụng ROA và ROE để đánh giá hoạt động của ngành và dự báo xu thế trong cơ cấuthị trường Tuy nhiên, có một số luận điểm cho rằng thông tin báo cáo tài chính cóthể không hữu ích lắm Ví dụ, một số người cho rằng những người sử dụng muốn cócác thông tin có tính chất phi tài chính để bổ sung thêm cho các thông tin tài chính(Kitindi et al.,2007)
James C Anderson và David W Gerbing (1991) đã sử dụng phương pháp
Kiểm định tiên nghiệm để dự báo hiệu quả hoạt động trong một phân tích nhân tố
Barth , J.R., G, Jr Caprio và Levine (2003) đã sử dụng dữ liệu mới của
107 nước để đánh giá mối quan hệ giữa việc giám sát điều chỉnh với mức độ pháttriển của ngành ngân hàng Tác giả đã đưa ra các kiểm tra như sau: (i) Giám sát chặtchẽ các hoạt động ngân hàng và hỗn hợp của ngân hàng và thương mại; (ii) Giámsát các ngân hàng trong nước và các ngân hàng nước ngoài; (iii) Giám sát sự phùhợp của vốn; (iv) Đặc trưng của hệ thống bảo hiểm tiền gửi; (v) Giám sát năng lực,tính độc lập, nguồn lực, minh bạch phân loại cho vay, tiêu chuẩn dự phòng, đa dạnghóa hướng dẫn, và năng lực hành động khắc phục kịp thời (vi) Quy định về công
Trang 30bố thông tin trong việc giám sát các ngân hàng tư nhân; và (vii) quyền sở hữu chínhphủ của các ngân hàng Dựa vào kết quả này, tác giả đưa ra cảnh báo chính sáchphụ thuộc quá nhiều vào sự giám sát của chính phủ và giám sát chặt chẽ các ngânhàng Ngoài ra, tác giả còn đề xuất những quy định về giám sát bao gồm (1) Quyđịnh về công bố thông tin trong việc giám sát các ngân hàng tư nhân, và (2) tạo rađộng lực cho các hàng tư ngân để việc giám sát ngân hàng tốt nhất thúc đẩy sự thựchiện và sự ổn định của ngân hàng
Barth , J.R., G, Jr Caprio and Levine, R (2001) đã giới thiệu và thảo luận
về cơ sở dữ liệu mới và toàn diện của các quy định giám sát ngân hàng ở 107 nước.Các dữ liệu được gửi tới các ngân hàng và cơ quan giám sát bao gồm đầu vào, vốn,quyền sở hữu, hoạt động, kiểm toán, bảo hiểm tiền gửi, phân loại nợ, trích lập quỹ
dự phòng, kế toán/kiểm toán, và việc giải quyết các ngân hàng khó khăn Như vậy,
cơ sở dữ liệu này có thể xác định được các qui định hiện hành về giám sát các ngânhàng và cấu trúc các ngân hàng Ngoài ra, tác giả cũng cung cấp nhiều chỉ số đượcnhóm lại hoặc được tính toán từ việc lựa chọn các chỉ số đơn giản
Ajitabh A, và K Momaya cho rằng sự cạnh tranh gay gắt thế trong kỷ mới
tạo ra những thách thức cho các doanh nghiệp, các ngành công nghiệp và các quốcgia Để có được sự thành công đòi hỏi doanh nghiệp phải có khả năng cạnh tranhcao Trọng tâm nghiên cứu của tác giả là lược sử lại toàn bộ các vấn đề về cấp độcông ty và nghiên cứu các khuôn khổ của cạnh tranh và các mô hình Trong đó, cácnghiên cứu được phân loại dựa trên khuôn khổ Tài sản – Quy trình – Thực hiện(APP) và tiêu chí chính là dựa trên ý nghĩa cạnh tranh của công ty Tác giả cũngphân loại dựa trên lựa chọn khuôn khổ lý thuyết và mô hình từ đó có thể giúp choviệc lựa chọn mô hình thích hợp
Amadeh H và M Jafarpoor (2009) cho rằng sự mở rộng cạnh tranh đi kèm
với những biến động lớn trong lĩnh vực thương mại và ngân hàng đã làm thay đổinhiều đến phong cách truyền thống và mang lại một môi trường cạnh tranh trongviệc sử dụng công nghệ mới Tác giả thấy rằng phương pháp truyền thống của cácngân hàng không còn phù hợp Trong nghiên cứu của mình, tác giả chủ yếu tập
Trang 31trung vào các trở ngại phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử và giải pháp khắc phụcnhững trở ngại đó Tác giả cho rằng, những trở ngại chính ở đây bao gồm: Trở ngại
về truyền thống văn hóa, trình độ quản lý, khả năng tài chính và hạn chế về côngnghệ dựa trên giả thuyết thứ nhất là tồn tại những trở ngại về truyền thống văn hóa
và giả thuyết thứ hai là những trở ngại về trình độ quản lý các ngân hàng điện tử.Bên cạnh đó, tác giả đưa thêm giả thuyết thứ ba là trở ngại về khả năng tài chính vàcuối cùng, giả thuyết thứ tư là những hạn chế về kỹ thuật -công nghệ
Bang Nam Jeon, Maria Pia Olivero and Ji Wu nghiên cứu những tác động
thâm nhập của ngân hàng nước ngoài trong cấu trúc cạnh tranh của ngành tài chínhtrong nước ở các nước nền kinh tế mới nổi Tác giả tập trung vào phân tích các nước ởChâu Á và Châu Mỹ Latinh trong thời kỳ 1997-2008 bằng cách sử dụng dữ liệu bảng
về ngân hàng để định dạng ngân hàng nước ngoài và ước lượng cạnh tranh trong ngânhàng Tác giả chỉ ra rằng, sự thâm nhập của ngân hàng nước ngoài và cạnh tranh ngânhàng gắn liền với ảnh hưởng từ các ngân hàng nước ngoài tới ngân hàng trong nước.Ảnh hưởng mạnh khi các ngân hàng nước ngoài hoạt động hiệu quả hơn và rủi ro íthơn ở các nước mới nổi Thêm vào đó, tác giả tìm ra rằng những ảnh hưởng của ngânhàng nước ngoài tham gia vào thị trường bằng cách sáp nhập hoặc mua lại các ngânhàng trong nước
De Jonghe O và Vander Vennet R (2008) đã tiến hành điều tra xem bao
nhiêu nhà đầu tư cổ phần thị trường hiểu được tác động của cấu trúc thị trường vàtiềm năng trong dài hạn của các ngân hàng ở Châu Âu Tác giả giới thiệu tỷ sốTobin Q để đo lường giá trị đặc quyền của ngân hàng và áp dụng các phương pháp
để phân biệt cấu trúc thị trường và giả thuyết cấu trúc hiệu quả trong tương lai,trong đó sự khác nhau là chiến lược kiểm soát ngân hàng theo chiều dọc và chiềungang Kết quả của tác giả chỉ ra các ngân hàng tốt hơn về phương diện quản lýhoặc công nghệ sản xuất sẽ có lợi thế cạnh tranh dài hạn Thêm vào đó, sự tập trungngân hàng không ảnh hưởng tới tất cả các ngân hàng và chỉ có các ngân hàng có thịphần lớn mới có thể tạo ra giá phi cạnh tranh Cuối cùng, với sự mở rộng các hoạtđộng ngân hàng, hài hòa và hội tụ kinh tế vĩ mô của Liên minh Châu Âu (EU15),
Trang 32tác giả tìm ra là các biến số vĩ mô của ngân hàng giữa các nước có tác động tích cựctới việc thực thi của ngân hàng Thêm vào đó, tác giả chỉ ra việc trao đổi thươngmại giữa cạnh tranh và ổn định có thể được kiểm toán khi đánh giá sáp nhập haymua lại.
MA Chang-you (2003) chỉ ra các ngân hàng thương mại đối mặt với hoạt
động thị trường cạnh tranh về cơ bản đảm bảo các ngân hàng thương mại giữ vị thếcủa họ sau khi Trung Quốc gia nhập WTO Tác giả nêu ra khả năng cạnh tranh cốtlõi là gì và làm cách nào hiểu được cạnh tranh cốt lõi của các ngân hàng thươngmại Bên cạnh đó, tác giả đề xuất hệ thống chỉ số tổng hợp của các ngân hàngThương Mại Trung Quốc và xây dựng mô hình để ước lượng cạnh tranh cốt lõi củangân hàng thương mại bằng phương pháp ước lượng tổng hợp
Niels Hermes và Robert Lensink (2004) phân tích mối quan hệ giữa sự hiện
diện của ngân hàng nước ngoài với hiệu quả kinh doanh của ngành ngân hàng trongnước, và tính toán vai trò của chúng đối với sự phát triển tài chính trong nước Tác giả
sử dụng dữ liệu của 982 ngân hàng trong 48 nước từ 1990-2996 để tìm ra giả thuyết cóphát triển tài chính trong nước hay không Đặc biệt, tác giả cho thấy rằng sự hiện diệncủa ngân hàng nước ngoài có liên quan đến chi phí của ngân hàng trong nước cao hơn
và lợi nhuận ở mức độ thấp
Todd A.Gormley (2007) đã sử dụng số liệu của các ngân hàng nước ngoài ở
Ấn Độ trong những năm 1990 để phân tích sự thay đổi của sự gia nhập những ngânhàng nước ngoài và những ngân hàng địa phương để ước lượng những ảnh hưởngcủa ngân hàng nước ngoài tới tín dụng nội địa Ngược lại với sự kỳ vọng là sự gianhập của ngân hàng nước ngoài có thể cải thiện tín dụng cho tất cả các công ty,những kết quả ước lượng của tác giả chỉ ra rằng vai trò hỗ hỗ trợ tài chính của cácngân hàng nước ngoài chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong lợi nhuận của các công ty
và tính trung bình, sự sụt giảm các khoản vay của các ngân hàng trong nước chỉkhoảng 8% do các công ty vay vốn của các ngân hàng trong nước chuyển sang vayvốn của ngân hàng nước ngoài Tương tự, các kết quả ước lượng thu được bằngcách sử dụng các ngân hàng nước ngoài đã có từ trước tại địa phương Kết quả của
Trang 33tác giả là phù hợp giữa sự gia tăng hệ thống thông tin với sự gia nhập ngân hàngnước ngoài
Tổng quan các nghiên cứu về phương pháp luận phân tích nhân tố
Stijn Claessens và Neeltje Van Horen (2008) cho rằng cạnh tranh trong hệ
thống ngân hàng có thể cải thiện được đầu tư ở chính các ngân hàng đó Tác giả sử dụng
dữ liệu ngân hàng cho một số lượng lớn các quốc gia từ 1995-2006 và sử dụng mô hìnhsai phân bậc nhất để tìm ra lợi thế cạnh tranh quan trọng thúc đẩy các quyết định cácngân hàng địa phương
Klaus Schaeck, Martin Cihak và Simon Wolfe cung cấp thực nghiệm đầu
tiên cho việc phân tích mối quan hệ giữa đo lường trực tiếp cạnh tranh dẫn tới thể chếtài chính và phá vỡ hệ thống ngân hàng Tác giả sử dụng phương pháp thống kê Panzar
và Rosse H để đo lường cạnh tranh của 38 nước trong thời kỳ 1980-2003
Dr A.K Misra cho rằng cạnh tranh trong ngân hàng là quan trọng nó thúc
đẩy sản xuất, hiệu quả đem lại phúc lợi cho người tiêu dùng và tăng trưởng kinh tếcủa một nước Từ năm 1991, Chính phủ Ấn Độ và hệ thống quản lý tài chính đã bắtđầu thực hiện nhiều biện pháp chính sách để nâng cao hiệu quả và ổn định ngànhngân hàng ở Ấn Độ Các biện pháp chính sách làm giảm sự tập trung tài sản của cácngân hàng công, cải thiện dịch vụ khách hàng và lợi nhuận của khách hàng Tác giả
đã sử dụng thống kê Panzar và Rosse H để đánh giá bậc cạnh tranh của các ngânhàng ở Ấn độ sau khi có sự thâm nhập của các ngân hàng nước ngoài ở Ấn Độ
Các nghiên cứu trước đây sử dụng mô hình Panzar và Rosse, được gọi làthống kê H, để đánh giá trạng thái cạnh tranh trong thị trường ngân hàng Trong môhình này, Panzar và Ross đã đánh giá các điều kiện cạnh tranh trong hệ thống ngânhàng của các nước ở trình độ trung bình như Hy Lạp Họ đã tìm hiểu các tác động
của việc dỡ bỏ các quy định và tự do hóa đối với điều kiện cạnh tranh (Malthews et
al, 2007) Trong nghiên cứu này, thông tin về tổng tài sản bình quân, số các định
chế, số các chi nhánh, số nhân viên, doanh thu, tỷ số thu nhập ròng trên tổng tài sảnbình quân, tỷ số chi phí hoạt động trên tổng tài sản và chi phí trên tổng thu nhậpđược dùng để phân tích dữ liệu
Trang 34Bentler,P.M, (1990), cho rằng những chỉ số chuẩn hóa và không chuẩn hóa
thường được sử dụng để hỗ trợ cho thống kê Khi-bình phương để đánh giá sự phùhợp của cấu trúc mô hình Nhược điểm của các chỉ số hiện tại là ước lượng tập hợptham số chưa biết Do vậy, tác giả đã đề xuất một hệ số mới để tổng quát hóa mốiquan hệ của các tham số phụ trong hai mô hình bao nhau, đó là hệ số lợi tức chuẩn(CFI) và Không chuẩn (FI) CFI tránh được ước lượng dưới mức phù hợp của một
mẫu nhỏ cho chỉ số chuẩn (NFI) của Bentler and Bonett's (1980) FI là hàm tuyến tính của chỉ số không chuẩn Bentler and Bonett (NNFI) mà có thể được đánh giá
cao Một cách gần đúng, CFI, FI, NFI và phát triển các chỉ số mới bởi Bollen để đolường độ phù hợp trong tiêu chuẩn cạnh tranh, trong khi đó, NNFI liên quan tớicạnh tranh không tập trung cho mỗi mức độ tự do hóa Tất cả các chỉ số cho phép sửdụng được các kiểm định Wald và kiểm định nhân tử Lagrance Thêm vào đó, bộchỉ số tác giả đưa ra phù hợp cho việc thực hiện ở tất cả các kích cỡ mẫu
Dr A.K Misra - Indian Institute of Technology Kharagpur Cạnh tranh giữ
một vai trò quan trọng trong khu vực ngân hàng, là nền tảng cho tính hiệu quả, phúclợi của người tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế chung của một quốc gia Từ năm
1991, Chính phủ Ấn độ và bộ máy quản lý hệ thống tài chính đã đề xướng nhiềubiện pháp để nâng cao hiệu quả và sự ổn định của Ngành Ngân hàng Ấn độ Nhữngbiện pháp này làm giảm sự tập trung tài sản của khối Ngân hàng công, cải thiện cácdịch vụ cho khách hàng và lợi nhuận của khách hàng Nghiên cứu sử dụng thống kêPRH và đánh giá mức độ cạnh tranh của Khối Ngân hàng Ấn độ sau khi có sự xâmnhập của các ngân hàng tư nhân và nước ngoài vào Ấn Độ Nghiên cứu này sử dụngbảng dữ liệu liên quan đến 75 ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài, vànhận ra rằng Ngành Ngân hàng Ấn Độ đang có sự cạnh tranh độc quyền và một sốlượng các ngân hàng đang lớn mạnh hơn về quy mô, bao gồm cả Khối Tư nhân vàKhối Nhà nước Điều này đang ảnh hưởng đến điều kiện thị trường và hệ thống giá cả
Stijn Claessens và Neeltje Van Horen (2008) Việc hiểu biết và quen thuộc
hơn trong một môi trường nhất định nào đó so với các đối thủ có thể mang lại chomột công ty một lợi thế cạnh tranh, điều này có thể dẫn đến quyết định đầu tư.Chúng tôi tiến hành các kiểm tra xem khái niệm về lợi thế cạnh tranh có khả năng
Trang 35thúc đẩy các ngân hàng để tìm kiếm những thị trường cụ thể hay không Sử dụng dữliệu ngân hàng của một số lượng lớn các quốc gia từ 1995-2006 và sử dụng mô hình saiphân bậc nhất, cho thấy lợi thế cạnh tranh rất quan trọng và nó góp phần quyết định
vị trí của các ngân hàng.Kết quả cho thấy có sự sự khác nhau giữa các mẫu,các đặcđiểm kỹ thuật mô hình, kỹ thuật kinh tế lượng và các phương pháp đo chất lượng củamột tổ chức Nghiên cứu này cho phép tạo ra một số các ứng dụng về chính sách, baogồm sự gia tăng hoạt động ngân hàng quốc tế trong số các nước đang phát triển
Bang Nam Jeon, Maria Pia Olivero and Ji Wu đưa ra kiểm tra những tác
động thâm nhập của ngân hàng nước ngoài trong cấu trúc cạnh tranh của ngành tàichính trong nước ở các nước nền kinh tế mới nổi Tác giả tập trung vào phân tích cácnước ở Châu Á và Châu Mỹ Latinh trong thời kỳ 1997-2008 bằng cách sử dụng dữ liệubảng về ngân hàng để định dạng ngân hàng nước ngoài và ước lượng cạnh tranh trongngân hàng Tác giả chỉ ra rằng, sự thâm nhập của ngân hàng nước ngoài và cạnh tranhngân hàng gắn liền với sự ảnh hưởng lan truyền từ các ngân hàng nước ngoài tới ngânhàng trong nước Ảnh hưởng lan truyền có xu hướng tăng khi các ngân hàng nướcngoài hoạt động hiệu quả hơn và rủi ro ít hơn ở các nước mới nổi Thêm vào đó, tác giảtìm ra rằng những ảnh hưởng tích cực được tạo ra khi ngân hàng nước ngoài tham giavào thị trường bằng cách sáp nhập hoặc mua lại các ngân hàng trong nước
Klaus Schaeck, Martin Cihak và Simon Wolfe Nghiên cứu này đưa ra
những phân tích thực nghiệm về các mối quan hệ xuyên quốc gia từ biện pháp đolường trực tiếp về hành vi cạnh tranh của các tổ chức tài chính và sự ổn định của hệthống Ngân hàng.Sử dụng thống kê Panzar và Rosse H để đánh giá sự cạnh tranhgiữa 38 quốc gia trong khoảng thời gian từ 1980 đến 2003, chúng tôi đưa ra nhữngdẫn chứng cho thấy rằng những hệ thống ngân hàng có khả năng cạnh tranh cao hơn
sẽ ít có xu hướng xảy ra các cuộc khủng hoảng hệ thống và thời chu kỳ khủnghoảng sẽ dài hơn trong một môi trường cạnh tranh Kết luận của bản Nghiên cứuđược đưa ra khi sự tập trung và môi trường quản lý được kiểm soát và với nhiềuphương thức khác nhau, nhiều khoảng thời gian khác nhau và nhiều mẫu khác nhau
XIA Bin, PAN Bin, và XIA Hui, (2008) cho rằng với những thay đổi mạnh
mẽ của môi trường kinh doanh ngân hàng ở Trung Quốc là dấu hiệu quan trọng tích
Trang 36cực tới mục tiêu đánh giá và phân tích Tác giả sử dụng phương pháp phân tíchnhân tố để đánh giá và phân tích sự cạnh tranh của các ngân hàng thương mại TrungQuốc từ đó xác định trọng số của mỗi chỉ số và phân tích chi tiết các vấn đề của ổnđịnh cạnh tranh Cuối cùng, theo như chuỗi đo lường và các chiến lược mà cơ bản
có được dựa trên sự kết hợp với những điều kiện thực tế của các ngân hàng thươngmại Trung Quốc và giữ được sự phát triển liện tục một cách mạnh mẽ
Ahire, SL., D.Y Golhar và M.A Waller cho rằng việc năng lực quản lý
hiện đại quyết định sự thay đổi các chiến lược cải thiện chất lượng tăng cường khảnăng cạnh tranh Thông qua những phân tích chi tiết của các lịch sử nghiên cứu, tácgiả xác định 12 chiến lược quản lý và thông qua sử dụng 371 công ty chế tác đểthực nghiệm và xác nhận các cấu trúc này Bằng sử dụng phần mềm Lisrel 7, tác giảđưa ra một khuôn khổ để kiểm tra tác động của chiến lược hội tụ quản lý chất lượngsản phẩm của hãng
H.E Givi, A Ebrahimi, M.B Nasrabadi và H Safari (2010) nỗ lực nghiên
cứu mô hình hệ thống để đo lường khả năng cạnh tranh của các ngân hàng Tác giảgiới thiệu mô hình mà giúp các ngân hàng có thể hiểu được thực trạng để hướng tớicác kế hoạch trong tương lai Các biến chính trong mô hình gồm: sức mạnh tàichính, thị phần thị trường, vốn nhân lực, hoạt động ngân hàng quốc tế, và việc sửdụng công nghệ trong kinh doanh của các ngân hàng được đưa vào nghiên cứu Tác
giả đã sử dụng phương pháp phân tích nhân tố và phần mềm Lisrel cho thấy rằng
sức mạnh tài chính là nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất tới sự cạnh tranh của các ngânhàng Tác giả đưa ra xếp hạng khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng bằng cách
Trang 37tín dụng/ thanh toán/ bảo lãnh của ngân hàng/ chi nhánh ngân hàng; hoặc nângcao năng lực tài chính/ năng lực hoạt động của ngân hàng/ chi nhánh ngân hàng.Kết quả nghiên cứu của các công trình này đã đưa ra những giải pháp cụ thể đối vớitừng ngân hàng/chi nhánh ngân hàng (đối tượng nghiên cứu), phù hợp với đặc thùcủa ngân hàng/chi nhánh ngân hàng nghiên cứu
Một số luận án tiến sĩ kinh tế hay các công trình/ đề tài nghiên cứu khoa họcliên quan đến cạnh tranh/ năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng, năm 2004luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài “Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh và hộinhập của các NHTM đến năm 2010”, năm 2006, luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài
“Nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTMCP ở TP Hồ Chí Minh trong xu thế
hội nhập”, năm 2010, luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài “Phân tích đối thủ cạnh tranh
tại các NHTMCP Việt Nam” và năm 2012, luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài “Nângcao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam trong tiếntrình hội nhập quốc tế” đã được bảo vệ thành công, trong đó đã đề cập đến đốitượng nghiên cứu lý thuyết về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh, kinh nghiệm vàthực tiễn phân tích năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại nói chung vàngân hàng thương mại nhà nước nói riêng
Hầu hết các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc sử dụng mô hình phân tích 5quyền lực cạnh tranh của Michael Porter và ma trận chiến lược SWOT để phân tíchđánh giá các yếu tố cạnh tranh của một ngân hàng thương mại trong bối cảnh hộinhập kinh tế quốc tế Do vậy, việc phân tích, đánh giá việc mất nhiều thời gian vàđôi khi kết quả mang tính cảm tính, không được chính xác và thiếu tính toàn diện
Dưới dạng các nghiên cứu khác liên quan đến cạnh tranh và năng lực cạnhtranh của NHTM, có “Báo cáo đánh giá cạnh tranh trong 10 lĩnh vực” của Cục quản
lý cạnh tranh- Bộ Công thương năm 2010 đã đề cập đến cạnh tranh nói chung vàmột số nội dung về cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng 2 nămgần đây, Công ty cổ phần Xếp hạng tín nhiệm Việt Nam có đưa ra ấn phẩm “Báocáo thường niên xếp hạng tín nhiệm Việt Nam” với báo cáo 2 năm 2010 và 2011, có
đề cập đến chỉ số tín nhiệm như là một chỉ báo về năng lực cạnh tranh, với các đối
Trang 38tượng được nghiên cứu được lựa chọn trong từng lĩnh vực, không trùng lắp với đốitượng nghiên cứu của Luận án Ngoài ra, Diễn đàn kinh tế Việt Nam cũng kết hợpvới Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đưa ra các xếp hạng nănglực cạnh tranh cấp Tỉnh từ năm 2005 Các nghiên cứu này có phạm vi nghiên cứu lànăng lực cạnh tranh cấp tỉnh- một đơn vị hành chính cụ thể.
Tuy nhiên, thực tế chưa có một luận án tiến sĩ hay một luận văn thạc sĩ nàonghiên cứu về mô hình kết hợp cả yếu tố định tính và định lượng trong phân tíchđánh giá để xếp hạng năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Namtrong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Mục đích của nghiên cứu này là giới thiệumột mô hình điểm số kết hợp cả yếu tố định tính và định lượng dùng để phân tích,đánh giá và xếp hạng mức độ cạnh tranh của các ngân hàng một cách nhanh chóng,chính xác và đảm bảo độ tin cậy
Trang 39CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VỀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐIỂM SỐ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
2.1 Phương pháp luận lựa chọn các nhân tố để xếp hạng cạnh tranh của các ngân hàng thương mại
2.1.1 Cơ sở chọn biến đưa vào phân tích
Hướng thứ nhất: Căn cứ vào kết quả nghiên cứu của XIA Bin1, PAN Bin2,XIA Hui3 , theo hướng này tác giả xây dựng một hệ thống chỉ số đánh giá toàn diệnnăng lực cạnh tranh của các ngân hàng và áp dụng phương pháp toán học vào việcphân tích thống kê để nghiên cứu mối liên hệ tương quan giữa các chỉ tiêu của hiệntượng kinh tế xã hội gọi là phân tích tương quan như:
- Phân tích định tính về bản chất của mối quan hệ, đồng thời dùng phươngpháp phân tổ hoặc đồ thị để xác định tính chất và xu thế của mối quan hệ đó
- Biểu hiện cụ thể mối liên hệ tương quan bằng phương trình hồi quy tuyếntính hoặc phi tuyến tính và tính các tham số của các phương trình
- Đánh giá mức độ chặt chẽ của mối liên hệ tương quan bằng các hệ số tươngquan hoặc tỉ số tương quan
Phân tích tương quan giữa các chỉ số là để loại bỏ sự ảnh hưởng tương quangiữa các chỉ số khi đánh giá, do vậy sẽ giảm bớt được số lượng các chỉ số từ hệthống các chỉ số đánh giá toàn diện xuống còn 14 chỉ số biểu thị những đặc trưngnăng lực cạnh tranh cơ bản của ngân hàng Trung Quốc là:
Trang 40STT Chỉ số STT Chỉ số
X2 Tốc độ tăng trưởng tài sản X9 Tỷ lệ trích lập dự phòng RRTD
X3 Tỷ lệ tăng trưởng nguồn VHĐ X10 Tỷ lệ tiền gửi trên dư nợ
X4 Tỷ suất sinh lời trên VCSH X11 Tỷ lệ cho vay trên vốn huy động
X5 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản X12 Đổi mới kinh doanh
X6 Tỷ lệ thu nhập lãi ròng X13 Nguồn vốn con người
X7 Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu X14 Hiệu quả quản lý doanh nghiệp
Ưu điểm: Hầu hết các chỉ tiêu được định nghĩa của hướng này đều tính được
trừ 3 chỉ tiêu cuối
Nhược điểm: Tác giả sử dụng phương pháp Delphi đó là,trên cơ sở các số
liệu điều tra từ nhà quản trị ngân hàng, các chuyên gia tư vấn, hay tập hợp ý kiếntrực tiếp của khách hàng, ngân hàng có thể đánh giá khách quan tầm quan trọng củacác yếu tố định tính để chấm điểm cho 3 chỉ tiêu định tính cuối cùng
Khả năng áp dụng: Phương pháp này cho phép các chuyên gia biểu thị tính
độc lập của mình trong việc đưa ra các ý kiến nên có thể khó áp dụng ở Việt Nam vìmất nhiều thời gian, tốn kém chi phí và có thể không đi đến quyết định được do cácchuyên gia có nhiều ý kiến khác nhau
Hướng thứ hai: Theo kết quả nghiên cứu của Mohammad Bakhtiar
Nasrabadi*1, nghiên cứu xếp hạng ngân hàng được chia thành hai giai đoạn chính.Giai đoạn đầu là giai đoạn thiết kế bảng hỏi, thực hiện một nghiên cứu cơ bản thuthập dữ liệu có tính chất phi thí nghiệm và bao gồm một nghiên cứu điều tra tươngquan Trong giai đoạn này, sử dụng phương pháp phân tích nhân tố tìm kiếm (EFA).Trong giai đoạn hai, nghiên cứu là nghiên cứu phát triển và phương pháp thu thập dữliệu có hình thức phi thí nghiệm và mô tả, sử dụng phân tích nhân tố thực chứng(Confirmatory Factor Analysis - CFA)
Các bước của nghiên cứu này có thể tóm tắt như sau:
1 * Khoa quản lý-Đại học Irnam Sadiq, Tehran,Iran Tel (098)02188094001