1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phim tài liệu về đề tài động vật hoang dã của Lê Hoài Phương và Nguyễn Mỹ Dzung: tiếp cận từ lý thuyết tác giả (Tội ác rừng xanh, When our gardens grow silent)

113 152 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phim tài liệu về đề tài động vật hoang dã trên thế giới đã phát triển từ lâu và đã có rất nhiều chuyên gia ở các nước trên thế giới nghiên cứu, mở rộng thể loại này nhưng ở Việt Nam gần như chưa có bộ phim tài liệu nào về đề tài này được nghiên cứu, chỉ có một vài bài viết lẻ tẻ về vấn đề này. Ngay cả khi phim tài liệu độc lập đã tồn tại một thời gian dài tại Việt Nam nhưng cho tới nay vẫn có rất ít những đánh giá về loại phim này. Phim tài liệu về đề tài động vật hoang dã là dòng phim lấy các loài động vật hoang dã trong tự nhiên là đối tượng phản ánh. Thông qua việc phân tích cuộc sống của các loài động vật hoang dã và những tác động của con người đến tự nhiên, sẽ tìm hiểu được những vấn đề đang trở nên cấp bách như biến đổi khí hậu, thay đổi môi trường sinh thái và việc suy giảm số lượng các loài động vật hoang dã trên thế giới. Đây là vấn đề cấp bách “không thể làm ngơ” của xã hội Việt Nam nói riêng và các nước thế giới nói chung. Thứ nhất, luận văn hệ thống hóa khái niệm phim tài liệu, phim tác giả, phim tài liệu độc lập, phim tài liệu về đề tài các loài động vật hoang dã; tìm hiểu cách thức làm phim của hai nhà làm phim tài liệu Lê Hoài Phương và Nguyễn Mỹ Dzung trong dòng chảy phim tài liệu độc lập Việt Nam. Từ đó chỉ ra sự sáng tạo, bước đột phá trong cách làm phim và lựa chọn đề tài của các nhà làm phim tài liệu độc lập. Trong phim tài liệu về đề tài các loài động vật hoang dã, không chỉ là cuộc sống đa dạng của các loài động vật hoang dã và còn là mối liên hệ mật thiết giữa con người với môi trường tự nhiên. Thứ hai, việc tiếp cận từ lý thuyết tác giả qua hai bộ phim (Tội ác rừng xanh và When our gardens grow silent) của hai đạo diễn Lê Hoài Phương và Nguyễn Mỹ Dzung để thấy được sự táo bạo trong cách lựa chọn đề tài và sự thể hiện cá tính đầy hấp dẫn trong từng tác phẩm. Thứ ba, tiếp cận từ lý thuyết tác giả qua hai bộ phim (Tội ác rừng xanh và When our gardens grow silent) như một hệ thống ngôn ngữ điện ảnh đặc sắc, thông qua phân tích các yếu tố cụ thể như: quay phim, dựng phim và âm thanh.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BÙI PHƯƠNG THANH

PHIM TÀI LIỆU VỀ ĐỀ TÀI ĐỘNG VẬT HOANG DÃ

CỦA LÊ HOÀI PHƯƠNG VÀ NGUYỄN MỸ DZUNG:

TIẾP CẬN TỪ LÝ THUYẾT TÁC GIẢ

(Tội ác rừng xanh, When our gardens grow silent)

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Lý luận, Lịch sử và Phê bình Điện ảnh - Truyền hình

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BÙI PHƯƠNG THANH

PHIM TÀI LIỆU VỀ ĐỀ TÀI ĐỘNG VẬT HOANG DÃ

CỦA LÊ HOÀI PHƯƠNG VÀ NGUYỄN MỸ DZUNG:

TIẾP CẬN TỪ LÝ THUYẾT TÁC GIẢ

(Tội ác rừng xanh, When our gardens grow silent)

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành:

Lý luận, Lịch sử và Phê bình Điện ảnh - Truyền hình

Mã số: 60 21 02 31

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Phạm Gia Lâm

HÀ NỘI – 2018

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 3

1 Mục đích, ý nghĩa của đề tài 3

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

4 Phương pháp nghiên cứu 13

5 Cấu trúc luận văn 14

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ THỂ LOẠI PHIM TÀI LIỆU VÀ “ĐIỆN ẢNH TÁC GIẢ” 15

1.1 Phim tài liệu như là một loại hình nghệ thuật điện ảnh 15

1.1.1 Khái niệm và phân loại phim tài liệu 15

1.2.2 Phim tài liệu về môi trường và động vật hoang dã 20

1.2 “Điện ảnh tác giả” - một hiện tượng của tư tưởng điện ảnh thế giới 24

1.1.1 Khái niệm "điện ảnh tác giả" 24

1.1.2 Sự ra đời và phát triển của "điện ảnh tác giả" 25

1.1.3 Xu hướng làm phim tài liệu độc lập 30

Tiểu kết 35

Chương 2: PHONG CÁCH LÀM PHIM CỦA LÊ HOÀI PHƯƠNG VÀ NGUYỄN MỸ DZUNG 37

2.1 Hai nhà làm phim – hai cách dấn thân, khám phá 37

2.1.1 “Làm phim về rừng ở Việt Nam, không ai hơn được tôi” (Lê Hoài Phương) 37

2.1.2 “Cho ̣n câu chuyê ̣n hướng tới loài vật để kể về câu chuyê ̣n loài người” (Nguyễn Mỹ Dzung) 42

2.2 Đặc điểm tự sự trong phim của Lê Hoài Phương và Nguyễn Mỹ Dzung 45

2.2.1Các biện pháp xây dựng kết cấu 45

2.2.2 Cấu trúc tự sự ba phần, tuyến tính 57

Trang 4

Tiểu kết 65

Chương 3: KỸ THUẬT SÁNG TẠO HÌNH ẢNH TRONGTỘI ÁC RỪNG XANH VÀ WHEN OUR GARDENS GROW SILENT 68

3.1 Quay phim 68

3.1.1 Dàn cảnh 68

3.1.2 Nghệ thuật quay phim 71

3.2 Kỹ thuật dựng phim 86

3.2.1 Thủ pháp cắt cảnh và dựng nối tiếp đặc trưng 86

3.2.2 Kĩ thuật tạo điểm nhấn - đóng băng khuôn hình và phi thời gian 95

3.3 Âm thanh và lời bình 99

3.3.1 Âm thanh 99

3.3.2 Lời bình: giọng điệu tác giả trong phim 101

Tiểu kết 103

KẾT LUẬN 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Mục đích, ý nghĩa của đề tài

Trong thời đại hiện nay, nhất là từ khi diễn ra quá trình toàn cầu hóa,môi trường sinh thái luôn là một trong những vấn đề nóng bỏng,không ít lầnnằm trong chương trình nghị sự của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, chẳng hạn như trong“United Nations Conference on the Human Environmen”[25]hoặc

“Report of The United Nations Conference on Environmental and Development” [33] Dĩ nhiên, vấn đề này cũng thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khoa học, từ khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật đến khoa học xã hội và nhân văn, như nhận định của Manfred B Steger:

“Cuộc cách mạng công nghiệp đã gây ra nhiều vấn đề sinh thái, bao gồm sự thiếu hụt tài nguyên và thực phẩm, tình trạng dân số đông, suy giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm và biến đổi khí hậu” [27, p.87] Hoạt động của con người, bao gồm làm mất môi trường sống, buôn bán động vật hoang dã, gây ô nhiễm

và biến đổi khí hậu đều góp phần tạo nên thực trạng này [12] Hiện nay, bên cạnh tình trạng biến đổi khí hậu và môi trường sinh thái, có một thực tế là số lượng lớn các loài động vật hoang dã trên trái đất đang dần biến mất Theo

BBC News – một tờ báo có hàng loạt bài về môi trường sinh thái bảo vệ động

vật hoang dã trên thế giới, những nghiên cứu được công bố năm 2014 đã đưa

ra dự báo động vật hoang dã toàn cầu sẽ chỉ còn phân nửa trong bốn thập niên nữa [2] Đây là vấn đề lớn, phức tạp mà mỗi quốc gia đang phải đối mặt, trong đó dĩ nhiêncó Việt Nam - quốc gia đứng thứ 16 trên thế giới về tính đa dạng sinh học cao (có khoảng 10.500 loài động vật, gồm xấp xỉ 8.000 loài côn trùng và động vật không xương sống ở đất, gần 500 loài bò sát, 850 loài chim

và 312 loài thú) [1] Tuy nhiên, đa dạng sinh học ở Việt Nam đang bị suy giảm nghiêm trọng mà nguyên nhân chính là do gia tăng dân số, mức tiêu thu tài nguyên ngày càng nhiều và khai thác quá m ức tài nguyên sinh vật Nói

Trang 6

riêng về nạn săn bắn và buôn bán trái phép động vật hoang dã, mặc dù Việt Nam đã xây dựng “Kế hoạch Hành động Quốc gia” (2007) đểtăng cường kiểm soát buôn bán động, thực vật hoang dã, nhưng do thịtrường buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp mang lại lại nhuận cao cùng với năng lực của các cơ quan thực thi pháp luật bảo vệđộng vật hoang dã còn hạn chế nên việc kiểm soát và ngăn chặn nạn buôn bán động vật hoang dã trái phép tới nay chưa đạt kết quả mong muốn Các loài động vật hoang dã bị buôn bán phổ biến là những loài được dùng trong thành phần bào chế các loại thuốc đông y

cổ truyền như gấu, khỉ, cầy cáo, rùa, kỳđà và trăn, rắn; nhiều loài chim cũng

bị bắt để bán làm chim cảnh Theo sốliệu thống kê của Cục Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), từnăm 2010 đến 2014, lực lượng kiểm lâm trên cảnước đã phát hiện và xửlý vi phạm về quản lý động vật hoang dã là 3.823 vụ, tịch thu 58.869 cá thểđộng vật hoang dã, trong đó có 3.078 cá thểthuộc loài nguy cấp, quý, hiếm Đáng lo ngại, một số loài, sản phẩm của các loài thuộc Danh mục nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệnhư tê tê, gấu, sừng tê giác, ngà voi đang trởthành hàng hóa được tiêu thụtrong nước

và được trung chuyển xuyên biên giới sang một sốnước trong khu vực Một

số loài quý hiếm ởViệt Nam như tê giác Java và bò xám hiện đã tuyệt chủng trong tựnhiên; các loài khác như hổ, voi và một sốloài linh trưởng, rùa quý hiếm, đặc hữu cũng đang phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng [8]

Đòi hỏi sự chung tay của các cá nhân, tổ chức, quốc gia trong việc bảo

vệ môi trường sinh tháilà hết sức cần thiết, đồng thời cũngmở ra khả năng tương tác của tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người, trong đó có văn hóa-nghệ thuật Với tư cách vừa là một loại hình nghệ thuật, vừa là một loại hình truyền thông đại chúng, điện ảnh có tác động to lớn đến nhận thức của con người về thế giới Trong điện ảnh thế giới, môi trường sinh thái là một đề tài mang tính quốc tế, toàn cầu, ngày càng chiếm vị trí đặc biệt Vì thế nó xuất

Trang 7

hiện ở hầu hết các thểloại điện ảnh, từ phim truyện kinh dị, khoa học huyễn/viễn tưởng, phim hài, đến phim hoạt hình, phim tài liệu, Riêng ở thể loại phim tài liệu, trong hai thập niên gần đây, điện ảnh thế giới đã biết đến

nhiều bộ phim nổi tiếng về môi trường sinh thái như Global Warming:

Doomsday Called Off (2004) của Lars Mortensen (Đan Mạch), The Cove

(Giải Oscar cho phim tài liệu hay nhất, 2010) và Racing Extinction (2015) của đạo diễn người Mỹ Louie Psihoyos, Cowspiracy: The Sustainability Secret

(2014) của Kip Andersen và Keegan Kuhn (Mỹ), [24] Những thành công của phim tài liệu về môi trường sinh thái đã khẳng định vai trò “thủ lĩnh” của

nó trong việc phản ánh và “hướng đạo” dư luận đối với những vấn đề xã hội cấp thiết này.Các phim về môi trường sinh thái và động vật hoang dã có một mục tiêu thống nhất là không chỉ giúp khán giả giải trí mà còn khiến họ suy nghĩ về môi trường xung quanh và có thái độ ứng xử tích cực đối với nó Mặt khác, có một thực tế đáng lưu ý là các phim tài liệu thành công về đề tài này, như các phim kể trên, là những phim thuộc về cái gọi là “điện ảnh độc lập”, nơi người đạo diễn có khả năng tốt nhất để thể hiện cá tính sáng tạo của mình.Tuy nhiên, về phương diện này, điện ảnh Việt Nam chưa có nhiều tác phẩm lớn, có khả năng làm “thay đổi cách nghĩ của chúng ta về động vật và

môi trường” [27].Trong tình hình đó, bộ phim Tội ác rừng xanh của đạo diễn

Lê Hoài Phương (2010, Giải “Cánh diều Vàng Việt Nam” 2011) và When our

gardens grow silent của nữ đạo diễn Nguyễn Mỹ Dzung (2014, Giải Ba Liên

hoan phim ngắn Quốc tế Faro FARCUME 2015) là một bước đột phá trong cách làm phim tài liệu về môi trường và động vật hoang dã, trong đó có nhiều điểm tiệm cận với cách làm phim của các đạo diễn nổi tiếng thế giới Những thành công của hai bộ phim tài liệu ngắn cũng góp phần vào việc thay đổi thị hiếu thẩm mỹ của công chúng Khán giả Việt trước nay vẫn thường nghĩ phim tài liệu chủ yếu là hình ảnh tư liệu mang tính giáo dục, phản ánh tình hình

Trang 8

chính trị-xã hội của đất nước Nhiều người cho rằng phim tài liệu khô khan, không diễn xuất, chỉ có lời bình đi kèm hình ảnh, nhịp phim chậm.… khó cạnh tranh được với phim truyện nói chung, nhất là các phim truyện nước ngoài của Hàn Quốc, Mỹ, Trung Quốc… đang “tràn ngập” các rạp chiếu phim

và màn ảnh nhỏ Do vậy, để thỏa mãn tính tò mò, có chăng người ta quan tâm đến phim tài liệu lịch sử nhiều hơn là phim tài liệu về đời sống hàng ngày, về những con ngườibình thường, có thật trong xã hội Trong khi đó có một thực

tế là tại các liên hoan phim trên thế giới cũng như ở Việt Nam, phim tài liệu luôn có một vị trí rất trang trọng Ngay cả giải Oscar danh giá cũng có chỗ đứng cho nhóm thể loại phim này Hơn thế nữa, người ta còn tổ chức các Liên hoan phim quốc tế dành riêng cho phim tài liệu (theo thống kê chắc hẳn chưa đầy đủ, từ 1955 đến 2018, trên cả 5 châu lục đã có 75 Liên hoan phim tài liệu

đã và đang diễn ra thường xuyên) [28]

Theo cách phân chia phổ biến hiện nay trong lý luận điện ảnh, phim tài

liệu(documentary film) là một thể loại thuộc loại hình phi hư cấu (non-fiction

cinema), bên cạnh các thể loạiphim khoa học-thường thức (popular-scientific film) và phim lịch sử (chronic film) Ngay bên trong thể loại phim tài liệu

cũng có sự khác biệt giữaphim tài liệu có thực (true documentary), phim tài liệu/ truyện tài liệu (pseudo-documentary/docudrama), và phim khoa giáo (educational films).Việc xác định những đặc trưng chung của thể loại phim tài liệu và những biến thể của nó cũng như mỹ học của điện ảnh tác giả là những vấn đề lý luận đang được giới nghiên cứu điện ảnh quan tâm để trên cơ sở tham chiếu đó khám phá sự cách tân, sáng tạo của những trường hợp tác giả phim cụ thể

giả-Từ những cơ sở thực tiễn và lý luận nêu trên, chúng tôi lựa chọn đề tài

cho luận văn của mình là Phim tài liệu về đề tài động vật hoang dã của Lê

Hoài Phương và Nguyễn Mỹ Dzung: Tiếp cận từ lý thuyết tác giả (Tội ác

Trang 9

rừng xanh, When our gardens grow silent) Nghiên cứu phong cách làm phim

của hai đạo diễn trên chúng ta có thể thấy được sự đổi mới của điện ảnh tài liệu Việt Nam trong những năm gần đây cũng như những khó khăn của người làm phim về đề tài môi trường, bảo vệ động vật hoang dã, góp phần vào việc đưa ra các giải pháp hỗ trợ phát triển cho dòng phim tài liệu về đề tài này

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Như trên đã nói, đề tài luận văn của chúng tôi liên quan đến những vấn đề thuộc phương diện lý thuyết là mỹ học “điện ảnh tác giả”, thể loại phim tài liệu và phương diện thực tiễn phim tài liệu về động vật hoang dã trong điện ảnh thế giới và Việt Nam nói chung, phim của Lê Hoài Phương và Nguyễn

Mỹ Dzung nói riêng

Về phương diện lý thuyết, lịch sử nghiên cứu vấn đề mỹ học của điện ảnh tác giả và đặc trưng thể loại của phim tài liệu sẽ được chúng tôi trình bày cụ thể hơn ở Chương 1 với tư cách là cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu đặc điểm sáng tạo của hai đạo diễn Lê Hoài Phương và Nguyễn Mỹ Dzung thông

qua hai bộ phim Tội ác rừng xanh và When our gardens grow silent

Về phương diện thực tiễn, trên bình diện thế giới, sự phát triển mạnh mẽ phim tài liệu về động vật hoang dã nói riêng, môi trường sinh thái nói chung với những tác phẩm xuất sắc được giới thiệu qua các Liên hoan phim tài liệu quốc tế ở Anh, Đức, Hà Lan, Hy Lạp, Mỹ, Canada, Nhật… [28] đã thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu điện ảnh Khảo sátmức độ ảnh hưởng đến công chúng khán giả, một số nhà nghiên cứu phê bình điện ảnh đã đưa ra những danh sách phim về môi trường thuộc các top khác nhau [24], [26], [28]

Chẳng hạn, trong một bài phê bình phim trên tuần báo The Georgia Straight

năm 2007, Ken Eisner đã điểm 10 phim về môi trường trong thời gian từ 1961 đến 2006 với những chủ đề về sự nóng lên của trái đất, ảnh hưởng môi trường

Trang 10

từ các vụ thử hạt nhân, ô nhiễm chất thải công nghiệp, khiến con người chịu

áp lực căng thẳng, các đàn chim phải di cư, v.v…, trong đó có phim mang tính chất một “tiểu luận triết học bằng âm nhạc và điện ảnh”, có phim sáng tạo về kỹ thuật với việc quay bằng ống kính góc rộng, khổ phim 65mm, hình ảnh cận cảnh tạo hiệu ứng thị giác mạnh,… [26] Trong khi đó, Love Bret và

Mary Gabbetttrên trang The Green Global Travel đã giới thiệu danh sách 10

phim tài liệu về môi trường được đề cử giải Oscar trong khoảng thời gian từ

2002 đến 2011 Theo hai tác giả, đây là những phim xuất sắc vì không chỉ đề

cập đến những vấn đề cấp thiết toàn cầu như tình trạng trái đất nóng lên (An

Inconvenient Truth), sự tổn hại môi trường sinh thái (Darwin's Nightmare),

chim di trú (March of the Penguin), nạn phá rừng (If A Tree Falls A Story of

The Earth Liberation Front), sự ngược đãi cá heo trong các trại nuôi nhốt

(The Cove),…mà còn có những khám phá độc đáo trong sáng tạo hình ảnh (Winged Migration, Encounters at the End of the World,…) Chính tính vấn

đề và hiệu quả nghệ thuật đã đem lại cho các phim này những giải thưởng tại nhiều Liên hoan phim tài liệuquốc tế, được đề cử và thậm chí đoạt giải

Oscar[23] Cũng nói về sức tác động của loại phim này, trên One Green

Planet (2017), Kate Good có bài “6 Documentaries That Will Change the

Way You Think About Animals and the Environment” [27] Tác giả bài báo cho rằng “phim tài liệu có thể làm cho ta thay đổi cách nhìn về thế giới”, truyền cảm hứng cho ta hành động mà trước đấy, vì lý do nào đó, ta chưa tính đến Và “xem phim tài liệu cùng với những người trong gia đình và bạn bè sẽ

tạo nên hiệu ứng thay đổi domino” Đơn cử như hai trường hợp The Cove (2009) và Blackfish(2013) Từ khi công chiếu lần đầu đến tháng 9.2014, trên thế giới đã có khoảng 50 triệu người xemThe Cove, 60 triệu người xem

Blackfish Kết quả là năm 2010 Viện Bảo vệ Thiên nhiên Quốc gia của

Croatia đã ban hành quy định cấm nuôi nhốt động vật biển có vú vì mục đích

Trang 11

thương mại;việc cấm nhập/xuất khẩu cá voi cũng đã được thực thi ở Sip/Quần đảo Salomon; năm 2013 Quốc hội Mỹ đã nhất trí thông qua một sửa đổi yêu cầu Bộ Nông nghiệp nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện nuôi nhốt cá voi Orcas và động vật biển lớn có vú khác để cập nhật các quy định của luật Phúc lợi Động vật (Animal Welfare Act) [27] Cùng chủ đề này, Gregg Mitman

trong cuốn Reel Nature: America's Romance with Wildlife on Film (2009) cho

rằng sự phát triển của khoa học và công nghệ mới đã tạo ra những cuộc gặp

gỡ của người Mỹ với động vật hoang dã trên và ngoài màn hình lớn Những

bộ phim về động vật hoang dã đã có ảnh hưởng to lớn đến cách người Mỹ nhìn, suy nghĩ, tiêu dùng và đấu tranh để bảo vệ động vật trên toàn cầu [28] Không chỉ giới thiệu những thành công của phim tài liệu về môi trường sinh thái và động vật hoang dã, giới phê bình điện ảnh còn đi sâu phân tích những phương pháp tiếp cận, kỹ thuật và công nghệ làm phim loại này Chẳng

hạn, Jonathan Burt trong cuốn Animals in Film (2002) đã nói về những thách

thức kỹ thuật và cách tiếp cận của các nhà làm phim đầu tiên về động vật khi

mà chúng luôn di động Nhưng đó cũng là cơ hội để có những thay đổi quan trọng và sâu rộng nhất trong việc đưa động vật lên phim ở thế kỷ XX Còn

cuốn Cameras into the Wild: A History of Early Wildlife and Expedition

Filmmaking,1895 - 1928(2011) của Palle B Pettersonlại kể về việc các nhà

làm phim tài liệu đã mạo hiểm vượt qua những khó khăn, khắc nghiệt của tự nhiên trong quá trình làm phim Những người đàn ông và phụ nữ đã phải vật lộn với những thiết bị nặng nề và cồng kềnh, khảo sát và quay phim về động vật hoang dã từ mọi góc độ Những nỗ lực ban đầu về làm phim thiên nhiên

và phim viễn thám trong điều kiện kỹ thuật là những chiếc máy ảnh, máy quay Ngoài ra, sách còn đề cập đến vai trò, giá trị mà những bộ phim về tự nhiên đem lại trong việc bảo vệ những vùng hoang dã Cuộc hành trình của các nhân vật đã được ghi lại một cách sống động qua từng thước phim Nói về

Trang 12

sự hỗ trợ của công nghệ trong việc làm phim tài liệu về động vât hoang dã, Dan Rees, đạo diễn đồng thời cũng là nhà sản xuất các series phim tài liệu

truyền hình nổi tiếng như Wild Arabia (2013), Atlantic: The Wildest Ocean on

Earth (2015) và Animals with Camera (2018), đã chia sẻ trên BBC News về

cách gắn camera vào động vật để các nhà khoa học giám sát những nơi chúng

di chuyển cũng như hành vi của chúng: “Pin đủ nhỏ Camera đủ nhỏ Một bộ cảm biến đủ nhỏ để mang lại hình ảnh độ nét cao, có thể tạo ra một video chuyển động chậm Bạn gắn vào con vật một chiếc camera có kích thước phù hợp sao cho chúng cảm thấy thoải mái, không ảnh hưởng đến hành vi của chúng” Nhưng công nghệ không phải là mục đích tự thân “Để có thể theo dõi một con vật, trước hết cần phải hiểu rõ ích lợi của việc này để trong tương lai nó giúp cho việc bảo vệ loài vật đó” [30]

Ở Việt Nam, trong khoảng môt thập niên trở lại đây, trước tình trạng gia tăng nạn săn bắt và buôn bán động vật hoang dã, nhiều phươngg tiện truyền

thông trong và ngoài nước đãlên tiếng Ta có thể đọc trên BBC Newstrong hai

năm trở lại đây những bài báo có nhan đề như “Bảo vệ động vật hoang dã: Việt Nam không thể làm ngơ” (17.11.2016), “Sáu người Việt bị bắt vì săn bắt

hổ ở Malaysia” (07.07.2018), “Việt Nam: Dùng mạng xã hội buôn bán động vật hoang dã” (12.7.2018), …Mật độ đưa tinvề chủ đề này trên báo chí trong nước còn nhiều hơn Bên cạnh báo chí, việc tuyên truyền bảo vệ động vật hoang dã cũng trở thành chủ đề của nhiều hội thảo, gala, nội dung môn học ở bậc phổ thông [5], [16], [20]

Đề tài bảo vệ động vật hoang dã trong điện ảnh Việt Nam được ghi nhận

ở sự kiện WildFest – Lễ hội chiếu phim và trình diễn âm nhạc ngoài trời về

động vật hoang dã đầu tiên của Việt Nam (11.2015) diễn ra tại trung tâm Hoàng Thành Thăng Long, Hà Nội Trong đó, đặc biệt hơn hết là chương trình chiếu phim ngắn và trao giải thưởng cho những tác phẩm tham gia cuộc

Trang 13

thi Wildfest – Cuộc thi làm phim ngắn về bảo vệ động vật hoang dã WildFest được khởi động vào cuối tháng 6/2015 là một phần của chương trình “Cùng hành động tạo sự thay đổi” (Operation Game Change – viết tắt OGC) là một chiến dịch quốc gia nhằm thu hút sự chú ý và tạo ảnh hưởng đối với cộng đồng về các vấn đề có liên quan tới nạn buôn bán động vật hoang dã tại Việt Nam, đặc biệt nhằm chấm dứt việc buôn bán sừng tê giác Hoạt động này muốn tuyên truyên vai trò quan trọng của mỗi người dân trong nỗ lực ngăn chặn nạn săn bắt, mua bán và tiêu thụ những động vật hoang dã Đại sứ thiện chí của OGC/ WildFest là đạo diễn Charlie Nguyễn, diễn viên Hồng Ánh, MC Anh Tuấn, MC Thuỳ Minh Trong khuôn khổ cuộc thi có những bộ phim

tham gia tranh giải: Chuyện chiếc sừng tê giác (Hoan Nguyễn), Nhật ký trong

chuồng (Nguyễn Bình Giang), Điệp vụ tê giác (Dương Minh Lộc), Không tên

(Phạm Hoàng Phúc), Những con thú đi đâu rồi ba (Mai Đình Khôi), Khi khu

vườn im lặng (Nguyễn Mỹ Dzung)… Bộ phim Khi khu vườn im lặng của đạo

diễn Nguyễn Mỹ Dzung đoạt giải thưởng đặc biệt của Ban giám khảo và đến

năm 2016 đoạt giải Ba trong Liên hoan phim ngắn Quốc tế Faro FARCUME (Bồ Đào Nha) với nhan đề dịch sang tiếng AnhWhen our gardens grow silent Ngoài cuộc thi Wildfest,ở Việt Nam còn có Liên hoan phim môi trường toàn quốc Vì môi trường Việt Nam xanh, do Bộ Tài nguyên và Môi trường

phối hợp với Hội Điện ảnh Việt Nam và Đài truyền hình Việt Nam tổ chức 3 năm một lần, bắt đầu từ 2001, với các thể loại phim truyện, phim tài liệu, phóng sự, phim hoạt hình, phim khoa học Tại Liên hoan phim lần thứ 4

(2010), bộ phim tài liệu Tội ác rừng xanh của đạo diễn Lê Hoài Phương đoạt giải cao nhất – giải “Việt Nam xanh” Cũng trong năm này, Tội ác rừng xanh

đã đoạt giải Cánh Diều Vàng cho hạng mục phim tài liệu và đạo diễn Lê Hoài Phương đoạt giải đạo diễn phim tài liệu xuất sắc

Trang 14

Ở Việt Nam, hiện tại cũng chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu phim tài liệu về đề tài môi trườngvà động vật hoang dã nói chung, phim của Lê Hoài Phương và Nguyễn Mỹ Dzung nói riêng Nói chung, những bài

viết về 2 bộ phim đăng trên các báo Thế giới điện ảnh, Tài nguyên và Môi

trường, VietnamExpress, VietnamNet, Tuổi trẻ, Công an nhân dân, Quảng Trị chỉ dùng lại ở việc thông tin về chúng như một sự kiện điện ảnh/văn

hóa-xã hội nhân các tác giả được nhận giải thưởng [4], [9], [21], [22]

Nhữngvấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên về phim tài liệu về động vật hoang dã là những gợi ý định hướng cho chúng tôi triển khai đề tài nghiên cứu của mình

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Theo tên gọi của đề tài, chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự sáng tạo của hai đạo diễn phim tài liệu với tư cách là những nhà làm phim độc lập về đề tài bảo vệ môi tường thiên nhiên và các loài động vật hoang dã trên các phương diện cấu trúc tự sự và kỹ thuật quay phim

Trong luận văn này người viết lựa chọn khảo sát hai tác phẩm: Tội ác

rừng xanh của Lê Hoài Phương và When our gardens grow silent của Nguyễn

Mỹ Dzung Bộ phim Tội ác rừng xanh mặc dù chưa được tác giả công bố bản

đầy đủ do một số vấn đề về bản quyền và điều kiện cá nhân của đạo diễn Chúng tôi đã có liên lạc và trao đổi nhưng không lấy được bản đầy đủ, bản được khảo sát đã được sự đồng thuận của đạo diễn khi nghiên cứu vì nó có đầy đủ yếu tố chính mà đạo diễn muốn truyền tải đến người xem cũng như cấu thành bộ phim.Có thể nói hai bộ phim trên là hai trường hợp tiêu biểu của phim tài liệu Việt Nam về đề tài môi trường và động vật hoang dã, đã được đánh giá cao và nhận được nhiều giải thưởng lớn trong và ngoài nước Dĩ nhiên, để hiểu được cá tính sáng tạo của hai đạo diễn, chúng tôi sẽ tham

Trang 15

khảo/tham chiếu thêm một số phim khác của họ (Vàng Anh loài chim huyền thoại, 2007của Lê Hoài Phương, Khe hởcủa Nguyễn Mỹ Dzung, Giải Cánh

diều Bạc 2008) và hai phim cùng thể loại, đề tài của đạo diễn người Mỹ Louie

Psihoyos(The Cove - Giải Oscar cho phim tài liệu hay nhất năm 2010) và

Racing Extintion, 2015)

Ngoài việc tham chiếu những tác phẩm điện ảnh kể trên, trong luận văn chúng tôi có tham khảo nhiều nguồn tài liệu liên quan khác nhau, chủ yếu bằng tiếng Việt và tiếng Anh Nhữngtrích dẫn hay ý kiến không phải của chúng tôi đều được để trong ngoặc kép và ghi rõ xuất xứ trong mục Tài liệu tham khảo

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Hướng tiếp cận

Chúng tôi vận dụng cách tiếp cận từ góc độ Lý thuyết tác giả, nghĩa là căn cứ vào những đặc điểm của mô hình điện ảnh tác giả để tìm ra những nét độc đáo cũng như điểm chung của hai đạo diễn Lê Hoài Phương và Nguyễn

Mỹ Dzung trong các phim Tội ác rừng xanh và When our gardens grow

silent

Mặt khác, cách tiếp cận từ góc độ thể loại cũng là định hướng để chúng tôi phân tích những đặc điểm trong cách làm phim tài liệu về môi trường thiên nhiên và động vật hoang dã của hai đạo diễn

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được vận dụng trong luận văn là phân tích phim theo thể loại Mỗi thể loại phim sẽ có những đặc điểm riêng không chỉ ở mục đích, chức năng của nó mà còn ở ngôn ngữ của nó, với những “quy trình” và công nghệthực hiện riêng

Trang 16

Ngoài ra, phim tài liệu, như trên đã nói, luôn gắn với những vấn đề thời

sự của cuộc sống con người nên khi phân tích nó rất cần có sự kết hợp cách phân tích xã hội học và nhân học sinh thái trên bình diệnxem xét mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu

3 chương, tương ứng với 3 nhiệm vụ của đề tài

Chương 1 Những vấn đề về thể loại phim tài liệu và “điện ảnh tác giả”

Đây là chương có chức năng một “khung lý thuyết” nhằm a) xác định những đặc trưng thể loại của phim tài liệu (ngắn)/documentary short film tương ứng với thể loại của 2 phim được nghiên cứu và b) xác định những đặc điểm của mô hình “điện ảnh tác giả” làm căn cứ cho 2 chương sau phân tích những biểu hiện của nó trong 2 phim

Chương 2.Phong cách làm phim của Lê Hoài Phương và Nguyễn Mỹ Dzung

Chương này tập trung phân tích 2 đặc điểm nổi bật trong cấu trúc tự sự của 2 phim được khảo sát với tư cách là hai trong số những đặc điểm của kiểu

“làm phim tác giả” Qua đó, làm nổi bật phong cách làm phim mang cá tính

sáng tạo của hai đạo diễn là tính phóng sự trong Tội ác rừng xanhvàchất thơ trongWhen our gardens grow silent

Chương 3 Kỹ thuật sáng tạo hình ảnh trong “Tội ác rừng xanh”và “When our gardens grow silent”

Chương này phân tích những sáng tạo của 2 đạo diễn với tư cách là những nhà làm phim độc lập, căn cứ vào những đặc thù của kiểu làm phim tài liệu về động vật hoang dã

Trang 17

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ THỂ LOẠI PHIM TÀI LIỆU VÀ

“ĐIỆN ẢNH TÁC GIẢ”

1.1 Phim tài liệu như là một loại hình nghệ thuật điện ảnh

1.1.1 Khái niệm và phân loại phim tài liệu

Đã có rất nhiều công trình trên thế giới nghiên cứu về bản chất thể loại cũng như phương pháp làm phim tài liệu Đơn cử một số công trình được công bố bằng Anh ngữ trong thời gian khoảng hai mươi năm trở lại đây:

Trong cuốn The Art of Record: A Critical Introduction to Documentary/

Nghệ thuật ghi âm: Một nhập môn quan trọng về phim tài liệu (1996,

Manchester University), John Corner đã đưa ra một cái nhìn tổng quan, sáng

rõ về các vấn đề lý luận và các cuộc tranh luận quan trọng xung quanh phim tài liệu, những cuộc thảo luận về sự phát triển của các phong cách và những cách tiếp cận chủ yếu, bao gồm cả kết hợp giữa sự thật và hư cấu (dramadoc)

và quay lén (fly-on-the-wall) Ông cũng xem xét đặc tính kép của tác phẩm phim tài liệu: đó vừa như một kết quả điều tra/khám phá khoa học, vừa như một nguồn tham chiếu Cuốn sách cũng phân tích chi tiết các ví dụ cụ thể về

các bộ phim và chương trình truyền hình lớn như Cathy Come Home, Life and

Timesof Rosie the Rivetter và When the Dog Bites

John Grierson trong bài “First Principles of Documentary”/ “Những

nguyên tắc đầu tiên của phim tài liệu” in trong cuốn Imagining reality:

the Faber book of documentary / Thực tế bằng hình ảnh: Sách về phim tài liệu của Nhà xuất bản Faber do Kevin Macdonald và Mark Cousins biên soạn

(London, 1998) cho rằng phim tài liệu là cách “khám phá bằng nghệ thuật những sự thật bị che giấu” và phim tài liệu không chỉ quan sát và ghi hình những gì đang xảy ra xung quanh, mà thông qua phim tài liệu, bạn có thể trải

Trang 18

nghiệm và tập trung vào nhiều vấn đề khác nhau Vẻ đẹp của phim tài liệu có khả năng thông tin và giáo dục trong bối cảnh có những tham chiếu trực tiếp đời sống hiện thực Mặc dù phim tài liệu được coi là một tác phẩm “thô”, làm

từ “vật liệu tự nhiên” (John Grierson) nhưng việc làm phim tài liệu luôn đối diện với những thách thức từ thực tiễn Điều đó đã được các tác giả

A.Rosenthal và J.Corner của cuốn New challenges for documentary/Những

thách thức mới cho phim tài liệu (Manchester University Press, 2005) trình

bày chi tiết qua cái nhìn bên trong của bản thân nhà sản xuất và đạo diễn, qua

sự tham chiếu đến những vấn đề đạo đức và thẩm mỹ, sự biến đổi của bối cảnh truyền hình cũng như sự “tranh chấp biên giới” thể loại (docudrama) Nói về sự “tranh chấp biên giới” hay là sự giao thoa giữa hư cấu và phi hư cấu, một số nhà nghiên cứu coi “phim tài liệu là một ngành sản xuất phim với việc đi vào thực tế, chụp ảnh, định hình, chỉnh sửa nó, đưa ra một khuôn mẫu

cho sự quan sát trực tiếp” (J.Staiger, Docudrama) hay “phim tài liệu là sự tái định hình lịch sử thế giới ít nhiều mang tính xảo thuật” (M.Renov, Theorizing

documentary, 1993),…

Lịch sử điện ảnh đã chỉ ra rằng phim tài liệu là nhóm thể loại ra đời sớm nhất, căn cứ vào cách thức làm phim Đó là việc, vào buổi bình minh của điện ảnh, khi mọi quan niệm về thể loại và các chức danh nghiệp vụ của bộ môn nghệ thuật này còn chưa ra đời, để làm ra một bộ phim (thường chỉ dài khoảng vài ba phút chiếu) người ta cứ hồn nhiên vác máy đi bất cứ đâu, ghi hình bất kì cái gì họ muốn (toàn là những người thật, việc thật) dẫn đến sự ra đời của nhóm thể loại đầu tiêntrong điện ảnh: phim thời sự-tài liệu Còn các nhóm thể loại khác, như phim khoa học, phim hoạt hình và phim truyện, ra đời sau.Nhưng có lẽ không phải ngẫu nhiên mà gần như tất cả các đạo diễn phim truyện đều ít nhiều thử sức trong lĩnh vực phim tài liệu, vì nhóm thể loại này bao giờ cũng có một sức hấp dẫn riêng.Đó là chưa kể đến những người

Trang 19

suốt đời gắn bó với phim tài liệu, thậm chí tạo nên cả một khuynh hướng hay trường phái, như R.J.Flaherty (Mỹ), Dziga Vertov (Nga Xô viết) từ đầu thế kỉ

XX Muộn hơn, có thể kể đến R Karmen (Liên Xô), Xương Hạc Linh (Trung Quốc), Fadel Soliman (Ai Cập),Joris Ivens (Hà Lan), v.v… Ở Việt Nam, là những tên tuổi như Khương Mễ, Mai Lộc, Nguyễn Tiến Lợi (thời kì đầu), Bùi Đình Hạc, Nguyễn Ngọc Quỳnh, Trần Văn Thủy, Đào Trọng Khánh, Lê Mạnh Thích và nhiều gương mặt khác của hôm nay Với mảng phim tài liệu truyền hình, không thể quên được Trịnh Văn Thanh, Bùi Ngọc Hà, Lê Thuấn, Trần Minh Đại, Vi Hòa…

Trong số các thể loại phim tài liệu, thể loại phim phổ biến nhất là phim tài liệu thời sự (newsreel), được làm ra bằng cách xâu chuỗi các hình ảnh từ các nguồn tư liệu có trước đó Phim tài liệuthời sự có đặc trưng ghi lại một sự kiện đang diễn ra với sự sắp xếp tối thiểu của nhà làm phim, loại phim này phát triển trong thời kì công nghệ lên ngôi khi máy móc được cải tiến một cách hiện đại Thể loại tiếp theo là phim tài liệu về tự nhiên (discovery), loại phim thường dùng ống kính phóng đại để khám phá thế giới của các loài côn trùng, quay lại quá trình hình thành và phát triển của các loại động thực vật Ngoài ra, còn có những bộ phim về khoa học khám phá các hiện tượng tự nhiên của con người Những phim tài liệu khắc họa chân dung, miêu tả, quan sát và ghi lại hình ảnh của những người nổi tiếng, những người đặc biệt hoặc đặc trưng cho một tầng lớp xã hội nào đó

Theo một số tài liệu nghiên cứu có viết, phim tài liệu được nhắc đến với nhiều tiểu thể loại khác nhau như:Phim tài liệu chiến tranh, với đề tài là các cuộc chiến, ghi lại cái gọi là chiến tranh, sự đấu đá và nỗi thống khổ của con người; Phim tài liệu khoa học với chủ đề về cuộc sống, thiên nhiên và con người, các nhà làm phim tìm tòi khám phá mọi thứ xung quanh ; Phim tài liệu lịch sửmang mục đích giáo dục và làm tư liệu với việc ghi hình lại những

Trang 20

khoảnh khắc đáng nhớ đã xảy ra theo dòng lịch sử của con người; Phim tài liệu theo quốc gia: đây là thể loại có sự liên kết với bên ngoài, hình ảnh đặc trưng của con người và đất nước với mục đích chính trị; Phim tài liệu tuyên truyền, mang mục đích xã hội nhằm giáo dục nhận thức của con người, chia

sẻ thông tin đến cộng đồng

Theo nhà phê bình phim Bill Nichols, ông xác định phim tài liệu có năm loại: mô tả, quan sát, phản thân, tương tác và dàn dựng [23].Nhưng cũng có một số tài liệu nghiên cứu phân chia phim tài liệu thành sáu thể loại cơ bản: Phim tài liệu thi ca (poetic documentary) mục tiêu tạo ra một cảm nhận chứ không chỉ là phản ánh sự thật; Phim tài liệu mô tả (expository documentary)nhằm mục đích thông báo và hoặc thuyết phục; Phim tài liệu quan sát (observational documentary)cũng giống như tên gọi của nó - chúng nhằm mục đích đơn giản là quan sát thế giới xung quanh Nó có nguồn gốc từ những năm 1960 với những tiến bộ trong thiết bị làm phim di động, phong

cách cinéma vérité ít tập trung hơn dòng phim mô tả; Phim tài liệu có sự tham

gia (participatory documentary) mang các yếu tố của phim tài liệu quan sát và

mô tả, có cả nhà làm phim trong câu chuyện có thể từ những điều rất nhỏ như tiếng nói của nhà làm phim sau máy quay; Phim tài liệu phản thân (reflexive documentary)tương tự như phim tài liệu tham gia, trong đó thường bao gồm nhà làm phim trong bộ phim - tuy nhiên nó chỉ tập trung vào bản thân bộ phim và hành động làm nên bộ phim; Phim tài liệu trình diễn (performative documentary)là một sự kết hợp phong cách thực nghiệm, thường kết nối cá nhân hoặc trải nghiệm sau đó đối chiếu với những vấn đề chính trị, xã hội.Điều này đôi khi được gọi là “phong cách Michael Moore”, thường dùng các câu chuyện cá nhân để tạo dựng chân lý xã hội (mà không cần phải tranh luận tính hợp lệ của trải nghiệm) Ngoài ra, còn cócách phân các loại phim tài liệu theo hình thức-chức năng như phim tài liệu có thực (true documentary),

Trang 21

phim khoa giáo (educational films) và phim giả tài liệu (pseudo - documentary),… hoặc theo cách làm phim: phim tài liệu độc lập (independent documentary) là loại phim không gắn với xưởng phim lớn hoặc hãng phim nào, người làm phim sẽ phải chủ động trong mọi vấn đề; phim tài liệu truyền hình (TV documentary) trái ngược với phim độc lập, chịu sự kiểm soát chặt chẽ về cả nội dung và hình thức, đảm bảo tính chính luận và tính thời sự của báo chí nhằm phù hợp với đặc trưng của loại hình truyền thông đại chúng

Có thể thấy trong mỗi thể loại đều có những cách biến thể khác nhau tạo nên những phong cách độc đáo cho mỗi bộ phim và những người làm phim.Nó tùy thuộc vào mục tiêu của nhà làm phim tài liệu trong việc tạo ra câu chuyện (hoặc phi cốt truyện) cho đối tượng khán giả Điện ảnh là sự giao thoa giữa nhiều thể loại, là sự kết hợp hài hòa giữa nhiều yếu tố để có thể làm nên một bộ phim.Ranh giới giữa phim tài liệu và những loại phim khác như phim tài liệu và phim truyện, phim tài liệu và phóng sự đôi khi là rất mong manh, …Cho đến tận bây giờ, người ta còn tranh luận phim tài liệu có phải là tác phẩm nghệ thuật hay là tác phẩm báo chí; cơ chế sự giao thoa giữa nghệ thuật (điện ảnh) và báo chí (truyền hình) trong phim tài liệu,…

Nói tóm lại, phim tài liệu là một thể loại phim tập trung khai thác mọi khía cạnh trong đời sống ở góc độ chân thực và tự nhiên nhất Dù vẫn còn những quan niệm khác nhau, người ta vẫn không thể phủ nhận rằng phim tài liệu, cũng giống như các thể loại tác phẩm báo chí truyền hình đều có chung một gốc: đó là tất cả đều phải xuất phát từ những hình ảnh có thật đã và đang tồn tại trong cuộc sống Phim tài liệu được phân loại theo nhiều cách khác nhau: theo đặc trưng, phong cách hoặc theo nội dung, chủ đề Có những bộ phim theo chủ đề con người, thiên nhiên, môi trường, các loài động vật … mỗi người làm phim sẽ có những cách khác nhau để thực hiện ý tưởng đó của

Trang 22

mình Rốt cuộc khuynh hướng chung của thể loại này vẫn là việc đề cao tính chân thực bên cạnh tính nghệ thuật

Luận văn sẽ tập trung vào thể loại phim tài liệu quan sát theo hệ thống phân loại của nhà phê bình phim Bill Nichols Đặc biệt thể loại này gắn liền với các nhà làm phimtài liệu độc lập, độc lập đúng với nghĩa của nó, đó là sự sáng tạo cá nhân của người làm phim, là sự độc lập trên tất cả các phương diện để có thể làm nên một bộ phim theo đúng ý mình Ngoài ra, luận văn cũng sẽ tìm hiểu chủ đềphim tài liệu về tự nhiên, nó có thể là sự kết hợp giữa việc có sự tham gia của người làm phim nhằm mục đích phản ánh, tuyên truyền những hiện tượng, vấn đề của xã hội Cụ thể hơn là phim tài liệu về động vật hoang dã, nhưng không phải là quá trình hình thành, phát triển của các loài động vật trong tự nhiên như người xem vẫn thường được thấy trên

các kênh truyền hình mà là phim về đề tài bảo vệ động vật hoang dã Loại

phim này nhằm mục đích bảo vệ thiên nhiên trước sự hủy hoại của con người

Vì vậy nó sẽ không phải là khám phá đời sống bình an của các loài động vật,

mà mỗi thước phim sẽ là sự so sánh, đối chiếu giữa những tác động của con người tới cuộc sống của các loài động vật Không phải là hình ảnh những chú voi con được sinh ra đáng yêu như thế nào, những con sư tử kiêu hãnh trên mảnh đất hoang hay là những đàn chim bay lượn trên bầu trời xanh ngắt đầy bình yên … mà là những con vật đang hoảng sợ, kêu riết bởi sự đuổi bắt của con người, là những xác động vật nằm la liệt ngoài đường nhằm thỏa mãn thú vui của con người, là những hình ảnh đầy đau xót, người xem có thể rùng mình, hoảng sợ

1.2.2 Phim tài liệu về môi trường và động vật hoang dã

Đây là tiểu thể loại của phim tài liệu quan sát, bởi nó mang những yếu tố đặc trưng của thể loại đúng như tên gọi, bộ phim được kết nối bằng những

Trang 23

“quan sát” của người đạo diễn Trong phim Tội ác rừng xanh (Lê Hoài

Phương), nhà làm phim đã quan sát cuộc sống của bầy khỉ trong rừng, quan sát sinh hoạt của những người dân và mô tả lại những hoạt động săn bắt thú

rừng của họ Còn trong phim When our gardens grow silent(Nguyễn Mỹ

Dzung),tác giả-đạo diễn tường thuật lại những trải nghiệm, những quan sát của mình khi quay trở về nơi cô đã từng trải qua tuổi thơ của mình

Phim về động vật hoang dã tuy không phải đề tài mới mẻ, nhưng những thước phim về thực trạng săn bắt động vật hoang dã thì vẫn còn khá ít ỏi tại Việt Nam Trước kia khi con người và thiên nhiên vẫn còn chung sống hoà thuận, con người sống nhờ vào nguồn tài nguyên của bà mẹ thiên nhiên thì những vấn đề như săn bắt động vật hoang dã là điều hiếm thấy Trước thế kỉ

19, số lượng động vật hoang dã phong phú và đa dạng Nhưng đến những năm gần đây nhiều loài động vật hoang dã đã nằm trong mức báo động khi tệ nạn phá rừng ngày một tăng cao Phá rừng đồng thời làm mất đi môi trường sống của nhiều loài động vật, những con thú mất nơi trú ẩn, nguy hiểm rình rập ở khắp mọi nơi, nguồn thức ăn cũng trở nên khan hiếm

Theo tư liệu của Hoàng Thị Thanh Nhàn trong bài “Bảo tồn các loài

hoang dã nguy cấp ở Việt Nam” đăng trên báo Nhân Dân ngày 18.02.2017,

Việt Nam được ghi nhận là quốc gia có tính đa dạng sinh học cao với khoảng 7.500 loài chủng vi sinh vật; 20 nghìn loài thực vật bậc cao trên cạn và dưới nước; 10.500 loài động vật trên cạn; 1.000 loài cá nước ngọt; dưới biển có hơn 7.000 loài động vật không xương sống, khoảng 2.500 loài cá và xấp xỉ 50 loài rắn biển, rùa biển và thú biển Tuy nhiên, những năm gần đây, tính đa dạng sinh học của Việt Nam đang trên đà suy giảm, nhất là nhiều loài nguy cấp, quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng cao Theo sách đỏ của Liên minh Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN): nếu như năm 1996 chỉ có 25 loài động vật của Việt Nam ở mức nguy cấp (EN), thì tính đến tháng 9 năm 2016, con số

Trang 24

này đã lên tới 110 loài Tổng số các loài động vật quý, hiếm đang nguy cấp tăng từ 365 loài (năm 1992) lên 418 loài (năm 2007); thực vật quý, hiếm tăng

từ 356 loài (năm 1996) lên 464 loài (năm 2007), trong đó có 116 loài đang ở mức nguy cấp rất cao; chín loài chuyển từ các mức nguy cấp (năm 2004) lên mức coi như đã tuyệt chủng, như tê giác hai sừng, bò xám, heo vòi, cầy rái cá,

cá sấu hoa cà, hươu sao Số lượng cá thể của các loài quan trọng đã giảm đến mức báo động, nhất là các loài thú lớn và một số loài linh trưởng như: hổ, voi, vượn, voọc, sao la…Theo số liệu thống kê của Cục Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho thấy: từ năm 2010 đến hết tháng 8 năm

2016, lực lượng kiểm lâm cả nước đã phát hiện và xử lý hơn 174 nghìn vụ vi phạm pháp luật về quản lý, phát triển, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản Trong

đó, số vụ vi phạm các quy định về quản lý động vật hoang dãlà 4.305 vụ, tịch thu hàng nghìn kg sản phẩm ĐVHD và hơn 60 nghìn cá thể ĐVHD các loại, trong đó 3.418 cá thể thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm

Tính nguy cấp của vấn đề cho thấy việc sử dụng công nghệ truyền hình trong việc tuyên truyền bảo vệ động vật hoang dã là điều vô cùng cấp thiết Trên thế giới đề tài về động vật hoang dã trong phim ảnh là một chủ đề hấp hẫn, có những kênh truyền hình riêng dành cho thể loại này như các kênh của

Discovery, kênh Animal Planet - kênh truyền hình đầu tiên và duy nhất dành

toàn bộ thời gian của mình để nói về các loài vật với sức hấp dẫn, sự mạo hiểm, tính hài hước, các mối quan hệ và cả sự sống lẫn cái chết của chúng Với thể loại chương trình đa dạng, từ các phim tài liệu về cuộc sống hoang dã

và thiên nhiên xung quanh đến các dạng chương trình mô phỏng những hoạt động rất thật của thế giới động vật Ở Việt Nam, nênVTV2 được xem là kênh truyền hình khoa giáo thường xuyên cung cấp các chương trình khoa học và nghiên cứu về thế giới tự nhiên

Trang 25

Một số bộ phim tài liệu về môi trường và động vật hoang dã trên thế giới

đã nhận được sự đánh giá cao của các nhà phê bình điện ảnh cũng như tác động mạnh mẽ đến việc tuyên truyền bảo vệ các loài động vật hoang dã trong

tự nhiên Chẳng hạn như phim The Cove(giải Oscar cho phim tài liệu hay nhất

năm 2010) của nhà làm phim độc lập-đạo diễn Louie Psihoyos đã phân tích tình trạng tiêu diệt cá heo hàng loạt tại Vườn quốc gia Taji ngoài khơi Nhật Bản phục vụ nhu cầu thực phẩm Bộ phim là lời kêu gọi hành động để ngăn chặn việc giết cá heo hàng loạt, thay đổi các hoạt động đánh bắt cá của Nhật Bản và thông tintuyên truyềncho công chúng về những rủi ro do tăng nguy cơ ngộ độc thủy ngân từ thịt cá heo Được kể từ quan điểm của một nhà bảo tồn đại dương, phim đãlàm nổi bật một thực tế rằng số lượng cá heo bị giết trong săn bắn cá heo ở Taiji lớn gấp vài lần số cá heo bị giết ở Nam Cực, và khẳng định rằng mỗi năm có tới 23.000 con cá heo bị giết ở Nhật bởi ngành công nghiệp săn cá heo của nước này Những con cá heo di cư bị dồn vào một vịnh nhỏ và bị giết bằng các ngọn giáo và dao ở bên cạnh những chiếc thuyền đánh

cá nhỏ Bộ phim cho rằng săn bắt cá heo kiểu như ở Nhật Bản là không cần

thiết và tàn nhẫn Sáu năm sau The Cove, đạo diễn Louie Psihoyos được Hiệp

hội Bảo tồn Đại dương (Oceanic Preservation Society) tài trợ lại cho ra mắt

bộ phim tài liệu khác là Racing Extintion (2015) với chủ đềsự tuyệt chủng

hàng loạt các loài động vật do con người gây ra và những nỗ lực ngăn chặn

của các nhà khoa học, các nhà hoạt động môi trường và nhà báo.Racing

Extintioncũng nhận được một đề cử giải Oscar cho ca khúc hay nhất trong

phim, một một đề cử giải Emmy – giải “Oscar trong truyền hình” Gần như

đồng thời với Racing Extintion nhưng bộ phim tài liệuVirunga(2014)của đạo

diễn người Anh Orlando von Einsiedel, đã chuyển camera về rừng, kể câu chuyện có thật về bốn con người nhiệt tình và dũng cảm bảo vệ công viên quốc gia Virunga của Congo nơi có đa dạng sinh học bậc nhất trên thế giới,

Trang 26

trong đó có những con khỉ đột núi cuối cùng, trong bối cảnh có cuộc bạo loạn

vũ trang và hoạt động thăm dò dầu khí Trong Virunga có sự kết hợp chặt chẽ

giữa báo chí điều tra và phim tài liệu về thiên nhiên, giữa xung đột gay gắt trong những vấn đề chính trị, kinh tế và vẻ đẹp tự nhiên hấp dẫn, chất thơ trong đa dạng sinh học của một vùng đất châu Phi “bị thế giới lãng quên” Bộ

phim được phát sóng trênứng dụng dịch vụ xem phim trực tuyếnNetflix, giành

được nhiều giải thưởng tại nhiều Liên hoan phim tài liệu quốc tế như Little Rock, Tribeca và Crested Butte (Mỹ), DOXA và Hot Docs (Canada) bộ phim được đề cử giải Oscar (2014) cho phim tài liệu hay nhất Điều đáng lưu ý là ở

Virunga có những biểu hiện rõ nét đặc điểm của “điện ảnh tác giả” trong

phim tài liệu, từ tính thế sự và chất thơ trong câu chuyện đến cách sản xuấtvà cách phát hành Những phần tiếp theo của luận văn sẽ đề cập rõ hơn đến

những đặc điểm đó, tập trung vào hai phim của các đạo diễn Việt Nam: Tội ác

rừng xanh và When our gardens grow silent Nhưng trước hết là khái niệm

“điện ảnh tác giả”

1.2 “Điện ảnh tác giả” - một hiện tượng của tư tưởng điện ảnh thế giới

1.1.1 Khái niệm "điện ảnh tác giả"

Quá trình phát triển tư tưởng điện ảnh thế giới thế kỷ XX cho thấy rằng trong số những trào lưu và khuynh hướng khác nhau, hiện tượng “điện ảnh tác giả” nổi bật hẳn lên và thu hút sự quan tâm đặc biệt của cả công chúngkhán gỉa lẫn giới nghiên cứu, phê bình điện ảnh Chính điện ảnh tác giả đã tìm ra con đường riêng của mình trong việc nắm bắt và phản ánh hiện thực, trải nghiệm hiện tại và chuyển từ quá khứ sang tương lai thông qua những kiếm tìm lời giải cho những vấn đề thiết yếu của cuộc sống

Trang 27

Khi nghiên cứu cấu trúc nghệ thuật của những bộ phim thuộc kiểuđiện ảnh tác giả này cần tính đến một thực tế là có nhiều quan điểm khác nhau về bản chất của hiện tượng này trong điện ảnh

Là một khuynh hướng quan trọng trong nghệ thuật điện ảnh, điện ảnh tác giả là cách làm phim độc lập, nó phủ nhận những khuôn mẫu phong cách có sẵn Bản chất của điện ảnh tác giả là sự biểu hiện tự do của đạo diễn, nó phản ánh cách tri nhận thế giới hoàn toàn mang tính cá nhân Chúng ta có thể khẳng định rằng các đạo diễn trong quá trình sáng tạo của mình đã hình thành nên phong cách riêng, tức là, trong các phim tác giả chứa đựng một cái nhìn của cá nhân đạo diễnvề thế giới, một “tự dạng” của đạo diễn

Điện ảnh là nghệ thuật hình ảnh động, được sắp xếp theo chủ ý của người sáng tạo Người đạo diễn chính là người sắp xếp từng khuôn hình, người chịu trách nhiệm cuối cùng về tác phẩm Mặc dù quá trình làm phim là công việc của một tập thể/ê kip, bên cạnh đạo diễn còn có người quay phim, diễn viên, phụ trách âm thanh, ánh sáng, …nhưngchỉ có đạo diễn -người kết hợp những yếu tố nhiếp ảnh, âm nhạc, văn học (kịch bản) trong tác phẩm điện ảnh mới là tác giả của bộ phim, cũng như nhà văn/họa sĩ là tác giả của tác phẩm văn học/bức tranh

1.1.2 Sự ra đời và phát triển của "điện ảnh tác giả"

Trong những năm 50 và 60 của thế kỷ XX cùng với khái niệm “điện ảnh tác giả”, vai trò của đạo diễn điện ảnh rất được coi trọng Các nhà phê bình tập trung vào những tác phẩm sáng tạo, mang yếu tố đặc trưng, phong cách của các đạo diễn Trong các liên hoan phim đạo diễn cũng được vinh danh để khẳng định tài năng sáng tạo của người làm phim Có thể nói cá tính sáng tạo của đạo diễn trong việc quyết định cấu tạo khuôn hình, vị trí máy quay, thời gian của cảnh quay… những yếu tố về việc lấy cảnh quay như thế nào, ra sao

Trang 28

chính là yếu tố quyết định làm nên phong cách tác giả Cách nhìn mới về tác giả phim đã mở ra những quan điểm mới về người làm phim Nó đề cao năng lực sáng tạo của người đạo diễn về hình thức phim Quan điểm đạo diễn là người chịu trách nhiệm tối cao đối với thể loại, phong cách và ý nghĩa của bộ phim được đưa ra trong bài luận “Máy quay-cây bút” (1948) của Alexandre Astruc-nhà làm phim-nhà phê bình điện ảnh-nhà văn người Pháp Ông cho rằng “tác giả - nhà làm phim viết với chiếc máy quay của anh ta giống như nhà văn viết với cây bút của mình vậy” [19 II, Tr.98) Đây là một trong những quan điểm có ảnh hưởng lớn đến lịch sử phát triển điện ảnh

Vấn đề tác giả - đạo diễn được bàn luận sôi nổi bắt đầu từ thập niên 1940 tại Pháp Đây là giai đoạn nước Pháp sống trong bầu không khí của những cuộc đấu tranh chính trị Những nhà làm phim trẻ muốn thoát ra khỏi những khuôn khổ truyền thống trước đó tìm đến những thứ mới mẻ để nghệ thuật không còn mang màu sắc chính trị nữa Thế hệ mới này được gọi “Làn sóng mới” (Nouvelle Vague) đã tạo ra những đảo diễn trẻ hăm hở sáng tạo những

bộ phim của riêng mình “Làn sóng mới” đã nhận được sự quan tâm của những người dân Pháp lúc bấy giờ, họ mong đợi và chờ đón những thứ mới

mẻ Những thành viên chủ chốt của “Làn sóng mới” là những người ủng hộ quan điểm tác giả đạo diễn phim (atuteur policy), họ cho rằng những người đạo diễn cần có một phong cách riêng, thể hiện quan điểm của mình trong các tác phẩm Điện ảnh không còn là một cái khuôn đúc sẵn, nó cần một làn gió mới và người tạo ra sự mới mẻ đó không ai khác chính là đạo diễn tác giả phim Phong trào này thúc đẩy một phong cách làm phim tự nhiên hơn, với những cảnh quay, cuộc đối thoại ngẫu hứng và ánh sáng tự nhiên

Lý thuyết đạo diễn-tác giả được hình thành cuối thập niên 1940 và đầu thập niên 1950 Năm 1948,tiểu luận “The birth of a new avant – garde: La camera – stylo”/Sự ra đời của phong trào Tiền phong Mới của Alexandre

Trang 29

Astruc in trên tạp chí L’Ecran Francaise ngày 30/3, đã đưa ra một số quan

điểm về người sáng tạo ra một tác phẩm điện ảnh, người chịu trách nhiệm trong việc hình thành thể loại, ý nghĩa của một bộ phim chính là người đạo diễn như một lời khẳng định quan trọng cho dòng tư tưởng này Quan điểm của Astruc đã trở thành đề tài bản tán sôi nổi lúc bấy giờ.Những nhà phê bình

đi vào nghiên cứu chia tách các phần trong một bộ phim để thấy được vai trò của người đạo diễn.Khẳng định được nét đặc trưng của điện ảnh và người làm

ra tác phẩm điện ảnh hoàn chỉnh, người chịu trách nhiệm cuối cùng chính là đạo diễn phim.Tiếp nối sau đó là một loạt các bài viết nếu cao vai trò của nền

“điện ảnh tác giả” trong sự hình thành và phát triển của lịch sử điện ảnh

Năm 1951 trên số đầu tiên của tạp chíCahiers du cinéma /Sổ tay điện

ảnhi, nhà phê bình Bazin đã xem xét, bình luận các tác phẩm điện ảnh như Sunset Boulevard của Billy Wilder, Driary of a Country Priest của Robert

Bresson …từ cách tiếp cận tác giả [19 II, Tr.98].Từ bài viết này, sau đó một loạt các nhà phê bình đã bắt đầu đi sâu vào việc tiếp cận tác giả của một bộ phim.Tiêu biểu là bài luận của Truffaut “Một xu hướng tất yếu trong nền điện ảnh Pháp” (1954) , trong đó ông phân tích vai trò của người đạo diễn trong những bộ phim truyền thống, các vấn đề liên quan giữa người viết kịch bản và

đạo diễn phim.Những nhà phê bình trẻ của Cahiers du cinémalại đưa ra

những quan điểm khẳng định các đạo diễn thể hiện cái nhìn về cuộc sống thông qua hình ảnh mà không cần phải phụ thuộc vào kịch bản phim

Những nằm đầu tập kỷ 60 của thế kỉ XX, nhà phê bình Mỹ Andrew Sarri công bố quan điểm “lý thuyết tác giả” (auther theory) Tiếp đó là những quan điểm theo tinh thần phê phán tác giả, soi xét một cách cực đoan về phong cách làm phim tác giả, có những nhận xét cho rằng một tác giả chỉ có thể làm một bộ phim và chỉ làm đi làm lại loại phim đó Bởi đó là phong cách thống nhất của người đạo diễn khi làm phim.Đặc biệt là trong giai đoạn những năm

Trang 30

50 – 60 thế hệ Làn sóng mới ở Pháp phát triển.Vào thời điểm này điện ảnh đã

có quá trình phát triển trong một thời gian dài, cũng chính vì điều đó nhu cầu của người xem cũng trở nên khắt khe hơn, họ ưu ái cho những gì mơi mẻ và khác biệt.Số lượng người xem bắt đầu giảm mạnh, điều đó đặt ra yêu cầu cho điện ảnh phải khoác lên mình chiếc áo mới “điện ảnh chất lượng”.Bởi vậy điện ảnh buộc mình phải thay đổi, thổi một làn gió mới Thế hệ các đạo diễn trẻ chính là những người sẽ đem đến làn gió đổi mới cho điện ảnh, vượt qua những khuôn khổ truyền thống, các đạo diễn tìm cho một hướng đi riêng theo quan điểm và phong cách của mình Phim truyện được hình thành và phát triển sôi nổi trong thời gian này, đạt được nhiều thành tự đáng kể Tiêu biểu

như The 400 Blow (1959) của Francois Trufaut đã đoạt giải đạo diễn xuất sắc

tại Liên hoan phim Cannes, đem lại uy tín quốc tế lớn cho trào lưu Làn sóng mới Sau đó hàng loạt bộ phim sáng tạo khác nối tiếp nhau ra đời

Điện ảnh tác giả hòa nhập với sự phát triển của điện ảnh trong suốt những năm 50, 60 của thế kỉ XX; hàng loạt các nhà làm phim theo đuổi những đề tài của riêng mình, lựa chọn các cách làm phim khác nhau Trong các liên hoan phim cũng thường xuyên vinh danh đạo diễn với tư cách là người sáng tạo ra tác phẩm điện ảnh Những đạo diễn đại diện cho xu hướng điện ảnh tác giả này đều có những bộ phim mang tính đột phá, được phát hành quốc tế và còn có chỗ đứng trên các thị trường điện ảnh khó tính như điện ảnh Mỹ Các nhà phê bình nhìn nhận các đạo diễn là người làm giàu cho nền điện ảnh bằng những phong cách riêng biệt trong kỹ thuật làm phim tạo nên các tác phẩm nghệ thuật đặc sắc

Bên cạnh những đóng góp to lớn cho sự phát triển của điện ảnh, thì điện ảnh tác giả cũng có những khó khăn của riêng mình.Đạo diễn nếu muốn làm những bộ phim theo phong cách riêng của mình thì bản thân họ phải chủ động trong việc sản xuất Bởi vậy, trong quá trình làm phim những đạo diễn mang

Trang 31

phong cách khác biệt cũng sẽ vướng không ít những khó khăn cho đến khi thành quả được công nhận.Chủ tịch Liên hoan phim Cannes Gill Jacob cho

biết: “Dòng phim tác giả không có chỗ đứng tốt và hơn lúc nào hết nó cần sự

giúp đỡ Nó đang gặp khó khăn bởi vì một phần khán giả ít tò mò với nó hơn; một phần báo chí ngán ngẩm nó, ngay cả báo chí yêu điện ảnh, trước một số lượng lớn phim ra rạp hàng tuần hiện nay… Dòng phim tác giả, nếu nó không thể bắt nhịp được sự hào hứng, khẩu vị đặc biệt cũng như những mối quan

tâm của khán giả, nó sẽ phải trải qua những ngày tháng khó khăn” Với hàng

ngàn bộ phim kinh phí siêu nhỏ được làm mỗi năm, cuộc cạnh tranh để phim được công nhận và đưa ra rạp là một “cuộc chiến” khá gắt gao[11]

Điện ảnh Việt Nam tuy sinh sau đẻ muộn nhưng cũng đã nhanh chóng hội nhập vào quá trình phát triển của điện ảnh thế giới, do vậy cũng không nằm ngoài sự tác động của những khuynh hướng, trào lưutrong đó.Kết quả là Việt Nam cũng có những nhà làm phim tiêu biểu đại diện cho những loại hình khác nhau Khi nhắc đến nhà làm phim Trần Văn Thủy người xem sẽ nhớ ngay đến một đạo diễn nổi tiếng của dòng phim tài liệu với những tác phẩm

phản ánh đời sống hiện thực mang giá trị nhân văn sâu sắcHà Nội trong mắt

ai (1982), Chuyện tử tế (1985), Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai (1999), Chuyện từ một góc phố (2003),… Hay nhắc đến đạo diễn Đặng Nhật Minh khán giả sẽ nhớ

đến ngay một Việt Nam dịu dàng, giản dị và mộc mạc qua Thị xã trong tầm

tay (1983), Bao giờ cho đến tháng Mười (1984), Cô gái trên sông (1987), Thương nhớ đồng Quê (1995),…Một Việt Nam đầy trong hồi ức, nơi thời

gian chậm lại với kiểu làm phim, ngôn ngữ điện ảnh mới lạ tác động mạnh

vào cảm giác của người xem trong các tác phẩm của Trần Anh Hùng như Mùi

đu đủ xanh (L'Odeur de la papaye verte, 1993); Xích lô (Cyclo, 1995), Mùa

hè chiều thẳng đứng (À la verticale de l'été, 2000)…Những đạo diễn trên

đãtìm tòi sáng tạo phong cách làm phim cho riêng mình và đem đến những

Trang 32

tác phẩm nói lên được tâm thức thời đại, giàu tính nhân văn và sống mãi với thời gian

Cũng chính nhờ sự phát triển của “điện ảnh tác giả” mà các thể loại phim cũng trở nên đa dạng hơn Người xem có thể thấy được muôn hình vạn trạng của đời sống, từ những góc khuất nhỏ bé đến những nơi tưởng chừng như con người không bao giờ có thể nhìn thấy được Con người, tinh thần, suy nghĩ của các nhà làm phim được lồng ghép vào trong tác phẩm Mỗi người sẽ có những đời sống, tâm tư khác nhau bởi vậy họ cho ra đời những bộ phim phong phú về các chủ đề.Họ có những thế mạnh của riêng mình, có những nhà làm phim tài liệu thành công trong đề tài lịch sử, chiến tranh, có những người lại thành công trong lĩnh vực phản ánh đời sống hiện thực của con người Dòng phim truyện, có những đạo diễn thành công trong lĩnh vực phim truyện gia đình, phim chuyển thể, phim giải trí, phim hài … Nghiên cứu điện ảnh tác giả sẽ thấy được những nét đặc sắc mà không phải ai cũng có được qua từng bộ phim của các đạo diễn Mỗi một đạo diễn lại góp phần làm tăng kho tàng điện ảnh của nhân loại, nghiên cứu tác giả-đạo diễn chính là tìm ra

cá tính sáng tạo thông qua kỹ thuật làm phim của họ Qua đó hiểu được phong cách đặc trưng của đạo diễn, ý nghĩa giá trị mà người làm phim đem lại

1.1.3 Xu hướng làm phim tài liệu độc lập

Trước đây, ngành làm phim tài liệu của Việt Nam vẫn nằm trong sự quản

lý của Nhà nước với vị trí trung tâm của Hãng Phim Tài liệu và Khoa học Trung ương Tuy nhiên, thập kỷ vừa qua đã chứng kiến những nỗ lực ban đầu

để mở rộng phạm vi hoạt động phim tài liệu tại Việt Nam Phim tài liệu độc lập bắt đầu được sản xuất tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, nhưng vẫn chưa được công nhận một cách rộng rãi do sự kiểm duyệt và quản

lý chặt chẽ của nhà nước Ở Việt Nam phim tài liệu thường đồng nghĩa với

Trang 33

phim về quá khứ, về chiến tranh, là thể loại khô khan và chỉ chiếu trên truyền hình hoặc chiếu miễn phí Các nhà làm phim độc lập đang từng bước thay đổi định kiến này Phim tài liệu độc lập được hiểu khi so sánh với phim tài liệu Nhà nước, những bộ phim chịu sự chi phối của các cơ quan ban ngành, được Nhà nước tài trợ kinh phí về mọi mặt Phim tài liệu độc lập là những bộ phim được làm một cách “tự do” Các đạo diễn tự làm gần như tất cả các quy trình sau khi đi kêu gọi sự hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân, các dự án điện ảnh nước ngoài Trong những phim tài liệu độc lập các đạo diễn hầu như cũng là người biên kịch, người quay phim, thu thập hình ảnh, thậm chí cả phần dựng phim, nói một cách đơn giản là người chịu trách nhiệm bộ phim sẽ làm từ A đến Z, xuyên suốt đến khi tác phẩm hoàn thành Đạo diễn làm phim độc lập sẽ được thỏa sức thực hiện ý tưởng của mình, không chịu sự kiểm soát chặt chẽ về cả

đề tài lẫn nội dung như những phim tài liệu Nhà nước Sau khi hoàn thành, nhà làm phim sẽ đem tác phẩm của mình đăng ký tham dự tại những liên hoan phim quốc tế; cũng đã có nhiều đạo diễn dành giải thưởng và thành công bước đầu với thể loại này Tuy nhiên, những nhà làm phim tài liệu độc lập cũng phải đối diện với những khó khăn về kinh phí làm phim, họ phải tự đi xin tài trợ cho việc quảng bá và công chiếu phim Bởi vậy, các nhà làm phim này thường sẽ hướng ra thị trường điện ảnh thế giới để tìm kiếm cơ hội và học hỏi kinh nghiệm Trước kia, Việt Nam vẫn chỉ làm một nước có nền kinh tế yếu kém, điều kiện để thực hiện những bộ phim cá nhân là mơ ước của nhiều người khi chi phí để trả cho những thiết bị vật dụng làm phim quá cao, chưa

kể đến làm phim tài liệu đòi hỏi một quãng đường dài Nhưng gần đây khi thời đại công nghệ 4.0 phát triển, để có thể sở hữu một sản phẩm công nghệ phục vụ quay phim, dựng phim cũng không tốn quá nhiều chi phí, bởi vậy thể loại phim tài liệu độc lập sẽ có nhiều triển vọng Hiện tại ở Việt Nam, DocLab (viết tắt của Documentary Lab) tại Viện Goethe Hà Nội là một trung

Trang 34

tâm phát triển tài năng dành cho những người đam mê sáng tạo, nhiệt huyết với nghệ thuật điện ảnh DocLab ra đời vào năm 2009 với mong muốn tham gia vào quá trình nâng đỡ một thế hệ mới các nhà làm phim tài liệu trẻ độc lập

và nghệ sĩ video, đồng thời phát triển một cộng đồng khán giả địa phương Trung tâm có một thư viện tuyển chọn các phim tài liệu đương đại và kinh điển, các bộ phim thử nghiệm và tác phẩm video cũng như sách báo về lý thuyết và phê bình phim, làm phim và lịch sử nghệ thuật video DocLab hỗ trợ thiết bị sản xuất, hậu kì, và trình chiếu cho các hoạt động làm phim của học viên và các nhà làm phim độc lập Tại đây có những liên hoan phim thường niên duy nhất tại Việt Nam dành riêng cho thể loại phim tài liệu sáng tạo độc lập và phim thể nghiệm DocLab muốn mang đến cho khán giả và những người làm phim không gian chiêm ngưỡng, sáng tạo nghệ thuật Những liên hoan phim của Doclab sẽ là cơ hội để giới thiệu những sản phẩm mới của các nhà làm phim độc lập từ khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở Việt Nam Ngoài ra, trung tâm còn mở những khóa họclàm phim tài liệu độc lập nhằm phát triển và tạo cơ hội cho các tài năng trẻ

Trong điều kiện phát triển ngành công nghiệp điện ảnh như hiện này, nhằm tạo điều kiện cho các nhà làm phim trẻ phát triển, cũng đã có nhiều đơn

vị tổ chức các chương trình hỗ trợ làm phim độc lập những trung tâm đào tạo điện ảnh Một trong số đó là Trung tâm Hỗ trợ phát triển tài năng điện ảnh TPD Được thành lập từ năm 2002, thông qua các khóa học về làm phim tài liệu, phim truyện, diễn xuất, sản xuất, quay phim, đạo diễn, biên kịch,… các workshop ngắn hạn về dựng phim, âm thanh Trung tâm phi lợi nhuận này

hỗ trợ cho các hoạt động phát triển điện ảnh Trẻ, mong muốn góp phần vào sự phát triển của xã hội Việt Nam thông qua các dự án tài trợ làm phim ngắn, tạo môi trường cho các nhà làm phim trẻ sáng tạo và đặc biệt là dự án phổ cập nghệ thuật nghe nhìn cho thanh thiếu niên Tại đây cũng thường xuyên tổ

Trang 35

chức những buổi chiếu phim miễn phí nhằm giới thiệu đến đông đảo người

xem những tác phẩm của các nhà làm phim độc lập, trong đó có When our

gardens grow silent của Nguyễn Mỹ Dzung

Hiện nay chiếm số lượng nhiều nhất trong các kỳ liên hoan phim quốc gia vẫn là phim của Hãng phim Tài liệu - Khoa học Trung ương, Hãng phim Quân đội và Đài Truyền hình Việt Nam, với nội dung phim phần nhiều mang tính tuyên truyền Trong khi đó, những nhà làm phim độc lập hoàn toàn có thể/và cần đăng ký tham dự các liên hoan phim nhằm đưa các tác phẩm đầy sáng tạo của mình ra trước công chúng, kéo khán giả về với phim tài liệu Hai nhà làm phim Lê Hoài Phương và Nguyễn Mỹ Dzung đã chọn cho mình con đường làm phim tài liệu độc lập, để thông qua đó nói lên những tâm

tư của riêng mình về con người và xã hội Việt Nam Bởi đối với họ phim tài liệu chính là những tác phẩm phản chiếu hiện thực xã hội một cách trung thực

và thẳng thắn nhất Để công chúng thấy được hiện trạng mà cuộc sống đang diễn ra, những gì con người đã và đang làm dù vô tình hay cố ý đều tác động đến đời sống tự nhiên Lựa chọn làm phim tài liệu về đề tài động vật hoang dã

là sự lựa chọn không mấy dễ dàng, thậm chí đầy nguy hiểm Chỉ cần trong tay

có thiết bị để ghi hình, dù là máy ảnh, máy quay mini cũng đủ để những con người này bước chân đi theo “tiếng gọi nơi hoang dã” Mặc dù khó khăn, nhưng điểm chung của hai đạo diễn đó chính là việc không né tránh những vấn đề gai gọc, nóng bỏng nhất của xã hội, những tệ nạn đang diễn ra ngày càng trầm trọng hơn, chẳng hạn như nạn săn bắt động vật hoang dã trái phép Lấy phim ảnh làm phương tiện tuyên truyền đến công chúng là cách làm lựa chọn, mang lại hiệu quả nhất, bởi sự chân thật trong từng thước phim tài liệu

sẽ tác động mạnh đến cảm xúc, suy nghĩ của người xem, gây những phản ứng, hành động tương ứng

Trang 36

Lê Hoài Phương vốn bắt đầu bằng con đường nhiếp ảnh, về sau khi công nghệ phát triển và hình thức phim tài liệu độc lập ra đời đã tạo tiền đề cho ông phát triển tài năng của mình trên con đường điện ảnh Mặc dù đã có tuổi và biết con đường làm phim về đề tài bảo vệ động vật hoang dã đầy khó khăn, nhưng môt khi đã đam mê thì không có gì cản được bước chân người nghệ sĩ Ông làm phim “độc lập” đúng theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng Mười năm dùng tiền riêng để làm phim, nhưng bù lại, ông đã khẳng định được vị trí đặc biệt của mình trong nhiếp ảnh và điện ảnh Còn đối với Nguyễn Mỹ Dzung,

sự đòi hỏi về thời gian, lòng kiên trì và cả sự dung cảm trong làm phim tài liệu độc lập vừa là thách thức nhưng cũng là cơ hội để đạo diễn thể hiện ý tưởng sáng tạo của mình

Lựa chọn một hướng đi chung là làm phim tài liệu độc lập và đề tài về bảo vệ động vật hoang dã đầy khó khăn, nhưng không một ai trong số họ chùn bước Trong lòng họ chỉ đau đáu một điều làm thế nào để công chúng nhìn thấy được hiện thực xã hội, thấy mình, thấy tương lai của mình trong

những khung hình đó, nhằm giúp xã hội trở nên tốt đẹp hơn Bộ phim Tội ác

rừng xanh của Lê Hoài Phương được thực hiện với kinh phí tự túc lên đến

300 triệu và When our gardens grow silentcủa Nguyễn Mỹ Dzung cũng được

làm với kinh phí khiêm tốn của bản thân, gia đình và các nhà tài trợ phim độc lập Làm phim độc lập và lựa chọn đề tài nóng hổi, cấp thiết là sự táo bạo và thể hiện cá tính mạnh mẽ của hai nhà làm phim Mỗi thước phim chỉ kéo dài vài chục phút (cả hai đều thuộc thể loại phim tài liệu ngắn/short documentary) nhưng cũng đã đem lại cảm xúc mạnh mẽ, thậm chí gây shock cho khán giả Quan trọng hơn hết là nó được làm từ cái tâm cái tình của người đạo diễn, giữa mỗi hình ảnh được ghi lại là cả một khoảng thời gian đầy vất vả của người làm phim khi phải “lặn lội” trong rừng, địa hình hoang vu và hiểm trở Chính vì được chắt lọc, chau chuốt trong từng khung hình nên những bộ phim

Trang 37

tài liệu độc lập về đề tài bảo vệ động vật hoang dã của hai đạo diễn đã đến với người xem trong vẻ đẹp của sự chân thực và nên thơ

b) “Điện ảnh tác giả”là một mô hình làm phim trong đó đạo diễn đóng vai trò là tác giả chính của phim, chịu trách nhiệm toàn bộ quá trình làm phim, từ khâu biên kịch, dàn dựng, quay phim đến sản xuất và phát hành Trong điện ảnh tác giả, đạo diễn có ý thức quan tâm đến việc “vấn đề hóa” bản thân ngôn ngữ điện ảnh, mong muốn bất kỳ yếu tố nào của hình ảnh phim (từ chuyển động của máy quay, góc quay và các quá trình dàn dựng đến các giải pháp ánh sáng, màu sắc và âm thanh) cũng chuyên chở những tổ hợp nghĩa phức tạp Do dấu ấn cái “tôi” của đạo diễn trongnhững yếu tố cấu trúc của bộ phim và tính đa nghĩa của hình ảnh nên điện ảnh tác giả thiên về chất trí tuệ, có khả năng thể hiện thế giới tinh thần và kích hoạt trí tưởng tượng của khán giả Ngoài ra, điện ảnh tác giả còn được thể hiện nổi bật trong dòng phim độc lập, tại đây người đạo diễn được thỏa sức sáng tạo, tự tay xây dựng kịch bản, quay phim, dựng phim thậm chí là phát hành Bởi vậy, những bộ phim độc lập mang một cá tính sáng tạo rất riêng biệt làm nên phong cách điển hình của mỗi một đạo diễn Góp phần và sự phát triển của “điện ảnh tác giả”

Trang 38

Ở hai chương tiếp theo, luận văn sẽ phân tích những đặc điểm của kiểu làm “phim tác giả” thể hiện trong phim tài liệu của hai đạo diễn Lê Hoài Phương và Nguyễn Mỹ Dzung

Trang 39

Chương 2:PHONG CÁCH LÀM PHIM CỦA LÊ HOÀI PHƯƠNG VÀ

NGUYỄN MỸ DZUNG

2.1 Hai nhà làm phim – hai cách dấn thân, khám phá

Công việc của những người làm phim tài liệu là ghi lại một cách trung thực nhất những mặt khác nhau của cuộc sống xã hội, của tự nhiên Đem những gì nhìn thấy được ghi chép lại thành dòng văn, sắp xếp sao cho tự nhiên nhất, nguyên bản nhất để trở thành một câu chuyện có ý nghĩa Nghề đạo diễn đa phần là nam giới, nữ cũng có nhưng không nhiều đặc biệt là nữ giới làm phim tài liệu Phim tài liệu trước giờ đều là công việc cần sự bền bỉ lâu dài, có những bộ phim đến vài chục năm mới hoàn thành Qua đó cũng đủ hiểu cái khó của người làm phim tài liệu, làm phim về con người còn khó ấy vậy mà nhiều người lựa chọn làm phim tài liệu về thế giới tự nhiên, cái thế giới bao la kì bí mà con người khám phá cả ngàn vạn năm nay vẫn chưa thể hiểu hết được Những người làm phim tài liệu về thiên nhiên mang trong mình sức sống mãnh liệt, mạnh mẽ kiên cường, không chỉ là những người làm phim họ còn là những nhà khoa học với đầu óc nhạy bén và sáng suốt Nói tới đây để đi sâu vào những đạo diễn làm phim tài liệu, đặc biệt là làm phim tài liệu về động vật hoang dã: đạo diễn Nguyễn Mỹ Dzung và Lê Hoài Phương

Cả hai đạo diễn đều xuất thân trong những gia đình cơ bản, cũng bởi niềm đam mê yêu thích và dẫn đưa họ đến với con đường nghệ thuật chân thực

2.1.1 “Làm phim về rừng ở Việt Nam, không ai hơn được tôi” (Lê Hoài Phương)

Đằng sau những lời có vẻ không được khiêm tốn lắm như vậy của đạo diễn Lê Hoài Phương trong một cuộc trả lời phỏng vấn [9] có chứa đựng một

sự thật về sự gắn bó, khả năng am hiểu rừng và những “cư dân” của nó Lê Hoài Phươngsinh năm 1961, tốt nghiệp Đại học Pháp lý chuyên ngành Viện

Trang 40

kiểm sát nhân dân tại Hà Nội năm 1986 Ông bắt đầu chụp ảnh về rừng từ năm 1990 Ông đoạt nhiều giải thưởng quan trọng trong hầu hết lĩnh vực mà ông tham gia: nhiếp ảnh, điện ảnh và bảo vệ môi trường Ông tham gia nhiều hoạt động xã hội, là hội viên Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam, hội viên Hội Điện ảnh Việt Nam, Hội viên hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam Với vốn kiến thức dồi dào, cùng vài chục năm theo đuổi nhiếp ảnh việc bén duyên với điện ảnh là điều tự nhiên Ông đã từng bỏ việc, bỏ cả tiền túi và thời gian để vào rừng ghi lại những xúc cảm mãnh liệt với thiên nhiên Những bức ảnh mà ông đem lại luôn tràn đầy cảm xúc, từ ánh mắt cho đến ngọn cây dường như đều được thổi hồn đầy sức sống Ông có chia sẻ trên trang báo

Pháp Luật Thành phố Hồ Chí Minh rằng: “Ban đầu ông cũng chỉ lang thang

trong rừng chụp vẩn vơ những thứ ông thích Dần dần niềm say mê nhiếp ảnh cuốn ông vào các bộ ảnh theo quá trình sinh trưởng của các loài vật.… Khi xem lại các bức ảnh chụp liên tiếp nhau giống như một đoạn phim, Lê Hoài Phương nảy ra ý định làm phim Ông lại mày mò tự học, mua máy móc bắt tay làm phim về động vật hoang dã … Nhờ hiểu được thói quen, tập quán của các “người mẫu chim” mà Lê Hoài Phương dễ dàng canh chụp những bức ảnh sinh động của vô số loài chim trong rừng sâu: giẻ cùi, vàng anh, chim trảu, hồng hoàng, hồng vũ…” Và đó là khởi nguồn cho sự ra đời của bộ phim tài

liệu Vàng Anh loài chim huyền thoại

Để chụp được các loài động vật hoang dã quý hiếm, Lê Hoài Phương phải đi vào tận rừng sâu Khi còn công tác tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận, những chuyến đi của ông đều bắt đầu vào sớm tinh mơ thứ Sáu

và trở về nhà vào tối Chủ nhật Lê Hoài Phương trầm ngâm kể: “Ở trong rừng mưa gió lạnh lùng, có lúc ngồi cả ngày trên ngọn cây rình chụp chim hồng vũ

Có lúc quay phim về ong vò vẽ, đã trùm cái mùng quanh người, cột kỹ mà không hiểu sao vẫn có con ong lọt vào đốt Loài ong vò vẽ đốt được đến 30

Ngày đăng: 22/11/2019, 08:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w