1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ứng xử bạo lực với bạn bè ở học sinh PTTH hà nội thực trạng và các giải pháp can thiệp tại trường học

93 113 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 4,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Trên cơ sở thực tiễn và các kinh nghiệm cũng như điếm hổng trong các nghiên cứu về bạo lực tại Việt Nam và thế giới nêu trên, nghiên cứu này hướng tới ba mục tiêu ngh

Trang 2

PHẦN I THÔNG TIN CHƯNG

1.1 Tên đề tài: ủ n g xử bạo lực với bạn bè ở học sinh PTTH Hà Nội: thực

trạng và các giải pháp can thiệp tại trường học

1.2 Mã số: QG 14.39

1.3 Danh sách chủ trì, thành viên tham gia thực hiện đề tài

TT Chức danh, học vị, họ và

1 TS Nguyên Thị Như Trang Khoa XHH,

1.4 Đon vị chủ trì: ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn

1.5 Thòi gian thục hiện:

1.5.1 Theo họp đồng: từ tháng 5 năm 2014 đến tháng 5 năm 2016

1.5.2 Gia hạn (nếu có): đến tháng năm

1.5.3 Thực hiện thực tế: từ tháng năm đến tháng năm

1.6 Những thay đối so vói thuyết minh ban đầu (nếu có): Không

1.7 Tống kinh phí được phê duyệt của đề tài: 100 triệu đồng.

Trang 3

PHẦN II TỎNG QUAN K É T QUẢ NGHIÊN c ứ u

1 Đặt vấn đề

Trong nhũng năm gần đây, bạo lực học đường trở thành một chủ đề nóng trên các phương tiện truyền thông đại chúng ở Việt Nam, với hàng loạt tin tức vê các vụ xô xát theo nhóm, các vụ xô xát có sử dụng vũ khí giữa học sinh với nhau, dẫn tới các thương tích vĩnh viễn hoặc thậm chí cái chết Mối quan ngại về bạo lực học đường, do đó, trở nên mạnh mẽ hon bao giờ hết trong giới người lớn Tại sao học sinh lại có thể đối xử với nhau một cách bạo lực như vậy chỉ vì những mâu thuẫn rất nhỏ? Vì sao học sinh có thể bình thản chúng kiến bạn mình bị đánh đập và xúc phạm ngay trước mắt mình, và thậm chí đùa cợt về chuyện đó? Phải chăng bạo lực đã trở nên quá phô biên, tới mức một số học sinh đã coi nó như một dạng hành vi bình thường?

Rât tiếc, các nghiên cứu về bạo lực hiện nay tuy đã được tiến hành khá nhiêu, nhưng lại rât ít chú ý tới suy nghĩ và cảm xúc của người trong cuộc: học sinh nhìn nhận về bạo lực thế nào, bạo lực có ý nghĩa gì với các em, điêu gì khiên các em sử dụng bạo lực mà không sử dụng các biện pháp giải quyêt xung đột khác? Các nghiên cứu cũng ít hướng tới việc kiểm định lý thuyêt trong đê có thế lý giải hành vi bạo lực của học sinh Chính vì vậy, mặc dù đã có rất nhiều các hội thảo, nói chuyện chuyên đề, và cả một sổ nghiên cứu về đề tài này, nhưng nguyên nhân sâu xa của bạo lực học đường vẫn là một câu hỏi bỏ ngỏ Những người dân quan tâm tới vấn đề này thì đổ lỗi cho nhà trường; nhà trường quy trách nhiệm về gia đình, và gia đình thì

đô lỗi cho xã hội.

Và trong khi thế giới người lớn vẫn đang không ngừng lên án hành vi bạo lực của học sinh và quy trách nhiệm lẫn nhau về vấn đề này, các video clip

về học sinh đánh nhau vẫn tiếp tục xuất hiện đều đặn, kể cả cho tới thời

3

Trang 4

điêm hiện tại là năm 2 0 1 5 - 5 năm kể từ ngày xuất hiện video clip về vụ xô xát giữa nữ sinh Trân Nhân Tông khởi đầu cho luồng dư luận xã hội mạnh

mẽ về vấn đề này.

Tuy nhiên, bạo lực học đường - thông qua nhiều nghiên cứu một cách hệ thông và trên một diện rộng, dường như không phải một vấn đề quá nghiêm trọng như dư luận thường nghĩ Và mặc dù trường học đôi lúc là địa điểm nơi diên ra một sô những vụ tấn công nghiêm trọng dẫn tới nhiều người bị chêt hoặc bị thương, nhưng các nghiên cứu từ nhiều nước như Mỹ, Hà Lan, hay Anh, cho thấy đa số các hành vi vi phạm luật lệ ở trường học là phi bạo lực, và băt nạt học là dạng hành vi có tính bạo lực pho biến nhất trong môi trường học đường (Olweus 1993, Thompkins 2000, Swearer và Doll 2001, Espelage và Asidao 2001; Dinkes và các đồng sự 2006) Có thể nói, nhiều nghiên cứu đã băt đâu băng mối quan tâm về bạo lực học đường, và sau đó phát hiện ra rằng, bạo lực học đường thực chất không nghiêm trọng như chúng ta vẫn tưởng Và thực tế là bạo lực học đường đang có xu hướng, từ

từ nhưng khá ổn định, giảm dần.(Brener và các đồng sự 1999, Thompkins

2000, Dinkes và các đồng sự 2006) Vậy tại sao dư luận lại lo lắng đến như vậy về bạo lực học đường? Thotnpkins (2000) gọi hiện tượng này là ‘văn hóa của nỗi sợ’, và cho rằng không phải chính sự nghiêm trọng thực tế của nạn bạo lực học đường khiên người ta nghĩ rằng bạo lực học đường là vấn

đề nghiêm trọng, mà là do quá trình truyền thông với mật độ dầy đặc về một sô vụ việc bạo lực nghiêm trọng xảy ra trong trường học đã kích thích

dư luận và thúc đây nỗi lo lắng của công chúng về vấn đề này.

Trong bối cảnh ấy, trở lại với vấn đề bạo lực học đường ở Việt Nam, một câu hỏi mà chúng ta rất nên quan tâm, đó là liệu những lo lắng của công chúng về bạo lực học đường trong thời gian qua có đi theo con đường trên? Trong một thời gian dài, báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng khác đã khăc họa bạo lực học đường như một vấn đề phổ biến và nghiêm trọng, đe dọa tới sự an toàn của học sinh trong trường học, và là dấu hiệu

4

Trang 5

của sự suy thoái đạo đức ở một bộ phận không nhỏ giới trẻ hiện nay Liệu bức tranh này có thực sự phản ánh vân đê bạo lực giữa học sinh với học sinh trong trường học Việt Nam hay không, hay cuối cùng, đây cũng chỉ lại

là vấn đê ‘văn hóa của nồi sợ’, tạo nên bởi một số rời rạc các vụ bạo lực được truyền thống nhấn mạnh và khuếch tán, như Thompkins (2000) đã chỉ

Trả lời cho câu hỏi này có ý nghĩa rât quan trọng Nêu bạo lực trường học

ở Việt nam không quá nghiêm trọng như nhũng gì mà truyền thông đại chúng đang khăc họa, thì các vị phụ huynh và các cơ quan hữu quan không

cân quả /o lăng và cũng không cân có những biện pháp quá rôt ráo đê bảo

vệ con em mình cũng như đê nâng cao sự an toàn của môi trường học đường Nhưng nêu ngược lại, bạo lực trường học thực sự nghiêm trọng, chúng ta rât cân nghiên cún thiết kế và triến khai các chương trình can thiệp, càng sớm càng tôt, nhăm giảm thiêu sự lây lan và leo thaníỊ của bạo lực học đường.

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở thực tiễn và các kinh nghiệm cũng như điếm hổng trong các nghiên cứu về bạo lực tại Việt Nam và thế giới nêu trên, nghiên cứu này hướng tới ba mục tiêu nghiên cứu như sau

- Khảo sát thực trạng sử dụng bạo lực học đường của học sinh PTTH tại Hà Nội

- Tìm hiêu các yêu tô ảnh hưởng tới việc sử dụng bạo lực của học sinh

- Đê xuất mô hình can thiệp khả thi và hiệu quả nhằm phòng ngừa và hạn chế việc sử dụng hành vi bạo lực của học sinh

Cụ thê, các mục tiêu nghiên cứu này sẽ được triến khai thành các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:

5

Trang 6

- Khảo sát thực trạng sử dụng bạo lực học đường của học sinh PTTH tại Hà Nội

o Mức độ phô biên của bạo lực học đường

o Những mẫu học sinh có khuynh hướng sử dụng bạo lực

o Các hình thức bạo lực học đường, các mâu thuẫn thường dẫn tới hành vi bạo lực, và khuynh hướng tố chức

- Tìm hiêu các yêu tô ảnh hưởng tới việc sử dụng bạo lực của học sinh

o Mối liên hệ giữa kiếm soát gia đình và khuynh hướng sử dụng bạo lực của học sinh

o Mối liên hệ giữa kiếm soát học đường và khuynh hướng sử dụng bạo lực của học sinh

- Đe xuất mô hình can thiệp khả thi và hiệu quả nhằm phòng ngừa và hạn chế việc sử dụng hành vi bạo lực của học sinh

o Phân tích các biện pháp mà nhà trường đã và đang triền khai: thế mạnh và điểm yếu

o Đê xuât các hướng giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kỷ luật học đường và hiệu quả của các biện pháp nhà trường đang triên khai, đông thời đề xuất một sô mô hình can thiệp hiệu quả tại trường học với vấn đề bạo lực học đường

o Tham khảo bài học kinh nghiệm của một số quốc gia khác trong việc phòng chổng tội phạm vị thành niên, trong đó đặc biệt nhấn mạnh tới các giải pháp phi hình sự như việc sử dụng Công tác Xã hội trong hệ thống tư pháp người chưa thành niên

vi phạm pháp luật

3 Phương pháp nghiên cứu

Đe tài sử dụng cách tiếp cận liên nghành, cụ thế là giữa xã hội học và công tác xã hội Đe tài ứng dụng cách tiếp cận xã hội học đế đánh giá thực trạng

6

Trang 7

vấn đê sử dụng bạo lực của học sinh PTTH tại Hà Nội và tìm hiếu các nguôn gôc xã hội của hành vi bạo lực Cái đích cuôi cùng đê tài hướng tới

là ứng dụng các thông tin thu được đe xây dựng mô hình và đề xuất giải pháp công tác xã hội trong trường học nhăm phòng ngừa và ngăn chặn hiện tượng sử dụng bạo lực của học sinh.

về phương pháp luận, đề tài ứng dụng cách tiếp cận hỗn hợp: kết họp giữa các phương pháp định tính và định lượng Neu như các phương pháp nghiên cứu định lượng được đánh giá cao vì độ tin cậy và hiệu lực của thông tin thu được, thì các phương pháp nghiên cứu định tính có thế mạnh trong việc khai thác chiều sâu ý nghĩa của vân đê Đe tài này ứng dụng kêt hợp dạng phương pháp này nhăm xây dựng một bức tranh tống quát về vấn

đề sử dụng bạo lực trong môi trường học đường, đồng thời tìm hiếu ý nghĩa của bạo lực đối với các bên liên quan (người sử dụng bạo lực, nạn nhân bạo lực, những người chứng kiến bạo lực, nhà trường, và gia đình của học sinh),

đế từ đó có thế xây dựng những giải pháp khả thi và hiệu quả trong việc phòng ngừa và ngăn chặn bạo lực học đường.

Phương ph áp nghiên cứu, kỹ thuật s ử dụng:

Phân tích tải liêu thử cấp

- Phân tích các yếu tố chính sách có tác động điều chỉnh vấn đề bạo lực học đường, như chính sách giáo dục, nội quy trường học, quy trình và các cấp bậc kỷ luật với hành vi sai phạm của học sinh trong trường học.

- Phân tích các nghiên cứu trước đó về bạo lực học đường tại các nước khác.

Phân tích các nghiên cứu đánh giá về các mô hình can thiệp đối với bạo lực học đường nhằm rút ra các gợi ý cho giải pháp can thiệp đối với bạo lực học đường tại Hà Nội.

7

Trang 8

Điều tra bảng hỏi:

- Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu có tính mục đích đối với trường nhăm đảm bảo tính đa dạng theo mục đích phân tích của dạng trường học; chọn mẫu ngẫu nhiên xác suất với các học sinh trong mỗi trường nhăm đảm bảo tính đại diện của mẫu học sinh tại mỗi trưcmg.

- Kích thước mẫu: 367 người phân theo từng nhóm đối tượng cụ thể.

- Cách chọn mẫu: Ngẫu nhiên thuận tiện tại hai trường PTTH tại Hà Nội, trong đó một trường thuộc khu vực nội thành (PTTH A), và một truường thuộc khu vực ngoại thành (PTTH B) Theo yêu cầu của Ban giám hiệu hai trường và đê đảm bảo tính khuyết danh cho khách thế khảo sát, tên trường được mã hóa lần lượt là PTTH A và PTTH B.

- Cơ cấu mẫu thu được:

Phỏng vân được tiến hành khá sớm trong tiến trình khảo sát, và các thông tin từ phỏng vấn sâu được sử dụng để xây dựng bảng hỏi Tuy nhiên, sau khi kêt thúc điều tra bảng hỏi, một số phỏng vấn sâu tiếp tục được triển khai nhằm bổ sung thêm các thông tin cần thiết cho việc giải thích và mô tả kỹ hơn các thông tin định lượng thu được từ bảng hỏi.

8

Trang 9

Tông cộng, nghiên cứu đã phỏng vấn 24 trường họp, trong đó bao gồm 16 học sinh (6 học sinh đã từng tham gia xô xát bạo lực, 4 học sinh là người chứng kiến, 6 học sinh tùng là nạn nhân của bạo lực học đường), và 4 giáo viên, 1 giám thị, 1 dân phòng phụ trách giám sát khu vực trường học; và 2 phụ huynh học sinh.

Trung bình, mỗi cuộc phỏng vấn sâu kéo dài 90-120 phút Đa số nội dung phỏng vấn được ghi âm dưới sự cho phép của người cung cấp thông tin Tuy nhiên, với một số trường hợp mà nhà nghiên cứu cảm thấy người cung cấp thông tin không thoải mái với máy ghi ấm, người nghiên cứu tự nguyện

bỏ máy ghi âm và chỉ ghi chép băng tay.

4 Tổng kết kết quả nghiên cứu

Nội dung đề tài được chia thành 5 chương Chương I cung cấp bức tranh chung vê đê tài, bao gôm lý do thực hiện đê tài, tông quan vân đê nghiên cứu trong và ngoài nước, mục tiêu và nhiệm vụ của nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và pliưưng pháp nghiên cứu.

Chương II trình bây về cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài, bao gôm lý thuyết Kiếm soát Xã hội của Travis Hirschi (1969) - lý thuyết nền tảng cho việc thiêt kê nghiên cứu và đánh giá yếu tô tác động tới hành vi bạo lực của học sinh Chương này cũng bàn về cách thao tác hóa hai khái niệm chủ chốt

là bạo lực học đường và kiêm soát xã hội và cách đo lường hai khái niệm này Bên cạnh đó, chương II cũng giới thiệu sơ lược về địa bàn nghiên cứu, cung câp cho người đọc hiêu bối cảnh thực tiễn của các sô liệu mà đê tài thu được.

Chương III tập trung mô tả thực trạng bạo lực học đường tại địa bàn nghiên cứu Qua khảo sát người chứng kiến bạo lực và người sử dụng bạo lực, dữ liệu điều tra cho thấy bạo lực học đường đang diễn ra khá phố biến ở hai trưòng tham gia khảo sát Đáng lưu ý là, tỷ lệ học sinh tham gia xô xát

Trang 10

nhóm rât cao, cao hơn tỷ lệ xô xát một đánh một như đa sô các xô xát giữa học sinh câp PTTH ở các quốc gia khác Có thê nói, đây là một điêm khác biệt đáng lưu ý của bạo lực học đường ở Việt Nam.

Cũng tương tự các nghiên cứu đi trước, mẫu hành vi bạo lực ngôn ngữ là phố biển nhất, với tỷ lệ diễn ra gần như gấp đôi các mẫu hành vi bạo lực khác như cố tình phá hỏng vật dụng của đối phương, tấn công không sử dụng vũ khí Tấn công có sử dụng vũ khí có tỷ ỉệ xuất hiện thấp nhất trong các cuộc xô xát giữa học sinh với nhau tại địa bàn nghiên cứu, nhưng khi so sánh với dữ liệu bạo lực học đường ở các nước khác, thì tỷ lệ này lại đặc biệt cao Hành vi bạo lực diễn ra nhiêu nhât ở nhóm nam, nhóm học lực yêu hơn, và tuối càng nhỏ thì xu hướng bạo lực càng cao Ngược với giả thuyết ban đầu, không có khác biệt nào giữa trường công lập và trường bán công trong mức độ phố biến của hành vi bạo lực học đường Tuy nhiên, nghiên cứu lại phát hiện một số khác biệt về giới rất đáng chú ý trong cách thức sử dụng bạo lực giữa nhóm nam và nhóm nữ.

Chương IV phân tích tác động của các vấn đề liên quan tới kiếm soát xã hội và liên kết khác biệt tới khuynh hướng sử dụng bạo lực của học sinh Ket quả nghiên cứu cho thấy, sự gắn kết với gia đình, như dự báo từ thuyết kiếm soát xã hội của Travis Hirschi (1969), có mối liên hệ nghịch với khuynh hướng sử dụng bạo lực của học sinh Cụ thế, học sinh càng găn bó với cha mẹ, các em càng ít có khuynh hướng sử dụng bạo lực và ngược lại Tương tự như vậy, kết quả nghiên cứu cho thấy học sinh càng có độ phơi nhiễm cao đối với các hành vi bạo lực học đường, the hiện qua hai yếu tố là chứng kiên hành vi bạo lực học đường và có liên hệ với các bạn có xu hướng bạo lực, thì các em càng có xu hướng dễ sử dụng bạo lực trong việc giải quyết các mâu thuẫn bạn bè trong trường học.

Tuy nhiên, dữ liệu cũng đồng thời cho thấy tỷ lệ cha mẹ nam được hành

vi của con cái, đặc biệt với các em có khuynh hướng sử dụng bạo lực, lại

10

Trang 11

khá thấp, cho thấy thực tiễn kiểm soát yếu của gia đình đối với hành vi bạo lực của học sinh, và cũng giải thích vì sao bạo lực học đường có xu hướng phố biến như vậy Cũng tương tự, dữ liệu cho thấy có sự né tránh nhât định

từ phía thầy cô trong việc can thiệp và ngăn ngừa bạo lực học đường.

Chương V mô tả và phân tích thế mạnh cũng như các vấn đề còn tồn tại trong các giải pháp mà nhà trường đang thực hiện nhằm giảm thiếu bạo lực học đường Khảo sát cho thấy, mặc dù nhà trường có quan tâm và có nỗ lực đầu tư nhằm phòng tránh bạo lực học đường, thực tế các giải pháp hiện hành chưa đủ hiệu quả trong việc tiếp cận học sinh và tạo ra sự thay đối về nhận thức và hành vi của các em Dựa trên cơ sở các phân tích trên, căn cứ vào tình hình thực tiễn bạo lực học đường tại địa bàn nghiên cứu, chương V cũng đồng thời đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa bạo lực học đường đối với các giải pháp hiện hành tại địa bàn nghiên cứu,

và giới thiệu một sổ mô hình can thiệp hiệu quả trong trường học nhằm ngăn chặn và giảm thiếu vấn đề bạo lực học đưòng Đồng thời, căn cứ vào thực tế xu hướng nghiêm trọng hóa của bạo lực học đường hiện nay, dẫn tới một sô xô xát giữa học sinh đã vượt quá giới hạn hành vi lệch chuân và trở thành hành vi tội phạm, chương V cũng giới thiệu một sô giải pháp của các quốc gia khác trong việc xét xử và ngăn ngừa tội phạm vị thành niên, và rút

ra bài học cho hệ thống tư pháp người chưa thành niên vi phạm pháp luật tại Việt Nam.

5 Đánh giá về các kết quả đã đạt được và kết luận

Nghiên cứu đã hoàn thành các mục tiêu và nhiệm vụ đề ra trong đề cương nghiên cứu Với sự mở rộng mẫu nghiên cứu so với đề xuất ban đầu, nghiên cứu có cơ hội đưa ra các phân tích về tần suất, khuynh hướng trung tâm, và

về mối lien hệ giữa các biến số có độ tin cậy cao hơn.

11

Trang 12

v ề căn bản, nghiên cứu đã đưa ra được các phát hiện thực tiên có giá trị tham khảo, hỗ trợ thông tin cho các nhà nghiên cứu, các nhân viên công tác

xã hội trong trường học, và nhà trường trong việc hiêu hơn về thực trạng bạo lực học đường hiện nay, các yếu tố tác động tới khuynh hướng sử dụng bạo lực của học sinh, đế từ đó có thế đưa ra các hướng nghiên cứu mới, và

đê xuât các giải pháp can thiệp hiệu quả hơn với vân đê này.

Trên thực tế, kết quả nghiên cứu cũng đã đem một số sản phấm cụ thê như

- v ề giảng dậy và đào tạo:

+ Nghiên cứu đã góp phân đào tạo thành công 3 Thạc sĩ ngành Công tác

Xã hội

+ Dữ liệu nghiên cứu được sử dụng đê minh họa cho bài giảng vê Công tác

Xã hội trong trường học, và Xã hội học tội phạm

+ Dữ liệu nghiên cứu đang được sử dụng đê xây dựng cuôn chuyên khảo

‘Bạo lực học đường và các giải pháp công tác xã hội’, phục vụ cho môn học Công tác Xã hội trong trường học ở bậc Cử nhân.

- về nghiên cứu khoa học

+Kêt quả nghiên cứu đã được công bố ở hai tạp chí chuyên ngành trong nước, và một tạp chí quốc tế trong hệ thống Scopus.

+ Ket quả nghiên cứu được công bố tại 4 hội thảo, bao gồm:

* Hội nghị Toàn cầu về Công tác Xã hội, Giáo dục và Phát triển Xã hội (SWSD2016);

* Hội thảo Tội phạm học của khu vực Châu Á - Thái bình dương (ACS 2015)

12

Trang 13

* Hội thảo Quốc tê ‘Công tác Xã hội Việt nam: thách thức tính chuyên nghiệp trước nhu cầu hội nhập và phát triển’ tổ chức tại Hà Nội năm 2015

* Hội thảo nsành ‘Người chưa thành niên vi phạm pháp luật: thực trạng và giải pháp' tổ chức tại Long An, 2014

- về ứng dụng thực tiễn

+ Ket quả nghiên cứu đã được sử dụng cho lớp tập huấn phòng chông bạo lực học đường dành cho các giáo viên chủ nhiệm của các trường phô thông trung học tại Hà Nội vào tháng 6 năm 2015 do Thành đoàn Hà Nội tô chức

và mời chủ trì đề tài đảm nhận công tác tập huấn.

6 Tóm tắt kết quả (tiếng Việt và tiếng Anh)

Tóm tắt tiếng Việt

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ học sinh có sử dụng bạo lực đê giải quyết mâu thuẫn bạn bè tại địa bàn nghiên cứu khá cao, đặc biệt khi so sánh với tỷ lệ học sinh tham gia bạo lực học đường trung bình tại các quốc gia khác Điều quan trọng là, tỷ lệ học sinh có sử dụng bạo lực nhiều lần trong một học kỳ khá cao, cho thấy việc sử dụng bạo lực dường như không còn phải là sự bôc đồng có tính thời điếm, mà báo động về khả năng phố cập hóa hành vi bạo lực trong giới học sinh Hơn nữa, tỷ lệ học sinh tham gia các xô xát nhóm cũng rất cao, đặc biệt có hiện tượng học sinh xô xát hộ bạn bè - đây là hiện tượng khá đặc biệt về bạo lực học đường ở Việt Nam Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng phát hiện ra các khác biệt giới trong cách thức sử dụng bạo lực của nhóm nam và nhóm nữ, và kết quả này cho thấy các chương trình phòng chống bạo lực học đường nên tính đến yếu tố giới đế có thê đảm bảo hiệu quả can thiệp.

Ket quả khảo sát cho thấy, mặc dù kiêm soát gia đình và nhà trường có vai trò tích cực trong việc hạn chế khuynh hướng bạo lực của học sinh, nhưng

13

Trang 14

trên thực tế, vai trò này đang bị vô hiệu hóa Gia đình của các em học sinh

có xu hướng bạo lực lại thường không quan tâm tới hành vi lệch chuân của con em mình; và các thầy cô, vì nhiều lý do khách quan, cũng có xu hướng

né tránh đương đầu với bạo lực học đường Trong khi đó, quan hệ bạn bè lại là yếu tổ tích cực khiển bạo lực học đường trở nên lây lan nhanh chóng trong giới học sinh.

Nghiên cứu cũng đã chỉ ra một số thế mạnh và các vấn đề tôn tại đôi với các chương trình phòng chống bạo lực tại trường học hiện nay, và đê xuât các giải pháp ở cấp trường nhằm giảm thiêu hành vi bạo lực của học sinh, đồng thời tham khảo và rút ra bài học kinh nghiệm ở cấp vĩ mô hơn là các chính sách hiệu quả trong việc phòng chống tội phạm vị thành niên ở các quốc gia khác.

Tóm tắt tiếng Anh

This study documented that school violence in Hanoi, Vietnam is not only serious but also very rampant, especially when comparing with school violence in some other countries More importantly, the rate o f students who repeatedly resorted to violence to deal with their peer conflicts is quite high, suggesting that a ‘socialization’ trend o f violent solutions among high school students in Hanoi In addition, the rate o f students participated in group fight is high, and there is a increasing trend that students might take part in a fight on behalf o f their friends, even thought they do not have any personal conflict with the students they are fight with This is a very particular attribute o f school violence in Hanoi Vietnam Besides, this research also finds some gender differences in the way female and male students resort to violence, implying that intervention programs should take into account gender aspects to ensure the its effectiveness.

14

Trang 15

Findings also show that even though family control and school control exert restraining effect on students’ tendency towards violence, but in fact, this effect is neutralized Families o f students who prefer violent solutions often

do not care much about their children’s behavior Teachers, for many reasons, tend to avoid dealing with school violence Whereas peer relationship is normally a factor increasing the learning o f violent behaviors, making school violence more and more prevalent.

This research also analyzes some strengths and also shortcomings o f the programs that schools are deploying to reduce school violence, and recommends some solutions to improve those program s’ effectiveness, as well as introduces some effective school-based intervention programs to prevent and handle violent behaviors o f students Besides, this research also introduces some valuable lessons from other law systems in treating and preventing juvenile crime.

PHẦN III SẢN PHẨM, CÔNC BÓ VÀ KÉT QUẢ ĐÀO TẠO CỦA ĐỀ TÀI

3.1 Ket quả nghiên cứu

High school student violence and

its association with students' social

bond

Hội nghị toàn câu CTXH, Giáo dục và Phát triển xã hội, SWSD 2016

15

Trang 16

School violence as a social event:

an anatomy o f violent conflict

between high school students in

Hanoi, Vietnam

Hội thảo quôc tê Tội phạm học khu vực Châu Á Thái Bình dương lần thứ 7, 2015

Sự can thiết của Công tác Xã hội

trong lĩnh vực tư pháp người chim

thành niên vi phạm pháp luật

Hội thảo quôc tê ‘Cône tác Xã hội Việt nam thách thức tính chuyên nghiệp trước nhu cầu hội nhập và phát triển’,

2015 (tr.429-434)

Ngoài vòng kiêm soát: ứng dụng

thuyết găn két xã hội trong giải

2014 (tr.201-213)

4 Công bô kêt quả trên tạp chí

chuyên ngành

Bạo lực học đường và mỏ hình can

thiệp trong trường học

Tạp chí Tâm lý học,

số 6/2016

Chính sách phi hìnlĩ sự trong công

tác phòng chổng tội phạm chưa

thành niên ở một số nước phương

Tây: bài học nào cho Việt Nam

Tạp chí Khoa học Quản lý và Giáo dục Tội phạm sô 20 năm 2016

An anatomy o f violent conflict

between high-school students in

Hanoi city, Vietnam

European Journal of Social Sciences, Vol

52, Issue 2

16

Trang 17

3.2 Hình thức, cấp độ công bố kết quả

Tình trạng

(Đã in/ châp nhận in/ đã nộp đ ơ n/ đã được châp nhận đơn hợp lệ / đã được câp giày xác nhận SH TT/ xác nhận sử dụng sản phâm)

chỉ và cảm

on sự tài trọ’ của ĐÍỈQGHN đúng quy định

Đánh giá chung

(Đạt, không đạt)

1 Công trình công bô trên tạp chí khoa học quôc tê theo hệ thông

ISI/Scopus

1.1 Nguyen Thi Nhu Trang (2016)

‘An anatomy of violent conflict

between high-school students in

Hanoi city, Vietnam’, European

Journal o f Social Sciences,

Vol 52, Issue 2 (Scopus)

5 Bài báo trên các tạp chí khoa học của ĐHQGHN, tạp chí khoa

học chuyên ngành quôc gia hoặc báo cáo khoa học đăng trong

kỷ yếu hội nghị quốc tế

5.1 Nguyên Thị Như Trang (2016) Đã được châp Có Đạt

TRUNG TẦM THÔNG TIN THƯ VIEN

nnD Anrm n 9

Trang 18

‘Bạo lực học đường và mô

hình can thiệp trong trường

số nước phương Tây: bài học

nào cho Việt N am ’, Khoa học

Quản lý và Giáo dục Tội

phạm, Số 20, tháng 7 năm

2016

Đã được châp nhận in

7 Kêt quả dự kiên được ứng dụng tại các cơ quan hoạch định

chính sách hoặc cơ sở ứng dụng KH&CN

7.1 Tập huấn phòng chống bạo

lực học đường cho các giáo

viên chủ nhiệm của các trường

PTTH tại Hà Nội

Đã triến khai thành công

7.2

G hi chú:

phâm KHCN theo thứ tự <tên tác giả, tên công trình, tên tạp chỉ/nhà xuât bản, so phát hành, năm phát hành, trang đăng công trình, mã công trình đăng tạp chí/sách chuyên khảo (DOI), loại tạp chí ISI/Scopus>

18

Trang 19

- Các ân phâm khoa học (bài bảo, báo cáo KH, sách chuyên khảo ) chỉ đươc châp nhân nêu có ghi nhận địa chỉ và cảm ơn tài trợ của ĐHQGHN theo đúng quv định.

- Bản phô tô toàn văn các ân phâm này phai đưa vào phụ lục các minh

chím g của báo cáo Riêng sách chuyên khảo cân có bản phô tô bìa, trang đâu và trang cuôi có ghi thông tin mã sô xuât bàn.

3.3 Kết quả đào tạo

TT Họ và tên

Thòi gian và kinh phí tham gia đề tài

(sô tháng/sô tiên)

Công trình công bô liên quan

(Sản phâm KHCN, luận án, luận văn)

Đã bảo vệ

Nghiên cứu sinh

Vai trò của gia đình trong

việc ngăn ngừa tội phạm

Trang 20

Số lượng

đã hoàn thành

1 Bài báo công bô trên tạp chí khoa học quôc tê theo

hệ thống ISI/Scopus

2 Sách chuyên khảo được xuât bản hoặc ký hợp đông

xuất bản

3 Đăng ký sở hữu trí tuệ

4 Bài báo quôc tê không thuộc hệ thông ISI/Scopus

5 Sô lượng bài báo trên các tạp chí khoa học của

ĐHQGHN, tạp chí khoa học chuyên ngành quốc

gia hoặc báo cáo khoa học đăng trong kỷ yếu hội

nghị quốc tế

6 Báo cáo khoa học kiến nghị, tư vân chính sách theo

đặt hàng cứa đơn vị sử dụng

7 Kêt quả dự kiên được ứng dụng tại các cơ quan

hoạch định chính sách hoặc cơ sở ứng dụng

Trang 21

(triệu đồng)

Ghi chú

2 Nguyên, nhiên vật liệu, cây con

Trang 22

P H Ả N V K I Ê N N G H Ị

Kính đề nghị ĐH Quốc gia Hà Nội xem xét đầu tư xuất bản nội dung nghiên cứu thành sách tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dậy, đặc biệt trong lĩnh vực CTXH trong trường học và Xã hội học tội phạm

PHẦN VI PHỤ LỤC (minh chứng các sản phẩm nêu ở Phan III)

Trang 23

BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG VÀ MÔ HỈNHI I •

CAN THIỆP TRONG TRƯỜNG HỌC

Bài viết sử dụng số liệu khảo sát của đề tài KHCN cấp Đại học Quốc gia: ứng xử bạo lực với bạn bè ở học sinh TH P T Hà Nội: Thực trạng và các giải pháp can thiệp tại trường h ọ c; Mã số: QG14.39; TS Nguyễn Thị Như Trang làm chủ nhiệm.

TS Nguyễn Thị Như Trang

K hoa X ã hội học, Đ ại học K hoa học Xã hội và N hân văn.

T Ó M T Ấ T

S ừ d ụ n g d ữ liệu từ điều tra bằng bủng hói đoi vớ i 584 học sinh ở 3 trường

T H P T trên địa bàn H à N ộ i và p h ỏ n g van sâu với các nhóm học sình khác nhau (người

s ử d ụ n g bạo lực, n g ư ờ i ch ứ n g kiến bạo lực và nạn nhân bạo lực), bài viết chia sẻ một vài n ét về thự c trạ n g bạo lực học đ u ờ n ẹ tại Hà N ội hiện nay: s ự p h o biến của việc sử

d ụ n g bạo lự c tro n g nhóm học sinh THPT, các khuynh h ư ớ n g nói bật trong việc sử

d ụ n g bạo lự c củ a học sinh n h ư tinh nhóm, s ự khác biệt g iớ i trong cách s ử d ụng cúc

m ẫu h à n h vi bạo lự c khác nhau Trẽn c ơ sở đó, bài viết cũ n g g iớ i thiệu m ột số mô hình ca n th iệp bạo lực h iệu quả đặt lại trường học cũng n h ư bình luận về khả năng

ứ n g d ụ n g c ù a cá c m ô hình n à y trên địa bàn Hà Nội.

Từ khóa: Bạo lực; Dạo lực học đi!’ờng\ Học sinh; Mô hình can thiệp.

N g à y n hận bài: 5 /5 /2 0 16; N gày duyệt đăng bài: 2 5 /5 /2 0 16.

1 Đ ặ t vấn dề

Bạo lực học đường không còn là hiện tượng mới Nhưng chính vì nó không còn mới nôn tính cấp thiết trong việc tìm ra hướng phỏng ngừa và ngăn chặn với vấn đề này lại càng gia tăng Giống như việc bệnh để lâu không tìm được thuốc chữa thì bệnh sỗ càng ngày càng nặng, bạo lực học đưòng nêu không tìm đưọ'c cách phòng ngừa và ngăn chặn hiệu quả, nó sẽ tiếp tục leo thang

Trước khi đi vào bàn luận một số mô hình can thiệp công tác xã hội trong trường học đối với vấn đề bạo lực học đường, bài viết trình bày một vài nét về thực trạng bạo lực học đường của học sinh các trường THPT tại địa bàn

Hà Nội hiện nay Khái niệm bạo lực học đường có thể dược hiểu rất rộng Đó

là những tấn công về mặt thể chất, ngôn ngữ hoặc xã hội của học sinh với học sinh hoặc cúa học sinh với giáo viên hoặc của giáo viên với học sinh Khái niệm

TẠP CHÍ TÂM LÝ HỌC, Số 6 (2 0 7 ), 6 - 2016

Trang 24

bạo lực học đường, trong một số nghiên cứu cũng tính đến cả những hành động

có tính phá hủy đối với cơ sờ vật chất của trường học (ví dụ như cố ý làm võ' cửa kính, phá hỏng các luống hoa vẽ viết bậy lên tư ờ ng

Với mục tiêu hướng tới tìm kiếm mô hình can thiệp đối với hành vi bạo lực của học sinh với nhau nên trong khuôn khố bài báo này, khái niệm bạo lực

học đường chỉ đề cập ở góc độ khá hẹp - các hành vi bạo lực của học sin h , với cách hiếu rằng: Bạo lực học đường là những hành vi của học sinh, bằng lời nói

hay hành động, cô ỷ gây tôn thương cho bạn học Với cách định nghĩa này,

khái niệm bạo lực học đường ở đây nhấn mạnh hai yếu tố: (1) Bạo lực là hành vi

có tính lựa chọn (có nhiều cách thức khác nhau để xử lý các mâu thuẫn bạn bè, bạo lực chỉ là một trong số các cách thức đó) và (2) Bạo lực là vấn đề liên cá nhân (nghiên cứu này loại trừ các hành vi tấn công đối với cơ sở vật chất của trường học và nhấn mạnh tác động của các mối quan hệ liên cá nhân tới sự lựa chọn hành vi bạo lực của học sinh)

Dữ liệu cho phàn viết này được rút ra từ nghiên cứu của tác giả (Nguyen Thi Nhu Trang, 2013) về bạo lực học đường tại 3 trường THPT công lập tại Hà Nội, trong đó, một trường được đánh giá là rất tốt về kỷ luật học đường cũng như thành tích học tập của học sinh (Trường A), một trường được đánh giá là trường khá về hai mặt trên (Trường B) và một trường thì có tỷ lệ học sinh vi phạm kỷ luật tương đối cao và thành tích học tập của học sinh không được tốt

(Trường C) Với cách chọn mẫu ngẫu nhiên dơn giản, ở mỗi trường nghiên cứu

lấy ra 2 lóp thuộc khối 11, 2 lớp thuộc khối 12 và phát bảng hỏi cho toàn bộ học sinh của các lớp được chọn (vì nghiên cứu này tập trung vào hành vi bạo lực cua học sinh THPT và báng hoi do lường hành vi bạo lực diên ra trong năm học trước khi khảo sát được liến hành nên nghiên cứu chỉ lấy khối 11 và 12) Với 618 phiếu phát ra, số phiếu thu về là 584 số liệu khảo sát từ 3 trường được xử lý theo các phân tích khuynh hướng trung tâm đối với một biến và phân tích tương quan bằng kiểm định Pearson (r) và Chi-Square (X2) Kết quả khảo sát từ diều tra bằng bảng hỏi cũng như phỏng vấn sâu cho thấy một số nét nổi bật dưới đây

2 Phân tích kết quả nghiên cứu

2.1 M ột sổ nét về bạo lực học đường tụi Hà N ội lĩiện nay

- Thực trạng hành vi bạo lực tại địa bàn nghiên cứu

Với cách hiổu “bạo lực là hành vi - bằng ngôn ngữ hoặc hành động - cố

ý gây tổn thương cho người khác”, bạo lực trong nghiên cứu này được thao tác hóa thành các hành vi cụ thể như sau: chửi mắng/xúc phạm bạn; đe dọa bạn, sử dụng vật có thể gây nguy hiểm về thể chất để đe dọa bạn, phá/làm hỏng vật dụng

cá nhân của bạn, đánh bạn và sử dụng vật có thể gây nguy hiểm về thể chất đê

TẠP CHÍ TÂM LÝ HỌC, Số 6 (207), 6 - 2 0 1 6

Trang 25

tấn công Với cách thao tác hóa như vậy, dữ liệu thu được cho thấy, tý lộ học sinh có sử dụng bạo lực với bạn học trong năm học trước khi khảo s á t diễn ra

là 3 1,3% Tức là, trung bình cứ 100 học sinh thì có 3 1 cm đã từng sử dụng bạo lực với bạn học

Tỷ lệ này khá khác biệt ở mỗi trường Trường A có tỷ lệ thấp nhất, chỉ khoảng 17,2% học sinh cho biết có sư dụng bạo lực với bạn học, Trường B có khoảng gần 21,7% học sinh, trong khi dó, Trường c có tỷ lệ học sinh sử dụng bạo lực lên tới 61,1 %

Biêu dò 1: Tỷ lệ học sinh có sử dụng hành vi bạo lực tại địa bàn nghiên cứu

Vậy, với 31,3% là tỷ lệ trung bình cho cả ba trường thì được gọi là cao hay thấp? Chúng ta chỉ có thổ đánh giá các con số này là cao hay thấp khi đặt trong sự so sánh với tỷ lệ bạo lực học đường ở các quốc gia khác

Một trong những lý do căn bản khiến nghiên cứu này cho rằng, bạo lực học đường ở Hà Nội dang diễn ra khá phổ biến là vì tỷ lệ học sinh sử dụng bạo lực tại các trường thuộc địa bàn nghiên cứu là rất cao so với dữ liệu tương ứng

ở các quốc gia khác Ví dụ, ở Mỹ - một quốc gia đã từng rất lo lắng về nạn bạo lực học dường (những năm 1990, Mỹ đã từng ban hành luật “Trường học Không súng” và chính sách Không khoan nhượng để đối phó với nạn bạo lực học đường) thì tỷ lệ học sinh sử dụng bạo lực học đường cũng thấp hơn khá nhiều so với

dữ liệu trên

Trong khảo sát từ nguồn của Dinkes và đồng sự (2006), khái niệm bạo lực tương đối rộng hơn khái niệm bạo lực trong nghiên cứu này, bao gôm từ các hành vi tấn công không đáng kể (như hích, xô đẩy ) cho tới các hành vi bạo lực nghicm trọng (cướp, đánh dập, hãm hiếp, giết người) Và mặc dù khái

61.1%

TẠP CHÍ TÂM LÝ HOC, Số 6 (207), 6 -2016 1

Trang 26

niệm của họ được thao tác hóa rộng hơn nhưng tỷ lệ học sinh báo cáo về các tội phạm liên quan tới bạo lực troim trường học tại Mỹ vẫn khá thấp: trong năm 2004, cứ 1.000 học sinh thì chi có 27 học sinh nam và 17 học sinh nữ báo cáo về hành vi bạo lực dạng nhẹ và chỉ có 4 học sinh nam và 4 học sinh nữ báo cáo về hành vi bạo lực nghiêm trọng Và nếu xét theo độ tuổi thì con số này lại càng thấp hơn ở bậc PTTH: cứ 1.000 học sinh thì chỉ có 15 học sinh THPT báo cáo về hành vi bạo lực dạng nhẹ và chỉ có chưa tới 3 học sinh báo cáo về hành

Đối chiếu hai nguồn dữ liệu, chúng ta có thể thấy, tỷ lệ học sinh THPT

có hành vi bạo lực tại Hà Nội là không hề thấp Đáng lưu ý hơn nữa là, bạo lực thường không chỉ diễn ra giữa 2 học sinh có mâu thuẫn với nhau mà còn xu hướng “nhóm hóa” xung đột Ban đâu mâu thuẫn chỉ xuất phát từ hai học sinh, sau đó, mỗi bên lại lôi kéo thêm bạn bè mình tham gia vào mâu thuẫn và đôi khi, việc lôi kéo này dẫn tới việc một nhóm học sinh đánh một học sinh (mà ngôn ngữ của các em thường gọi là “đánh hội đồng’” , nhằm phân biệt với “solo” tức

là một đánh một) hoặc thậm chí là sự xô xát giữa hai nhóm học sinh với nhau

Xu hướng “nhóm hóa” hành vi bạo lực thể hiện ở kết quả khảo sát có ý

nghĩa thống kê giữa sổ lượng người tham gia xô xát và hậu quả của xô xát

(r = 0,234; p < 0,001), theo chiều hướng càng nhiều học sinh tham gia vào các cuộc xô xát thì hậu quả của xô xát càng nghiêm trọng

TẠP CHÍ TÂM LÝ HỌC, Số 6 (207), 6 - 2016

Trang 27

Nghiên cứu cũng phát hiện ra sự tồn tại của “mạng lưới bạo lực” (viết tắt: NOV) Mạng lưới bạo lực này sinh khi hai học sinh có mâu thuẫn với nhau lôi kéo thêm người khác tham uia vào cuộc xô xát của mình NOV - 0 khi sự xô xát chỉ diễn ra giữa hai học sinh có mâu thuẫn với nhau NOV = ] khi ít nhất một trong hai bên kéo theo bạn của mình tham gia xỏ xát NOV = 2 khi ít nhất bạn bè của một trong hai bên kéo thêm bạn của mình tham gia xô xát Xử lý dữ liệu cho thấy có tương quan thuận giữa NOV và hậu quả của bạo lực (r = 0.341; p < 0,001) Kết quả này có nghĩa là, NOV càng cao thì hậu quả cùa bạo lực càng nghiêm trọng và bạo lực giữa học sinh với nhau trên địa bàn nghiên cứu tại I là Nội với NOV lớn nhất bằng 2.

Có thể nói sự tồn tại của NOV cũng như xu hướng nhóm hóa bạo lực vừa là sự thể hiện vừa là chất xúc lác đổi với tính chất học hỏi của hành vi bạo lực Các kết quả phỏng vấn sâu và nghiên cứu trường họp cho thấy, có những tình huống, học sinh không thực sự muốn sử dụng bạo lực nhưng các em cảm thấy bạo lực là hành vi bắt buộc phải dùng trong tình huống nhất định Ví dụ

k h i b ị b ạ n b è b ắ t n ạ t, k h i củ a i đ ỏ th ế h iệ n s ự “trẽ n c o h a y c á c b ạ n k h á c c ũ n g

sẽ hành động như thế trong tình huống như thế và rằng, bạn bè kỳ vọng chủng

em hành động như thế trong lình huống “cần sự giúp dờ" Khảo sát băng bảng

hỏi cũng cho ra kết quả rằng, bạo lực là hành vi có tính học hỏi Ket quả cho thấy số học sinh “Đã từng chứng kiến hành vi bạo lực của hạn bè” và số học sinh “Có bạn bè từng sử dụng bạo lực” có mối tương quan thuận với biến “Đã từng tham gia bạo lực học đường” (r lần lượt = 0,374 và 0,412)

Từ các kết quả khảo sát về thực trạng bạo lực học đường tại Hà Nội, có

thẻ rút ra nhận xét 1 n h ư sau: Bạo lực học đường là hành vi có tính học hỏi và

diễn ra khá phổ biến trong học sinh THPT tại địa bàn nghiên cứu.

- G iớ i lín h tr o n g cá c h th ứ c s ử d ụ n g b ạ o lự c h ọ c đ ư ờ n g

Xem xét cách thức học sinh sử dụng bạo lực học dường từ khía cạnh giới tính, số liệu điều tra bảng hỏi cho thấy: Tỷ lệ học sinh nam sử dụng bạo lực nhiều hơn hẳn học sinh nữ (trong số các học sinh có sử dụng bạo lực trong năm học trước khi khảo sát được tiến hành: 71,4% là nam và 28,6% là nữ) Tuy nhiên, kết quả phỏng vấn sâu lại chỉ ra ràng: Khuynh hướng sử dựng bạo lực giữa nam và nữ là như nhau Điều này được giải thích rằng, học sinh nữ tuy

ít trực tiếp sử dựng bạo lực nhưng khi có mâu thuẫn với bạn thì các em lại nhờ nam giới “giải quyêt” hộ Phân lớn các em học sinh được hỏi đêu nhận xét răng, khuynh hướng sử dụng bạo lực ở cả nam và nữ đều như nhau, thậm chí có em

còn cho rằng, con gái thích sử dụng bạo lực hơn cả con trai: “Thòi bây giờ là

c o n gá i C o n g á i g ã y x íc h m ích r ò i nhò' c o n tr a i đánh C o n tr a i th ì c h ỉ k h i n à o

m â u th u ẫ n lắ m m ớ i đ á n h m ù x íc h m íc h c ù n g c h í vì c o n g á i (n ữ , lớ p 11, h ọ c

sinh giỏi, người chứng kiến) Hoặc: ■'( \>n íịái củ khuynh hưởng đánh nhau nhiều

TẠP CHÍ TÁM LÝ HOC, Số 6 (207), 6 - 2016

Trang 28

h ơ n chứ N h ư v ụ c h é m n h â m ớ c ô n g ín rờ n íỊ C ô b iê l v ụ đ â y rỏ i c h ứ g ì? Đ ây,

vụ đay lù do hai con bé khôi 10 đay chứ Vì con gái mâu í huân nhiêu hơn

C h ủ vế li là vẻ c h u y ệ n lìn h cam Sail là th ờ i trang K iể u th a y n ỏ h ơ n m ìn h , nó

x in h hơ n , n h iề u th ẳ n g th e o hơn, d â n lỏ i ứ c chê Ư c ch ê th ì tìm c á c h d ă n m ặ t đê

đ ứ a k ia n ó s ợ m ìn h , k h ô n g d ú m tra n h íỊÌành v ó i m ìn h , l ơ i n h ữ n g m â u th u â n

kiểu đấy con trai thì có thể lờ đi'' (nam lớp 12, học s in h t r u n g bình, người sử

dụng bạo lực)

Trong cách sử dụng bạo lực nam sinh và nữ sinh cũng có sự khác nhau

Trong khi các cuộc xô xát giữa nam sinh thường diễn ra khá nhanh và thường

chủ yếu chỉ gồm hai dạng hành vi chính là đánh nhau và chửi nhau thì các cuộc xô

xát giữa nữ sinh thường kéo dài khá lâu và bao gồm nhiều dạng hành vi khác

nhau như chửi mắng, đe dọa, phá hỏng vật dụng cá nhân của đối phương, đánh

nhau và quay video clip

Một nét khác nhau điển hình giữa nhóm nam và nhóm nữ trong cách thức

sử dụng bạo lực là hiện tượng quay video clip vồ việc xô xát của mình Việc

quay lại video clip thường chỉ diễn ra trong nhóm nữ sinh mà không diễn ra

trong nhóm nam sinh (theo kết quả nghiên cứu) Trong tất cả các video clip vê

bạo lực học dường dược lung lên mạng, chúng ta có thể thấy, tất cả các clip

trên đều là xô xát giữa nhóm nữ sinh, không có clip nào về xô xát giữa nam

sinh Một trong những lý do cho thấy, sự xô xát giữa nhóm nữ sinh thường có

hiện tượng quay video clip là vì bạo lực ở nhóm nữ sinh thường có nguyên

nhân sâu xa từ khía cạnh “cảm xúc - xã hội” trong mỗi sự việc, trong khi nam

sinh thường có khuynh hướng “giải quyết sư việc” và “kết thúc sự việc” Vì vậy,

với học sinh nam, bạo lực thê chất thường xảy ra nhanh chóng và dứt điêm c ỏ

thể nói, việc quay lại hay cho phép quay lại và phát tán video clip về cuộc tấn

công của mình cũng là một phần của bạo lực nữ sinh Điều này góp phần dáng

kể vào việc “hạ nhục” đối phương, khiến dổi phương cảm thấy bị “mất mặt”

Có thể nói, ví diễn tiến của bạo lực trong nhóm nữ sinh thường khá lâu nên

người chứng kiến có thời gian quay lại video clip Trong khi đó, diễn tiến bạo lực

trong nhóm nam sinh thường rất nhanh hoặc nếu không thì cũng khá nghiêm

trọng (ví dụ như có sử dụng các vật dụng có thể gây nguy hiếm như dao, tông,

tuýp sắt ) nên người chửng kiến ít có khả năng quay lại video clip

Từ kết quả so sánh về hành vi bạo lực giữa nam và nữ học sinh có thế

rút ra nhận xét 2 rằng: Có sự khác biệt về giới trong cách thức học sinh sử

d ụ n g b ạ o lự c n ọ c đ ư ờ n g

2.2 M ột số mô hình can thiệp của nlíân viên công túc xã hội trong trường học trên thế giói và khá nũng ứng dụng tại Việt Nam

TẠP CHÍ TÂM LÝ HỌC, Số 6 (207), 6 - 2016

Trang 29

- M ộ t s ố m ô h ỉn h c a n th iệ p C Ô Ì1 ÍỊ c ủ a n h ă n v iê n c ô n g tú c x ã h ộ i tr o n g

tr ư ờ n g h ọ c trê n thê g iớ i

Trên thế giới, hiện có nhiồu mô hình can thiệp hiệu quả nhằm giảm thiếu việc sử dụng bạo lực của học sinh David R Dupper (2003) chia các mô hình này thành hai nhóm căn cứ theo trọng tâm can thiệp: can thiệp lấy người học làm trọng tâm và can thiệp lấy hệ thống làm trọng tâm Nốu như các mô hình can thiệp lấy người học làm trọng tâm thường dược xây dựng dựa trên hướng can thiệp Nhận thức - Hành vi nhằm tạo ra các thay đổi về nhận thức và kỹ năng cho các học sinh có khuynh hướng sử dụng bạo lực thì các mô hình can thiệp lấy hệ thống làm trọng tâm thường hướng tới các chiến lược nhằm tác dộng lên

cả con người (học sinh, phụ huynh, giáo viên) và trường học (văn hóa và không khí học đường, kỷ luật học đường )

Các mô hình can thiệp lấy người học làm trọng tâm nổi tiếng như “Bước thứ hai”, “Huấn luyện lựa chọn tích cực cho vị thành nicn” và “Tồn tại trong trường học” đều được nhiều nhân viên công tác xã hội trong trường học cũng như các nghiên cứu đánh giá khẳng định tính hiệu quả trong việc làm giảm thiểu hành vi gây hấn ở học sinh Các mô hình can thiệp này Ihường là các hình thức trị liệu nhóm (can thiệp bậc 2) và cấu trúc chương trình có thể khác nhau tùy vào đối tượng can thiệp mà mô hình hướng tới Mô hình “Tồn tại trong trường học” hướng tới học sinh bậc PTCS, bậc PTTH có mức độ hành vi bạo lực trung bình nên chương trình chỉ kéo dài trong 10 buổi, mỗi buổi khoảng 40 - 50 phút Trong khi dó, mô hình “Bước thứ hai” (hiện dược ứng dụng ở hơn 10.000 trường học ở Mỹ và Canada) hướng tới nhóm có nguy cơ cao hơn và do đó, chương trình dược thiết kế thành 30 bài, mỗi bài khoảng 30 phút Mô hình “Huân luyện lựa chọn tích cực cho vị thành niên” cũng hướng tới nhóm có nguy cơ cao nên chương trình trị liệu cũng được thiết kế tương đối tập trung trong 19 tuần, mỗi tuần 1 - 2 buổi, môi buổi không quá 10 học sinh tham gia Các mô hình này đêu hướng tới mục tiêu phát triển năng lực xã hội cho học sinh, ví dụ như năng lực hòa họp với người khác và úng phó với các vấn đề theo cách biết thông cảm hơn

và thận trọng hơn

Khác với các mô hình lấy người học làm trọng tâm, các mô hình lấy hệ thống làm trọng tâm thường được thiết kế có tính chuẩn hóa cao hơn và thời gian can thiệp kéo dài hơn (có thể lên tới một năm) Hai mô hình nổi tiếng thuộc cách tiếp cận này là “Giải quyết xung đột một cách sáng tạo” và “Kêt nôi quan tâm chung của giáo viên và gia đình” Điểm chung của các mô hình theo cách tiếp cận này là tác động lên cả cá nhân và hệ thống Với cá nhân, các chiến lược thay đổi hướng tới việc phát triển năng lực xã hội bằng cách thay đôi tri thức,

kỹ năng, thái độ, niềm tin và hành vi của học sinh, bằng cách sứ dụng các kỹ thuật giảng dạy có tính tương tác (ví dụ đóng vai, thực hành với bạn bè )- Với

TẠP CHÍ TÂM LÝ HỌC, Số 6 (207), 6 - 2 0 1 6

Trang 30

hệ thốn”, các chiến lược thay dổi thưòng hướng tới sự thay dối văn hóa trường học và làm rõ các chuẩn mực hành vi (ví dụ, thanh thiếu niên thì không dược

sử dụng đồ uống có cồn và chất Liâv nuhiện )

- Khả năng ứng dụng các mô hình can thiệp tại Việt Nam

Như đã trình bày ở trên, các mô hình này nổi tiếng và được ứng dụng rộng rãi ở nhiều trường học trên nhiều quốc gia bởi tính hiệu quả của nó và tính hiệu quả này được không chỉ các nhân viên công tác xã hội trong trường học mà cả các nhà nghiên cứu công tác xã hội khẳng định Tuy nhiên, câu hỏi

đặt ra với chúng ta là, liệu các mô hình nà}' có ứng dụng được ở Việt Nam?.

Trước hết, cần khẳng dinh rằng, việc triển khai các mô hình can thiệp đối với bạo lực học đường ở Việt Nam vừa dễ lại vừa khó Dễ ở chỗ, bạo lực học đường không phải là vấn đề mới mẻ và dã có rất nhiều các mô hình can thiệp công tác

xã hội được xây dụng và triển khai nhằm phòng ngừa và ngăn chặn vấn đề này Thời gian cũng như ứng dụng thực hành là màng lọc tự nhiên giúp chúng ta nhận diện dễ dàng mô hình nào có hiệu quả trong việc can thiệp làm giảm thiếu hành vi bạo lực ở học sinh Do đó, nếu muốn triến khai mô hình can thiệp bạo lực học đường, chúng ta không cần mất công xây dựng mô hình mới Chúng ta chỉ việc mua bản quyền những mô hình đã dược thiết kế kỳ lường và chuẩn hóa,

đã được thực tiễn thực hành công tác xã hội trong trường học chứng minh tính hiệu quả và Việt hóa chúng để chúng phù hợp hơn với môi trường học đường ở Việt Nam

Tuy nhiên, cái khó lớn nhất trong công tác này là, chúng ta chưa cỏ đội

ngũ nhân viên công tác xã hội irong trường học Hiện nay, công việc cứa nhân

viên công tác xã hội trong trường học đang dược các giáo viên chu nhiệm đảm nhiệm Tuy nhiên, giáo viên chủ nhiệm, mặc dù có kỹ năng sư phạm và họ cũng là người rất gần học sinh và do đó, có hiểu biết khá phong phú về học sinh nhưng họ vẫn không phải là nhân viên công tác xã hội Những nguyên tắc hành động, chuẩn mực và giá trị cho các can thiệp của họ có thổ rất khác với các nguyên tắc hành động, chuẩn mực và giá trị công tác xã hội Và hơn nữa, đa số

họ không được đào tạo sâu để hiểu và có kỹ năng làm việc với trẻ em và thanh thiếu niên đủ để có thể lạo ra sự thay đổi Trong khi đó, việc triển khai các mô hình này đòi hỏi người triển khai không chí nắm chắc giá trị nghề nghiệp công tác xã hội mà còn phải có kiến thức về tâm sinh lý theo từng lứa tuổi, có kỹ năng cộng tác, kết nối và trị liệu tốt Trường hợp lý tưởng hiện nay có thể tính tới là mỗi trường hoặc một vài trường trong một quận nên có một nhân viên công tác xã hội trường học Tuy nhiên, điều này lại đòi hỏi chính sách cần có

sự thay đổi: có thêm biên chế cho nhân viên công tác xã hội trong dội ngũ cán

bộ viên chức trường học và có bậc lương cho vị trí công việc này

TẠP CHÍ TÂM LÝ HOC, Số 6 (207), 6 - 2016

Trang 31

Cái khó thứ hai, một mỏ hình có thố rất hiệu quả ở Mỹ nhưng chưa chắc

dã hiệu quá ở Việt Nam Các khác biệt vồ văn hóa, kinh tè và xã hội có thế là những thách thức dối với nhân viên công tác xã hội khi tìm cách triến khai các

mô hình can thiệp được xây dựng và phát triển ở các nước phương Tây vào bối cảnh V iệt Nam Hơn nữa, vấn dề bạo lực học đường ở nước ta hiện nay giống như căn bệnh để lâu chưa chữa nên cỏ thể sẽ đòi hỏi thuốc “năng’' hơn so với những phương thức trị liệu mà phương Tây dã triển khai Tuy nhiên, cái khó này hiện mới chỉ là ờ dạng giả thuyết rang nó là một cái khó Tuy nhiên chúng

ta không thể chắc được nó có thực sự là một cái khó hay không, bởi chúng ta chưa thử tự ứng dụng bất cứ mô hình nào cho tới nay Với cái khó này, theo tác giả bài viết, chúng ta không có cách giải quyết nào khác ngoài việc phải chấp nhận mạo hiểm tìm kiếm và ứng dụng Qua thực tế kinh nghiệm, chúng ta mói

có thể tìm được một mô hình phù hợp và biết cách điều chỉnh dể mô hình dó hiệu quả trong môi trường trường học ở Việt Nam

Cái khó thứ ba, diễn tiến bạo lực ở các trường học ở Việt Nam - đặc biệt ở địa bàn nghiên cứu - có thể phức tạp hơn ở phương Tây Do đó, có thể có những chiều cạnh bạo lực mà các mô hình can thiệp phương Tây chưa tính đến Một

ví dụ điển hình là chiều cạnh giới trong bạo lực học đường Các mô hình can thiệp với bạo lực học đường ở phương Tây chủ yếu hướng tới cả nam và nữ mà không có sự phân biệt giới Tuy nhiên, với những khác biệt giới trong hành vi

sử dụng bạo lực của học sinh, rất có thể, giới sẽ là một chiều cạnh cần tính đốn trong việc xây dựng và triển khai chiến lược can thiệp

3 Kết luận

(1) Kết quả khảo sát cho thấy, việc sử dụng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn đang diễn ra khá phổ biến trong nhóm học sinh THPT tại Hà Nội Hiện tượng bạo lực theo nhóm khá phổ biến, đặc biệt là có hiện tượng các em tham gia xô xát không phải vì có mâu thuẫn với phía bên kia mà chỉ là vì bạn nhờ “giải quyết” hộ Kết quả nghiên cứu nhìn chung cho thấy, bạo lực là hành vi có tính học hỏi và đo đó, nếu chúng ta không có các biện pháp ngăn chặn kịp thời, bạo lực học đường sẽ không tự dừng lại mà sẽ lây lan và gia tăng Bên cạnh dó, sô liệu cũng cho thây, có những khác biệt giới trong việc sử dụng bạo lực đê giải quyết mâu thuẫn học đường của học sinh, điều này gợi ý các mô hình can thiệp với vấn đề bạo lực trong trường học nên có tính tới yêu tô giới đê đảm bảo tính hiệu quả

(2) Khảo sát về các mô hình công tác xã hội trong trường học nhằm phòng ngừa hành vi bạo lực của học sinh cho thấy, hiện có nhiều mô hình với các trọng tâm can thiệp khác nhau (hướng tới cá nhân hoặc hướng tới hệ thông) dã được các nghiên cứu cũng như thực tiễn triển khai chứng minh tính hiệu quả

TẠP CHÍ TÂM LÝ HỌC, Số 6 (207), 6 - 2016 1

Trang 32

Tuy nhiên, các mô hình này íl nhấn mạnh yếu tố giới trong thiổt ke can thiệp, do

đó, việc áp dụng các mô hình này vào Việt Nam cũng đòi hỏi có sự điêu chỉnh nhất định, căn cứ vào các diễn biến phức tạp của vấn đề bạo lực học đường ở Việt Nam

Tài liệu tham khảo

1 Akiba ct al (20 00), Siiií/cnl V ictim ization: N a tio n a l a n d S c h o o l S y s te m E ffe c ts on

S ch o o l Violence in 37 N ations, A m erican E d u catio n al R e search Jo u rn a l, V ol 39, N o

4 (W in te r, 2 0 0 2 ), pp 829 - 853.

2 A lle n -M e a re s, P au la, S ocial w ork s e n ’ices in schools, 5th ed itio n , B o sto n : P earson

E d u c a tio n , Inc, 2007.

3 B e n b e n ish ty R and A sto r R A School violence in an international context: A call

fo r g lo b a l collaboration in research and p rev en tio n, P re se n te d at ih e IV W orld

C o n fe re n c e : V io le n c e at school: V io len ce in co n te x t? , L isb o n , P o rtu g a l, Ju n e, 2008.

4 D in k es k , C atald i E.F., K ena G and B aum Is , Indicators o f S ch o o l Crim e a n d Safety: 2006 (N C E S 2007-003/N C J 214262), U.S D epartm ents o f E ducation and Justice,

W a sh in g to n , D C : u s , G o v e rn m e n t P rin tin g O ffice, 2006.

5 D u p p er R D avid, School Social Work: Skills a n d interventions f o r effective practice,

N ew Jerse y : Jo h n W iley & S ons, Inc 2003.

6 H a y n ie L D ana and D W ay n e O sg o o d , R eco nsidering Peers a n d D elinquency:

H ow do p ee rs m atter?, S ocial F orces, V o lu m e 84, N u m b e r 2 (D e c e m b e r), pp 1.109 - 1.130, 2005.

7 11 irschi T , Cause o f D elinquency, B erkeley: U n iv ersity o f C a lifo rn ia Press, 1969.

8 N g u y e n T h i N h u T ran g , School Violence in Hanoi, V ietnam, PhD th e sis, N atio n al

U n iv e rsity o f S in g ap o re, 2013.

9 R eid, Hazel and Jane W estcrgaard, Providing support a n d supervision - an introduction for professionals working with voungpeople, Oxon: Routledge, 2006.

10 Thompkins, Douglas, School violence: gangs and a culture o f fear, Annals of the

A m e ric a n A c a d e m y o f P o litic a l and S o cial S c ie n c e , V o l 5 6 7 , S c h o o l V io le n c e ,

pp 54 - 7 1 , 2000.

TẠP CHÍTÂM LÝ HOC, SỐ 6 (207), 6 - 2016 1

Trang 33

c ụ c C 8 2 CỘNG HOÀ XÃ H ộ ĩ CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Bài viết: “Chính sách p h i hình sự trong công tác phòn g, chong hành vi vi

ph ạ m p h á p luật tuổi chưa thành niên ở m ột so nước p h ư ơ n g tây và bài học

kinh nghiệm cho Việt N am

- Tác giả: Tiến sĩ Nguyễn Thị Nhu Trang

Bài viết đã được duyệt dự kiến đăng và in trên Tạp chí Khoa học quản lý và giáo dục tội phạm số 20 năm 2016 (dự kiến phát hành trong tháng 7 năm 2016).

PHÓ TỎNG BIÊN TẬP PHỤ TRÁCH TẠP CHÍ

ĐẠI TÁ PHẠM VĂN THẾ Thiếu tá Dương Văn Đại

Trang 34

Chính sách phi hình sự trong công tác phòng chống tội phạm vị thành niên ở một số nưóc phương Tây: bài học nào cho Việt Nam?1

TS Nguyễn Thị Như Trang2

1 Mỏ’đầu

Trong những năm gần đây, tỷ lệ tội phạm vị thành niên đang có xu hướng gia tăng mạnh ở Việt Nam cả về số lượng và tính chất nghiêm trọng của vụ án (Ngô Hoàng Oanh 2010) Tất nhiên, vấn đề tội phạm vị thành niên không phải của riêng Việt Nam hay quốc gia nào, mà là một thách thức chung Lứa tuổi vị thành niên là lứa tuổi con người rất dễ có những hành vi lệch chuẩn trong quá trình tìm kiếm, xây dựng cái tôi - cái tôi độc đáo khác biệt, và cái tôi xã hội Rât nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra tỷ lệ rủi ro cao của độ tuổi vị thành niên với các hành vi lệch chuẩn (Dinkes và đồng sự 2006) Điểm quan trọng mà các nghiên cứu trên cũng đồng thời chỉ ra là, tỷ lệ vị thành niên thực sự sa vào con đường tội phạm chuyên nghiệp thường không quá cao Các hành vi lệch chuẩn, thậm chí là tội phạm, của các em thường gắn chặt với vấn đề giai đoạn phát triên tuối vị thành niên, với động cơ chủ yếu xuất phát từ nhu cầu tìm kiếm cái tôi, khắng định cái tôi Điều đó có nghĩa là, nếu xã hội có thể can thiệp kịp thời, đa số vị thành niên có hành vi lệch chuẩn có thể trưởng thành thành công dân đáng tin cậy Nhưng ngược lại, nếu không có sự can thiệp kịp thời, các em rất dễ bị sa vào con đường tội phạm chuyên nghiệp, gia nhập vào nhóm những người sống ngoài vòng pháp luật khi trưởng thành Điều này không chỉ có hại

1 Bài viết sử dụng dữ liệu từ đề tài KH-CN cấp ĐH Quốc gia 'ứ n g x ử bạo lực với bạn bè ở học sinh PTTH Hà Nội: th ự c trạng và các giải pháp can thiệp tại trường học' do tác giả làm chủ nhiệm đề tài Mã số: QG14.39

2 TS Nguyễn Thi Như Trang: Bộ môn Công tác Xã hội, khoa Xã hội học, ĐH KHXH&NV Hà Nội Em ail:

maiphivn(S>vahoo.com.

Trang 35

cho tương lai của các em, mà còn là sự đe dọa tới sự ổn định, an toàn và phát trien của tổng thể xã hội.

Chính vì vậy, công tác phòng chống tội phạm vị thành niên có ý nghĩa vô cùng quan trọng Cũng cần lưu ý thêm, trong công tác này bản chất bao gồm hai dạng hoạt động khác nhau: phòng và chổng Khái niệm chống thường được sử dụng cho các công tác liên quan tới việc làm việc trực tiếp với tội phạm vị thành niên như quy trình điều tra, xét xử, và thi hành án với vị thành niên vi phạm pháp luật Công tác‘chống‘ tội phạm vị thành niên có thể bao gồm cả những can thiệp đối với vị thành niên vi phạm pháp luật nhằm thay đổi những yếu tô dân tới hành vi vi phạm pháp luật (nhận thức, hoàn cảnh gia đình ) như các hoạt động tham vấn trong trại giam; hoạt động hỗ trợ hòa nhập cộng đồng Trong khi đó, công tác phòng ngừa nhấn mạnh tới các chương trình nhăm giảm thiếu tỷ lệ tội phạm vị thành niên trước khi nó diễn ra, hay nói đơn giản là công tác can thiệp sớm nhằn ngăn chặn khuynh hướng vi phạm pháp luật ở vị thành niên Việc phân chia này có tính tương đối, bởi bản chất của ,chông‘ cũng là đế ngăn chặn phòng ngừa; và phòng ngừa cũng là một hoạt động chống tội phạm trước khi nó xảy ra Tuy nhiên, vì tổ chức hoạt động và các đơn vị tham gia hai hoạt động này khác nhau (các hoạt động ,chống‘ tội phạm được tiến hành bởi các đơn vị chức năng có thấm quyền như cảnh sát, tòa án, công tố viên; trong khi hoạt động phòng ngừa có thế do các tố chức dân

sự tham gia tiến hành), do đó, trong chuyên đề này, chúng tôi phân ra thành hai nhánh hoạt động như vậy để có thể tham khảo được cơ chế phòng và chống tội phạm ở các quốc gia khác nhau.

Trong lĩnh vực phòng chống tội phạm vị thành niên, có thể nói, Việt Nam là

m ột đất nước còn non trẻ so với rất nhiều nước khác trên thế giới Phòng chống

Trang 36

tội phạm nói chung và tội phạm vị thành niên nói riêng là công tác gắn bó chặt chẽ với hệ thống pháp lý cả về ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp, và tư pháp; găn bó chặt chẽ với các chính sách xã hội liên quan tới vị thành niên Hệ thống pháp luật và chính sách xã hội của Việt Nam hiện nay, ra đời cùng với sự thành lập của nhà nước Việt Nam độc lập, có lịch sử chưa tới 100 năm Chính vì vậy,

sự tham khảo kinh nghiệm phòng chống tội phạm vị thành niên ở các nước khác, nhất là các nước đã có một hệ thống pháp luật lâu đời và vững mạnh, là một việc làm cần thiết để hoàn thiện hơn công tác này ở Việt Nam.

Chính vì vậy, bài viết này sẽ tổng hợp và phân tích kinh nghiệm từ các chính sách phòng chống tội phạm vị thành niên ở một số nước tiên tiến như Anh, Mỹ, Canada, Thụy Điến đế tìm kiếm bài học thiết thực cho việc xây dựng các chính sách phòng chống tội phạm vị thành niên hiệu quả ở Việt Nam Với lĩnh vực quan tâm đặc thù của tác giả, bài viết sẽ chỉ tập trung vào các chính sách phi hình sự trong công tác phòng chồng tội phạm vị thành niên Bên cạnh đó, để có thế tập trung làm rõ các đặc thù kinh tế-xã hội có thể tác động như thế nào tới việc hình thành chính sách, bài viết sẽ tập trung tham khảo, so sánh và rút kinh nghiệm từ hai hệ thống khá khác biệt là Áo và Mỹ.

2 Các chính sách/giải pháp phi hình sự trong công tác can thiệp và phòng ngừa tội phạm vị thành niên ở Áo và Mỹ

v ề cơ bản, cả hai hệ thống Áo và Mỹ, c ũ n g như rất nhiều nước Châu Âu khác như Canada, Thụy Điến, H à Lan , khi xử lý vấn đề tội phạm vị thành niên đều

có hai điêm chung: (1) phối hợp chặt chẽ với các hệ thống phi hình sự như trường học, công tác xã hội, trung tâm dậy nghề ; và (2) chú trọng việc can thiệp sớm.

3

Trang 37

Bài viết này sẽ giới thiệu sơ lược các biện pháp phi hình sự trong công tác phòng ngừa tội phạm vị thành niên ở Áo và Mỹ; sau đó sẽ tập trung vào vai trò của công tác xã hội như một hệ thống phi hình sự vô cùng hiệu quả trong việc can thiệp giảm thiểu hành vi lệch chuẩn của vị thành niên.

2.1 C ác dạng thức can thiệp p h i líình sự với tội p h ạ m vị thành niên

ơ Ao, có ba thê chê phi hình sự có vai trò rât lớn đôi với công tác phòng ngừa tội phạm vị thành niên, đó là trường học, công tác xã hội, và các cơ sở cung cấp/tổ chức các hoạt động thể thao giải trí cho vị thành niên Tuy nhiên, các can thiệp của công tác xã hội lại thường được đặt ở trường học, do đó, nếu tính theo địa điêm thì các chương trình ngăn chặn hành vi lệch chuẩn cho vị thành niên thường được đặt ở hai nơi là trường học và các cơ sở tổ chức các hoạt động thể thao giải trí cho vị thành niên Các chương trình này cũng có nhiều loại khác nhau, có chương trình chỉ dành cho vị thành niên, có chương trình dành cho cả vị thành niên và người bảo trợ Các chương trình có nội dung và hoạt động khác nhau, nhưng tựu trung đều hướng tới mục tiêu làm giảm hành

vi chông xã hội, thông qua các nội dung như huấn luyện giải pháp xung đột

một cách hòa bình, ngăn chặn bạo lực, nhận diện đúng - sai Điều thú vị ở Áo

là, các chương trình phòng ngừa đặt tại trường học không chỉ dựa vào nhân viên xã hội mà còn dựa cả vào giáo viên, và thậm chí các học sinh lớn hỗ trợ học sinh nhỏ tuổi hơn.

Với các chương trình đặt tại các cơ sở cung cấp hoạt động vui chơi giải trí cho

vị thành niên, động cơ xuất phát ban đầu của những chương trình này là từ thực

tế vị thành niên thường có những hành vi xô xát với nhau ở nơi vui chơi, do sự khác biệt về chủng tộc, văn hóa, và tôn giáo, và những xô xát này không chỉ

4

Trang 38

dẫn tới sự bất ổn trong cộng đồng vị thành niên, mà còn dẫn tới các vấn đề khác như băng nhóm và lạm dụng chất gây nghiện Chính vì vậy, chính phủ Áo

hỗ trợ thiết lập cung cấp các sân chơi và hoạt động giải trí miễn phí (thường là theo nhóm) cho vị thành niên, để thông qua đó, người điều phối hoạt động vui chơi giải trí sẽ hướng dẫn vị thành niên cách ứng xử với nhau một cách hòa bình, cách họp tác với nhau để cùng lập và thực hiện một kế hoạch chung Vị thành niên qua đó cũng được học các kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết xung đột, và một số kỹ năng xã hội khác.

ơ Mỹ, cũng tương tự như Áo, Canada, ú c , Anh và nhiều nước phương Tây khác, ngoài các điều luật quy định về các mức xử phạt và cách thức xử phạt đối với vị thành niên vi phạm pháp luật, Quốc hội Mỹ cũng cấp ngân sách để tổ chức các chương trình nhằm phòng ngừa hành vi lệch chuẩn ở vị thành niên Các chương trình này một số thì hướng tới can thiệp sớm, một số lại hướng tới can thiệp với những vị thành niên vốn đã có hành vi vi phạm pháp luật Can thiệp sớm còn được gọi là can thiệp sơ cấp, trong khi can thiệp đối với vị thành niên đã vi phạm pháp luật thường được gọi là can thiệp thứ cấp.

Theo Bishop và D ecker (2008), các chương trình can thiệp sớm (can thiệp sơ cấp) ở Mỹ rất được chú trọng trong thập kỷ gần đây, mặc dù can thiệp sớm không phải là điều mới mẻ, mà đã có từ những năm 1960s Tuy nhiên, trong thập kỷ gần đây, can thiệp sớm nhằm phòng ngừa hành vi lệch chuẩn của vị thành niên được chú ý hơn, với sự nhấn mạnh vào mục tiêu phòng ngừa lệch chuẩn (các chương trình can thiệp sớm trước đó không được thiết kế rõ ràng để hướng tới sự phòng ngừa lệch chuẩn như sau này, ví dụ như chương trình can thiệp sớm ở cấp tiền tiếu học những năm 1960s có tên gọi Head Start thực tế là một chương trình nằm trong chiến dịch ,Chống lại nghèo đói‘ do Tổng thống

Trang 39

Lyndon Johnson phát động) Bên cạnh đó, một đặc điểm nổi bật ở các chương trình can thiệp hiện đại ở Mỹ, cả can thiệp sơ cấp vầ can thiệp thứ cấp, là các chương trình này được xây dựng dựa rất nhiều vào các nghiên cứu khoa học Nhờ vào những phát triển trong lý thuyết cũng như nghiên cứu thực nghiệm trong lĩnh vực tội phạm học phát triển (ví dụ Loeber và Farrington 2000; Paterson và Yoerger 1993), cac nhà hoạch định chính sách càng ngày càng nhận thức rõ mối liên hệ giữa gia đình, trường học, bối cảnh cộng đồng, và khả năng rủi ro tham gia vào các hoạt động lệch chuấn thành niên của vị thành niên Ớ một mức độ nhất định, các nghiên cứu về tội phạm học phát triển ở

Mỹ, cả những nghiên cứu niên đại cũng như các nghiên cứu đánh giá đa chiều

về hành vi lệch chuẩn và các yếu tố tác động vào khuynh hướng lệch chuẩn của

vị thành niên, đã đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các chiến lược can thiệp sớm với hành vi lệch chuẩn đối với vị thành niên.

Neu như can thiệp sơ cấp hướng tới đối tượng là trẻ em và thanh thiếu niên có rủi ro tham gia vào hoạt động lệch chuẩn và tội phạm, chương trình can thiệp thứ cấp hướng tới đối tượng là vị thành niên bắt đầu có hành vi lệch chuẩn/vi phạm; ví dụ như các vị thành niên bị đuổi học khỏi trường, vị thành niên lần đầu bị bắt giữ do phạm tội Những trường hợp mới có những hành vi vi phạm

bị xử phạt như vậy thường được miễn khỏi việc xét xử chính thức tại tòa hình

sự dành cho vị thành niên Xu hướng này thực tế đã bắt đầu ở Mỹ từ những năm 1960s, dưới sự ảnh hưởng của lý thuyết gán nhãn và lý thuyết sự nghiệp tội phạm, cho biết những xử phạt chính thức, thay vì có chức năng ngăn chặn lệch chuẩn, lại sẽ tạo ra sự kỳ thị từ cộng đồng và đẩy vị thành niên vào con đường tội phạm chuyên nghiệp.

6

Trang 40

Có một điều đáng tiếc là, mặc dù có rất nhiều, hàng nghìn, hoặc thậm chí hàng chục nghìn, các chương trình phục hồi dành cho vị thành niên vi phạm pháp luật đang được thực hiện trên khắp nước Mỹ, nhưng hầu hết các bang cũng như chính quyền liên bang không tổ chức các kháo sát diện rộng để đánh giá tổng thế các chương trình này và nhận diện những chương trình hiệu quả Chính vì vậy, gần như không thể đánh giá được phạm vi và mức độ ảnh hưởng của các chương trình này đối với vị thành niên vi phạm pháp luật ở Mỹ (Bishop và Decker 2008).

Nói tóm lại, mặc dù các chương trình phòng ngừa phi hình sự ở Mỹ với vị thành niên vi phạm pháp luật, mặc dù có xuất phát điểm có vẻ khá giống với

Áo và nhiều nước phương Tây khác, nhưng chúng ta có thể thấy một số điểm khác biệt đáng kế Thứ nhất là do chính sách của chính quyền bang cũng như chính quyền liên bang Mỹ có khuynh hướng khá cứng rắn đối với tội phạm, kể

cả là người vị thành niên, do đó, sự can thiệp của chính phủ chủ yếu nằm ở các điều luật liên quan tới quy định và xử phạt, và xử phạt khá cứng rắn Các chương trình phi hình sự thì chủ yếu do khối tư nhân tiến hành, và mặc dù khá phong phú, nhưng vì không thuộc hệ thống nhà nước, nên chưa được chính quyền quan tâm đánh giá một cách tống thế Tuy nhiên, ưu điếm của hệ thống

tư pháp và công tác phòng ngừa tội phạm vị thành niên ở Mỹ lại có một thê

m ạnh rất lớn là có sự hồ trợ khoa học mạnh mẽ từ các nghiên cứu về tội phạm phát triển, vốn là một ngành phát triển rất mạnh ở Mỹ.

V à một điểm chung giữa Mỹ, Áo, và nhiều nước phương Tây khác như Anh, Canada, Hà lan., trong công tác phòng ngừa vị thành niên vi phạm pháp luật,

đó là vai trò của công tác xã hội Neu như ở Áo, can thiệp công tác xã hội đôi với vị thành niên vi phạm pháp luật chủ yếu được đặt ở nhà trường, ở Mỹ,

7

Ngày đăng: 20/11/2019, 23:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w