Việc nâng cao chất lượng giáo dục phải được thực hiện gắn liền với việcđổi mới mục tiêu, nội dung chương trình, đổi mới về phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra
Trang 1MỤC LỤC
I MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Đối tượng nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
II NỘI DUNG 3
1 Cơ sở lý luận của vấn đề 3
1.1 Khái niệm chung về kĩ năng sống 3
1.2 Khái niệm chung về dạy học dự án (PBL) 3
1.3 Mục tiêu của DHTDA 4
1.4 Cấu trúc của PBL 4
1.5 Sự tương đồng giữa kỹ năng sống (KNS) và mục tiêu của DHDA 5
2 Thực trạng của vấn đề 6
3 Giải pháp và tổ chức thực hiện 6
3.1 Tìm ý tưởng dự án 6
3.2 Xác định mục tiêu dự án 7
3.3.Thiết kế ý tưởng dự án 7
3.3 Xây dựng bộ câu hỏi định hướng (Bộ câu hỏi khung) 8
3.4 Lập kế hoạch thực hiện dự án 9
3.5 Kế hoạch của GV và HS 10
3.5 Làm việc theo nhóm 10
3.6 Tài liệu hỗ trợ giáo viên và học sinh 12
3.7 Chuẩn bị các điều kiện thực hiện DA 12
3.8 Vai trò của giáo viên và học sinh trong DHTDA 12
3.9 Bản chất, mục tiêu và đặc điểm của PBL 12
3.10 Đánh giá dự án 13
3.11 Quy trình tổ chức thực hiện PBL 14
Trang 23.12 So sánh phương pháp dạy học dự án với các phương pháp dạy học
truyền thống 14
4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 17
III KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 3I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Kỹ năng sống là năng lực tâm lý xã hội, giúp cá nhân giải quyết có hiệuquả những nhu cầu và thách thức của cuộc sống Như chúng ta đã biết khoảngcách giữa nhận thức và hành động là rất lớn Giáo dục kỹ năng sống nhằm giúp
HS biến nhận thức thành hành động, nghĩa là HS không chỉ hiểu biết mà cònphải làm được điều mình hiểu Cách dạy cũ theo kiểu rao giảng suông, dạy vẹthọc vẹt không đạt được sự thay đổi hành vi này Trong cách giáo dục mới, HSđược giúp đỡ để biết mình là ai, mình muốn gì, có mục đích gì trong cuộc sống,biết dung hòa giữa cái tôi và cái chúng ta, có những chọn lựa và quyết định đúngtrước những biến cố do cuộc sống đưa đến
Trước bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay, đất nước ta khôngngừng hoàn thiện, đổi mới và phát triển về mọi mặt Trong xu thế đó, Đảng taluôn khẳng định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” và xem việc đổi mới, nângcao chất lượng trong giáo dục là yếu tố sống còn trong việc đào tạo, bồi dưỡngnhững con người giàu tri thức, năng động, sáng tạo đảm nhận vai trò quan trọngquyết định đến sự phát triển của đất nước trong tương lai
Việc nâng cao chất lượng giáo dục phải được thực hiện gắn liền với việcđổi mới mục tiêu, nội dung chương trình, đổi mới về phương pháp, phương tiện
và hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá kiến thức, kỹ năng
“ Phương pháp là sự vận động của nội dung”, nên cùng với sự phát triểncủa nội dung, phương pháp dạy học cũng đang được đổi mới theo hướng hiệnđại hóa Luật giáo dục điều 28.2 nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phảiphát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh (HS); phù hợpvới đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khảnăng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn,tác động đến tình cảm đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS” Việc đổi mớiphương pháp dạy học (PPDH) đòi hỏi phải tìm kiếm các PPDH mới và cải tạocác phương pháp cổ truyền cho phù hợp với nội dung hiện đại, theo hướng nângcao tính tích cực, độc lập sáng tạo, nâng cao năng lực nội sinh của người học,đổi mới cách điều khiển quá trình dạy học và đưa công nghệ hiện đại vào n hàtrường
Những năm gần đây, qua quá trình giao lưu học hỏi, nghiên cứu và tiếpthu những thành tựu giáo dục ở các nước phát triển, chúng ta đã ghi nhận vàthực hiện thành công nhiều phương pháp dạy học tích cực, hiện đại, mang lạihiệu quả cao trong quá trình dạy học và quan trọng là phù hợp với tình hình giáodục Việt Nam hiện nay Trong những phương pháp dạy học hiện đại đó khôngthể không kể đến PBL (Project Based Learning: dạy học theo dự án)
PBL là một trong những PPDH hiện đại, chiếm một vị thế đáng kể trongcác lớp học, đang phát triển chính thức thành một chiến lược dạy học ở nhữngnước phát triển So với các PPDH khác PBL vượt xa hơn trong việc tạo hứng
Trang 4thú, tăng tính chuyên cần, nâng cao tính tự lực và thái độ học tập của HS PBLgiúp HS có cơ hội phát triển những kỹ năng phức hợp như tư duy bậc cao, giảiquyết vấn đề, hợp tác và giao tiếp Với PBL, HS có cơ hội thâm nhập vào nhữngvấn đề lôi cuốn, phức tạp mang tính thách thức cao nhưng sát với thực tếđờisống Tóm lại PBL góp phần rèn luyện kỹ năng sống cho HS- một vấn đề màtoàn xã hội đang quan tâm.
Là một môn học quan trọng trong chương trình giáo dục THPT, Vật lý cóvai trò to lớn trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của giáo dục phổ thông Việclựa chọn và vận dụng sáng tạo các PPDH tích cực theo hướng đổi mới vào quátrình dạy học môn Vật lý sẽ góp phẩn rèn luyện cho HS tư duy logic và tư duybiện chứng, hình thành ở họ niềm tin về bản chất khoa học của các hiện tượng tựnhiên, cũng như khả năng nhận thức của con người, khả năng vận dụng khoahọc để đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống cũng như các yếu tố tích cực khác
Với những lý do nêu trên tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: “Rèn luyện kỹ năng sống cho HS thông qua dạy học theo tinh thần dạy học dự án môn Vật lý ở trường THPT Quảng Xương 4”.
2 Mục tiêu nghiên cứu.
Lồng ghép phương pháp dạy học theo tinh thần dạy học dự án vào bộ mônVật lý nhằm rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh THPT
4 Đối tượng nghiên cứu.
- Nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức dạy học nhằm rèn luyện KNS cho HS
5 Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình viết kinh nghiệm này tôi đã vận dụng các phương pháp sau :
PP điều tra: Điều tra việc giảng dạy - học tập ở một số tiết dạy môn Vật lý
PP đối chứng: So kết quả trước và sau khi dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ.
PP nghiên cứu tài liệu: Sưu tầm và nghiên cứu các tài liệu có liên quan
Trang 5II NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận của vấn đề.
1.1 Khái niệm chung về kĩ năng sống.
Kỹ năng sống là tập hợp các hành vi tích cực và khả năng thích nghi chophép mỗi cá nhân đối phó hiệu quả với các nhu cầu và thách thức của cuộc sốnghàng ngày; nói cách khác là khả năng tâm lý xã hội Đó là tập hợp các kỹ năng
mà con người tiếp thu qua giáo dục hoặc trải nghiệm trực tiếp được dùng để xử
lý các vấn đề và câu hỏi thường gặp trong đời sống con người Các chủ đề rất đadạng tùy thuộc vào chuẩn mực xã hội và mong đợi của cộng đồng Kỹ năngsống có chức năng đem lại hạnh phúc và hỗ trợ các cá nhân trở thành người tíchcực và có ích cho cộng đồng
1.2 Khái niệm chung về dạy học dự án (PBL)
1.2.1 Lịch sử khái niệm
Theo sự giải thích của các nhà khoa học thì dạy học theo dự án có nguồngốc từ khái niệm dự án trong lĩnh vực kinh tế, xã hội được đưa vào lĩnh vực giáodục - đào tạo và được sử dụng như một PP hay hình thức dạy học Từ cuối thế kỷXVI, ở Italia người ta đã sử dụng khái niệm dự án trong dạy học ở các trườngdạy nghề kiến trúc, rồi tiếp đó là ở Pháp Đến thế kỷ XVIII nhờ các ảnh hưởngcủa các cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, tư tưởng của DHTDA đã lan truyềnsang nhiều nước ở châu Âu và châu Mỹ, áp dụng dạy học trong một số trườngđại học: Ở đó mỗi dự án đòi hỏi sinh viên phải được thực hiện một nhiệm vụ làthiết kế và gia công một sản phẩm kĩ thuật Để làm được sinh viên phải phát huytính tự lực cao, phải vận dụng tốt những kiến thức và kỹ năng đã được trang bị.Thuật ngữ dự án, tiếng Anh là “Project” theo gốc la tinh là “Projicere”, cónghĩa là phác thảo dự thảo hay thiết kế Ngày nay khái niệm dự án được hiểutheo nghĩa phổ thông là một đề án, một dự thảo hay một kế hoạch, trong đó cầnxác định rõ mục tiêu, thời gian, phương tiện tài chính, vật chất, nhân lực và cầnđược thực hiện nhằm đạt mục tiêu đề ra Khái niệm dự án được sử dụng tronghầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội; trong sản xuất nông nghiệp, trong nghiêncứu khoa học cũng như trong quản lý xã hội…
Khái niệm dự án đã đi từ lĩnh vực kinh tế, xã hội vào lĩnh vực giáo dục,đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà còn được sửdụng như một phương pháp hay hình thức dạy học
Đầu thế kỷ 20, các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lý luận chophương pháp dự án và coi đó là PPDH quan trọng để thực hiện quan điểm dạyhọc lấy HS là trung tâm, khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống coi
GV là trung tâm Ban đầu phương pháp dự án (PPDA) chỉ được vận dụng trongviệc dạy thực hành ở các môn học kỹ thuật trong các trường đại học và cao
Trang 6đẳng, về sau PPDA được dung hầu hết các môn học, kể cả các môn khoa học xãhội.
Sau một thời gian phần nào bị lãng quên, ngày nay phương pháp dạy họcdựa trên dự án lại được chú ý vận dụng nhiều ở các nước có nền giáo dục pháttriển như: Mỹ, Đức, Hà Lan…Ở nước ta dạy học dựa trên dự án đang đượcnghiên cứu vận dụng trong dạy học Đại học, Cao đẳng, Chuyên nghiệp cũngnhư các trường phổ thông
1.2.2 Định nghĩa về dạy học dựa trên dự án
Dạy học dự án là một mô hình dạy học lấy hoạt động của học sinh làmtrung tâm Kiểu dạy học này phát triển kiến thức và kĩ năng của học sinh thôngqua quá trình học sinh giải quyết một bài tập tình huống gắn với thực tiễn bằngnhững kiến thức theo nội dung môn học - được gọi là dự án Dự án đặt học sinhvào vai trò tích cực như: người giải quyết vấn đề, người ra quyết định, điều traviên hay người viết báo cáo Thường thì học sinh sẽ làm việc theo nhóm và hợptác với các chuyên gia bên ngoài và cộng đồng để trả lời các câu hỏi và hiểu sâuhơn nội dung, ý nghĩa của bài học Học theo dự án đòi hỏi học sinh phải nghiêncứu và thể hiện kết quả học tập của mình thông qua cả sản phẩm lẫn phươngthức thực hiện
1.3 Mục tiêu của DHTDA
So với các PPDH truyền thống, DHTDA chú trọng nhiều đến năng lực HS.Theo Apel H.J và Knoll M, mục tiêu của DHTDA nhằm đào tạo con người pháttriển toàn diện, trang bị cho họ những năng lực để chuẩn bị bước vào cuộc sống,đồng thời góp phần đổi mới PPDH trong trường học Tuy nhiên, năng lực là tổnghòa, kết tinh kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm, giá trị, chuẩn mực đạo đức,…được hình thành từ nhiều lĩnh vực học tập và từ sự phát triển tự nhiên về mặt xãhội của một con người Vì vậy, DHTDA hướng tới ba mục tiêu cơ bản:
+ Về kiến thức: đạt được chuẩn chương trình hoặc có thể nhiều hơn;
+ Về kĩ năng: rèn luyện cho họ các kĩ năng như: tự lập kế hoạch, thực hiện
DA, báo cáo và trình bày kết quả, ĐG DA, ;
+ Về thái độ: rèn luyện ở học sinh tính tích cực, tự lực và trách nhiệm với
cộng đồng và xã hội; có ý thức vận dụng kiến thức vào thực tiễn; hòa đồng giúp
Trang 7- Đánh giá dự án
1.5 Sự tương đồng giữa kỹ năng sống (KNS) và mục tiêu của DHDA
Kĩ năng sống cơ bản Mục đích của DHDA
Lĩnh vực nhận
thức
Tư duy phê phán Phát triển năng lực đánh giá
Tư duy sáng tạo Phát triển khả năng sáng tạo
Lĩnh vực tâm
vận động
Ra quyết định và giảiquyết vấn đề
Rèn luyện năng lực phát hiện và xử línhững vấn đề phức hợp
Phát triển năng lực lập kế hoạch vàthực hiện kế hoạch
Gắn lí thuyết với thực hành, tư duy vàhành động, nhà trường và xã hội
Đương đầu với cảmxúc và căng thẳng
- Tự nhận thức là kĩ năng nhận biết và hiểu rõ bản thân mình (về tiềm năng, tìnhcảm, mặt mạnh, mặt yếu…) DHDA sẽ kích thích động cơ, tạo hứng thú học tậpcho HS, giúp họ tích cực huy động nhiều tiềm năng của bản thân như: Tư duy,thực hành, trình bày, giao tiếp để giải quyết vấn đề học tập mang tính phức tạp,qua đó khám phá các ưu điểm và hạn chế của bản thân
- Kỹ năng thấu cảm ( bày tỏ sự thông cảm bằng cách tự đặt mình vào vị trí củangười khác và có sự hỗ trợ cần thiết đối với người đó) được rèn luyện qua hoạtđộng nhóm trong quá trình HS thực hiện dự án
- Việc rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn trong DHDA cũng là một trong nhữngphẩm chất tâm lý hỗ trợ tích cực cho con người đương đầu với thực tế mà họ cóthể trải nghiệm trong cuộc sống
- Khi lập kế hoạch và thực hiện dự án, HS cần đưa ra quyết định cho nhữnghành động cụ thể nhằm đạt đến mục tiêu dự án, vì thế mà kỹ năng ra quyết địnhđược hình thành và trải nghiệm
- Để đưa ra các quyết định phù hợp trong quá trình thực hiện dự án, HS phảiphân tích một cách có phê phán cái đúng, cái hợp lí, cũng như cái sai, cái không
Trang 8hợp lí của thông tin, của quan điểm nhằm lựa chọn những thông tin, quanđiểm, cách giải quyết thích hợp nghĩa là tư duy phê phán được hình thành vàphát triển.
Như vậy tích hợp DHDA trong dạy học Vật lý có thể góp phần giáo dụcKNS cho HS
2 Thực trạng của vấn đề.
Qua nhiều năm giải dạy vật lý tại trường THPT tôi thấy khả năng vậndụng kiến thức vật lý vào thực tế cuộc sống còn rất hạn chế Chẳng hạn: Sự vậndụng các kỹ năng như gặp tình huống: Đưa xe đạp vào nhà qua bậc tam cấpkhông tìm ra cách giải quyết các tình huống đó và để đưa xe vào với cách nhanh,khỏe hơn thông qua Mặt phẳng nghiêng; Chỉ một mình không di chuyển đượckhúc củi đi xa mà không nghĩ ra là dùng đòn bẩy.v.v các em thường gặp khókhăn, trả lời ấp úng và có rất nhiều tình huống khác mà các em cần được rènluyện kỹ năng đưa ra tình huống để giải quyết vấn đề nhanh và có lợi cho cuộcsống sau này Từ những vấn đề cần giải quyết thì có khả năng rèn luyện được kỹnăng tư duy sáng tạo, kỹ năng ra quyết định và một số kỹ năng khác nữa Nhưvậy, làm thế nào để giải quyết vấn đề đặt ra bức thiết đó thì bản thân tôi đã cónhững suy nghĩ về các phương pháp dạy học vật lý để có thể giúp học sinh giảiquyết hiệu qủa bài học Dù là ít nhưng từ một số bài học này học sinh có thể ứngdụng tự tìm ra cho mình kỹ năng khác thông bài học khác nữa
Ở Việt Nam giáo dục KNS đã được đưa vào các trường học, song còn hạnchế chưa thể hiện rõ, cách tổ chức còn nặng nề về cung cấp thông tin, chưa chútrọng thỏa đáng vào việc đặt người học vào những tình huống được trải nghiệm,được lựa chọn và ra quyết định để hình thành và thay đổi hành vi mang tính tíchcực…
Trong chương trình THPT, Công nghệ và Giáo dục công dân là hai môn
có nhiều tiềm năng để tích hợp KNS Tuy nhiên theo tôi với những đặc thù củamình môn Vật lý cũng có thể góp phần rèn luyện KNS cho HS bằng cách vậndụng dạy học dự án (DHDA)
3 Giải pháp và tổ chức thực hiện.
3.1 Tìm ý tưởng dự án.
Từ nội dung bài học, GV suy nghĩ về ý tưởng của DA: như các ứng dụngcủa Vật lí vào kĩ thuật và sản xuất, những vấn đề đang được thế giới quan tâm (ônhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, khủng khoảng năng lượng,…) Riêng cácnội dung lí thuyết mà chương trình buộc phải dạy theo cách truyền thống khôngthích hợp cho DHTDA
Trang 93.2 Xác định mục tiêu dự án
Sau khi hình thành ý tưởng, GV xác định mục tiêu DA, bao gồm: mục tiêu
về kiến thức, kĩ năng và thái độ, trong đó chú ý đến các hoạt động học tập với tưduy bậc cao như phân tích, tổng hợp, ĐG
Mỗi dự án học tập luôn hướng đến một mục tiêu cụ thể Để xác định đượcmục tiêu dự án, (GV) phải căn cứ vào chương trình học, sách giáo khoa, giáotrình, các mục tiêu giáo dục của địa phương cùng với phương hướng hoạt độngcủa Nhà trường, của lớp học…Từ mục tiêu học tập định ra các tiêu chuẩn họctập bao gồm tiêu chuẩn nội dung và tiêu chuẩn thực hành Trên cơ sở đó GV cóthể xác lập mục tiêu dự án
3.3.Thiết kế ý tưởng dự án
Một dự án có tính khả thi thường bắt nguồn từ một ý tưởng tốt Các hoạtđộng học tập trong PBL được thiết kế mang tính thiết thực, liên quan đến nhiềulĩnh vực kiến thức, lấy người học làm trung tâm và gắn kiến thức nhà trường vớinhững vấn đề thực tiễn của thế giới thực tại Vì vậy GV cần nhìn thấy những vấn
đề trong cuộc sống xung quanh, nhất là các vấn đề có tính thời đại
Xuất phát từ nội dung bài học, GV đưa ra một chủ đề với những gợi ý hấpdẫn, thực sự có thể lôi cuốn HS, kích thích HS hứng thú tham gia thực hiệnthông qua các hoạt động học tập như:
- Học thông qua việc phục vụ cộng đồng: Những dự án này thường gắnliền với cộng đồng địa phương và HS có thể áp dụng bài học trong lớp học vàotình huống thực tế Ví dụ, tạo những vật dụng hay đồ chơi từ các vật liệu phếthải cho các em nhỏ trong “Mái ấm tình thương”
- Mô phỏng và đóng vai: Những dự án này được thiết kế nhằm cung cấpcho HS một kinh nghiệm thực tế đầu tay HS sẽ vào vai một người khác, sốngtrong một tình huống mô phỏng tái tạo lại thời gian và không gian nhất định Môphỏng và đóng vai là cách rất hữu hiệu để phản ánh lịch sử, mang lại nhiều hiệuquả hay tạo được sự thấu cảm tốt Ví dụ, để nâng cao ý thức về “An toàn giaothông”, HS hóa thân vào một vở kịch hay xây dựng một video clip với nội dungnói về hậu quả của một tai nạn giao thông
- Xây dựng và thiết kế: Những dự án này dựa trên nhu cầu thực tế hay cóthể được tạo nên bởi chuỗi sự kiện đáng tin cậy Các dự án này đòi hỏi HS phảixây dựng được mô hình thực sự hay lập kế hoạch đề xuất giải pháp cho các vấn
đề thực tế Ví dụ, chế tạo tên lửa nước
- Hợp tác trực tuyến: Những dự án này là các nhiệm vụ giáo dục thực hiệntrực tuyến Các dự án cung cấp kinh nghiệm học tập thực tế khi hợp tác trựctuyến với các lớp khác, các chuyên gia hay cả cộng đồng
- Tra cứu web: Đây là các hoạt động yêu cầu định hướng trong đó một sốhay tất cả các thông tin mà người học sử dụng được lấy từ nguồn Internet Các
dự án này được thiết kế nhắm đến việc lĩnh hội và tích hợp kiến thức
Trang 10Dự án là một bài tập tình huống mà HS phải giải quyết bằng các kiến thứctheo nội dung bài học, đặt HS vào tình huống có vấn đề nhưng việc giải quyếtvấn đề đòi hỏi tính tự lực cao ở HS.
3.3 Xây dựng bộ câu hỏi định hướng (Bộ câu hỏi khung)
Bước quan trọng nhất của việc thiết kế DA là xây dựng bộ câu hỏi địnhhướng Nó giúp HS tập trung vào những hoạt động học tập chủ yếu Thông quanhững câu hỏi gợi ý, có tính mở, buộc HS phải tư duy về những vấn đề cần phảigiải quyết Có 3 dạng câu hỏi định hướng: câu hỏi khái quát (CHKQ), câu hỏibài học (CHBH), câu hỏi nội dung (CHND)
a Thế nào là bộ câu hỏi định hướng?
Bộ câu hỏi định hướng là một hệ thống những câu hỏi do GV đưa ra nhằmmục đích định hướng cho dạy học một nhóm kiến thức thuộc một số bài học
b Vai trò của bộ câu hỏi định hướng
Trong PBL không thể thiếu bộ câu hỏi định hướng, nó có vai trò rất quantrọng, là một trong những yếu tố quyết định chất lượng lĩnh hội kiến thức của
HS Thay cho việc thuyết trình, đọc, chép, nhồi nhét kiến thức, GV chuẩn bị bộcâu hỏi này sao cho gây được sự hứng thú ở HS, buộc HS suy nghĩ phát hiệnkiến thức, phát triển nội dung bài học, đồng thời khuyến khích HS động nãotham gia thảo luận xoay quanh những ý tưởng, nội dung trọng tâm của bài họctheo một trật tự lôgic
Bộ câu hỏi định hướng còn nhằm định hướng, dẫn dắt cho HS từng bướcphát hiện ra bản chất sự vật, quy luật của hiện tượng, kích thích tính tích cực tìmtòi, sự ham hiểu biết, qua đó HS có được niềm vui, hứng thú của người khámphá và tự tin khi thấy trong phần nhận xét của thầy cô có phần đóng góp ý kiếncủa mình Kết quả, HS lĩnh hội được kiến thức mới, biết cách đi đến kiến thứcmới, qua đó tư duy được phát triển hơn
c Cấu trúc bộ câu hỏi định hướng: Bộ câu hỏi định hướng bao gồm câu
hỏi khái quát, Câu hỏi BH và Câu hỏi ND
* Câu hỏi khái quát: Câu hỏi khái quát là câu hỏi mở, bao quát được các nhiệm
vụ học tập quan trọng, kéo dài suốt chương trình Câu hỏi khái quát có thể được
sử dụng để liên kết nhiều bài học, nhiều môn học hay nhiều chủ đề Với câu hỏikhái quát, có nhiều hơn một câu trả lời đúng duy nhất, do đó đòi hỏi HS phải tưduy bậc cao Thông thường câu hỏi khái quát phải gắn với nhu cầu có thực trongthực tế cuộc sống, sở thích của HS và gây được sự tò mò, sự hứng thú muốnkhám phá ở HS
* Câu hỏi BH: Câu hỏi BH cũng là câu hỏi mở nhưng hướng HS đi vào trọngtâm một bài học, một chủ đề cụ thể Câu hỏi BH đòi hỏi phải đủ rộng để baoquát hầu hết các chủ đề của bài học, giúp HS tự khám phá và thể hiện nhữnghiểu biết của mình quanh các vấn đề cốt lõi của dự án một cách sáng tạo, độcđáo, duy trì sự hứng thú ở HS Với Câu hỏi BH có nhiều hơn một câu trả lời
Trang 11đúng duy nhất nên cũng đòi hỏi HS phải tư duy bậc cao Câu hỏi BH hỗ trợ việcnghiên cứu câu hỏi khái quát.
* Câu hỏi ND: Câu hỏi ND là những câu hỏi cụ thể, trọng tâm, tập trung trựctiếp vào các chuẩn kiến thức và mục tiêu học tập; là câu hỏi hỗ trợ cho các câuhỏi khái quát và Câu hỏi BH Câu hỏi ND được xếp vào loại câu hỏi “đóng”, nóđòi hỏi phải có câu trả lời đúng, rõ ràng, cụ thể, không thể bác bỏ
d Yêu cầu của bộ câu hỏi định hướng
Đặt câu hỏi là kỹ năng quan trọng đối với mỗi GV với tác dụng khuyếnkhích, kích thích tư duy của HS, hướng HS tập trung vào nội dung bài học, đồngthời giúp HS ghi nhớ kiến thức và tự kiểm tra kiến thức của mình Do đó việcxây dựng bộ câu hỏi định hướng phải xuất phát từ nội dung cần học: Xác định
ai, lĩnh vực nào ứng dụng kiến thức cần học, đối tượng nào cần được chọn ưutiên; HS có thể thực hiện vai trò gì trong dự án liên quan chặt chẽ với nội dungcần học Yêu cầu của việc đặt câu hỏi là phải thích hợp, có sức lôi cuốn sẽkhuyến khích HS suy nghĩ sâu hơn, tạo nên một ngữ cảnh hiệu quả đối với việchọc Khi HS thật sự bị lôi cuốn vào việc tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi, đó
là lúc các em cảm thấy thích thú với việc học Khi câu hỏi giúp HS nhận ra đượcmối liên hệ giữa môn học với đời sống bản thân, đó cũng là lúc việc học sẽ trởnên có ý nghĩa Những câu hỏi hay có thể giúp HS trở thành những người cóđộng cơ học tập, có khả năng tự định hướng hoạt động học tập và cao hơn nữa làkhả năng tự học suốt đời
e Kỹ thuật xây dựng bộ câu hỏi định hướng
Hãy bắt đầu xây dựng bộ câu hỏi định hướng xuất phát từ nội dung vàmục tiêu cần đạt đến Đừng lo ngại về cách thức và ngôn ngữ, cần chú trọng vào
tư duy tập thể Suy nghĩ về các câu hỏi HS sẽ hỏi khi bạn triển khai dự án và chútrọng vào việc làm sao để lôi cuốn HS Hãy tìm xem điều gì có thể làm cho HSghi nhớ sâu và lâu nội dung bài học Bạn có thể viết câu hỏi như một mệnh đềtrước, sau đó phát triển nó thành câu hỏi; nếu cần, trước hết hãy viết câu hỏibằng ngôn ngữ “người lớn” để diễn đạt được nội dung chính, sau đó viết lạibằng ngôn ngữ “học trò” Đảm bảo rằng câu hỏi khái quát và Câu hỏi BH cónhiều hơn một câu trả lời hiển nhiên “đúng” nhằm phát triển kỹ năng tư duymức cao
Bộ câu hỏi khung chương trình được thiết kế lồng ghép vào nhau, câu hỏi
ND hỗ trợ câu hỏi BH và câu hỏi khái quát
Tôi xin giớ thiệu bộ câu hỏi định hướng dự án về chủ đề sử dụng điện năng (xem phần phụ lục 1).
3.4 Lập kế hoạch thực hiện dự án.
Để dạy tốt và đảm bảo HS tham gia tích cực vào quá trình học, GV cầnlên kế hoạch và chuẩn bị bài chu đáo Để thành công, GV cần phác họa các dự
án cụ thể, có thể thực hiện được dựa vào mục tiêu dạy học của chương trình Về
cơ bản, khâu lập kế hoạch dự án bao gồm các bước sau:
Trang 12Bước 1 Xác định mục tiêu học tập cụ thể bằng cách sử dụng các chuẩnnội
dung và những kỹ năng tư duy bậc cao mong muốn đạt được
Bước 2 Xây dựng bộ câu hỏi định hướng
Bước 3 Lập kế hoạch đánh giá dự án
Bước 4 Thiết kế các hoạt động
3.5 Kế hoạch của GV và HS
Để tổ chức DHTDA tốt và đảm bảo học sinh tham gia tích cực vào quá
trình học, GV cần lên kế hoạch, trong đó mục đích của dự án phải bám sát mụctiêu dạy học Việc xây dựng kế hoạch của GV là công việc rất quan trọng, ảnhhưởng đầu tiên đến kết quả của bài học
Khi lập kế hoạch, HS phải lưu ý đến các yêu cầu sau: xác định mục tiêu,thời gian, dự tính các vấn đề về tài chính, cơ sở vật chất, kĩ thuật, các chuyên gia
tư vấn, các đơn vị phối hợp,… Ở đây cũng cần phân biệt kế hoạch của GV và kếhoạch của HS: kế họạch DHTDA của GV là kế hoạch dạy học, còn kế hoạch của
HS là kế hoạch thực hiện dự án học tập
3.5 Làm việc theo nhóm.
Đây là hoạt động đặc trưng của PBL Các HS được chia thành nhiềunhóm học tập và thực hiện dự án theo kế hoạch chung
a Vai trò của làm việc theo nhóm trong PBL
Làm việc theo nhóm có tác dụng tích cực trong việc nâng cao chất lượnghọc tập và rèn luyện các kỹ năng “mềm” của Thế kỷ XXI cho HS Trong quátrình thực hiện dự án, hoạt động nhóm thể hiện được:
Thứ nhất, sự hợp tác làm việc, biết chia sẻ, giúp đỡ và tôn trọng lẫn nhaucủa
tất cả các thành viên trong nhóm Tuy nhiên trong quá trình làm việc cùng nhau,không tránh khỏi sự tranh luận nhưng sự tranh luận lại là một hoạt động rất hữuích, vì qua đó mỗi HS mới tìm được cái đúng, cái sai và nguyên nhân dẫn đếnnhững quan niệm khác nhau đó Nhờ vậy, HS sẽ nắm vững kiến thức, vừa cóđược kỹ năng xây dựng kiến thức Kết quả học tập của nhóm được tạo ra khi có
sự thống nhất, sự kết hợp tất cả kết quả của các thành viên
Thứ hai, mỗi thành viên đều được phân công thực hiện một phần của côngviệc và tích cực làm việc để đóng góp vào kết quả chung Qua đó thể hiện tínhtrách nhiệm của mỗi thành viên
Thứ ba, tất cả các thành viên trong nhóm đều có cơ hội để rèn luyện các
kỹ năng như: giao tiếp, hợp tác, lắng nghe tích cực, đặt câu hỏi, đưa thông tinphản hồi tích cực, thuyết phục, ra quyết định…
Thứ tư, rèn luyện cho HS kỹ năng đánh giá: các nhóm HS thường xuyên
rà soát công việc đang làm “Chúng ta cần làm gì?” và “Kết quả ra sao?” HS có
Trang 13thể đưa ra ý kiến nhận định đúng hoặc sai, tốt hoặc chưa tốt để góp phần hoànthiện các nhiệm vụ được giao và kết quả chung của nhóm.
b Đặc điểm của làm việc theo nhóm trong PBL: Trong PBL, lớp học thườngđược chia thành nhiều nhóm, mỗi nhóm từ 4 đến 8 HS Việc chia nhóm thườngxuất phát từ mục tiêu, nội dung bài học nhưng phải đảm bảo tính đồng đều vềtrình độ nhận thức và tính năng động trong các hoạt động Tuy nhiên cũng có thểchia nhóm theo sở trường của HS Sau khi phân nhóm, mỗi nhóm bầu nhómtrưởng, thư ký Nhóm trưởng có nhiệm vụ giao cho mỗi thành viên một nhiệm
vụ riêng biệt trong gói nhiệm vụ chung hoặc tất cả các thành viên đều thực hiệncùng một nhiệm vụ và quản lý được tiến độ thực hiện dự án Nhóm trưởng phảibiết điều khiển hoạt động của nhóm, chia sẻ kinh nghiệm cho nhau; thảo luận,thống nhất kết quả chung của nhóm Còn thư ký có nhiệm vụ ghi nhận lại việcphân công của nhóm trưởng, các hoạt động của nhóm, kết quả của từng thànhviên, của nhóm Để trình bày kết quả trước lớp, mỗi nhóm cử một đại diện hoặccác thành viên có thể phối hợp cùng nhau trình bày Kết quả làm việc của mỗinhóm sẽ góp phần vào kết quả học tập chung của cả lớp Trong quá trình làmviệc theo nhóm, sẽ nảy sinh nhiều ý tưởng hay giúp cho sự thành công của dự
án Đây chính là ưu điểm của làm việc nhóm
Ngoài ra, để các nhóm dễ dàng làm việc, trao đổi với nhau thì bàn ghế,chỗ ngồi phải được sắp xếp sao cho phù hợp: các HS trong cùng một nhóm đượcngồi đối diện nhau
c Định hướng của GV trong hoạt động nhóm của HS
HS có thực hiện thành công dự án và tạo ra sản phẩm có chất lượng haykhông còn phụ thuộc vào vai trò của GV trong việc định hướng hoạt động nhómcủa HS Từng HS cần phải nắm rõ những việc cần và sẽ làm cho dự án Muốnthế, GV cần hướng dẫn mạch lạc công việc của từng thành viên trong nhóm vàcác tiêu chí để đánh giá dự án Công việc của nhóm là giải nghĩa các hướng dẫn
đó và thống nhất cách giải quyết vấn đề
Trong quá trình các nhóm hoạt động, GV cần quan sát và theo dõi hoạtđộng của từng cá nhân, từng nhóm để kịp thời phát hiện những sai lầm, bế tắc,thấy được những vướng mắc của HS để từ đó, GV có thể góp ý, định hướnghoặc đưa ra những chỉ dẫn cụ thể giúp HS vượt qua những khó khăn, thử thách,dẫn dắt HS đi đúng hướng mà dự án yêu cầu để hoàn thành tốt sản phẩm củamình
d Đánh giá hoạt động nhóm: Song song với việc đề ra nhiệm vụ cụ thể cho từngthành viên trong nhóm thì việc GV đưa ra tiêu chí đánh giá ngay từ đầu dự áncũng giúp HS định hướng công việc của mình Việc đánh giá cần cụ thể hóa chotừng mặt hoạt động, không chỉ đánh giá kết quả hoạt động nhóm mà còn đánhgiá thành quả của từng cá nhân HS Qua đó, từng cá nhân HS thấy rõ vai trò củamình vào việc đóng góp vào thành quả hoạt động chung của cả nhóm
e Sản phẩm của HS: HS hoàn tất dự án thông qua sản phẩm Những sản phẩmcủa dự án giúp HS thể hiện năng lực của bản thân mình, khả năng diễn đạt và
Trang 14làm chủ quá trình học tập, đồng thời giúp HS áp dụng những điều đã học vàothực tế cuộc sống.
3.6 Tài liệu hỗ trợ giáo viên và học sinh
Trước khi thực hiện DA và cả trong quá trình thực hiện DA, GV cần chuẩn
bị những tài liệu hỗ trợ HS sau: nội dung bài học, các nguồn tài liệu tham khảo,mẫu phiếu phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm, phiếu ĐG, sổtheo dõi DA, đồng thời cũng cần chuẩn bị trước cho chính GV những tài liệucần thiết để hỗ trợ HS thực hiện DA
3.7 Chuẩn bị các điều kiện thực hiện DA.
GV chọn đối tượng HS thực hiện DA, kế hoạch tổ chức dạy học, giớithiệu về DHTDA, hướng dẫn các kĩ năng cần thiết và thông báo kế hoạch họctập cho HS biết, chuẩn bị cơ sở vật chất như: phòng thí nghiệm, phòng máy tính,máy chiếu đa năng, HS cần chuẩn bị: các tài liệu hỗ trợ học theo DA, giấy bút,máy vi tính, máy ảnh, kinh phí, địa điểm, mời các chuyên gia, GV và phụ huynhHS, tham dự
3.8 Vai trò của giáo viên và học sinh trong DHTDA.
Vai trò của học sinh:
HS tham gia tích cực, chủ động vào quá trình học tập, qua đó phát huy đượckhả năng tư duy sáng tạo và khả năng GQVĐ: HS đóng vai như mọi ngườitrong các ngành nghề và hoàn thành vai trò đó dựa vào kiến thức, kỹ năng nhấtđịnh (HS chủ động tiếp thu kiến thức); HS được giao nhiệm vụ cụ thể, có thật,hoàn thành nhiệm vụ bằng những kiến thức sát chương trình học và liên môn,bằng những kĩ năng sống của người lớn, qua đó được rèn luyện kĩ năng sống;
HS được tự ra quyết định, GQVĐ và tham gia hoạt động; HS phải hoàn thànhmột SP cụ thể: như bài trình diễn, trang web, mô hình vật chất,
Vai trò của giáo viên:
Trong DHTDA, GV không phải dạy bài học mà tạo ra và gắn vai trò của HSvới nội dung bài học; hướng dẫn, tư vấn cho HS; hỗ trợ HS bằng các SP mẫu, tàiliệu, nguồn thông tin, sổ theo dõi DA, phiếu ĐG,
3.9 Bản chất, mục tiêu và đặc điểm của PBL.
3.8.1 Bản chất của PBL
HS lĩnh hội kiến thức và rèn luyện các kỹ năng tư duy bậc cao thông quaquá trình tự giải quyết một bài tập tình huống gắn liền với thực tiễn cuộc sống,dưới sự hướng dẫn của GV Kết thúc dự án sẽ cho ra một sản phẩm cụ thể
3.8.2 Mục tiêu của PBL
Trang 15a Về kiến thức: Gắn kết nội dung bài học với thực tiễn đời sống mà HS quantâm
b Về kĩ năng:
- Rèn luyện cho HS các kỹ năng tư duy bậc cao (phân tích, tổng hợp, đánhgiá…) trong việc thu thập thông tin, tư liệu để phát hiện, xử lý và giải quyết vấnđề
- Rèn luyện các kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng sống
- Nâng cao kỹ năng sử dụng CNTT vào quá trình học tập và tạo ra sản phẩm
c Về thái độ, tình cảm
- Giúp HS yêu thích môn học hơn
- Nhìn thấy được giá trị của lao động thông qua hoạt động nhóm
- Không ngừng nỗ lực học tập
- Tinh thần trách nhiệm, ý thức cộng đồng, ý thức dân tộc sẽ sâu sắc hơn khi HS
tự mình tham gia giải quyết những vấn đề mà địa phương đang đối mặt, dùnhững giải pháp đưa ra còn chưa thật sự hoàn chỉnh
3.8.3 Đặc điểm của PBL
Trong các tài liệu viết về PBL, có rất nhiều đặc điểm được đưa ra Đầu thế
kỷ XX, các nhà sư phạm Mỹ khi xác lập cơ sở lý thuyết cho PBL đã nêu ra bađặc điểm cốt lõi của PBL đó là định hướng HS, định hướng thực tiễn và địnhhướng sản phẩm Có thể cụ thể hoá các đặc điểm của PBL như sau:
a Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống củathực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nhiệp cũng như thực tiễn đời sống Nhiệm vụ dự
án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của ngườihọc Các dự án học tập góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễnđời sống, xã hội Trong những trường hợp lý tưởng, việc thực hiện các dự án cóthể mang lại những tác động xã hội tích cực
b Định hướng hoạt động HS: Trong quá trình thực hiện dự án, có sự kết hợpgiữa nghiên cứu lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn,thực hành Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũngnhư rèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học
c Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm đượctạo ra Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết, màtrong đa số trường hợp, các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất củahoạt động thực tiễn, thực hành Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố,giới thiệu
d Định hướng ứng dụng CNTT: Trong thời đại bùng nổ CNTT, HS có nhiều cơhội để mở rộng tầm hiểu biết từ thế giới bên ngoài Thông qua CNTT, HS tìmthấy các nguồn tài nguyên để thực hiện dự án và tạo sản phẩm Qua đó, kỹ năng
sử dụng CNTT ở HS được hình thành và phát triển
Trang 16cơ sở đó HS điều chỉnh cách học để nâng cao kết quả học tập, đồng thời giúp
GV điều chỉnh cách dạy cho phù hợp
3.11 Quy trình tổ chức thực hiện PBL.
Dựa trên cấu trúc của PBL, để thuận lợi trong việc tổ chức các hoạt độngdạy học, có thể chia tiến trình dạy học theo PBL thành 3 bước được biểu diễnbằng sơ đồ sau:
3.12 So sánh phương pháp dạy học dự án với các phương pháp dạy học truyền thống
Phương pháp dạy học truyền thống Phương pháp dạy học dự án
1 Quan niệm về quá trình dạy học.
- Học là quá trình tiếp thu, lĩnh hội,
qua đó hình thành kiến thức, kĩ năng,
thái độ
- Dạy là quá trình truyền đạt, chuyển
tải nội dung đã được quy định trong
chương trình sách giáo khoa
- Học là quá trình tìm tòi, khám phá,phát hiện và xử lí thông tin, tự hìnhthành hiểu biết, năng lực và phẩm chấtthông qua hoạt động học tập, dưới sựhướng dẫn của giáo viên
- Dạy là quá trình tổ chức, điều khiểncác hoạt động nhận thức của học sinh
Bước 2: thực hiện dự án2.1 Thu thập và xử lí thông tin2.2 Tổng hợp thông tin
2.3 Xây dựng sản phẩm
Bước 1: lập kế hoạch
1.1 Lựa chọn chủ đề
1.2 Xác định mục tiêu dự án
1.3 Xây dựng kế hoạch thực hiện
Bước 3: Nghiệm thu sản phẩm
Hợp thức hóa kiến thức
3.1 Báo cáo trình bày sản phẩm
3.2 Đánh giá, rút kinh nghiệm
3.3 hợp thức hóa kiến thức
Trang 17- Gv truyền thụ kiến thức.
- Gv là trung tâm
- Quan tâm đến chuẩn kiến thức cần
đạt trong quá trình dạy học
- Học tập bằng hoạt động nhận thứccủa người học
- HS là trung tâm, giáo viên tổ chức vàđiều khiển các hoạt động
- Quan tâm đến quá trình học như thếnào, khai thác động lực của học tập,gắn việc học với nhu cầu, lợi ích cánhân người học
3 Vai trò của giáo viên.
- Chủ đạo, người truyền thụ
- Hướng dẫn học sinh suy nghĩ
- Nắm giữ và truyền thụ tri thức, chứng
minh chân lí của kiến thức trong sgk
4 vai trò của học sinh.
- Thụ động, theo dõi, ghi nhớ kiến
- Chú trọng hình thành năng lực nhậnthức, năng lực hoạt động, năng lực tựhọc và các kĩ năng mềm như kĩ nănggiải quyết vấn đề
- Tôn trọng lợi ích, nhu cầu, năng lựccủa học sinh
6 Nội dung dạy học.
- Chú trọng cung cấp tri thức, kĩ năng,
kĩ xảo
- Nhiều kiến thức đã học ít được dùng
đến trong cuộc sống hằng ngày
- Không chỉ quan tâm đến kiến thức líthuyết mà còn chú trọng đến các kĩnăng thực hành, vận dụng kiến thức,năng lực phát hiện và giải quyết cácvấn dênd của thực tiễn
- Gắn vốn hiểu biết, kinh nghiệm vànhu cầu của học sinh với tình huốngthực tế, bối cảnh và môi trường địaphương, những vaán đề HS quan tâm
7 Phương pháp dạy học.
- Các phương pháp dạy học chủ yếu
theo lối truyền thụ một chiều, áp đặt
- Các phương pháp dạy theo hướngtích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo