1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Văn hóa châu âu lịch sử thành tựu hệ giá trị

240 240 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 240
Dung lượng 6,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bản đồ văn hoá vĩ mô đó, các yếu tố vãn hoá địa phương sắc tộc/ vi mô bên trong nền văn hoá của quốc gia sẽ không được thể hiện.. Do đó nhà nghiên cứu bắt buộc phải vận dụng “áp lự

Trang 2

LƯƠNG VĂN KẾ

VĂN HOÁ CHÂU ÂU

NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM

Trang 3

Công ty c ổ phần Sách Đại học - Dạy nghé, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam giữ quyér, công bố tốc phẩm

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

H ai tiến g “c h â u  u ” khi v an g lên đ ề u gợi lên tro n g tâ m trí

m ọ i n g ư ờ i n h iề u liê n tư ở n g Đ ó có th ể là cảnh q u a n địa lý xa lạ

v ớ i n h ữ n g rừ n g cây tu y ế t p h ủ trắ n g xoá, n h ữ n g th ảo n g u y ê n bằng'

p h ă n g m ên h m ô n g đ ế n tậ n chân trời; n h ữ n g đô thị p h ồ n h o a với

a h ữ n g đ ại lộ th ê n h th a n g và n h ữ n g toà n h à trá n g lệ, toả hào

q u a n g của n ề n v ă n m in h rực rỡ; là n h ữ n g con n g ư ờ i có vóc d á n g

c a o lớn, da trắ n g , m ắ t xanh, tóc vàng, vừa m ạ n h m ẽ vừ a cao sang

đ ế n m ức n h iề u n g ư ờ i ch âu Á coi đó là c h u ẩ n m ực cao n h ấ t của cái

đ ẹ p đ á n g ư ớc m ơ v v N h ư n g châu  u c ũ n g gợi lên tro n g ký ức

c ủ a n h ữ n g n g ư ờ i lớ n tu ổ i và từ n g trải về m ộ t q u á k h ứ k h ô n g b ình

y ê n th ờ i kỳ ch ủ n g h ĩa thự c d ân , m à n ạ n n h â n ch ín h là n h iề u d â n

tộ c Á, Phi, tro n g đ ó V iệ t N am là m ộ t ví d ụ tiêu biểu N h ư n g thực

s ự trê n h ế t h ìn h ả n h ch âu  u v ẫ n là h iệ n th â n của m ộ t n ề n v ăn

h o á - v ă n m in h rự c rỡ n h ấ t, th ấ m đ ư ợ m tin h th ầ n r\hân v ă n n h ấ t

t ừ n h iề u th ế kỷ trư ớ c cho đ ế n tậ n th ờ i đ ạ i của c h ú n g ta D ù còn

n h iề u tra n h cãi về v ị th ế của châu  u trê n ch ín h trư ờ n g quốc t ế

c ũ n g n h ư các v â n đ ề b ê n tro n g xã h ộ i của nó, n h ư n g cái ch ủ n g h ĩa

n h â n v ă n m à n ó s á n g tạo ra cho b ản th â n n ó và cho n h â n loại là

b ấ t h ủ và v ẫ n là lý tư ở n g p h ấ n đ â u của n h iề u xã hội N g ư ờ i ta tìm

th ấ y tro n g n ề n v ă n h o á châu  u, n h ấ t là k h u vực Tây  u, n h ữ n g

g iá ư ị cao q u ý đ ư ợ c g ọ i là hệ g iá trị n h â n văn của loài người: xã

h ộ i d â n chủ; k in h t ế h iệ n đại, p h ồ n v in h và p h á t triể n b ền vững;

co n n g ư ờ i cá n h â n tự d o và trà n đ ầ y n ă n g lực sán g tạo, cuộc sống

Trang 5

h ạ n h p h ú c N h ữ n g đ iề u đ ó k h ô n g p h ả i b ỗ n g n h iê n có đư ợ c, m à

tấ t th ả y đ ề u là k ế t q u ả của h à n g n g à n n ă m lao đ ộ n g , tra n h đ â u

v à su y tư, th ấ m đ ẫ m m á u và n ư ớ c m ắ t củ a n h â n d â n các d â n tộc

c h â u Âu

N ề n v ă n h o á rực rỡ ây, b ằ n g cách n à y h a y cách k h ác - tu y ê n tru y ề n , lôi kéo, d ụ dỗ, m ồi n h ử k in h t ế v à n h iề u ỊcKi b ằ n g cả ch iến

h ạ m và đ ại bác - đ ã ch iếu rọi k h ắ p h o à n cầu, đ e m đ ế n cho n ề n

v ă n h o á các k h u vực v à quốc gia n h ữ n g đ ặ c tín h m ới: tính h iệ n đại V iệt N am đ ã từ n g có m ộ t lịch sử q u a n h ệ p h ứ c tạ p với ch âu

 u n ói riêng, p h ư ơ n g T ây nói chung/ và tro n g m ối q u a n hệ đ ó cái

m ấ t của ch ú n g ta rấ t n h iề u n h ư n g cái đ ư ợ c c ũ n g k h ô n g ít Dù

đư ợ c - m ấ t th ế n à o th ì v ă n h o á ch âu  u v ẫ n đã và đ a n g gây ả n h

h ư ở n g lên n ề n v ă n h o á của th ờ i đại, n h ấ t là tro n g xu h ư ớ n g to à n cầu h o á m ạ n h m ẽ h iệ n nay Do đó, đ ể có th ể ứ n g x ử có h iệu qu ả với v ă n h o á ch âu  u, p h ụ c v ụ sự n g h iệ p p h á t triể n v ă n h o á và con

n g ư ờ i V iệt N am x ứ n g tầ m th ờ i đại, c h ú n g ta p h ả i tra n g bị tố t n h â t cho trí tu ệ của m ìn h b ằ n g n h ữ n g h iể u b iế t đ ú n g đ ắ n vâ đ ầ y đ ủ

n h ấ t về v ă n hoá, v ă n m in h ch âu  u, từ đ ó r ú t ra đ ư ợ c n h ậ n thức

là n ê n học gì, trá n h gì từ n ề n v ă n h o á n à y và n ê n “tiếp b iế n ”

c h ú n g n h ư th ế nào

C u ố n sách n à y là m ộ t p h ầ n k ế t q u ả n g h iê n c ứ u của tác giả

tro n g đề tải k h o a học trọ n g đ iể m cấp N h à n ư ớ c “A n h h ư ở n g của văn h o á T ây  u , Bắc M ỹ đ ố i v ớ i t h ế g iớ i và V iệt N a m tro n g q u á trình toàn cầu h o á ” (2007 - 2010) c ũ n g n h ư k ế t q u ả tích lũ y từ

q u á trìn h g iả n g d ạ y về ch âu  u h ọ c n h iề u n ă m q u a C u ố n sách

h ư ớ n g đ ế n độc giả là sinh v iên và g iả n g v iê n các n g à n h Q uốc tế học, ch âu  u học, c h âu M ỹ học, v ă n h o á học, các k h o a V ăn hoá và

N g ô n n g ữ Â u - Mỹ; các n h à n g h iê n c ứ u v ề v ăn h o á , ch ín h trị và

q u a n h ệ quốc tế; các n h à n g h iê n cứ u k h u vực, n h ấ t là châu  u và

Trang 6

p h ư ơ n g Tây; các cơ q u a n n g h iê n cứu và h o ạch đ ịn h chính sách Sách cũ n g có th ể bổ ích cho tấ t cả n h ữ n g ai q u a n tâm về châu  u

và p h ư ơ n g Tây

Do k h u ô n k h ổ h ạ n c h ế củ a cu ố n sách, tác giả chủ yếu h ư ớ n g

sự p h â n tích v ào ba k h ía c ạ n h chủ yếu của v ă n hoá châu  u là: (1) các cội n g u ồ n của v ă n h o á c h â u  u, tro n g đó chủ y ếu là cội n g u ồ n châu  u, (2) các th à n h tự u to lớn của v ă n h o á châu  u q u a các

th ờ i đại, và (3) hệ giá trị đ ặc sắc của n ề n v ă n hoá, v ă n m in h v ĩ đại này N h ìn m ộ t cách k h á i q u á t, đ ây là m ộ t công trìn h đư ợ c xây

d ự n g theo q u a n đ iể m “lịch sử tri th ứ c” C u ố n sách tạm th ờ i k h ô n g

đề cập đ ế n các v ẫ n đề k h ác n h ư : ả n h h ư ở n g của v ă n ho á châu  u trê n th ế giới và k in h n g h iệ m tiếp th u v ă n h o á châu  u của các nước Đ ây là n h ữ n g n ộ i d u n g q u a n trọ n g của n h ữ n g ch u y ê n khảo khác m à tác giả sẽ c ô n g b ố k h i đ iề u k iện cho phép

Tác giả xin bầy tỏ lò n g cảm ơn sâu sắc n h ấ t đ ế n các cơ q u a n

h ữ u q u a n củ a Bộ K hoa h ọ c và C ô n g n g h ệ, T rư ờ n g Đại học Khoa

họ c Xã hội v à N h â n v ă n (Đ ại học Q uốc gia Hà N ội), các đ ồ n g

n g h iệ p , cộ n g sự tích cực c ủ a tác giả tro n g su ố t m ấy n ă m qua Tác giả c ũ n g bày tỏ lòng tri â n v ớ i gia đ ìn h và bè b ạn đ ã cổ cũ đ ộ n g viên và ch ăm sóc tậ n tìn h ch o tác giả tro n g q u á trìn h biên soạn

cuốn sách này.

Tác giả trâ n trọ n g c ả m ơ n N h à x u ấ t b ả n G iáo d ụ c V iệt N am

đã g ó p ý k iến , b iên tậ p c ô n g p h u và g iú p tác giả x u ấ t b ả n cuốn sách này

Dù đã r ấ t cô" g ắn g , n h ư n g chắc ch ắn cu ố n sách n à y chư a đ á p ứng đ ư ợ c n h u cầu tìm h iể u c ủ a tấ t cả độc giả q u a n tâm , cho n ên tác giả m o n g n h ậ n đ ư ợ c ý k iế n p h ê b ìn h và b ổ k h u y ế t c ủ a to à n

th ể b ạ n đ ọ c, n h ấ t là c ủ a các c h u y ê n gia n g h iê n cứ u, g iả n g v iê n

đ ại h ọ c và s in h viên M ọi ý kiến đ ó n g g óp xin gửi về: C ông ty c ổ

Trang 7

p h ần Sách Đại học - D ạy n g h ề, N h à x u ấ t b ả n G iáo dục V iệt N a m -

25 H à n T huyên, H à Nội

Xin trâ n trọ n g cảm ơn!

H ầ N ội, m ù a H è 2010

T Á C G IẢ

Trang 8

Phần thứ nhất

Chương I

KHÔNG GIAN VĂN HOÁ

I CÁC CẤP ĐỘ KHÔNG GIAN VĂN HOÁ

1 Các cách xác định không gian văn hoá

Nếu hiểu văn hoá như là một bộ phận cấu thành bản sắc của một cộng đồng xã hội, thì không gian văn hoá chỉ là một bề chiều và bộ phận cấu thành thiết yếu của không gian xã hội mà thôi Do đó, muốn xác định được không gian văn hoá thì cần hiểu khái niệm không gian xã hội Vậy

thế nào là không gian xã hộil.

Có rất nhiều cách định nghĩa không gian xã hội - một thuật ngữ chủ chốt của xã hội học và các ngành khoa học xã hội hiện đại Nhà xã hội

học Pháp E Durkheim đã sử dụng thuật ngữ này trong công trình Những dạng thức cơ bản của đời sống tôn giáo (Les formes élementaires de la

vie reliqieuse, 1913) với nghĩa bối cảnh không gian đối lập với thời gian Còn nhà nhân học cấu trúc vĩ đại Lévi-Strauss trong bài viết nhan đề “Cơ

cấu xã hội” (1953) đã định nghĩa không gian xã hội là cách thức những hiện tượng xã hội được phân bô' trên bản đồ và những sự ràng buộc của sự phân bô'đó"' Cái gọi là những sự ràng buộc bao gồm cơ cấu

1 Dần theo G Condominas: Không gian x ã hội vùng Đ ông Nam Á, N gọc Hà, Thanh

Hằng dịch; Hổ Hải Thuỵ hiệu đính Hà Nội, 1996, tr 14-15.

Trang 9

xã hội, cấu hình không gian những nơi cư trú của con người như các làng bản và các trại di cư Nhà nhân học nổi tiếng về Đông Nam Á và Viột

Nam G Condominas đã đưa ra một định nghĩa ngắn gọn và hàm súc:

“Không gian xã hội là cái không gian được xác định bởi tập hợp các hệ thống quan hệ đặc triừig của một nhóm người nào đó"2 Theo đó, không gian xã hội có hàm nghĩa rộng của khái niệm không gian, trong đó nơi sinh sống chỉ là một bộ phận của không gian xã hội và là một trong những yếu tố quan trọng nhất của không gian văn hoá Tuy nhiên, có thể thấy định nghĩa này mang đậm màu sắc đặc trưng học gắn với từng nhóm

sắc tộc hay nhóm xã hội cụ thể

Chúng tôi cho rằng, cần nới rộng không gian xã hội hơn nữa, trong

đó các thuộc tính và quan hệ văn hoá chỉ tạo nên một trong những bộ

phận thiết yếu nhất của không gian xã hội mà thôi Vậy không gian xã hội là không gian bao hàm toàn bộ các quan hệ và đặc tính xã hội (kinh

tế, chính trị, văn hoá) của một cộng đồng người Khái niệm “cộng đồng

người” ở đây mang nghĩa tập hợp người chứ không phải một nhóm người với những đặc trưng riêng có Một cộng đồng người có thể bao gồm một hay nhiều nhóm người đặc trưng Sự tương tác giữa các cá nhân và nhóm người như vậy làm nảy sinh quan hệ xã hội Quan hệ xã hội mở rộng đến đâu thì không gian xã hội mở rộng đến đó

Đặc điểm của không gian xã hội thể hiện ở các phương diện sau đây3:

- Quan hệ gữa con người với môi truờng sinh thái (không gian và thời gian địa lý), ở đâý thể hiện ỉihững âự khác biệt trong quan niệm của từng nhóm người trong định vị không gian, thời gian, vị trí của con người

- Quan hệ trao đổi của cải, chẳng hạn sản phẩm của các nền kinh tế phương Tây bao giờ cũng mang hàm lượng chất xám (công nghệ), cách thức đối xử với đồng tiền, thừa kế và trao tặng tài sản, phạm vi trao đổi thương mại (rộng hay hẹp) v.v

2 G Condominas: Không gian x ã hội vùng Đ ông Nam Á, Sđd, tr 16-17.

3 Tham khảo G Condominas: Không gian x ã hội vùng Đ ông Nam Á, Sđd, tr 2 2 -5 5

Trang 10

- Quan hệ giao tiếp (ngôn ngữ và chữ viết), đây là một trong những quan hệ tạo thành nền vãn hoá và đặc trung vãn hoá của cộng đồng Do

đó ngôn ngữ là một trong những tiêu chí xác định sắc tộc, dân tộc và giới hạn của nền văn minh

- Quan hệ họ hàng và láng giềng, đây là quan hệ sơ cấp bên trong nhóm và có thể vượt ra ngoài nhóm Ở một số xã hội, quan hệ gia tộc (huyết thống) hay quan hệ láng giềng rất quan trọng, chảng hạn các xã hội phương Đông như Trung Quốc, Việt Nam Tính chất làng xã rất bền vững và chi phối nhiều quan hệ xã hội quan trọng ở Việt Nam Trong khi

đó, các quan hệ gia đình và xóm giềng ít quan trọng ở các xã hội Tây

phương hiện đại

Không gian vãn hoá chiếm vị trí nào trong tổng thể không gian xã

hội đó? Có hai góc nhìn về không gian văn hoá Thứ nhất, không gian

ván hoá trùng khít với không gian xã hội về mặt ranh giới bên ngoài Theo đó, không gian xã hội mở rộng đến đâu thì không gian văn hoá lan

tới đó Bởi vì khi đó văn hoá được hiểu như là thuộc tính, cách thức hay phương thức mà con người hành động và giải quyết vấn đề trong kinh tế,

chính trị, hoạt động văn hoá, ứng xử với môi trường Khi đó người ta có ván hoá chính trị, văn hoá kinh tế (kinh doanh), vãn hoá quân sự, vãn hoá giao tiếp, văn hoá giao thông, văn hoá pháp luật, vãn hoá môi trường, văn

hoá nghệ thuật v.v Thứ hai, không gian văn hoá chỉ là một bề chiều

(ciimension), là một trong những yếu tố cấu thành xã hội, nên nó bao gồm các loại yếu tố có thể đếm được như tư tưởng, tôn giáo, ngôn ngữ, tác phẩm văn hoc nghê thuât, hoat động giảị trí, bao gồm cả vật thể (ví dụ nhà thờ) và phi vật thể (giáo lý, Kinh thánh)

Muốn phân loại không gian vãn hoá, người ta buộc phải căn cứ vào những tiêu chí nhất định để kết quả phân định không gian văn hoá phù hợp với cảm quan về thực tế của đời sống xã hội Nhìn chung có 3 cách xác định không gian văn hoá trên thế giới, đó là:

- Xác định theo biên giới địa lý chính trị

- Xác định theo nhân chủng và ngôn ngữ

- Xác định theo tư tưởng và tôn giáo

Trang 11

1.1 Không gian văn hoá theo biên giới đ ia lý chính tri

Đây là cách phân loại thường gặp nhất trong nghiên cứu văn hoá

Đó là việc vạch ranh giới không gian văn hoá theo đường biên giới củũ một quốc gia hay biên giới của một khối quốc gia liền kê' có lưu ý đến yếu

tố cội nguồn dân tộc học Cái đơn vị mà nhà nghiên cứu thu được bước

đầu chính là các nền văn hoá quốc gia - dân tộc Bước thứ hai, người ta sẽ xác định được các không gian văn hoá rộng hơn - khu vực văn hoá xuyên

quốc gia hay gọi tắt là khu vực vân hoá.

Với bước thứ nhất, bản đồ văn hoá thế giới trước hết sẽ trùng khớp với đường biên giới quốc gia Chỉ trong một số trường hợp, ranh giới quốc gia và ranh giới vãn hoá dân tộc mới bị lấn sang nhau hay không còn trùng khít nhau nữa Chẳng hạn, đường biên vãn hoá dân tộc Triều Tiên bao trùm hai quốc gia hợp pháp là Đại Hàn Dàn Quốc (Nam Triều Tiên)

và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên) Như vậy, bản đồ văn hoá thế giới trên đại thể sẽ bao gồm khoảng trên dưới 190 đơn

vị Trong bản đồ văn hoá vĩ mô đó, các yếu tố vãn hoá địa phương (sắc tộc/ vi mô) bên trong nền văn hoá của quốc gia sẽ không được thể hiện Tuy nhiên có thể thấy rằng, sự phân chia này vẫn hàm chứa những mâu thuẫn, trước hết ở chỗ đa phần các quốc gia trên thế giới là các quốc gia

đa dân tộc, bất kể quốc gia đó theo thể chế đơn nhất hay thể chế liên bang Thậm chí có quốc gia (như Liên bang Nga) có tới trên 100 dân tộc

Do đó nhà nghiên cứu bắt buộc phải vận dụng “áp lực hệ thống” đế chỉ coi quốc gia đa dân tộc (cũng tức là đa văn hoá) đó là một nền văn hoá dân tộc Điều này cũng phù hợp với thực tiễn lịch sử nhân loại, vì nếu các nhóm sắc tộc hay dân tộc chung sống với nhau dưới cùng một điều kiện chính trị, xã hội, nhất là dưới những chính sách thống nhất của quốc gia trong một thời gian dài, thì tất yếu hình thành một nền văn hoá chung, bản sắc chung trên cơ sở văn hoá của một hay một vài dân tộc chiếm đa số

Với việc căn cứ vào đường biên đồng nhất về địa lý chính trị, thì việc phân cắt không gian văn hoá thế giới cũng có thể đưa đến kết quả là các khu vực liên quốc gia hay khối quốc gia có chung những đặc điểm địa chính trị Những nét chung đó có thể dựa trên sự đồng nhất cội nguồn

Trang 12

chủng tộc và dựa trên các mối liên kết chặt chẽ giữa các quốc gia cùng khối bời các hiệp định khu vực, sự giao lưu và ảnh hưởng lẫn nhau mang tính truyền thống trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội Theo đó, bức tranh văn hoá toàn cầu sẽ không thê bao gồm tới trên dưới

190 đơn vị như đường biên quốc gia nữa, mà chỉ bao gồm dưới một chục hay một vài chục đơn vị khu vực mà thôi Số lượng cụ thể là tuv thuộc các tiêu chí xác định Nếu theo tiêu chí các nền văn minh như của s Huntington hay A Toynbee trước đó, thì số lượng các nền văn minh chỉ

vào khoảng 6 - 2 i Cách xác định khu vực văn hoá theo ranh giới không gian địa lý của các tổ chức khu vực dẫn đến sự xuất hiện của một số đơn

vị khu vực văn hoá như: khu vực văn hoá Liên minh châu Âu (EU), khu vực văn hoá Bắc Mỹ (theo NAFTA), khu vực văn hoá Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG), khu vực văn hoá Trung Mỹ và Caribbean (MERCOSUR), khu vực văn hoá Đông Nam Á (ASEAN), khu vực vãn hoá Liên minh châu Phi (AU)

Nhược điểm của cách phân loại không gian văn hoá khu vực theo

ranh giới địa chính trị là ở chỗ nhiều khi ranh giới tổ chức chính trị khu vực không trùng khớp với ranh giới của bản sắc văn hoá khu vực Ở đây người ta buộc phải thừa nhận tính độc lập tương đối của các lĩnh vực văn hoá và chính trị Chẳng hạn, khi hoạch định ranh giới văn hoá khu vực Đông Nam Á (ASEAN), thì Việt Nam không còn nằm trong khu vực văn minh Đông Á trên nền tảng văn hoá Trung Hoa cổ điển với các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Mông c ổ (?), Trung Quốc, Singapore nữa, mà nó phải thuộc về khu vực văn hoá Đông Nam À Điều này chỉ phù hợp một phần nhưng lại trái với lịch sử, với tinh thần và tinh hoa của nên văn minh Đại Việt trong quá khứ và hiện tại

Khu vực là một khái niệm địa lý mang tính tương đối Trên thế giới

có lẽ chỉ có 2 khu vực được xem là có sự trùng khớp giữa biên giới văn hoá với biên giới chính trị: khu vực Liên minh châu Âu (27 nước thành viên) và khu vực ASEAN (10 nước thành viên) Tuy vậy tên gọi văn hoá khu vực Liên minh châu Âu hay văn hoá khu vực ASEAN vẫn khá khiên cưỡng Điều này có thể hiểu được, vì rằng nếu như văn hoá là sản phẩm lịch sử nhiều thế kỷ, thì liên kết chính trị và kinh tế khu vực lâu nhất như

Trang 13

Liên minh châu Âu EU cũng chỉ từ năm 1952 đến nay mà thôi Khối ASEAN còn trẻ hơn nhiều (nãm 1967) Hơn nữa, nhìn vào thực trạng cội nguồn và bản sắc văn hoá, người ta vẫn hoài nghi về một bản sắc chung của cả khu vực chính trị đó Nhưng dù sao cũng không thê phủ nhận rằng, biên giới liên kết chính trị và kinh tế khu vực cũng phải dựa trên những tiền đề văn hoá chung nhất định Vì thế việc kết nạp một thành viên mới nào đó có thể thuận lợi hay khó khãn một phần là vì bản sắc văn hoá của quốc gia ứng viên đó, chẳng hạn trường hợp Thổ Nhĩ Kỳ gặp nhiều khó khăn trong việc gia nhập Liên minh châu Âu - EU.

Do đó có thể nói, việc xác định không gian văn hoá theo biên giới địa lý chính trị chỉ phù hợp với đơn vị quốc gia mà thôi, vì nhìn chung người ta thấy có sự trùng khớp biên giới quốc gia và biên giới dân tộc, tạo

thành các đơn vị nửa chính trị nửa văn hoá là các quốc gia - dân tộc Bản

sắc và truyền thống của quốc gia do vậy cũng đồng thời là bản sắc và truyền thống dân tộc

1.2 Không gian văn hoá theo nhản chủng và ngôn ngữ

Cách phân loại khu vực văn hoá mang tính vĩ mô này dựa trên nguyên tắc cội nguồn dân tộc học, tức là dựa vào khởi nguyên của giống người và trên tiêu chí lãnh thổ mà cư dân cùng cội nguồn đó sinh sống Cách phân loại này có nhiều cấp khác nhau: từ cấp liên châu lục (ví dụ, không gian văn hoá các ngôn ngữ Ấn - Âu bao gồm cả chãu Âu, châu

Mỹ, Ấn Độ và dải đất Trung Á, Trung Cận Đông), đến cấp tiểu khu vực (ví dụ, khống gian vàn hoá Đõng Nam Á bao gồm các nước Đông Nám Á hải đảo, các nước trên bán đảo Đông Dương hay Đông Nam Á lục địa, lãnh thổ phía Nam sông Trường Giang - Trung Quốc)

Có điều đặc biệt, cách phân loại không gian văn hoá theo cội nguồn nhân chủng và ngôn ngữ có thể tiến hành đến cấp vi mô/ địa phương, khi người ta muốn tìm bản sắc văn hoá của từng sắc tộc trong một quốc gia

có một nền văn hoá đa sắc tộc (ví dụ Việt Nam) Khi đó, địa bàn cư trú của các tộc người thiểu số sẽ là cơ sở để vẽ bản đồ không gian vãn hoá

Do theo đuối đặc trưng cội nguồn nhân chủng và ngôn ngữ nên ranh giới giữa các không gian vãn hoá có thể không trùng khít với ranh giới địa lý

Trang 14

hành chính bên trong quốc gia cũng như ranh giới địa lý chính trị giữa các quốc gia Ví dụ, bản đồ không gian văn hoá Thái sẽ không chỉ gói gọn trong lãnh thổ của nước Thái Lan, mà còn ăn sâu vào nhiều phần lãnh thổ của các nước láng giềng khác: phía Nam Trung Quốc, Đông Myanmar, toàn bộ lãnh thổ nước Lào, nhiều địa phương vùng Tây Bắc Việt Nam Do tính chất phân tán về địa bàn cư trú của các sắc tộc hay là tính đa sắc tộc trên cùng một không gian địa lý, mà bản đồ không gian văn hoá vi mô xác định theo cội nguồn dân tộc và ngôn ngữ sẽ bị chia cắt, không liền mạch.

1.3 Không gian văn hoá theo tư tưởng và tôn giáo

Điển hình cho phương pháp lấy sự khác biệt về tư tưởng tôn giáo để phân chia không gian văn hoá là của nhà nghiên cứu chính trị quốc tế

s Huntington (Mỹ) trong tác phẩm Sự va chạm của các nền văn minh

(The Clash of Civilization, 1996) Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng,

Huntington phân loại các nên văn minh (Civilization) chứ không phải là các nền văn hoá (Culture), bởi vì hai khái niệm này có phần trùng nhau

nhưng cũng có phần khác nhau Huntington cho rằng, cả văn minh và vãn

hoá đều hướng đến lối sống tổng thể của một dân tộc, và nền văn minh là một nền văn lioá m à rộng Cả hai khái niệm đều chứa đựng những giá trị,

tiêu chuẩn, thể chế và phương thức tư duy Nhumg nền văn minh là một không gian văn hoá Và lịch sử nhân loại là lịch sử của các nền văn minh Vậy là ờ đây có 2 điểm đáng chú ý: (1) Huntington xem văn hoá chỉ bao gồm các yếu tố tinh thần (phi vật thể); (2) ông đã theo cách không gian hoá văn hoá - nói cách khác là vât chất hoá vãn hoá, để giải thích khái niệm văn minh Liệu cách làm này có có ổn về mặt logic và thực sự có sức thuyết phục?

Theo Huntington, giữa phân chia khu vực kinh tế và phân chia về văn hoá có quan hệ lịch sử với nhau Kết quả sự phân chia đó là sự ra đời

của hai không gian văn hoá siêu vĩ mô là phương Đông và phương Tây ở

đấy sự khác biệt cốt lõi không phải là sự khác biệt về kinh tế, mà là về nền tảng triết học, hệ giá trị và lối sống Theo đó, các nước giàu đều ở phuơng Tây và có chung một số đặc điểm nào đó Những đặc điểm chung

đó làm cho họ khác với các nước nghèo thuộc về phương Đông, v ề mặt

Trang 15

kinh tế và chính trị, các nước giàu có phương Tây đã nô dịch các nước nghèo phương Đông thông qua chủ nghĩa thực dân trong hơn 4 thế kỷ Mâu thuẫn và xung đột giữa các xã hội bùng phát, và cuối cùng thì các nước nghèo đã vùng lên lật đổ ánh thống trị thực dân phương Tây, giành độc lập dân tộc.

Tuy nhiên cũng theo Huntington, sự phân giới phương Đông và phương Tây hàm chứa những điều bất ổn, do chỗ nếu phương Tây có những đặc điểm khá thống nhất thành một chỉnh thể nào đó, thì các xã hội phi phương Tây lại không có sự thống nhất đó Do đó theo tác giả, tính đoàn kết của cộng đồng phi phương Tây và sự phân chia Đông - Tây

là những chuyện hoang đường do phương Tây sáng tác Cũng do thế giới quá phức tạp nên không thể đơn giản chia thế giới thành Bắc và Nam theo kinh tế, hay Đông và Tây theo văn hoá được, vì sự phân biệt Đông - Tây hàm ý hệ tư tưởng, chứ không phải là hàm ý phân biệt văn hoá

Vậy vấn đề ở đây là, giữa “phương Tây” trên nền tảng hộ tư tưởng

và khu vực “Tây Âu - Bắc Mỹ” có những sự trùng khớp và sự khác biệt nào hay không?

1.4 Các loại hình văn hoá của nhản loại

Việc xác định loại hình các nền văn hoá càng ngày càng trở nên có

ý nghĩa thực tiễn và lý luận sâu sắc, vì việc định vị đúng bản sắc của các nền văn hoá sẽ giúp cho quá trình họrp tác kinh tế, quá trình quản trị doanh nghiệp đa quốc gia cũng như quá trình đạt được thoả thuận quốc tế trở nên thuận lợi bơn, tránh được đổ vợ trọng các.qụậ trình hợp tặc độ 'Cộ nhiều cách phân loại các nền vãn hoá, trong đó các nhà nghiên cứu thường sử dụng cách đối lập từng cặp một trên cơ sở có hay không một thuộc tính nào đấy Nhìn chung, việc phân loại có thể dựa trên mấy nền tảng sau đây:

- Dựa trên định hướng hành vi trong quan hệ giữa người và người;

- Dựa trên định hướng hành vi trong quan hệ giữa con người và thời gian;

- Dựa trên định hướng hành vi trong quan hệ giữa con R gười và không gian (ngoại cảnh);

Trang 16

- Dựa trên định hướng hành vi trong quan hộ giữa con người và cấu trúc xã hội/ tổ chức.

Mỗi một nền tảng phân loai ấy, đến lượt nó, lại có thể phân loại các

nền văn hoá thành nhiều kiểu nhổ hơn Chẳng hạn, trên cơ sở so sánh đặc

điểm về định hướng tư duy và quan hệ íừig xử giữa con người với nhau ở

các nền vãn hoá dân tộc, người ta có thể phân loại các nền văn hoá th àn h ' từng cặp đối lập như sau:

1 Văn hoá định hướng Chủ nghĩa phổ biến hay Chủ nghĩa đặc trưng

(luậl lệ hay quan hệ)

2 Văn hoá định hướng Chủ nghĩa cộng đồng hay Chủ nghĩa cá

nhân (nhóm hay cá nhân)

3 Văn hoá định hướng trung lập cảm giác hay đậm cảm giác (chuỗi

cảm giác)

4 Vãn hoá định hướng đặc trưng hay phổ biến (chuỗi liên quan)

5 Văn hoá định hướng thành tích hay quy gán (địa vị được nhất trí như thế nào).4

Nãm định hướng giá trị này ảnh hưởng lớn đến cung cách ứng xử về mọi phương diện (chính trị, kinh doanh, quản lý, phản ứng) của con người thuộc các nền vãn hoá khác nhau trước các tình huống khó xử Vị trí, mối quan hệ của con người cùng với những kiểu quan hệ này là kim chỉ nam chỉ dẫn cho niềm tin và hành động cho họ suốt cuộc đời Chẳng hạn, đối với các nền văn hoá định hướng phổ biến, thì hành vi của người ta chủ

yếu là dựa trên luật lệ Nó hàm ý rằng, mọi người đều “bình đẳng" về

nghĩa vụ và quyền lợi trong phạm vi lớp, hạng của hệ thống mà người ta

thuộc vào Nghĩa là nó dựa trên tính duy lý Nhưng nếu bạn là “người

khác loại” thì các luật lệ sẽ không thể áp dụng Cách hành xử dựa trên luật lệ có xu hướng bác bỏ mọi “ngoại lệ” Các quốc gia theo văn hoá phổ biến mạnh đều có hệ thống pháp luật và toà án rất phát triển Họ thường

sử dụng toà án để giải quyết các mâu thuẫn Chẳng hạn, nước Mỹ nổi

4 Trompenaars, F./ Hampden-Tumer, Ch.: Chinh phục các làn sóng văn hoá Long

Hoàng và các tác giả khác dịch Hà Nội 2006, tr 7 0 -1 0 6

Trang 17

tiếng thế giới về thích kiện tụng, có nhiều luật sư nhất hành tinh theo bình quân dân số Quốc gia càng theo Chủ nghĩa phổ biến mạnh mẽ bao nhiêu, thì càng cần phát triển thể chế để bảo vệ chân lý bấy nhiêu.

Trong khi đó, các phán xét ở các nền văn hoá định hướng đặc trưng lại coi trọng tính chất đặc biệt của hoàn cảnh gặp phải Nếu một người không phải người lạ mà là một người thân, như bố, mẹ, gia đình, ch ồ n g

thì người ta trước tiên phải có trách nhiệm bảo vệ người ấy dù cho luật lệ

có quy định gì đi chăng nữa Vậy là văn hoá định hướng đặc trưng dựa trên nền tảng của tình cảm cá nhân, quan hệ cá nhân, tức duy tình.

Thành viên của cả hai xã hội nói trên đều có xu hướng không tin tưởng nhau Chẳng hạn, trong kinh doanh làm ãn, người theo Chủ nghĩa phổ biến sẽ nghĩ rằng “không thể tin người theo Chủ nghĩa đặc trưng vì

họ luôn giúp đỡ bạn bè họ”, còn người theo chủ nghĩa đặc trung lại nghĩ

“không thể tin người theo chủ nghĩa phổ biến vì họ, ngay cả bạn bè còn không giúp đỡ” Có thể nói, quan điểm của người theo chủ nghĩa phổ biến và đặc trưng không dễ dàng tương thích nhau Nền vãn hoá, cá tính, tôn giáo, và các mối quan hệ sẽ chỉ dẫn cho người ta nên ủng hộ cách này hơn hay cách kia hơn Chỉ đôi khi hai loại hình văn hoá này mới đạt đến

sự nhất trí Chẳng hạn không có nền văn hoá nào mà không lên án hành

vi quấy rối tình dục, mạc dù lý do phản đối có khác nhau: người theo văn hoá phổ biến phản đối vì coi đó là vi phạm luật pháp; còn người theo chủ nghĩa đặc trưng thì phản đối vì lý do đạo đức

Một số nhà.nghiên, cứu người.Mỹ còn.chọ rằng, Chủ nghĩa phổ biến thuộc về những cộng đồng hiện đại hoá, phức tạp hoá và có kinh tế phát triển; còn chủ nghĩa đặc trưng thuộc về những cộng đồng với phần lớn là nông thôn, nơi mà con người biết rõ về nhau với tư cách cá nhân Hàm ý của họ là nếu các quốc gia muốn giàu có hơn thì nên bắt chuớc nước Mỹ5 Điều này là thiếu sức thuyết phục, vì ở đây, trong những tình huống phức tạp, cần tôn trọng nhũng lợi thế văn hoá Việc tạo ra sự giàu có và phát triển của các quốc gia đều là những quá trình tiến bộ nhờ vào việc phát

5 Dẫn theo: Trompenaars, F./ Hampden-Tumer, Ch.: Chinh phục các làn sóng vân hoá

Long Hoàng và các tác giả khác dịch Hà Nội, 2006, ư 78.

Trang 18

hiện ra những ưu điểm của từng kiểu văn hoá, cả văn hoá định hướng phổ

biến/ luật lệ và vãn hoá định hướng đặc trưng/ tình cảm cá nhân

Không những thế, các nhà nghiên cứu còn phát hiện ra sự tương quan nhất định giữa phân chia không gian văn hoá và phân chia loại hình

văn hoá Chẳng hạn, các nền văn hoá Nhật Bản, Pháp, Venezuela thiên về

đặc trưng, còn các nền vãn hoá Bắc Mỹ, Tây Âu và Bắc Âu theo đạo Tin

Lành thiên về loại hình văn hoá phổ biến, sở dĩ như thế là vì tín đồ Tin

Lành tuân thủ các điều răn của Chúa dựa trên văn bản kinh thánh Đạo

Tin Lành không có các cha linh mục làm người trung gian giữa con chiên

và Chúa trời, không có ai chú ý nghe những lời thú tội riêng tư, tha thứ cho tội lỗi hay chiếu cố đặc biệt cho riêng ai Trong khi đó, Cơ đốc giáo

La Mã lại giữ lại nhiều đặc điếm của chủ nghĩa đặc trưng: có cha linh

mục nghe xưng tội, rửa tội và tha thứ Điều này khiến cho mọi con

chiên tuy không tuân thủ điều răn của Chúa mà vẫn thấy động lòng khi gặp các cảnh ngộ đặc biệt của người khác Chúa có thể tha thứ cho họ ngay cả khi họ nói dối, khi họ nói dối vì bảo vệ nguời thân6

1.5 Xác đinh không gian văn hoá khu vưc theo tông hơp các tiêu chí

Sự phân cấp và phân loại các không gian văn hoá, như trên đã phân tích, là phụ thuộc vào hệ tiêu chí mà nhà nghiên cứu đưa ra Vấn đề quan trọng nhất là ở chỗ, việc xác định không gian văn hoá đó nhằm mục đích

gì? Theo quan điểm của chúng tôi, việc xác định không gian văn hoá,

phân cấp và phân loại các không gian văn hoá cần gắn với việc tìm hiểu đúng đắn bản sắc văn hoá của khu vực, của các dân tộc và mối tương tác

giữa các nền văn hoá trong bối cảnh toàn cầu hoá Để đạt được điều đó,

rõ ràng nhà nghiên cứu không thể chỉ căn cứ thuần tuý vào một tiêu chí duy nhất hay phiến diện nào, mà cần dựa trên một hệ tiêu chí tổng hợp, trong đó dành vị trí ưu tiên (chứ không phải duy nhất) cho tiêu chí địa lý Tổng hợp các tiêu chí phân chia không gian văn hoá khu vực bao gồm:

- Tiêu chí ranh giới địa lý: giới hạn không gian tự nhiên, thuận lợi trong xác định không gian văn hoá khu vực liên quốc gia

6 Trompenaars, F./ Hampden-Tumer, Ch.: Chinh phục các làn sóng văn hoá Sđd, tr 82.

2-V HCK Ẳ UẰ U

ĐAI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM THỐNG TIN THƯ VIỄN

Trang 19

- Tiêu chí lịch sử: cội nguồn dân tộc học và lịch sử di dân, thuận lợi trong xác định không gian văn hoá khu vực.

- Tiêu chí địa chính trị: dựa trên bản sắc chính trị và liên kết chính trị khu vực - dân chủ và liên kết chiều sâu

- Tiêu chí vãn hoá: dựa trên bản sắc về lối tư duy, lối sống, loại hình ngôn ngữ và giao tiếp (cá nhân - cộng đồng)

Các tiêu chí này dường như có sự liên quan mật thiết với nhau, bỡi

vì người ta thấy có sự chi phối của điều kiện địa lý và sinh thái đối với quá trình di dân, sự phát triển lịch sử của xã hội, kinh tế và chính trị khu vực; có sự chị phối của cội nguồn dân tộc học (nhân chủng) đối với câu trúc chính trị quốc gia và khu vực (địa chính trị), đối với lối sống, lối tư duy và lối giao tiếp (văn hoá và ngôn ngữ) của các khu vực vãn hoá

Mỗi một nền văn minh đều mang những đặc tính sau đây:

- Mỗi nền văn minh bao giờ cũng là hợp thể của nhiều nền văn minh, nghĩa là có các không gian văn hoá khác nhau Quy mô của nền vãn minh có thể bao phủ toàn cầu hoặc ở một khu vực rộng lớn bao gồm lãnh thổ nhiều quốc gia

- Các nền văn minh đều mang tính chỉnh thể, tính hệ thống Nển tảng của tính hệ thống này chính là những liên hệ về cội nguộn chung và tính đồng nhất về một số nét bản sắc văn hoá

- Các nền văn minh thường bao giờ cũng có tính bền vững lâu dài nhiều thế kỷ do đặc tính nhân văn bền vững của nó, trong khi đó chính trị chỉ mang tính ngắn hạn Do đó một nền văn minh có thể bao chứa nhiều nền chính trị khác nhau trong không gian và thời gian

- Giữa các nền văn minh hay khu vực văn hoá đều có quan hộ với nhau Đó có thể là quan hệ cội nguồn hay quan hệ tiếp xúc, quan hệ giữa trung tâm và ngoại vi, giữa trình độ phát triển cao và trình độ thấp, giữa khuôn mẫu điển hình và biến thể

- Trong cùng một thời đại, thế giới có thể có nhiều nền văn minh tồn tại song song; trong nghiên cứu khoa học thì số lượng các nền vãn minh có thể được xác định khác nhau tuỳ theo quan điểm của các nhà

Trang 20

nghiên cứu Trong thời đương đại trên thế giới có cả thảy 6 nền văn minh là7:

(1) Văn minh Đông Á trên nền tảng văn minh Trung Hoa (với tính

từ sinic), bao gồm nền văn hoá chung của các quốc gia Trung Quốc, Mông Cổ, Nhật Bản, bán đảo Triều Tiên, hai quốc gia Việt Nam và Singapore ở Đông Nam Á Đặc điểm cơ bản của nền văn minh Đông Á là

sự hoà hợp của các tôn giáo Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo, trong đó Nho giáo đóng vai trò nền tảng

(2) Văn minh Ấn Độ: lãnh thổ cốt lõi là tiểu lục địa Ấn Độ theo Ấn

Độ giáo, gồm một số quốc gia như nước Ấn Độ và một số nước khác ở

Đông Nam Á (Myanmar, Thái Lan, Lào)

(3) Vãn minh Trung Đông - Bắc Phi Hồi giáo: xuất xứ từ bán đảo A Rập, bao gồm nhiều nền văn hoá hoặc tiểu văn minh lấy tư tưởng và giáo

lý Hồi giáo làm nền tảng Không gian của nền văn minh này bao gồm khối các nước A Rập Trung Đông, Thổ Nhĩ Kỳ, một vài nữóc khá phát triển ở Bắc Phi (Angeria, Ai Cập, Lybia, Maroco) và Đông Nam Á hải đảo (Indọnesia, Malaysia, Bruney)

(4) Văn minh Đông Âu và Đông Nam Âu Chính thống giáo: Đó là nền văn minh Cơ đốc giáo ly khai mạng màu sắc Byzantine gắn bó với Nhà nước Sau hơn ba thế kỷ (VIII - XI), nền văn minh Thiên chúa giáo

ly khai này đã bao trùm nhiều quốc gia Đông Âu và Nam Âu mà trung tâm là Nga, ít chịu ảnh hưởng của các trào lưu phương Tâys

(5) Văn minh phương Tây: Đây là nén văn minh lấy Cơ đốc giáo làm nền tảng Nền văn minh này xuất hiện sau Công nguyên khoảng

7 Trong phân loại các nền vãn minh, Huntington đã tách vãn minh Nhật Bản ra khỏi văn minh Trung Hoa, trong khi lại gán vào văn rninh Trung Hoa cả các khu vực ngoài Trung Quốc có Hoa kiều sinh sống (kể cả ở Mỹ?) Còn văn minh Mỹ Latinh rõ ràng lại đữợc xác định theo màu sắc (văn hoá) chính trị, trong khi lẽ ra nó đáng được coi là một bộ phận của văn minh phương Tây (mà nòng cốt là Thiên chúa giáo).

* Toynbee, A.J.: Nghiên cừu lịch sít nhăn loại Viột Thư dịch TP Hồ Chí Minh, 2009,

tr 25.

Trang 21

800 năm sau một quá trình Thiên chúa giáo hoá gần một thiên niên kỷ, gồm 3 bộ phận địa lý là Tây Âu, Bắc Mỹ và Mỹ Latinh Riêng khu vục

Mỹ Latinh thì văn minh phương Tây được pha trộn với một sô' yếu tố bản địa, mà nổi bật nhất là tính chuyên quyền

(6) Văn minh châu Phi: Bất chấp ảnh hưởng mạnh mẽ của văn minh phương Tây, bản sắc bộ lạc vẫn bao trùm và mạnh mẽ, người châu Phi có

ý thức phát triển bản sắc của mình Trung tâm của văn minh châu Phi là Tiểu Sahara, với Nam Phi là hạt nhân

Trong tương quan giữa phân chia không gian văn hoá và loại hình văn hoá khu vực, thì quan trọng nhất là tương quan giữa sự phân chia loai hình văn hoá phương Tây - phương Đông và hai vùng địa lý Âu - Mỹ với

các phần còn lại của thế giới Ớ đây, trên một mức độ nhất định, người ta

buộc phải đồng ý với Huntington trong cách phân biệt các nền vãn mirh (chứ không phải đối địch và xung đột văn minh) của ông

Khi nghiên cứu không gian văn hoá hay'diện mạo các nền văn minh, có một số nét cần lưu ý về mặt phương pháp luận:

- Trong xác định ranh giới các nền văn minh, chúng ta thấy rằng, ranh giới đó không phải lúc nào cũng rạch ròi, mà chúng thường xuyén

có sự đan xen, xâm nhập vào nhau, tạo ra những “nét nhoè”, ví dụ kí.u

vực Đông Nam Á, Bắc Phi và Trung Đông Nhà sử học Anh lừng danh A

Toynbee đã từng chỉ ra rằng, bản thân một nền văn minh luôn ià kết quả

sáng tạo chung của nhiều giống người, nhiều cộng đồng người có gốc gác

khác nhau và chịu ảnh hưởng của những nền vãn hoá khác nhau Quan điểm phân biệt chủng tộc cũng như quan điểm quyết định luận địa lý và sinh thái học không thể giúp lý giải các nền văn minh9 Vậy là ở đây xuất hiện hai cấu hình: cấu hình Trung tâm - Ngoại vi hay Tâm - Biên khi xét dưới góc độ một nền văn minh và cấu hình Tiếp xúc/ Lan toả khi nhìn từ góc độ tổng hợp các nền văn minh Tất cả tạo nên bức tranh đa sắc và đa tầng cụa văn minh nhân loại

9 Toynbee, A J.: Nghiên cídi lịch sử nhân loại Viột Thư dịch, Hà N ội 2009, tr 9 -2 0

Trang 22

- Quan hệ giữa các nền văn minh là rất phức tạp, đa dạng và luôn luôn biến động theo thời gian Do đó có khi người ta thấy các nền văn

minh chung sống hoà hợp với nhau, bổ sung cho nhau; lại có thời kỳ

chúng xung đột với nhau, thậm chí vô cùng đẫm máu Vấn đề là ở chỗ, tại

sao các nền văn minh (thông qua các chế độ chính trị và nhà nước) lại

thay đổi ứng xử với nhau như vậy ở đây, rõ ràng người nghiên cứu cần quan sát và phân tích toàn diện, khách quan, đặt các hiện tượng xung đột

và hoà hợp văn minh trong tổng thể các quan hệ với kinh tế, chính trị và địa lý Bản chất nhân vãn của phân tích là hướng đến sự chung sống hoà bình giữa các nền văn minh; tuyệt đối tránh việc nhấn mạnh tính chất đối lập, xung đột, chẳng hạn quan điểm nhấn mạnh xung đột của Huntington- trong sách Sự va chạm của các nền văn minh (1996) Quan điểm tiêu cực

và thiên vị của tác giả này ngay từ rất sớm đã gặp phải nhiều ý kiến phản

bác, điển hình là tác phẩm Sự cộng sinh giữa các nền văn hoá của Harald

M ueller10 M ueller phản bác hầu như tất cả các quan điểm phiến diện (simple) mang màu sắc kỳ thị chính trị của Huntington, vạch rõ những sai lầm và tác hại chính trị của các quan điểm đó Ông kêu gọi các cường quốc là chủ thể chủ yếu của nền chính trị thế giới không được hoảng sợ trước sự rối loạn và khủng hoảng Để tránh khủng hoảng và xung đột, cần thay đổi cách thức ứng xử Các nền vãn hoá hoàn toàn có thể cộng sinh với nhau, văn hoá Nhật Bản trước đây và sự nghiệp hiện đại hoá ở Trung Quốc, Việt Nam ngày nay là những ví dụ điển hình về khả năng hoà hợp văn hoá Đông và Tây Tuy nhiên ở đây vẫn tồn tại một số vấn đề do khác biệt về quan niệm giá trị, nhất là giá trị chính trị Điều này cũng là bình thường trong quan hệ quốc tế, vì ẩn chứa phía sau của những khác biệt giá trị (văn hoá) là sự đối lập về lợi ích kinh tế và chính trị Sự nghi kỵ lẫn nhau giữa phương Tây và phương Đông là do quá khứ thực dân và áp bức dàn tộc nhiều thế kỷ mà có Bức tường ngăn cách ách ấy không dễ gì gạt

bỏ được Nhưng người ta có thể tin, tất cả đều sẽ được vượt qua

10 M ueller, H.: D a s Zusammenleben der Kulturen (Chung sống giữa các nền văn hoấ),

Frankfurt/ M (CHLB Đức), 1998.

Trang 23

2 Đặc trưng của không gian văn hoá khu vực

Vấn đ ề bản sắc văn hoá khu vực

Văn hoá khu vực là không gian văn hoá tồn tại đồng thời trong một không gian xuyên quốc gia và thường bao gồm nhiều nền văn hoá dân tộc Ngoài chỉ dấu về liên kết chính trị ra, hạt nhân của văn hoá khu vực

là những nét bản sắc chung của các nền văn hoá dân tộc tạo ra sự kết dírìh cộng đồng của khu vực Nói một cách khác, sự đồng nhất văn hoá chính

là một trong những tiền đề tạo ra liên kết I^hính trị và kinh tế của khu vực

Về nguyên tắc, số lượng các nét bản sắc vãn hoá khu vực phải ít hơn so với tổng số nét bản sắc của các nền văn hoá có ở các quốc gia trong khu vực, nghĩa là số lượng nét bản sắc tỷ lệ nghịch với độ mở về không gian

Ví dụ, văn hoá khu vực Alpe - Adriatic bao gồm các nền văn hoá dân tộc Trung Âu và Nam Âu, trải rộng theo các sườn của dãy Alpe (Trung Âu) đến Nam Âu (Biển Adriatic), giữa các lưu vực sông Danup, sông Rheine bao trùm nhiều quốc gia như Italia, Thuỵ Sĩ, Đức, Áo, Séc, Slovakia, Hungary, một số nước thuộc Nam Tư cũ v.v

Các nhà nghiên cứu đã khẳng định những tính chất cơ bản của bản sắc văn hoá khu vực là:

- Có cùng một cội nguồn ngôn ngữ xa xưa (ví dụ, vùng Alpe chung dòng ngôn ngữ Âu châu, thuộc ngữ hệ Ấn - Âu) hoặc chịu ảnh hưởng lẫn nhau rõ nét thông qua tiếp xúc lâu dài

- Có cung một lịch sử (Ví dụ, khu vực Alpe là lịch sử của đế chế Habsburg/ Áo - Đức)

- Có cùng một tôn giáo và một hệ giá trị (luân lý, niềm tin, ý nghĩa của đời người, giá trị thẩm mỹ, các ý niệm hiện đại như dân chủ, nhãn quyền, nhà nước, kinh tế thị trường và tự do, giáo dục v.v

- Có cùng một truyền thống văn hoá chung (văn hoá Hy Lạp và La Mã): chung hồi ức, quá khứ, nỗi tiếc nuối (Nostalgy), huyền thoại, một chút không tưởng, giải trí, ước mơ, ý tưởng và trừu tượng hoá v.v

- Cùng thuộc về một khối liên kết kinh tế - chính trị hiện nay và tương lai, ví dụ: Liên minh châu Âu

Trang 24

Khi nghiên cứu bản sắc văn hoá khu vực, người ta phải chú ý các luận đề quan trọng sau đây:

(1) Bản sắc khu vực hình thành bới sự phân biệt 3 chiều: phân biệt với các khu vực xung quanh; phân biệt với các nền văn hoá có không gian hẹp hơn (như vãn hoá tiểu khu vực, quốc gia); phân biệt với các nền văn hoá có không gian rộng hơn (ví dụ với văn hoá phương Tây và vãn hoá nhân loại nói chung)

(2) Bản sắc vãn hoá khu vực hình thành bởi sự đồng nhất hoá bên trong (homo^emsation) thông qua: trao đổi kinh tế và đồng nhất hoá tương quan vật chất; nhất thể hoá xuyên biên giới và xây dựng tình đoàn kết; giao tiếp xuyên biên giới và đồng nhất hoá văn hoá; cá nhân hoá và đồng nhất hoá bản sắc

(3) Bản sắc văn hoá khu vực mang tính lịch sử: nghĩa là những nét chung của khu vực có thể biến đổi theo thời gian và không gian Sự biến đổi của thời gian sẽ có thể làm cho một khu vực nào đó vốn đồng nhất về vãn hoá dần trớ thành những khu vực mang những nét khác biêt nhau, tới mức các khu vực này không còn có thổ quy về chung một không gian văn hoá được nữa Khu vực văn hoá Địa Trung Hải bao gồm hai bờ biển Nam

Âu và Bắc Phi trong thời cổ đại (thời cổ đại La Mã và trước đó) đã từng là một khu vực vãn hoá thống nhất Nhưng sau khi Đế chế La Mã thần thánh tan vỡ (thế kỷ XI), thì tính thống nhất của vùng văn hoá Địa Trung Hải cũng biến mất: bờ biển Nam Âu quay về với vùng văn hoá châu Âu, còn bờ Bắc Phi quay vể với khu vực văn hoá Bắc Phi - Trung Đông hoặc vãn hoá châu Phi

(4) Bản sắc khu vực hình thành bởi sự thu nạp yếu tố ngoại lai: khu biệí và kết hợp giữa trung tâm và ngoại vi Văn hoá châu Âu cũng là ví dụ điển hình về sự hấp thu văn hoá ngoại lai làm văn hoá của mình

(5) Bản sắc khu vực trong các quá trình đan xen: khu vực hoá, tái - dân tộc hoá, tái khu vực hoá và toàn cầu hoá

(6) Bản sắc văn hoá khu vực hình thành bởi hành động của giới tinh hoa xã hội: chính khách, thương gia và doanh nhân, các trí thức, các nhà hoạt động văn hoá (nhà văn, nhạc sĩ, hoạ sĩ, các nghệ sĩ sân khấu, điên ảnh)

Trang 25

(7) Bản sắc khu vực hình thành trong xung đột đồng thời với chủ nghĩa dân tộc và xu thế toàn cầu hoá.

(8) Bản sắc khu vực hình thành trong xung đột giữa kiến tạo bản sắc

1 Các loại hình văn m inh trong lịch sử

Trong nghiên cứu lịch sử văn minh nhân loại, các nhà khoa học phân biệt hai hình thái xã hội cơ bản là xã hội nguyên thuỷ và xã hội văn minh Hai hình thái xã hội này có những điểm chung nhất định, vì giữa Chúng phải có điểm đồng nhất thì nhân loại mới có thể phát triển từng bước đến mức độ văn minh như ngày nay Trước hết, cả hai đều là các xã hội có tổ chức Tính có tổ chức của xã hội nguyên thuỷ thể hiện ở chỗ: tôn giáo nông nghiệp đơn vụ; tín ngưỡng tôtem (vật tổ) gắn liền với chế

độ ngoại hôn; quy tắc cấm kỵ, kết nạp và phân cấp bậc theo tuổi tác; thiết lập các nhóm theo giới tính khi đến một tuổi nhất định

Nhưng sự khác biệt giữa xã hội nguyên thuỷ và xã hội văn minh là rất căn bản Khác biệt trước hết là về số lượng các xã hội Sô' lượng các nển văn minh của nhân loại là rất nhỏ, mà theo A.J Toynbee chỉ có cả thảy 21 nền văn minh có tính chất điển hình Trong khi đó, số lượng các

Trang 26

xã hội nguyên thuỷ là hết sức lớn Vào đầu thế kỷ XX, đã từng có một số nhà khảo cổ học phương Tây thực hiện cuộc nghiên cứu so sánh toàn bộ các xã hội nguyên thuỷ Kết quả họ tìm ra 650 xã hội nguyên thuỷ mà hầu hết đều đã diệt vong" Nhưng con số đó cũng rất nhỏ so với thực tế,

vì người ta không thê nào thống kê được chính xác số lượng các xã hội nguyên thuỷ trong thời thượng cổ cách đây 300.000 nãm trước khi xuất hiện người tinh khôn (Homosapiens) v

Sự khác biệt chủ yếu nữa giữa xã hội nguyên thuỷ và xã hội văn minh hay nền văn minh còn ở quy mô rộng lớn và tuổi thọ lâu dài của nền vãn minh Theo đó, một nền vãn minh bao giờ cũng bao trùm một không gian rộng lớn và số lượng người đông đảo thuộc nhiều cộng đồng dân tộc khác nhau Vì thế ta thấy tên gọi của các nền văn minh bao giờ cũng là tên gọi cúa khu vực lãnh thổ liên quốc gia, thậm chí là liên châu lục, cho

dù tên gọi đó có thể chỉ là tên gọi của một dòng sông hay một đô thị cổ

Sự khác biệt cơ bản mang tính nguyên tắc giữa nền văn minh và xã

hội nguyên thuỷ - theo Toynbee - là ở cách thức hay khuynh hướng “bắt

chước”, tức là “nguỵ trang” và “mô phỏng” Bắt chước, hay trong xã hội học gọi là tâm lý đám đông, là một thuộc tính của bất kỳ xã hội nào Chẳng hạn, ngày nay, người ta hay bắt chước các “sao” điện ảnh và ca nhạc Các chương trình quảng cáo sản phẩm hầu hết đều do các “sao” biểu diễn Trong xã hội nguyên thuỷ, con người có thói quen bắt chước quá khứ, truyền thống, tổ tiên Do đó các tập quán và phép tắc xã hội không thay đổi Trong khi đó, ở các xã hội đang trên tiến trình văn minh thì con người bắt chước những người đồng thời với mình nhưng đó là những người lãnh đạo xã hội và có phẩm chất sáng tạo, khai phá, đem lại cái mới, cái tiến bộ Vì thế xã hội vãn minh là những xã hội phát triển, tiến lên và đi đến tương lai không ngừng nghỉ Quá trình chuyển biến từ

xã hội nguyên thuỷ đến xã hội văn minh là bước ngoặt vĩ đại đã diễn ra trong thời đại nguyên thuỷ, trong bối cảnh các cộng đồng nguyên thuỷ có

sự phân hoá giữa một loại cộng đồng ngủ quên trong hiện tại, bắt chước

11 Toynbee, A.J.: Nghiên cidt lịch sử nhân loại Việt Thư dịch, Hà N ội, 2009, tr 45.

Trang 27

quá khứ và bên kia là những cộng đồng có những cá thể tỉnh thức, muốn bứt phá để tiến lên.

2 Hoạch định ranh giới phương Tây, châu Âu, Tây Âu

Toàn cầu hoá nói chung và toàn cầu hoá vãn hoá nói riêng được không ít nguời coi là Tây phương hoá Điều này không phải là không có

cơ sở, vì hầu hết người ta đều phải thừa nhận thế thượng phong về nhiều phương diện của phương Tây; toàn cầu hoá là do phương Tây khởi xướng, nhằm phục vụ trước hết cho lợi ích của phương Tây Mặt khác, như đã

phân tích ở mục I, sự phân chia phương Tây và phi phương Tây được thực

hiện theo tiêu chí ý thức hệ, khiến cho một khu vực vốn liền khối là châu

Âu hiện nay vẫn bị chia làm hai nửa Đông Âu và Tây Âu, trong khi vấn

đề ý thức hệ cổ điển — sự đối đầu trong Chiến tranh Lạnh, đã thuộc về dĩ vãng Một số thế lực ở cả Đông Âu và Tây Âu hiện nay vẫn cổ suý cho sự phân cắt châu Âu này Cơ sở của sự chia cắt châu Âu mới dựa trên mấy tiền để sau đây:

- Tiền đề địa - chính trị: Đông Âu đặt dưới sự ảnh hưởng lợi ích của nước Nga; Tây Âu là khu vực của Liên minh châu Âu và khối NATO; Tây Âu có nền chính trị dân chủ phát triển, còn Đông Âu mới ra khỏi chế

độ cộng sản từ đầu thập niên 1990 và đang trên đường thiết lập chế độ chính trị dân chủ; biên giới chia cắt Đông Âu và Tây Âu là đường biên phía cực đông của khối NATO

- Tiền đề văn hoá - lịch sử: Đông Âu là khu vực của dòng nhân chủng Slave và về.tôn giáo là dòng Chính, thống giáo (Đông La M.ả cổ đại) của Thiên chúa giáo và có tiếp nhận ảnh hưởng nhất định của Hồi giáo; Tây Âu là khu vực của hai dòng nhân chủnơ chủ yếu là Romance và German theo Cơ đốc giáo La Mã hoặc Tin Lành (phía Tây La Mã cổ đại) Nhìn chung, đây là khu vực thuộc đế chế La Mã cổ đại và thừa kế di sản

cơ bản của văn minh cổ đại Hy Lạp - La Mã

- Tiền đề trình độ phát triển: Đông Âu có trình độ kinh tế, khoa học công nghệ, giáo dục kém phát triển hơn Tây Âu, mức sống người dân thấp hơn; Tây Âu là khu vực cùa Liên minh châu Âu theo mô hinh Kỉnh

tế thị trường xã hội, trình độ ohát triển cao hơn về mọi mạt: trinh độ kinh

tế, chất lượng sống, trình độ khoa học còng nghệ và giáo dục - đào tan

Trang 28

Quan niệm về ranh giới châu Âu cũng dược mở rộng dần theo tầm hiểu biết của con ngưừi Thoạt đầu “châu  u” là tên gọi vùns đất thuộc miền trung của Hy Lạp Sau đó, người Hv Lạp mở rộng ra để chỉ toàn bộ lãnh thổ Hy Lạp, rồi lại gộp thêm toàn bộ các vùng đất rộng lớn ở phía Bắc Sang thời La Mã cổ đại, các binh sĩ và các nhà thám hiểm đã đưa luôn cả khu vưc Tây Âu và Trung Âu vào khái niệm châu  u 12.

Vậy là, sự phân chia Tây Âu và Đông Àu chỉ máng tính chất ước lệ, tương đối Còn về căn bản, châu Âu vẫn là một khu vực địa lý mang tính thống nhất cao Bởi vì:

- Châu Âu từ khới thuỷ đã là một khối thống nhất địa lý, không có một đường biên nào, một vật chướng ngại tự nhiên nào (chẳng hạn sông, biển, núi, sa mạc) - trừ chướng ngại nhân tạo, phân cắt châu Âu ra làm hai nửa

- Vận mệnh của các dân tộc châu Âu thống nhất với nhau Bởi vì giữa các khu vực của châu Âu không có rào cản địa lý, nên mọi sự biến

xã hội ở đâu đó của châu lục này đều nhanh chóng tác động đến toàn bộ khu vực Phong trào Phục hưng, phong trào Cải cách Tôn giáo, Trào lưu Ánh sáng, Cách mạng Tư sản, Chủ nghĩa Cộng sản và sự sụp đổ của nó, Liên minh châu Âu và sự mở rộng thành công của nó sang phía Đông v.v đều chứng minh hoàn toàn rõ ràng về tính thống nhất châu Âu và bản sắc châu Âu chung đó

- Xu thế phát triển hiện nay của châu Âu là tăng cường hơn nữa quá trình nhất thể hoá, từng bước xoá bỏ những ranh giới cuối cùng giữa Đông Ảu và Tây Âu Nhận thức quan trọng này đã hiển hiện trong tư duy

và hành động của các chính khách lớn của châu Âu, nhằm xây dựng châu

Âu thành một trụ cột của một trật tự thế giới 3 cực: châu Âu - Bắc Mỹ — Đông Á

12 Khái niệm châu Á cũng được m ở rộng tương tự như vậy: châu Á vốn chỉ là một phần đất nhỏ giáp biển A egea thuộc lãnh thổ Thổ N hĩ Kỳ ngày nay Dần dấn sau đó, các nhà thám hiểm Hy Lạp đã tiến về phía Đ ông, pnía Bắc và phía Nam , gộp các vùng đất nằm phía Đ ông, sông Đon ờ phía Bắc và biển Đ ỏ ờ phía Nam Xem: M K ishlansky et al:

Nền tảng văn minh phương T áy Lê Thành dịch Hà N ội, 2 0 0 4 , tr 6 -7

Trang 29

Vậy thì việc tách Tây Âu ra khỏi châu Âu và gán Tây Âu với Bác

Mỹ bên kia bờ Tây Đại Dương thành một phương Tây thống nhất chi là một cách làm ước lệ và là sự kế thừa tư duy đối trọng Tây - Đông có từ thời chủ nghĩa thực dân và Chiến tranh Lạnh mang tính chất “phòng ngừa” địa - chính trị Hơn nữa, có thể thấy, sự phân tách Tây Âu - Đông

Âu còn nhằm mục đích địa - chính trị sâu xa hơn, đó là tạo ra sự nghi ngờ, phá vỡ sự thống nhất ý chí chung của người châu Âu, đặc biệt là giữa nước Nga và phần Tây Âu Bằng cách đó, Mỹ một mặt ngăn ngừa được sức mạnh của một châu Âu thống nhất trong trật tự quyền lực thế giới, mặt khác bắt Tây Âu lệ thuộc vào sự che chở của Mỹ, trước hết là trong khuôn khổ của khối NATO

Cái lý cơ bản của việc phân biệt Tây Âu - Bắc Mỹ với phần còn lại của thế giới chính là vấn đề chênh lệch về trình độ phát triển và sức mạnh: Tây Âu/ Bắc Mỹ hay phương Tây đang áp đảo phương Đông, mưu toan áp đặt giá trị của nó cho phương Đông! Tuy nhiên khách quan mà nói, trên phương diện văn hoá, tư tưởng, chính trị, giữa Tây Âu và Đông

Âu vẫn có những khác biệt nhất định về bản sắc và về trình độ phát triển Điều đó vẫn còn đúng với cả các quốc gia Đông Âu mới gia nhập Liên minh châu Âu (Tây Âu) từ năm 2004 đến nay Hơn nữa, xét về nhiều mặt,

cả về nhân chủng, cội nguồn văn hoá, mô hình chính trị và kinh tế - xã hội, cộng đồng lợi ích kinh tế và an ninh thì giữa Tây Âu và Bắc Mỹ bên kia Đại Tây Dương quả là có một số nét đặc trưng chung, có sự phụ thuộc lẫn nhau, nương tựa vào nhau và ở mức độ nào đó là ước chế lẫn nhau Vì thế các nhà nghiên cứu nhận thấy có sự đôi lập giưa phương Tây vẳ phân còn lại của thế giới, nhất là với châu Á

Trang 30

Chương II

CỘI NGUỒN CỦA VĂN HOÁ CHÂU Â u

I CỘI NGUỒN TRUNG ĐỎNG

Có một thực tế học thuật là, trong nghiên cứu về văn minh phương Tây, hầu hết các học giả đều thường bắt đầu bằng sự nghiên cứu nền văn minh Lưỡng Hà và vãn minh sông Nile (hay văn minh Ai Cập) Đây là vùng đất nếu xét về mặt môi trường tự nhiên trong lịch sử là vô cùng khắc nghiệt: khô hạn, sa mạc h o á , tất cả đã nhiều lần đe doạ sự tồn vong của các xã hội thái cổ và cổ đại nơi đây Đó chính là những ngoại lực kích thích hay là những thách thức sống còn đối với xã hội con người Con người đã chấp nhận thách thức, thực thi hành động sáng tạo để vượt qua

Đó chính là động lực và cội nguồn của văn minh cổ đại và được các học giả phương Tây thừa nhận là một trong những cội nguồn chủ yếu của văn minh phương Tây

Trung Cận Đông hay Trung Đông là vùng đất nằm ở vị trí tiếp giáp giữa ba châu lục Á, Phi, Âu; là ngã ba văn minh của nhân loại cho đến tận ngày nay Các nhà nghiên cứu đã xác nhận, ngay từ thiên niên kỷ V trước Công nguyên (CN), con người nơi đây đã xây dựng được một xã hội

đô thị với làng ấp tập trung Họ biết dệt vải, làm đồ gốm, thuần hoá súc vật để cày bừa, canh tác, đóng thuyền và xây cất các công trình kiến trúc tâm linh vĩ đại Đặc biệt là người ta đã sáng tạo ra chữ viết để ghi lại ngôn ngữ của mình

Dọc theo sông Nile, Lưỡng Hà (Tigre và Eurphrate) và sông Indus

đã mọc lên nhiều đô thị sầm uất Cho đến nay, người ta vẫn chưa lý giải được các dân tộc Trung Cận Đông đã chuyển từ văn hoá nông nghiệp sang văn hoá đô thị bằng cách nào Một sô' nhà khoa học phỏng đoán rằng, cuộc di cư từ trên các sườn đồi xuống đồng bằng là hậu quả của

Trang 31

thay đổi khí hậu: thời kỳ đó xảy ra hạn hán nghiêm trọng sau kỷ Băng hà, các gò đồi hết nước nên dân cư phải chuyển đếrí vùng thấp trũng và xây đắp thuỷ lợi để chế ngự nguồn nước Quá trình thực hiện các công việc khổng lồ ấy đòi hỏi dân cư phải được tổ chức lại cả về chính trị và kinh

tế, ngay từ thời điểm 4.500 nãm trước C N '\ Nền văn minh của xã hội dô thị mang tính vật chất và phô trương ấy có một cấu trúc xã hội phức tạp, bao gồm các cấp lãnh đạo sắp xếp theo tôn ti đông đảo, giới tinh hoa với các thương gia, chuyên gia; bên dưới là tầng lớp thường dân nghèo khổ, lam lũ phục dịch cho các tầng lớp trên

Xung quanh chuỗi thành bang kể trên là các cộng đồng dân du mục

Họ thường xuyên cướp bóc lân bang Giữa các thành bang và với dân du mục tứ chiếng này thường xuyên có liên hệ qua lại với nhau, có khi đối địch, có khi hoà hợp, tạo ra trạng thái cân bằng trên đại thể Các dân tộc

Ai Cập, Assyria và Babylon kế tiếp nhau xưng bá trong khu vực, nhưng

có điều đặc biệt là họ không tiêu diệt bản sắc hay cá tính và độc lập của các dân tộc khác Mãi đến kỷ nguyên của người Ba Tư ở thế kỷ thứ VI trước CN, sự thống trị của Đế chế này đã kéo theo sự tàn phá và đồng hoá mạnh mẽ các nền vãn hoá ở khu vực14 Việc phát minh ra chữ viết đầu tiên là tượng hình và cải tiến nó qua nhiều thế kỷ đến mức vùng Mesopontamie mỗi con chữ chỉ là một ký hiệu của âm tiết, không còn gắn gì với tính chất tượng hình nữa Việc phát minh ra chữ viết, theo nhận định của các nhà khoa học, là chỉ xảy ra một lần duy nhất cho toàn bộ các biến thể của các hộ thống chữ viết Hebreu, A Rập, Hy Lạp, Latinh và các chữ khăc cửa châù Â ú ' Các dân tộc Trung Cận Đông còn phát minh ra các môn khoa học tự nhiên, thiên văn, chiêm tinh học, toán học, mà lịch pháp là một minh chứng Họ cũng xây dựng nên kỹ thuật thuỷ lợi và kiến trúc, luật pháp - chẳng hạn bộ luật Hamurabi nổi tiếng vào thế kỷ XIX trước CN Những

Brinton, c / Lee, R / Christopher, í B.: Văn minh phương Tây Nxb Vãn hoá Thông

tin, Hà N ội, 2004, tr 29-30.

14 Đ ế chế Ba Tư đã chiếm M esopotamie, mờ rộng ra toàn bộ vùng lãnh thổ kéo dài từ Ai Cập tới biên giới Ấn Đ ộ và phía Nam biên giới nước Nga ngàv nav.

Trang 32

cuốn sách đầu tiên, loại giây dầu tiên, công trình kiến trúc có thiết kế đầu liên, những tôn giáo đúng nghĩa đầu tiên tất cả đều ra đời ở Trung Cận Đỏng Trong đó có cống hiến to lớn của các dân tộc vùng Mesopotamie (Lưỡng Hà), đặc biệt của người Do Thái (Akkadian) và người Hittites (Thổ Nhĩ Kỳ) là phát minh ra thời đại đồ sắt Người Hittites thời đó gần như độc quyền về sắt và vũ khí bằng sắt Sau đó, kỹ thuật luyện sắt được truyền bá rộng rãi cùng với sự sụp đổ của đế quốc Hittites Kỹ thuật về sắt đã tạo ra cuộc cách mạng trong sản xuất và chính trị, vì sắt cứng hơn, sắc bén hơn và rẻ hơn, dễ ứng dụng hơn cho mọi lĩnh vực Tuy nhiên với

sự xuất hiện của đồ sắt, các cuộc chiến đã bùng nổ khủng khiếp hơn Khoảng cách chênh lệch giữa các nhóm xã hội ngày càng ngắn lại Giới quàn sự bắt đầu đòi hỏi vị trí lãnh đạo và quyền lợi chính trị, kinh tế, can thiệp vào các chính sách của nhà nước, và quân sự trở thành công cụ của thiểu số thống trị để bảo vệ trật tự xã hội, cai trị nhân dân Vì thế, có người đã gọi sắt là “kim loại của thời dân chủ” (V G ordon)'\

Riêng về tôn giáo, tính chất độc thần của dàn Ai Cập (thời đại Pharaon Ikhnaton) với tính cách một bước tiến về tư duy tôn giáo đã ảnh hướng lớn đến tính chất độc thần của Do Thái giáo và sau này thể hiện trong Thiên chúa giáo - tôn giáo chủ đạo và là nền tảng của văn hoá châu

Âu nói riêng, phương Tây nói chung

Về luật pháp, các bộ luật Summer vàHamurabi sau đó đều tỏ ra quá

hà khắc, phản ánh tính chất phân biệt giai cấp rất rõ rệt Tuy nhiên, luật pháp thời đó đều áp dụng phổ thông cho mọi người, kể cả quý tộc lẫn nò

lệ, cho dù mức độ áp dụng cho giới quý tộc là nương nhẹ hơn16

Về hệ thống cai trị, các dân tộc Trung Cận Đông (bao gồm cả Thổ Nhĩ Kỳ và Iran) đã tạo ra một kiểu chế độ quân chủ chuyên chế tuyệt đối Theo đó, tính chất thiêng hoá hoàng đế cùng với sự phân chia giai cấp thành 3 hạng người (quý tộc, thường dân và nô lệ) sau này đã trở thành

ls Dẵn theo: Chamber, M : Lịch sử văn minh phương Tây Lương Văn Hy, Nguyền

Đức Phú dịch Hà N ội, 2004, tr 32.

16 Brinton, c / Lee, R / Christopher, J.B.: Vãn minh phương Tây Nxb Vần hoá Thông tin,

Hà N ội, 2004, tr 4 0 -4 1

Trang 33

khuôn mẫu cho chế độ quân chủ của đế quốc La Mã và các vương quốc châu  u17.

Tất cả những di sản vĩ đại ấy đã được lưu giữ và truyền bá đến châu

Âu thông qua sự tồn tại của các đế quốc khu vực rộng lớn trải rộng suốt Trung Đông và châu Âu, nhất là thời kỳ Hy Lạp cổ đại, thời kỳ Đế quốc

La Mã, thời kỳ Đế chế Ottoman v.v ; thông qua di cư của các nhóm sắc tộc gốc Ấ n - Â u chung (người Do Thái và các giống dân khác từ bên ngoài Tây Âu)

n CỘI NGUỒN VÁN MINH c ồ ĐẠI PHƯƠNG TÂY

1 Cội nguồn văn minh Hy Lạp cô đại

Dưới góc độ lịch sử, nền văn hoá châu Âu nói riêng và phương Tây nói chung đều bắt nguồn từ nền văn minh cổ đại Trung Cận Đông, đạo

Thiên chúa và các nhánh lớn của nền văn hoá châu Âu bản địa Nhưng ở

đây cần lưu ý rằng, nền văn minh cổ đại phương Tây và Thiên chúa giáo

đã bao trùm lên toàn bộ thời Trung cổ với tính cách một thể thống nhất và

nó giải thích cho chúng ta cái sức mạnh sáng tạo của sự thống nhất đó.Nền tảng tinh thần đặc sắc của văn hoá châu Âu chính là nền văn minh Hy Lạp cổ đại Nền văn minh này được mọi người ca ngợi hơn tất thảy vì sự sáng tạo, thiên tài nghệ thuật, sự táo bạo trong tư tưởng Người

Hy Lạp đã phát minh ra những hình thức tư tưởng và hình thức thể hiện mang tính chất kinh điển: triết học, khoa học, sân khấu, văn chương, sử thi và sử học: Nó khẳng định vai trò chủ đạo của lý trí con người, của tranh luận và biện luận theo logic Nó cũng tôn vinh chủ nghĩa anh hùng

và tư cách độc lập của cá nhân Trong toàn bộ di sản vĩ đại đó nổi lên ba yếu tố truyền thống và cũng là ba nét đặc sắc của thế giới tinh thần châu

Âu nói riêng và phương Tây nói chung: cách tư duy triết học, cách tư duy khoa học và cách tư duy văn học nghệ thuật.

Nếu muốn thâu tóm được một cách hệ thống ảnh hưởng của thế giới tinh thần Hy Lạp trong khung cảnh của tiến trình văn hoá phương Tây thì

17 Tham khảo: Chamber, M : Lịch sừ văn minh phương Tây Lương Vãn Hy, Nguyễn

Đức Phú dịch Hà N ội, 2004, tr 2 1 -4 3

Trang 34

người ta phải tìm về những bài thơ bất hủ của Homer (khoảng 800 năm

trước CN) Hai bản trường ca bất hủ Mas và Odyssee của đại thi hào nói

về sự thất thủ của kinh thành Troya và cuộc hành trình kinh dị của Odyssee đã thể hiện thật tuyệt vời bản sắc văn hoá của dân tộc Hy Lạp

Do vậy, ông đã trở thành “vạn thế sư biểu” củạ dân tộc vĩ đại này Thi ca của ông chứa đựng một ý nghĩa giáo dục sâu xa đối với con người, bởi vì bằng hình thức huyền thoại về các vị thần trên đỉnh Olympia nó đã phác thảo nên chân dung của chính con người trần thế, trong đó các giáo lý tôn giáo, luân lý và chính trị đã hoà quyện vào nhau

Giai doạn tiếp theo của lịch sử tinh thần Hy Lạp là kỷ nguyên bi kịch với các đại biểu khổng lồ như Aichylos (Et-syn), Sophokles (Sở- phôc) và Euripides (ơ -ri-p it) Chủ đề của các vở bi kịch bất hủ trên là nỗi trăn trở và cảm nhận của con người về trật tự chính trị và tôn giáo đang bao phủ lên xã hội con người Những chủ đề đó được lý giải thổo cách là con người tự trong ý thức quen thuộc phải chịu đựng số phận mà trời tiền định Thuở ban đầu, các vở bi kịch Hy Lạp được trình diễn như là những nghi thức tế lễ thần linh, rồi dần dần mới được xem như những tác phẩm nghệ thuật Sau đó là những vở kịch điển hình cho thuyết định

mệnh như Oedipus làm vua của Sophokles Motiv của vở bi kịch này

trong thế kỷ XX đã được các nhà nghiên cứu văn hoá và tôn giáo xem là

một khuôn mẫu về khởi nguồn của văn hoá Theo đó, nguồn gốc của văn

hoá (phương Tây) khởi đầu bằng vụ án giết người (liên tưởng giữa việc

giết cha trong Oedipus làm vua và việc bán Chúa Jesus trong Kinh thánh)

và sau đó là bữa tiệc thịt người (liên hệ giữa tục Totem/ vật tổ, và việc

phân phát bánh thánh và nước thánh - tượng trưng cho máu và thịt của Chúa Jesus) Sau những sự kiện điên loạn ấy là một chuỗi dài bất tận của hành vi sám hối (liên hệ giữa sự ân hận của Edipus và lễ xưng tội, rửa tội của Thiên chúa giáo) Văn hoá toát-ra từ các vở bi kịch Hy Lạp cổ đại chính là thứ văn hoá sám hối, trùng khớp với tinh thần của Thiên chúa giáo sau này

Nghệ thuật tạo hình, kiến trúc và nghề thủ công mỹ thuật ở châu Âu cũng xuất xứ từ vãn minh Hy Lạp cổ đại Điện Pantheon ở Athen - Hy Lạp đang được phục chế mãi mãi là biểu tượng cho quan niệm và niềm hứng khởi thẩm mỹ trong kến trúc đền đài của châu Âu Các bức tượng

Trang 35

khoả thân thần Apollon, nữ thần sắc đẹp Venus v.v mãi mãi đem lại cho người ta xúc cảm thẩm mỹ về cái đẹp kinh điển của cơ thể con người trong sự thăng hoa hài hoà với thế giới tinh thần của nó.

Về mặt triết học và khoa học, ngay từ xa xưa người Hy Lạp đã đặt dấu hỏi về các trật tự duy lý của thế giới tự nhiên Họ muốn khám phá các mối liên hệ cũng như cội ngùồn của thế giới Lần đầu tiên trong lịch

sử trí tuệ nhân loại, Aristoteles đã đưa ra các cặp phạm trù đối lập và song

hành giữa vật chất và tồn tại, hiện thực và khả năng.

2 Văn hoá La Mã cổ đai

Thời La Mã cổ đại, Roma là trung tâm văn hoá, chính trị của Đế chế và trở thành niềm kiêu hãnh bất hủ của một Đế chế bành trướng tuy chậm chạp nhưng ngày càng vươn ra tầm thế giới Do vậy mà không có một thành phố nào, một bộ tộc nào hay một dân tộc nào có riêng được một sức mạnh lịch sử nữa, mà chúng đã phải nhường chỗ cho hệ tư tưởng của toàn đế quốc, trong đó các bộ tộc hay dân tộc riêng lẻ bị xem thường

và được hoà đồng vào toàn bộ Đế quốc Dưới ách thống trị tàn bạo của Nhà nước La Mã, các hoạt động thương mại, kinh tế và kéo theo đó là sự giao lưu văn hoá tinh thần được mở ra và được thúc đẩy mạnh mẽ, một địa vực mênh mông trải ra khắp Âu - Á - Phi cho nền vãn minh cổ đại

■ được hình thành Ngày nay, ta có thể thấy, thành tựu văn hoá La Mã dựa trên sự củng cố truờng cửu của đế chế mà tư tưởng cơ bản của nó được

bao gồm trong 4 chữ cái SPQR: Senatus Populusque Romanusw Trong

mọi cuộc tranh chấp quyền lực của lịch sử La Mã, người ta không đựợc phép quên rằng, những tư tưởng nói trên đã hình thành từ trong quá khứ

và chính chúng đã khiến cho văn hoá phát triển không ngừng

Thế giới tinh thần La Mã đã được nhào nặn lại bởi di sản tinh thần

Hy Lạp cổ đại Trong thời đại văn minh Hy Lạp thì tiếng Hy Lạp đã lấn át tiếng Latinh, thậm chí trong suốt một thời kỳ dài Thế nhưng tiếng Latinh vẫn sản sinh ra những nhà thơ, nhà vãn và nhà sử học vĩ đại như Vergil, Cicero và Tacitus Chính họ đã đem đến cho tiếng Latinh một hình thức

18 Lương Văn K ế (Chủ biên): Phác thảo chân dung đời sống văn hoá Đức đương đại Hà

N ội, 2004, tr 106.

Trang 36

đầy tính nghệ thuật Và ngày nay các tác phẩm của họ vẫn là cơ sở và mục đích của môn học tiếng Latinh trong trường phổ thông ở châu Âu.

Mã cổ đại) và phía Đông sông Rhine (thuộc nước Đức) đã tạo ra nền móng của văn minh châu Âu nói riêng và phương Tây nói chung Di dân thời thượng cổ và cổ đại từ Trung Đông và ngoại vi Tây Âu đã đem đến lục địa châu Âu những thành tựu đầu tiên của nền văn minh Thậm chí

có tác giả như học giả Anh B T Spalding coi văn minh Hy Lạp cổ đại là

sự thừa kế không trọn vẹn thành tựu của nền văn minh Ai Cập huy hoàng từng tồn tại cách đây 8.000 nãm 19

Các cuộc chinh phạt của các đế quốc cổ đại và trung đại cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành vãn minh châu Âu Các cuộc chinh phạt đó không phải chỉ xuất phát từ một phía châu Âu sang các khu vực khác ở phương Đông, mà ngược lại, chúng đan xen lẫn nhau, khi thì từ phương Đông tràn sang phương Tây (ví dụ cuộc xâm lăng của đê' c h ế Ottoman/ Thổ Nhĩ Kỳ và đế chế Mogul), khi thì từ phương Tây tràn sang phương Đông (ví dụ các cuộc Thập tự chinh của Thiên chúa giáo La Mã), tạo ra các quá trình di cư liên văn hoá liên tục và vô cùng mạnh mẽ, sâu sắc20

Xuyên suốt lịch sử văn minh phương Tây người ta thấy nổi lên vai trò của di dãn Do Thái Tuy khởi đầu của dân Do Thái là cực kỳ gian nan, nhưng họ đã dần dần chiếm lĩnh được một vị trí cực kỳ quan trọng trong lịch sử tinh thần của phương Tây Khởi đầu từ vùng Ur trên sa mạc Ả Rập

19 B.T.Spalding: Hành trình v ề phương Đông Nguyên Phong dịch, Hà Nội, 2009,

tr 2 3 3 -2 3 4

20 Brinton, c / Lee, R / Christopher, J.B.: Văn minh phương Tây Nxb Văn hoá Thông tin,

Hà N ội, 2004, tr 4 2 -4 3

Trang 37

và có liên hộ mật thiết với người Ả Rập, giống dân du mục này đã chuyển đến các vùng đồi và vùng Nege vào thế kỷ XX trước CN; một bộ phận chuyển đến Ai Cập khi mà nền văn minh Ai Cập đã rất huy hoàng Khi

đó, họ vẫn là dân du mục, chưa có thói quen của người thành thị, không

có giai cấp quý tộc, nhưng họ đã có tôn giáo độc thần (Monotheism) Rổi

bộ tộc này dần chiếm lĩnh cả vùng Canaan, hoà nhập vào xã hội đô thị, đa thần giáo và chạy theo của cải vật chất nơi đây Vương quốc Do Thái nhỏ

bé đạt đến đỉnh cao vào thế kỷ X trước CN dưới thời vua David và Salomon Cuộc nội chiến giữa miền bắc (Israel) và miền nam (Juda) khiến họ suy yếu và cuối cùng bị rơi vào tay đế quốc Babylon, rồi tiếp đó dưới tay người Ba Tư

Sự phục hưng của người Do Thái diễn ra sau đó, trong thế kỷ V đến thế kỷ I trước CN Họ tái thiết lại Jerusalem, nhưng vẫn luôn luôn bị các

đế chế từ Ba Tư, Hy Lạp đến La Mã chi phối như một nuớc phiên thuộc Lịch sử sau đó với dân tộc này cũng hết sức đau thương Họ tản mát khắp hoàn cầu Tuy bị áp bức hàng ngàn năm và bị tan đàn xẻ nghé thành hàng trăm bộ tộc khác nhau trên khắp thế giới, nhất là ở châu Âu, nhưng tất cả

họ vẫn mơ về một ngày phục quốc, về miền đất hứa và kỳ lạ nhất họ vẫn

là một dân tộc đồng nhất về phong tục tập quán và tôn giáo, tín ngưỡng

Họ nhận sứ mệnh sáng tạo ra tôn giáo độc thần cho văn minh phương Tây, như ta sẽ phân tích dưới đây Người ta cho rằng, bí quyết của sự đồng nhất dân tộc đó chính là niềm tin trong thế giới tinh thần mãnh liệt của họ21

Để có thể hiểu được Thiên chúa giáo với tư cách một tôn giáo có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đối với nền văn hoá châu Âu thì không thể không tìm hiểu Do Thái giáo - cái nôi hình thành nên tôn giáo này Do

Thái giáo đã gắn liền với toàn bộ các thiên của sách Citu ước trong Kinh

thánh Từ trong Cựu ước, người ta gặp gỡ một thế giới và một phương

21 Brinton, c / Lee, R / Christopher, J.B.: Văn minh phương Tây Nxb Vãn hoá Thông tin,

Hà N ội, 2004, tr 45.

Trang 38

cách sống mà ngay từ sơ khởi đã vô cùng khác lạ so với văn hoá Hy - La

ớ đây, người ta luôn luôn ý thức rằng, sô' phận con người là nằm trong bàn tay của chỉ riêng cá nhân Chúa mà thôi Triết lý tôn giáo của người

Do Thái được xem là một tiến bộ vĩ đại so với các dân tộc vùng Trung Đỏng, bởi vì vào thời cổ đại, trong khi các giống dân Trung Đông còn theo đa thần giáo và dị đoan, thì dân Do Thái đã một lòng hoan hỉ và tin tưởng vào một Chúa trời duy nhất, toàn nãng, cao cả, huyền bí và tin vào kiếp sống tốt đẹp ở thế giới bên kia, ngay cả khi họ bị đày ải vô cùng

khốn khổ (chẳng hạn nhân vật Jakob trong Cựu ước) Niềm tôn kính Chúa

ấy đã được thể hiện trong mọi hình tượng tôn giáo và được Thiên chúa giáo đẩy đến một tầm phát triển cao hơn Tương tự như Do Thái giáo, Thiên chúa giáo là một tôn giáo mang tính lịch sử Lịch sử loài người được hiểu không có gì khác hơn là do ý Chúa Do đó mà đối với Thiên

chúa giáo thì lịch sử chỉ là lịch sử cứu rỗi, là sám hối và tha thứ22 Ý thức

thời đại theo tinh thần Thiên chúa giáo do vậy không có tính tuần hoàn,

mà là được sáng tạo ra nhằm một mục đích cuối cùng cho toàn thể loài người Đối với Thiên chúa giáo thì cuộc đời và sự nghiệp của Jesus, người Nazareth tượng trưng cho bước ngoặt trong tư duy tôn giáo Còn đối với mỗi tín đồ Thiên chúa giáo thì Ngài vừa là Con trai của đức Chúa trời lại vừa là nhà cách mạng xã hội Vai trò và ảnh hưởng của Ngài đã vượt xa ra ngoài khuôn khổ của Thiên chúa giáo23

Mặc dù khởi đầu hết sức khiêm tốn nhưng Thiên chúa giáo đã không phải hổ thẹn khi gặp gỡ văn hoá Hy - La cổ đại Tình yêu cao cả nhất với tư cách là tình bác ái đối với mọi người đã làm bột phát lên sức mạnh sáng tạo (bildende Kraft) của cộng đồng tín đồ, và khiến cho Thiên chúa giáo trở thành một hệ thống cơ bản trong các thiết chế luân lý nhằm hoàn thiện con người thời hậu kỳ cổ đại, đặc biệt là kỷ nguyên Stoya

22 Điều này đã được các nhà văn hoá học phân tích sâu sắc, đặc biệt là những phân tích

của các nhà phân tâm học như s Freud (xem: Nguồn gốc cùa văn hoá và tôn giáo

Lương Văn K ế dịch và viết lời dẫn, Hà N ội, 2001), E Fromm (xem các bài viết của E

Fromm trong: Phán tâm học và văn hoá tâm linh Đ ỗ Lai Thuý biẽn soạn, Hà Nội,

2002) và các tác phẩm của các tác giả khác.

23 Kinh thánh Cicii ước và Tân ước Bản tiếng Việt Korea, 1990.

Trang 39

Sự hoà kết giữa tư duy lịch sử thần thánh của Thiên chúa giáo và các học thuyết lý luận cũng như thực tiễn của triết học Hy - La đã trở thành tiền đề văn hoá có tính quyết định đối với văn hoá châu Âu Quá trình hỗn dung đó đã diễn ra trước tiên ở trường phái Alexandria, mà đại

biểu của nó là Klemens và Origenes Thông qua họ mà triết học lịch sử của Thiên chúa giáo tiếp nhận khái niệm Hy Lạp Paideia, theo đó thì lịch

sử là sự giáo dục nhân tính bởi Chúa Một loạt khái niệm khác của triết

học Hy - La cổ đại như logic, tư tưởng, chân lý, bất tử, linh hồn và trí tuệ v.v đã trở thành một bộ phận hữu cơ của Thiên chúa giáo với một ý nghĩa mới mẻ

Tư duy nhân văn Hy Lạp đã được mở rộng và làm sâu sắc thêm bằng quan niệm Thiên chúa giáo về con người với tư cách cá nhân, đó là

bất k ể là ai cũng đều đáng quỷ như nhau trước Chúa và điều đó là bất di bất dịch trong xã hội Với nhận thức như thế về con người, Thiên chúa

giáo đã chỉ ra ý nghĩa của tình trạng nỏ lệ vốn bị xem nhẹ trong xã hội cổ đại

Tóm lại, các di sản phong phú và kỳ vĩ của các xã hội vùng Trung

Cận Đông cổ đại trên các phương diện nghệ thuật, chữ viết, kiến trúc, kỹ thuật đồ gốm và kim khí, hệ thống chính trị và tổ chức xã hội nói chung

đã có ảnh hưởng to lớn đến châu Âu, trước hết thông qua xã hội Hy Lạp

và La Mã cổ đại Các dân tộc châu Âu đã học được kỹ thuật đúc tiền kim loại, cách đo lường thời gian và cả những hình thức ngoại giao Người Hy Lạp, và tiếp đó người La Mã đã phát triển thêm hệ thống tổ chức xẩ hội bằng các thiết chế dân chủ và chủ nghĩa cá nhân (dành cho tầng lớp trên trong xã hội), lối tư duy logic và đam mê văn hoá đối thoại theo logic Họ cũng sáng tạo ra hệ thống luật lệ, thể chế, chính sách có ảnh hưởng lâu dài đến toàn bộ văn minh phương Tây và kéo dài đến tận hôm nay Dấu

ấn về di sản tinh thần phương Đông (Trung Cận Đông) ở châu Âu nói riêng, phương Tây nói chung thậm chí còn sâu sắc và phong phú hơn ở các xã hội Trung Cận Đông ngày nay

Trang 40

Phần thú hai

Chương I

NHỮNG THÀNH Tựu CHỦ YẾU CỦA

VĂN HOÁ CHÂU ÂU C ổ ĐẠI

Vãn minh Hy Lạp - La Mã cổ đại là cội nguồn chủ yếu của nền văn minh phương Tây hiện đại nói chung Giữa hai nền văn minh Hy Lạp và

La M ã cổ đại có sự tương phản khá rõ rệt, nhưng cũng vì thế mặ bổ sung cho nhau, tạo nên một văn minh phương Tây hoàn chỉnh Văn minh Hy Lạp thích hợp với các cộng đồng nhỏ mang tính cạnh tranh mãnh liệt, trong khi đó văn minh La Mã lại phát triển trong khung cảnh một đế chế khổng lồ và lâu đời Người La Mã coi trọng kỷ luật, ý thức phục tùng, sự bền chắc xã hội Tuy La Mã sau này có xuất hiện chế độ tự trị ở thời cộng hoà, nhưng mức độ dân chủ của nó là có giới hạn chứ không rộng rãi và mạnh mẽ như ở văn minh Hy Lạp

I THÀNH T ự u VÃN HIEN: s á n g t ạ o c h ữ VIET v à

VĂN HỌC

Khó mà nói đến một nền văn hiến của một dân tộc khi nó thiếu một cồng cụ đầu tiên, một công cụ nền tảng là chữ viết Nói một cách khác, văn tự tạo ra văn hiến Các nghiên cứu cho thấy, sự sáng tạo ra chữ viết của người Hy Lạp rõ ràng là do chịu ảnh hưởng của các dân tộc hệ Semit

ở Trung Cận Đông như đã nói Chứng cứ lịch, sử cho thấy, sau một thời kỳ dài từ thế kỷ XIII trước CN đến khoảng năm 759 trước CN, dân Hy Lạp rơi vào tình trạng mù chữ, thì quá trình giao thượng với dân Phẹnicia, vùng Palestine đã đem lại cho họ cơ hội tiếp xúc với hệ thống chữ viết

Ngày đăng: 21/11/2019, 23:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w