Nghiên cứu chi phí của tác giả Yukcu và Ozkaya 2010 đã khẳng địnhrằng phương pháp phân bổ trực tiếp là một phương pháp được sử dụng rộngrãi nhất do sự đơn giản về khái niệm và thực tiễn
Trang 1-TRẦN LÊ THỌ
BẢO HIỂM Y TẾ CHI TRẢ CHO CA ĐẺ TẠI BỆNH VIỆN THANH NHÀN NĂM 2016
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
HÀ NỘI – 2018
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
Người hướng dẫn khoa học:
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Trần Lê Thọ, học viên lớp Cao học Y tế Công cộng, khóa học
2016-2018 tại Trường Đại học Thăng Long xin cam đoan:
1 Đây là nghiên cứu của tôi, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của
PGS.TS Phạm Huy Tuấn Kiệt.
2 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn trung thực vàkhách quan, do tôi thu thập và thực hiện
3 Kết quả nghiên cứu của luận văn này chưa được đăng tải trên bất kỳmột tạp chí hay một công trình khoa học nào
Hà Nội, ngày 27 tháng 9 năm 2018
Tác giả luận văn
Trần Lê Thọ
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC HÌNH viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tổng quan về chi phí 3
1.1.1 Khái niệm chi phí 3
1.1.2 Phân loại chi phí 4
1.1.3 Phương pháp phân bổ sử dụng tính toán chi phí Bệnh viện 5
1.2 Bảo hiểm y tế tại Việt Nam 12
1.2.1 Khái niệm Bảo hiểm y tế 12
1.2.2.Vai trò của Bảo hiểm Y tế Việt Nam 12
1.2.3 Tầm quan trọng tham gia Bảo hiểm Y tế 14
1.2.4 Các loại hình Bảo hiểm Y tế tại Việt Nam 15
1.2.5 Sử dụng thẻ Bảo hiểm Y tế trong khám chữa bệnh 15
1.3 Đẻ thường và đẻ mổ 19
1.3.1 Khái niệm đẻ thường và đẻ mổ 19
1.3.2 Quy trình đẻ thường 20
1.3.3 Một số tai biến khi đẻ thường 20
1.3.4 Quy trình đẻ mổ 20
1.3.5 Một số tai biến khi đẻ mổ 22
1.4 Giới thiệu về Bệnh viện Thanh Nhàn 22
1.4.1 Thông tin chung về Bệnh viện Thanh Nhàn 22
1.4.2 Cơ cấu tổ chức Bệnh viện Thanh Nhàn 24
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng, tiêu chí lựa chọn nghiên cứu 27
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27
Trang 52.1.2 Tiêu chí lựa chọn hồ sơ bệnh án đẻ thường và đẻ mổ 27
2.1.3 Tiêu chí loại trừ hồ sơ bệnh án đẻ thường và đẻ mổ 27
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 27
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 27
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 28
2.3 Thiết kế nghiên cứu 28
2.4 Phương pháp chọn mẫu 28
2.5 Cỡ mẫu nghiên cứu 28
2.6 Phương pháp thu thông tin 28
2.6.1 Công cụ thu thập số liệu 28
2.6.2 Quy trình thu thập số liệu 29
2.6.3 Xử lý và phân tích số liệu 29
2.7 Biến số và chỉ số nghiên cứu 29
2.8 Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học 31
2.9 Giới thiệu về Dự án chương trình phát triển nguồn nhân lực y tế 31
2.9.1 Mục tiêu dự án 32
2.9.2 Phạm vi của Dự án 33
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1 Mô tả chi phí cho ca đẻ trong nhóm người bệnh có bảo hiểm y tế tại bệnh viện Thanh Nhàn năm 2016 34
3.1.1 Mô tả thông tin chung của Bệnh viện 34
3.1.2 Mô tả chi phí dịch vụ đẻ thường và đẻ mổ tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2016 37
3.2 So sánh chi phí cho ca đẻ giữa các mức BHYT chi trả tại Bệnh viện Thanh Nhàn 44
3.2.1 So sánh chi phí và giá dịch vụ đẻ thường và đẻ mổ tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2016 44
3.2.2 So sánh mức BHYT chi trả với giá dịch vụ tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2016 48
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 56
Trang 64.1 Chi phí đầy đủ cho trường hợp đẻ thường và đẻ mổ 58
4.1.1 Chi phí đẻ thường 61
4.1.2 Chi phí đẻ mổ 63
4.2 So sánh viện phí và chi phí y tế đầy đủ đối với trường hợp đẻ thường và đẻ mổ với mức BHYT chi trả 64
4.2.1 So sánh viện phí và chi phí y tế đầy đủ đối với trường hợp đẻ thường và đẻ mổ 64
4.2.2 So sánh chi phí y tế với mức BHYT chi trả cho các trường hợp đẻ 67
4.3 Sai số có thể xảy ra trong nghiên cứu và cách hạn chế sai số 68
KẾT LUẬN 69
KIẾN NGHỊ 71 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BHXH: Bảo hiểm xã hội
BHYT: Bảo hiểm y tế
BYT: Bộ Y tế
BTC: Bộ Tài chính
CMA: Phân tích chi phí tối thiểu - Cost minimum analysis
CBA: Phân tích chi phí lợi ích - Cost benifit analysis
CEA: Phân tích chi phí hiệu quả - Cost eneficient analysis
CUA: Phân tích chi phí thỏa dụng - Cost utility analysis
QALY: Chất lượng cuộc sống - Quality adjusted life year
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Các loại chi phí phân bổ 8
Bảng 3.1 Thông tin chung của Bệnh viện và Khoa sản 34
Bảng 3.2 Chỉ số khám, chữa bệnh của Bệnh viện và Khoa sản 35
Bảng 3.3 Chi - thu tài chính của Bệnh viện và Khoa sản 36
Bảng 3.4 Chi phí đẻ thường và đẻ mổ tại Bệnh viện Thanh Nhàn, năm 2016 37
Bảng 3.5 Các thành phần và cơ cấu chi phí trung bình đẻ thường tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2016 38
Bảng 3.6 Phân bổ chi phí trung bình cho dịch vụ đẻ thường tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2016 39
Bảng 3.7 Thành phần và cơ cấu chi phí trung bình đẻ mổ lần 1 tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2016 40
Bảng 3.8 Phân bổ chi phí trung bình theo dịch vụ đẻ mổ lần 1 tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2016 41
Bảng 3.9 Thành phần và cơ cấu chi trung bình phí đẻ mổ lần 2 tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2016 42
Bảng 3.10 Phân bổ chi phí trung bình theo dịch vụ đẻ mổ lần 2 tại Bệnh viện Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2016 43
Bảng 3.11 Phí dịch vụ đẻ thường và đẻ mổ tại Bệnh viện Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2016 .44
Bảng 3.12 So sánh chi phí đẻ mổ tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2016 45
Bảng 3.13 So sánh chi phí đẻ thường và đẻ mổ lần 1 tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2016 46
Bảng 3.14 So sánh cơ cấu giá đẻ thường và đẻ mổ lần 2 tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2016 47
Bảng 3.15 So sánh mức BHYT chi trả cho đẻ mổ lần 1 với dịch vụ tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2016 49
Bảng 3.16 So sánh mức BHYT chi trả cho đẻ mổ lần 2 với dịch vụ tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2016 50
Trang 9Bảng 3.17 So sánh mức BHYT chi trả cho đẻ thường với dịch vụ tại Bệnh
viện Thanh Nhàn năm 2016 51Bảng 3.18 So sánh mức BHYT chi trả theo hạng thẻ với phí dịch vụ ca đẻ
mổ lần 1 .52Bảng 3.19 So sánh mức BHYT chi trả theo hạng thẻ với phí dịch vụ ca đẻ
mổ lần 2 53Bảng 3.20 So sánh mức BHYT chi trả theo hạng thẻ với phí dịch vụ ca đẻ
thường 54
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Phương pháp phân bổ trực tiếp 6Hình 1 2: Phương pháp phân bổ từng bước 7
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ năm 2000 đến nay, các bệnh viện công lập đứng trước thách thứcphải chuyển đổi cơ chế tài chính từ được bao cấp sang tự chủ Quá trình nàyđang diễn ra mạnh mẽ thông qua thực hiện các chủ trương “xã hội hóa” và giaoquyền tự chủ tài chính Quá trình chuyển đổi này vẫn đang diễn ra và gặp phảinhiều vấn đề về chính sách kiểm soát chi phí y tế, về cơ chế hoạt động, đượccác nhà hoạch định chính sách y tế và xã hội rất quan tâm
Đến nay, hầu hết các bệnh viện trung ương và khoảng 70% bệnh việntỉnh, huyện đã thực hiện tự chủ tài chính, trong đó có 4 bệnh viện trung ương đã
tự chủ toàn bộ chi phí thường xuyên Trong quá trình thực hiện, các bệnh viện
áp dụng các biện pháp, chính sách nhằm hạn chế các chi phí không cần thiết,tăng cung cấp dịch vụ y tế có chênh lệch cao và khoán mức thu chi cho từngkhoa, phòng Khoản thu một phần viện phí được để lại cho cơ sở khám, chữabệnh sử dụng theo quy định tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006của Chính phủ Từ năm 2006, cơ chế “khoán ngân sách 3 năm” mang yếu tốkhuyến khích hiệu quả đã dần được áp dụng ở các bệnh viện công
Theo xu thế hội nhập và phát triển đất nước, bệnh viện được coi là mộtdoanh nghiệp công ích, cung ứng các dịch vụ sức khỏe, chuyển hướng hoạtđộng y tế từ phục vụ sang cung cấp dịch vụ Đảng và Nhà nước ta đã cónhững thay đổi căn bản trong cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sựnghiệp nói chung và đơn vị sự nghiệp y tế nói riêng thông qua Nghị định85/2012/NĐ-CP, Nghị định 16/2015/NĐ-CP và các văn bản quy phạm phápluật mới nhằm tạo sự chủ động cho các đơn vị trong việc nâng cao chất lượnghoạt động để phục vụ nhân dân bằng cách tăng cường quyền tự chủ cho cácđơn vị sự nghiệp y tế Bên cạnh, cơ cấu giá thu của hoạt động khám, chữabệnh đã được tính đúng, tính đủ và bao gồm cả yếu tố thị trường (Nghị định16/2015/NĐ-CP, Thông tư số 37/2015/TTLT-BYT-BTC) Tính đúng, tính đủgiá viện phí sẽ giúp giảm gánh nặng ngân sách Toàn bộ ngân sách dùng để
hỗ trợ hoạt động cho ngành y tế trước đây sẽ được chuyển sang để hỗ trợ,chăm lo cho sức khỏe người dân thuộc hộ nghèo, có hoàn cảnh khó khăn, tiến
Trang 12tới bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân, liên thông khám, chữa bệnh BHYT tuyếnhuyện trên địa bàn cả nước, sau đó tiếp tục sẽ liên thông khám, chữa bệnhBHYT tuyến tỉnh dự kiến vào năm 2021.
Tại Việt Nam, với sự gia tăng chi phí y tế ngày càng lớn đã trở thànhvấn đề nổi cộm của lĩnh vực tài chính y tế, việc tăng cường quản lý chi phí y
tế là ưu tiên của Bộ Y tế các quốc gia và của nhiều cơ sở Y tế
Đẻ mổ và đẻ thường là các trường hợp chiếm tỷ trọng lớn khám, chữabệnh BHYT cả về tần suất và chi phí tại các bệnh viện tuyến quận, huyện TạiViệt Nam cụ thể tại các Bệnh viện hạng I chi phí đẻ mổ, đẻ thường trung bìnhtại mỗi nơi là khác nhau, chưa có sự thống nhất, gây khó khăn về mặt kinh tếđối với sản phụ khi lựa chọn dịch vụ tại Bệnh viện Tại Canada, chi phí trungbình cho một trường hợp đẻ thường là 2.700 USD và đẻ mổ là 4.600 USD Tại Mỹ, chi phí trung bình cho một trường hợp đẻ thường là 3.347 USD và đẻ
mổ là 4.655 USD Như vậy, tổng chi phí y tế cho một trường hợp đẻ mổthường cao gấp 2 lần so với trường hợp đẻ thường Vì vậy, việc lựa chọnphương thức thanh toán hợp lý, kiểm soát chặt chẽ chỉ định điều trị, can thiệp
y tế phù hợp trở thành mối quan tâm đặc biệt của xã hội nhằm kiểm soát tốtchi phí y tế, góp phần hạn chế sự gia tăng chi phí y tế, giảm bội chi quỹBHYT và sử dụng nguồn lực tài chính hạn chế một cách có hiệu quả
Hiện nay, Bệnh viện Thanh Nhàn đang hướng đến tự chủ tài chính theo
xu hướng chung, câu hỏi đặt ra cho Bệnh viện Thanh Nhàn khi tự chủ tàichính thì BHYT của người dân sử dụng khi khám chữa bệnh có được Bệnhviện tiếp nhận và chi trả không, chi trả như thế nào? Đối với việc sinh đẻ củasản phụ Bệnh viện Thanh Nhàn chi trả theo Bảo hiểm y tế theo cơ chế nào, cólợi cho sản phụ hay có lợi cho quỹ BHYT? Vậy chúng tôi tiến hành nghiên
cứu: “Bảo hiểm y tế chi trả cho ca đẻ tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm
2016 và các yếu tố liên quan” với mục tiêu:
Mục tiêu 1: Mô tả chi phí cho ca đẻ trong nhóm người bệnh có bảo hiểm y tế tại bệnh viện Thanh Nhàn năm 2016
Mục tiêu 2: So sánh chi phí cho ca đẻ giữa các mức chi trả bảo hiểm y
tế tại bệnh viện Thanh Nhàn năm 2016.
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về chi phí
1.1.1 Khái niệm chi phí
Chi phí hay còn gọi là giá thành, là toàn bộ chi phí mà cơ sở cung cấp
dịch vụ phải bỏ ra để chi trả cho nhân công, vật tư, thiết bị, nhà xưởng và phíquản lý hành chính để có thể cung cấp được một dịch vụ nào đó
Ví dụ: chi phí của một trường hợp mổ bao gồm các bộ phận cấu thành sau:
- Lương, thưởng, phụ cấp, các khoản đóng góp nghĩa vụ khác (bảohiểm ) cho các nhân viên y tế có liên quan đến ca mổ
- Chi phí nghiên cứu học và đào tạo phục vụ khám, chữa bệnh
- Thuốc, máu, dịch truyền, phim, vật tư tiêu hao phục vụ trực tiếpngười bệnh
- Tiền điện, nước, điện thoại và các chi phí hậu cần khác
- Chi phí hành chính, quản lý
- Chi phí sửa chữa, duy tu trang thiết bị, máy móc
- Khấu hao nhà cửa, trang thiết bị
Tính chi phí đầy đủ cho dịch vụ y tế là một công việc phức tạp Hiểu rõ
về giá dịch vụ y tế là một yếu tố rất quan trọng giúp các nhà quản lý đánh giáhiệu quả hoạt động của Bệnh viện và có cơ sở để xác định giá dịch vụ thực tế.Chi phí của một loại hàng hóa, dịch vụ là trị giá của nguồn lực được sửdụng để sản tạo ra hàng hoá, dịch vụ đó Nói cách khác, chi phí là phí tổn phảichịu khi sản xuất hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ
Trong lĩnh vực y tế, chi phí y tế là giá trị của nguồn lực được sửdụng để tạo ra một dịch vụ y tế cụ thể hoặc một loạt các dịch vụ (như mộtchương trình y tế)
Trang 14Để thuận tiện và cũng để có thể so sánh được, các chi phí thường đượcthể hiện dưới dạng tiền tệ, số tiền tệ đó có thể thể hiện nguồn lực thực được
sử dụng ,
Có nhiều quan điểm khác nhau về chi phí Đối với người cung cấp dịch
vụ, chi phí là tất cả các khoản người sử dụng cần phải chi trả trên cơ sở đãtính đúng, tính đủ của việc chuyển giao dịch vụ Đối với người bệnh, chi phí
là tổng số tiền mà người bệnh phải có, để trả trực tiếp cho các dịch vụ, cộngthêm các chi phí khác cần phải bỏ ra trong thời gian dưỡng bệnh và mất mát
do nghỉ ốm gây nên
1.1.2 Phân loại chi phí
Trong y tế, khi phân tích chi phí cho các chương trình/ hoạt động chăm sócsức khỏe, các chi phí được chia thành: chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp: Những chi phí trực tiếp của các
hoạt động y tế trong khi điều trị một bệnh nhân thường bao gồm: thuốc, hóachất, vật tư tiêu hao, vật tư thay thế Chi phí gián tiếp là chi phí không trựctiếp ấn định vào hoạt động điều trị của một bệnh nhân bao gồm: chi phí laođộng hành chính, Chi phí vận hành, Khấu hao nhà và tài sản cố định dùngchung, Khấu hao TTB các cận lâm sàng, Khấu hao TTB các lâm sàng vàKhấu hao trang thiết bị phòng mổ
Chi phí đầu tư và chi thường xuyên: Chi đầu tư là những mục chi phí
thông thường phải trả một lần, ngay từ khi bắt đầu một dự án hay một canthiệp y tế Đó thường là các khoản chi phí lớn và có giá trị sử dụng trên mộtnăm Ví dụ chi phí đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản cố định: Xe cộ,máy móc, trang thiết bị khác (cả tiền thuế, kho bãi, thuê phương tiện vận
chuyển và chi phí lắp đặt ), chi phí đào tạo ban đầu Chi phí thường xuyên
là những chi phí xảy ra nhiều lần, lặp đi lặp lại trong một năm hoặc nhiều
Trang 15năm Ví dụ: chi lương, thưởng, phụ cấp cho cán bộ, chi duy tu bảo dưỡng, sửachữa trang thiết bị, mua phụ tùng, vật tư thay thế, thuốc men
Chi phí cố định và chi phí biến đổi: Chi phí cố định là những hạng mục
chi phí không bị ảnh hưởng bởi những thay đổi về qui mô hoạt động trongnăm Ví dụ: Nếu một phòng khám có 5 nhân viên y tế có thể khám ngoại trútối đa cho 100 BN một ngày, thì dù một ngày có 2 BN hay có 100 BN, chi phí
nhà xưởng văn phòng, tiền điện chiếu sáng vẫn không thay đổi Chi phí biến đổi là những chi phí phụ thuộc trực tiếp vào qui mô sản xuất và cung cấp dịch
vụ Ví dụ: Chi phí bông cồn gạc khi khám 10 BN một ngày tại phòng khámkhác với chi phí đó khi khám cho 50 BN trong một ngày.Về ngắn hạn, qui môcung cấp dịch vụ càng lớn, tổng chi phí biến đổi càng lớn Quy mô cung cấpdịch vụ càng nhỏ, tổng chi phí biến đổi càng nhỏ Do chi phí cố định khôngđổi, chi phí trung bình để tạo ra một sản phẩm, trong một qui mô nhất định,phụ thuộc vào chi phí biến đổi Nếu chi phí biến đổi trung bình giảm khiquy mô tăng, chi phí trung bình cho một sản phẩm cũng giảm theo, khi đóngười ta nói dịch vụ đó có tính kinh tế nhờ qui số tiền mà người mua,hoặc người bệnh, phải trả khi họ sử dụng dịch vụ
1.1.3 Phương pháp phân bổ sử dụng tính toán chi phí Bệnh viện
1.1.3.1 Phương pháp phân bổ trực tiếp
Phương pháp phân bổ trực tiếp là phương pháp được sử dụng rộng rãinhất trong phân bổ giá bộ phận hỗ trợ Phương pháp này phân bổ chi phí của
bộ phận hỗ trợ trực tiếp đến các phòng ban điều hành Ưu điểm cơ bản củaphương pháp này là nó đơn giản Phương pháp này không đòi hỏi phải dựđoán công việc hỗ trợ của bộ phận hỗ trợ Do nhược điểm này, phương pháptrực tiếp không phải là phương pháp chính xác và khách quan về phân bổ chiphí
Trang 16Hình 1.1: Phương pháp phân bổ trực tiếp 1.1.3.2 Phương pháp phân bổ từng bước
Phương pháp phân bổ từng bước cũng được gọi là phương pháp phân bổliên tiếp Phương pháp này cho phép hạch toán một phần của các dịch vụđược cung cấp bởi bộ phận hỗ trợ cho các phòng ban Việc áp dụng phươngpháp phân bổ từng bước đòi hỏi các bộ phận hỗ trợ phải được sắp xếp theothứ tự giảm dần độ hỗ trợ
Việc phân bổ được bắt đầu từ bộ phận có tỷ lệ hỗ trợ cao nhất trong tất
cả các phòng ban hỗ trợ, các phân bổ tiếp theo được thực hiện với các phòngban có tỷ lệ hỗ trợ giảm dần cho đến phân bổ cuối cùng là khoa lâm sang.Theo phương pháp phân bổ từng bước thì một khi chi phí của một bộ phận hỗtrợ đã được phân bổ, thì sẽ không được phân bổ trở lại mà chỉ được phân bổcho bộ phận hỗ trợ có tỷ lệ hỗ trợ tiếp theo
Phương pháp phân bổ từng bước được xem là chính xác hơn và kháchquan hơn so với phương pháp phân bổ trực tiếp, nhưng nó không nhậ ra tất cảcác dịch vụ tương ứng được cung cấp bởi các phòng ban hỗ trợ
Trang 17Hình 1 2: Phương pháp phân bổ từng bước
Các đơn vị phát sinh chi phí bao gồm khoa điều trị trực tiếp (phòng mổ,sản, v.v.), khoa cận lâm sàng và hỗ trợ (chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm,dược, duy tu sửa chữa, điện nước), và khối hành chính (quản lý, kế toán, kếhoạch) Chi phí lao động của mỗi đơn vị phát sinh chi phí bao gồm chi lương,phụ cấp, tiền thưởng cho tất cả cán bộ của khoa, phòng
Chi phí khấu hao nhà cửa hàng năm thường được phân bổ cho các đơn vịphát sinh chi phí, tỷ lệ với diện tích của đơn vị, cộng với chi phí khấu haotrang thiết bị (TTB) sử dụng (thiết bị xét nghiệm, thiết bị phòng mổ, v.v…).Chi phí gián tiếp (ví dụ: hành chính, vận hành) thường được phân bổ cho cácđơn vị phát sinh chi phí, tỷ lệ với chi phí lao động Thông thường số liệu cósẵn trong các bệnh viện được sử dụng để phân bổ chi phí của những khoa cậnlâm sàng khác nhau (ví dụ: chẩn đoán xét nghiệm, dược) Kết quả ước tínhchi phí điều trị của những khoa điều trị trực tiếp được tính bằng cách chiatổng chi phí của từng khoa cho một phương thức đầu ra thích hợp (ví dụ: sốngày nằm điều trị nội trú)
Trang 18Bảng 1.1 Các loại chi phí phân bổ
Chi phí quản lý, điều hành
Chi phí trung tâm hỗ trợ
Chi phí trung tâm tạo doanh thu
Chi phí trực
tiếp
Nhân công Trang thiết bị Vận hành
Chi phí gián
tiếp
Nhân công Nhà xưởng TTB Vận hành
Nhân công Nhà xưởng TTB Vận hành
Chi phí nhân công (lương)
Chi lương hàng năm cho cán bộ y tế của những khoa lâm sàng, cận lâmsàng và cán bộ hỗ trợ (hành chính, tài vụ, phục vụ ) Tất cả các khoản thunhập bao gồm: lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, phụ cấp làm ngoài giờ, phụcấp nghề nghiệp, tiền thưởng và các khoản chi khác cho cán bộ được lấy từ sổsách kế toán
Khấu hao trang thiết bị
Tổng giá trị nguyên gốc mua tài sản cố định (không phải giá trị còn lạicủa tài sản) được thu thập từ báo cáo tài sản cố định tại phòng tài vụ của Bệnhviện Trong báo cáo này, Bệnh viện liệt kê từng tài sản cố định; được cập nhậthằng năm khi có đầu tư tài sản cố định mới hoặc sửa chữa lớn theo kế hoạch.Từng tài sản cố định của Bệnh viện được liệt kê theo từng khoa bao gồm cảkhối hành chính và được thống kê vào phiếu điều tra theo giá mua gốc nămmua, thời gian đưa vào sử dụng Giá trị của nhà cửa tại thời điểm xây dựng vàbất kỳ sửa chữa lớn nào cũng đều được bổ sung vào danh sách Các chi phínày gọi là chi phí khấu hao và tách được riêng cho các khoa lâm sàng, khoacận lâm sàng và tài sản sử dụng chung cho Bệnh viện
Trang 19Chi phí vận hành
Tổng chi phí vận hành được thu thập từ phòng tài vụ của Bệnh viện Cácchi phí này được thống kê chi tiết vào phiếu điều tra Bệnh viện Chi phí vậnhành bao gồm điện, nước, nhiên liệu, vật tư văn phòng, viễn thông liên lạc,vận chuyển nguyên vật liệu, duy trì và sửa chữa tài sản cố định, đi lại, họphành, hội nghị, học tập, đào tạo và nghiên cứu khoa học
Phương pháp phân bổ trực tiếp là dễ hiểu và áp dụng nhiều nơi khácnhau, tuy nhiên phương pháp phân bổ từng bước mang lại kết quả phân bổvượt trội hơn do nó có phân bổ cho các bộ phận dịch vụ
Nghiên cứu chi phí của tác giả Yukcu và Ozkaya (2010) đã khẳng địnhrằng phương pháp phân bổ trực tiếp là một phương pháp được sử dụng rộngrãi nhất do sự đơn giản về khái niệm và thực tiễn của nó, 43% các công ty Úc
và 58% doanh nghiệp Nhật Bản tuyên bố rằng họ áp dụng phương pháp phân
bổ trực tiếp, trong khi đó 3% ở Úc và 27% doanh nghiệp Nhật Bản áp dụngphương pháp phân bổ bổ từng bước cho các bộ phận dịch dịch vụ
Một khảo sát khác gần đây của Szychta (2002) cho thấy phương phápphân bổ từng bước được sử dụng rộng rãi hơn phương pháp phân bổ trực tiếp(14/39 doanh nghiệp; 7/39 doanh nghiệp)
Nghiên cứu về chi phí của tác giả Mills và cộng sự ở Ma-la-uy, Russell
và cộng sự ở Xan Lu-xia, và tác giả Raymond và cộng sự ở Bê-li-xê đã đưa
ra ví dụ về phương pháp phân bổ từng bước, phân bổ chi phí trực tiếp và giántiếp qua các đơn vị phát sinh chi phí Tuy nhiên, những nghiên cứu này mớichỉ tính được các chi phí tài chính, phân chia bệnh viện ra các đơn vị phátsinh chi phí và phân tích phân bổ các nguồn lực, nhưng không xác định đượccách các nguồn lực được sử dụng thực sự trong việc điều trị bệnh nhân “Chíphí” cuối cùng đơn giản là phân bổ tổng ngân sách, và bị giới hạn vì khôngliên kết cụ thể đầu vào với sản xuất ra dịch vụ
Một nghiên cứu gần đây của Căm-pu-chia cũng sử dụng phương phápphân bước, nhưng chi tiêu cho cán bộ y tế được ấn định trực tiếp cho dịch vụđầu ra (sáu nhóm ngày điều trị nội trú ở bệnh viện huyện) bằng số liệu được
Trang 20thu thập qua quan sát trực tiếp và phỏng vấn về tỷ lệ thời gian lao động đượcdành cho các nhóm điều trị Tuy nhiên, tất cả những chi phí trực tiếp và giántiếp khác được phân bổ cho các đầu ra dựa vào các quyền số giả thiết Cáchtiếp cận này cho phép so sánh chi phí bình quân một ngày nằm viện giữa cácbệnh viện huyện trên cơ sở đầu ra của sáu nhóm ngày điều trị này, nhưng lạikhông cho phép tất cả chi phí trực tiếp (ví dụ thuốc và vật tư tiêu hao) đượcphân bổ cho các bệnh nhân cụ thể cho từng nhóm bệnh
Tại Lào, phương pháp phân bước tương tự cũng được đưa ra để ước tínhchi phí trung bình cho một số dịch vụ nhất định (như ca mổ loại đặc biệt, ca
đẻ thường) thay vì tính chi phí bình quân một ngày điều trị nội trú theo cáclâm sàng Một sáng kiến cải tiến của nghiên cứu này so với các nghiên cứutương tự là sử dụng chi phí kinh tế thay vì chi phí tài chính, để đo lường chiphí thời gian lao động của cán bộ y tế Phương pháp phân bước chuẩn được
sử dụng để phân bổ chi tiêu của bệnh viện cho các đơn vị phát sinh chi phí(dịch vụ trực tiếp, hỗ trợ và hành chính), và phân bổ thời gian dành cho KCBcủa cán bộ y tế sẽ được ước lượng từ phỏng vấn, quan sát trực tiếp hoặcphương pháp đo lường thời gian khác Một hệ thống tính toán tiếp nhận kép
đã được đề xuất cho bệnh viện thí điểm để cải thiện được khả năng theo dõi
và kiểm tra các chi tiêu, nhưng nó không được thiết kế để theo dõi chi phí đầuvào sử dụng cho mỗi bệnh nhân theo các dịch vụ cụ thể
Ở Việt Nam, chi phí điều trị trong bệnh viện chỉ mới được ước tính mộtcách tổng quát, tương đối, việc phân tích chi phí điều trị bằng phương phápphân bổ từng bước đang còn hạn chế về số lượng đề tài, đặc biệt trong việctính toán chi phí cho một trường hợp đẻ thường hay đẻ mổ, điều này gây khókhăn cho bảo hiểm tính toán và thanh toán với Bệnh viện, thường theo cơ chế
áp đặt, bất lợi cho người bệnh Tuy nhiên gần đây, chương trình hợp tác y tếViệt Nam và Thụy Điển đã thực hiện một dự án thành phần chính sách y tếnhằm nghiên cứu chi phí điều trị một số nhóm bệnh tại bệnh viện đa khoatuyến tỉnh (2005), nghiên cứu này đã tính toán chi phí điều trị bằng phươngpháp phân bổ từng bước (Step-down), đây là một nghiên cứu tiến hành tại 30
Trang 21bệnh viện đa khoa tỉnh ở các vùng khác nhau trong cả nước, kết quả củanghiên cứu cho thấy tổng chi phí trung bình để mổ đẻ thường là 1,6 triệuđồng, và chi phí này khác biệt lớn giữa các sản phụ, số ngày nằm viện trungbình Bằng phương pháp kết hợp tính toán chi phí từ trên xuống và từ dướilên, trong nghiên cứu của tác giả Hoàng Văn Minh và Nguyễn Thị Mai An(2009) tại bệnh viện Thanh Oai, cho thấy chi phí trung bình một trường hợp
mổ đẻ là 3.908.453 đồng, cao hơn các bệnh còn còn lại trong cùng nghiêncứu, nghiên cứu còn chỉ ra rằng cơ cấu chi phí của mổ đẻ cao nhất là thuốc vàvật tư tiêu hao (48,7%) Khi so sánh chi phí sinh đẻ với chi phí điều trị cácbệnh ngoại khoa khác, thì ta thấy chi phí này vẫn còn thấp hơn, điển hìnhtrong nghiên cứu của tác giả Võ Văn Thắng và Hồ Thanh Phong (2010) tạibệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Nai, tổng chi phí trung bình điều trị các bệnhngoại khoa là 7.732.606 ± 5.620.758 đồng
Phương pháp phân bổ từng bước có thể được sử dụng như một công cụhữu ích để kiểm tra các nguồn lực được phân bổ trong một bệnh viện và cóquan hệ với các nhóm đầu ra thông qua các đơn vị phát sinh chi phí, phươngpháp này thường dẫn đến sai sót do nhiều người giả định sai lầm rằng chi tiêuhàng năm tương đương với chi phí hàng năm
Một số phương pháp tính toán phổ biến bao gồm: i) tính chi tiêu hàngnăm cho tài sản cố định như chi phí hàng năm; ii) tính chi tiêu mua thuốc vàvật tư y tế tiêu hao vẫn còn trong kho cuối năm là chi phí của năm đó Ngoài
ra, cách đo lường đầu ra thường dựa vào số bệnh nhân được điều trị Vì vậy,chi phí bình quân một bệnh nhân tăng lên khi kinh phí cho chi thường xuyênhoặc kinh phí xây dựng cơ bản tăng lên, hoặc khi số bệnh nhân được cơ sở y
tế điều trị giảm đi Khi tổng ngân sách bị cắt giảm hoặc tỷ lệ sử dụng dịch vụtăng, “chi phí” trung bình cho mỗi bệnh nhân giảm
Nếu không có thông tin chi tiết hơn về các chi phí trực tiếp và gián tiếpcủa tất cả các đầu vào được sử dụng cho điều trị từng bệnh nhân cụ thể, ở bất
kỳ tỷ lệ sử dụng dịch vụ nào, thì các kết quả ước tính sử dụng phương phápphân bước có thể bị sai lệch Sự phân bổ chi tiêu hàng năm cho mỗi bệnh
Trang 22nhân nội trú vẫn được tính toán, nhưng tổng chi phí thực sự của các đầu vàođược sử dụng để điều trị một bệnh nhân bị một nhóm bệnh cụ thể không được
đo lường độc lập với số bệnh nhân được điều trị
1.2 Bảo hiểm y tế tại Việt Nam
1.2.1 Khái niệm Bảo hiểm y tế
- BHYT: là bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sựđóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe,khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân"
- BHYT trước hết là một nội dung của BHXH - một trong những bộ phậnquan trọng của hệ thống bảo đảm xã hội hay còn gọi là hệ thống an sinh xãhội Cùng với các hệ thống cung cấp (hay còn gọi là chế độ ưu đãi xã hội) và
hệ thống cứu trợ xã hội, hoạt động của BHYT nói riêng và hoạt động củaBHXH nói chung, đã thực sự trở thành nền móng vững chắc cho sự bình ổn
xã hội Chính vì vai trò cực kỳ quan trọng của BHXH như vậy, cho nên ở mọiQuốc gia trên thế giới, hoạt động của BHXH luôn do Nhà nước đứng ra tổchức thực hiện theo hệ thống pháp luật về BHXH Đó cũng là một cơ sở quantrọng để phân biệt giữa BHXH về y tế và bảo hiểm tư nhân về y tế
1.2.2.Vai trò của Bảo hiểm Y tế Việt Nam
- Việt Nam bắt đầu thực hiệnChính sách BHYT từ năm 1992 Theo điều
lệ BHYT được ban hành kèm theo Nghị định số 299/NĐ/CP của Chính phủ,BHYT Việt Nam trực thuộc Bộ Y tế; BHYT các tỉnh và ngành trực thuộcBHYT Việt Nam Đến năm 1998, thực hiện Nghị định số 58/1998/NĐ-CP củaChính phủ, BHYT Việt Nam được thành lập trên cơ sở thống nhất hệ thống
cơ quan BHYT từ trung ương đến địa phương và BHYT ngành để quản lý vàthực hiện chính sách BHYT Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhấttrên phạm vi cả nước Từ ngày 01/01/2003, BHYT sát nhập vào Bảo hiểm xãhội Việt Nam và Bảo hiểm xã hội Việt Nam là cơ quan tổ chức thực hiện chínhsách BHYT Đến ngày 08/8/2005 Chính phủ đã có Quyết định thành lập VụBHYT thuộc Bộ Y tế để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về BHYT
Trang 23- Kỳ họp thứ 4, vào ngày 14/11/2008, Quốc hội khoá XII đã thông quaLuật BHYT và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/7/2009 và ngày này đã đượcThủ tướng Chính phủ quyết định là Ngày BHYT Việt Nam (theo Quyết định
số 823/QĐ-TTg ngày 16/6/2009) Nội dung của Luật BHYT đã cơ bản khắcphục được những vướng mắc, tồn tại trong việc thực hiện chính sách tài chính
y tế để từng bước tiến tới mục tiêu xây dựng nền y tế Việt Nam theo địnhhướng công bằng, hiệu quả và phát triển
- BHYT là một chính sách xã hội mới ở nước ta, cũng như các quốc giakhác, BHYT ở nước ta nhằm thực hiện các mục tiêu sau:
- Một là: Tạo nguồn kinh phí để bổ sung cho nguồn ngân sách hạn hẹpcấp cho hệ thống y tế nhà nước Huy động sự đóng góp của chủ sử dụng vàngười lao động để hình thành quỹ tập trung của BHYT, nguồn quỹ này được
sử dụng cùng với nguồn ngân sách cấp cho các cơ sở y tế từ Trung ương đếnđịa phương để nâng cao chất lượng KCB cho người tham gia BHYT;
- Hai là: Giảm bớt gánh nặng về tài chính cho người lao động khi bịbệnh nặng phải sử dụng các dịch vụ y tế có chi phí cao, thông qua việc chi trảtrước qua quỹ BHYT;
- Ba là: Góp phần thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ,thông qua tái phân phối thu nhập qua mức đóng BHYT theo phần trăm (%)trên thu nhập;
Nguyên tắc chi trả Bảo hiểm Y tế, trích Điều 3, Luật Bảo hiểm Y tế số 46/
2014/QH13 ngày 13 tháng 6 năm 2014 :
1 Bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHYT
2 Mức đóng BHYT được xác định theo tỷ lệ phần trăm của tiền lương,tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp hoặc mức lương tối thiểu của khu vựchành chính
3 Mức hưởng BHYT theo mức độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm
vi quyền lợi của người tham gia BHYT
4 Chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT do quỹ BHYT và người thamgia BHYT cùng chi trả
Trang 245 Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch,bảo đảm cân đối thu, chi và được Nhà nước bảo hộ.
Nguyên tắc cộng đồng chia sẻ rủi ro với ý tưởng nhân văn, loại trừ mục tiêulợi nhuận thương mại của cộng đồng những người tham gia BHYT Hoạtđộng BHXH về y tế không có khoản thu lợi nhuận và đương nhiên không vìmục đích lợi nhuận.
1.2.3 Tầm quan trọng tham gia Bảo hiểm Y tế
- Việc tham gia BHYT mang lại rất nhiều lợi ích thiết thực cho ngườidân, nhất là các gia đình có mức thu nhập thấp khi chẳng may đau ốm Thamgia BHYT thì tùy theo các nhóm đối tượng, được quỹ BHYT thanh toán100% hoặc 95% hoặc 80% chi phí khám chữa bệnh nội và ngoại trú với cácdanh mục thuốc và dịch vụ kỹ thuật do Bộ Y tế quy định
- Quyền lợi của người có thẻ BHYT ngày càng được đảm bảo Hàngnăm, ngành Bảo hiểm Xã hội và Y tế đã có sự phối hợp chặt chẽ, kịp thời từviệc triển khai hợp đồng đến việc tổ chức khám chữa bệnh tại các cơ sở, giảiquyết kịp thời những vấn đề vướng mắc, phát sinh, tạo điều kiện thuận lợi chongười bệnh
- Tuy nhiên, thực tế hiện nay, không phải ai cũng hiểu hết được giá trịcủa tấm thẻ BHYT Chỉ tới khi bị bệnh tật, tai nạn, nhất là khi không may bịbệnh nặng, chi phí vượt ngoài khả năng chi trả thì lúc bấy giờ người bệnh mớinghĩ đến giá trị của việc tham gia BHYT Qua đó cho thấy, nhiều người cònchưa ý thức được quyền lợi được hưởng từ BHYT, hiểu được tầm quan trọngcủa việc tham gia BHYT
- BHYT là một chính sách quan trọng để bảo đảm an sinh xã hội, thamgia vào chống đói nghèo do bệnh tật gây ra BHYT cũng là một nguồn tàichính rất quan trọng dành cho chăm sóc sức khỏe nhất là khi tình hình ngânsách của Nhà nước không đủ để bao cấp hoàn toàn cho chăm sóc sức khỏe.BHYT là sự chia sẻ, cưu mang hữu hiệu nhất giữa người có điều kiện vàngười khó khăn BHYT là một giải pháp ưu việt trong một hệ thống chăm sócsức khỏe cộng đồng Với ý nghĩa đó, mọi người dân, đặc biệt là các bạn đoàn
Trang 25viên thanh niên hãy tích cực đi đầu trong việc tham gia BHYT vì sức khỏe, vì
an sinh xã hội, vì hạnh phúc mọi người
1.2.4 Các loại hình Bảo hiểm Y tế tại Việt Nam
- Hiện nay ở Việt Nam có 2 loại hình Bảo hiểm y tế:
- Bảo hiểm y tế xã hội, mang tính xã hội không vì mục đích lợi nhuận vàđược Nhà nước tổ chức thực hiện theo Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12ngày 14/11/2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế
số 46/2014/QH13 ngày 13/6/2014 Mọi người dân phải bắt buộc tham giaBHYT theo Luật BHYT
- Bảo hiểm y tế thương mại, mang tính kinh doanh, hoạt động có lợinhuận theo Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000 vàLuật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm số 61/2010/QH12 ngày 24/11/2010 Hiện tại có nhiều doanh nghiệp Bảo hiểm trong nước
và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài triển khai loại hình BHYT này
1.2.5 Sử dụng thẻ Bảo hiểm Y tế trong khám chữa bệnh
1.2.5.1 Điều kiện hưởng của thẻ Bảo hiểm Y tế
Khi đi khám bệnh, chữa bệnh:
Phải xuất trình thẻ Bảo hiểm y tế (BHYT) còn giá trị sử dụng và giấy tờtùy thân có ảnh hợp lệ Đối với trẻ em dưới 6 tuổi chỉ xuất trình thẻ BHYTcòn giá trị sử dụng
Trường hợp cấp cứu:
Được tiếp nhận tại bất kỳ cơ sở khám, chữa bệnh (KCB) nào và phảixuất trình thẻ BHYT cùng với giấy tùy thân chứng minh nhân thân hợp lệtrước khi ra viện Trong quá trình điều trị phát hiện và phải điều trị một sốbệnh thì điều trị tại nơi cơ sở KCB được tính đúng tuyến
Trường hợp chuyển tuyến điều trị:
Được chuyển tuyến chuyên môn kỹ thuật theo quy định trong trường
hợp cơ sở KCB BHYT vượt quá khả năng điều trị hoặc các dịch vụ kỹ thuậtđơn vị không triển khai thực hiện Người bệnh phải xuất trình thẻ Bảo hiểm y
Trang 26tế (BHYT) còn giá trị sử dụng và giấy tờ tùy thân có ảnh hợp lệ và giấychuyển viện của cơ sở KCB chuyển tuyến.
Trường hợp thanh toán chi phí vận chuyển người bệnh:
Đối tượng là" sĩ quan hạ sĩ quan, người làm công tác cơ yếu ; Người cócông với cách mạng; Thân nhân người có công với cách mạng (cha đẻ, mẹ đẻ,con, người có công nuôi dưỡng liệt sĩ); Trẻ em dưới 6 tuổi; Người thuộc diệnbảo trợ bảo trợ hàng tháng;" thì được quỹ BHYT thanh toán chi phí vậnchuyển 2 chiều trong trường hợp chuyển tuyến kỹ thuật
Trường hợp khám lại:
Theo yêu cầu điều trị: Người tham gia BHYT phải có giấy hẹn khám lại của
cơ sở KCB Giấy hẹn khám lại chỉ sử dụng cho 1 lần thực hiện khám chữa bệnh
1.2.5.2 Mức hưởng thẻ Bảo hiểm Y tế
Thanh toán tại các bệnh viện, cơ sở KCB BHYT đúng tuyến:
Người tham gia đi KCB có xuất trình thẻ BHYT , giấy tờ tùy thân chứngminh hợp lệ tại cơ sở KCB ban đầu hoặc cơ sở KCB BHYT khác có giấychuyển viện được thanh toán như sau:
a Sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh (KCB) thông thường:
- 100% chi phí KCB đối với đối tượng: Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ và
sĩ quan, hạ sĩ quan; Người có công cách mạng; Trẻ em dưới 6 tuổi; chi phíKCB đối với trường hợp chi phí cho một lần KCB thấp hơn 15% mức lương
cơ sở (lương tối thiểu chung) và KCB tại tuyến xã; Người thuộc diện hưởngtrợ cấp bảo trợ xã hội hàng tháng; Người thuộc hộ gia đình nghèo; người dântộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, đặc biệtkhó khăn
- 95% chi phí KCB đối với đối tượng: Người đang hưởng lương hưu, trợcấp mất sức lao động hàng tháng; Người thuộc hộ gia đình cận nghèo; Thânnhân người có công với cách mạng
- 80% chi phí KCB đối với các đối tượng khác
Trang 27b Khi sử dụng dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí lớn được thanh toán như sau :
- 100% chi phí KCB không giới hạn tỷ lệ thanh toán đối với: Trẻ emdưới 6 tuổi; Người hoạt động cách mạng trước 1945; người hoạt động cáchmạng từ 01/01/1945 đến trước 19/8/1945; Bà mẹ Việt Nam anh hùng;Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B,bệnh binh khi điều trị vết thương, thương tật tái phát
- 100% chi phí đối với: sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ và sĩ quan, hạ sĩquan chuyên môn kỹ thuật đang công tác trong lực lượng Công an nhân dânnhưng không vượt quá 40 tháng lương cơ sở (lương tối thiểu chung) cho mộtlần sử dụng dịch vụ kỹ thuật Phần còn lại do cơ quan, đơn vị quản lý đốitượng chi trả
- 100% chi phí đối với: Người có công với cách mạng nhưng không vượtquá 40 tháng lương cơ sở (lương tối thiểu chung) cho một lần sử dụng dịch vụ
kỹ thuật quy định tại Thông tư liên tịch số 41/2014/TTLT/BYT-BTC, ngày
24 tháng 11 năm 2014
- 95% chi phí đối với: Người hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hàngtháng; Thân nhân người có công với cách mạng trừ nhóm đối tượng quy địnhđiểm i khoản 3, điều 12 Luật Bảo hiểm xã hội số 46/2014; Người thuộc hộ giađình cận nghèo
- 80% chi phí dành cho đối tượng và nhóm đối tượng khác
Thanh toán tại các bệnh viện, cơ sở KCB BHYT không đúng cơ sở đăng
ký KCB ban đầu hoặc không theo tuyến chuyên môn kỹ thuật (trừ trường hợp cấp cứu) được thanh toán như sau:
- 60% chi phí đối với trường hợp KCB tại cơ sở KCB tuyến tỉnh;
- 40% chi phí đối với trường hợp KCB tại cơ sở KCB trực thuộc Trung Ương
Trang 28b Thanh toán trực tiếp chi phí KCB BHYT tại cơ quan BHXH:
- KCB tại cơ sở y tế không ký hợp đồng KCB BHYT; đi KCB tại cơ sở y tế có ký hợp đồng KCB BHYT nhưng không đủ thủ tục KCB: Người bệnh tự thanh toánchi phí KCB với cơ sở y tế, sau đó mang chứng từ đến cơ quan BHXH đểthanh toán Căn cứ dịch vụ kỹ thuật mà người bệnh được cung cấp, tuyếnchuyên môn kỹ thuật của cơ sở y tế và chứng từ hợp lệ, cơ quan BHXHthanh toán cho người bệnh chi phí thực tế nhưng tối đa không vượt quá mức
quy định tại Phụ lục kèm theo Thông tư liên tịch 37/2015/TTLT-BYT-BTC, ngày 29 tháng 10 năm 2015.
1.2.5.3 Bảo hiểm y tế chi trả cho bệnh viện
Phương thức bảo hiểm y tế chi trả chi phí dịch vụ bệnh viện là cách thức
để ngân sách từ quỹ bảo hiểm hoàn trả phần chi phí của bệnh viện đã tiêu tốncho hoạt động cung cấp dịch vụ y tế Mỗi phương thức hoàn phí đều có những
ưu điểm, hạn chế và có ảnh hưởng khác nhau đến tính hiệu quả sử dụng nguồnlực, chất lượng dịch vụ được bệnh viện cung cấp và mức độ sử dụng dịch vụ củangười dân
Cho phép quản lý tập trung cao
Hiệu quả thấp
Khoán
tổng quỹ
Các dịch vụ hoặc các trường hợp (bất kỳ loại nào) trong một giai đoạn xác định
Cho tính năng động cao
Nguy cơ hạn chế thái quá dịch vụ cần thiết
Phí theo
dịch vụ
Quy trình và dịch vụ đơn lẻ
Thúc đẩy năng suất cung cấp dịch vụ nói chung (đặc biệt
là dịch vụ có lợi nhuận lớn)
Gia tăng lạm dụng dịch
vụ gây lãng phí nguồn lực
Không hỗ trợ kiểm soát gia tăng chi phí y tế Định suất Tất cả các dịch vụ y
tế cho một người cho
Tăng hiệu quả thông qua tiết kiệm
Chuyển gánh nặng hành chính và rủi ro tài
Trang 29một giai đoạn cụ thể, thường là 01 năm
dịch vụ và loại bỏ lạm dụng dịch vụ
do bên cung cấp
chính sang phía bệnh viện – Nguy cơ vỡ quỹ lớn
Nguy cơ hạn chế thái quá dịch vụ cần thiết Chi trả
Tăng hiệu quả thông qua tiết kiệm dịch
vụ và loại bỏ lạm dụng dịch vụ do bởi bên cung cấp
Yêu cầu chi phí đầu tư cho xây dựng mức phí
và cập nhật liên tục
Hai hình thức bảo hiểm y tế hiện đang áp dụng chi trả cho dịch vụ bệnh
viện ở Việt Nam là Phí dịch vụ và Định suất, bắt đầu thử nghiệm Chi trả trọn gói theo trường hợp bệnh.
1.3 Đẻ thường và đẻ mổ
1.3.1 Khái niệm đẻ thường và đẻ mổ
Chuyển dạ đẻ là một quá trình sinh lý làm cho thai và phần phụ của thaiđược đưa ra khỏi đường sinh dục của người mẹ
Một cuộc chuyển dạ đẻ xảy ra từ đầu tuần lễ thứ 38 (259 ngày) đến cuốituần thứ 42 (293 ngày), trung bình là 40 tuần lễ (280 ngày) gọi là đẻ đủ tháng.Khi đó thai nhi đã trưởng thành và có khả năng sống độc lập ngoài tử cung
Đẻ non tháng là tình trạng gián đoạn thai nghén khi thai có thể sống được.Chuyển dạ đẻ non xảy ra khi tuổi thai từ 28 tuần lễ (196 ngày) đến 37 tuần lễ
Đẻ già tháng là hiện tượng chuyển dạ xảy ra sau hai tuần lễ so với ngày
dự kiến đẻ Gọi là thai già tháng khi tuổi thai quá 42 tuần lễ (300 ngày)
Đẻ thường là cuộc chuyển dạ diễn ra bình thường theo sinh lý
Đẻ khó là cuộc chuyển dạ đẻ mà các giai đoạn của cuộc đẻ, các thànhphần tham gia vào cuộc đẻ (thai nhi đặc biệt là các đường kính của đầu thainhi, khung chậu và phần mềm của người mẹ, cơn co tử cung ) diễn ra khôngbình thường, cần sự can thiệp của người thầy thuốc
Trang 30Mổ lấy thai là phẫu thuật mở tử cung ra để lấy thai, rau và màng rau theođường rạch trên bụng hoặc qua túi cùng âm đạo trong một số ít trường hợp
1.3.2 Quy trình đẻ thường
- Ghép nhóm theo mã ICD-10: 080 Xử trí tích cực giai đoạn 3 của
chuyển dạ là các thao tác chủ động của người đỡ đẻ tác động giai đoạn saukhi sổ thai để giúp rau bong và sổ ra ngoài nhanh hơn, nhằm phòng ngừa chảymáu sau đẻ
Theo dõi sau đẻ
1.3.3 Một số tai biến khi đẻ thường
Rau tiền đạo: là bánh rau bám ở đoạn dưới và cổ tử cung, nó chặn phíatrước cản trở đường ra của thai nhi khi chuyển dạ Rau tiền đạo là một trongnhững bệnh lý của bánh rau về vị trí bám Nó gây chảy máu trong ba thángcuối của thời kỳ thai nghén, trong chuyển dạ và sau đẻ Rau tiền đạo có khảnăng gây tỷ lệ tử vong và mắc bệnh hoặc cho mẹ và con, do chảy máu và đẻnon
Vỡ tử cung: là một tai biến sản khoa, rất nguy hiểm cho thai và mẹ, nếu khôngphát hiện và xử lý kịp thời sẽ gây tử vong cho mẹ và cho thai nhi Có thể vỡ tử cungtrong khi có thai nhưng thường gặp vỡ tử cung trong khi chuyển dạ
1.3.4 Quy trình đẻ mổ
Ghép nhóm theo mã ICD-10: O82 Đẻ mổ (Phẫu thuật lấy thai là phẫuthuật nhằm lấy thai ra khỏi tử cung sau khi mở bụng và mở tử cung) Sauphẫu thuật phải có quá trình chăm sóc kỷ như: Cho thuốc giảm đau, cho sảnphụ uống, ăn sớm (uống, thức ăn lỏng khi chưa trung tiện, ăn bình thường khi
đã có trung tiện), vận động sớm, cho con bú sớm, kháng sinh điều trị (nếu
Trang 31cần) Đẻ mổ luôn có nguy cơ xảy ra biến chứng trong hoặc sau khi phẫu thuậtnhư: Chảy máu; Chấn thương thai nhi; Chấn thương ruột; Rạch vào bàngquang; Thắt vào niệu quản; Nhiễm trùng vết mổ, tiểu khung, viêm phúc mạctoàn thể, nhiễm trùng huyết; Chảy máu do nhiễm trùng vết mổ tử cung.
Các bước tiến hành
Thì 1 Mở bụng:
Thì 2 Mở phúc mạc đoạn dưới tử cung.
Thì 3 Rạch ngang cơ tử cung đoạn dưới đến màng ối
Thì 4 Lấy thai và rau:
Tiêm tĩnh mạch chậm (qua dây truyền) 10 đơn vị oxytocin
Thì 8: Lấy máu và lau âm đạo.
Theo dõi sau phẫu thuật.
Chăm sóc.
Cho thuốc giảm đau sau phẫu thuật
Cho sản phụ uống, ăn sớm (uống, thức ăn lỏng khi chưa trung tiện, ănbình thường khi đã có trung tiện)
Vận động sớm
Cho con bú sớm
Kháng sinh điều trị (nếu cần)
Biến chứng trong phẫu thuật
Chảy máu
Chấn thương thai nhi
Chấn thương ruột
Rạch vào bàng quang
Trang 32 Thắt vào niệu quản
Biến chứng sau phẫu thuật
Nhiễm trùng vết mổ, tiểu khung, viêm phúc mạc toàn thể, nhiễm trùng huyết
Chảy máu do nhiễm trùng vết mổ tử cung
1.3.5 Một số tai biến khi đẻ mổ
Tỷ lệ tử vong mẹ và tử vong chu sinh ở các trường hợp đẻ mổ cao hơn sovới các trường hợp đẻ thường.Tỷ lệ tử vong mẹ trong mổ đẻ tăng gấp 4 lần sovới đẻ thường, ngay cả mổ chủ động tỷ lệ tử vong mẹ tăng 2,84 lần Cácnguyên nhân của những nguy cơ trong đẻ mổ là do tai biến gây tê mê, do chảymáu, nhiễm trùng, tổn thương đường tiết niệu, do thuyên tắc mạch Ngoài ra,sẹo mổ trên tử cung có thể bị nứt trong những thai kỳ sau, bệnh lạc nội mạc tửcung, dính ruột, tắc ruột, nhau tiên tiền đạo (tăng nguy cơ 1,7 lần) , nhau càirăng lược , nhau bong non , thai ngoài tử cung , đặc biệt thai đóng ở eo tửcung ngay vết mổ ngang cũ Khả năng có thai lần sau cũng sẽ giảm hơn sovới đẻ thường
Trong nghiên cứu này, đẻ thường được định nghĩa là cuộc chuyển dạdiễn ra bình thường theo sinh lý Chuyển dạ đẻ là một quá trình sinh lý làmcho thai và phần phụ của thai được đưa ra khỏi đường sinh dục của người mẹ
Mổ lấy thai được định nghĩa là phẫu thuật mở tử cung ra để lấy thai, rau
và màng rau theo đường rạch trên bụng hoặc qua túi cùng âm đạo trong một
số ít trường hợp
Trong đó, đẻ thường và đẻ mổ mà Bệnh viện đang thực hiện bao gồm (1)
đẻ thường ngôi chỏm, (2) đẻ thường ngôi ngược, (3) mổ lấy thai cho một thai,(4) mổ lấy thai chủ động, và (5) mổ lấy thai cấp cứu
1.4 Giới thiệu về Bệnh viện Thanh Nhàn
1.4.1 Thông tin chung về Bệnh viện Thanh Nhàn
Bệnh viện Thanh Nhàn là bệnh viện đa khoa hạng I, thực hiện khám vàđiều trị cho hàng chục ngàn lượt bệnh nhân thuộc nhiều loại đối tượng khácnhau bệnh viện đã xây dựng hoàn chỉnh hai chuyên khoa đầu ngành là Nộikhoa và Chẩn đoán hình ảnh Với tổng số cán bộ công chức và viên chức đạt
Trang 33gần 1.000 người, đến nay Bệnh viân Thanh Nhàn đã trở thành một trongnhững bệnh viện có quy mô lớn và hiện đại của Thủ đô.
Khởi đầu từ bệnh xá Mai Hương được xây dựng tại đầu ngõ Mai Hương(nay là phố Hồng Mai), quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, năm 1958 mới chỉ cócăn nhà 5 gian, 5 giường bệnh và 16 cán bộ công nhân viên do bác sĩ Liênlàm Bệnh xá trưởng Năm 1964, phát triển thành Bệnh viện Hai Bà Trưng.Đến năm 1967, hoàn thành xây dựng và cải tạo quy mô 45 giường do bác sĩPhan Văn Diễm làm Bệnh viện trưởng, lúc đó bệnh viện có 65 cán bộ côngnhân viên Năm 1972, bệnh viện bắt đầu xây dựng với quy mô 600 giườngbệnh trên diện tích 50.000m2 ở phường Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng, HàNội Với quy mô và tần xuất khám chữa bệnh vào loại lớn nhất lúc bấy giờ,bệnh viện phát triển thành một bệnh viện đa khoa hoàn chỉnh với nhiệm vụ vềđầu ngành nội khoa Quyết định số 184/QĐ-TCCB ngày 10-11-1992 củaGiám đốc Sở Y tế Hà Nội đã chuyển Khối nội cùng 87 CBCNV của Bệnhviện Việt Nam - Cu-ba về Bệnh viện Hai Bà Trưng Sau đó được đổi tênthành Bệnh viện Thanh Nhàn
Hiện nay, bệnh viện đã áp dụng kỹ thuật lâm sàng và cận lâm sàng đểcấp cứu, chẩn đoán và điều trị bệnh nhân Bệnh viện được giao chỉ tiêu 480giường, nhưng đã thực hiện được 680 giường Mặc dù vượt chỉ tiêu kế hoạchnhưng do bệnh viện có nhiều giải pháp chống quá tải nên bệnh nhân nằm việnkhông phải nằm ghép Ngoài ra, vào những giờ cao điểm, bệnh viện còn điềuđộng bác sĩ xuống khoa khám bệnh để giải quyết kịp thời cho người bệnh.Trong nhiều năm, bệnh viện không để ra sai sót chuyên môn trong chẩn đoán
và điều trị Bệnh viện nhận được nhiều ý kiến khen và thư khen của Chủ tịchnước, Thủ tướng Chính phủ và không có thư khiếu nại của người bệnh, giađình người bệnh Hằng ngày có tới 6.000 lượt người giao dịch với bệnh viện,điều này cũng cho thấy nhân lực và vật lực đã đáp ứng nhu cầu khám chữabệnh cho nhân dân, cũng như phản ánh năng lực quản lý điều hành của lãnhđạo bệnh viện
Trang 34Mang tên mới trong suốt hơn mười năm qua và không ngừng đổi mới,nâng cao nghiệp vụ, sẵn sàng với khẩu hiệu “Phục vụ tốt nhất có thể”, Bệnhviện Thanh Nhàn đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của ngành y tế, thực hiện đúnglời Bác Hồ dạy: “Lương y như từ mẫu – Thầy thuốc như mẹ hiền”.
1.4.2 Cơ cấu tổ chức Bệnh viện Thanh Nhàn
Ban Giám đốc
Các phòng chức năng
Cơ cấu bộ máy các phòng chức năng Bệnh viện Thanh Nhàn gồm:Phòng Tổ chức Cán bộ; Phòng Kế hoạch - Tổng hợp; Phòng Tài chính Kếtoán; Phòng Hành chính - Quản trị; Phòng Điều dưỡng; Phòng Vật tư – Trangthiết bị y tế; Phòng Chỉ đạo tuyến – Đào tạo và Phòng Công nghệ thông tin
Khối Ngoại – Sản bao gồm Ngoại Tổng quát – Ung bướu, Sản, Tai Mũi - Họng, Răng – Hàm - Mặt, Mắt, Ngoại Chấn thương chỉnh hình, NgoạiTiết niệu – Nam khoa, Ngoại Thần kinh và Ngoại Lồng ngực - Mạch máu.Khối cận lâm sàng gồm Vi sinh, Sinh hóa - Miễn dịch, Huyết học -Truyền máu và Chẩn đoán hình ảnh
-Khối hậu cần gồm Kiểm soát nhiễm khuẩn, Dược và Dinh dưỡng
Giới thiệu Khoa Sản, Bệnh viện Thanh Nhàn
Khoa Sản, Bệnh viện Thanh Nhàn được thành lập từ ngày đầu thành lậpBệnh viện, ban đầu, nguồn nhân lực còn thiếu thốn, lãnh đạo Bệnh viện cùnglãnh đạo bắt đầu chiêu mộ các bác sĩ ở khắp cả nước để bổ sung nhân sự cùngkhoa Sản vượt qua giai đoạn khó khăn ban đầu
Từ chặng đường phát triển, Bệnh viện và Sản đã đạt được quá trình pháttriển vững vàng về chuyên môn và toàn diện Sản, Bệnh viện Thanh Nhàn đã
Trang 35được xếp loại bệnh viện hạng I với đội ngũ 10 BS, 25 NHS và 80 giườngbệnh đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe và KCB cho người dân trong quậncũng như các vùng lân cận phía đông thành phố.
Chức năng, nhiệm vụ:
Thực hiện khám thai, khám, chữa bệnh phụ khoa, đỡ đẻ và chăm sócsức khỏe bà mẹ – trẻ sơ sinh
Tham gia nghiên cứu học chuyên Sản
Hỗ trợ và giảng dạy sinh viên thực tập tại khoa
Hoạt động chuyên môn:
Với đội ngũ 10 BS, 30 NHS, kỹ thuật viên và 80 giường bệnh đáp ứngnhu cầu chăm sóc sức khỏe và KCB cho người dân trong quận cũng như cácvùng lân cận của thành phố
Khoa Sản hiện nay điều trị được hầu hết các bệnh về phụ như phẫuthuật nội soi u nang buồng trứng, u xơ tử cung, thai ngoài tử cung, mổ sa sinhdục, điều trị rong kinh, rong huyết, viêm nhiễm phụ khoa…
Thực hiện tốt các kỹ thuật chuyên môn như sanh thường, sanh khó và
Trang 36phẫu thuật mổ lấy thai.
Khoa Sản đã phối hợp với Phẫu thuật – Gây mê hồi sức triển khai dịch
vụ đẻ không đau, góp phần giảm sự đau đớn và mệt mỏi của sản phụ trongquá trình sinh đẻ làm tăng tỉ lệ sanh thường đảm bảo tốt sức khỏe và giảmbiến chứng cho mẹ và bé
Khoa Sản cũng đã triển khai các loại hình dịch vụ như: sinh dịch vụ,
mổ dịch vụ, phòng dịch vụ với giá cả phù hợp với mức sống của người dânnơi đây Tại Khoa Sản, Bệnh viện công khai mức giá dịch vụ để người dânlựa chọn hình thức sinh
Khoa Sản còn tổ chức các lớp giáo dục tiền sản nhằm phổ biến cho sảnphụ những kiến thức cần thiết để chuẩn bị tốt cho quá trình sinh đẻ và chămsóc bé sau này Đặc biệt, còn tổ chức tư vấn và chăm sóc sức khỏe sau sanhtại nhà nhằm hỗ trợ cho các sản phụ lần đầu làm mẹ tạo sự tự tin, tâm lý tốt,thoải mái trong suốt thời kỳ hậu sản
Khoa Sản đã triển khai được phòng đơn nguyên sơ sinh với 6 đèn chiếuvàng da, 03 lồng ấp và nhiều trang thiết bị hỗ trợ khác Hiện nay, đã điều trịđược phần lớn các bệnh thường gặp của nhi sơ sinh như: vàng da, hạ đườnghuyết, nôn trớ…và chăm sóc tốt cho các bé nhẹ cân non tháng có cân nặngđến 2000g
Phòng tư vấn Sản đảm nhận tư vấn hầu hết các vấn đề: tư vấn sức khỏesinh sản vị thành niên, phụ nữ tuổi tiền mãn kinh, các biện pháp tránh thaicũng như các biện pháp đình chỉ thai nghén ngoài ý muốn Tư vấn tiền sản dobác sĩ có kinh nghiệm phụ trách sẽ cung cấp đầy đủ các thông tin về vô sinh,chẩn đoán tiền sản, phát hiện sớm dị tật thai nhi cho các khách hàng có nhucầu Bệnh viện cũng đã triển khai được dịch vụ hỗ trợ sinh sản nhằm hỗ trợcho các cặp vợ chồng hiếm muộn với tỉ lệ thành công cao
Trang 37CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, tiêu chí lựa chọn nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Vật liệu nghiên cứu là các Phiếu thanh toán của bệnh nhân nhập viện,
ra viện và các sổ sách liên quan đến chi phí từ phòng tài chính cho trường hợp
đẻ thường và đẻ mổ
2.1.2 Tiêu chí lựa chọn hồ sơ bệnh án đẻ thường và đẻ mổ
- Mẫu chi thanh toán xuất viện của phụ nữ đang mang thai đến đẻ tạiBệnh viện Thanh Nhàn từ tháng 01/2016-12/2016
- Phụ nữ đẻ thường hoặc đẻ mổ
- Phụ nữ đẻ con còn sống tại Bệnh viện chọn sinh
- Phụ nữ không bị mắc bệnh nặng hoặc các biến chứng khác
- Các chi phí KCB tại bệnh viện được chi trả từ nguồn BHYT, từ tiền túihoặc các nguồn chi trả hợp pháp khác
2.1.3 Tiêu chí loại trừ hồ sơ bệnh án đẻ thường và đẻ mổ
- Phụ nữ có thai bệnh lý tại Bệnh viện Thanh Nhàn từ tháng 12/2016
01/2016 Bệnh án của phụ nữ có thai bị mắc bệnh khác, cấp cứu hoặc biến chứngnặng
- Bệnh án của các bệnh nhân chính sách, các thông tin trên phơi thanhtoán không đầy đủ thông tin, đặc biệt là về thuốc, vật tư y tế, xét nghiệm, căn
cứ hưởng BHYT chi trả
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Thanh Nhàn, quận Hai BàTrưng, thành phố Hà Nội
Trang 382.2.2 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ tháng 3 năm 2018 tới tháng 9 năm 2018
Thời gian thu thập dữ liệu từ tháng 9 năm 2017 tới tháng 12 năm 2017
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích dữ liệu hồi cứu
2.4 Phương pháp chọn mẫu
Chọn có chủ đích 180 trường hợp sản phụ vào nghiên cứu này dựa theodanh sách sản phụ đến sinh đẻ tại Khoa sản Chọn chủ đích để xác định tỷ lệphân bổ chi phí từ trên xuống dưới; sau đó sẽ kiểm tra hồ sơ bệnh án có phùhợp với tiêu chuẩn lựa chọn của đẻ thường (tương ứng ICD-10: O80) và đẻ
mổ (tương ứng ICD-10: O82) tại Khoa Sản Bệnh viện Thanh Nhàn trong thờigian nghiên cứu từ ngày 01/01/2016 đến 31/12/2016 để chọn vào nghiên cứu
2.5 Cỡ mẫu nghiên cứu
Toàn bộ ngân hàng dữ liệu thanh toán bảo hiểm y tế 2016 của Khoa đẻ
- Bệnh viện Thanh Nhàn để đảm bảo tính chính xác Cỡ mẫu này là lớn hơn
cỡ mẫu ước tính chi phí trong điều tra quốc gia và cũng được áp dụng tương
tự trong nghiên cứu “Chi phí điều trị một số nhóm bệnh tại bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh” của Bộ Y tế (2005) Cỡ mẫu này phù hợp với năng lực cung cấp
dịch vụ của Bệnh viện và đại diện cho các trường hợp đẻ thường và đẻ mổ, vìKhoa Sản có trung bình khoảng 300 trường hợp cả đẻ thường và đẻ mổ mỗitháng
2.6 Phương pháp thu thông tin
2.6.1 Công cụ thu thập số liệu
Biểu mẫu thu thập dữ liệu lấy các thông tin sau:
- Thông tin cá nhân bệnh nhân: năm sinh, tuổi, dân tộc, nghề nghiệp, nơi
cư trú;
- Thông tin về thẻ bảo hiểm y tế;
- Thông tin về số con đã sinh ;
Trang 39- Thông tin về hình thức sinh con (đẻ thường hay mổ đẻ can thiệp);
- Thông tin điều trị nội/ ngoại trú;
- Thông tin về bệnh tật: theo mã ICD-10
- Thông tin về chi phí: bao gồm các chi phí về khám, thuốc, truyền máu,thủ thuật – phẫu thuật; xét nghiệm, vật tư tiêu hao, giường (đối với bệnh nhânnội trú)
2.6.2 Quy trình thu thập số liệu
Nghiên cứu tiến hành thu thập số liệu về chi phí thanh toán cho bệnhnhân BHYT tại khoa đẻ thông qua Phòng tài chính kế toán và Phòng Bảohiểm xã hội của Bệnh viện Các số liệu sau khi được Bệnh viện cho phép tiếpcận sẽ được trích xuất vào biểu mẫu được thiết kế sẵn, nhằm kiểm soát đượcchất lượng số liệu
Chi Square được tính toán để so sách sự khác biệt về tỷ lệ giữa các nhóm.
Giá trị p < 0,05 được xem xét có ý nghĩa thống kê
2.7 Biến số và chỉ số nghiên cứu
Nghiên cứu tiến hành thu thập hồi cứu hồ sơ bệnh án và sổ sách kế toán,phiếu thanh thoán BHYT của bệnh viện Thanh Nhàn để thu thập số liệu vềchi phí trực tiếp và gián tiếp của bệnh viện và khoản chi phí sinh đẻ của cácsản phụ
Thu thập số liệu để tính toán các chi phí và so sánh với BHYT chi trảtheo thông tư hướng dẫn
Trang 40Bảng 2.1 Biến số/ chỉ số trong nghiên cứu
Tổng chi phí Là tổng các khoản chi mà người bệnh đã
chi khi sinh con.
Hồ sơ bệnh
án, ngân hàng dữ liệu bệnh viện
Tiền giường Số tiền chi cho tiền giường điều trị nội trú
chiếm tỷ lệ % so với tổng chi phí.
Tiền thuốc, máu, dịch truyền
Số tiền chi cho thuốc, máu, dịch truyền điều trị chiếm tỷ lệ % so với tổng chi phí
Tiền phẫu thuật, thủ thuật
Số tiền chi cho thủ thuật, phẫu thuật nội/ngoại trú chiếm tỷ lệ % so với tổng chi phí.
Tiền xét nghiệm, thăm
dò chức năng
Số tiền chi cho xét nghiệm, thăm dò chức năng chiếm tỷ lệ % so với tổng chi phí
Tiền chẩn đoán hình ảnh
Số tiền chi cho chẩn đoán hình ảnh nội/ngoại trú chiếm tỷ lệ % so với tổng chi phí.
Tiền vật tư tiêu hao
Số tiền chi cho vật tư tiêu hao chiếm tỷ lệ
Các chi phí phân bổ theo mức BHYT chi trả cho nguời bệnh trong nghiên cứu
Hồ sơ bệnh
án, ngân hàng dữ liệu bệnh viện
Mức chi trả của BHYT đối với ca sinh con