Báo cáo kết quả khảo sát địa hình nhà văn hóa huyện anh sơn I. TÓM TẮT QUY MÔ CÔNG TRÌNH A. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN. 1. Vị trí địa lý. Anh Sơn là một huyện miền núi thuộc miền Tây Nghệ An, trải dọc theo đôi bờ sông Lam và Quốc lộ 7, phía Đông giáp với huyện đồng bằng Đô Lương, phía Bắc giáp với huyện miền núi Anh Sơn và huyện vùng cao quỳ Hợp, phía Tây giáp với huyện vùng cao Con Cuông và nước bạn Lào, phía Nam giáp với huyện miền núi Thanh Chương. Cách thành phố Vinh 100 Km về phía Tây. Địa hình: Vùng đất Anh Sơn nghiêng dần từ phía Tây về phía Đông, điểm cao nhất là đỉnh núi Kim NhaKim Nhan ở vùng núi Cao Vều.“Lèn Kim Nhan chín tầng mây phủ Rú Cao Vều ấp ủ tình thương”Địa hình đồi núi có 41.416ha, chiếm 80% diện tích tự nhiên. Phần còn lại là ruộng và đất bãi ven sông. Khí hậu: Huyện Anh Sơn nằm trên giải đất miền Trung nên khí hậu mang những nét chung của vùng nhiệt đới gió mùa. Ngoài một số thuận lợi cho sự phát triển cây trồng do khí hậu, ánh sáng và lượng mưa đem lại, khí hậu Anh Sơn cũng khắc nhiệt vì chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, và gió Phơn Tây Nam Lào. Vì vậy gây ra nạn hạn hán, lũ lụt làm ảnh hưởng đến sự phát triển chung và lĩnh vực nông nghiệp nói riêng. 2. Điều kiện khí tượng thủy văn. Là một trong những huyện miền núi của tỉnh Nghệ An, Anh Sơn có chế độ khí hậu chung là nhiệt đới gió mùa, nắng lắm mưa nhiều theo mùa giống như nhiều huyện thành khác. Song, do điều kiện địa hình tương đối phức tạp lại bị chia cắt bởi các dãy núi, khối núi lớn, nên ngay trong địa bàn huyện vẫn hình thành nhiều tiểu vùng khí hậu. Thông thường, từ tháng 11 đến tháng 3, thời tiết khô hanh, gây nên tình trạng khô hạn kéo dài. Từ tháng 4 đến tháng 8, do chịu ảnh hưởng của gió Phơn Tây Nam (còn gọi là gió Lào), nắng hạn tiếp tục diễn ra, trời nóng như đổ lửa, nhiệt độ bình quân có thể lên tới 37,5 - 390c, đặc biệt có những tuần ở tháng 5, tháng 6 nhiệt độ lên tới 40,5 - 41,50c. Tổng số giờ nắng bình quân ở Anh Sơn hàng năm từ 1500 - 1700 giờ. Do có khá nhiều núi đá vôi, lượng nhiệt mặt trời hấp thụ vào đá, nên đến 9 -10 giờ đêm nhiệt độ vẫn nóng hầm hập, cây cỏ chết khô, đồng ruộng nứt nẻ, hồ đập cạn nước, gây nhiều khó khăn cho đời sống nhân dân và phát triển sản xuất. Nhiệt độ bình quân ở Anh Sơn hàng năm vào khoảng 230c, trong khi đó nhiệt độ cao nhất lên tới 420c (chênh lệch tới 190c). Về mùa Đông nhiệt độ xuống thấp, có ngày xuống dưới 130c, thậm chí xuống đến 4 - 50c, thấp nhất là 10c. Lượng mưa bình quân hàng năm ở Anh Sơn khoảng 2000 - 2200mm, chia thành 2 mùa rõ rệt: - Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 âm lịch năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 15 - 20% tổng lượng mưa cả năm. Trong đó, khác với một số địa phương khác trong tỉnh Nghệ An, nhất là các huyện đồng bằng, vào tháng 1 tháng 2 thường có mưa xuân rả rích, kéo dài trong nhiều ngày, trong khi ở Anh Sơn lượng mưa chỉ đạt khoảng 50 - 60mm/tháng, tức là mỗi tháng lượng mưa chỉ chiếm khoảng 1/30 tổng lượng mưa cả năm. - Mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10, với lượng mưa chiếm tới 80 - 85% tổng lượng mưa cả năm. Trong đó, riêng lượng mưa bình quân tháng 8 và tháng 9 đạt từ 250 - 550mm/tháng. Khi mưa bão ập đến, nước ào ạt từ các khe suối đổ về, lòng sông con nước dâng cao, trải rộng gấp 4 - 5 lần ngày thường, nước tung bọt trắng xóa, chảy xiết, cuốn theo đất đá, cây cỏ hoa màu và cả nhà cửa, tài sản, hoa màu của nhân dân dọc đôi bờ sông. Những năm gần đây, do diện tích rừng nguyên sinh cạn kiệt, diện tích rừng trồng tăng nhanh, song chưa đủ khả năng để điều hòa lượng nước, làm giảm lượng nước tập trung đổ về sau mưa, nên tình trạng ngập úng diễn ra trên địa bàn nhiều xã, gây không ít khó khăn cho giao thông đi lại cũng như phát triển sản xuất. Mưa lớn, tập trung theo mùa và thậm chí là vài ngày liên tục còn gây nên tình trạng xói mòn, sạt lỡ, hư hỏng cầu cống, các công trình phục vụ dân sinh, đặt cán bộ, đảng viên và nhân dân Anh Sơn luôn trong tình trạng chưa kịp khắc phục hậu quả khô hanh, nắng hạn kéo dài đã phải tập trung phòng chống, khắc phục hậu quả lũ lụt.
Trang 1THUYẾT MINH KẾT QUẢ KHẢO SÁT ĐỊA HÌNH
CÔNG TRÌNH: NÂNG CẤP NHÀ VĂN HÓA THÔN 1, 2, 3, 4, 5,6,7, 8, 9, 10
XÃ CAO SƠN, HUYỆN ANH SƠN
HẠNG MỤC: NHÀ VĂN HÓA THÔN 3, NHÀ VĂN HÓA THÔN 8, NHÀ VĂN HÓA THÔN 1, 10, NHÀ VĂN HÓA THÔN 9
ĐỊA ĐIỂM: XÃ CAO SƠN, HUYỆN ANH SƠN, TỈNH NGHỆ AN
I TÓM TẮT QUY MÔ CÔNG TRÌNH
Trang 2A.ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN.
1 Vị trí địa lý
Anh Sơn là một huyện miền núi thuộc miền Tây Nghệ An, trải dọc theo đôi
bờ sông Lam và Quốc lộ 7, phía Đông giáp với huyện đồng bằng Đô Lương, phía Bắc giáp với huyện miền núi Anh Sơn và huyện vùng cao quỳ Hợp, phía Tây giáp với huyện vùng cao Con Cuông và nước bạn Lào, phía Nam giáp với huyện miền núi Thanh Chương Cách thành phố Vinh 100 Km về phía Tây
Địa hình: Vùng đất Anh Sơn nghiêng dần từ phía Tây về phía Đông, điểm cao nhất là đỉnh núi Kim NhaKim Nhan ở vùng núi Cao Vều.“Lèn Kim Nhan chín tầng mây phủ Rú Cao Vều ấp ủ tình thương”Địa hình đồi núi có 41.416ha, chiếm 80% diện tích tự nhiên Phần còn lại là ruộng và đất bãi ven sông
Khí hậu: Huyện Anh Sơn nằm trên giải đất miền Trung nên khí hậu mang những nét chung của vùng nhiệt đới gió mùa Ngoài một số thuận lợi cho sự phát triển cây trồng do khí hậu, ánh sáng và lượng mưa đem lại, khí hậu Anh Sơn cũng khắc nhiệt vì chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, và gió Phơn Tây Nam Lào
Vì vậy gây ra nạn hạn hán, lũ lụt làm ảnh hưởng đến sự phát triển chung và lĩnh vực nông nghiệp nói riêng
2 Điều kiện khí tượng thủy văn
Là một trong những huyện miền núi của tỉnh Nghệ An, Anh Sơn có chế độ khí hậu chung là nhiệt đới gió mùa, nắng lắm mưa nhiều theo mùa giống như nhiều huyện thành khác Song, do điều kiện địa hình tương đối phức tạp lại bị chia cắt bởi các dãy núi, khối núi lớn, nên ngay trong địa bàn huyện vẫn hình thành nhiều tiểu vùng khí hậu Thông thường, từ tháng 11 đến tháng 3, thời tiết khô hanh, gây nên tình trạng khô hạn kéo dài Từ tháng 4 đến tháng 8, do chịu ảnh hưởng của gió Phơn Tây Nam (còn gọi là gió Lào), nắng hạn tiếp tục diễn ra, trời nóng như đổ lửa, nhiệt độ bình quân có thể lên tới 37,5 - 390c, đặc biệt có những tuần ở tháng 5, tháng 6 nhiệt độ lên tới 40,5 - 41,50c Tổng số giờ nắng bình quân ở Anh Sơn hàng năm từ 1500 - 1700 giờ Do có khá nhiều núi đá vôi, lượng nhiệt mặt trời hấp thụ vào đá, nên đến 9 -10 giờ đêm nhiệt độ vẫn nóng hầm hập, cây cỏ chết khô, đồng
Trang 3ruộng nứt nẻ, hồ đập cạn nước, gây nhiều khó khăn cho đời sống nhân dân và phát triển sản xuất Nhiệt độ bình quân ở Anh Sơn hàng năm vào khoảng 230c, trong khi
đó nhiệt độ cao nhất lên tới 420c (chênh lệch tới 190c) Về mùa Đông nhiệt độ xuống thấp, có ngày xuống dưới 130c, thậm chí xuống đến 4 - 50c, thấp nhất là 10c Lượng mưa bình quân hàng năm ở Anh Sơn khoảng 2000 - 2200mm, chia thành 2 mùa rõ rệt:
- Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 âm lịch năm sau, lượng mưa chỉ chiếm
15 - 20% tổng lượng mưa cả năm Trong đó, khác với một số địa phương khác trong tỉnh Nghệ An, nhất là các huyện đồng bằng, vào tháng 1 tháng 2 thường có mưa xuân rả rích, kéo dài trong nhiều ngày, trong khi ở Anh Sơn lượng mưa chỉ đạt khoảng 50 - 60mm/tháng, tức là mỗi tháng lượng mưa chỉ chiếm khoảng 1/30 tổng lượng mưa cả năm
- Mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10, với lượng mưa chiếm tới 80 - 85% tổng lượng mưa cả năm Trong đó, riêng lượng mưa bình quân tháng 8 và tháng 9 đạt từ 250 - 550mm/tháng
Khi mưa bão ập đến, nước ào ạt từ các khe suối đổ về, lòng sông con nước dâng cao, trải rộng gấp 4 - 5 lần ngày thường, nước tung bọt trắng xóa, chảy xiết, cuốn theo đất đá, cây cỏ hoa màu và cả nhà cửa, tài sản, hoa màu của nhân dân dọc đôi bờ sông Những năm gần đây, do diện tích rừng nguyên sinh cạn kiệt, diện tích rừng trồng tăng nhanh, song chưa đủ khả năng để điều hòa lượng nước, làm giảm lượng nước tập trung đổ về sau mưa, nên tình trạng ngập úng diễn ra trên địa bàn nhiều xã, gây không ít khó khăn cho giao thông đi lại cũng như phát triển sản xuất Mưa lớn, tập trung theo mùa và thậm chí là vài ngày liên tục còn gây nên tình trạng xói mòn, sạt lỡ, hư hỏng cầu cống, các công trình phục vụ dân sinh, đặt cán
bộ, đảng viên và nhân dân Anh Sơn luôn trong tình trạng chưa kịp khắc phục hậu quả khô hanh, nắng hạn kéo dài đã phải tập trung phòng chống, khắc phục hậu quả
lũ lụt
Trang 4Độ ẩm không khí trung bình hàng năm duy trì ở mức độ cao, khoảng 80 -90%, tháng 9 là tháng có độ ẩm cao nhất trong năm, thông thường lên tới 90 - 93% Riêng tháng 7 độ ẩm thấp nhất, chỉ đạt khoảng 74% Lượng nước bốc hơi hàng năm ước đạt 780mm, chiếm hơn 1/3 tổng lượng mưa hàng năm
Ngoài gió Phơn Tây Nam, hàng năm Anh Sơn nói riêng Nghệ An và các tỉnh ở Bắc Trung Bộ còn chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Thường bắt đầu
từ tháng 10 gió mùa Đông Bắc xuất hiện và kéo dài cho đến hết tháng 3: “Rét nàng
Bân” mới kết thúc Theo số liệu của Cục khí tượng thủy văn Bắc Trung Bộ, hàng
năm Nghệ An thường phải chịu ảnh hưởng của 30 đợt gió mùa Đông Bắc, trong đó đợt kéo dài có thể lên tới trên 1 tuần, đợt ngắn cũng thường mất 2 - 3 ngày Anh Sơn cũng nằm trong tình trạng chung đó Những ngày có gió mùa Đông Bắc, trời rét, nhiệt độ xuống thấp, bầu trời âm u, độ ẩm thấp, gây tác hại không nhỏ đối với cây trồng, vật nuôi và cả với sức khỏe của con người
B ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI.
Dân số theo thống kê 31/12/2018, huyện có 132.060 người Có 8 xã đồng bào dân tộc thiểu số 8.000 người (chiếm 6,4% dân số toàn huyện) Số người trong độ tuổi có khả năng lao động hơn: 47.000 người Số người được giải quyết việc làm trong năm bình quân: 1.375 người
Nhân dân Anh Sơn cần cù, ham học, có truyền thống cách mạng, là huyện Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân: Công tác Quốc phòng trong những năm qua được giữ vững, an ninh đảm bảo tốt; Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa phát triển rộng khắp; Công tác Giáo dục - Đào tạo, công tác Y tế ngày càng được củng cố và phát triển
* Về nông nghiệp và phát triển nông thôn
Đẩy mạnh CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn; tạo chuyển dịch tích cực về
cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, phấn đấu tốc độ tăng trưởng nông, lâm, thuỷ sản giai đoạn 2010 - 2015 đạt 6,48%; giá trị sản xuất bình quân 47 triệu đồng/ha Đến năm 2015, giá trị sản xuất nông, lâm, thuỷ sản (giá 94) đạt 690
Trang 5tỷ đồng, trong đó, nông nghiệp chiếm 73,83%, lâm nghiệp 22,90%, thủy sản 3,27% Đến năm 2015 có 4 - 6 xã đạt tiêu chí nông thôn mới
Khuyến khích, tạo điều kiện đưa các giống cây con mới, cây bản địa có ưu thế
về năng suất, chất lượng vào sản xuất
- Cây lương thực: Ổn định diện tích lúa 5.800 ha, bố trí 100% lúa lai, năng suất đạt 54 tạ/ha, sản lượng đạt 31.320 tấn; diện tích ngô 6.800 ha, năng suất khoảng 49,2 tạ/ha, sản lượng đạt 33.480 tấn Tổng sản lượng lương thực đạt 64.800 tấn
- Cây công nghiệp
+ Diện tích lạc 1.000ha, năng suất 27tạ/ha, sản lượng khoảng 2.695tấn
+ Trồng mới 500ha chè, đưa diện tích chè toàn huyện lên 2.700ha, trong đó diện tích chè kinh doanh 2.500ha; sản lượng búp tươi vào năm 2015 đạt 38.000tấn + Xây dựng vùng mía tập trung khoảng 1.000ha; sản lượng khoảng 67.000tấn mía cây/năm
+ Quy hoạch trồng 4.000ha cây cao su; mỗi năm trồng mới 400ha để đến năm
2015 toàn huyện có 2.100ha cây cao su
- Lâm nghiệp: Làm tốt công tác quản lý và bảo vệ rừng Mỗi năm trồng mới 1.500-1.600ha rừng Đến năm 2015, toàn huyện có diện tích rừng nguyên liệu khoảng 15.000ha, sản lượng gỗ khai thác hàng năm khoảng 47.000- 50.000m3
- Chăn nuôi: Phát triển chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá Phấn đấu mỗi xã xây dựng 2- 3 mô hình chăn nuôi bò tập trung (quy mô mỗi mô hình từ 30 con trở lên) và 3 mô hình nuôi lợn (quy mô mỗi mô hình từ 100 con trở lên); toàn huyện xây dựng 4 - 5 trang trại nuôi lợn quy mô vừa, mỗi trang trại 500 con trở lên Đến năm 2015 có 22.000 con trâu, 30.700 con bò, 74.500 con lợn, 700.000 con gia cầm
Mở rộng diện tích nuôi cá trên ruộng lúa và cá lồng, bè Sản lượng thủy sản đạt 1.300 tấn vào năm 2015
Đến năm 2015, giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng (giá 94) đạt 1.400 tỷ đồng; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2010-2015 là 19,1%
Trang 6Các sản phẩm công nghiệp chủ lực ưu tiên.
- Xi măng: Đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhà máy xi măng dầu khí 12/9 và xi măng Hợp Sơn để đến năm 2012, sản lượng xi măng đạt khoảng 0,8 -1,0 triệu tấn/ năm
- Chè xuất khẩu: Đảm bảo đủ nguồn nguyên liệu cho các nhà máy chế biến chè hiện có Xây dựng 1 nhà máy chế biến chè tại Cẩm Sơn, tổng sản lượng chè hàng năm đạt 7.000-7.600tấn
- Mía đường: Đảm bảo đủ nguồn nguyên liệu cho nhà máy đường Sông Lam công suất ép 500 tấn/ngày, tiến tới nâng công suất 700 tấn/ngày; sản lượng đường đạt 6.000-7.000 tấn/năm
- Đá xẻ: Xây dựng nhà máy đá xẻ công suất 50.000tấn/năm tại Cẩm Sơn
- May mặc: Hoàn thành dây chuyền may xuất khẩu công suất 3,6 triệu sản phẩm/năm tại cụm công nghiệp nhỏ thị trấn Anh Sơn
* Về dịch vụ - thương mại
Đến năm 2015 giá trị sản xuất (giá 94) đạt 888 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2010-2015 là 12,69%; tổng mức bán lẻ hàng hoá, dịch vụ 1.610 tỷ đồng; tổng mức huy động vốn trên địa bàn qua Ngân hàng bình quân hàng năm tăng 20-25%
Tập trung phát triển thương mại ở khu vực thị trấn, thị tứ, khu đô thị mới, các trung tâm xã theo hình thức trung tâm thương mại Quy hoạch, đầu tư nâng cấp hệ thống chợ nông thôn; phát triển mạng lưới cửa hàng xăng dầu, các dịch vụ khách sạn, nhà hàng, thông tin liên lạc, bưu chính viễn thông… Khuyến khích đầu tư cơ
sở vật chất hình thành các điểm, cụm du lịch Từng bước gắn các điểm du lịch trong huyện với các tuyến du lịch miền Tây Nghệ An
* Phát triển kết cấu hạ tầng chủ yếu
- Đầu tư xây dựng 499 Km đường giao thông, trong đó đường tỉnh 67 Km; đường huyện 106 Km; đường liên xã: 84 Km; giao thông nông thôn 242Km (bao gồm: cải tạo, nâng cấp): Đường biên giới Tam hợp - Hạnh Lâm (đoạn qua Anh Sơn), đường kinh tế quốc phòng tuyến Tây Bắc (đoạn qua xã Phúc Sơn), các tuyến
Trang 7đường nguyên liệu Chè: Hùng Sơn; Cao Sơn; Long Sơn Khai Sơn Cao Sơn -Lĩnh Sơn, Cẩm Sơn - Môn Sơn (Con Cuông); đường nguyên liệu mía: Thung Bùng, Thọ Sơn; đường vào các khu công nghiệp, các khu tiểu thủ công nghiệp; đường vào trung tâm xã Hội Sơn; hoàn thành đường giao thông tả ngạn sông Lam; nâng cấp đường giao thông nông thôn 242 Km trên địa bàn các xã Phấn đấu đến năm 2015, 30% đường liên thôn được rải nhựa hoặc bê tông hoá Xây dựng 1 cầu treo qua sông Con tại Cao Sơn; 2 cầu treo qua sông Lam tại Hùng Sơn và Lĩnh Sơn
- Xây dựng, nâng cấp các công trình thuỷ lợi để nâng hiệu suất tưới tiêu, đảm bảo diện tích tưới ổn định 4.000 - 4.500ha vào năm 2015 Chủ yếu gồm các hồ đập: Tràn Khe Hạo, Công Lý, Huồi Phát, Hồ Thung Chanh (Thọ Sơn); đập Tân Long (Cao Sơn); hồ Khe Dong (Đỉnh Sơn); hồ Khe Rắt (Hùng Sơn); hồ Muông (Cẩm Sơn); hồ Khe Sừng (Hoa Sơn); hồ Trọt Bông (Phúc Sơn); hồ Nông dân, hồ Khe Su (Long Sơn)
- Nâng cấp, xây dựng mới 56 trạm biến áp, 262km đường dây 35KV Ưu tiên cải tạo lưới điện nông thôn
- Thực hiện tốt chương trình kiên cố hoá trường lớp học và nhà ở công vụ cho giáo viên Hoàn thành dự án cải tạo, nâng cấp Bệnh viện Đa khoa huyện, xây dựng Trung tâm Y tế huyện, Phòng khám Đa khoa khu vực Đỉnh Sơn, Nhà Truyền thống, Sân vận động huyện, Trung tâm vui chơi thanh thiếu nhi; xây dựng bãi rác thải thị trấn Anh Sơn và các xã phụ cận; khu Nghĩa trang, khu nhà ở cho người có thu nhập thấp Đầu tư xây dựng trụ sở làm việc các cơ quan đơn vị từ huyện đến cơ sở
* Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch Bổ sung quy hoạch, kế hoạch để tách xã Phúc Sơn thành 2 xã Phúc Sơn và xã biên giới Cao Vều Xây dựng thị trấn Cây Chanh, thị trấn Tri lễ Đề nghị xúc tiến xây dựng Cửa khẩu Cao Vều
* Định hướng phát triển kinh tế vùng
Trang 8- Vùng thị trấn Anh Sơn gắn với các xã Hội Sơn, Phúc Sơn: Phát triển đô thị mới có công thương nghiệp phát triển toàn diện gắn với vành đai công nghiệp xung quanh đô thị Các ngành chủ yếu: Công nghiệp xi măng ở Hội Sơn và Phúc sơn, may mặc xuất khẩu tại thị trấn Các sản phẩm chủ yếu như: May mặc, cơ khí, xi măng, các dịch vụ thương mại
- Vùng Đỉnh Sơn, Cẩm sơn: Tập trung phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng; đường, chè búp khô và các dịch vụ thương mại
- Vùng Khai sơn: Quy hoạch xây dựng thị trấn Tri lễ phát triển mạnh công nghiệp đa ngành Xây dựng khu công nghiệp 200 ha
- Vùng nguyên liệu mía gồm các xã: Thọ Sơn, Cao Sơn, Thành Sơn, Hoa Sơn
và Xí nghiệp chè tháng 10
- Vùng trồng cây nguyên liệu chè gồm các xã: Đỉnh Sơn, Cẩm Sơn, Hùng Sơn, Đức Sơn, Cao Sơn, Cao Sơn, Phúc Sơn, Long Sơn, Khai Sơn và 3 đơn vị: Xí nghiệp Chè Bãi Phủ, Chè tháng 10, Tổng đội TNXPI-XDKT Nghệ An
- Vùng nguyện liệu cao su xã Phúc sơn, công ty Lâm nghiệp Anh Sơn
Nâng cao chất lượng phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" Chú trọng triển khai các nội dung xây dựng làng văn hoá, gia đình văn hoá Coi trọng việc phát hiện, bồi dưỡng nhân tố thể thao nhằm nâng cao thành tích thi đấu Đến năm 2015 có 30-35% số dân thường xuyên tham gia luyện tập thể dục thể thao, 20-25% số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình thể thao
Tăng cường công tác quản lý nhà nước về các hoạt động văn hoá Có kế hoạch trùng tu, tôn tạo, phát huy có hiệu quả các di tích lịch sử trên địa bàn
- Tiếp tục củng cố vững chắc phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý và dạy học; tạo chuyển biến rõ nét chất lượng dạy học ngoại ngữ và tin học Coi trọng giáo dục đạo đức lối sống, ý thức trách nhiệm công dân cho học sinh Chăm lo chất lượng giáo viên và đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục; giải quyết tốt tình trạng giáo viên dôi dư
Trang 9- Nõng cao chất lượng khỏm, chữa bệnh gắn với đề cao y đức của người thầy thuốc Chủ động trong phũng chống dịch bệnh, khụng để dịch lớn xảy ra Củng cố cụng tỏc dõn số, kế hoạch húa gia đỡnh; đổi mới nội dung tuyờn truyền, nõng cao hiệu quả cụng tỏc truyền thụng dõn số, hạn chế thấp nhất tỷ lệ sinh con thứ 3
- Nõng cao chất lượng lao động; làm tốt cụng tỏc đào tạo nghề; tập trung thực hiện tốt Đề ỏn đào tạo nghề cho lao động nụng thụn đến năm 2020 theo Quyết định 1956/TTg của Thủ tướng Chớnh phủ; giảm nghốo nhanh, bền vững Đảm bảo chớnh sỏch bảo hiểm xó hội theo quy định; phỏt triển nhanh bảo hiểm tự nguyện
Tạo thuận lợi để người nghốo tiếp cận dịch vụ xó hội cơ bản về xúa đúi, giảm nghốo như vay vốn phỏt triển sản xuất, hỗ trợ cải thiện nhà ở, trợ giỳp điều kiện sản xuất, dạy nghề, khuyến nụng, khuyến lõm Ưu tiờn đầu tư cho cỏc vựng khú khăn, nơi cú tỷ lệ hộ nghốo cao Đề xuất nõng cấp Trung tõm Hướng nghiệp - Dạy nghề huyện thành trường dạy nghề
Xó Cao Sơn là một xó miền núi đặc biệt khó khăn của huyện Anh Sơn, điều kiện dân sinh còn thấp, giao thông đi lại rất khó khăn, các cơ sở vật chất phục vụ giáo dục còn thấp Mặc dù cơ sở vật chất còn thiếu thốn nhng kết quả đạt đợc về giáo dục đạt đợc nhiều thành tích đáng ghi nhận, chất lợng dạy và học đợc nâng lên, công tác xó hội hóa giáo dục phát huy có hiệu quả, nh phát động tết khuyến học, khuyến tài đợc nhiều dòng họ, cá nhân hởng ứng tích cực Vì vậy để nâng cao thành tích mà trờng đạt đợc cần phải đầu t xây dựng đầy đủ các phòng học đáp ứng
điều kiện học tập của học sinh và giảng dạy cảu giáo viên Đầu t xây dựng nhà học
2 tầng trờng tiểu học xó Cao Sơn là rất cần thiết để đảm bảo chất lợng dạy và học,
để đa trờng đạt tiêu chuẩn quốc gia
C.QUY Mễ CễNG TRèNH
1- Tờn cụng trỡnh:
Trang 10Công trình: Nâng cấp nhà văn hóa thôn 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 xã Cao Sơn,
huyện Anh Sơn
Hạng Mục: Nhà văn hóa thôn 3, nhà văn hóa thôn 8, nhà văn hóa thôn 1, 10, nhà
văn hóa thôn 9
3- Hình thức quản lý thực hiện dự án: Chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án
4- Địa điểm xây dựng: Xã Cao Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An.
II YÊU CẦU, NỘI DUNG VÀ KHỐI LƯỢNG KHẢO SÁT ĐỊA HÌNH
II-1 Khống chế mặt bằng:
Do quy mô xây dựng công trình nên chọn hệ tọa độ là hệ tọa độ giả định Xây dựng lưới khống chế đường sườn kinh vỹ phục vụ đo vẽ bình đồ khu vực công trình, tỷ lệ 1/200 ; và định vị mặt bằnh công trình khi thi công
Yêu cầu độ chính xác:
- Sai số trung phương đo góc: 10”;
- Sai số đo cạnh của lưới đường chuyền: 1/5.000;
- Sai số khép góc tuyến: f 20” N
Trong đó: N là số đỉnh đường chuyền
II-2 Khống chế cao độ:
1 Do quy mô công trình nên lưới khống chế độ cao là giả định
Yêu cầu độ chính xác:
- Khoảng cách đọc từ máy đến mia D 100 m;
- Sai số khép cao độ của tuyến fh 20 L ( mm)
- Trong đó : L là chiều dài của tuyến thuỷ chuẩn
2 Lưới thuỷ chuẩn kỹ thuật:
Khống chế cao độ cho các trạm đặt máy đo vẽ bình đồ
Yêu cầu độ chính xác:
- Khoảng cách đọc từ máy đến mia D 150 m;
- Sai số khép cao độ của tuyến fh 50 L ( mm);
Trong đó : L là chiều dài của tuyến thuỷ chuẩn