1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tâm lý, kiến thức chăm sóc, điều trị của cha mẹ trẻ có khe hở môi vòm miệng

42 97 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 560,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để việc điều trị có hiệu quả cho trẻ mắc khe hở môi vòm miệngKHMVM đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ không chỉ của một chuyên khoa mà làphối hợp của nhiều khoa ngành bác sỹ chẩn đoán hình ảnh,

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Khe hở môi (KHM) và khe hở vòm miệng (KHVM) là những loại dị tậtbẩm sinh rất phổ biến vùng hàm mặt Thống kê trên thế giới cũng như ở ViệtNam tỷ lệ này thay đổi trong khoảng 1/700 - 1/1000, tùy theo vùng địa lý và dântộc [1], [2], [3], [4] Theo nghiên cứu của tổ chức y tế thế giới năm 2000, trongkhoảng 2 phút sẽ có một trẻ sinh ra bị dị tật khe hở môi hoặc khe hở vòm miệng[5] Nghiên cứu của tác giả James A.O năm 2009 tại Mỹ trong 3.989.527 trẻ sơsinh, tỷ lệ trẻ bị KHM là 0,09% [6] Ở Việt Nam, tình hình trẻ em bị KHM,KHVM chiếm tỷ lệ 0,1 - 0,2% trẻ sơ sinh [7] Theo Lâm Hoài Phương, cho biếtước tính mỗi năm có khoảng 3.000 trẻ em sinh ra bị khe hở môi, hở vòmmiệng (trung bình cứ 500 em mới sinh thì có 1 em mắc)

Nếu không được điều trị sớm và đúng cách thì dị tật này sẽ ảnh hưởngrất lớn lên sự phát triển về thể chất, cũng như tinh thần của trẻ, chưa kể đến sựsuy sụp của cha mẹ và gia đình trẻ, vì thế ảnh hưởng chung đến sự phát triểncủa xã hội

Để việc điều trị có hiệu quả cho trẻ mắc khe hở môi vòm miệng(KHMVM) đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ không chỉ của một chuyên khoa mà làphối hợp của nhiều khoa ngành (bác sỹ chẩn đoán hình ảnh, bác sỹ phẫu thuậthàm mặt, bác sỹ nhi khoa, bác sỹ dinh dưỡng, bác sỹ tai mũi họng, KTV điềutrị phát âm, nha sĩ, bác sỹ chỉnh nha, bác sỹ tâm lý…) Ngoài ra không thểthiếu được sự hợp tác chặt chẽ từ phía gia đình bệnh nhân

Hiện nay việc tư vấn cho cha mẹ, gia đình có trẻ KHMVM còn chưa hợp

lý Từ việc chăm sóc trẻ khi sinh ra cho đến việc phẫu thuật điều trị đóng khe

hở như thế nào, quan trọng nhất là việc phát triển tâm lý cho trẻ hoà nhập vớimôi trường sống cũng như xã hội, trong đó việc hợp tác giữa cha mẹ và cácbác sỹ, chuyên gia tâm lý là rất quan trọng

Trang 2

Nhận thấy mức độ hiểu biết của cha mẹ, gia đình trẻ mắc khe hở môivòm miệng là một vấn đề quan trọng ảnh hưởng tới hiệu quả chữa bệnh cũngnhư sự phát triển toàn diện tâm sinh lý cho trẻ Do tính bức thiết đó, chúng tôi

tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tâm lý, kiến thức chăm sóc, điều trị của cha mẹ trẻ có khe hở môi vòm miệng”.

MỤC TIÊU

1 Tìm hiểu về tâm lý của cha mẹ trẻ có khe hở môi vòm miệng

2 Đánh giá về kiến thức chăm sóc, nuôi dương của cha mẹ trẻ có khe hở môi vòm miệng

3 Khảo sát nhận thức về điều trị của cha mẹ trẻ có khe hở môi vòm miệng

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Khe hở môi vòm miệng là gì?

Khe hở môi vòm miệng là một dị tật bẩm sinh vùng hàm mặt

Hở môi là trạng thái mà các khe hở bộ phận của môi trong quá trình pháttriển bào thai không kết dính lại với nhau (hay không mất đi) cho đến khi trẻđược sinh ra

Hở vòm miệng là trạng thái cho đến khi trẻ được sinh ra các điểm lồivòm miệng không kết dính lại với nhau

Do đó, bất cứ đứa trẻ nào cũng có khả năng bị dị tật khe hở môi vòmmiệng [16]

Hình 1.1

1.2 Nguyên nhân khe hở môi vòm miệng

Hiện tại, người ta chưa xác định rõ được nguyên nhân sâu xa gây ra tìnhtrạng khe hở môi vòm miệng Nhưng nhận thấy có những yếu tố gây bệnhthường gặp Và chia khe hở môi vòm miệng thành hai nhóm lớn:

KHMVM trong hội chứng và KHMVM không trong hội chứng [3]

- KHMVM trong hội chứng: nguyên nhân di truyền, tuổi mẹ

- KHMVM không trong hội chứng: đa nguyên nhân

Trang 4

+ Liên quan đến nhiều gen (cao huyết áp, đái tháo đường )

+ Liên quan đến yếu tố môi trường (rượu, thuốc lá, thuốc )

+ Acid folic: tác dụng phòng ngừa

+ Sử dụng vitaminA liều cao

+ Yếu tố vật lý: phóng xạ, tia X

+ Yếu tố hóa học: thuốc trừ sâu, asen, chất độc hại

+ Yếu tố sinh học: virus

+ Tâm lý của mẹ

Theo Rosenthal, nguyên nhân ngoại lai chiếm 70% trường hợp (kể cảnhững yếu tố không biết), còn 30% là nguyên nhân nội tại Theo Gabka phântích 2500 bệnh án KHM và KHVM, thấy [7]

Không thấy nguyên nhân: 23,2%

Di truyền: 15,1%

Hoảng sợ chung: 10,9

Mẹ trên 40 tuổi: 6,7

Nhiễm độc nhau thai: 6,7

Hay chảy máu khi có thai 5,1%

Mắc bệnh do virus thời kỳ có thai 3,4%

1.3 Phôi thai học quá trình hình thành môi - vòm miệng

1.3.1 Phôi thai học quá trình hình thành môi - vòm miệng tiên phát [7]

Sự phát triển của môi bắt đầu vào đầu tuần thứ tư (ngày 28) của phôi Ởcực đầu của phôi là nụ mũi trán, bên dưới nụ có một khe lớn đó là miệngnguyên thuỷ, nụ hàm trên và nụ hàm dưới

Nụ mũi trán sau này sẽ hình thành ba nụ: ở hai bên là nụ mũi ngoài, ởgiữa là nụ mũi trong Sự phân chia nụ mũi trán thành các nụ mũi là do sự cómặt của màng khứu giác Nụ mũi trong cũng được chia đôi bởi rãnh mũi trán

Trang 5

Hiện tượng dính các thành biểu bì của các nụ và sự hàn gắn các nụ vớinhau trong quá trình trung bì hoá hình thành nên môi, mũi, vòm miệng tiên phát.

- Nụ mũi ngoài: giới hạn bên ngoài của màng khứu giác, hình thành nêncánh mũi và phía bên của mũi

- Nụ mũi trong: giới hạn bên trong của màng khứu giác, hình thành nênsống mũi và trụ mũi

- Nụ hàm trên: hình thành nên môi trên và phần trên của má

- Nụ hàm dưới: hình thành nên môi dưới, cằm và phần dưới của má

1.3.2 Phôi thai học quá trình thành vòm miệng thứ phát [7]

Sau lỗ mũi tiên phát, một nụ từ vùng giữa của trần hốc miệng và từthành sau của vách ngăn mũi tiên phát sẽ phát triển để hình thành vách ngănmũi thứ phát

Hai nụ ngang trước gọi là nụ khẩu cái

Hai nụ ngang sau là nụ chân bướm hàm

Những nụ này dính với nhau ở đường giữa theo thứ tự từ trước ra sau,sau đó quá trình trung bì hoá để hình thành vòm miệng thứ phát

1.4 Cơ chế hình thành khe hở môi - vòm miệng

Để giải thích cơ chế bệnh sinh KHM-VM, người ta dùng thuyết nụ mầmcủa Rathke (1832), Dursy (1869), và His (1888) Về sau các tác giả Victor Veau(1930), Fleishman (1915), Politzer (1935) bổ sung thêm thuyết tường chìm

1.4.1 Thuyết " Nụ mầm" : giải thích quá trình hình thành môi và vòm miệng do

các nụ mặt giáp dính với nhau Dưới tác động của các yếu tố ngoại lai hoặcnội tại làm cho quá trình trung bì hóa không xảy ra giữa các nụ mặt nên chúngkhông giáp dính với nhau sẽ tạo thành các khe hở [7], [14]

* Khe hở môi

Vào tuần lễ thứ 3 của bào thai, khi bào thai to 10mm, ở cung mang I vìkhối não và tim phát triển nhanh, giữa hai khối đó xuất hiện một chỗ lõm gọi

Trang 6

là hốc miệng nguyên thủy Ở quanh hốc miệng nguyên thủy xuất hiện 5 nụgọi là những nụ mặt gồm 1 nụ trán ở trên, 2 hàm trên ở hai bên và 2 nụ hàmdưới ở phía dưới.

Sau đó nụ trán chia làm hai nụ gọi là nụ mũi phải và nụ mũi trái, mỗi

nụ mũi phải và trái lại chia thành hai nụ mũi trong và mũi ngoài cách nhaubởi rãnh khứu

Những nụ hàm trên phát triển về phía đường giữa với nụ mũi trong vốndài hơn nụ mũi ngoài và làm cho rãnh khứu hẹp lại thành lỗ mũi

Hai nụ mũi trong bên phải và bên trái dính nhau ở đường giữa

Như vậy, môi trên đã hình thành bởi sự giáp dính của các nụ hàm trên +mũi trong + mũi trong + hàm trên

Hai nụ hàm dưới gắn với nhau ở đường giữa và nụ hàm trên gắn với nụhàm dưới, như vậy hốc miệng đã hoàn thành

Nụ hàm trên dính với nụ mũi trong tạo thành môi trên và xương ổ răngtrước lỗ khẩu cái trước (lỗ răng cửa) Nếu nụ hàm trên không dính với nụ mũitrong sẽ tạo nên khe hở môi trên

Nếu nụ hàm trên không dính với nụ mũi trong một bên sẽ hình thànhkhe hở môi một bên

Hình 1.2: Sự hình thành vòm miệng nguyên phát (Formation du palais

primaire)

Trang 7

Khe hở vòm miệng hình thành là do nụ ngang trước và nụ ngang sau bênphải hay bên trái không dính với nhau, có thể một phần hoặc toàn bộ

1.4.2 Thuyết tường chìm [7]

Theo nhóm tác giả Gian Todury, Vic tor Veau (1930), Fleishman (1915),Politzer (1935)

Môi trên không phải được tạo bởi các nụ mặt, mà ở mồi bên ổ miệng và

hố mũi nguyên thủy có bức tường dựng đứng của tổ chức ngoại bì Chính bứctường này vào tuần lễ thứ 3 của bào thai bị chọc thủng bởi tổ chức trung bìhình thành hàm ếch tiên phát

Tổ chức trung bì này có ba nguồn: hai nguồn bên và một nguồn giữa chânvách ngăn dưới, chính nó tạo ra mấu hàm trước Sự phát triển không đầy đủ của

tổ chức trung bì này sẽ phát sinh khe hở môi khép và khe hở môi một bên

Đó là sự tạo thành bình thường của vùng hàm mặt Nếu vì một lý do nào

đó quá trình này bị rối loạn sẽ hình thành các khe hở vùng hàm mặt

- Hai nụ hàm trên không dính với nụ mũi trong sẽ hình thành khe hở môimột bên hoặc khe hở môi khép

- Nụ hàm trên và nụ hàm dưới không dính với nhau sẽ sinh ra khe hởngang mặt

Trang 8

- Nụ hàm trên và nụ mũi ngoài không dính với nhau sẽ sinh ra khe hởmặt chéo.

- Hai nụ hàm dưới không dính với nhau sẽ sinh ra khe hở môi dưới

- Hai nụ ngang trước (nụ khẩu cái) không gắn với nhau sẽ sinh ra khe hởvòm miệng cứng

- Hai nụ ngang sau (nụ chân bướm khẩu cái) không gắn với nhau sẽ sinh

ra khe hở vòm miệng mềm

Lưu ý:

- Có thể có khe hở môi mà không có khe hở cung hàm, nhưng không thể

có trường hợp ngược lại

- Có thể có khe hở vòm miệng mềm mà không có khe hở vòm miệngcứng, nhưng ngược lại thì không thể

Hình 1.3 Sự hình thành vòm miệng thứ phát (Formation du palais

secondaire) [19]

1.5 Phân loại khe hở môi - vòm miệng

Từ trước đến nay, nhiều tác giả đưa ra cách phân loại khe hở môi - vòmmiệng dựa trên những cơ sở nhất định

1.5.1 Phân loại theo tổn thương giải phẫu [7], [14], [18]

Veau năm 1931 đã đề nghị một phân loại chia thành 4 nhóm

- Nhóm I: Khe hở chỉ có ở vòm miệng mềm

- Nhóm II: Khe hở vòm miệng mềm và vòm miệng cứng không vượt quá

lỗ răng cửa

Trang 9

- Nhóm III: Khe hở môi-vòm miệng toàn bộ một bên

- Nhóm IV: Khe hở môi-vòm miệng toàn bộ hai bên

1.5.2 Phân loại theo phôi thai học [7], [14], [26], [27]

Kernahan và Stark năm 1958 phân loại dựa trên lỗ răng cửa chia ranhgiới giữa vòm miệng tiên phát gồm môi, cung hàm và vòm miệng thứ phátgồm vòm miệng cứng và vòm miệng mềm

Khe hở tiên phát: gồm khe hở môi và khe hở cung hàm

- Khe hở môi:

+ Độ I: Khuyết môi đỏ, các bộ phận khác bình thường

+ Độ II: Khe hở tới ½ da môi, cơ vòng môi không bị chia hoàntoàn, cánh mũi không hoặc biến dạng rất ít, cung hàm bình thường.+ Độ III: Khe hở đến nền mũi, thường gọi là KHM toàn bộ, cánhmũi biến dạng, cung hàm không bị ảnh hưởng

- Khe hở cung hàm:

+ Độ I: Có vết hằn ở cung răng cửa hàm trên

+ Độ II: Có khe hở vùng ổ răng

+ Độ III: Khe hở đến lỗ răng cửa

Khe hở thứ phát

- Khe hở vòm miệng mềm

+ Độ I: Khe hở lưỡi gà

+ Độ II: Khe hở lưỡi gà và 1/3 vòm miệng mềm

+ Độ III: Khe hở vòm miệng mềm toàn bộ

- Khe hở vòm miệng cứng

+ Độ I: Khe hở đến 1/3 sau vòm miệng cứng

+ Độ II: Khe hở đến 2/3 sau vòm miệng cứng

+ Độ III: Khe hở đến lỗ răng cửa

Trang 10

Khe hở phối hợp: gồm cả khe hở môi và vòm miệng một hoặc hai bên.Năm 1971 Kernahan đưa ra một sơ đồ phân loại và chia độ có tính chấtbiểu tượng và dễ nhìn hơn theo hình chữ Y.

Hình 1.4: Sơ đồ chữ Y của Kernahan [7]

- 1 và 4 tương ứng với môi

- 2 và 5 tương ứng với xương ổ răng

- 3 và 6 tương ứng với cung hàm trước lỗ răng cửa

- 7 và 8 tương ứng với vòm miệng cứng

- 9 tương ứng với vòm miệng mềm

Trên cơ sở sơ đồ chữ Y của Kernahan, Millard (1977) đã đưa ra sơ đồhình chữ Y cải tiến, sơ đồ này mô tả thêm về những ảnh hưởng của khe hởmôi lên nền mũi và cánh mũi

Hình 1.5: Sơ đồ chữ Y cải tiến của Millard [7]

Trang 11

1.6 Dịch tễ học của khe hỏ’ môi vòm miệng.

Những dị tật bẩm sinh vùng hàm mặt, chủ yếu là những khe hở ở vùngmặt, gây biến dạng mặt làm tổn thương đến tâm lý, thẩm mỹ và chức năng,chiếm tỷ lệ cao nhất trong các loại dị tật chung của cơ thể (khoảng 10%)[7]Theo Das (1995), Shaw (1991): đứa bé trai bị khe hở môi có hay không

có khe hở vòm miệng nhiều hơn bé gái, trong khi bé gái có nguy cơ cao bịkhe hở vòm miệng đơn thuần [14,17]

Ở Đức, từ 1925-1958, thống kê toàn thể trẻ sơ sinh thì dị tật chung (ởchân, tay, thần kinh, tim, mạch máu lớn và hàm mặt) chiếm 0,6 - 2%, trong đó1/10 là khe hở bẩm sinh hàm mặt Ở Tiệp Khắc, cứ 200 trẻ sơ sinh, có 1 trẻ dịtật bẩm sinh chung (theo Burian)

Nói chung, trên thế giới cứ 1000 cháu mới sinh, thì có 1 cháu có dị tậtbẩm sinh vùng hàm mặt (tỷ lệ 10/00) Tỷ lệ này có khác nhau ở mỗi nước và

ở các thời điểm khác nhau:

Ở Đức: Trước thế chiến thứ II: 1/1000

Sau thế chiến thứ II: 1/450

Tiệp Khắc: Đầu thế kỷ 20: 1/1000

Năm 1962: 1/750 (theo Burian)

Pháp: 1/ 942 (1927 theo Veau và Peron)

Trang 12

Tóm lại, khe hở dị tật bẩm sinh vùng hàm mặt là một bệnh khá phổ biến.Nếu dân số nước ta hiện nay là 80 triệu dân, tỷ lệ sinh đẻ là 3%, tỷ lệ dị tậtbẩm sinh hàm mặt là 1/1000, thì hàng năm có khoảng 2400 cháu nhỏ ra đời

có dị tật bẩm sinh hàm mặt [8]

1.7 Nhũng vấn đề thường gặp ở trẻ khe hở môi vòm miệng.

Trẻ mắc bệnh khe hở môi hay hở vòm miệng thường dễ mắc các bệnhkhác như câm, điếc và khiếm khuyết khả năng nói Các bệnh về răng nhưthiếu, thừa, dị hình hay răng mọc lộn xộn cũng thường xảy ra trẻ khi sinh ramắc bệnh hở vòm miệng Nhiều trẻ bị khe hở môi hay hở vòm miệng đặc biệt

dễ bị nhiễm trùng tai [13]

Trẻ bị khe hở môi hay hở vòm miệng cũng gặp nhiềụ khó khăn khi ănuống, bú mớm Các bình sữa với núm vú đặc biệt có thể giúp trẻ bú dễ hơn.Trong một số trường hợp, trẻ mắc bệnh khe hở môi hay hở vòm miệng có thểphải cần đến vòm miệng giả để giúp trẻ có thể ăn uống được Ngoài ra ảnhhưởng của khe hở môi - vòm miệng đến sức khỏe toàn thân của trẻ

- Dị dạng phối họp

- Tâm lý

- Nhiễm trùng đường hô hấp trên

- Suy dinh dưỡng

- Rối loạn mọc , biến dạng cung hàm và sọ mặt

1.8 Điều trị khe hở môi vòm miệng

Nguyên tắc cơ bản của điều trị khe hở môi và vòm miệng Trong việcđiều trị các bệnh nhân khe hở bẩm sinh hàm mặt, phải phối họp nhiều chuyênkhoa Do đó, ngày nay có danh từ “Phức hợp điều trị bệnh nhân”[3] Trong đóchú ý cách thức điều trị, thời gian điều trị và sử dụng những kiến thức khoahọc hiện đại nhất, phức hợp điều trị gồm:

Trang 13

1.8.1 Thời gian điều trị thích hợp

Việc “điều trị phức hợp” này kéo dài từ khi mới sinh, đến tuổi trưởngthành khoảng 18 tuổi

Sau khi sinh, do có khe hở ở vòm miệng và xương hàm tạo sự thôngthương giữa hốc miệng và hốc mũi nên trẻ sẽ gặp khó khăn trong nuôi dưỡng(thường hay sặc trong quá trình bú sữa) Lúc này các bác sĩ sẽ lấy dấu vòmmiệng để làm máng bịt vùng hở, ngăn không cho sữa và thức ăn lạc vàođường thở đồng thời chỉnh sửa một phần cung hàm giúp cho phẫu thuật khe

hở vòm miệng sau này được dễ dàng hơn

Hình 1.6 Máng bịt (máng ăn) cho trẻ mắc khe hở môi vòm miệng[6]

Hoặc đối với những bị khe hở môi toàn bộ 2 bên, nhằm giữ mấu tiềnhàm không bị đưa ra trước quá nhiều người ta có thể dùng các loại dụng cụgiữ mấu tiền hàm

Hình 1.7 Băng giữ mấu tiền hàm[6]

Phẫu thuật đóng kín khe hở môi được tiến hành lúc trẻ từ sáu tháng tuổitrở lên, cân nặng đạt xấp xỉ lOkg Sau đó phẫu thuật đóng kín vòm miệng đượcthực hiện khi trẻ được 1,5 đến hai tuổi Phẫu thuật đóng kín khe hở là bướcđiều trị cơ bản đầu tiên trong toàn bộ quá trình điều trị cho trẻ bị khe hở môi vàvòm miệng Sau phẫu thuật, trẻ cần phải được khám dê luyện phát âm Đối vớitrẻ mắc bệnh khe hở môi-vòm miệng thì luyện phát âm là một vấn đề rất quantrọng vì nó ảnh hưởng lớn đến đời sống giao tiếp của trẻ sau này Đồng thời trẻcàn được khám định kỳ 6 tháng/lần để phát hiện và điều trị răng sâu

Tuy nhiên, thời gian này còn tùy thuộc vào từng trường hợp lâm sàng và

cơ địa của bệnh nhân

Trang 14

1.8.2 Điều trị chỉnh hình

Có nghĩa là săn sóc và điều chỉnh để mang lại khớp cắn bình thường, quacác giai đoạn phát triển xương hàm Điều trị này còn có tác dụng làm thay đổilphần vẻ mặt và tiếng nói của bệnh nhân

Quá trình phát triển xương hàm trên và xương hàm dưới ở trẻ bị khe hởmôi- vòm miệng không giống với các trẻ bình thường và cần được bác sĩchuyên khoa Nắn chỉnh Răng theo dõi Khuôn mặt điển hình của trẻ mắc bệnhkhe hở môi- vòm miệng là kém phát triển xương hàm trên, vẩu xương hàmdưới, tầng mặt giữa lép, răng cửa trên nằm ở phía trong răng cửa dưới (cắnngược), xoay răng Tất cả những triệu chứng đó cần được các bác sĩ nắnchỉnh răng khám và điều trị sớm ngay từ khi mới mọc răng vĩnh viễn Quátrình nắn chỉnh hàm và răng sẽ được kéo dài tới khi trẻ trưởng thành Cùngtrong thời gian này các bác sĩ nắn chỉnh răng sẽ phối hợp cùng các bác sĩ phẫuthuật thẩm mỹ để ghép xương và tạo dựng lại khuôn mặt hài hòa nhất chobệnh nhân [5]

1.8.3 Điều trị phát âm

Là công việc khó khăn và phức tạp, bắt đầu từ lúc biết nói, trước lúc điềutrị phẫu thuật Sau điều trị phẫu thuật cần thiết phải tiếp tục điều trị phát âmcho đến tuổi trưởng thành

1.8.4 Điều trị phẫu thuật

Chủ yếu là các phương pháp mổ tạo hình môi và vòm miệng Theo thờigian, phương pháp mổ khe hở môi và vòm miệng ngày càng phát triển và hiệnnay các phương pháp mổ đã được cải tiến hoàn chỉnh như phương phápMillard, Tennison Với các phương pháp này có thể đem lại cho bệnh nhânmột vẻ thẩm mỹ khá hoàn hảo, tránh được phần nào sự mặc cảm về dị tật củangười bệnh đối với xã hội

Trang 15

1.8.5 Điều trị tâm lý

Đó là việc giúp trẻ hòa động với cuộc sống, loại bỏ cản trở về mặc cảm

tự ti mà bệnh tật có thể gây nên Giúp trẻ có cái nhìn đúng đắn và thẳng thắn

về dị tật của mình Tránh tâm lý dấu diếm của cha mẹ, ngại đề cập vả lảnhtránh khi trẻ hỏi về những khác thường của mình so với trẻ khác

Thời gian điều trị chỉnh nha: bắt đàu từ khi 7tuổi kéo dài đến 18 tuổi

- Thời gian phẫu thuật ghép xương ổ răng: khi trẻ đạt từ 9-11 tuổi

- Ngoài ra có các phẫu thuật thẩm mỹ và sửa chữa khác: khi trẻ đạt 15tuổi trở lên

Các phẫu thuật điều trị chỉnh hình xương hàm sau 18tuổi

Các điều trị về răng miệng, tai mũi họng, định kỳ trong suốt quá trìnhsổng của trẻ

1.9 Một số nghiên cứu trong và ngoài nước về tỷ lệ khe hở môi vòm miệng

1.9.1 Ở Việt Nam

Khe hở môi trên và khe hở vòm miệng bẩm sinh là dị tật vùng hàm mặtkhá phổ biến Theo các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước, tỷ lệ trẻ sơsinh mắc các dị tật KHM - VM bẩm sinh thay trong khoảng 0,1% - 0,2% Ởnước ta tỷ lệ mắc bệnh khoảng 0,1% Mỗi năm có thêm hàng nghìn trẻ sơ sinh

Trang 16

mắc dị tật này [9], [10], [11], [12] Trong đó hơn 50% là KHM kết họp vớiKHVM KHM thường gặp ở nam nhiều hơn ở nữ, trong khi KHM đơn thuầnlại gặp ở nữ nhiều hơn nam [31], [56].

Ở Việt Nam, trong thập kỷ 60 đã có những số liệu đầu tiên được công

bố Theo thống kê của Nguyễn Huy Cận (1963-1966) tại bệnh viện Bảo vệ Bà

mẹ và trẻ sơ sinh có 16 trường hợp khe hở bẩm sinh vùng hàm mặt trên15.720 trẻ sơ sinh, tỷ lệ xấp xỉ 1/1000

Cũng trong thời gian này, Võ Thế Quang và Trần Minh Tâm [23] quanghiên cứu đã đưa ra một tỷ lệ cao hon ở nước ngoài Trên 571 ca khe hở môi

và vòm miệng, các tác giả cho biết tỷ lệ KHM kèm theoKHVM là 39,9%,KHM đơn thuần là 53,9%, còn lại là KHVM đơn thuần (6,2%)

Nhận xét về tình hình mắc dị tật bẩm sinh vùng hàm mặt ở các tỉnh phíaBắc Nguyễn Nguyệt Nhã [21] (Viện Bảo vệ sức khỏe trẻ em) thấy rằng trong

952 trẻ được phẫu thuật có 592 trẻ bị KHM (62,1%), 272 trẻ bị KHM - VM(28,5%), chỉ có 57 trẻ bị KHVM (5,9%), còn lại là các dị tật khác (3,25%).Theo Mai Đình Hưng các loại KHMVM được phân bố như sau: 41,2% làKHM đơn thuần, 42,2 là KHM kết hợp KHVM còn lại là KHVM đơn thuần.Trương Mạnh Dũng và Nguyễn Thanh Hòa (2007) [4], [5] nghiên cứuthực trạng trẻ sơ sinh mắc dị tật khe hở môi - vòm miệng tại Cần Thơ 2001 -

2005 cho thấy có 27,36% trẻ có KHM đơn thuần, 17,92% là KHVM đơnthuần, KHM và KHVM kết hợp chiếm 52,83%, còn lại khe hở ngang mặtchiếm 1,89%

Nguyễn Hồng Lợi (2006) [18] nghiên cứu thực trạng và các vấn đề củatrẻ dị tật bẩm sinh khe hở môi - vòm miệng tại Thừa Thiên Huế thấy KHMchiếm 16,2%, KHVM chiếm 33,3%, KHM kết họp KHVM chiếm 50,5%.Như vậy, có sự khác nhau trong nghiên cứu giữa các tác giả, các năm vàcác vùng miền

Trang 17

Từ những số liệu trên cho thấy rằng không chỉ trên thế giới mà ở ViệtNam hang năm có hàng ngàn trẻ bị khuyết tật bẩm sinh vùng hàm mặt cầnđược phẫu thuật Đây cũng là nhiệm vụ nặng nề của ngành Y tế nói chung vàchuyên ngành RHM nói riêng.

Vấn đề đăt ra ở đây là hiện nay tất cả các gia đình có trẻ KHMVM bố mẹ

và người thân đa phần chưa biết cách chăm sóc nuôi dưỡng trẻ cũng chưa cóđược sự tư vấn tốt nhất từ khi mang thai cũng như khi tự nhiên phát hiện ramình mang thai có dị tật KHMVM Tất cả các cha mẹ có con KHMVM luôngặp rất nhiều các khó khăn trong cách chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ cũng nhưcác nhận thức về các phương pháp điều trị cho trẻ Chưa kể đến tại một sốvùng miền vẫn còn có sự xa lánh, không hiểu rõ về nguyên nhân gây bệnh củacộng đồng xã hội

Chương 2

Trang 18

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Cha mẹ trẻ có KHMVM tại khu vực miền Bắc Việt Nam từ Ninh Bìnhtrở ra đến khám và điều trị tại một số bệnh viện tại Miền Bắc

Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương

Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên

2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn

Lựa chọn các bệnh nhân có tiêu chuẩn sau:

- Trẻ có khe hở môi

- Trẻ có khe hở vòm miệng

- Trẻ có khe hở môi và khe hở vòm miệng

- Trẻ phải có người chăm sóc trực tiếp đi cùng (gia đình, cha mẹ, ông bà)

- Bệnh nhân dưới 15 tuổi có cha mẹ người thân đi cùng

- Cha mẹ có con bị KHMVM dưới 15 tuổi trên địa bàn nghiên cứu (cóthể không có mặt của trẻ)

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ

Loại trừ các bệnh nhân sau:

- Cha mẹ trẻ có KHMVM kết hợp thêm các dị tật bẩm sinh (dị tật nãotim mạch…

- Bệnh nhân ở tuổi trưởng thành (> 18 tuổi) có KHMVM chưa phẫu thuật

- Cha mẹ trẻ có KHMVM có các bệnh tật liên quan đến bệnh lý về tâmthần, thần kinh

2.1.4 Địa điểm nghiên cứu

Trang 19

Miền Bắc Việt Nam, có phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào vàphía đông giáp biển Đông Được bắt đầu từ vĩ độ 23 độ 23’ Bắc đến 8 độ 27’Bắc với chiều dài là 1.650 km Chiều ngang Đông - Tây là 600 km, rộng nhất

so với Trung Bộ và Nam Bộ

Địa hình Miền Bắc đa dạng và phức tạp Bao gồm đồi núi, đồng bằng, bờbiển và thềm lục địa Có lịch sử phát triển địa hình và địa chất lâu dài, phonghóa mạnh mẽ Có bề mặt thấp dần, xuôi theo hướng tây bắc - đông nam, đượcthể hiện thông qua hướng chảy của các dòng sông lớn

Khu vực đồng bằng rộng lớn nằm ở lưu vực sông Hồng, có diện tích14,8 ngàn km2 và bằng 4,5% diện tích cả nước Đồng bằng dạng hình tamgiác, đỉnh là Thành phố Việt Trì và cạnh đáy là đường bờ biển phía đông Đây

là đồng bằng châu thổ lớn thứ hai Việt Nam (sau Đồng bằng sông Cửu Longdiện tích 40.000 km2) do sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp Phần lớn bềmặt đồng bằng có địa hình khá bằng phẳng, có độ cao từ 0,4 - 12m so vớimực nước biển

Liền kề với đồng bằng sông Hồng về phía tây và tây bắc là khu vực Trung

du và miền núi có diện tích khoảng 102,9 ngàn km2 và bằng 30,7% diện tích cảnước Địa hình ở đây bao gồm các dãy núi cao và rất hiểm trở, kéo dài từ biêngiới phía bắc (nơi tiếp giáp với Trung Quốc) tới phía tây tỉnh Thanh Hoá.Trong khu vực này từ lâu đã xuất hiện nhiều đồng cỏ, nhưng thường không lớn

và chủ yếu nằm rải rác trên các cao nguyên ở độ cao 600 – 700m

Về phía khu vực đông bắc phần lớn là núi thấp và đồi nằm ven bờ biểnĐông, được bao bọc bởi các đảo và quần đảo lớn nhỏ Ở Vịnh Bắc Bộ tậptrung quần thể bao gồm gần 3.000 hòn đảo nằm trong các khu vực biển Vịnh

Hạ Long, Bái Tử Long, Cát Hải, Cát Bà, Bạch Long Vĩ Và nhiều bờ biển đẹpnhư bờ biển Trà Cổ, Bãi Cháy, Tuần Châu và Vân Đồn thuộc tỉnh Quảng

Trang 20

Ninh; Cát Bà, Đồ Sơn thuộc thành phố Hải Phòng; Đồng Châu thuộc tỉnhThái Bình; Hải Thịnh, Quất Lâm thuộc tỉnh Nam Định.

Tính đến thời điểm năm 2011 dân số Việt Nam là 87.840.000 người.Khu vực đồng bằng sông Hồng là nơi tập trung dân cư đông nhất, có tới19.999.330 người Và 3 tỉnh có số dân thấp nhất là Điện Biên, Lai Châu, BắcKạn đều dưới con số 700 ngàn người

Khu vực đồng bằng Sông Hồng có mật độ dân cư dày đặc nhất (khoảng

1225 người/km2) Dân số khu vực thành thị chiếm 29,2% dân số toàn Bắc Bộ

và có tốc độ gia tăng ở mức cao, bình quân có thêm 3,4%/năm (tỷ lệ tăng dân

số ở khu vực nông thôn chỉ là 0,4%/năm) Trong khi đó ở khu vực Trung dumiền núi với diện tích rộng lớn, tài nguyên thiên nhiên phong phú lại thiếunguồn nhân lực khai thác và có mật độ dân số thấp hơn rất nhiều so với khuvực đồng bằng (khu vực Tây Bắc có mật độ dân 69 người/km2)

Hình 2.1 Trẻ em Hmong ở vùng núi phía Bắc

Tại khu vực đông dân như đồng bằng Sông Hồng và các khu vực thuộcvùng kinh tế trọng điểm đều có mật độ dân số rất cao Tuy tạo được những mặttác động tích cực là nguồn nhân lực dồi dào để phát triển kinh tế, thị trường

Trang 21

tiêu thụ rộng lớn và là thế mạnh để thu hút nguồn đầu tư từ nước ngoài mặtkhác lại gây ra những tác động tiêu cực không nhỏ, như dân số đông mà kinh tếphát triển chậm sẽ hạn chế cho việc giải quyết công ăn việc làm, chậm nângcao đời sống vật chất và tinh thần đến mỗi người dân lao động cùng các nhucầu phúc lợi xã hội bị hạn hẹp Không những thế, ở những nơi tập trung đôngdân cư sinh sống dễ dẫn đến vấn đề môi trường bị gia tăng tác động, ô nhiễm,dịch bệnh, suy giảm các nguồn tài nguyên thiên nhiên khu vực.

Công tác phân bổ dân cư không đồng đều do cả khách quan và chủ quan,

sẽ gây nên bất hợp lý trong việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, sử dụng laođộng, gia tăng chênh lệch kinh tế - xã hội đối với các khu vực trong vùng, làmsuy giảm hiêụ quả trong quá trình xây dựng và phát triển chung của cả nước

Ngày đăng: 23/11/2019, 08:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w