1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ thực tiễn huyện quốc oai, thành phố hà nội

88 107 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 285,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội...43 Chương 3.GIẢI PHÁP TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG C

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HỒNG DUYÊN

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HỒNG DUYÊN

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngành: Công tác xã hội

Mã số: 8760101

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN KHẮC BÌNH

HÀ NỘI, 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện

dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS NGUYỄN KHẮC BÌNH Các sốliệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàntrung thực

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này!

Học viên

Nguyễn Thị Hồng Duyên

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

Chương 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢVIỆC LÀM ĐỐI VỚI PHỤ NỮ ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ 14

1.1 Một số khái niệm cơ bản 14

1.2 Các Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu đề tài 23

1.3 Đặc điểm của phụ nữ đơn thân và việc làm 31

1.4 Mục đích, nội dung và quy trình CTXH trong hỗ trợ sinh kế đối với PNNĐT 34

1.5 Cơ sở pháp lý trong hỗ trợ việc làm đối vơi phụ nữ nghèo đơn thân 37

Chương 2.THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀMĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎTẠI HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 40

2.1 Khái quát về địa bàn và khách thể nghiên cứu 40

2.2 Thực trạng hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội 43

Chương 3.GIẢI PHÁP TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG NHỮNG NĂM TỚI 63

3.1 Định hướng các hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội 63

3.2 Các giải pháp phát triển công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội 67

KẾT LUẬN 72

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

PHỤ LỤC 76

Trang 6

DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU VÀ BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1 Phân loại các loại hình đơn thân 41

Bảng 2.2 Thống kê độ tuổi và số con đang nuôi của PNNĐT 42

Bảng 2.3 Cơ cấu ngành nghề và bình quân thu nhập của PNNĐT 45

Bảng 2.4 Kết quả khảo sát trình độ chuyên môn của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ 49

Bảng 2.5 Mức độ tiếp cận dịch vụ tư vấn hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ 50

Bảng 2.6 Mức độ tham gia của phụ nữ nghèo đơn thân vào chương trình kết nối việc làm tại địa phương 52

Bảng 2.7 Số PNNĐT nuôi con nhỏ được tiếp cận các chính sách hỗ trợ 54

Bảng 2.8 Trình độ học vấn PNNĐT nuôi con nhỏ 55

Bảng 2.9 Sự nhìn nhận của Phụ nữ nghèo đơn thân về chính họ 56

Bảng 2.10 Nhìn nhận cộng đồng về “mẹ đơn thân” 57

Hình 1.1 Mô hình hóa bậc thang nhu cầu của A Maslow 25

Hình 1.2 Các hệ thống sinh thái trong công tác xã hội 30

Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ số phụ nữ nghèođơn thân nuôi con nhỏ được tham gia khảo sát nhu cầu việc làm năm 2019 49

Biểu đồ 2.2 Số phụ nữ nghèođơn thân được tham gia đào tạo 52

Biểu đồ 2.3 Phản hồi của người học sau cac khóađào tạo 53

Biểu đồ 2.4 Số lượng cán bộ tốt nghiệp chuyên ngành CTXH làm việc tạiđịa phương 63

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công tác xã hội là một ngành khoa học ứng dụng có lịch sử hình thành

và phát triển hơn 100 năm trên thế giới Tuy nhiên, tại Việt Nam do biến cốcủa lịch sử, sự hình thành và phát triển của Công tác xã hội có nhiều thăngtrầm, vì vậy, những năm gần đây ngành mới được sự công nhận của Chínhphủ thông qua đề án 32 “Phát triển nghề công tác xã hội” Công tác xã hội vớimục đích hướng tới sự trợ giúp con người trong cuộc sống nhất là nhữngnhóm đối tượng dễ bị tổn thương bằng các mô hình can thiệp từ cá nhân, đếnnhóm và cộng đồng Trong xã hội ngày nay, đối tượng trợ giúp của công tác

xã hội tương đối đa dạng Nhiều đối tượng yếu thế đang rất cần sự giúp đỡ,động viên, chia sẻ của tất cả cộng đồng cũng như của công tác xã hội

Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ là một trong những đối tượng yếuthế dễ bị tổn thương và cần sự trợ giúp của công tác xã hội Công tác xã hội

có sứ mệnh vận dụng linh hoạt những kiến thức và kỹ năng để tiếp cận đốitượng, lập kế hoạch trợ giúp và giúp những phụ nữ nghèo đơn thân tiếp cậnvới các cơ sở dịch vụ hỗ trợ một cách bền vững

Giá trị nhân văn và kinh tế khi PNNĐT có việc làm dường như khôngthể phủ nhận bởi nó góp phần đảm bảo cuộc sống cải thiện vị thế, và tăngcường tính trách nhiệm xã hội cho PNNĐT

Bình đẳng giới luôn là một trong những mục tiêu chiến lược đối với sựphát triển của mỗi quốc gia trên toàn thế giới Tình trạng bất bình đẳng giới hiệnnay vẫn còn tồn tại ở hầu khắp các quốc gia điều này làm ảnh hưởng không nhỏđến sự phát triển chung của mỗi quốc gia nói riêng và khu vực nói chung Vấnnạn bất bình đẳng giới chủ yếu diễn ra đối với phụ nữ, họ là những người phải

Trang 8

gánh chịu nhiều thiệt thòi, tổn thương từ những quan niệm, định kiến bấtcông từ xã hội xưa và nay

Đối với Việt Nam, trong những năm qua Đảng và Nhà nước thực hiệnnhiều bước đột phá về hành động và nhận thức, từ khía cạnh chính sách, phápluật đến thực tiễn và đạt được nhiều thành tựu quan trọng về bình đẳng giới.Việt Nam được đánh giá là một trong số những quốc gia xóa bỏ khoảng cáchgiới nhanh nhất trong vòng 20 năm trở lại đây Điểm nổi bật trong việc bảođảm quyền lợi về giới ở Việt Nam là việc hoàn thiện khung luật pháp, chínhsách về bình đẳng giới.Thành quả đem lại nhằm tạo điều kiện và cơ hội bìnhđẳng cho phụ nữ có thể tự tin phát triển trên tất cả các lĩnh vực, hướng tới giảiphóng người phụ nữ; góp phần xây dựng một đất nước công bằng, văn minh.Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải nhìn nhận lại một cách thẳng thắn vềnhững hạn chế, những tồn tại trong quá trình thực hiện mục tiêu bình đẳnggiới Một trong những minh chứng cụ thể nhất, đó là chúng ta đã nỗ lực, đãlàm rất nhiều nhưng vẫn còn đó những mảnh đời, những câu chuyện rơi nướcmắt trong thực tế về những người phụ nữ đơn thân Họ không chỉ chịu gánhnặng về tài chính - kinh tế, về sức khỏe mà họ đã và đang phải đối mặt với rấtnhiều khó khăn, tủi cực trong cuộc sống, nhất là những khó khăn, áp lực vềtâm lý và cơ hội tìm kiếm việc làm của họ cũng gặp không ít những khó khăn,

…Vì vậy, họ rất cần nhận được sự hỗ trợ, sự cảm thông, chia sẻ từ phía giađình, cộng đồng và xã hội

Ngày nay quan niệm về người phụ nữ đơn thân không còn quá khắt khenhư trước đây, song vẫn còn đó rất nhiều những khó khăn mà họ phải đối mặt.Đây là đối tượng rất cần sự quan tâm, trợ giúp của cộng đồng, xã hội để có thểvượt lên khó khăn, vượt lên chính họ, hòa nhập cộng đồng Trách nhiệm ấykhông chỉ thuộc về xã hội hay một tổ chức nào đó, mà nó đã trở thành một trong

Trang 9

những lĩnh vực mà ngành Công tác xã hội (CTXH) cần quan tâm để có nhữnggiải pháp can thiệp, hỗ trợ hiệu và có tính phát triển bền vững nhất.

Từ những vấn đề nêu trên cho thấy những khó khăn mà những ngườiphụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ cần được nhìn nhận và quan tâm đúngmực, cần được nghiên cứu, đánh giá một cách khoa học và bài bản để từ đó

có thể giúp họ có cuộc sống tốt hơn

Công tác xã hội trong việc hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơnthân nuôi con nhỏ lại càng có ý nghĩa và giá trị sâu sắc vì nó tạo cho họ cónhiều cơ hội phát triển và khẳng định được vị thế của mình trong xã hội.Trong thời điểm hiện nay, dưới tác động của khủng hoảng kinh tế, đểđáp ứng nhu cầu việc làm cho mọi công dân trong xã hội đã là một vấn đề lớn

và một bộ phận không nhỏ là phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ lại càngbức thiết hơn

Công tác dạy nghề, tạo việc làm cho phụ nữ nói chung và phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ nói riêng tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội còn nhiều khó khăn: Phần lớn họ chưa có công ăn việc làm, đời sống khó khăn và đa phần thuộc hộ nghèo Tỷ lệ phụ nữ nghèo đơn thân không có

việc làm, trình độ học vấn còn hạn hẹp, nhiều người còn tự ti, mặc cảm chưahòa nhập với cộng đồng

Luận văn "Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội” nhằmđềra các giải pháp thúc đẩy hoạt động công tác xã hội đối với vấn đề việc làm của

phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội;hướng đến giúp họ có đủ sức mạnh, chủ động, tự tin, hội nhập- hòa nhập, tựgiúp bản thân, tự lập cuộc sống, tự khẳng định bản thân, định hướng nghềnghiệp và tự tìm được việc làm

Trang 10

Tại địa bàn huyện Quốc Oai đã nổi lên các nhu cầu, mô hình việc làmcho Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ và đang rất quan tâm cũng như cần

có một nghiên cứu về vấn đề việc làm của Phụ nữ để thúc đẩy, phát triển hoạtđộng hỗ trợ Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ trên địa bàn tốt hơn

Từ thực tiễn và lý luận nêu trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ thực tiễn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội”để làm đề tài nghiên cứu luận văn của mình là hoàn toàn thiết thực và cần thiết, phù hợp với bối cảnh chiến

lược và chính sách phát triển của địa phương

2 Tình hình nghiên cứuliên quan đến đề

tài 2.1 Một số tài liệu trên thế giới *

Nghiên cứu về phụ nữ đơn thân

Thứ nhất, các nghiên cứu về xu hướng lựa chọn sống đơn thân của phụ

nữ được bàn đến bởi Edin (2000); Belanger (1996); Phinney (1998); Dales(2014) Thứ hai, nghiên cứu về đặc điểm nhân khẩu xã hội của phụ nữ đơnthân được đề cập bởi Shattuck và Kreider (2013); Ann Berrington (2014);Ciabattari (2005) Thứ ba, nghiên cứu về đời sống tâm lý và định kiến xã hộiqua công trình của Nguyễn Thị Khoa (1997); Lê Thi (2001); Robinson vàWerblow (2013) Thứ tư, nghiên cứu về đời sống kinh tế và chính sách xã hộicủa nhóm phụ nữ đơn thân/phụ nữ làm mẹ đơn thân qua các tác giả Lê Thi(1996),(2002); Zarina và Kamil (2012); Wang, Parker, và Taylor (2013)

* Về việc làm cho phụ nữ đơn thân

Các tác giả tập trung vào mảng sinh kế cho người phụ nữ đơn thân, Phầnnày được chia thành nhiều chủ đề nghiên cứu Thứ nhất là các nghiên cứu vềphương pháp tiếp cận sinh kế với các tác giả DFID (1999); Kollmair và Gamper(2002); Ashley và Carney (1999); Krantz (2001) Thứ hai, nghiên cứu về ứng

Trang 11

dụng của khung sinh kế bền vững trong thực tiễn qua các tác giả Solesbury(2003); Chowdhury (2014) Thứ ba, nghiên cứu về loại hình và phương thứcchuyển đổi sinh kế với các tác giả Nguyễn Duy Thắng, 2007; Nguyễn VănSửu (2014); Dương Chí Thiện và Vũ Mạnh Lợi (2014); Nguyễn Xuân Mai vàNguyễn Duy Thắng (2011) Thứ tư, nghiên cứu về sinh kế của phụ nữ và phụ

nữ làm mẹ đơn thân được thực hiện bởi các tác giả Nguyễn Thị Vân Anh(2006) ; Collin và Mayer (2006); Nguyễn Thị Thanh Tâm (2008)

luật quy định chung của Quốc tế:

Về lĩnh vực chính trị: Tương ứng với điều 7,8 của Công ước CEDAW

và điều 25 của công ước về các quyền dân sự và chính trị 1966 thì điều 63

Hiến pháp năm 1992 ( sửa đổi năm 2001) quy định: “Công dân, nữ và nam cóquyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình.”Như vậy, văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất đã ghi nhận một cách cụ thể vềquyền trong lĩnh vực chính trị của phụ nữ

Về lĩnh vực lao động, việc làm: Tương ứng với điều 11 CEDAW, điều

14 của công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979

điều 109 Bộ luật Lao động quy định : “nhà nước bảo đảm quyền làm việc củaphụ nữ bình đẳng một mặt với nam giới…”

Về lĩnh vực giáo dục: Trên cơ sở nội dung của điều 10 công ước

CEDAW điều 63 Hiến pháp 92 quy định: phụ nữ và nam giới bình đẳng với

nam giới về phương diện văn hóa, xã hội Cụ thể hóa quy định trên của Hiếnpháp điều 14 luật bình đẳng giới năm 2006 quy định nam nữ bình đẳng về độtuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, lựa chọn ngành nghềhọc tập, đào tạo tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo

Trang 12

2.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam

Hiện tượng bà mẹ đơn thân là một hiện tượng không mới trong xã hộinhưng phát triển mạnh và thu hút sự quan tâm của những nhà nghiên cứu thì chỉmới khoảng gần chục năm gần đây Những nghiên cứu đầu tiên về hiện tượngnày chủ yếu là của những nhà nghiên cứu xã hội học chuyên nghiên cứu về phụ

nữ Nhà nghiên cứu có nhiều quan tâm đến vấn đề bà mẹ đơn thân chính là GS

Lê Thi Trong hai nghiên cứu của mình là Cuộc sống của phụ nữ đơn thân Việt

Nam và Gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng, Lê Thi đã miêu tả khá chi tiết về

cuộc sống của những bà mẹ đơn thân Tuy nhiên, hai cuốn sách này chủ yếuthiên về nghiên cứu xã hội học, chỉ miêu tả về cuộc sống của những bà mẹ đơnthân ở một khu vực nhất định Đối tượng của Lê Thi hướng đến khá là đa dạng,

cả những trường hợp góa phụ, li hôn và không kết hôn, địa bàn khảo sát là mộtvùng nông thôn với những phụ nữ là công nhân Những nghiên cứu của Lê Thivừa mở ra những khía cạnh trong cuộc sống của bà mẹ đơn thân, vừa là cơ sở đểnhìn nhận, so sánh với những mô hình bà mẹ đơn thân ở đô thị

Gia đình người Việt Nam hiện nay có nhiều biến đổi và nhiều vấn đề kháphức tạp Chính vì thế những nghiên cứu về gia đình người Việt hiện nay tương

đối nhiều và phong phú Tiêu biểu cho những nghiên cứu này có cuốn Gia đình

người Việt ngày nay của Trương Mỹ Hoa và Lê Thi, Nghiên cứu gia đình và giới thời kỳ đổi mới của Nguyễn Hữu Minh chủ biên, Nhận diện gia đình Việt Nam hiện nay của Lê Thị Hân…Những cuốn sách này có đề cập những vấn đề

của gia đình Việt Nam hiện nay trong đó có hiện tượng bà mẹ đơn thân Tuynhiên những nghiên cứu này chỉ nói khái khái quát về sự ra đời của hiện tượngnày và một vài đánh giá về hiện tượng này đối với gia đình người Việt

Nằm trong dự án nâng cao chất lượng đời sống của những hộ bà mẹ đơnthân của Trung ương Hội phụ nữ Việt Nam, một số bài báo viết về mô hình này

Trang 13

đã bắt đầu gợi mở những khía cạnh trong cuộc sống của bà mẹ đơn thân.Những nghiên cứu này chú trọng đến mảng xã hội học và hướng đến xâydựng những chính sách giúp đỡ cho những bà mẹ đơn thân.

Những nghiên cứu cụ thể và sâu sát nhất với cuộc sống của những bà

mẹ đơn thân ở khu vực đô thị có lẽ là những bài viết phản ánh về xu hướngnày trên báo chí Những bài viết có nhân chứng cụ thể, có những sự kiện cóthật đã phần nào mô tả và có những đánh giá đúng đắn về xu hướng này Tuychỉ dựa vào một vài trường hợp cụ và những đánh giá còn sơ sài, không phải

là những bài nghiên cứu thực sự nhưng những bài viết ấy vẫn cung cấp nhiềudẫn chứng, tư liệu quý cho khóa luận

Gần đây, đề cập đến vấn đề PNNĐT, chủ đề này được rất nhiều luậnvăn, luận án tiến sĩ lựa chọn để thực hiện đề tài:

Lê Thị Việt Trinh (2011), Luận án “Công tác xã hội cá nhân với phụ nữ

nghèo đơn thân tại xã Bình Hải, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam” Tác

giả đã hệ thống các cơ sở lý thuyết về phụ nữ đơn thân, nêu lên những nhu

cầu cơ bản của phụ nữ nghèo đơn thân, từ đó tác giả chọn 1 trường hợp để sửdụng phương pháp công tác xã hội cá nhân để hỗ trợ thân chủ Tác giả đề tài

đã trú trọng đến các giải pháp tăng năng lực của bản thân thân chủ, tìm kiếm

và phát huy điểm mạnh của thân chủ cùng với những nguồn lực hõ trợ từ bênngoài để giúp thân chủ có việc làm và tạo thu nhập ổn định

Võ Thị Cẩm Ly (2017), Luận án tiến sĩ “Phụ nữ đơn thân làm mẹ ở nông thôn Bắc trung bộ: chân dung xã hội và thực tiễn sinh kế” (nghiên cứu trường

hợp tại Yên Thành, Nghệ An) Mục đích nghiên cứu của luận án là mang lại một

sự hiểu biết có hệ thống về chân dung xã hội và thực tiễn sinh kế của nhóm phụ

nữ làm mẹ đơn thân ở nông thôn Bắc Trung Bộ mà cụ thể là ở huyện Yên Thành,tỉnh Nghệ An Trên cơ sở đó luận án hướng tới bổ sung một số quan

Trang 14

điểm lý thuyết về chân dung xã hội của nhóm phụ nữ làm mẹ đơn thân và sinh

kế của họ Một mục đích khác của luận án là qua kết quả nghiên cứu nêu lên một

số hàm ý về mặt chính sách để cải thiện sinh kế của phụ nữ làm mẹ đơn thân

Ngoài ra, còn một số đề tài nổi bật như:

“Phát triển bền vững nông thôn vùng Bắc Trung Bộ: xóa đói giảm nghèo

và giải quyết việc làm”, Viện nghiên cứu Môi trường và Phát triển “Vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế ở đồng bằng sông Hồng” do trung tâm

nghiên cứu khoa học về Phụ nữ và Gia đình cũng đã tiến hành năm 2006

Luận văn thạc sỹ xã hội học của tác giả Hà Thị Thu Hòa về: “Hoạt

động giảm nghèo đối với phụ nữ nghèo tại ngoại thành Hà Nội” (Nghiên cứu

trường hợp hai xã Cổ Nhuế và Xuân Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội) năm

2008, đã đi sâu tìm hiểu về thực trạng nghèo đói của các hộ gia đình ở hai xã

Cổ Nhuế và Xuân Phương

Luận văn thạc sĩ xã hội học của tác giả Võ Thị Cẩm Ly với đề tài: “Phụ

nữ nghèo ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An: thực trạng, nguyên nhân và chiến lược thoát nghèo” (năm 2010) đã làm rõ bức tranh về thực trạng sự nghèo khổ

của phụ nữ ở đô thị

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Công tác xã hội với đề tài:“Công

tác xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo đơn thân tại xã Nghĩa Thái - huyện Tân

Kỳ - tỉnh Nghệ An” của tác giả Vũ Thị Phương Hảo (năm 2011).

Luận văn thạc sĩ xã hội học của tác giả Nguyễn Thị Quyên với đề tài:

“Công tác xã hội nhóm đối với Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ thực tiễn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội” (năm 2017) đã làm rõ bức tranh về

thực trạng sự nghèo khổ của phụ nữ vùng nông thôn.

Trang 15

Như vậy, có thể thấy, đề tài bà mẹ đơn thân vẫn và một đề tài mới, cónhiều mảng trống trong nhiên cứu, nhất là nghiên cứu dưới góc độ công tác

xã hội về nhu cầu việc làm và có thu nhập để đảm bảo cuộc sống gia đình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận về công tác xã hội trong việc hỗ trợ việc làm đối vớiphụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ và phân tích, đánh giá thực trạng các hoạt độngcông tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ tạihuyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội để đề ra các giải pháp phát triển hoạt độngcông tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với với phụ nữ đơn thân nuôi connhỏ từ thực tiễn huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội trong những năm tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xây dựng cơ sở lý luận về Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ

- Tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực trạng các hoạt động công tác xãhội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tạihuyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội

- Đề xuất các giải pháp phát triển hoạt động Công tác xã hội trong hỗtrợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai,thành phố Hà Nội

4 Đối tượngvà phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi connhỏ

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 16

Phạm vi về thời gian thực hiện nghiên cứu: đềtài triển khai nghiên cứu

từ tháng 02/2019 đến tháng 09 năm 2019

Phạm vi về không gian: Các hoạt động công tác xã hội hỗ trợ Phụ nữ

đơn thân nghèo đơn thân nuôi con nhỏ trên địa bàn huyện Quốc Oai, Thành

phố Hà Nội

Phạm vi về khách thể: 60 phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ 25

đến 55 tuổi; 02 cán bộ Phòng lao động thương binh xã hội huyện; 02 cán bộ

để rút ra được những lý luận và đưa ra được những đề xuất về biện pháp đểnâng cao hiệu quả dịch vụ công tác xã hội đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôicon nhỏ trên địa bàn huyện

Nghiên cứu vấn đề về lý luận trong hệ thống tiếp cận chỉnh thể:nghiên cứu hệ thống những lý luận có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thốngcác yếu tố có liên quan đến hoạt động hỗ trợ việc làm của công tác xã hội đốivới phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ

5.2 Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp phân tích tài liệu

Phương pháp nghiên cứu này được sử dụng trong suốt quá trình nghiêncứu của đề tài Nguồn tài liệu nghiên cứu được sử dụng cho đề tài được khaithác từ 02 mảng chính như sau:

Trang 17

 Phân tích tài liệu, tìm hiểu tổng quan các nghiên cứu trong nước về tìnhhình việc làm đối với phụ nữ, phụ nữ đơn thân qua các sách báo, tạp chí, vàmạng Internet Đồng thời tìm hiểu các tài liệu tập huấn, một số kỹ năng Công tác

xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ đơn và một số luật, chính sách chophụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ để có kỹ năng làm việc với nhóm đốitượng này tại cộng đồng

 Thông qua các báo cáo tổng kết hàng năm của huyện Quốc Oai; các báocáo của các tổ chức liên quan để biết tình hình việc làm đối với phụ nữ nghèođơn thân nuôi con nhỏ cũng như những hỗ trợ cho nhóm đối tượng này tạicộng đồng

* Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát chính là một phương pháp cơ bản để nhận thứchiện tượng, sự vật Nó được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu và trongnhiều giai đoạn như tìm hiểu về địa bàn nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng cáchoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơnthân nuôi con nhỏtại địa phương Mục đích của quan sát để hiểu về đời sống,nhu cầu, mong muốn trong cuộc sống của họ…

* Phương pháp điều tra bảng hỏi

Điều tra bảng tiến hành phỏng vấn trực tiếp với khách thể nghiên cứunhằm thu thập thông tin để làm rõ thực trạng việc làm tại địa phương và nhucầu hỗ trợ từ các chính sách, các hoạt động đối với phụ nữ nghèo đơn thânnuôi con nhỏ.Từ đó đánh giá về khả năng đáp ứng nhu cầu, hoạt động hỗ trợphụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ

Mẫu nghiên cứu: điều tra và lấy thông tin từ người được hỏi, tác giả tiếnhành chọn 60 phụ nữ đơn thân từ 25 đến 55 tuổi của 03 xã :xã Sài Sơn, xã YênSơn, xã Cộng Hòa để thu thập thông tin, số liệu về phụ nữ nghèo đơn thân nuôi

Trang 18

con nhỏ có được hưởng và hỗ trợ của những dịch vụ công tác xã hội tại địaphương không, các dịch vụ công tác xã hội có phù hợp với nhu cầu mongmuốn của họ hay không; Những thông tin thu thập được từ bảng hỏi sẽ làm

cơ sở cho tác giả đề xuất những giải pháp thiết thực để các hoạt động công tác

xã hội đối với việc làm cho nhóm đối tượng phụ nữ nghèo đơn thân phù hợp

và đạt hiệu quả hơn

Cách lấy mẫu ngẫu nhiên theo cách lấy mẫu thuận tiện

* Phương pháp phỏng vấn sâu

Phỏng vấn sâu là phương pháp mà việc trao đổi trực tiếp giữa ngườiphỏng vấn và được trả lời phỏng vấn dựa trên các mục tiêu của đề tài nghiêncứu

Sử dụng phương pháp này nhằm thu thập các thông tin về thực trạng hỗtrợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ, các yếu tố tác độngđến thực trạng dịch vụ công tác xã hội ở cộng đồng để có nhận định,hiểu rõhơnvề các dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơnthân nuôi con nhỏ đồng thời đánh giá hiệu quả dịch vụ công tác xã hội tại địaphương đã đáp ứng nhu cầu của nhóm đói tượng này hay chưa

Phỏng vấn sâu được tiến hành với: 06 phụ nữ nghèo đơn thân của các

xã Sài Sơn, xã Yên Sơn, xã Cộng Hòa; 03 cán bộ phụ trách công tác phụ nữ

xã Sài Sơn, xã Yên Sơn, xã Cộng Hòa; 02 cán bộ của Phòng lao động Thươngbinh và Xã hội của huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội

* Phương pháp xử lý dữ liệu: Đối với dữ liệu định tính của phỏng vấn

sâu tôi dùng phương pháp tổng hợp, phân tích… thể hiện tỷ lệ và tỷ trọng

dưới dạng vẽ biểu đồ

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Trang 19

Bằng phương pháp tiếp cận công tác xã hội, đề tài đã tổng hợp đượckhung lý luận nghiên cứu, đồng thời cũng là cơ sở lý luận của công tác xã hộitrong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ Qua đó đã tổnghợp được các khái niệm, mục tiêu, nội dung, phương pháp, tiến trình công tác

xã hội, các nhân tố ảnh hưởng và cơ sở luật pháp liên quan

Là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm các hoạt động công tác xãhội trong hỗ trợ việc làm đối phụ nữ nói chung và phụ nữ đơn thân nuôi connhỏ nói riêng

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài nghiên cứu giúp chúng ta thấy được bức tranh về thực trạng về đờisống và việc làm của phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, thànhphố Hà Nội Qua đó giúp ta biết được nhu cầu về việc làm và các mong muốncủa họ Đồng thời góp phần cung cấp thông tin với các tổ chức xã hội tại địaphương, đề xuất các giải pháp cũng như các khuyến nghị để có những chínhsách hỗ trợ nhóm phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏđể họ có cuộc sống tốt hơn

7 Kết cấu của luận văn

Kết cầu luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu thamkhảo và các phụ lục thì luận văn gồm có 3 chương dưới đây:

Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm việcđối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ

Chương 2: Thực trạng công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối phụ nữnghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ thực tiễn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội

Chương 3: Giải pháp tổ chức các hoạt động công tác xã hội trong việc

hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ thực tiễnhuyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội trong những năm tới

Trang 20

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀCÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ

VIỆC LÀM ĐỐI VỚI PHỤ NỮ ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm về công tác xã hội

Có nhiều khái niệm khác nhau về công tác xã hội Sau đây là một số kháiniệm về CTXH và nghề CTXH được rất nhiều các nhà nghiên cứu và nhữngngười thực hành CTXH trên thế giới sử dụng và tham khảo:

Đối với Hiệp hội các quốc gia các nhân viên công tác xã hội Mỹ

(NASW) đưa ra định nghĩa như sau: “Công tác xã hội là hoạt động mang

tính chuyên môn nhằm giúp đỡ các cá nhân, các nhóm, hoặc cộng đồng tăng cường hoặc khôi phục năng lực thực hiện chức năng xã hội của họ và tạo ra những điều kiện thích hợp nhằm đạt được mục tiêu ấy.” [14 ,40]

Tại hội nghị Liên đoàn quốc tế nhân viên công tác xã hội (IFSW) diễn ravào tháng 7/2000, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về CTXH như sau:

“Công tác xã hội chuyên nghiệp là thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết các

vấn đề trong các mối quan hệ con người, tăng quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp và những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ Nhân quyền và công bằng là các nguyên tắc căn bản của nghề nghiệp công tác xã hội”[14,43]

Ở Việt Nam cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về CTXH CTXH có thểhiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá

nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính

Trang 21

sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giảiquyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội.Theo Đề án phát triển nghề công tác xã hội Việt Nam giai đoạn 2010

-2020: “CTXH là hoạt động mang tính chuyên môn, được thực hiện theo các

nguyên tắc và phương pháp riêng nhằm hỗ trợ các cá nhân, gia đình, nhóm

xã hội và cộng đồng dân cư trong việc giải quyết các vấn đề của họ Qua đó, CTXH theo đuổi mục tiêu vì hạnh phúc cho con người và tiến bộ xã hội”.

Theo TS Bùi Thị Xuân Mai: “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt

động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề về xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội.” [9, tr.4].

Như vậy, có rất nhiều cách định nghĩa về CTXH, ta có thể tổng kết

“Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp

các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội”

[13, 19]

1.1.2 Khái niệm về nghèo

Nghèo là một hiện tượng kinh tế mang tính chất xã hội toàn cầu Nókhông những tồn tại ở các nước có nền kinh tế kém phát triển mà nó còn tồntại ở các nước có nền kinh tế phát triển Tuy nhiên mỗi quốc gia đều sử dụngmột khái niệm để xác định múc độ nghèo đồng thời đưa ra các

Trang 22

tiêu chí xác định nghèo khổ Giới hạn nghèo đói của các nước được xác địnhbằng mức thu nhập tối thiểu để người dân có thể tồn tại được, đó là mức thunhập mà một hộ gia đình có thể mua sắm được những vật dụng cơ bản phục

vụ cho việc ăn, mặc, nhà ở và các nhu cầu thiết yếu khác theo mức giá cả hiệnhành

Theo Ngân hàng thế gới(WB): “ Đói nghèo không chỉ bao hàm sự khốn

cùng về vật chất ( được đo lường theo một khái niệm về thu nhập hoặc tiêu dùng) mà còn là sự thiếu thốn trong việc giáo dục và y tế ( Theo báo cáo phát

triển Việt Nam 2000: Tấn công nghèo đói)

Tại hội nghị bàn về xoá đói giảm nghèo do ESCAP tổ chức tại Băng

Cốc- Thái Lan 9/1993, đã đưa ra khái niệm về nghèo đói như sau: “ Nghèo

đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của các địa phương” Theo

định nghĩa này thì mức độ nghèo đói ở các nước khác nhau là khác nhau.

Xác định giàu nghèo đói là một việc khó khăn vì nó gắn với từng thờiđiểm, từng quốc gia và được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau

Ở Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chuẩn nghèo tiếp cận

đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, gồm 2 tiêu chí là thu nhập và mức

độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản

1.1.3 Khái niệm về phụ nữ đơn thân

Về “phụ nữ đơn thân” đã có nhiều cách hiểu khác nhau:

Theo tác giả Lê Thi: “Phụ nữ đơn thân là những phụ nữ chưa kết hôn,

đã từng kết hôn nhưng vợ, chồng họ sống xa cách với rất nhiều lý do

Trang 23

cụ thể khác nhau” [tr.18-19; 12] Với cách tiếp cận như vậy, tác giả đã chiaphụ nữ đơn thân thành hai nhóm chính:

Phụ nữ đã kết hôn: là những người phụ nữ đã rơi vào tình trạng góabụa, ly thân ,ly hôn hay thiếu vắng chồng trong một thời gian dài

Phụ nữ chưa kết hôn: Là những người phụ nữ không lấy chồng hoặckhông bao giờ lấy chồng Họ được chia thành hai nhóm : đó là và nhữngngười sống độc thân, không xây dựng gia đình, những người phụ nữ khônglấy chồng nhưng có con người giá thú hoặc nhận con nuôi

Phụ nữ đơn thân được tác giả đề cập trong đề tài nghiên cứu này đượchiểu là những người phụ nữ chưa lấy chồng hay không muốn lấy chồng,những người phụ nữ góa bụa, ly thân hoặc bị chồng ruồng bỏ ly hôn Họ cóthể có con (hay con nuôi) hoặc không có con Họ có thể sống một mình haychung sống cùng con, gia đình, họ hàng [12]

Trong khuôn khổ phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung nghiên cứu vềnhóm phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ đang được hưởng chế độ trợ cấpBảo trợ xã hội

1.1.4 Khái niệm công tác xã hội với phụ nữ nghèo đơn thân

CTXH với PNNĐT là hoạt động giúp đỡ chuyên nghiệp của nhân viênCTXH nhằm hỗ trợ và tư vấn việc thực hiện các chức năng xã hội của họ,huy động ngồn lực, xác định những dịch vụ cần thiết để hỗ trợ nhóm PNNĐT,gia đình và cộng đồng triển khai hoạt động tư vấn, hỗ trợ giúp họ một cáchhiệu quả để họ vượt qua những rào cản và đảm bảo sự tham gia đầy đủ vàocác hoạt động xã hội trên nền tảng của sự công bằng như mọi người trong xãhội

Mục đích của CTXH với PNNĐT là: Đánh giá, tìm hiểu mong muốn

và nhu cầu về việc làm của phụ nữ nghèo đơn thân, Tư vấn và giới

Trang 24

thiệu việc làm , Kết nối các nguồn lực, Hỗ trợ tiếp cận các chính sách xã hội,Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đốivới phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ Trợ giúp, khuyến khích, thúc đẩy vàtăng cường việc thực hiện các chức năng xã hội của cá nhân, nhóm, các tổchức và các cộng đồng của nhóm PNNĐT; Tham gia vào việc hoạch định, xâydựng và thực thi các chính sách xã hội, các dịch vụ xã hội, các nguồn tàinguyên và các chương trình để đáp ứng những nhu cầu của nhóm PNNĐT và

hỗ trợ cho sự phát triển của họ; Theo đuổi những chính sách, dịch vụ, tàinguyên và chương trìnhthông qua công tác biện hộ trong phạm vi cơ sở haytrong phạm vi quản trị cơ sở hoặc hành động chính trị để tăng quyền lực cho

họ nhằm đảm bảo sự công bằng và sự tham gia đầy đủ của họ vào các hoạtđộng xã hội

Do vậy NVCTXH có vai trò trực tiếp là người thu thập thông tin, lập kếhoạch, thực hiện kế hoạch, giám sát, đánh giá, lượng giá,…và vai trò giántiếp là người tham vấn, tư vấn, người hoạch định chính sách, người nghiêncứu, quản lý, điều phối các hoạt động…thì NVCTXH cần hỗ trợ, phối hợpvận động các nguồn lực tài nguyên hỗ trợ họ, xây dựng các chương trình, kếhoạch hành động giúp đỡ họ và cung cấp cho PNNĐT và người nhà họ cácloại dịch vụ hỗ trợ để phát triển

1.1.5 Khái niệm việc làm

Việc làm là một nhu cầu cơ bản của con người để đảm bảo đáp ứng đầy

đủ cuộc sống và sự phát triển toàn diện Quyền lao động, đảm bảo việc làmcho người lao động đã và đang được khẳng định trong Hiến pháp nước Cộnghoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đã được cụ thể hoá trong Bộ luật Lao độngđầu tiên ở nước ta Việc làm và giải quyết việc làm cho

Trang 25

người lao động là một trong những mục tiêu ưu tiên trong các chính sáchphát triển kinh tế – xã hội của nước ta.

Điều 13, Bộ Luật Lao Động Việt Nam định nghĩa khái niệm việc làm:Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đềuđược thừa nhận là việc làm

Thực tế việc làm được thể hiện dưới 03 hình thức như sau:

- Làm công việc để được nhận tiền lương, tiền công hoặc hiện vật cho công việc làm đó

- Làm công việc để thu lợi cho bản thân, mà bản thân lại có quyền sửdụng hoặc quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất để tiến

hành công việc đó

- Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thùlao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó Hình thức này baogồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặcmột thành viên khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lý

Ngoài ra, người ta có thể chia việc làm thành việc làm toàn thời

gian, bán thời gian và việc làm thêm

- Việc làm toàn thời gian: Đó là một công việc làm trong 8 tiếng/

ngày, hoặc theo giờ hành chính 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày /tuần

-Việc làm bán thời gian: Là một công việc làm không đủ thời gian,giờ hành chính quy định của Nhà nước 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày mỗi tuần.Thời gian làm việc có thể dao động từ 1 đến 5 tiếng / ngày và không liên tục

- Việc làm thêm: Là một công việc không chính thức và không

thường xuyên bên cạnh một công việc chính thức, ổn định

Trang 26

1.1.6 Khái niệm hỗ trợ việc làm

Để hiểu khái niệm về hỗ trợ việc làm cần phải hiểu thế nào là hỗ trợ vàcác hoạt động hỗ trợ, sau đó mới đến hỗ trợ việc làm Đối với cách hiểuthường thì hỗ trợ là công việc, hoạt động và suy nghĩ của cá nhân/ tổ chứcnhằm giúp đỡ một người, nhóm người vượt qua vấn đề mà họ đang gặp phảibằng các phương thức, hình thức khác nhau, gồm cả về Tinh thần, thể chất,tiền bạc nhằm khơi dậy tiềm lực của người đó để họ có đủ khả năng đươngđầu với mọi hoàn cảnh khó khăn

Hỗ trợ việc làm nói chung và việc làm cho phụ nữ nghèo đơn thân nuôicon nhỏ nói riêng được hiểu là tổng thể các biện pháp, hoạt động của tổ chức,

cá nhân như tư vấn nghề nghiệp, tạo việc làmdạy nghề, hướng dẫn cách làm

ăn, hỗ trợ vốn, điều kiện phương thức sản xuất kinh doanh… để tạo cho đốitượng được hỗ trợ có việc làm, thu nhập, duy trì, phát triển việc làm và ổnđịnh cuộc sống Trong đó Đảng và Nhà nước, ngành CTXH có nghĩa vụ,trách nhiệm tác động, hỗ trợ để PNNĐT phát triển, tạo ra sự phát triển thúcđẩy họ duy trì việc làm

1.1.7 Khái niệm công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm

Khái niệm CTXH trong hỗ trợ việc làm đóng vai trò chủ động, tích cựcgiải quyết vấn đề việc làm một cách hiệu quả Để đưa ra được mục tiêu cóviệc làm, CTXH phải thực hiện được việc đánh giá những khả năng, xác địnhnhững thế mạnh và nguồn lực, nâng cao kỹ năng giải quyết vấn đề trong cuộcsống, phát triển các kế hoạch để giải quyết và ủng hộ các nỗ lực của phụ nữnghèo đơn thân nuôi con nhỏ để tạo ra những thay đổi trong cuộc sống cũngnhư hoàn cảnh của họ Kết nối phụ nữ đơn thân với các nguồn lực cần thiết.Đồng thời CTXH là công cụ để chính sách và dịch vụ cung cấp phúc lợi tốtnhất, nâng cao chất lượng, chuyên nghiệp

Trang 27

hóa các dịch vụ công tác xã hội, xác định các lỗ hổng, những trở ngại trongcác dịch vụ xã hội cần giải quyết.

Công tác xã hội thúc đẩy môi trường xã hội, bao gồm: chính sách, phápluật, cộng đồng thân thiện, đóng vai trò xúc tác, biện hộ để cá nhân, gia đìnhngười khuyết tật được hưởng những chính sách an sinh xã hội dành cho họ

Đồng thời, CTXH có các hoạt động tư vấn để chính quyền có nhữngchính sách phù hợp nhằm ngăn ngừa sự phát sinh các vấn đề xã hội, đảm bảoquyền và sự tham gia vào thị trường việc làm của người lao động

CTXH còn thực hiện các hoạt động như giáo dục phòng ngừa, tập huấn,cung cấp kiến thức cho gia đình, người thân cách chăm sóc người khuyết tật

để giúp đối tượng nâng cao năng lực, nâng cao chắc năng của họ, có khả năng

tự chăm sóc, phòng ngừa các vấn đề trong cuộc sống, tự tin và trở nên chủđộng tìm kiếm, tiếp cận việc làm và có việc làm, hòa nhập xã hội dễ dànghơn

1.1.8 Một số nguyên tắc cơ bản của công tác xã hội tỏng hỗ trợ phụ ữn nghèo đơn thân nuôi con nhỏ

Nguyên tắc cá nhân hóa

Mỗi thân chủ phải được nhân viên xã hội hiểu và nhìn nhận như một cánhân độc lập có cá tính riêng biệt, không giống ai trong cộng đồng của mình.Đây chính là điều quan trọng nhất trong nguyên tắc cá nhân hóa để nhân viên

xã hội can thiệp trong quá trình giúp đỡ thân chủ

Chấp nhận thân chủ

Chấp nhận thân chủ có nghĩa đòi hỏi nhân viên xã hội phải nhìn nhậnthân chủ như vốn thân chủ đó có với mọi phẩm chất tốt và xấu, điểm mạnh vàđiểm yếu,….của thân chủ Điều đó có nghĩa, thân chủ được chấp

Trang 28

nhận là một con người bình thường cho dù tội lỗi của họ là không thể chấpnhận Tuy nhiên, việc chấp nhận không có nghĩa là việc tha thứ thậm chí biện

hộ hay chạy tội cho những hành vi, hành động xã hội của thân chủ mà xã hộikhông thể chấp nhận Có như vậy, thân chủ mới bộc lộ những vấn đề của họcho mình

Không phê phán

Không phê phán có nghĩa là đòi hỏi nhân viên xã hội trong quá trình làmviệc không được đưa ra bất cứ một sự bình phẩm, kỳ thị hay tỏ vẻ bất bình,bất hợp tác….về hành vi của thân chủ, cho dù họ trong cuộc sống có

thể họ là những người từng lầm lỡ Nói chung, thân chủ của công tác xã hội

cá nhân là những người có khó khăn khi giải quyết vấn đề trong cuộc sống

Họ có những căng thẳng dưới dạng này hay dạng khác Việc chấp nhận,không phê phán của nhân viên xã hội sẽ giúp thân chủ yên tâm và hoàn toàn

sẻ chia những điều vướng mắc của mình cho nhân viên xã hội

Quyền tự quyết của đối tượng

Quyền tự quyết, cùng sự tự do trong những quyết định của thân chủ làmột trong những quyên tắc căn bản của công tác xã hội cá nhân miễn sao hậuquả của những quyết định ấy không làm ảnh hưởng, thậm chí gây tổn hại đếnngười khác và bản thân họ, điều này có nghĩa, những quyết định này phải ởtrong những chuẩn mực hành vi mà xã hội có thể chấp nhận được và thân chủvới tư cách là người ra quyết định phải tự chịu trách nhiệm thực hiện và gánhlấy những hậu quả (nếu xảy ra) từ những quyết định của chính mình Cònnhân viên xã hội không được đưa ra những quyết định, lựa chọn hay vạch kếhoạch giúp thân chủ đưa ra những giải pháp để thân chủ tự quyết định màthôi

Sự tham gia của đối tượng trong việc giải quyết vấn đề

Trang 29

Kết hợp chặt chẽ với nguyên tắc tự quyết là sự tham gia của thân chủtrong việc giải quyết vấn đề Thân chủ trở thành đối tượng chính trong việctheo đuổi kế hoạch và thực hiện kế hoạch hành động và nhân viên xã hội đóngvai trò là người tạo cơ hội cho thân chủ tham gia.

Sự bí mật của nhân viên xã hội

Sự chia sẻ thông tin của thân chủ với người khác của nhân viên xã hộicho dù người đó là thành viên của gia đình mình hay một đồng nghiệp thâncận… mà chưa có sự đồng ý của thân chủ thì đó là một điều tối kỵ

trong hành nghề công tác xã hội Điều đó có nghĩa trong tiến trình hỗ trợ củacông tác xã hội, có nhiều điều chỉ nhân viên xã hội mới được thân chủ chia

sẻ Những thông tin này đòi hỏi nhân viên xã hội phải giữ bí mật Có như vậythì mối quan hệ giữa nhân viên xã hội với thân chủ mới bền chặt và qua đónhân viên xã hội mới hiểu, cảm nhận được xúc cảm của thân chủ và nhìnnhận tình thế của thân chủ như vấn đề của mình

Tự ý thức của nhân viên công tác xã hội

Trong thực hành Công tác xã hội, nhân viên công tác xã hội phải xâydựng mối quan hệ tin tưởng với thân chủ dựa trên những nguyên tắc chấpnhận, không phê phán Luôn đặt mình vào trong vị trí của thân chủ để cảmnhận về mức độ cảm xúc của thân chủ để có thể nhìn vấn đề của thân chủ nhưchính thân chủ Tuy nhiên nhân viên xã hội cần phải có cái nhìn khách quan

để khỏi mù quáng bởi những cảm xúc quá độ về tình huống

Sự can dự có kiểm soát sẽ giúp cho nhân viên xã hội duy trì một mức độsuy xét độ lập nhất định bên cạnh một mức độ cảm xúc thích hợp nhằm giúpcho thân chủ có cái nhìn khách quan về vấn đề của mình và xây dựng kếhoạch một cách tinh tế

1.2 Các Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu đề tài

Trang 30

1.2.1 Lý thuyết nhu cầu

Maslow nhìn nhận con người theo hướng nhân đạo vì vậy lý thuyếtcủa ông được xếp vào trường phái nhân văn hiện sinh và đánh giá cao khảnăng của con người cũng như bản thân họ tự quyết định lấy cuộc sống củamình Ông cho rằng con người cần phải đáp ứng những nhu cầu cơ bản để tồntại và phát triển đó là nhu cầu thể chất, nhu cầu an toàn, nhu cầu tình cảm xãhội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu được hoàn thiện Những nhu cầu nàyđược sắp xếp theo bậc thang từ nhu cầu cơ bản nhất, có vị trí nền tảng và có ýnghĩa quan trọng nhất tới nhu cầu cao hơn và ở vị trí thứ bậc thang cao hơn.Theo Maslow viên mãn (đạo đức, sáng tạo chấp nhận thực tế, hoàn toàn tựchủ không bị ràng buộc bởi những khuôn sáo) là tầng cao nhất trong 5 nhucầu cơ bản của con người

Trang 31

Hình 1.1 Mô hình hóa bậc thang nhu cầu của A Maslow

(Nguồn: Bùi Thị Xuân Mai; Nguyễn Thị Thái Lan; Lim Shaw Hui,

Giáo trình Tham vấn, Đại học Lao động xã hội (2008))

* Nhu cầu thể chất/sinh lý: Đó là những nhu cầu cơ bản nhất trong cuộc

sống hàng ngày của mỗi con người nói chung và PNNĐT nói riêng : như

ăn, ở, mặc, đi lại, sức khỏe Phần lớn những PNĐT là những người nghèo trong xã hội Do điều kiện kinh tế khó khăn cho nên đời sống vật chất cũng như tinh thần của họ không được tốt Vì vậy, để đảm bảo cho các nhu cầu sinh lý củaPNNĐT được tốt cần phải hỗ trợ cho họ trong các hoạt động pháttriển việc làm vì đây là nhu cầu quan trọng của PNNĐT

* Nhu cầu về an toàn, an ninh (safety needs): Nhu cầu an toàn và an ninh

này thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần Con người mong muốn có sự bảo vệcho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm Nhu cầu này sẽ trở thành động

cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng nhưchiến tranh, thiên tai, lũ lụt, hoả hoạn

thương: Đó nhu cầu của xã hội nói chung và của PNNĐT nói riêng Nhu cầu

yêu thương sẽ giúp PNNĐT vốn đã có nhiều khó khăn, thiệt thòi trong cuộcsống tạo được động lực thôi thúc ý chí và nghị lực của PNNĐT, giúp họchòanhập cộng đồng, tạo tinh thần lạc quan trước những khó khăn của cuộc sống bằng chính sự động viên của gia đình, cộng đồng và xã hội

* Nhu cầu được tôn trọng: Theo A Maslow đó là tôn trọng chính bản thân

mình, được tôn trọng và có địa vị xã hội Đối với PNNĐT nhu cầu được tôn trọng

ở đây chính là sự bình đẳng, được lắng nghe, không bị coi thường, ghi

nhận những chính kiến cá nhân, bình đẳng quyền lợi như những người bình thường khác

Trang 32

* Nhu cầu hoàn thiện và phát triển: Đây là nấc cao thang nhất trong

thang nhu cầu của A Maslow Khi NKT đã được cộng đồng thừa nhận và tôntrọng thì PNNĐT luôn muốn tự phát triển và thể hiện tiềm năng của mình và

có thể tự lao động, làm việc chăm lo tốt được bản thân

Như vậy, theo lý thuyết này để tồn tại và phát triển con người cần phải đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu của bản thân, thỏa mãn từ nhu cầu bậc thấp đến một mức độ nhất định sẽ nảy sinh các nhu cầu bậc cao hơn Với các hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm cho PNNĐT cần tiếp cận theo nhu cầu và sắp xếp thự tự nhu cầu ưu tiên một cách hợp lý, nhu cầu nào đã được đảm bảo, nhu cầu nào chưa được bảo đảm, nhu cầu nào trước, nhucầu nào sau [23, tr.62].

Thông qua lý thuyết về thang bậc nhu cầu được đề xướng bởi nhà tâm

lý học Abraham Maslow, nhân viên xã hội sẽ tìm hiểu và chỉ ra hệ thốngnhững nhu cầu của thân chủ Phù hợp với nhu cầu của đối tượng là yêu cầutiên quyết, không thể thiếu quyết định hiệu quả của các hoạt động trợ giúp;việc tìm hiểu nhu cầu của nhóm thân chủ là khâu không thể thiếu trong việcthực hành công tác xã hội

Thuyết nhu cầu của Maslow là căn cứ cho việc nhận định những nhu cầucủa con người nói chung Đối tượng và vấn đề của họ được đặt vào vị trí trungtâm chứ không phải ý muốn chủ quan của cơ quan hỗ trợ hay của nhân viên xãhội Cung cấp đúng các dịch vụ mà đối tượng mong muốn cũng như các hỗ trợcần thiết để giải quyết đúng và hiệu quả vấn đề mà đối tượng gặp phải

Tiếp cận theo nhu cầu là cách tiếp cận mang tính nhân văn Tính nhân vănthể hiện ở việc coi trọng con người và những nhu cầu của chính bản thân họ.Tiếp cận theo thuyết nhu cầu của Maslow, nhân viên CTXH đặt những ngườiphụ nữ nghèo đơn thân đang nuôi con nhỏ và những đặc điểm riêng của họ vào

vị trí trung tâm Tiếp cận theo nhu cầu giúp nhân viên xã hội loại bỏ tính chủ

Trang 33

quan khi tiếp cận và nhận diện các đối tượng Thay vào đó nhân viên xã hộicần phải lắng nghe để cảm thông một cách sâu sắc với những mong muốn củađối tượng Tính nhân văn còn được thể hiện ở việc tin tưởng vào khả năngcủa con người trong việc tự làm chủ những vấn đề của mình Nhân viên xãhội với cách tiếp cận theo nhu cầu luôn tin tưởng đối tượng có khả năng tựgiải quyết vấn đề của chính họ Vì thế, sau khi tìm ra những nhu cầu của thânchủ, nhân viên xã hội sẽ cố gắng một cách tối đa để động viên, khích lệ thânchủ tham gia vào quá trình hiện thực hoá các nhu cầu của họ, cùng với sự hỗtrợ của các nguồn lực cần thiết.

Cách tiếp cận dựa trên nhu cầu có ý nghĩa quan trọng trong việc hỗ trợđối tượng phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con:

Thứ nhất, đa số các phụ nữ đơn thân nuôi con bị thiếu thốn về cácnguồn lực để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của cá nhân , gia đình Bên cạnh

đó có rất nhiều người đặc biệt khó khăn không có khả năng tự đảm bảo chocuộc sống của cá nhân nhân của họ như việc, học hành, lo ăn, chữa bệnh chocon cái… và thậm chí có nguy cơ bị đe doạ đến sự an toàn về cuộc sống của

họ Những đối tượng này cần đến sự giúp đỡ của xã hội, nhà nước và đặc biệt

là ngành CTXH

Thứ hai, đó là việc đáp ứng những nhu cầu con người đó là động cơthúc đẩy họ tham gia , hoạt động xã hội, hoạt động sản xuất Nếu không đápứng được các nhu cầu của con người thì họ cũng dần mất đi động cơ thamgia đóng góp cho xã hội

Thứ ba, tiếp cận theo những nhu cầu sẽ giúp hỗ trợ giảm các chi phí ,tăng hiệu quả để tránh được những dư thừa hay không đầy đủ khi trợ giúpcho thân chủ

1.2.2 Lý thuyết trao quyền

Trang 34

Theo Bradford W Sheafor/Charle R Horejsi: Thuật ngữ trao quyền điều

đó được hiểu là ủy quyền ai đó sức mạnh hay ủy quyền cho ai đó nắm lấy sứcmạnh Ứng dụng trong công tác xã hội, thuật ngữ trao quyền chỉ dẫn cáchthức làm giúp cho đối tượng/PNNĐT đạt được sức mạnh cá nhân và sứcmạnh chính trị

Việc sử dụng lý thuyết trao quyền nhằm giúp cho PNNĐT tự quyết định

và hành động thông qua cuộc sống của họ, giúp họ gia tăng khả năng và sự tựtin của chính bản thân mình cũng như việc tìm kiếm các giải pháp đối với cácvấn đề mà họ đang gặp phải Đồng thời giúp cho PNNĐT tự nhìn nhận bảnthân để tự có những điều chỉnh phù hợp với những hạn chế của mình, kịp thờigiải quyết vấn đề một cách hiệu quả nhất [41]

1.2.3 Lý thuyết hệ thống sinh thái

Các ý tưởng về lý thuyết hệ thống trong công tác xã hội bắt nguồn từ lýthuyết về hệ thống tổng quát được triển khai ở những thập kỷ 1940 và 1950trong các ngành học về khoa học quản trị và tâm lý học và được VonBertalanffy (1971) tổng hợp lại

Một hệ thống được định nghĩa bởi Bertalanffy là “một tập hợp các yếu tố

đứng trong sự tương tác”, một tập hợp có đủ điều kiện để xác định là một

nhóm thì sẽ được nhìn nhận giống như một hệ thống, những nhóm nhỏ hơn tồn tại trong nhóm lớn Mỗi hệ thống được phân định bởi một vài dạng “ranh giới” – một đường kẻ không có thực để xác định các yếu tố bên trong và bên ngoài hệ thống Những thế đa dạng vượt qua ranh giới của hệ thống, có thể gọi

là năng lượng Chúng có thể tồn tại ở những dạng khác nhau và có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới tiến trình phát triển của cộng đồng Hệ thống đóng là những hệ thống không có những sự trao đổi vượt qua ranh giới, hệ thống mở là những hệ thống xảy ra khi năng lượng vượt ra

Trang 35

được những ranh giới có thể thẩm thấu được [19, tr.31].

Pincus và Minahan (1973) xác định 3 loại hệ thống trong xã hội nhưsau: Hệ thống không chính thức hay hệ thống tự nhiên (như gia đình, bạn

bè, các đồng nghiệp…); hệ thống chính thức: các tổ chức xã hội, hiệpđoàn xã hội (như nhóm cộng đồng, công đoàn…); hệ thống xã hội:những chương trình, phong trào xã hội, hệ thống cung cấp dịch vụ phúclợi xã hội (như bệnh viện, trường học…) [19, tr.33]

Lý thuyết hệ thống sinh thái nhấn mạnh đến việc cá nhân trong mốiquan hệ với các chủ thể khác nhau trong xã hội Trong đó đặc biệt mô tảđến mối liên hệ có sự tác động đến thân chủ Đại diện cho những ngườitheo thuyết hệ thống là Hasson, Macoslee, Sipori…

Lý thuyết về hệ thống sinh thái trong công tác xã hội thì cho rằngcác hệ thống với tư cách là tập hợp các bộ phận tương tác với nhau vàhành xử như toàn thể thống nhất Với cách tiếp cận đó, chủ yếu quan tâmđến các mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố hay thành phần của đốitượng để phát hiện và tìm hiểu những thuộc tính mới có tính toàn thể màtừng thành phần không có được khi nghiên cứu các đối tượng , thườngđược gọi là tính trội của hệ thống Cùng với tính trội thì lý thuyết hệthống cũng nghiên cứu được những thuộc tính quan trọng khác như: tính

có mục tiêu, tính đa chiều, tính mở, , tính tự tổ chức… của các hệ thốngđặc biệt là những hệ thống phức tạp Môi trường bao gồm môi trường xãhội và môi trường tự nhiên Để hiểu rõ một yếu tố nào trong môi trườngthì chúng ta cần phải tìm hiểu cả môi trường xung quanh của họ Vì vậybất cứ sự giúp đỡ hoặc can thiệp một cá nhân hay tổ chức xã hội nào đócũng liên quan và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống

Thuyết hệ thống được ứng dụng trong hoạt động công tác xã hội hỗ trợ việc

Trang 36

làm cho PNNĐT để chỉ ra sự tác động mà các tổ chức, các chính sách, cộngđồng, nhóm, gia đình ảnh hưởng như thế nào Lý thuyết hệ thống trợ giúp đềtài trong việc tìm hiểu đặc điểm cộng đồng thực hiện nghiên cứu kinh tế, vănhóa, chính trị, xã hội từ đó nhìn nhận những tác động từ phía cộng đồng chiphối tới đời sống của PNNĐT và các hoạt động hỗ trợ việc làm cho PNNĐT.Tập hợp về khái niệm hệ thống sinh thái trong công tác xã hội được hiểu đó

là sự tương tác qua lại giữa cá nhân với môi trường xung quanh Khi tiến hànhnghiên cứu đặt PNNĐT trong môi trường nghiên cứu của họ và xem xét sự

Xã hội, hệ thống Chính sách, dịch vụ

Gia đình, bạn bè, trường học

Cá nhân

chi phối của môi trường tác động trở lại đối với PNNĐT

Hình 1.2 Các hệ thống sinh thái trong công tác xã hội

(Nguồn: Phạm Huy Dũng, Giáo trình Bài giảng công tác xã hội, (Lý thuyết

và thực hành CTXH trực tiếp) Nhà xuất bản Đại học Sư phạm)

Thuyết hệ thống ứng dụng trong công tác xã hội với hỗ trợ việc làm choPNNĐT để tìm ra được nguồn lực, sự kết nối, mối liên hệ giữa PNNĐT trongmối quan hệ với gia đình, bạn bè, hàng xóm, các tổ chức xã hội, cũng nhưchính quyền địa phương…giúp cho PNNĐT tự tin hòa nhập cộng đồng

Trang 37

Cả hệ thống lý thuyết hệ thống và sinh thái đều hỗ trợ rất lớn cho nhữngngười làm công tác xã hội trong mọi lĩnh vực, nó cung cấp cho nhân viênCTXH khuôn khổ để phân tích sự tương tác luôn thay đổi và luôn tác độnglên con người.

Trên cơ sở đó thì NVXH khi xem xét về vấn đề của thân chủ, phải xemxét thân chủ như một hệ thống và có mối liên hệ tổng hợp với các hệ thống kháclớn hơn như , môi trường gia đình, bối cảnh, cộng đồng… chứ không được xem

họ như các yếu tố tách biệt, tự thân và vận hành một mình Vì thế khi tiến hànhphân tích, nhận diện về thân chủ cần đặt thân chủ trong hệ thống sinh thái môitrường, gia đình và cộng đồng… để hiểu rõ về các mối quan hệ cũng như cácvấn đề mà họ đang gặp phải Bên cạnh đó nhân viên CTXH phải đặt thân chủtrong hệ thống môi trường cũng là để tìm ra cấp độ can thiệp (nghĩa là xem vấn

đề của họ nằm ở đâu và họ cần được giúp đỡ, can thiệp ở cấp độ nào)

Trong việc tìm hiểu các vấn đề về phụ nữ đơn thân nuôi con thì lýthuyết này được ứng dụng vào việc đánh giá các chính sách, rà soát, cácnguồn lực hỗ trợ bên trong và bên ngoài cho thân chủ , các mối quan hệ xãhội, nhằm lý giải và đánh giá đúng mức độ tác động đề tìm ra nguyên nhân,giải quyết vấn đề bằng cách kết nối các nguồn lực Song song với quá trìnhcan thiệp với từng vấn đề cụ thể thì NVXH có thể kết hợp, huy động đuợc cácnguồn lực có sẵn, những dịch vụ còn ẩn hoặc thân chủ chưa có điều kiện tiếpnhận để giúp cho quá trình can thiệp được hiệu quả hơn

1.3 Đặc điểm của phụ nữ đơn thân và việc làm

1.3.1 Các đặc điểm của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ

Đặc điểm về tâm lý:

Mẹ đơn thân thường có những bất ổn về tâm lý Những phụ nữ khi bước chân lên con đường làm mẹ đơn thân dù là tự nguyện hay bắt buộc, thì cũng đều

Trang 38

trải qua những đấu tranh về mặt tâm lý, họ phải lựa chọn giữa nên và khôngnên, họ phải chuẩn bị chu đáo về mặt tài chính cũng như những kiến thức đểtrở thành một bà mẹ hoàn hảo trong cả hai vai trò : Cha và Mẹ.

Vì trẻ em cần sự tác động song song từ hai phía, với sự mềm mỏng,ngọt ngào, tinh tế của người mẹ và sự mạnh mẽ, quyết đoán, khả năng làmchủ từ phía người cha để nhân cách trẻ phát triển hài hòa Và mối lo ngại lớnnhất của những mẹ đơn thân là sợ con mình phát triển tâm lý không ổn định,phải chuẩn bị tinh thần để trả lời những câu hỏi của con

Rồi những vấn đề về tài chính luôn đè lên vai họ, khi con ốm đau màkhông ai giúp đỡ Tất cả những điều đó khiến cho tâm lý của người mẹ trởnên lo âu, cáu gắt và dễ mất bình tĩnh, nặng nề, từ sự bất ổn đó sẽ dẫn đếnnhững hành động và lời nói thiếu sáng suốt, ảnh hưởng đến sự phát triển củanhững đứa trẻ trong gia đình

So với các bà mẹ bình thường, mẹ đơn thân có nhiều vấn đề về sức khỏe

và tâm lý hơn Ví dụ trung bình một người làm việc khoảng 40 giờ/một tuần là

đủ để đảm bảo chất lượng công việc và sức khỏe Nhưng các bà mẹ đơn thânkhông thể cho phép mình một định mức làm việc như vậy, do nhu cầu của concái và chính bản thân họ nên họ phải gắng để làm việc nhiều hơn Vì vậy, họ dễ

bị kiệt sức, suy giảm trí nhớ, stress thường xuyên và hậu quả thì khó lường

Mối quan hệ xã hội:

Với tâm lý bất ổn của họ, điều này tạo ra rào cản cho họ không chỉtrong việc học tập mà còn trong vấn đề kết bạn với những người khác Họ dễ

bị cô lập trong tập thể, thậm chí phải nhận những ánh nhìn không mấy thânthiện cũng như những lời châm chọc, đả kích của bạn bè xung quanh - nhữngngười hoàn toàn có cuộc sống đầy đủ và gia đình hạnh phúc

Trang 39

PNNĐT thường kìm nén cảm xúc của mình, kìm nén những nhu cầuthiết yếu của mình bởi không muốn đưa ra những yêu cầu làm phiền mọingười xung quanh.

Tiếp đến là sự ám ảnh sợ xã hội một kiểu trốn tránh và sợ hãi khi thựchiện các hoạt động mang tính cộng đồng như giao lưu gặp gỡ ở chỗ đôngngười Do thường bị ảnh hưởng bởi quan điểm thiếu tích cực về PNNĐT từchính những người thân trong gia đình Nhiều gia đình vẫn còn suy nghĩ khánặng nề về PNNĐT, vì họ cho đó là một điều không hay Ở nông thôn, cónhiều gia đình rất đỗi đắng cay và cho là nặng nề khi có PNĐT

Bên cạnh những khó khăn trên mà người PNNĐT phải trải qua, họ lại làngười rất giàu về nghị lực, can đảm để vượt qua mọi khó khăn , vất vả trongcuộc sống

Đời sống kinh tế:

Phần lớn PNĐT có trình độ học vấn thấp, số người này chỉ có thể làm laođộng phổ thông và thu nhập thấp nên dễ rơi vào bất ổn về kinh tế và tỉ lệnghèo đói cao hơn so với nhóm nhân khẩu học khác

Đời sống của một bộ phận không nhỏ PNNĐT còn nhiều khó khăn, thuộc

hộ nghèo; vẫn còn PNNĐT chưa được tiếp cận hoặc tiếp cận chưa đầy đủ cácchính sách ưu đãi của Nhà nước về y tế, giáo dục, dạy nghề, việc làm…

Cũng theo nghiên cứu này, nhóm phụ nữ trẻ có cuộc sống “dư dả” hơnnhóm phụ nữ lớn tuổi hơn, do nhận được nhiều hơn sự trợ giúp của gia đình,người thân

1.3.2 Các đặc điểm về việc làm của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ

Mặc dù có những chuyển biến mang tính tích cực, PNNĐT ở Việt Namvẫn đang gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống nói chung và vấn đề việc làm nói riêng PNNĐT hiện vẫn đang phải đối mặt với những vấn đề về thái độ, cơ

Trang 40

hội để đóng góp và cơ hội tự phát triển cho sự phát triển xã hội PNNĐT đượccoi là một trong những nhóm đối tượng yếu thế tại Việt Nam.

Họ thuộc hộ nghèo và sống ở nhà tạm, chủ yếu sống dựa vào gia đình,người thân và trợ cấp xã hội

Nhóm PNNĐT thường làm những công việc chân tay và lao động phổthông Công việc của họ rất bấp bênh,thu nhập thấp Họ ít được tiếp cận vớinhững cơ hội phát triển cá nhân, xã hội, kinh tế, ít được tiếp cận các dịch vụ y

tế, giáo dục, học nghề, tìm kiếm việc làm,

PNNĐT chủ yếu làm những công việc mang tính tự phát do không cónhiều lựa chọn Chủ yếu là các lao động giản đơn, tỷ lệ được đào tạo nghềkhông cao và đào tạo rồi cũng không phải ai cũng làm được và có thu nhập.Nghề nghiệp của họ thường làm là làm nông , may, buôn bán nhỏ Họ tự làmviệc tại nhà và một số ít làm trong

1.4 Mục đích, nội dung và quy trình công tác xã hội trong hỗ trợ sinh

kế đối vớiphụ nữ nghèođơn thân

1.4.1 Mục đích CTXH trong hỗ trợ việc làm cho PNNĐT

Hoạt động của CTXH là hướng tới sự thay đổi tích cực trong xã hội,nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi người đặc biệt là những ngườiyếu thế ở trong xã hội CTXH thúc đẩy sự biến đổi xã hội và tăng cường cácmối tương tác hài hòa giữa cá nhân, gia đình và xã hội hướng tới tiến bộ côngbằng xã hội Hoạt động CTXH trong hỗ trợ việc làm cho PNNĐT hướng tớinhững mục đích cơ bản sau:

−Tư vấn về các dịch vụ xã hội để hỗ trợ cho nhóm PNNĐT và cộng đồng thực hiện được các chức năng và vai trò của mình một cách có hiệu quả

−Hỗ trợ và huy động các cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng nâng caochất lượng sống cũng như năng lực giải quyết vấn đề về việc làm cho

Ngày đăng: 21/11/2019, 14:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w