Trong giai đoạn hiện nay, mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông Việt Nam đã được cụ thể hoá trong các văn kiện của Đảng, đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng cộng sản Việt Na
Trang 1
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 21 MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông Việt Nam là hình thành những
cơ sở ban đầu và trọng yếu của con người mới: phát triển toàn diện phù hợp với yêu cầu và điều kiện hoàn cảnh đất nước con người Việt Nam
Trong giai đoạn hiện nay, mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông Việt Nam đã được cụ thể hoá trong các văn kiện của Đảng, đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng cộng sản Việt Nam và kết luận của hội nghị trung ương khoá
IX, mục tiêu này gắn với chính sách chung về giáo dục và đào tạo “Giáo dục và đào tạo gắn liền với sự phát triển kinh tế, phát triển khoa học kĩ thuật xây dựng nền văn hoá mới và con người mới…”
“Chính sách giáo dục mới hướng vào bồi dưỡng nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có trí thức, có tay nghề…”
Môn Toán trong trường phổ thông giữ một vai trò, vị trí hết sức quan trọng là môn học công cụ Nếu học tốt môn Toán thì những tri thức trong Toán cùng với phương pháp làm việc trong toán sẽ trở thành công cụ để học tốt những môn học khác
Môn Toán góp phần phát triển nhân cách, ngoài việc cung cấp cho học sinh hệ thống kiến thức, kĩ năng toán học cần thiết môn Toán còn rèn luyện cho học sinh đức tính, phẩm chất của người lao động mới: cẩn thận, chính xác, có tính kỉ luật, tính sáng tạo, bồi dưỡng óc thẩm mĩ
Đất nước ta đang trên bước đường xây dựng, phát triển và giáo dục đã được Đảng, Nhà nước coi là quốc sách hàng đầu, để chấn hưng nền giáo dục của nước nhà thì việc đổi mới phương pháp giảng dạy được Bộ giáo dục luôn coi là một nhiệm vụ cấp thiết cần phải thực hiện một cách có hiệu quả Muốn làm tốt công việc đó thì người thầy phải phấn đấu tự học, tự rèn nhằm nâng cao nhận thức, nghiệp vụ chuyên môn, từ đó tìm ra cho mình phương pháp giảng dạy đạt hiệu quả cao nhất, tạo được sự hứng thú và niềm tin ở học trò nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Một trong những cách để tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác giảng dạy đó là giáo viên viết các chuyên đề, sáng kiến kinh nghiệm phục vụ cho việc dạy và học Thực tế qua quá trình giảng dạy và một vài năm tham gia ôn thi học sinh giỏi tôi nhận thấy cần có những tài liệu hệ thống lại các đơn vị kiến thức ở các phần khác nhau
Trong các đề thi học sinh giỏi ở các vòng của THPT hiện nay có rất nhiều các đơn vị kiến thức nâng cao rất nhiều so với chương trình toán cơ bản Tài liệu
ôn thi học sinh giỏi toán cũng rất nhiều,vì thế việc chọn ra những đơn vị kiến thức phù hợp để ôn cho các em học sinh một cách có hệ thống cũng là một vấn
đề rất quan trọng Một trong các phần đó là phần giải phương trình, hệ phương trình
Trước thực tế đó, nhằm giúp các thầy cô và các em học sinh khá giỏi có thêm một tài liệu tham khảo trong giảng dạy và học tập phần PT, HPT góp phần nâng cao khả năng giải quyết các bài tập về phần này một cách thành thạo, nhằm phát huy khả năng suy luận, óc phán đoán tính linh hoạt của học sinh Giúp các
em tìm tòi, phát hiện kiến thức, tạo hứng thú trong quá trình học bộ môn Toán,
Trang 3và hơn nữa là góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, nay tôi viết đề tài sáng
kiến kinh nghiệm: “Một số phương pháp giải phương trình, hệ phương trình
bồi dưỡng học sinh khá giỏi”.
1.2 Mục tiêu của sáng kiến
Cung cấp một số phương pháp giải hữu ích để giáo viên giảng dạy và học sinh có thể tiếp cận, giải quyết được các bài tập về phương trình và hệ phương trình trong các đề thi học sinh giỏi cấp trường, cấp tỉnh Từ đó giúp các em nắm vững và khắc sâu các kiến thức hơn, biết cách vận dụng, khai thác một số dạng toán phương trình, hệ phương trình hay và khó
1.3 Về đối tượng nghiên cứu
Phương trình và hệ phương trình trong chương trình môn Toán THPT và các đề thi học sinh giỏi cấp trường,cấp tỉnh và thi THPT Quốc Gia
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận : Nghiên cứu các tài liệu về lí luận và phương pháp dạy học môn Toán
Quan sát, điều tra : Thông qua thực tế giảng dạy của bản thân và học hỏi kinh nghiệm từ các đồng nghiệp
- Thực nghiệm sư phạm : Để kiểm nghiệm kết quả đề tài được áp dụng trong thực tiễn dạy học
2 NỘI DUNG
2.1 Cơ sở viết sáng kiến
* Cơ sở triết học:
Theo triết học duy vật biện chứng, mâu thuẫn là động lực thúc đẩy quá trình phát triển Vì vậy trong quá trình giúp đỡ học sinh, Giáo viên cần chú trọng gợi động cơ học tập giúp các em thấy được sự mâu thuẫn giữa những điều chưa biết với khả năng nhận thức của mình, phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh trong việc lĩnh hội tri thức Tình huống này phản ánh một cách lôgíc và biện chứng trong quan niệm nội tại của bản thân các em Từ đó kích thích các em phát triển tốt hơn
* Cơ sở tâm lý học:
Theo các nhà tâm lí học: Con người chỉ bắt đầu tư duy tích cực khi nảy sinh nhu cầu tư duy khi đứng trước một khó khăn cần phải khắc phục Vì vậy
GV cần phải để học sinh thấy được khả năng nhận thức của mình với những điều mình đã biết với tri thức của nhân loại
Căn cứ vào quy luật phát triển nhận thức và hình thành các đặc điểm tâm
lí thì từ những lớp cuối của cấp THCS, học sinh đã bộc lộ thiên hướng, sở trường và hứng thú đối với những lĩnh vực kiến thức, kĩ năng nhất định Một số học sinh có khả năng và ham thích Toán học, các môn khoa học tự nhiên; số khác lại thích thú văn chương và các môn khoa học xã hội, nhân văn khác Ngoài ra còn có những học sinh thể hiện năng khiếu trong những lĩnh vực đặc biệt…
* Cơ sở giáo dục học:
Để giúp các em học tốt hơn GV cần tạo cho học sinh hứng thú học tập
Trang 4phát triển cần phải có tri thức cần phải học hỏi Thầy giáo biết định hướng, giúp
đỡ từng đối tượng học sinh
2.2 Thực trạng của vấn đề cần giải quyết.
* Phương trình, hệ phương trình là nền tảng của toán học phổ thông Xu thế thi ngày càng khó, số câu vận dụng và vận dụng cao cũng tăng lên trong lĩnh vực đại số giải tích hầu hết đưa về những phương trình, hệ phương trình không mẫu mực mà đa số học sinh lúng túng.Hiểu được bản chất, mấu chốt của vấn đề các em sẽ dễ dàng thực hiện ước mơ của mình vượt qua tất cả các kỳ thi
* Tôi nhận thấy đa số học sinh có kết quả rất thấp Vì vậy việc lĩnh hội
kiến thức và rèn luyện kĩ năng ở học sinh đòi hỏi nhiều công sức và thời gian
Sự nhận thức của học sinh thể hiện khá rõ
* Thực tế qua quá trình giảng dạy tôi nhận thấy đại đa số các em học sinh đều ngại và lúng túng khi gặp các bài toán không mẫu mực, không có phương pháp rõ ràng, ngay cả các em học sinh lớp 12 khi đã được trang bị công cụ là đạo hàm cũng thấy khó khăn
2.3 Các giải pháp thực hiện
Phương pháp 1 Dùng đạo hàm để giải phương trình
Ta biết rằng mọi phương trình đều có thể đưa về dạng , trong đó hàm số thể hiện đầy đủ tính chất của nghiệm phương trình này Do đó khi
ta khảo sát được hàm số , ta có thể có được cái nhìn tổng quát về phương trình, xác định được rằng phương trình đó có bao nhiêu nghiệm, thuộc những miền nào,…những tính chất này tất nhiên không thể rõ ràng bằng nghiệm cụ thể của phương trình nhưng nó vẫn có nhiều lợi ích khi mà việc tìm lời giải cho bài toán đó không tiến hành thuận lợi bằng các cách giải thông thường nữa
Và như thế công công cụ hàm trong trường hợp này thực sự thể hiện rõ tính hiệu quả của nó, bằng cách dùng đạo hàm ta có thể xác định được chính xác
số nghiệm của một phương trình cho trước; sau đó ta tiến hành một bước trong lập luận cho điều kiện đủ của bài toán mà thông thường gọ là “nhẩm nghiệm” để chỉ ra rằng phương trình chỉ có bao nhiêu nghiệm đó thôi và hoàn tất lời giải
1 Sử dụng đạo hàm để giải phương trình.
Trong phần này, chúng ta sẽ tìm hiểu một số ứng dụng trực tiếp của đạo hàm vào giải phương trình và thấy rằng có nhiều bài toán thì đây là cách duy nhất có thể thực hiện được
Trước hết ta có những kết quả quen thuộc sau:
(1) Trên miền xác định D của hàm số , nếu hoặc thì hàm
số đơn điệu và phương trình có không quá một nghiệm
(2) Nếu hàm số liên tục trên và thì phương trình
có ít nhât một nghiệm trên
(3) Giả sử có đạo hàm đến cấp n trên khoảng Khi đó nếu phương trình có k nghiệm thì phương trình chỉ có tối đa k+1
nghiệm (hệ quả của định lí Rolle)
Trang 5(4) Nếu hàm số liên tục trên và có đạo hàm trên khoảng thì tồn
Vì vậy việc trình bày lời giải bài toán theo ý này có thể qua hai bước chính là:
- Dùng đạo hàm chứng minh phương trình có không quá k nghiệm
- Chỉ ra được đầy đủ k nghiệm đó
Ví dụ 1 Giải PT:
Lời giải.
Ta thấy với phương trình này cách đặt ẩn phụ hay biến đổi tương đương không còn tác dụng nữa
Ta giải bằng đạo hàm như sau:
Điều kiện xác định của PT là
Xét hàm số:
biến hay phương trình có không quá một nghiệm
Vậy phương trình đã cho có nghiệm duy nhất x=0.
Ta xét thêm một ví dụ nữa để thấy tác dụng của công cụ này
Ví dụ 2 Giải PT:
Lời giải Điều kiện xác định
Xét hàm số
Suy ra PT đã cho có không quá một nghiệm, ta dễ dàng nhẩm được nghiệm đó
là và lời giải hoàn tất.
Ví dụ 3 Chứng minh PT sau có đúng một nghiệm dương:
với mọi
Lời giải Xét hàm số
có không quá một nghiệm
thuộc và đây là nghiệm dương
Từ hai điều này suy ra PT đã cho có đúng một nghiệm dương
Ví dụ 4 Giải PT:
Trang 6Lời giải Rõ ràng khi đứng trước những PT ở dạng hỗn hợp, vừa có hàm mũ,
vừa có hàm tuyến tính thế này ta cũng không thể áp dụng những biến đổi đại số thông thường Việc sử dụng đạo hàm để khảo sát hàm số là tất yếu
Xét hàm số
nghiệm
Ta nhẩm được hai nghiệm này là
Vậy PT đã cho có hai nghiệm
Ví dụ 5 Giải PT:
Lời giải Phương trình đã cho có dạng
Xét hàm số , trong đó x 0 là nghiệm của PT trên
PT đã cho có thể viết lại là:
Rõ ràng hàm số này liên tục trên nên theo định lí Lagrange thì tồn tại
sao cho
PT này có đúng hai nghiệm là nên nếu x0 là nghiệm của phương trình đã cho thì nó phải thuộc Thử lại thấy thỏa mãn
Vậy phương trình đã cho coa hai nghiệm là
2 Sử dụng đạo hàm để giải hệ phương trình.
Những ứng dụng của đạo hàm trong việc giải hệ phương trình xoay quanh một
số vấn đề chủ yếu là:
- Tìm được mối quan hệ giữa các biến trong một phương trình nào đó của
hệ để thế vào các phương trình khác rồi giải
- Dùng tính đơn điệu của hàm số để giải các bài toán về hệ lặp
Ví dụ 6 Giải hệ phương trình:
Lời giải Ta thấy bài toán dạng này rất đặc trưng cho phương pháp được nêu và
cách ra đề này cũng thường hay được sử dụng trong các đề thi
Điều quan trọng là chứng minh được x = y từ hệ trên.
Điều này cũng không khó, từ phương trình thứ hai của hệ ta thấy Khi
biến Phương trình thứ nhất thực chất là :
Thay vào phương trình thứ hai của hệ ta được
Ví dụ 7 Giải hệ phương trình:
Trang 7
Suy ra đồng biến
Giả sử thì từ hệ phương trình trên suy ra
Do đó hay Ta thay lại vào hệ quy về việc giải phương trình:
Lại xét hàm số:
, tức hàm này cũng đồng biến
Hơn nữa ta thấy phương trình có một nghiệm t = 1
Từ đó suy ra hệ đã cho có duy nhất một nghiệm
BÀI TẬP ÁP DỤNG:
1 Giải các phương trình sau:
a
b
c
2 Giải các phương trình sau:
a
b
c
d
e
f
3 Giải các hệ phương trình sau:
a
b
Trang 8Phương pháp 2 Giải PT,HPT bằng phương pháp hàm số:
Định lí 1:Nếu hàm số y=f(x) luôn đb (hoặc luôn ngb) thì số nghiệm của pt :
f(x)=k
Không nhiều hơn một và f(x)=f(y) khi và chỉ khi x=y
Định lí 2: Nếu hàm số y=f(x) luôn đb (hoặc luôn ngb) và hàm số y=g(x) luôn
ngb (hoặc luôn đb) trên D thì số nghiệm trên D của pt: f(x)=g(x) không nhiều hơn một
Định lí 3:Cho hàm số y=f(x) có đạo hàm đến cấp n và pt có m nghiệm, khi đó pt có nhiều nhất là m+1 nghiệm
Các ví dụ:
VÝ dô 1:Giải PT:
Giải: Ta thấy PT chỉ có nghiệm trong
Với u=-3x, v=2x+1; u,v>0 Xét hàm số với t >0
Ta có
(1) u=v -3x=2x+1 là nghiệm duy nhất của pt
VÝ dô 2: Giải PT:
Vì
Nên dấu của f’(x) chính là dấu của sinx Từ đây ta có
Vậy pt đã cho có nghiệm duy nhất x = 0
Trang 9Ví dụ 3 Giải PT:
Giải: Xét hàm số :
Ta có:
vô nghiệm nên phương trình đã cho có nhiều nhất hai nghiệm
Mà ta thấy f(1)=f(0)=0 nên phương trình đã cho có hai nghiệm là x = 0 và x = 1.
Giải: Đk:
Xét hàm số: ta có f(t) là hàm đồng biến nên
Xét hàm số:
có nhiều nhất là hai nghiệm, mà f(0)=f(1)=0 nên pt đã cho có hai nghiệm x=0 và x=1
Ví dụ 5 Giải hệ pt:
Giải: Từ (2) và (3) ta có :
Xét hàm số f(t)=sint-3t với ta có f(t) là hàm nghịch biến nên f(x)=f(y) x=y thay vào (2) ta có là nghiệm của hệ
Ví dụ 6 Giải hệ:
Trang 10Giải: Đk: (*)
biến)
Thay vào (2) ta có:
Vậy là nghiệm duy nhất của hệ đã cho
HỆ HOÁN VỊ VÒNG QUANH:
Định nghĩa:Là hệ có dạng: (I)
Định lí 1: Nếu f,g là các hàm cùng tăng hoặc cùng giảm trên A và
là nghiệm của hệ trên A thì
Định lí 2:Nếu f,g khác tính đơn điệu trên A và là nghiệm của hệ
Ví dụ 7:Giải hệ:
Giải:Ta giả sử (x,y,z) là no của hệ Xét hàm số
Ta giả sử: x=Max{x,y,z} thì
nên hệ đã cho có nghiệm là x=y=z=1
Trang 11Ví dụ 8 Giải hệ:
Giải: Hệ
hàm đồng biến nên ta có nếu (x,y,z) là nghiệm của hệ thì x=y=z thay vào hệ ta có:
pt này có nghiệm duy nhất x=3
Vậy nghiệm của hệ đã cho là x=y=z=3
Bài tập:
1 Giải hệ:
2 Tìm a để hệ sau đây có nghiệm duy nhất
3.Giải hệ:
Trang 12
Phương pháp 3 Tham số hóa
Ví dụ 1 Giải phương trình x4−2 x2−16 x+1=0
Lời giải
Viết phương trình đã cho dưới dạng (x2+α)2
=2(1+α)x2+16 x−(1−α2) Ta cần chọn α sao cho vế phải có dạng một bình phương đúng
Δ '=82+2(1+α)(1−α2)=0 ⇒ α=3
Khi đó phương trình đã cho tương đương với
(x2+3)2=8(x+1)2⇔(x2+2√2 x+3+2√2)(x2−2√2x+3−2√2)=0⇔ x=√2±√2√2−1
Ví dụ 2 Giải phương trình
54 x3−9 x+√2=0
Lời giải
Ta tìm cách viết vế trái của phương trình dưới dạng x3+a3+b3−3 abx Như vậy
thì a,b là nghiệm của hệ phương trình{ a 3 +b 3 = √ 2
54 ¿¿¿¿ là nghiệm của
phương trình t
2−√2
54 t+ 1182=0⇔t= 1
54√2⇒ a=b= 13√2 Khi đó phương trình đã cho tương đương với
Ví dụ3 Giải phương trình chứa căn
−x+3=2 √ 1−x− √ 1+x+3 √ 1−x2
Lời giải.
Tập xác định D=[−1;1]
Ta tìm α ,β sao cho
Trang 13−x+3=α(1+x)+β(1−x)⇔ ¿ { α−β=−1 ¿¿¿
khi đó phương trình viết lại như sau
(1+x)+2(1−x)−2√1−x+√1+x−3√1−x2 =0
đặt u=√1+x ,v=√1−x (u, v≥0), ta được
u2+2v2−2v+u−3uv=0⇔(u2−2uv)+(u−2v)−(uv−2v2)=0⇔(u−2v)(u−v+1)=0
⇔
¿
[u=2v [u−v+1=0 [⇔ ¿ [ √ 1+x=2 √ 1−x
[ √ 1+x+1= √ 1−x [⇔ ¿
[x=3
5
[x=− √ 3 2
[ ¿¿
Ví dụ 4 Giải hệ phương trình
{ x 4 − y 4 =240 ¿¿¿¿
Lời giải
Hệ đã cho được viết lại như sau
{ x 4 = y 4 +240 (1) ¿ ¿¿¿
Suy ra
x4+λ(x3−3 x2+4 x)= y4+240+λ(2 y3−12 y2+32 y)
⇔ x4+λx3−3 λx2+4 λx= y4+2 λy3−12λy2+32 λy+240 (3)
Ta cần chọn λ sao cho (3) có dạng
(x−a)4=(y−4)4⇔x4−4 a x3+6a2x2−4 a3x+a4= y4−4by 3 +6b2y2−4b3y+b4 ( 4)
So sánh (4) và (3) thì
{ −4a=λ ¿ { 6a 2 =−3λ ¿ { −4a 3 =4λ ¿ { −4b=2λ ¿ { 6b 2 =−12λ ¿ { −4b 3 =32λ ¿¿¿¿
Như vậy ta có
(x−2)4=( y−4)4⇔ ¿ [ x−2=y−4
[ x−2=4−y [⇔ ¿ [x=y−2 [x=6−y [ ¿
+) x= y−2 thay vào (1) ta được
Trang 14.
+) x=6− y thay vào (1) ta được
Kết luận: Hệ đã cho có hai nghiệm là
{ x=−4 ¿¿¿¿.
Nhận xét: Với cách làm này thì cho dù bài toán có các hệ số lớn thì chúng ta
vẫn giải quyết được Có thể hình dung tác giả đã sang tạo bài toán như sau: Xuất phát từ (x−2)4=(y−4)4 ta có
x4−8x3+24x2−32x+16=y4−16 y3+96 y2−256 y+256
⇒
Nếu các bạn để ý một chút thì thấy rằng trong hệ không chứa đơn thức dạng
mx α y β Do đó ta sẽ tách các ẩn riêng như trên và đưa về hằng đẳng thức Bây
giờ, bằng một phép đổi biến ta có hệ phương trình khó hơn
Ví dụ 5 Giải hệ phương trình
{ 6x 2 y+2 y 3 +35=0 (1) ¿¿¿¿
Lời giải
Đặt x+ y=u; x− y=v suy ra x= u+v2 ; y=u−v2 thay vào các phương trình của hệ
và biến đổi
trở thành
(2) trở thành