1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quá trình hình thành kiến trúc an ninh mới ở khu vực châu á thái bình dương và tác động đến việt nam

75 202 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 3,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không hẳn đứng giữa, nhung luôn bị tác động của cuộc cuộc chạy đua này neoài các nước đồng minh của Mỹ, trong khu vực này nổi lên vai trò của A SE AN với những sang kiến và mong muốn đón

Trang 3

1.3 Danh sách chủ trì, thành viên tham gia thực hiện đề tài:

TT Chức danh, học vị, họ và tên Đon vị công tác Vai trò thực hiện đế tài

1 PGS.TS Phạm Quang Minh Trường ĐHKHXHNV Chủ nhiệm

2 PGS.TSKH Trần Khánh Viện NC Đông Nam Á Thành viên

3 TS Nguyễn Hùng Sơn Học Viện Ngoại giao Thành viên

4 PGS.TS Nguyễn Thị Quế Học viện

Chính trị quốc gia HCM

Thành viên

1.4 Đ ơn vị chủ trì: Trường Đại học K hoa học Xã hội và Nhân văn

1.5 Thời gian thực hiện:

1.5.1 Theo họp đồng: từ tháng 5 năm 2014 đến tháng 5 năm 2016

1.5.2 Gia hạn (nếu có): đến th án g n ă m

1.5.3 Thực hiện thực tế: từ tháng 5 năm 2014 đến tháng 5 năm 2016

1.6 Những thay đổi so vói thuyết minh ban đầu (nếu có):

(Ve mục tiêu, nội dung, ph ư ơ n g p h á p , két quả nghiên cứu và to chức thực hiện; N guyên nhân; Ỷ kiến của Cơ quan quản lý)

Chủ nhiệm đề tài đề nghị điêu chỉnh yêu cầu sản phâm từ 01 bài đăng trên tạp chí quốc

tế thuộc hệ thống SCOPUS thành 01 chương sách do m ột N hà xuất bản có uy tín của nước ngoài xuất bản, có chỉ số ISBN

Việc thay đổi này không ảnh hưởng đến chất lượng của công trình nghiên cứu Các xuất bản của các nhà xuất bản nổi tiếng thế giới như Elsevier, M acm ilian Palgrave, Springer, Francis and Taylor được các trường đại học trên thể giới có uy tín thừa nhận và được đánh eiá có chất lượng ngang với các tạp chí có chỉ số có ảnh hưởng cao

Đại học Quốc gia đã có văn bản cho phép điều chỉnh

1.7 T ổng kinh phí đ ư ợ c p h ê d u y ệ t c ủ a đ ề tà i: 300 triệu đồng

PH ẦN II TỎNG QUAN KÉT QUẢ N G H IÊ N c ứ u

V iết theo cấu trúc m ột bài báo khoa học tổng quan từ 6-15 trang (báo cáo này sẽ được đăng trên tạp chí khoa học Đ H Q G H N sau khi đề tài được nghiệm thu), nội dung gồm các phần:

2

Trang 4

1 Đ ặ í vấn đề

Trong những năm gần đây, môi trường an ninh khu vực châu A - Thái Bình Dương có nhiều diễn biến phức tạp, gây lo ngại cho các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam Thách thức lớn nhất là khu vực Châu Á-Thái Bình Dương chưa có m ột tổ chức, cơ che an ninh có tổ chức chặt chẽ, hoạt động có hiệu quả, nhằm giải quyết những xung đột, tranh chấp đang ngày càng gia tăng, thách thức hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực Ở khu vạrc này đã và đang hình thành đồng thời nhiều cơ chế, diễn đàn, tổ chức với mục tiêu, quy mô, phạm vi, chức năng khác nhau, nhằm giải quyết các vẩn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống của khu vực

Từ khi Chiến tranh lạnh chấm dứt đến nay, khu vực Châu Á-Thái Bình Dương đã chứng kiến sự ra đời của hàng loạt tổ chức, cơ chế như Diễn đàn hợp tác Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (A PEC ) năm 1989, Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) năm 1994, Cơ chế

A SEA N cộng 3 năm 1997, Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (EAS) năm 2005, Hội nghị Bộ trưởng quổc phòng A D M M cộng Đ iểm chung của các tổ chức cơ chế này là sự tham gia

và đống góp của A SE A N với tư cách là lực lượng trung tâm và cầm lái Tất cả các cơ chế

đó đang dần dần góp phần định hình một kiến trúc an ninh mới của khu vực Đê tài sẽ chỉ tập trung làm rõ vị trí, vai trò của các cơ ché, tổ chức có ASEAN tham gia và chỉ ra mối quan hệ giữa các tổ chức đa phương này

Ngoài ra, đề tài sẽ đánh giá những trở ngại, thách thức đối với việc hình thành kiến trúc an ninh của khu vực Châu Á-Thái Bình Dương thông qua việc phân tích sự điêu chỉnh chiến lược của các cường quốc

Sự cần thiết của đề tài

- Từ góc độ lý th u yết:

Thứ nhất, trong nghiên cứu quan hệ quốc tế, nghiên cứu về an ninh, bao gôm an ninh

truvền thống và an ninh phi truvền thống, luôn chiếm một vị trí quan trọne Các cuộc thảo luận khoa học gần đâv, nhất là từ khi Chiến tranh lạnh chấm dứt và đặc biệt là sau sự kiện 11/9, đề cập nhiều đến các nội hàm mới của an ninh và làm thế nào để có thể xây dựng các

cơ chế hợp tác ngăn chặn các nguv cơ làm cho thế giới hất ổn và xuns đột

Thứ hai, các lý thuyết quan hệ quốc tể chủ yếu xuất phát từ phương Tây, lấy phương

Tây làm trung tâm, nên không thể giải thích được những vấn đề an ninh xảy ra gần đây ở

Trang 5

những khu vực khác ngoài phương Tây Vì thế, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng mới ở châu Á-Thái Bình Dương sẽ góp phần làm phong phú thêm các lý thuyêt nghiên cứu, bô sung thêm những khía cạnh chưa được đề cập.

- Từ góc độ thực tế khu vực Kể từ khi Chiến tranh lạnh chấm dứt, khu vực châu Á-Thái

Bình Dương thực sự đã trở thành tâm điểm của sự chú ý của tất cả thế giới, các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách và các tầng lóp xã hội khác vì một số lý do:

Thứ nhất, đây là khu vực có tầm quan trọng đặc biệt tò tất cả các góc độ chính trị, kinh

tế, an ninh-quốc phòng, có tốc độ phát triển kinh tế đứng đầu thế giới, là nơi hội tụ lợi ích của tất cả các cường quốc và các nền kinh tế lớn từ Hoa Kỳ, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Liên bang Nga, Hàn Q uốc K hu vực Châu Á-Thái Bình Dương có thể được coi là thế giới thu nhỏ

Thứ hai, khu vực này không có truyền thống, kinh nghiệm trong hợp tác an ninh Các

cơ ché hợp tác an ninh ờ khu vực này chỉ mới xuất hiện sau Chiến tranh lạnh và vẫn còn đang trong quá trình phát triển

Thứ ba, khu vực châu Á-Thái Bình Dương đang chứng kiến sự vận động hết sức mạnh

mẽ của các chủ thể, các nồ lực hết sức đa dạng nhằm hướng tới một kiến trúc an ninh mới Trong quá trình này, khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã trở thành địa bàn cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, trong đó nổi bật bật nhất là cuộc chạy đua giữa một bên là Hoa Kỳ và bên kia là Trung Quốc Không hẳn đứng giữa, nhung luôn bị tác động của cuộc cuộc chạy đua này neoài các nước đồng minh của Mỹ, trong khu vực này nổi lên vai trò của

A SE AN với những sang kiến và mong muốn đóng vai trò chèo lái, ngày một thu hút được

sự quan tâm của tất cả các cường quốc

- T ù góc độ quốc gia Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện chủ trương đa phương hóa, đa

dạnR hóa các quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, cũng nhận thức được tầm quan trọna của vấn đề xây dựng kiến trúc an ninh khu vực nhằm bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích của quốc gia Từ đổi đầu, nghi kỵ, thụ động trong quan hệ với ASEAN, hiện nay Việt Nam khẳng định là thành viên tích cực, chủ động và xây dựng của Hiệp hội, thể hiện chù trương tăng cường liên két và hội nhập khu vực của V iệt Nam trong một môi trường an ninh mới, đầy biến động Việt Nam phải có một vị trí xứng đáng trong kiên trúc

Trang 6

quổc gia Đông Nam Á (A SEA N ) với tư cách iả lực ỉượng trung tâm và chèo lái trong việc xây dựng một cơ chế hợp tác an ninh đa phương mới nhằm bảo đảm m ôi trường hòa bình cho khu vực, từ đó làm rõ tác động của nó đối với vị thế và chính sách đôi ngoại của V iệt Nam.

M ục tiêu cụ thê:

Thủ nhất, phân tích những yếu tố tác động tới sự hình thành kiến trúc an ninh m ới của

khu vực Châu Á-Thái Bình D ương

Thứ hai, trình bày có hệ thống những nỗ lực và đóng góp của A SE A N trong việc xây

dựng một kiến trúc an ninh m ới ở khu vực Châu Á-Thái Bình D ương

Thứ ba, đánh giá sự tham dự của các nước lớn tro n s việc hình thành kiến trúc an ninh

mới ở khu vực Châu Á -Thái Bình D ương

Thứ tư, đánh giá tác động của kiến trúc an ninh mới của khu vực đối với vị thế của

Việt Nam, done thời đưa ra m ột số khuyến nghị về sự tham gia của V iệt N am

Thứ năm , Dự báo về triển vọng của kiến trúc an ninh khu vực Châu Á -Thái Bình

Dương

3 Phương pháp nghiên cứu

Đe tài được thực hiện trên cơ sở quan điểm của Chủ nghĩa M ác-Lênin và tư tưởng Hô Chí M inh về quan hệ quổc tế trong bổi cảnh toàn cầu hóa và khu vực hóa

P h ư ơ n g p h á p n g h iên cứ u , kỹ th u ậ t s ử dụng Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu

liên ngành bao gồm sử học, phân tích, tổng hợp, logic kết hợp với các phương pháp nghiên cứu quốc tế (ba cấp độ phân tích: hệ thống, quốc gia và cá nhân)

Tính mới, tính độc đáo, tính sáng tạo: Đâv là lần đầu tiên ở V iệt N am có m ột nghiên

cứu về kiến trúc an ninh m ới của khu vực, trên cơ sở khai thác nguồn tài liệu nước ngoài và cách tiếp cận chính trị học

4 T ổng kết kết q u ả n g h iên cứ u

Châu Á - Thái Bình D ương rõ ràng là khu vực quan trọng nhất, nhưng cũng phức tạp

và căng thẳng nhất trên hành tinh này N ắm trong tay ba nền kinh tể lớn nhất thế giới và m ột

sổ quan hệ chiến lược quan trọng của khu vực, việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế liên tục, đồng thời vẫn duv trì hòa bình và ổn định, sẽ là m ột trong nhừne thách thức chủ đạo của trật

tự thế giới thế kỷ XXI

5

Trang 7

Thông thường, chúng ta kỳ vọng các thê chê khu vực đóng vai trồ chủ đạo trong hoàn thành m ục tiêu trên Thế nhưng một trong những đặc điểm nổi bật nhất của khu vực Châu Á

- Thái Bình Dương là cho tới nay, mức độ phát triển thể chế của khu vực này còn tương đổi khiêm tốn Tuy nhiên, mọi thứ đang thay đổi: khi các nền kinh tế ở Châu Á - Thái Bình Dương hội nhập sâu sắc hơn, người ta ngày càng mong muốn phát triển và hồ trợ những thể chế đã tồn tại Mục đích chính của công trình này là khảo sát sự phát triển của kiến trúc an ninh hiện nay của khu vực, từ đó đánh giá tác động của nó đối với Việt Nam Đe tìm câu trả lời cho các vấn đề nêu trên, công trình này chỉ tập trung nghiên cứu, phân tích những nội dung chính như sau: (i) vai trò của các nhân tố chủ yếu trong quá trình hình thành kiến trúc

an ninh mới hiện nay và trong thời gian tới, bao gồm sự điều chỉnh chính sách của các nước chủ chốt đối với kiến trúc an ninh khu vực; và (ii) đánh giá sự tác động của từng kịch bản đối với khu vực nói chung và với Việt Nam nói riêng

Thời gian gần đây, cục diện khu vực và quan hệ quốc tế ở Châu Á-Thái Bình Dương

có những hiến động m ạnh mẽ, gâv tác động sâu sắc tới kiến trúc an ninh khu vực Sự thay đổi trong tương quan lực lượng và quan hệ các nước lớn, đặc biệt là sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc và cách hành xử quyết đoán của nước này, là những động lực chính thúc đẩy sự tiến triển của kiến trúc an ninh khu vực Những động lực đó đang góp phần định dạne một kiến trúc an ninh khu vực mới, nhưng hình thái kiến trúc an ninh khu vực mới đó cho đến nay vẫn chưa hiển thị rõ ràng

Sự định hình và phát triển của kiến trúc an ninh Châu Á - Thái Bình Dương tò nay tới năm 2030 sẽ đem lại những cơ hội và thách thức to lớn cho các nước vừa và nhỏ, trong sự nghiệp bảo đảm hòa bình, ổn định khu vực để tập trung phát triển kinh tế Đồng thời kiến trúc an ninh mới cũng đặt ra nhiều câu hỏi cho vai trò trung tâm của ASEAN trong hợp tác

đa phương ở Châu Á - Thái Bình Dương

Khái niệm “kiến trúc an ninh khu vực” (regional security architecture) được sử dụng

phổ biến trong các văn kiện của A SEAN cũng như trong giới chính sách và giới học thuật vài năm gần đây H iện nay vẫn chưa có m ột định nghĩa thống nhất được thừa nhận rộng

rãi cho khái niệm “kiến trúc khu vự c”, nhưng nội hàm của khái niệm thường bao gồm tổng

thê những thê chế, cơ chế, tổ chức, dàn xếp, tiến trình được các nước thiêt lập và vận hành trong một khu vực nhảt định, nhăm mục tiêu duy trì, bảo đảm hòa bình, an ninh ở khu vực đó.

Trang 8

So với khái niệm “trật tự khu vực”, khái niệm “kiến trúc khu vực” có nội hàm hẹp hơn;

có quan điểm cho rằng một kiến trúc khu vực chỉ là sự biểu hiện về thế chê của một trật tự khu vực tương ứng Trong khi nội hàm của khái niệm “trật tự khu vực” là sự phân bổ quyền lực giữa các chủ thể trong khu vực cũng như sự vận động của các mối quan hệ mang tính quyền lực đó, thì nội hàm của khái niệm “kiến trúc khu vực” chi đề cập tới các thê chế, cơ chế, tiến trìn h họp tác giữa các chủ thể trong khu vực địa lý nói trên

Theo nghĩa rộng, các thể chế, cơ chế, tiến trình này bao gồm cả các thể chế họp tác song phương lẫn các thể chế hợp tác đa phương Tuy nhiên, theo nghĩa hẹp, kiến trúc khu vực chỉ bao gồm các thể chế đa phương mà thôi Công trình này sẽ phân tích không chỉ chính sách của các chủ thể chính tác động tới các cơ chế đa phương, mà còn so sánh, đổi chiếu với các khái niệm rộng hơn để đánh giá tổng thể vai trò của kiến trúc an ninh khu vực trong bổi cảnh quan hệ quốc tế ở khu vực

Nếu xét về nội dung hợp tác thì kiến trúc khu vực thường bao gồm hai bộ phận cấu thành: kiến trúc an ninh và kiến trúc kinh tế, và không phải lúc nào hai bộ phận này cũng tương thích với nhau Kiến trúc an ninh CA-TBD bao gồm các thể chế như ASEAN, ASEAN+, S C O ; trong khi kiến trúc kinh tế CA-TBD bao gồm các thể chế AEC, APEC, TPP, R C E P Công trình nàv chỉ tập trung phân tích kiến trúc an ninh của khu vực Châu Á- Thái tíình Dương

Theo lý luận quan hệ quốc tế, vai trò của kiến trúc thường được đánh giá dựa trên lý thuyết của chủ nghĩa tự do mới (neo-liberal institutionalism) Chủ nghĩa tự do mới là trường phái lý thuyết rất coi trọng vai trò của các thế chế hợp tác trong quan hệ quốc tế, cho rằng các thể chế hợp tác có thể làm thay đổi cách hành xử của các quốc gia theo hướng giảm thiểu tác động tiêu cực của môi trường quốc tế “vô chính phủ." Mặc dù được các quôc gia thành lập và vận hành dựa trên lợi ích quốc gia và quan hệ quyền lực nhưng các thể chế có luật lệ và vai trò riêng của chúng, có thể tác động theo hướng tích cực đến hòa bình, ổn định khu vực

Việc ASEAN tồn tại trong thời gian dài như vậy là rất ấn tượng, không thể xem thường, và cũng là minh chứng cho sức sống của tổ chức này cũng như năng lực quản trị cửa giới tinh hoa chính trị Thực vậy, dù công tác đối ngoại khu vực cửa ASEAN phần lớn mang tính né tránh xung đột cũng như lôi kéo sự ủne hộ quốc tế với những chế độ mà đáng

lẽ đã chịu sự chi trích rất lớn, thì sức bền của tổ chức này cũng rất đáng khen ngợi, ngay cả

Trang 9

khi thành tựu cửa A S E A N không lớn Tất nhiên, câu hỏi trọng tâm sẽ là, liệu sự tồn tại thuần túy có xứng đ án e hay thậm chí có chính đáng hay không N eu kết quả chính của sự tồn tạ i của ASEAN chỉ là sự sống sót mà thôi, thì liệu họ có thể đạt được điều này tại một khu v ục m à các lãnh đạo cần có năng lực quản trị hiệu quả, tại m ột nơi m à nguồn tài nguyên chính phủ khiêm tốn phải được hướng vào những dự án có lợi ích trực tiếp hơn với mỗi xã hội riên g của các quốc gia thành viên? c ầ n nhớ ràng, dù “phép m àu Châu Á ” lớn tới đâu thì thu nhập đầu người ờ phần lớn Đông Nam Á vẫn thấp, sự củng cố dân chủ vẫn chưa chăc chẩn và những vấn đề về phát triển kinh tế vẫn cận kề.

Dù mức độ tương thuộc kinh tể ở Đ ông N am Á đã tăng lên, A SE A N vẫn đóng vai trò

tư ơ n g đổi mờ nhạt với m ột tiến trình vốn chịu sự chi phối đáng kể từ các thế lực kinh tế bên ngoài Sự chênh lệch quy m ô kinh tể hiện hữu giữa Đ ông Bẳc và Đ ông N am A có thê giải thích cho điều này N hưng đáng chú ý là, A SE A N dường như không thể vượt qua những lợi ích quốc gia và xây dựng góc nhìn thuần tính khu vực về các vấn đề phát triển nói chung

Có lẽ điều này rất dễ hiểu: những áp lực dân số, đặc biệt khi chúng đi kèm với những lợi ích

ch ín h trị và kinh tế m ật thiết, khiến cho các nước phải phát triển bằng mọi giá để đáp ứng nhịp độ phát triển quốc gia nhanh chóng K hả năng hạn chế của A SEA N trong giải quyết

n h ữ n a căng thẳng xuyên biên giới, có nguyên nhân từ áp lực phát triển kinh tế liên tục, trở nên vô cùng rơ ràng trong sự bất lực của tổ chức này trong giải quyết “vấn đề khói b ụ i” (haze problem) Cụ thể, vấn đề này có nguyên nhân từ hoạt động đốt rừng gần như vô tổ chức của Indonesia Thất bại của A SEA N trong bối cảnh này là rất đáng báo động và điên hình, khi mà môi trường tự nhiên ở đây ngày càng suy thoái và nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt Ta còn chưa biết rõ liệu những cơ chế hợp tác khu vực rộng khắp m à A SEA N đề ra

có hiệu quả khôna

5 Đ ánh giá về các kết q u ả đã đạt được và kết lu ận

Từ khoảng năm 2010 tới nay, đã xuất hiện nhiều thách thức to lớn đối với hình thái kiến trúc an ninh khu vực CA -TBD đang trong quá trình định hình từ sau Chiến tranh lạnh, khiến kiến trúc an ninh khu vực hiện hành khó xử ỉý nổi, tạo ra nguy cơ đối với hòa bình, ôn định khu vực Trong thời gian tới, những thách thức này có chiều hướng phát triên phức tạp, khó luờng, bao gồm m ột số thách thức chính như sau:

(i) S ự troi dậy của Trung Quốc và cách hành x ử quyết đoán của nước này chính là

động lực quan trọ n s nhất đối với sự tiến triển của trật tự khu vực nói chung và kiến trúc an

Trang 10

ninh kiiu vưc C /\-T ĨjĐ nói ncng Băn thân Su hin.il thành kicn true ăn ninh khu Vlĩc trong thập kỷ 90 với các diễn đàn như ARF, ASEAN+3, hay việc thành lập EAS năm 2005, chẳng qua cũng nhằm can dự tập thể đối với một Trung Quốc đang trỗi dậy.

(ii) Quan hệ Trung-M ỹ, hai cường quốc hàng đầu ở CA-TBD, đã trở thành y êu tô

“định hình ” kiến trúc an ninh khu vực Châu Á-Thái Bình Dương Mặc dù trong trật tự đa

cự c-đ a tầng nấc ở khu vực còn nhiều nước lớn khác như Nhật Bản, An Độ, Nga, các cường quốc bậc trung như Hàn Quốc, ú c , nhưng quan hệ đối ngoại của các nước này cũng chịu ảnh hưởng sâu sac của yếu tổ Trung-M ỹ

Sự cạnh tranh gav gắt giữa các nước lớn ở CA-TBD, nhất là giữa Trung Quốc và Mỹ, đang đặt ra câu hỏi về tính bền vừng cũng như khả năng điều hòa lợi ích, quan hệ các nước lớn của kiến trúc an ninh khu vực Trong hai thập kỷ qua, kiến trúc an ninh khu vực CA- TBD vẫn cơ bản đủ khả năng điều hòa lợi ích các nước lớn, do sự cạnh tranh giữa họ với nhau chưa đến mức gay gắt Đen thời điểm hiện tại, quan hệ các nước lớn đã gia tăng sức ép mạnh mẽ chưa từng thấy lên các cơ chế khu vực, điều này đặt ra câu hỏi về tính hợp lý và

“sức chịu đựng” của các thể chế đa phương trong kiến trúc an ninh khu vực đến đâu?

(iii) Tranh chấp lãnh thổ, biển đảo, cụ thể ở biển Đ ông và biến Hoa Đông, đã trở thành

“hàn thử biểu” quan trọng trong cạnh tranh các nước lớn cũng như quan hệ giữa Trung Quốc với một số nước láng giềng chủ chốt Là các cơ chế xử lý xung đột khu vực nhưng các thể chế đa phương (ví dụ ARF) mới chỉ đang tiến triển ở mức độ đối thoại, hợp tác nhằm

“xây dựng lòng tin”, chưa đi vào triển khai “ngoại giao phòng ngừa” một cách thực chất, hiệu quả Hiện nay các tranh chấp đã phát triển đến mức xung đột “cường độ thấp” (ví dụ trong sự kiện giàn khoan HD-981), không loại trừ khả năng bùng nổ thành xung đột vũ trang quy mô toàn khu vực, nhưng các thể chế đa phương vẫn chưa sẵn sàng phát huy vai trò được kỳ vọng của mình là ngăn ngừa xung đột, duy trì ổn định

(iv) M ột số vấn đề an ninh p h ì truyên thống ở khu vực đã phát triên đên mức độ gay

gắt, đặc biệt là biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước, an ninh năng lượng, trở thành nguy

cơ thực sự đổi với an ninh và phát triển của các nước Sự cạnh tranh các nguồn tài nguyên

có tầm quan trọng sống còn chính là một trong các nguyên nhân gây căng thẳng, xung đột

I / U n X n X / f o r» /-^ ị ' ị o ó o r Ị â o t Ị r>v* i A t i r r f i V n n - Ị o n j i f r n r t f t p tV > ỊỊP (4 a ị rũ.iu VUV iVltiC u u C u s J vuii u c ail 1111 ill p iii liU ywi LiiVJiig, lUiig, ici vai vU uv iiiuv U-tiJ uui

thoại, họp tác trone các thể chế đa phương, nhưna tiến trình hợp tác thời gian qua chưa đủ

m ạnh để xử lý thỏa đáng các vấn đề nói trên

Trang 11

Chiểu hướng chink sách của các nước chủ ch ết đổi với việc xây dựng kiến trúc an ninh khu vực Châu Á -T hái Bình Dương

- Trung Quốc: Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc là một trong những đặc điểm chủ

yếu của cục diện thế giới từ sau Chiến tranh lạnh trở lại đây, nhưng chính cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính toàn cầu 2008-2009 đã đem lại cơ hội vàng cho Trung Quốc bứt phá, làm cán cân quyền lực toàn cầu chuyển dịch theo hướng có lợi cho Trung Quốc

M ục tiêu chiến lược không đổi của Trung Quốc là trở thành cường quốc hùng mạnh nhất thế giới, hiện thực hóa giấc mơ trăm năm của Trung Quốc là “nhất thế giới.” Đối với CTKV CA-TBD, Trung Quốc theo đuổi m ột khuôn khổ liên kết khu vực Đông Á (hoặc Châu Á) khép kín do Trung Quốc làm chủ đạo, gạt ảnh hưởng của Mỹ và các nước thân Mỹ Tầm nhìn của Trung Quốc về kiến trúc an ninh khu vực CA-TBD gồm hai tâng nâc, trong

đỏ hợp tác Đông Á (ASEAN+Trung Quốc; ASEAN+3; họp tác 3 bên Trung-Nhật-Hàn) chiếm vị trí trung tâm, còn vòng ngoài mới bao gồm Mỹ và các nước khác như Ấn Độ, ú c , Nga Đối với EAS, Trung Quốc coi EAS chỉ là cơ chế hỗ trợ cho ASEAN+3 trong công cuộc xây dựng cộng đồng khu vực ở Đông Á v ề kinh tế, Trung Quốc làm động lực chính thúc đẩy quá trình đàm phán RCEP làm nền tảng cho hội nhập kinh tế CA-TBD, không bao gồm M ỹ Ngoài ra, Trung Quốc rất coi trọng cơ chế Tổ chức họp tác Thượng Hải SCO cũng

do Trung Quôc năm vai trò chủ đạo ở Trung A

Từ cuối năm 2012 trở lại đây, quan hệ Trung-N hật xấu đi do vấn đề tranh chấp Senkaku và việc Trung Quốc thiết lập Vùng nhận diện phòng không (ADIZ) trên biển Hoa Đông, khiến quan hệ hợp tác giữa hai cường quốc ở Đông Bắc Á bị tổn hại nghiêm trọng Chính mâu thuẫn chiến lược Trung-Nhật-Hàn đã khiến hợp tác tiểu khu vực Đông Bấc Á bị neư na trệ Do vậy, có dấu hiệu cho thấy T runs Quốc không còn mặn m à với cơ chê ASEAN+3 mà chính Trung Quổc từng ra sức cổ vũ Thay vào đó, Trung Quốc tăng cường

cơ chế ASEAN+1 (Trung Quốc), đưa ra hàng loạt sáng kiến nhằm thắt chặt quan hệ với

ASEAN như “Khuôn khổ hợp tác 2 + 7 ”, “H iệp ước ASEAN-Trung Quốc về Quan hệ lảng

giềng tốt, Hữu nghị và Hợp tác ”, sáng kiến “Con đường tơ lụa trên biển ”, đàm phán nâng cấp K hu vực mậu dịch tự do ASEAN -Trung Quoc (CAFTA), Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng Châu Á (AIIB) v.v Tuy số lượng sáng kiến của Trung Quốc rất nhiều nhưng hầu hết

đều chưa có nội hàm rõ ràng, mục đích lại mập mờ, chính vì vậy cho đến nay các nước Đông Nam Á đều dè dặt trước làn sóne “tấn công mê hoặc” (charm offensive) này của

Trang 12

Tiling Quôc Điêm đáng lưu ý ỉà mặc d’u ban đâu m ội sô sáng kiên được rru n g Q uôc nêu ra

với A SEA N với tư cách cả khối, nhung về sau Trung Q uốc sẵn sàng theo đuối các sáng kiến này với từng nước A SE A N một

- M ỹ: Mục tiêu xuyên suốt của M ỹ là duy trì vĩnh viễn vị thể cường quốc số 1 thê giới,

ngăn ngừa bất cứ quốc gia hoặc thế lực nào nổi lên thách thức vai trò sô 1 của M ỹ, đông thời duy trì trật tự thế giới hiện hành dựa trên các giá trị m à Mỹ và đồng m inh đã dày công xây dựng từ hàng thập kỷ nay Tuy nhiên, M ỹ phải đối diện với m ột thực tế là sức m ạnh của

Mỹ đã suy giảm tương đối; Mỹ tiếp tục phải đối phó với các m âu thuẫn xung đột dai dẳng ở Trung Đông, vấn đề U kraine, vấn đề Triều Tiên ; đồng thời sự tùy thuộc lẫn nhau về kinh

tế giữa M ỹ và Trung Q uốc lại chặt chẽ hơn bao giờ hết Trong bối cảnh đó, chính quyền Obama tiếp tục triển khai chiến lược “tái cân bằng” ở CA -TBD nhưng có những điều chỉnh nhất định so với nhiệm kỳ I, đó là chuyển sang ủng hộ các đồng minh chủ động, tích cực

“chia sẻ trách nhiệm ” với Mỹ Gần đây nhất, T ổng thống O bam a đã có chuyến công du tới Châu Á vào tháne 4/2014 tăng cư ờne quan hệ với các nước đồng m inh truyền thống, các nước đổi tác mới và trấn an các nước khu vực vốn lo ngại về tính nhất quán của chiên lược

“tái cân bàng” của Mỹ

Đối với việc xây dựng kiến trúc an ninh khu vực CA -TBD , m ột điểm nhấn trong chiến lược “tái cân băng” của chính quyên O bam a, Mỹ thúc dây xây dựng kiên trúc an ninh khu vực theo hướng khẳng định vai trò trụ cột, không thể thiếu của M ỹ và các đồng m inh, tiếp tục ưu tiên các liên m inh song phương nhưng ngày càng coi trọng các thể chê đa phương Chiến lược An ninh Q uốc gia 5/2010 của M ỹ nêu rõ liên minh với N hật Bản, Hàn Q uốc, ú c , Philippines và Thái Lan là nền tảng cho sự thịnh vượng ở Châu Á - Thái Bình D ương Đ ánh giá Quốc phòng 2/2010 của M ỹ cũng nêu rõ M ỹ cần phát triển các moi quan hệ chiến lược mới với các nước mới nổi như Indonesia, M alaysia B ên cạnh đó, M ỹ thúc đấy chủ nghĩa

đa phương theo hướng xây dựng kiến trúc khu vực dựa trên luật lệ quốc tế, thông qua các cơ chế hợp tác sẵn có của khu vực Chính quyền O bam a đã tham gia TA C và coi trọng vai trò của ASEA N trong kiến trúc an ninh khu vực Tuy M ỹ không có ý định thiết lập m ột kiến trúc an ninh mới với các thiết chế m ới, nhưng M ỹ chỉ chú trọng những the chế m à M ỹ có tiềm năng nổi trội, nhất là EAS và TPP M ỹ coi Quan hệ đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) là m ột m ô hình hợp tác kinh tế đa phương kiểu mới do M ỹ lãnh đạo, lôi kéo các đồna m inh và các nước vừa và nhỏ tham sia, gạt Trung Quốc ra khỏi tiến trình này

11

Trang 13

- N hật Bản, Ấn Độ và Nga: N hật Bản coi liên minh Mỹ - Nhật !à nền tảng cho hòa

bình, ổn định khu vực, là xương sống của kiến trúc an ninh CA-TBD Trước tình hình Trung Quốc lớn mạnh vượt bậc và hành xử quyết đoán ở quần đảo Senkaku, Nhật Bản đề ra Chiến lược an ninh quốc eia mới năm 2013, tiến hành giải thích lại điều 9 Hiến pháp theo hướng khẳng định “quyền phòng thủ tập thể” với Mỹ Bên cạnh đó, Nhật tăng cường quan hệ đặc biệt với Úc, Ấn Độ và đẩy mạnh quan hệ với ASEAN nhằm đổi lại ảnh hường ngày càng tăng của Trung Quốc N hật Bản lo ngại Trung Quốc khống chế khu vực Đông Nam Á sẽ kiểm soát con đường vận tải huyết mạch về năng lượng và thương mại của Nhật Tuy nhiên, hợp tác đa phương của N hật Bản với ASEAN luôn ở thế đổi phó, chậm chân hơn so với các sáng kiến của Trung Quốc Do lo ngại Trung Quốc chiếm vai trò bá chủ ở Đông Á, Nhật Bản đồng thời thúc đẩy các cơ chế đa phương có sự tham gia của Mỹ và các nước ngoài khu vực như EAS, APEC, TPP Nhật Bản đóng vai trò cân bằng giữa hai bờ Thái Bình Dương trong kiến trúc an ninh khu vực, là cấu nổi cho sự tham gia của Mỹ vào hợp tác đa phương ở

Đ ông Á Gần đây nhất, trong diễn văn phát biểu tại Diễn đàn Shangri-la 5/2014, Thủ tướng

N hật Shinzo Abe đã nhấn mạnh tầm quan trọng của luật pháp quốc tế và vai trò của EAS trong kiến túc an ninh khu vực

Sự trỗi dậy của Ắn Độ về kinh tế và chính trị thời gian qua cũng diễn ra ấn tượng

không kcm gì Trung Quốc Là một nước Nam Á nhưng Án Độ tích cực thi hành “chính sách hướng Đ ông”, tự coi mình là bộ phận không thể tách rời của kiến trúc an ninh khu vực CA- TBD, coi các nước CA-TBD là “láng giềng mở rộng” của mình Ắn Độ coi trọng khái niệm

Ấn Đ ộ-TBD (ĩndo-Pacifĩc) hơn là CA-TBD Để đối phó lại với sức ép của Trung Quốc, Ấn

Độ thúc đẩy quan hệ “đối tác chiến lược” với Mỹ và các nước như Nhật, ú c , từ đó manh nha hình thành “liên minh dân chủ Châu Á ” (hav “tứ eiác nhốt rồng”) khône chính thức bao gồm 4 nước Mỹ - Án - Nhật - ú c được cho là để kiềm chế Trung Quốc Ẩn Độ coi trọng các cơ chế hợp tác đa phương do ASEAN làm trung tâm, đặc biệt là EAS do Án Độ là một trong nhữne thành viên sáng lập, đồng thời là mối dây quan trọng nhất găn kêt An Độ với

CA -TBD, Tuv nhiên, liên kết kinh tế eiữa Ấn Độ với các nước khu vực vẫn còn ở mức độ rất hạn chế, cho đến hiện nay Ắn Độ vẫn chưa phải là thành viên APEC và TPP

Nga luôn nhấn mạnh mình là một cường quốc Thái Bình Dương nhưng sự can dự cũng

như ảnh hưởng của Nga ở khu vực khiêm tốn hơn so với các cường quốc khác Trong những năm £ần đây Nga mới thúc đẩy quan hệ với ASEAN và được chấp nhận gia nhập EAS từ

12

Trang 14

năm 2010, nhưng từ đó đên nay Tông thông Nga chưa hê tham uự EAS Mặc dừ vậy Nga vẫn là m ột nhân tổ không thể thiếu ở Châu Á - Thái Bình Dương, đóng vai trò cân bằng giữa Trung Quốc và Mỹ.

Tuy vai trò khiêm tốn như vậy nhưng N ga vẫn tích cực đưa ra m ột số sáng kiên thúc đẩy xây dựng kiến trúc an ninh khu vục CA-TBD Từ năm 2012, Nga đưa ra sáng kiến về

“các nguyên tắc khuôn khố cho việc tăng cường hợp tác an ninh ở khu vực Châu A-Thái Bình D ư ơ n g ” tại c ấ p cao EAS 7, trong đó coi TAC và Tuyên bổ EAS 2011 về các nguyên

tắc quan hệ cùng có lợi làm nền tảng Sáng kiến này của Nga được Trung Quốc và Brunei đồng bảo trợ, tuv nhiên cho đến nay vẫn chưa triển khai xây dựng được trên thực tế

- ASEAN: ASEAN có mục tiêu xây dựng kiến trúc an ninh khu vực CA-TBD dựa trên

“phương cách ASEAN5' và các nguyên tắc cơ bản của khối đê duy trì hòa bình, ôn định đê phát triển ASEAN ủne hộ một kiến trúc an ninh đa tầng nấc, dựa trên các tiến trình hợp tác khu vực hiện có, bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau Trong kiến trúc an ninh đó, ASEAN giữ vai trò

là trung tâm và động lực chính Theo quan điểm của các nước ASEAN, vai trò trung tâm của A SE A N trong cấu trúc khu vực là điều kiện cần thiết để bảo đảm độc lập, chủ quyền, duy trì môi trường hòa bình, ổn định để phát triển cho các nước khu vực, đặc biệt là các nước vừa và nhỏ Để hoàn thành mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN, ASEAN cũne ủng

hộ quan hệ hài hòa giữa các cường quôc và tạo điêu kiện cho các cường quôc dóng góp tích cực vào việc xử lý các vấn đề liên quan đến hòa bình và ổn định ở khu vực

M ặc dù bề ngoài các nước ASEAN đạt được nhận thức chung về vai trò trung tâm của

A SEA N trong kiến trúc an ninh khu vực CA-TBD, nhưng từng nước thành viên ASEAN cũng có quan điểm riêng đối với kiến trúc an ninh này Ví dụ, Indonesia gần đây đã đưa ra

đề xuất về “Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác ở Án Đ ộ-Thái Bình D ương ”, với ý tường là mở

rộng H iệp ước TAC của ASEAN và Tuyên bố EAS 2011 ra toàn khu vực Ấn Độ Dương và Thái B ình Dương rộng lớn, trong đó Indonesia coi mình đứng ở vị trí trung tâm của hai đại dương Tổng hợp lại, khái niệm Ân Đ ộ-Thái Bình Dương (về địa lý rộng hơn khái niệm

C A -TB D ) đến nay đã được 4 nước ủng hộ là Mỹ, Ấn Độ, ú c và Indonesia, do phù hợp hơn với tầm nhìn chiến lược của họ

Triển vọng p h á t triển của kiến trúc an ninh khu vực Châu Á -Tỉĩải Bình Dương

D ựa trên việc đánh giá các nhân tố tác độne và chính sách của các nước chủ chôt đôivới kiến trúc an ninh khu vực, có thể dự liệu một số kịch bản phát triển của kiến trúc an ninh

13

Trang 15

khu V ưc CÁ -TBD trong 10-15 năm tới Các kịch bản được thict lộp dựâ trcn bicn thisn của nhân tố chi phổi m ạnh nhất đối với kiến trúc an ninh khu vực CA -TBD : quan hệ các nước lớn Theo đó, hình thái của kiến trúc an ninh khu vực CA -TBD trong tương lai sẽ tương ứng với sắc thái quan hệ các nước lớn ở khu vực nói chung và tại các thể chê đa phương nói riêng Nói cách khác, cạnh tranh và hợp tác giữa các cường quốc trong các thế chế đa phương sẽ là yếu tổ quyết định chiều hướng phát triển của kiến trúc an ninh khu vực Tuy nhiên, điều này không phủ nhận vai trò của các nước tầm trung và tập hợp các nước nhỏ trong việc góp phần định hình kiến trúc an ninh khu vực.

Kịch bản 1: Kiến trúc an ninh khu vực vẫn tiếp tục tiến triển tiệm tiến n hư xu hướng 20 năm qua

Điều kiện để xảy ra kịch bản 1 là các nhân tố tác động tới kiến trúc an ninh khu vực vẫn tiếp tục diễn biển theo xu hướng 20 năm qua; các chủ thể chính trong kiến trúc an ninh khu vực không thay đổi chính sách m ột cách cơ bản; phân bổ quyền lực không có biến động lớn, quan hệ các nước lớn dần đi vào khuôn khổ ổn định Ví dụ, Trung Quốc và M ỹ xây dựng được khuôn khổ đối thoại và hợp tác song phương ổn định, thể hiện qua mô hình

“ quan hệ nước lớn kiểu m ới”, các cuộc Đ ối thoại K inh tế và Chiến lược (S& ED ) thường niên bắt đầu từ năm 2009 và nhiều cơ chế song phương khác Hai nước vẫn hợp tác tốt trong các thể chế toàn càu và khu vực, ví dụ như Hội đồng Bảo an LHQ, dể giải quyết những vấn

đề quốc tế mà khôn2 nước nào có thể tự m ình đảm đương nổi

Theo kịch bản này, từ nay đến năm 2030, các thể chế đa phương ở CA -TBD vẫn tiếp tục duy trì và tiến triển như hai thập kỷ trở lại đây K iến trúc an ninh khu vực sẽ không có

sự thay đổi đột biến m à vẫn sẽ phát triển tiệm tiến, vẫn tiếp tục giữ những đặc điểm cố hữu như chồng chéo, ít hiệu quả, phân cô n s lao động không rõ ràng Trong đó, vị trí '‘người câm lái” của ASEA N tiếp tục được các nước lớn thừa nhận, nhưng chỉ trên danh nghĩa chứ không thực chất Các nước lớn m ặc dù không thỏa mãn với hiện trạng kiến trúc an ninh khu vực, nhưng không tìm được sự thay thế khả dĩ, phải chấp nhận thực trạng như thời gian qua

T uy nhiên, kịch bản này có khả năng không cao do cục diện và quan hệ quốc tê ở khu vực đang bước vào m ột giai đoạn m ới, trong đó cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn có

xu hướng gay gắt hơn; sự điều chỉnh chiến lược cửa các nước lớn ở CA -TB D là cơ bản, lâu dài chứ không phải tạm thời Đ iều này khiến cho kiến trúc an ninh khu vực ở vào m ột bước ngoặt ít khả năng tiếp tục kéo dài tình trạng “bùng nhùng” như 20 năm qua A SEA N và

Trang 16

Việt Nam cần sẵn sàng cho một sự thay đổi trong kiến trúc an ninh khu vực chứ không thể

cổ gắng duy trì nguyên trạng kiến trúc an ninh trước những biến đổi mạnh mẽ của tình hình Thậm chí, các nỗ lực duy trì nguyên trạng kiến trúc an ninh có thê khiến kiến trúc này đô vỡ

do không đáp ứng nổi các thách thức an ninh đang nổi lên

Kịch bản 2: Kiến trúc an ninh khu vực p h á t triến theo hướng lay EAS làm khuôn khô hợp tác bao trùm

Điều kiện của kịch bản này là mặc dù cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gất nhưng họ vẫn duy trì các kênh họp tác với nhau, nhất là tại các diễn đàn đa phương Thực tế, tất cả các nước lớn đều có nhu cầu thúc đẩy hợp tác đa phương đế loại trừ nguy cơ xung đột bùng phát giữa chính họ với nhau, đe dọa đến hòa bình và phát triển kinh

tế của toàn khu vực M ặt khác, trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt hiện nay thì tăng cường hợp tác giữa các nước lớn (Trung-M ỹ) cũng chỉ có mức độ, khó có thế dẫn đên “câu kết”các nước lớn trong các diễn đàn đa phương

Theo kịch bản này, EAS có xu hướng trở thành cơ chế bao trùm để đối thoại và hợp tác

về các vấn đề khu vực CA-TBD, nhất là các vấn đề chiến lược, chính trị-an ninh Nói cách khác, EAS sẽ đóng vai trò làm khuôn khổ cho hình thái kiến trúc an ninh khu vực CA-TBD trong tương lai Ngay tại thời điểm hiện nay, sự cần thiết phải củng cố, tăng cường và triển khai các nội dung thảo luận của Lãnh đạo EAS đã được thừa nhận bởi tất cả các thành viên

N hư trên đã phân tích, việc thúc đẩy cơ chế EAS được tất cả các nước lớn ủng hộ mạnh mẽ,

kể cả Trung Quốc tuy không hài lòng nhưng cũng không phản đối Dự báo đến khoảng năm

2020, EAS nhiều khả năng sẽ tiến triển thành một cơ chế đổi thoại và họp tác thực chất với thiết chế bộ máy ban đầu, có Tầm nhìn dài hạn, mở đường cho giai đoạn hợp tác xa hơn Trong thời eian tới, EAS sẽ hoàn thiện và triển khai Chương trình hành động trong 6 lĩnh vực hợp tác ưu tiên, thăm dò khả năng hợp tác trone nhiều lĩnh vực quan trọnơ khác Do EAS bao gồm nhiều nước lớn nên quan điểm của EAS về các vấn đề quốc tế như G20,

W TO, Trung Đông, Châu Âu, Liên Hợp Quốc được cộng đồng quốc tế coi trọng, và do vậy EA S nhiều khả năng sẽ trở thành một trong những thiết chế quan trọng trong nền quản trị toàn cầu, vượt khỏi khuôn khổ của một diễn đàn khu vực CA-TBD

Cũng theo kịch bản này, các thể chế khu vực khác sẽ chịu sự chi phối ngày càng mạnh của EAS, có thể được EAS phân công lao động trong kiến trúc an ninh khu vực dưới khuôn

Trang 17

khổ bao trùm của EAS AĐM M +, thể chế có thành viên tham gia khớp với EAS (18 nước

“cốt lõi”), có khả năng trở thành cơ chế triển khai thực hiện những quyết định của EAS về hợp tác chuyên môn về an ninh-quốc phòng Mặc dù hiện nay các cơ chê kết nôi giữa EAS

và ADM M + vẫn chưa đầy đủ nhưng xu hướng EAS tiến đến “chỉ đạo” ADM M + là khó tránh

Diễn đàn ARF có xu hướng suy giảm vai trò do c ấ p cao EAS đã có Hội nghị Ngoại trường EAS riêng biệt, họp hàng năm song song với Hội nghị ARF Hiện nay ARF bị cho là

cơ chế hoạt động ít hiệu quả nhất trong số các bộ phận cấu thành của kiến trúc an ninh khu vực Đã hơn 20 năm kể từ khi thành lập m à ARF vẫn chưa thực sự bước vào giai đoạn II

“ngoại giao phòng ngừa” (kể từ khi có Kế hoạch hành động về Ngoại giao phòng ngừa năm

2011 đến nay thì ARF vẫn chưa triển khai được bao nhiêu) Nếu như ARF không sớm đi vào triển khai thực chất “ngoại giao phòng ngừa” mà vẫn dậm chân ở giai đoạn “xây dựng lòng tin” thì khả năng mất vai trò rất cao, bởi vì các cơ chế khác như EAS, ADM M+ có khả năng và lợi thế xây dựng lòng tin, thúc đẩy hợp tác mạnh hơn ARF M ột trong những khó khăn của ARF là thành phần tham gia quá rộng, hiện nay ARF có tới 27 thành viên, trong

đó có 9 nước không phải thành viên EAS, bao trùm lên một khu vực địa lý rất rộng từ Nam

Á đến Châu Âu, Bắc Mỹ, vấn đề của tiểu khu vực này chưa chắc đã là ưu tiên của tiểu khu vực khác và ngược lại Do vậy, nhiều khả năng vai trò của ARF dừng lại ờ khía cạnh đôi thoại giữa các nước ASEAN hoặc EAS với các tiểu khu vực xung quanh

Kịch bản kiến trúc an ninh khu vực như trên chủ yếu sẽ tác động tích cực đối với quan

hệ quốc tế ở khu vực, do kiến trúc an ninh khu vực được xây dựng trong khuôn khô EAS sẽ duv trì được cam kết của các nước lớn và giúp điều hòa quan hệ giữa các nước lớn ở khu vực; đồng thời kiến trúc an ninh khu vực trong khuôn khổ EAS có thể bền vững hơn, toàn diện hơn, hoạt động hiệu quả hơn trong việc thúc đẩy hòa bình, ổn định khu vực Việc EAS được tăne cườna cũna hạn chế kịch bản G2 (“đồng thuận W ashington-Bắc K inh”) do trong EAS còn có sự tham gia tích cực của nhiều nước chủ chốt khác như N hật Bản, Ấn Độ, Nga - những nước này đều khône muốn kịch bản “câu kết” Trung-M ỹ xảy ra Tuy nhiên, việc EAS từng bước được thể chế hóa sẽ gây ra thách thức nhất định đối với vai trò trung tâm của ASEAN, buộc ASEAN phải tăng cường liên kết nội khối, giữ cân băng quan hệ đôi ngoại, tránh để các nước lớn thâu tóm các vấn đề khu vực

16

Trang 18

K i c h b ũ ỉ ĩ 3 K i ê ỉ ĩ t v u c ũ ì ĩ n i n h k h u v ự c b ị c h i ữ K6 , p h a n ỉY iQ n h ỉ h ẽ G \'UTÌ £ CiVíhi h i r ơ ĩ ĩ Ị Ị c u ữ c á c

nước lớn

T rone trường họp mâu thuẫn Trung - Mỹ phát triển đến mức đối kháng, hai nước đâu tranh căng thẳng trong mọi lĩnh vực, loại trừ hợp tác trong các diễn đàn đa phương, kiến trúc an ninh khu vực nhiều khả năng bị chia rẽ, phân mảnh Các liên minh song phương của

Mỹ với Nhật, Philippines, ú c và phần nào Ấn Độ được tăng cường mạnh mẽ, đồng thời Mỹ ráo riết tìm kiếm các đồng minh, đối tác mới để kiềm chế Trung Quốc Trung Quốc cũng ra sức tăng cường ảnh hưởng ở các khu vực ngoại vi, củng cố trục N ga-Trung và SCO, để loại trừ ảnh hường của Mỹ và đồng minh Do bất đồng sâu sắc giữa các nước lớn nên các nước vừa và nhỏ trong ASEAN buộc phải lựa chọn bạn - thù, dẫn đến hệ quả là các thể chế đa phương bị tê liệt

Theo kịch bản này, ASEAN bị chia rẽ, không giữ được đoàn kết nội khối cũng như vai trò trung tâm trong kiến trúc an ninh khu vực Các diễn đàn đa phương như EAS, ARF,

AD M M +, ASEAN+3 đều không có tiến triển đáng kể, chủ yếu hoạt động cầm chừng và trở thành chiến trường đấu tranh ngoại giao hơn là diễn đàn hợp tác Riêng cơ chê

A SEA N +Trung Quốc, vốn được Trung Quốc đặc biệt “ưu ái”, vẫn có khả năng phát triển nhanh chóng dưới sự bảo trợ của Trung Quốc Như vậy, thông qua một ASEAN chia rẽ và

bị Trung Quốc chi phối từng nước một, Trung Quốc có khả năng thao túng một kiên trúc an ninh khu vực mang tính loại trừ, lấy Trung Quốc làm trung tâm, cạnh tranh với mạng lưới song phương do M ỹ đứng đầu

Hình thái kiến trúc an ninh khu vực như trên sẽ làm tồi tệ thêm môi trường an ninh chiến lược ở khu vực vốn đã căng thẳng do cạnh tranh song phương giữa các nước lớn Tình hình này sẽ đặt các nước vừa và nhỏ trong ASEAN vào thể bẩt lợi nhất do không giữ được đoàn kết, không thể có được lập trường chung trước Trung Quốc và các nước lớn Các nước thành viên ASEAN lúc đó sẽ mâu thuẫn lẫn nhau, chia phe cánh theo vùng ảnh hưởng các nước lớn và Cộng đồng ASEAN chỉ còn trên danh nghĩa

Trong số 3 kịch bản kiến trúc an ninh khu vực CA-TBD đến năm 2030 nói trên thì kịch bản 2 nhiều khả năng xảy ra nhất; kịch bản 1 và 3 tuy khả năng xảy ra thấp hơn nhưng vẫn

là các kịch bản hiện thực Mỗi kịch bản có chiều hướng tác động khác nhau đối với quan hệQUÔC tô ở khu vưc, đôi với các nước A.SEA.N và Viet Num Chinh VI VQY, trong khi hoụch định chính sách theo xu hướng kịch bản 2, các nước vừa và nhỏ đều phải chuấn bị sẵn sàng

úm 2 phó với cả 3 kịch bản nói trên ĐAI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘ!

TRUNG TẦM THÕNG TIN THƯ VIỆN

£ C ũ £ ú ỉ 2 ũ ũ M L

17

Trang 19

6 Tóm tắ t k ếí q u ả (tiếng Việt và tiếng Anh)

Dựa vào nguồn tài liệu phong phú, đa dạng và chủ yếu của nước ngoài, nghiên cứu này

đã tập trang phân tích ỉàm rõ khái niệm kiến trúc an ninh khu vực Châu Á-Thái Bình

D ương, trong đó nhấn m ạnh vai trò của A SEA N và các nước lớn trong tiến trình định hình

m ột kiến trúc an ninh mới của khu vực, từ đó đưa ra dự báo về m ột sổ kịch bản trong tương lai, góp phần gợi ý chính sách cho V iệt N am

Based on rich and diverse sources, com ing m ainly from abroad, this project has analysed and made clear the term “security architecture o f A sia-P acific region” w hereby

A SE A N and big pow ers have play an im portant decisive role for shaping a new em erging security architecture o f the region, and predicted some scenarios in the future, and provided som e policy recom m endations for V ietnam

PH Ầ N III SẢN PH ẨM , CÔ N G BỐ V À K ÉT QUẢ Đ À O T Ạ O C Ủ A ĐÊ TÀI

3.1 Kết quả nghiên cứu

TT Tên sản phẩm

Yêu cầu khoa học hoặc/và chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật

sán phăm)

Ghi địa chỉ

và cảm OT1

sự tài trợ của

ĐHQGHN đúng quy định

Đánh giá chung

(Đạt, không đạt)

1i Công trình công bô trên tạp chí khoa học quôc tê theo hệ thông IS'/Scopus

1.1 Pham Quang MinhHASEAN

Indispensable Role in Regional

Construction// Asia - Pacific review

Vol.22, No.2, November 2015, pp82-

101//Routledge, ISSN 1343-9006

1.2

18

Trang 20

- - ■ - - - ' > 1 H

Sách chuyên khảo được xuât bản hoặc ký họp đông xuât bản

2.1 Kiên trúc an ninh khu vực Châu A-

Thái Bình Dương: Thực trạng và triển

4 Chương sách công bô quôc tê không thuộc hệ thông ISI/Scopus

4.1 Pham Quang Minhllln the Crossfire:

Vietnam and Great Powers in the

Emerging East Asian Security

5 Bài báo trên các tạp chí khoa học của ĐHQGHN, tạp chí khoa học chuyên ngành

quốc gia hoặc báo cáo khoa học đăng trong kỷ yếu hội nghị quốc tế

5.1 Phạm Quang Minh// Nhìn lại chỉnh

sách Đổi ngoại thời kỳ Đổi mới của

Việt Nam đôi với khu vực tìông Nam

Cột sản phẩm khoa học công nghệ: Liệt kẽ các thông tin các sản phẩm KHCN theo thứ tự

<tên tác giả, tên công trình, tên tạp chỉ/nhà xuất bản, số phát hành, năm phát hành, trang đăng công trình, mã công trình đăng tạp chí/sách chuyên khảo (DOI), loại tạp chỉ ISI/Scopus>

- Các ồĩĩ nhóm kb.nG học fhàỉ bán háo cáo KH sách, chuyêỉi khảo í chi đưo'C chân nhân nêu

có ghi nhận địa chỉ và cảm ơn tài trợ của ĐHQGHN theo đủng quy định.

Bàn p h ô tô to à n văn c á c an p h ã m n à y p h à i đ ư a v à o p h ụ lụ c c á c m in h c h ứ n g c ù a b á o c á o R iê n g

sá c h ch u yên k h ả o c ầ n c ó bán p h ô tô bìa, tr a n g đ ầ u v à tr a n g c u ố i c ó g h i th ô n g tin m ã s ố x u ấ t bàn.

19

Trang 21

3.3 Kêí quả đào tao

TT Họ và tên

Thòi gian và kinh phí tham gia đề tài

(sổ tháng/so tiền)

Công trình công bố liên quan

(Sản phẩm KHCN, luận án, luận văn)

Đã bảo vệ

Nghiên cứu sinh

1 Trân Bách Hiêu 16 tháng/56tr Luận án Tiên sĩ Lịch sử Đã bảo vệ

2 Trân Thị Thuý Hà 4 tháng/14tr Luận án Tiên sĩ Lịch sử Đang chờ

bảo vệ cấp Nhà nước

3 Phạm Hoàng Tú Linh 4 tháng/14tr Luận án Tiên sĩ Đông Nam A học Đang phản

biện kínHọc viên cao học

1

G hi chú:

Gửi kèm bủn photo trung bìa luận átv' luận văn/ khóa luận và bằng hoặc giấy chủng nhận nghiên cứu sinh/thạc sỹ nếu học viên đã bảo vệ thành công luận án/ luận văn;

Cột công trình công bo ghi như mục III 1.

PHẦN IV TỔNG HỢP KÉT QUẢ CÁC SẢN PHẨM KH&CN VÀ ĐÀO TẠO CỦA ĐÊ TÀI

đăng ký

Sô lưọiig đã hoàn thành

1 Bài báo công bô trên tạp chí khoa học quôc tê theo hệ thông

5 Sô lượng bài báo trên các tạp chí khoa học của ĐHQGHN,

tạp chí khoa học chuyên ngành quốc gia hoặc báo cáo khoa

học đăng trong kỷ yếu hội nghị quốc tế

6 Báo cáo khoa học kiên nghị, tư vân chính sách theo đặt

hàng của đơn vị sừ dụng

7 Kêt quả dự kiên được ứng dụng tại các cơ quan hoạch định

chính sách hoặc cơ sở ứng dụng KH&CN

20

Trang 22

2 Hội nghị, Hội thào, kiêm tra tiên độ, nghiệm

thu

3 In ân, Văn phòng phàm, sách chuyên khảo 43 43

B Chi phí gián tiếp

1 Quàn lý phí và thù lao trách nhiệm 25 25

PHẦN V KIÊN NGHỊ (về phát triển các kết quả nghiên cứu của đề tài; về quàn lý, tô

chức thực hiện ở các cap): Không

PHÀN VI PHỤ LỤC (minh chứng các sàn phẩm nêu ở Phần III)

ì Bản thảo sách chuyên kháo

2 X á c n h ậ n c ủ a N X B T h ế g i ớ i

3 Bài báo quốc tê đăng trên tạp chí SCOPUS

4 Chương sách quốc tế in trong sách do NXB Palgrave McMillan in

5 Bài đãng trên tạp chí trong nước

Trang 23

PHỤ LỤC 1: BẢN THẢO SÁCH CHUYÊN KHẢO

Trang 24

® ÍỈM ỉ f Hí* ỉi ì 'íHHÀ HUflT Bản THE Blứi

Hà Nội, ngày 23 tháng 5 năm 2016

GIÁY XÁC NHẬN

N hà xuât bản T hế Giới xác nhận đã nhận đưọ’c bản thảo cuôn sách

“Quá trình hình thành kiến trúc an ninh m ở ỉ của khu vực C hâu Ả - Thái Bình

D ương và tác đ ộ n g đ ô i với Việt N a m ” của PGS TS Phạm Q uang Minh

Nhà xưât bản Thê G iới sẽ xuât bản cuốn sách này sau khi tiến hành các công doạn biên tập hoàn chinh Sau khi in, cuốn sách sẽ được p h át hành qua hệ thốna các kênh và đại lý phát hành của N hà xuất bản Thế G iói trên toàn quốc

GIÁ M ĐÔC K IÊ M T Ố N G BIÊN TẬP

Trang 25

PHẠM QUANG MINH

KIẾN TRÚC AN NINH KHU v ự c CHÂU Á- THÁI BÌNH DƯƠNG THựC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG • • •

N hà xuât bản Thê giới

Trang 26

PHỤ LUC 2: BÀI BÁO QUÓC TÉ ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ SCOPUS

Trang 27

Japan Seventy Years after World War II: From a Challenger

to a Supporter o f the International Order

Historical Memories and Security Legislation: Japan’s Security Policy

under the Abe Administration

ASE A N ’s Indispensable Role in Regional Construction

Trang 28

In order to achieve this objective, the paper is divided into three parts The first part will analyze the major obstacles to the building of a constructive new China- Japan relationship akin to the post-World War II (WWII) ties between France and Germany The second part analyzes the pivot to Asia by the United States to consolidate its role as regional facilitator The third part shows why ASEAN can take the lead as a driving force or catalyst in fostering regional cooperation, because as mentioned above neither China nor Japan can do it at this stage.1

The paper concludes that despite the fact that ASEAN still faces many weak­ ness and limitations, it continues to serve as a central player in an emerging archi­ tecture where, so far, no new alternative has appeared In order to do so, it requires all powers to strengthen confidence building measures.

The main challenge for East Asia regionalism: Sino- Japan competition

A number of factors account for the complicated circumstances in the East Asian region (Northeast and Southeast Asia).2 Among other things, the East Asian region has historically been an arena for competition between the region’s two leading states, namely China and Japan.3 China and Japan faced three major pro­ blems in building a constructive new relationship akin to the post-World War II ties between France and Germany: Fừst, Beijing and Tokyo hold two very differ­ ent perceptions of Japan’s aggression in China during the Second World War; second, the two still face territorial disputes over the Senkaku (Diaoyu) Islands; and thừd, Japan’s alliance with the u s , which complicates China’s unfulfilled national goal to achieve unification with Taiwan and otherwise serves to counter and contain China’s pursuit of its regional ambitions Absent Sino-Japa­ nese cooperation, East Asian regional integration is unlikely to be feasible in the near future.

Since the end of the Cold War around the end of the 1980s and the early 1990s, there were tremendous changes in Southeast Asia politics After withdra­ wal of the United States and Soviet Union military forces from Southeast Asia, a

A S E A N ’s Indispensable Role in Regional Construction

Trang 29

Quang M inh Pham

power vacuum situation has appeared in the region This provided an opportunity for the regional powers like China and Japan to fill up this vacuum A competition for influence in Southeast Asia between the two countries was launched While Japan had established dialogue partnership relations with ASEAN as early as the 1970s, China did not seek to establish its relations with ASEAN until the 1990s However, one can observe the contrast between the rapid development

in China’s relations with ASEAN on the one hand and the lack of advancement

in Japan’s policy toward ASEAN, on the other hand If China was so active and intensive in promoting a multilateral relationship based on an expanded area of cooperation with the whole region, Japan seemed to be more passive and less interested in relations with ASEAN But the situation has changed, especially since Japan changed its policy toward the Senkaku Islands, called Diaoyu in Chinese.

In general, China’s policy toward East Asia can be divided into three periods: 1991-1997; 1997-2000; and from 2000 to the present The first period was characterized by distrust from Southeast Asia facing expansion of Chinese influ­ ence ASEAN had a reason to believe in the so-called “China threat” when China issued a law on territorial waters and published a map including territories of neighboring countries.4 China and Vietnam, and China and the Philippines, clashed several times regarding the sovereignty of the Spratly Islands.5 Despite this fact, China became a full dialogue partner of ASEAN in 1996 In the same year, the ASEAN-Beijing Committee was launched.6

The year of 1997 was a turning point in China’s policy toward ASEAN due to the Asian financial crisis which pushed both sides to enter a new phase of cooperation based on a new mechanism The year 1997 was the launch of the first China-ASEAN Leadership Summit, which became since then an indispensa­ ble annual event In order to strengthen cooperation between China and ASEAN and to coordinate the activities of different bodies established previously, and to put them under one umbrella, the ASEAN-China Joint Cooperation Committee (ACJCC) was created in February 1997 In fact, the ACJCC plays the role of coor­ dinator of dialogue and cooperation between the two entities, with a focus on human resources development and personnel and cultural exchanges.7 To assist the activities of ACJCC, China contributed US$700,000 in 1997 To further its cooperation with ASEAN, China contributed US$500 million more in 2000.8

The beginning of the 21st century marked a new phase of China’s policy toward ASEAN In contrast to the two first periods, the focus of the third one was put on security issues After several years of clashes and negotiations, in November 2002, China and ASEAN signed the “Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea.” To date, the “Declaration on the Conduct” is con­ sidered the most important success in the field of security that all parties could achieve, and serves as the only instrument to stabilize the situation in one of

Trang 30

A SE A N 's Indispensable Role in Regional Construction

“hot points” of the region The “Declaration on the Conduct” states: “The parties undertake to exercise self-restraint in the conduct of activities that would compli­ cate or escalate disputes and affect peace and stability.”9

The other evidence of improvement in security cooperation between China and ASEAN was the fact that both sides increased mutual military exchanges during recent years According to statistics between 2003 and 2005, China sent

46 defense delegations to nine ASEAN countries while 10 ASEAN members sent 45 delegations to China Among these exchanges there were 11 delegations sent from Vietnam to China 10

Facing the complexity of the regional security situation, explained by the emer­ gence of non-traditional security issues such as “the threat of disease, hunger, unem­ ployment, crime, social conflict, political repression and environmental hazards,” 11

China and ASEAN agreed on the “Joint Declaration of ASEAN and China on Cooperation in the Field of Non-traditional Security Issues 6th ASEAN-China Summit Phnom Penh, 4 November 2002.” 12 One year later, China and ASEAN signed the Joint Declaration on Strategic Partnership for Peace and Prosperity In

2003, China joined the Treaty of Amity and Cooperation in Southeast Asia and established a Strategic Partnership with ASEAN.

Besides the security problem, China has also paid attention to cooperation in the field of die economy, taking into account the fact that China acceded to the WTO in 2001 At the sixth China-ASEAN Summit in November 2002, China and ASEAN signed the landmark Framework Agreement on ASEAN-China Com­ prehensive Economic Cooperation, marking the beginning of establishment of an ASEAN-China Free Trade Area (ACFTA) within a 10-year period This idea was

in fact China’s intention to alleviate ASEAN’s worries about China’s WTO mem­ bership Upon implementation in 2010, ACFTA was forecast to include a total population of 1.8 billion and a combined gross national product of US$2 trillion and US$1.2 trillion in trade volume.13 ACFTA was expected to be the third largest market in the world after the EU and the NAFTA.

The creation of ACFTA is an economically strategic plan in the China Great Western Development Sttategy (Xibu Da Kaifa) or the so-called “Go-West” policy that was launched in 2000.14 The reason for launching the “Go-West” policy was the reality that after 30 years of openness and reform, the rapid econ­ omic growth that took place was concentrated mainly in the eastern coastal region and caused a large disparity in development between the east and the rest of China Among the six provinces in the Great Western Development Strategy, Yunnan and Guangxi play the most important roles From China’s perspective, Yunnan was considered the “Gatewav to the South” thanks to the fact that it shares a border with Myanmar, Laos, and Vietnam, and connects to Thailand via the Mekong River In comparison to Yunnan, the position of Guangxi is still more important thanks to its direct access to the sea and that it owns some deep seaports which

Trang 31

A SEA N 's Indispensable Role in R egional Construction

mutual understanding Through this doctrine Japan and Southeast Asian econom­ies became more interdependent.18 Following the Fukuda Doctrine there was a massive flow of FDI and ODA from Japan to Southeast Asia The year 1977

was also marked as the first leadership meeting between Japan and ASEAN

However, it took 10 more years until Japan and ASEAN convened their second

leadership meeting (1987), and another decade for the third leadership meeting

(1997) It was Prime Minister Hashimoto who proposed expansion and deepening

of relations between Japan and ASEAN at all levels during his visit to Southeast Asian countries in January 1997.19 During his tenure, a series of new mechanisms for cooperation between Japan and ASEAN was introduced, such as the Japan- ASEAN Roundtable on Development (1997), Japan-ASEAN Consultative Group Meetings (1998), and Economic and Industrial Cooperation Committee

(1998) The Japan-ASEAN Leadership Summit has been convened annually

since 1997, except the years of 2002 and 2003: In 1999, Japan proposed to convene the first international conference on anti-piracy which was held in April 2000 It took four more years until Japan and ASEAN could issue a joint statement on combating international terrorism in 2004 In the same year Japan signed the Treaty of Amity and Cooperation in Southeast Asia This event showed, on the one hand, how much Japan was interested in cooperation with ASEAN in the field of security, but on the other hand, how dependent on the

US Japan was in foreign policy By signing TAC, Japan also showed it did not like “to fall too far behind China,”20 which had signed the treaty in October 2003 Looking at Japan’s Southeast Asia policy it is easy to realize that Japan is

“revving up its drive to strengthen relations with countries in Indochina, an econ­ omically backward but geopolitically important part of the region.”21 It was Japan which recognized the importance of Indochinese nations in the development of the whole region Therefore, starting in the early 1990s, after the Peace Agreement on Cambodia was signed in Paris, Japan decided to support the countries at the Mekong basin Originating in Tibet, the 4,500-kilometer Mekong River flows through China’s Yunnan province, Myanmar, Thailand, Laos, Cambodia, and Vietnam into the Pacific As the main artery of mainland Southeast Asian countries, the Mekong River is still rich in natural and human resources Except for Thailand, the other Mekong River nations like Myanmar, Laos, Cambodia, and Vietnam belong to the so-called “less-developed” countries For ASEAN to fill the development gap is a high priority because the Association aims to create a fully integrated ASEAN Economic Community in 2015 One of the most noteworthy measures is the inauguration of the Greater Mekong Subregion (GMS) Program in 1992 supported by the Asian Development Bank (ADB) So since the early 1990s, ÍỈ1G Sino-Japanese competition over greater influence iu

ASEAN has opened a new avenue— the Mekong River basin

Trang 32

A SE A N 's Indispensable Role in Regional Construction

Myanmar, and Vietnam is 3,692 which accounts for 76.6% of all Japanese companies

in ASEAN countries Among ASEAN countries, Thailand is the country where the number of Japan-affiliated companies is largest with a total of 1,575 Japan-affiliated companies.28 From Thailand, Japanese companies now can reach every point of Southeast Asia thanks to the completion of the GMS economic corridors As the second largest economy in the EWEC, Vietnam has also been attracting interest of Japanese companies thanks to its cheap labor market, economic size, stable political situation, and strategic position In addition, Vietnam has become one of the popular destinations for Japan to invest in order to reduce risk in the China market and exces­ sive dependence on China.

Since the beginning of the second term of Prime Minister Shinzo Abe in December 2012, Japan’s interest in Southeast Asia has increased There are various explanations for those changes First is alliance-boosting, emphasizing the US-Japan relationship as Washington, too, has been pivoting to Asia since

2011 Second, Prime Minster Abe’s changes can be seen as a renewal of Asianism

to revitalize both Japanese policy as well as Japanese identity as a peace-loving nation Third, it can be interpreted as new realist move of Japan to the so-called right of “collective self-defense” faced with the increasing tensions in both East and South China seas.

On title fortieth anniversary of the establishment of Japan-ASEAN relations in

2013, Japan tried to strengthen its relations with ASEAN by announcing US$20 billion in loans and grants over five years to support ASEAN integration.29

Given China’s rapidly rising and assertive policy toward neighboring states in the East China Sea and South China Sea from about 2009, Japan is trying to

compete with China in order to reshape the regional architecture that requires

not only leadership but also the shared values of “heart-to-heart” and “equal” cooperative partnership, and its vision.30 Reporting on the Shangri-La Dialogue

on June 1, 2014, the Yomiuri Shimbun newspaper noted that Prime Minister

Abe and u s Secretary of Defense Chuck Hagel displayed close ties to Vietnam and the Philippines by harsh criticism of China’s expansionist behavior in the South China Sea in their statements to which title representative from China, General Wang Guanzhong responded sharply.

In short, from the above discussion, it is clear that the competition and rivalry between China and Japan will inevitably grow A series of problems between them remains: for example mutual suspicions, historical memory, and, last but not least, territorial disputes over the Senkaku/Diaoyu islands Thus the prospects for pro­ moting Southeast Asian regionalism are challenged by rivalry and the balance

of power between China and Japan, The main problem for both China and Japan here is how to gain the “hearts and minds” of ASEAN According to Amitav Acharya, China may choose a “divide and rule” approach to ASEAN,31

and in fact it has successfully done this so far Facing increasing Chinese pressure,

Trang 33

Quang Minh Pham

Japan recently issued a new security law and adopted the diplomacy of a proactive contribution to peace.32 However, in order to champion ASEAN and compete with China, Japan would promote both its economic presence and its alliance with the

US military presence

Is the US pivot a challenge to East Asia regionalism?

In the case that no party in the region can take a lead, a third party— the u s — as a

Pacific nation and one more powerful than the other two (China and Japan) has

seemed to play the primary role of facilitator of cooperation The United States not only played this role vis-à-vis Germany and France in the 1 9 5 0 -1960s, but also to some extent with Japan and Korea in the 1960s-1970s.33 However, the United States cannot accomplish the same mission vis-à-vis China and Japan due to several factors First, there is distrust between China and the US; second,

it is not clear whether the u s even wishes to promote Sino-Japanese reconciliation and cooperation; and third, China threatens the u s position in East Asia.

Facing the new environment in the Asia-Pacific, the u s government announced the so-called pivot to Asia The pivot strategy was officially announced

on November 17,2011 by President Barack Obama in his address to the Australian Parliament to determine u s strategy maintenance in the Asia-Pacific, although it was not new, given the fact that the Bush Administration had already proclaimed a

US priority the “East Asian littoral,” the region stretching from Japan to the Bay of Bengal The pivot raised different points of view First, as former Secretary of State Hillary Clinton stated: “There is no intrinsic contradiction between support­ ing a rising China and advancing America’s interests.”34 Contrasting with this per­ spective, Henry Kissinger expressed concern about inevitable “escalating tension”

if the relationship is not wisely managed.35

The US pivot to the Asia-Pacific was a long process, but its turning point took place during 2009-2010, and related closely to China’s actions in the South China Sea Immediately after China officially presented its “cow’s tongue map,” claim­ ing more than 80% of the South China Sea, to the UN Commission in May 2009, the US Senate passed a resolution that “deplores the use of force by naval and mar­ itime security vessels from China in the South China Sea” and supports the con­ tinuation of operations by the United States Aimed Forces in support of freedom

of navigation rights in international waters and air space in the South China Sea.”36 Replying to this, Chinese officials declared its claims in the South China Sea as a “core interest”37 having the same importance to China as Tibet, Xinjiang and Taiwan do.38

From this analysis one could say that the pivot sữategy is first and foremost about China However, it is incorrect to think only about China There are different

factors that pushed the u s to Asia

Trang 34

A S E A N 'í Indispensable Role in R egional Construction

First, according to former u s Secretary of State Hillary Clinton, the 21st

century will be America’s Pacific century.39 The main battle of the political game will be decided not in Afghanistan or Iraq, but in the Asia-Pacific Here

there are the most important allies to the u s , including Japan, South Korea,

Taiwan, the Philippines, Thailand, and Australia, not to mention potential partners like Malaysia, Indonesia, and Vietnam So strengthening traditional alliances while developing partnerships with other countries remains a top military security effort by the u s

Second, it seems that the economic dimension of the pivot is of equal impor­ tance as the security aspect We remember that President Barack Obama hosted the 19th APEC Summit not accidentally in Hawaii in November 2011 before going to Darwin (Australia) and Bali (Indonesia) In his delivered speech in Hawaii, President Obama expressed the u s interest and determination to further the talks for the Trans-Pacific Partnership (TPP) involving nine economies includ­ ing Australia, Brunei, Chile, Malaysia, New Zealand, Peru, Singapore, Vietnam, and the u s In addition, Canada, Korea, Mexico, and Japan expressed their will

to join negotiations The u s understood that it would not have any chance in East Asian economic integration while China has been dominant in ASEAN Plus Three cooperation since 1997 China is also dominant in the ASEAN- China Free Trade Area (ACFTA) since 2010 By joining the East Asia Summit

in 2011 and by negotiating the TPP, the u s is trying to counterbalance Chinese economic influence in the Asia-Pacific One of the most important objectives of the US through the TPP is to create an alternative frame to advance its economic and strategic interests including services, investments, and ưade in which the u s has comparative advantages Despite the statement given by the u s that it aims to prevent division in the Pacific, the TPP is in fact a kind of u s policy toward China, which leaders have criticized for unfair trade policies TPP is no doubt an ambi­ tious agenda for the Asia-Pacific, but “it should be managed with “great sophisti­ cation” so that it does not become another confrontation ground for the u s and China.”40

In short, for the us, the pivot to Asia must be considered a strategy to con­ solidate its position in its traditional Asia-Pacific region, but for China, it is con­ sidered a challenging barrier to its peaceful rising Therefore, confrontation rather than cooperation seems to be a likely scenario for the Asia-Pacific region in die years to come.

The role of ASEAN

East Asian special circumstances have shown that the small and middle powers, namely Southeast Asian countries— ASEAN member countries— can take the lead in fostering regional cooperation through such regional mechanisms as

Trang 35

Quang Minh Pham

ARF, A SEA N +3, and ASEAN + 1 This argument seems to hold promise because the small and middle powers cannot abuse power, while both China and Japan will offer support to ASEAN as a unique grouping China, Japan, and South Korea will work closely with ASEAN because they have nothing to lose and much to gain; they can only sữengthen their regional position and increase theừ influence in

power bargaining The cooperation between China, Japan, and South Korea and ASEAN is especially important from the perspective that “East Asia is a region with simply too much external presence for a single regional power to be able

to achieve dominance.”41

Despite what many critics have said, ASEAN has been so far proving its undisputed role in regional politics The member states of ASEAN have in fact initiated the ASEAN Joint Industrial Project in the 1970s; they also agreed to establish an ASEAN Free Trade Area (AFTA) in the late 1980s Based on this, Malaysian Prime Minister Mahathir Mohamad proposed to estab­ lish an East Asian Economic Group (EAEG) in 1990 Facing security challenges

in the region in 1994, ASEAN decided to form the ASEAN Regional Forum (ARF), a multilateral dialogue with involvement of big powers with three aims: to promote confidence building measures, to develop preventive diplo­ macy, and to solve conflicts Furthermore, after the onset of the Asian crisis, ASEAN initiated establishment of ASEAN Plus Three (China, Japan, and Korea) which should be considered a new trial for the development of East Asian regionalism In 2003, ASEAN adopted the Declaration of ASEAN Concord II which aims to build up three ASEAN communities including politi­ cal security, economic, and socio-cultural cooperation Different from other regions of the world, where interests are interrelated, East Asia witnessed a rising China, a revitalized Japan, and increasing involvement in the region by the US At the crossroads of development, the main success of ASEAN was explained by its non-interference and consensus principles that helped the member states to keep the region peaceful through managing disputes and expanding cooperation This main goal of ASEAN was confirmed consistently

in all key documents o f the Association from the Bangkok Declaration in

1967 through the Treaty of Amity and Cooperation (TAC) in 1976 to the Charter of the Association of Southeast Asian Nations (ASEAN Charter) in

2007 and die ASEAN Political-Security Community Blueprint.

The Preamble of the Bangkok Declaration states, “Considering that the countries of Southeast Asia share a primary responsibility for strengthening the economic and social stability of the region and ensuring their peaceful and pro­ gressive national development, and that they are determined to ensure their stab­ ility and security from external interference in any form or manifestation in order

to preserve their national identities in accordance with their ideals and aspirations

of their peoples.”42

Trang 36

inter-state wars The 1990s witnessed a level of tension between M yanmar and Thailand along the border of the two countries.49 Since 2008, conflict between Cambodia and Thailand has broken out about differences related to areas in the vicinity of Preah Vihear Temple.50

For conflict management the member states of ASEAN prefer bilateral talks and dialogue rather than to bring the dispute to international court However, this did not include the cases of Indonesia and Malaysia as the two countries decided to bring their sovereignty dispute over Pulau Sipadan and Pulau Ligitan51 to the International Court of Justice, and Malaysia and Singapore did likewise with a dispute over Pedra Branca/Pulau Batu Puteh.52

At this point it is important to ask the question whether the ASEAN mechan­ ism of conflict settlement is weak, and whether ASEAN members are not able to solve their sovereignty disputes Whether ASEAN members solved their disputes bilaterally or whether they brought them to the International Court of Justice, it can be argued that they are in line with the ASEAN principle and mechanisms for conflict settlement, and that ASEAN tries to play the role o f facilitator rather than as a conflict-solving player Vietnam was an example of this approach Since the early 1990s, Vietnam bilaterally has settled its border with Laos, Cam­ bodia, and China This bilateral approach by Vietnam could work without conflict management of ASEAN as long as it is not in contradiction with the regional approach.

However, the question of what role ASEAN can play when there is a dispute among its member states still remains In fact it was a long process for ASEAN, step by step, to gradually achieve consensus in establishment o f a framework for

conflict management In 1976 ASEAN adopted the TAC Then, 25 years later, in

July 2001 ASEAN could adopt the Rules of Procedure of the High Council So the High Council seemed an important body within ASEAN In 2003 its importance was reaffirmed in the ASEAN Concord n Again in 2004 APSC has reaffirmed the position o f the High Council, and called on ASEAN member states to “endeavor to use regional dispute mechanism and process.” The member states are also required

to use the High Council of the TAC as a preferred option.”53

The fact was that even over a decade after the Rules of Procedures were adopted in 2001, the High Council was not yet activated It seems to be that there is still mistrust among some of the member states of ASEAN who are not ready to bring theừ disputes to the High Council.

From this analysis it can be argued that the role of ASEAN can be seen from different perspectives First, ASEAN can play the role of a vehicle which aims to promote better relations between its member states rather than to piay the roie of a third-party mediator ASEAN will get involved in the dispute among member states as long as it is asked to do so by the member states Second, the role of

Quang M inh Pham

Trang 37

ASEAN can be understood as a norm creator through formulation and adoption of

a mechanism to be utilized by the member states with principles based on which the behaviors of member states are regulated Thừd, the role of ASEAN lies in its way of managing disputes preferring to urge its members to seek a peaceful sol­ ution rather than forcing them or intervening directly In sum, it is clear that non­ interference, the fundamental principle of ASEAN, has not been changed since its establishment However, in practice this principle is not applied to the same degree

of strictness to all members, and flexibility can be found in some cases such as in Mindanao in the Philippines or in Aceh in Indonesia In general, each member state can pursue its own independent foreign policy Thanks to its non-interference prin­ ciple and flexibility in security issues, ASEAN has proven to be the most efficient regional organization in the new changing context of global politics The model of conflict management within the ASEAN framework can be utilized only if there are requests and acceptance by ASEAN and its member states.

The main challenge of ASEAN is to keep its centrality and solidarity in Southeast Asia politics History shows that as long as ASEAN can achieve consen­ sus, it can overcome division Although a united ASEAN will serve the interest of the whole region, ASEAN’s involvement in Sino-American competition may have divided ASEAN The first important measure to be implemented for maintaining ASEAN solidarity would be to fulfill the Regional Comprehensive Economic Partnership (RCEP) which was endorsed by ASEAN leaders during its 19th Summit in November 2011 The RCEP is expected to bring all 10 ASEAN members and their external partners including China, the u s , Japan, South Korea, India, Ausưalia, and New Zealand together for common economic inter­ ests.54 In fact, RCEP could be seen as a compromise between an East Asia Free Trade Area (EAFTA— favored by China) and the former CEPE A— favored by Japan RCEP can be seen as one key component of ASEAN’s foreign economic relations because it can forge close ties and the common position of all ASEAN members unlike other mechanisms like TPP and APEC which do not include all ASEAN members.

In terms of security issues, the Asia-Pacific is witnessing a transition of power from US dominance to a balance of power in the decades to come, although the u s

still remains the strongest The difference is that the Asia-Pacific has again become contested by new forces, namely the navies of the u s , China, and Japan Facing this new context, especially the Chinese assertive policy toward the South China Sea, and the American pivot to Asia, the main strategy of ASEAN should be balancing between these two giants So far ASEAN has done a good job The crucial issue of ASEAN is its consensus All members should realize that it is not a problem of claimants’ states only, but one in common in the region If the China National Offshore Oil Corporation could move its Haiyang Shiyou 981 oil rig in to the disputed area with Vietnam in

A S E A N ’s Indispensable Role in Regional Construction

Ngày đăng: 20/11/2019, 23:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w