ở Việt Nam, cho đến nay, việc dạy tiếng V iệt trong nhà trường chưa thành công là do chỗ trong đa số trường họp chương trình và sách giáo khoa đều tập trung mô tả diện mạo cơ cấu tiếng V
Trang 3PHẦN I TH Ô NG TIN C H U N G
1.1 Tên đề tài: Đ ông ph ư on g học và V iệt ngữ học qua các vấn đề từ pháp học tiếng Việt
1.2 Mã số: QG 16.37
1.3 Danh sách chủ trì, thành viên tham gia thực hiện đề tài
1.4 Đon vị chủ trì: T rư òn g Đại học K hoa học Xã hội và Nhân văn
1.5 Thời gian thực hiện:
1.5.1 Theo hợp đồng: từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 6 năm 2018
1.5.2 Gia hạn (nếu có): đến tháng năm
1.5.3 Thực hiện thực tế: từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 8 năm 2017
1.6 Những thay đối so vói thuyết minh ban đầu (nếu có):
(Ve mục tiêu, nội dung, phương pháp, kết quả nghiên cứu và tổ chức thực hiện; Nguyên nhân; Ỷ kiến của Cơ quan quản lý)
1.7 Tổng kinh phí đư ọc phê duyệt của đề tài: 180 triệu đồng.
PHÀN II TỎNG QUAN KÉT QUẢ NGHIÊN c ử u
Viết theo cẩu trúc một bài báo khoa học tống quan từ 6-15 trang (báo cáo này sẽ được đăng trên tạp chí khoa học ĐHQGHN sau khi đề tài được nghiệm thu), nội dung gồm các phần:
1 Đặt vấn đề:
T ro n g giớ i n g h iên cứ u n g ô n n g ữ v à V iệ t ngữ , ai cũ n g biết Đ ông ph ư ơ n g học
có ảnh h ư ở n g sâu sắc đ ến k h o a V iệ t n g ữ họ c, làm th ay đổi cơ bản về nhận thức
v à cách tiế p cận tro n g n g h iê n cứ u c ác vấn đề V iệ t n g ữ (n g ữ âm , từ vự ng, ngữ pháp, v ă n t ự , ) n h ư n g ch o đ ến n a y tro n g giớ i V iệ t n g ữ học chư a có m ột công trình n ào n g h iên cứ u m ộ t c ác h hệ th ố n g ít n h ấ t là ở n h ữ n g nội dung sau:
• Lai lịch c ủ a k h ái n iệm Đ ô n g p h ư ơ n g học ngôn ngữ
• Q u á trìn h tiế p xúc g iữ Đ ô n g p h ư ơ n g h ọ c và các p hư ơ ng diện của
V iệt n g ữ học
• N h ữ n g ả n h h ư ở n g trự c tiế p q u ả Đ ô n g p h ư ơ n g học đến cách tiếp cận m ới v ớ i các v ấn đề củ a V iệt n g ừ
Trang 4• Đ án h g iá tác đ ộ n g v à h iệu ứ ng cụ th ể c ủ a Đ ô n g p h ư ơ n g học đối với n h ữ n g nội d u n g cụ thể tro n g n g h iê n cứu V iệ t ngữ
• H ư ớ n g p h á t triê n tiếp c ủ a lý luận m ớ i tro n g V iệ t n g ừ
N h ữ n g nội d u n g trên c h ư a ai đ ư ợ c n g h iên c ứ u h o ặc m ớ i chỉ đ ư ợ c đề cập ở
m ứ c độ n ào đó, c h ư a m a n g tín h đ a d iện , ch iề u sâ u học th u ậ t nếu có c ũ n g chỉ ỏ'
d ừ n g lại ở m ức g iới thiệu Đ ề tài n à y đi v ào làm rõ các nội d u n g trên m ộ t cách
có h ệ thống, g ó p m ộ t cái n h ìn sâu r ộ n g h ơ n tro n g việc địn h vị V iệ t n g ừ học
n ư ớ c nhà ở giai đ o ạ n h iện tại, p h â n tích chỉ rõ n h ữ n g ản h h ư ở n g , tác đ ộ n g từ góc nhìn Đ ô n g p h ư ơ n g h ọc đế từ đ ó có m ộ t đ ịn h h ư ớ n g sát thự c h ơ n ch o các nghiên cứu tro n g tư ơ n g lai
2 M u c tiê u :
2.1 T ính cấp th iế t ch o m ụ c tiêu
a) T ro n g giới n g h iê n cứ u N g ô n n g ữ họ c v à V iệ t n g ữ học, ai c ũ n g biết
Đ ô n g p h ư ơ n g h ọ c có ả n h h ư ở n g sâ u sắc đến V iệ t n g ữ h ọ c, n ó làm th a y đổi cơ
b ả n về n h ậ n th ứ c v à c ác h tiếp c ận tro n g n g h iê n c ứ u các v ấ n đ ề V iệ t n g ữ (n g ữ
âm , từ vự n g , n g ữ p h á p , v ă n tự, ) tr o n g m ấ y c h ụ c n ă m trở lại đây
b ) N h u cầu tìm h iể u ảnh h ư ở n g to lớn c ủ a Đ ô n g p h ư ơ n g h ọ c đến V iệt
n g ữ học là b ứ c th iế t n h ư n g cho đ ế n n a y tro n g g iớ i V iệ t n g ữ h ọ c c h ư a có m ộ t
cô n g trình nào n g h iê n c ứ u v ấ n đề n à y m ộ t cách h ệ thống
2.2 Đ e tài h ư ớ n g v à o m ộ t số m ụ c tiê u cụ thể:
* C h ọ n m ộ t p h ư ơ n g d iện tư ơ n g đ ố i đ iển h ìn h để n g h iê n c ứ u độ t phá: Đ ó là các vấn đề Đ ô n g p h ư ơ n g h ọ c v à T ừ p h á p h ọ c tiế n g Việt
* L àm sán g tỏ kh ái n iệ m Đ ô n g p h ư ơ n g h ọ c n g ô n n g ữ - m ộ t p h ạ m trù cò n
ch ư a thật m in h đ ịn h trê n p h ư ơ n g d iệ n lý luận v à th ự c tế
* K h ẳ n g định: C hỉ có x u ấ t p h á t từ b ả n n g ữ thì m ớ i tiế p th ụ đầy đ ủ các lý luận
Trang 53 P h ư o n g p h áp n g h iên cứu: Đ e tiến hàn h đề tài, nhóm nghiên cứu đã sử
d ụ n g các p h ư ơ n g p h á p n g h iên cứu c h ín h là phân tích và m ô tả; đối chiếu so sánh T rên cơ sở tập h ọ p to àn b ộ các c ô n g trình nghiên cứu V iệt n g ừ theo các quan điểm có ít n h iều ch ịu ản h h ư ở n g từ Đ ô n g p h ư ơ n g học từ đó khảo cứu kỳ càng, p h ân tích k h á c h quan từ n g lu ận điêin k h o a học của từng tác giả, từng
n hóm tác giả (trư ờ n g p h á i) để từ đ ó th ấy rõ được các p h ư ơ n g diện có ảnh hưởng, m ứ c độ ản h h ư ở n g P h ư ơ n g p h á p đối chiếu, so sánh sẽ được sử dụng
n g h iên g nhiều v ề so sán h để th ấy đ ư ợ c n h ữ n g khác biệt, tương đồng giữa các tác giả, các cô n g trìn h từ đó có n h ữ n g đ án h giá k h o a học cũng n h ư rút ra n h ũ n g nhận xét kết luận p h ụ c v ụ cho việc x â y d ự n g các nội dung chuyên đề củ a đề tài
4 T ổ n g kết kết q u ả n g h iên cứu:
4.1 Đ á n h g iá t ổ n g q u a n tìn h h ì n h n g h i ê n c ứ u lý lu ận và th ự c tiễ n th u ộ c lĩnh v ự c c ủ a đề tài
N goài nước:
Đ ô n g p h ư ơ n g h ọ c Q u ố c tế đ ã có n h ữ n g ảnh h ư ở n g đáng kể đến việc nghiên cứu V iệt n g ữ họ c tro n g th ế kỷ X X
Đ ô n g p h ư ơ n g h ọ c c h âu  u tru y ền b á tiến g ch âu  u đến nh ữ n g v ù n g đất mới (theo gó t c h ủ n g h ĩa th ự c dân và k in h tế thị trư ờ n g tư bản) và học tiếng bản ngữ
Đ ô n g p h ư ơ n g đ ể p h ụ c v ụ ch o c ô n g c u ộ c tru y ền giáo v à chinh ph ụ c thuộc địa Việc dạy v à học tiế n g m a n g n ặ n g tín h c h ấ t th ự c hành
T r u y ề n th ố n g C h â u  u
Khi bắt đầu n g h iê n c ứ u các n g ô n n g ữ p h ư ơ n g Đ ô n g người ta đ ã áp dụng
k h u n g n g ữ p h á p c h â u  u v à o các n g ô n n g ữ Đ ô n g phương D ần dần, do nhận thấy có sự k h á c b iệ t so với các n g ô n n g ữ c h âu  u , giới học giả đã gọi các ngôn
ng ữ n h ư tiế n g V iệt, tiế n g H á n là n g ô n n g ữ đ o n âm (m onosyllabique) N g ô n ng ữ đơn âm thì k h ô n g b iến đổi h ìn h thái; lẫn lộn từ loại (thậm chí k h ô n g có từ loại);
từ là n h ữ n g đơ n vị đ ộ c lập k ế t h ợ p , trậ t từ từ tro n g câu là quan trọng
D ầu vậy, n g ư ờ i ta v ẫ n k h ô n g th o á t khỏi p h ư ơ n g pháp tiếp cận cổ điển (dùng
kh u n g n g ô n n g ữ c h âu  u để n g h iê n c ứ u c h ứ ch ư a xu ất phát từ bản thân ngôn
ng ữ Đ ô n g p h ư ơ n g để n g h iên cứu) Đ ô n g p h ư ơ n g học châu  u có nhiểu đóng góp về âm vị học v à n g u ồ n gốc tiế n g V iệ t h ơ n là về từ vự n g và n g ữ pháp
Trang 6C ác c ô n g trìn h V iệ t n g ừ c ủ a các n h à Đ ô n g p h ư ơ n g học Pháp cần phải nhắc đến tro n g n ử a đầu th ế k ỷ X X là các c ô n g trìn h c ủ a M G ram m ont, H M aspéro
L C ad ière, A H a u đ ric o u rt với n h ữ n g cách đ ặt v ấn đề khá m ới m ẻ
C ó m ột Đ ô n g p h ư ơ n g h ọ c k h ác ả n h h ư ở n g n h iều đến việc nghiên cứu tiếng
V iệt là Đ ô n g p h ư ơ n g h ọ c N g a c ầ n n ó i rõ hơ n đôi chút về truyền th ố n g này:
K h ô n g g ian n ư ớ c N g a q u á lớn N ư ớ c N g a x é t về m ặt địa lý chia ra làm hai phần Phần p h ư ơ n g T ây c ủ a dãy Ư ral (th u ộ c ch âu  u) được coi là phát triển hon
và p h ía đ ô n g dãy U ral v à X ibiri thì đ ư ợ c coi là p h ư ơ n g Đ ông và V iễn Đông
Đ ô n g p h ư ơ n g h ọ c N g a trư ớ c h ết n g h iê n cứ u p h ía Đ ông nước N g a và vùng
V iễn Đ ô n g n h àm q u ả n trị p h ần p h ía Đ ô n g , sau đó m ới quan tâm đến các nước láng giềng S au n ày d o vị th ế m ớ i c ủ a L iên X ô , Đ ông p hư ơ ng học quan tâm
n g h iên cứ u cả T ru n g Q u ố c, T riề u T iê n v à N h ậ t B ản trư ớ c khi m ở rộ n g sang
V iệt N am v à các n ư ớ c Đ ô n g N am Á
Đ ô n g p h ư ơ n g h ọ c ở n ư ớ c N g a đ ư ợ c khở i đầu k h á sớm , từ th ế k ỷ X V III, với v iệc g iả n g d ạy H á n n g ữ tro n g các trư ò’n g cao đẳng N gư ời N g a n g h iên cửu
H á n -n g ữ cũ n g g iố n g n h ư trư ờ n g h ọ p c ủ a các n ư ớ c  u C hâu khác, n g h ĩa là trư ớ c h ết cũ n g b ắ t đ ầu từ các g iáo sĩ với cô n g việc tru y ền đạo Đ oàn giáo sĩ tru y ền đạo c ủ a N g a th ờ i P itơ đại đ ế năm 1716 do L ejaiski (HssapuoH JIe>KaHckuH) d ẫ n đ ầ u tới B ắc K inh T ro n g đ o àn có m ột sổ thành viên rất tinh
th ô n g H án n g ữ v à M ã n C h â u n g ữ Đ â y là m ộ t cái m ốc đánh d ấu sự ra đời của
ng àn h H án h ọ c N g a
Ở N g a, k h o a Đ ô n g p h ư ơ n g h ọ c h iệ n n a y là m ộ t k h o a rất lớn, tro n g trư ờ n g Đại
h ọ c tổ n g h ọ p X a n h P ê té c b u a - S a in k t-P e te rb u rg (L en in g rad ), họ đào tạo rất sâu
K h o a Đ ô n g p h ư ơ n g h ọ c c ủ a h ọ đ à o tạ o v ề N h ậ t B ản học, T rung Q uốc học, V iệt
N am h ọ c , v à họ đ à o tạo n h ữ n g c h u y ê n g ia n g h iên cứ u sâu về các lĩnh vực
q u an tâm C ó n h ữ n g n h à n g ữ v ăn h ọ c rấ t rấ t nổi tiến g trên thế giới C hẳng hạn,
K o n d ra d n ổ i tiế n g tro n g n g h iên cứu v ă n h ọ c T ru n g Q uốc, hoặc nhà N h ật ngữ
h ọ c K h a ralo isk H á n n g ữ h ọ c có tác g iả Y a-K h ô n -tổ p H ọ m ời chuyên gia nước
ng o ài đến đ ào tạo về tiến g C h ẳ n g h ạ n h ọ đã m ờ i các ch u y ên gia tiến g V iệt thế
h ệ đầu san g L iê n X ô để đ ào tạo tiế n g V iệ t cho ngư ờ i học
Trang 7Đ ô n g p h ư ơ n g học N g a d ư ờ n g n h ư k h ô n g tru y ền b á quốc tế m à chỉ nhằm giải
q u y ế t n h ữ n g vấn đề “ cơi n ớ i” có liên q u an đến N ga v à X ô v iết (T ru n g Q uốc,
N h ậ t B ản, T riều T iên )
T h ập kỷ 60 tế k ỷ X X L iên xô m ớ i có n g àn h V iệt N am học tro n g giới học
th u ậ t nhằm m ở rộ n g ảnh h ư ở n g x u ổ n g Đ ô n g N am Á T iếp sau đó là các nghiên
cứ u về K hm er, T h ái, In d o n esia, M iế n Đ iện C ác nhà Đ ông p h ư ơ n g học N ga
n g h iên cứu T ru n g Q u ố c đ ã c h u y ển d ầ n sa n g Đ ô n g N am Á T ro n g các n h à Đ ông
p h ư ơ n g học N g a, n ổi tiế n g n h ấ t là các n h à H án n g ừ học C ác nhà n g h iên cứu này đã p h át h iện , g iải th íc h đư ợ c n h ữ n g n ét đặc thù của tự tro n g tiến g H án và
ch ứ n g m in h đư ợ c tín h đ ơ n lập c ủ a từ tro n g tiến g H án Đ ặc biệt nổi b ật là các
n h à Đ ô n g p h ư ơ n g học:
+ E P o liv an o v (1 9 3 0 ), ô n g đ ã đ ư a ra p h ư ơ n g pháp n g h iên cứu n g ữ pháp của các ngôn n g ữ dọc T h ái B ình Dưcm g T ro n g n g h iên cứu tiến g H án, ông đ ư a ra lý luận về “k h u ô n n h ậ p ” (lập k h u ô n - in co p a ratio n ) Ô ng thấy sự khác b iệt căn bản
đ ối với n g ô n n g ữ p h ư ơ n g T ây c h ín h là lập k h u ô n - d ù n g tiến g để tạo ra những
k h u ô n m ẫu để tổ ch ứ c n g ữ p h áp (th ư ờ n g lập nh ữ n g k h u ô n song tiế t rồi m ở rộng khuôn, khuôn láy) chứ không giống từ của châu Âu
+ D rag u n o v (1941 v à 1952) đ ã c ô n g b ố n h ừ n g công trìn h n g h iên cứu H án n g ữ
Ô n g xác lập T ự - “ đ o n vị c h ất lư ợ n g ” v ì n ó khác với hình vị của châu  u bởi
g iá trị về âm v à v ề n g h ĩa (d ù đó là th ự c tự hay hư tự) T ự là cái trục để xoay
chuyển n g ữ p h áp tiế n g H án L ý lu ận c ủ a ô n g cũng giải quyết vấn đề về từ đơn,
từ ghép, từ tổ (c u ố n 1941 - N g ữ p h á p tiế n g H án) rồi tiến lên n g h iên cứu T ừ loại (cuốn 1952 - N g ữ p h áp tiế n g H á n k h ẩ u n g ữ hiện đại)
+ K h o lo d o v ich (N h ậ t n g ữ h ọ c) đ ã p h á t triển tư tư ở n g của Đ ông p h ư ơ n g học
N ga, đặc b iệt là n g h iê n cứ u vai trò c ủ a V ị từ N ăm 1960, tác g iả đưa ra khái
n iệm “H ìn h thế cú p h á p ” — n g h iên c ứ u Đ ộ n g từ vị n gữ v à các tham tố của nó
Đ ôn g p h ư ơ n g h ọ c và Đ ô n g p h ư o n g học ngôn n g ữ của T r u n g Q uốc
T uyến 3 ảnh h ư ở n g đ ến Đ ô n g p h ư ơ n g h ọ c nước ta là Đ ô n g p h ư ơ n g học tru y ền th ố n g củ a T ru n g Q uốc
5
Trang 8T ru n g Q u ố c là m ộ t nước rất đ ô n g dân và có tru y ề n th ố n g ỉâu đời v à có cách rất riê n g tro n g n g h iê n cứu về ngô n n g ữ của họ T ru n g Q u ố c có truyền
th ố n g rấ t riê n g về n g h iên cứu Đ ô n g p h ư ơ n g học cho m ìn h và có ản h hư ở ng
m ạnh m ẽ đến T riều T iên , V iệ t N am và các nước Đ ô n g Á kh ác Đ ặc điểm
Đ ô n g p h ư ơ n g h ọc của T ru n g Q u ố c là lấy văn tự làm tru n g tâm (c h ữ viết)
N g ư ờ i H á n căn cứ vào tín h b ản địa, cách đ ây 3500 n ăm , họ đã tìm ra ch ữ viết riên g ch o m ìn h , đó gọi là ch ữ H án L úc đ ầu chữ H án chỉ sử d ụ n g ở lưu vực của hai con sông, sô n g H o à n g Hà v à T rư ờ n g G iang, m à ng ư ờ i ta có th ê gọi là
T ru n g n g u y ê n củ a T ru n g Q uốc Đ ó là địa bàn H o a T ru n g , từ đó T ru n g Q uốc
m ở ra địa b àn rộng hơ n, đ em tiế n g H án ra các n ư ớ c C ù n g với v ă n hóa,
n g ư ờ i T ru n g Q u ố c đã tìm cách tru y ề n b á n g ô n n g ữ c ủ a m ìn h b ằ n g cách rất độc đáo, đó là q u a c h ữ viết Đi về p h ía Đ ô n g để lại d ấ u ấn v ăn tự N h ậ t Bản chữ H á n -N h ậ t, S ang H àn Q uốc có H á n -H à n , Đi về p h ía N am có H án -V iệt
C ó sự d ù n g c h u n g v ăn tự (đ ồ n g v ă n ) từ N h ật, H àn, Đ ài L oan, V iệt N a m , tức là d ù n g c h u n g ch ữ H án
C hữ H án là ch ữ v iết tro n g khối vuông M ỗi tiến g , âm tiế t được thể hiện tro n g m ộ t khối vu ô n g gọi là ‘t ự ’ T ừ ch ữ ít nét n hất là ‘n h ấ t’, đến n h ữ n g chữ phức tạp n h ấ t thì tất cả các nét đều đ ư ợ c x ế p trong m ộ t khối vuông V ăn tự đó
rấ t đúng đ ể thể h iện ch ữ T ru n g Q uốc, về sau cha ô n g ta dùn g đ ú n g cách v iết
đó để chế ra chữ v iết cho người Việt, đó là chữ N ô m S ử d ụ n g các n é t để ghi các chữ c ủ a người V iệt tro n g khối v u ô n g Gọi là chữ N ô m đế tránh h ú y kị của chừ ‘N a m ’
Chữ viết đó trở thành ph ư ơ n g thức ng ô n n g ữ học đế tru y ền bá ng ô n n g ữ tiếng
T rung Q uốc X ó a nạn m ù chữ tro n g tiến g T rung Q uốc ch ín h là dạy ch ữ (tự) T ừ văn tự tới sáng tác văn học cũng bằn g chữ H án Thi cử cũ n g bằng ch ữ H án ở
V N cha ô n g ta k h ô n g nói tiến g T ru n g Q uốc như ng thi cử, làm th ơ trư ớ c đây đều
sử dụng c h ữ Hán T ừ các thể th ơ so n g thất, ngũ n g ô n , đến các giao dịch đều thông qua ch ữ viết, chẳng hạn dâng b iểu viết bằng chừ Hán
Người T run g Q uốc còn kết h ọp truyền bá văn hóa q ua cách dạy q ua văn bản
D ạy v iết q u a văn bản V ăn bản đó chính là triết học cổ T ru n g Q uốc, tứ c là nho
Trang 9aiáo , K h ô n g giáo, và các nhà triết học cô đại T ru n g Ọ uôc D ùng các văn bản
củ a các n h à triế t học cô đại đó đê dạy chữ Hán C ha ô n g ta dạy qua “tứ th ư ” ,
“ ngũ k in h ” (bốn cuổn sách, năm cu ố n sách gối đầu g iư ờ n g của các n h à nho xưa
N g ư ờ i học phải thuộc lòng, đọc sách đó và viết ra đư ợ c K hổng tử nói thế này,
M ạn h tử nói thế k ia , Sự tinh th ô n g thể hiện qua việc đọc th ô n g v iết thạo các văn bản, triế t lý đó Tới tận năm 1919 m ới bị Pháp bãi bỏ việc thi ch ữ Hán
N g ô n n g ữ văn học của V N có m ột cái độc đáo là bên cạnh ngôn n gữ văn học
V iệ t còn có ngôn n g ữ văn học H án Đ ọc cho người T ru n g Q uổc thì người T rung
Q u ố c k h ô n g hiểu n h ư n g để họ đọc ch ữ v iết thì họ có thể hiểu được vì cùng
c h u n g ch ữ viết N h ư vậy, nền Đ ô n g p hư ơ ng học T ru n g Q uốc rất m ạnh, ảnh
h ư ở n g lớn đến V iệt N am
T ru n g Q uốc làm từ điến, giải n g h ĩa theo tự, ch ứ k h ô n g theo từ (vd: Sơn,
T hủy, K ỉ, T am , T ự, K inh) K hác với người châu  u, họ làm từ điển, theo từ
T ru n g Q u ố c k h ô n g /ít n ghiên cứ u về lý luận, ch ín h n h ờ Đ ô n g p h ư ơ n g học châu  u v à N ga thì m ới thấy được bản chất của ‘tự ’ tro n g tiến g T rung Q uốc
T ro n g thế kỷ 20, tro n g quá trình n g h iên cứu T ru n g Q uổc, Đ ô n g p h ư ơ n g học
N g a đã n g h iên cứu kỹ các tự và th ấy tiến g T rung Q uốc khác tiến g châu Âu ở chỗ: sở d ĩ ngư ờ i T ru n g Q uốc v iết đ ư ợ c chữ rời vì p h át âm rời th àn h từ ng tiểng,
v ề m ặt n g ữ âm học là p h át âm rời th àn h từ ng âm tiết T iến g C hâu  u p h át âm
th àn h chuỗi (đa âm tiế t - m ột loạt các âm tiết kết hợp với n h au rất chặt chẽ, bao gồm n h iều âm tiế t tro n g m ột từ) D o đó, người T ru n g Q uốc v à người V iệt phát
âm tiến g ch âu  u rất khó vì quen cách p h át âm rời từ n g tiến g rồi
Các tự đ ứ n g rời nhau, tự do và vì ch ú n g tự do nên ch ú n g rất độc ỉập, không
n h ữ n g th ế, đa số các tiến g đều có nghĩa, vừa là tiế n g v ừ a là từ C ác ngôn ngữ
Đ ô n g N am Á đều có h iện tư ợ n g đó C ác nhà ngôn n g ữ học N g a gọi đó là ngôn
n g ữ đơn lập (iso latin g language) Đ ặc điểm : các âm tiế t tách biệt nhau và đa số các âm tiế t có nghĩa, có thể độc lập và có thể trở th àn h từ (“từ h ó a”)
Các n h à H án học sớm có ảnh h ư ở n g đến các n g h iên cứu V iệt N g ữ là V ư ơ ng
L ực, C ao D anh K hải, L ã T húc T ư ơ ng, sầ m kỳ T ư ờ ng, V ư ơ ng Q uân, La thư ờng
B ô i, cả vê lý th u y êt và lôi vận dụng
Trang 10Trong nước:
Đông phương học ngôn ngữ và V iệt ngũ- học
P hải nói là khái n iệ m Đ ô n g p h ư ơ n g h ọ c n g ô n n g ừ là m ộ t khái niệm hình
th àn h rấ t tự p h á t (d o n h u cầu m à n ó h ìn h th à n h ) C ho nên nước ta, trư ớ c
n h ữ n g năm 6 0 c ủ a th ế k ỷ 2 0 , k h ô n g đ ặ t vấn đ ề Đ ô n g p h ư ơ n g học với tư cách
là m ộ t k h o a h ọ c , đ ặ c b iệ t là v ề n g ô n n g ữ T ru y ề n th ố n g Đ ô n g p h ư ơ n g học của
ta có bộ b a  m v ậ n h ọ c , n g h iê n c ứ u c h ữ H án , n g h iê n cứ u ch ữ N ôm -> Đ ó là tru v ề n th ố n g v ề v ă n tự h ọ c C ó tìn h trạ n g đó là vì trư ớ c n h ữ n g năm 60, n h u cầu n g h iê n c ứ u Đ ô n g p h ư o n g h ọ c k h ô n g p h ải c ủ a ta m à là của các n h à n g h iên cứu phưcrng T ây
Đ ó n g g ó p q u a n trọ n g đặc b iệ t c ủ a Đ ô n g p h ư ơ n g học N g a cho V iệt n g ữ học
th u ần túy
B ê n cạn h đó, V iệ t n g ữ học có th ê m m ộ t h ư ớ n g tiếp cận m ới củ a Đ ông
p h ư ơ n g học M ỹ - từ sau th ế k ỷ X X , đ ặ c b iệ t sau T hế ch iến th ứ hai v à việc m ở
rộ n g ản h h ư ở n g c ủ a M ỹ tại k h u v ự c T h ái b ìn h D ư ơ n g C ác công trình nổi bật
củ a M ỹ có liên q u a n đ ến đ ịa h ạ t T ừ p h á p h ọ c là các n g h iên cứ u tiến g V iệt của
M B E m m e n e a u (1 9 5 1 ) v à L, T h o m p so n (1 9 6 5 ) v à m ộ t vài tác giả hậu kỳ
T ừ sau năm 1960 m ộ t th ế h ệ các n h à V iệt n g ữ h ọ c đã x a gần chịu ảnh hư ở ng
v à tru y ền b á các tư tư ỏ n g h ọ c th u ậ t c ủ a Đ ô n g p h ư ơ n g học vào V iệt N am , tiêu
b iểu là N g u y ễ n T ài c ẩ n , T rư ơ n g V ă n C h ìn h , N g u y ễ n kim T hản, H o àn g T uệ,
P h an N g ọ c , C a o X u â n H ạo ,
P h ải n h ắc lại là k h á i n iệ m Đ ô n g p h ư ơ n g h ọ c n g ô n n g ữ là m ột khái niệm
h ìn h th à n h rất tự p h á t (do n h u cầu m à n ó h ìn h th àn h ) C h o nên nư ớ c ta, trư ớ c
n h ữ n g năm 60 c ủ a th ế k ỷ X X , k h ô n g đ ặ t v ấn đề Đ ô n g p h ư ơ n g học với tư cách
Trang 11là m ộ t k h o a học, đặc b iệt là về ngôn ngữ T ru y ền th ố n g Đ ông p h ư ơ n g học của
ta có bộ b a  m vần học, n ghiên cứu ch ữ H án, n g h iên cứu ch ữ N ôm Đ ó là tru y ền th ố n g về văn tự học Có tìn h trạn g đó là vì trư ớ c n h ữ n g năm 60, nhu cảu n g h iê n cứ u Đ ô n g p h ư ơ n g học k h ô n g phải của ta m à là của các n h à nghiên
cứ u p h ư ơ n g Tây
T h àn h q u ả đầu tiên củ a Đ ông p h ư ơ n g học châu  u tro n g V iệt n g ừ học chính
là ch ữ Q uốc n gữ của ta, từ điển A lex an d re de R hodle, công trình của các cộng
sự củ a ông C ác cố đạo ở thế kỷ 17 đồng thời được coi là nhữ ng học giả, họ có
n h ữ n g k ết quả đầu ra là nh ữ n g n ghiên cứu, tác p h ẩm từ điển V iệt-B ồ-L a
N h ữ n g th àn h tự u đó để lại cho chúng ta đến ngày nay rất đáng quý, đáng trân trọng Đ ó là nh ữ n g sản phẩm đầu tiên của Đ ông p h ư ơ n g học R iên g về V iệt
N am , các n h à tru y ền giáo làm việc nhiều nhất H ọ làm việc tro n g các đội
th ư ơ n g th u y ền , đội quân quân sự, với tư cách đại diện n h à th ờ m ột cách rất cần
m ẫn, m iệt m ài H ọ đã bị th iệ t thòi rất nhiều, có thể nói là phải tử vì đạo Ở triều đại n h à N g u y ễ n có lệnh cấm đạo, nên rất nhiều nhà tru y ền giáo đã bị bắt, bị giết, sau n à y h àn g trăm người đã đư ợ c p h o n g thánh H ọ đ ã đi về p h ư ơ n g Đ ông tru y ền đạo, với tư cách p h ụ n g sự C húa, v à họ đã phải chịu hy sinh Đ ó là sự
h ình th àn h m an g tín h x ã hội M ổc đầu tiên là thờ i kỳ có A lexandre de R hodle (1651), với cuốn đại từ điển đó M ố c th ứ 2 là cuộc xâm lược của Pháp, cuộc xâm lược n ày đư ợ c ch u ẩn bị rất k ĩ càn g tro n g h ơ n m ột th ế kỉ n h ư n g khi diễn ra
nó đã diễn ra rất dồn dập tro n g thời kì từ 1858-1884
M ộ t th ờ i gian dài, n g ữ học nước ta, tro n g bước đi ban đầu, đem lý luận châu
 u để áp d ụ n g m ộ t cách m áy m óc: D ù n g cái nhìn châu  u để tìm hiểu, đánh
g iá v à p h án xét các v ù n g đ ất khác N g ô n n g ữ h ọ c có m ộ t q u á trình m ô phỏng tro n g các m iêu tả vì quan niệm m ọi ngôn n g ữ đều g iố n g nhau v à coi các lý luận
về ngôn n g ữ châu  u là n h ữ n g p h ổ quát C h ẳn g hạn, th eo đó, N g ữ pháp tiếng
V iệt từ A de R hodes (1 651) cho đến T rần T rọng K im (1939) đều có những phạm trù c ủ a n g ữ pháp tiến g tiếng  u châu như từ loại, th àn h p h ần câu và cấu trúc câu về sau, đôi lúc có nhữ ng tác giả giật m ình trư ớ c ngữ liệu bản ngữ - như ng họ m ới nh ìn ra hiện tư ợ ng ch ứ ch ư a thấy hệ thống
Trang 12V iệt n g ữ học n g h iên cứ u các v ân đê n g ô n n gữ V iệt N am , bao gôm rât nhiêu
m ảng: n g ữ âm , từ v ự n g , n g ữ p h áp , p h o n g c ác h học, p h ư ơ n g n gữ học, ngôn ngũ' học x ã hội, n g h iên cứ u v ăn tự (c h ữ N ô m , ch ừ H án, ch ừ Q uốc ngữ), tiếp xúc
n g ô n n g ữ H á n -V iệ t, P h á p -V iệ t, T h e o đó, V iệt n gừ học nằm tro n g cái khung
n g h iên cứu c h u n g c ủ a Đ ô n g p h ư ơ n g
Ớ V iệt N a m có 3 d ò n g Đ ô n g p h ư ơ n g học ngôn n g ữ có tiếp xúc và ảnh
h ư ở n g đ ến V iệt n g ữ học là T ru n g Q u ố c , N g a , Pháp
V iệ t N a m tiế p th ụ tru y ề n th ố n g Đ ô n g p h ư ơ n g học c ủ a N g a, T ru n g Q uốc,
P h áp Đ ô n g p h ư ơ n g h ọ c th ể h iệ n tr ê n p h ư ơ n g d iện Từ pháp học là các th iê n
h ư ớ n g :
a) T iếp tụ c m ô tả n g ô n n g ữ th e o h ư ớ n g m ô p h ỏ n g châu  u, có tính tới
n h ữ n g đặc th ù riê n g lẻ củ a tiế n g V iệ t (từ 1855 đến hết chiến tran h thể giới
th ứ h ai) với q u a n n iệm đ ã là n g ô n n g ữ thì chỉ khác nhau tiểu tiết T ruyền
th ố n g n ày rõ n ét n h ấ t là từ n g ô n n g ữ h ọ c Pháp
b ) T ô n trọ n g các p h ổ n iệm n h ư n g đ ã x u ấ t p h át từ bản n g ữ để có các nhận
x ét m ới K h ở i đ ầu là L ê v ă n L ý (1 9 4 8 ) với chức n ăn g luận cổ điển H òa
n h ập v ào th iê n h ư ớ n g này, v ề sau , cò n có nhiều tác giả đa nguồn (T rung quốc: N g u y ễ n K im T h ản , H ồ L ê, Đ ô n g  u: H o àn g T uệ, Đ ái X uân N inh,
T ây  u: T rư ơ n g V ăn C h ìn h )
c) Đ ô n g p h ư ơ n g h ọ c M ỹ q u a k ê n h M iê u tả luận: E m eneau, T h o m p s o n , d) Đ ô n g p h ư ơ n g h ọ c N g a: N g u y ễ n T ài c ẩ n , C ao X u ân H ạo, Đ inh V ăn Đức,
B ù i K h á n h T h ế, L ý T o àn T h ắ n g
Sự cách tân c ăn b ản n h ấ t tro n g n g h iê n cứ u V iệt n gữ học v à hẹp hơn, tro n g từ
p háp h ọ c th u ộ c v ề th iê n h ư ớ n g c ủ a N g u y ễ n Tài c ẩ n và C ao X uân H ạo
Trang 134.2 Nội dung nghiên cứu của đề tài:
T ro n g giới nghiên cứu N gôn ngữ học và V iệt ngừ học, ai cũng biết Đ ông
p h ư ơ n g học có ảnh h ư ở ng sâu săc đên khoa V iệt ngữ học, nó làm th ay đôi cơ bản về n h ận thức v à cách tiếp cận tro n g nghiên cứu các vấn đề V iệt n g ừ (ngữ
âm, từ v ự n g , n g ữ pháp, văn t ự , ) từ m ấy chục năm nay
C ần làm rõ ảnh h ư ở ng to lớn của Đ ô n g p h ư ơ ng học đến V iệt ngừ học n hư ng cho đ ến nay tro n g giới V iệt n g ữ học chư a có m ột công trình nào nghiên cứu vấn
đề n ày m ột cách hệ th ố n g
Đ ô n g p h ư ơ n g học và V iệt ngừ học qua các vấn đề T ừ pháp học T iến g V iệt
c h ín h là m ộ t điểm nh ấn nhằm :
- L àm sáng tỏ khái niệm Đ ông p h ư ơ n g học ngôn n g ữ - m ột phạm trù còn
ch ư a m inh định trên p h ư ơ n g diện lý lu ận v à thự c tế;
- K h ẳn g định chỉ có x u ất phát từ bản n g ữ thì m ới tiếp thụ đầy đủ các lý luận Đ ô n g p h ư ơ n g học v à góp phần b ổ sung cho nó;
- N h ận diện và phân tích n h ữ n g thành quả của T ừ pháp học T iến g V iệt
d ư ớ i ảnh h ư ở n g củ a các tuyến 1 K ết quả k h o a học: + H ệ th ố n g các vấn đề lý
th u y ế t và k hái niệm Đ ông p h ư ơ ng h ọ c ngôn ngữ + H ệ thống luận cứ, luận
c h ứ n g làm rõ m ối liên hệ giữ a bản ngữ v à việc tiếp cận các lý luận Đ ông
p h ư ơ n g học + T h ố n g kê n h ữ n g th àn h q u ả của T ừ pháp h ọ c T iếng V iệt dưới ảnh
h ư ở n g của các tu y ến Đ ô n g p h ư ơ ng học + Đ ịnh hư ớ ng giải quyết m ột số vấn đề
q u an yếu củ a T ừ pháp học tiến g V iệt th eo lý luận Đ ô n g p h ư ơ n g học đến nay
cò n ch ư a đư ợ c làm sáng tỏ
Đ ể th ỏ a m ãn nhu cầu này Đ e tài triển khai theo các đ ịnh h ư ớ n g và cũ n g là
n h ữ n g nội dun g nghiên cứu cơ bản sau đây: (N hữ ng v ấn đề này cũ n g đan g là
n h ữ n g p h ư ơ n g diện còn được treo tro n g nghiên cứu V iệt n g ữ học.)
• L u ận tổ n g quan về Đ ông p h ư ơ n g học v à Đ ông p h ư ơ n g học ngô n n g ữ
• Đ ịa n g ô n n g ữ và Đ ịa chính trị tro n g Đ ông p h ư ơ ng học v à V iệt ngữ học
• Sự x u ất h iện v à lan tỏa Đ ông p h ư ơ n g học tro n g n g h iên cứu V iệt n g ữ
• Đ ô n g p h ư ơ n g học ngôn ngữ v à các vấn đề thời sự T ừ pháp học
Trang 14N h ữ n g nội d u n g q u a n y ếu củ a T ừ p h á p h ọ c tiếng V iệt đư ợ c đề cập là:
• N g h iên cứ u trư ờ n g h ọ p ]: Đ ô n g p h ư ơ n g học và vấn đề “tiến g ” và “từ ” tro n g tiế n g V iệt
• N g h iên cứ u trư ờ n g h ợ p 2: Đ ô n g p h ư ơ n g học và v ấn đề các T ừ loại tiếng
V iệt: T h ự c từ , h ư từ , tìn h thái từ
• N g h iê n c ứ u trư ờ n g h ọ p 3: Đ ô n g p h ư ơ n g học và vấn đề các phạm trù ngữ
p h áp củ a từ tro n g tiế n g V iệt th eo
Đ ã th ự c h iện (tập h ợ p tro n g b ả n th ả o ) các chuyên đề:
- C huyên đề 1: T ổ n g qu an về Đ ô n g p h ư ơ n g học và Đ ông phương học ngôn ngữ
- C h u y ên đề 2: Đ ịa n g ô n n g ữ v à Đ ịa ch ín h trị trong Đ ô n g p h ư ơ ng học
- C h u y ên đề 3: S ự x u ấ t h iện v à lan tỏ a Đ ô n g phưcmg học tro n g ng h iên cún
V iệt n g ữ
- C h u y ên đề 4: Đ ô n g p h ư ơ n g h ọ c n g ô n n g ữ và các vấn đề thời sự T ừ pháp học: N h ữ n g k h ả thi v à b ấ t k h ả thi
- C h u y ên đề 5: N g h iê n cứ u trư ờ n g h ợ p 1: Đ ông p h ư ơ n g học v à v ấn đề “tiến g ”
và “từ ” tro n g tiế n g V iệt
- C h u y ên đề 6: N g h iê n cứ u trư ờ n g h ợ p 2: Đ ông p h ư ơ n g học và vấn đề các
Từ loại tiế n g V iệ t
- C h u y ên đề 7: N g h iê n cứ u trư ờ n g hợ p 3: Đ ông p h ư ơ n g học v à vấn đề các phạm trù n g ữ p h á p c ủ a từ tro n g tiế n g V iệt
5 Đánh giá về các kết quả đã đạt đư ọc và kết luận:
T rên CO' sở th u th ậ p v à x ử lý tư liệu , đề tài đã triển khai vào các địa h ạt quanyếu, nơi các ản h h ư ở n g củ a Đ ô n g p h ư ơ n g h ọ c đ ến V iệt n g ữ học, cụ thể là đốivới vấn đề từ p h á p học C ó th ể n ó i, ản h h ư ở n g của Đ ô n g p h ư ơ n g học đến từ pháp h ọ c tiế n g V iệ t là rấ t sâu sắc v à diễn ra từ cách n hìn nhận, tiếp cận giải quyết vấn đề đ ến các k ế t q u ả n g h iê n cứ u cụ thể Có thể nói, n hìn vào từ pháp học tiến g V iệt, các v ấn đề từ lớ n đ ến n h ỏ đều có sự ảnh h ư ở n g ít nhiều từ quan niệm , cách tiế p cận , c ác h x ử lý v ấ n đ ề củ a Đ ông p h ư ơ n g học Đ ó có thể là ảnh
h ư ở ng từ tu y ến n h ìn n h ậ n củ a Đ ô n g p h ư ơ n g học H án, Đ ô n g p h ư ơ ng học châu
 u (N ga, P h áp ) h a y Đ ô n g p h ư ơ n g h ọ c h iện đại Các kết quả dự định đều đã
Trang 15đư ợ c thự c hiện cụ thể tại các phần, các chương m ục tro n g bản chuyên luận và các bài báo, báo cáo k h o a học đăng tro n g các T C C N và K ỷ yếu H T Q T với chất
lư ợ n g tốt
6 Tóm tắt kết quả (tiến g V iệt và tiến g A nh)
- 01 ch u y ên khảo, 02 bài báo đăng tại TC C N , 01 bài tại H T Q T
PHÀN III SẢN PHẨM , CÔNG BÓ VÀ KÉT QUẢ ĐÀO TẠO CỦA ĐÈ TÀI
3.1 Kết quả nghiên cứu
Đánh giá chung
2 Sách chuyên khảo được xuât bản hoặc ký hợp đông xuât bản
2.1 Đông phương học và Việt ngữ
học - Bình diện từ pháp học
tiềng Việt, NXB ĐHQG
HN,2017, 366 trang
Đã châp nhận in theo hợp đồng xuất bản sách số 49/
Trang 165 Bài báo trên các tạp chí khoa học của ĐHQGHN, tạp chí khoa học chuyên
ngành quốc gia hoặc báo cáo khoa học dăng trong kỷ yếu hội nghị quốc tế
5.1 Đinh Văn Đức, Nguyên Văn
Chính, Trở vê với bân ngữ: c ố t
lõi của lý luận Đông phương
học cho việc dạy tiếng trong nhà
trường ở nước ta, Tạp chí Ngôn
ngữ số 6, 2017, tr 60 - 70
5.2 Nguyên Văn Chính, Đinh Văn
Đức, Ngữ đoạn tiếng Việt tham
5.3 Nguyên Văn Chính, Vê ngữ
pháp quan hệ trong moi quan hệ
với các thực từ tiếng Việt,tr 148
- 152, Tạp chí Từ điến học và
Bách khoa thư, số 4/2017
5.4 Đinh Văn Đức, Nguyễn Văn
Chính, Việt Nam và Đông Nam
Ả - Asean từ một quan sát địa -
ngôn n%ữ học, Kỷ yếu Hội thảo
với quan điếm về cương vị cùa
người bản ngữ, Kỷ yếu Hội thảo
quốc le “Nghiên cứu và giảng
5.6 Đinh Văn Đức, Nguyễn Văn
Chính, Vùi tiếu quan bản ngữ về
tiếng Việt qua các địa hạt ngữ
âm, từ vựng, ngữ pháp dưới ánh
sáng cùa Đông phương học, Kỷ
yếu HT ngữ học toàn quốc
“Ngôn ngữ ở Việt Nam “Hội
Trang 17Ghi c h ú :
Cột san phâm khoa học công nghệ: Liệt kê các thông tin các sản phâm KHCN theo ỉhứ tự <tên tác giờ tên công trình, tên tạp chí/nhà xuất ban, số phát hành, năm phát hành, trang đăng công trình, mã công trình đăng tạp chí/sách chuyên khảo (DOI), loại tạp chỉ ỈSI/Scopus>
Các ân phấm khoa học (bài báo, báo cáo KH, sách chuyên khảo ) chỉ đươc chây nhân nếu có ghi nhận địa chỉ và cảm ơn tài trợ cùa ĐHOGHN theo đúng quy định.
Bủn phô tô toàn văn các ẩn phẩm này phải đưa vào phụ lục các minh chứng của báo cáo Riêng sách chuyên khào cần có bản phô lô bìa, trang đầu và trang cuối có ghi thông tin
Công trình công bô liên quan
(Sản phâm KHCN, luận án, luận
trong tiếng Anh và các chuyển dịch sang tiếng Việt
X
Tiên tới xây dựng một từ điên động từ với kết trị cú pháp (dùng cho người nước ngoài)
Cột công trinh công bố ghi như mục III 1.
PHẦN IV TỎNG HỢP KẾT QUẢ CÁC SẢN PHẨM KH&CN VÀ ĐÀO TẠO CỦA
ĐỀ TÀI
đăng ký
Sô lưọng đã hoàn thành
1 Bài báo công bô trên tạp chí khoa học quôc tê theo hệ thông
ISI/Scopus
2 Sách chuyên khảo được xuât bản hoặc ký hợp đông xuât
bản
3 Đăng ký sở hữu trí tuệ
5 Sô lượng bài báo trên các tạp chí khoa học của ĐHQGHN,
tạp chí khoa học chuyên ngành quốc gia hoặc báo cáo khoa
học đăng trong kỷ yếu hội nghị quốc tế
6 Báo cáo khoa học kiên nghị, tư vân chính sách theo đặt
hàng của đơn vị sử dụng
7 Kêt quả dự kiên được ứng dụng tại các cơ quan hoạch định
chính sách hoặc cơ sở ứng dụng KH&CN
15
Trang 18PHÀN V TÌNH HÌNH s ử DỤNG KINH PHÍ
Dịch tài liệu tham khảo (so trana X đơn giá)
ngh iên cứ u
Chi phí tàu xe, công tác phí
Chi phí thuê mướn
(Chi p h í thuê m ướn NCS, học viên cao học p h ù hợp
với m ục 20)
Thuê trang thiết bị
Mua trang thiêt bị
Mua nguyên vật liệu, cây, con
Trang 19PHẦN VI KIÉN NGHỊ (vềphát triển cúc kết quà nghiên cửu của đề tài; về quản lý, tổ chức thực hiện ở các cấp)
Đe nghi cho phép sừ dụng sản phẩm (chuyên luận) vào đào tạo chương trình tiến sĩ Ngôn ngữ học
PHẦN VII PHỤ LỤC (minh chứng các sàn phẩm nêu ở Phần III)
(Bản đính kèm)
H à Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2017
Chủ nhiệm đề tài
(Họ tên, chữ kỷ) (Thủ
Đơn vị chủ trì đề tài
trưởng đơn vị ký' tên, đóng dấu)
TL HTEU TRƯƠNGTRƯỞNG PHÒNG: Í U M M
PGỈ.IS M d à /tỷ V m ^ u á n
PGS TS Nguyễn Vãn Chỉnh
ị đai h ọ c ÕŨOCGIA hà NÔ! í
JRU N SMm thông tin ih ư v ẹ n
0 0 0 6 0 0 0 O l i M
Trang 20VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Trang 21NGÔN NGỮ
số 6 - 2017
•k'k'k'k'k'k'k'k-k'k'k'k'k'k'k'k'k'k'k'k'k-k'k'k'k'k'k'k'k'k-k'k
MỤC LỤC
Thái ở T ây Bắc V iệt N am 3
N G U Y Ễ N V Â N PHỔ: N gữ pháp của cảv à t ấ t cả 18
thể người trong phương ngữ N am
Bộ 41
M ỹ T ho 49
T rở về vớ i bản n g ữ: c ố t lõi của lí
tàng trong tiếng V iệt và tiếng Anh
về hệ thống chuyển tác 70
Trang 22NGÔN NGŨ
2017
TRỞ VÈ VỚI BẢN NGỮ:
CÓT LÕI CỦA LÍ LUẬN ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
CHO VIỆC DẠY TIẾNG TRONG NHÀ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA*
ĐĨNH VẤN ĐỨC**- NGUYỄN VAN CHÍNH *
been influenced by the Oriental studies in the innovation of two domains: a) Teaching and learning foreign languages; b) Teaching and learning native languages The present paper focuses on the latter domain Native language instruction is the foundation
of Oriental studies, which embraces particular aims, contents and approaches The language instruction for native speakers should focus on the linguistic pragmatic aspects In Vietnam, however, the teaching of Vietnamese in schools was unsuccessful due to the fact that cmriculum and textbooks have targeted at the language structure (phonetics, vocabulary, grammar) instead of the language products in spoken and written settings In order to overcome these limitations, Vietnamese teaching program
to the native speakers should be essentially amended in terms of the contents and methods for Vietnamese subject
Vietnamese.
1 Đăt vấn đề
Trong ngôn ngữ học ứng dụng, giáo dục ngôn ngữ (GDNN) chiếm một vị trí quan trọng Nhìn chung, GDNN nước ta chịu nhiều ảnh hưởng của Đông phương học ở cả hai mảng dạy - học ngoại ngữ và dạy - học bản ngữ Bài viết này đề cập đến mảng hoạt động thứ hai
* Bài viết đã nhận được sự hỗ trợ từ đề tài NCKH mã số QG 16-37 của Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trang 23ở Việt Nam, cho đến nay, việc dạy tiếng V iệt trong nhà trường chưa thành công là do chỗ trong đa số trường họp chương trình và sách giáo khoa đều tập trung mô tả diện mạo cơ cấu tiếng Việt (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) cho người học, trong khi đó những “sản phẩm trực tiếp” của hoạt động nói và viết lại ít được giảng dạy và chưa thực sự chú ý tới việc rèn luyện cho người học các kĩ năng dụng ngôn Để khắc phục những hạn chế đó, chương trình dạy tiếng Việt cho học sinh bản ngữ cần có một sự thay đổi căn bản về nội dung và phương pháp dạy học môn tiếng Việt Bài viết này đưa ra thông điệp: Giáo dục ngôn ngữ đầu tiên là phải nhằm vào giảo dục bản n g ữ và hãy quay về với những nội dung cốt lõi của bản ngữ trong việc rèn luyện tiếng mẹ đẻ cho học sinh phổ thông (và cả sinh viên đại học) Những nội dung cơ bản của dạy - học tiếng Việt là dựa vào thành tựu Đông phương học: Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập và cân rèn luyện cho học sinh các kĩ năng tiêp nhận và tạo lập ngôn bản (nghe, nói, đọc, viết) dựa trên ngữ năng của người Việt mà trẻ em ngay từ tuổi tiền học đường đã sở hữu (nói được những điều muốn nói, nghe và hiểu được những câu cần nghe).
2 Ngôn ngữ và dạy học
Trên một phương diện, nhà trường là môi trường để người học bày tỏ những
ý kiến của mình trước những tri thức được trao cho Trong giáo dục hiện đại có
cả kênh phản hồi từ phía người học Ngôn ngữ các bài thuyết trình {presentation), hay tập nói trước công chúng {public speaking) thể hiện nhận thức và phản ứng của người nói, người nghe về các thông tin tiếp nhận
Trong các trường đại học, việc thuyết trình đối với sinh viên là rất quan trọng Nhưng trước khi thuyết trình thì phải viết bài luận Kĩ năng ngôn ngữ của thuyết trình và cách viết bài luận (essay) là một nội dung của ngôn ngữ học ứng dụng Trình bày, thảo luận nhóm trước giáo sư, người nói nhận được sự đánh giá năng lực tham gia thảo luận
Sản phẩm viết cũng có từ hai phía: Phía truyền đạt kiến thức qua sách vở đã được chắt lọc, cô đọng, cân bằng, thể hiện trong ngôn ngữ giáo khoa chuẩn mực,
Trang 2462 Ngôn ngữ số 6 năm 2017
sư phạm Ngôn ngữ sách giáo khoa là một hệ thống chuẩn xác Nó rất ít thay đổi phong cách, đặc biệt là những sách khoa học và công nghệ Ngôn ngừ sách giáo khoa có tính truyền thống
Từ phía người học, ngay từ đầu cấp tiêu học đã được rèn luyện cách đọc, cách viết Khi học lên cấp cao hơn thì được rèn luyện cách lĩnh hội, tiếp nhận
và tạo lập văn bản khoa học và những giao dịch chuyên ngành N hà trường ít dạy việc sáng tác văn chương vì đó thuộc về lĩnh vực nghệ thuật, có yếu tố năng khiếu của từng người
2500 năm trước, ở Trung Hoa, Khổng Tử đã mở trường dạy học truyền bá học thuyết Nho giáo, về sau Hán học có hai công cụ để giáo dục ngôn ngữ là sách giáo khoa và thi cử
Từ rất sớm ngôn ngữ học đường đã thể hiện tư tưởng qua ngôn ngữ giáo khoa với nội dung biểu đạt có độ chính xác cao, có tính kinh điển và thời đại Ngôn từ giáo khoa có chất lượng cao, chuẩn mực và thẩm mĩ, người ta học từ sách giáo khoa không chỉ kiến thức, phương pháp mà còn cả cách tạo ngôn.Sách giáo khoa cổ điển lấy truyền đạt kiến thức làm chính N gày nay, sách giáo khoa vừa cung cấp tri thức vừa cung cấp phương pháp cho người học và ngày càng được tinh giản Ngôn ngữ hiện đại lại có thêm những công cụ hỗ trợ trong nghe, nhìn, Ngôn ngữ sách giáo khoa còn liên thông với ngôn ngữ văn bản khoa học và công nghệ,
3 Ý nghĩa và mục tiêu của dạy học bản ngữ
Bản n g ữ là tiếng mẹ đẻ (native language), người nói tiếng mẹ đẻ là người bản n g ữ (inative speaker). Tiếng mẹ đẻ - tình thân hữu giữa ngôn ngữ và con người Tiếng mẹ đẻ là một sản phẩm xã hội chứ không phải là một sản phẩm di truyền Cùng với tiếng mẹ đẻ, chúng ta còn có tư duy bản ngữ và văn hóa bản ngữ Người bản ngữ là người sở hữu cả tư duy, ngôn ngữ và văn hóa bản xứ Vì vậy, lời nói ra của người bản ngữ đại diện cho cả ba thứ đó, những gì người bản ngữ nói ra bao hàm cả tư duy và văn hóa bản xứ Theo F de Saussure: “N gười bản ng ữ luôn đúng”. Những gì người bản ngữ nói sẽ thành chuẩn để so sánh với ngoại ngữ Khác với ngoại ngữ, dù ngoại ngữ có giỏi đến đâu cũng không thể thay thế được cho tư duy bằng tiếng mẹ đẻ (phải là người Việt mới thấm được linh hồn các phát ngôn Việt, những câu ca dao, tục ngữ, ngôn ngữ Truyện
Trang 25Trở vê với bản ngữ 63
mà là một hiện tượng xã hội, nằm trong cơ chế tiếp nhận Mỗi người có một cơ chế “bẩm sinh” để thụ đắc ngôn ngữ, nhưng sự tiếp nhận ấy phụ thuộc rất nhiều vào môi trường giao tiếp, môi trường xã hội Nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Noam Chomsky (1928) đã nhận xét rằng, người bản ngữ sở hữu ngôn ngữ qua cái gọi là ngữ năng Ngữ năng là đặc trưng của bản ngữ Chomsky đã thông qua ngôn ngữ trẻ em để xác nhận điều này Trẻ em học tiếng mẹ đẻ có một đặc điểm đó
là lối học nói không giống với lối học tri thức ở nhà trường Một đứa trẻ lớp 2 không thể giải được một bài toán lớp 5 bởi chúng chưa đủ vốn kiến thức Nhưng với việc học ngôn ngữ, từ nhỏ tới thời điểm cận học đường, năng lực ngôn ngữ của trẻ em đã khá hoàn chỉnh Trước khi tới trường, trẻ em đã có thể nói được tất cả những điều gì chúng muốn Nghĩa là ngữ năng của chúng đã hoàn chỉnh, v ố n từ vựng có thể thiếu, nhưng ngữ pháp thì y hệt người lớn Ngữ năng này người phi bản ngữ không có, chỉ có thể có được qua rèn luyện và học tập Hàng ngày chúng ta sử dụng ngữ năng để hoạt động ngôn từ, gọi là dụng ngôn Mỗi người có một khả năng dụng ngôn khác nhau, điều này thuộc về năng lực ngôn ngữ
Nghiên cứu về bản ngữ phải nghiên cứu theo mô hình tam phân: ngôn ngữ -
tư duy - văn hóa Trong ngữ dụng, có lối nói tường minh và lối nói hàm ẩn Lối nói hàm ẩn của người bản ngữ thì chỉ người bản ngữ mới hiểu, bởi đằng sau nó
là văn hóa của người bản ngữ Nghiên cứu này gọi là nghiên cứu dụng ngôn Nghiên cứu dụng ngôn phải nghiên cứu về cả mặt ngữ nghĩa và ngữ dụng Sau bản ngữ là những nền văn hoá Văn hóa ngôn từ là thói quen giao tiếp đã được định hình theo những chuẩn mực văn hoá Bản ngữ luôn biến đổi và đa dạng hoá, ví dụ: Tiếng Việt từ thế ki XIX đến nay đã thay đổi rất nhiều, thêm nhiều sản phẩm mới, văn chương chữ quốc ngữ, báo chí, truyền thông
Giáo dục bản ngữ đã xuất hiện từ lâu và là truyền thống của mỗi quốc gia, thể hiện ở giáo dục học đường, khoa cử, sáng tác văn học, sau này là báo chí - truyền thông, trong đó dạy tiếng mẹ đẻ ở nhà trường là m ột vấn đề hết sức quan trọng Mục tiêu lớn của việc giáo dục tiếng mẹ đẻ bắt đầu từ đâu? Theo truyền thống phương Đông thì công việc này bắt đầu từ giáo dục văn tự (học chữ) Mục tiêu sơ khởi nhất là biết đọc và biết viết Thanh toán nạn mù chữ ở một quốc gia
là không đơn giản Chẳng hạn, ở châu Phi số lượng người mù chữ hiện nay còn rất nhiều và phổ biến
Trước năm 1945, dưới chế độ phong kiến và chế độ thực dân, các trường học ở nước ta không dạy - học bằng tiếng mẹ đẻ mà dạy - học bằng chữ Hán, thi bằng chữ Hán (thời phong kiến), hay dạy - học, thi cử bàng tiếng Pháp (thời thuộc địa thực dân) Như vậy, giáo dục học đường ở V iệt Nam trong suốt một thời gian dài chủ yếu là bằng ngoại ngữ
Trang 2664 Ngôn ngữ số 6 năm 2017
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước ta giành được độc lập, lúc đó hon 90% dân ta mù chữ, điều này được coi như một trong ba "quốc nạn" (giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm) mà chúng ta phải đối mặt và phải khấn trương tìm cách tháo gỡ Vì thế, Hồ Chủ tịch đă kí sắc lệnh Thanh toán nạn mù chữ và thành lập N h a Bình dân học vụ (ngày 08 tháng 09 năm 1945) với mục tiêu là trong hai năm 1946 - 1947, trên phạm vi toàn quốc những người từ 8 - 45 tuôi đều phải biết đọc và biết viết Phong trào xoá nạn mù chữ này đã rất thành công, kết quả là đã có 90 phần trăm người dân biết đọc, biết viết Cũng ở thời kì này, một điểm đánh dấu quan trọng nữa trong lịch sử phát triển ngôn ngữ dân tộc là tiếng Việt và chừ Việt (chữ quốc ngữ) đã được dùng chính thức trong trong giáo dục học đường cũng như nhiều lĩnh vực quan trọng khác của quốc gia
Như vậy, việc giáo dục bản ngữ ở Việt Nam thực sự được khởi đầu từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 với phong trào Bình dân học vụ Sau 1950, hệ thống giáo dục Việt Nam dạy bằng tiếng Việt tò tiểu học đến đại học Năm học 1956-1957 ở miền Bắc, có môn tiếng Việt trong nhà trường Sách giáo khoa
“N gữ pháp Việt Nam ” (của Nguyễn Lân) dùng cho các lóp 5, 6, 7 đã được ra đời Tuy nhiên, ngay từ đầu phương pháp của cuốn sách đã có sự nhầm lẫn khi
mô tả ngữ pháp tiếng Việt cho người bản ngữ và dạy tiếng Việt giống như dạy một ngoại ngữ
Giáo dục bản ngữ cần dựa trên cơ sở tiếp nhận xã hội, hướng dẫn người bản ngữ tự sừ dụng ngôn ngữ m ột cách hiệu quả hơn qua các việc như: sửa chữa lỗi phát âm, lỗi chính tả (quy tắc có tính quốc gia), hiểu đúng và làm chủ nghĩa của từ ngữ,
Mục tiêu giáo dục chung là giúp cho người bản ngữ nói tốt hơn và viết tốt hơn, nâng cao năng lực giao tiếp và khả năng thưởng thức nghệ thuật, hiểu được truyền thống ngôn ngữ văn học dân tộc, vận dụng nó trong việc sáng tác nghệ thuật, giáo dục tình yêu đối với tiếng mẹ đẻ gắn với văn hoá dân tộc Mục tiêu cụ thể của việc dạy tiếng mẹ đẻ cho người bản ngữ là rèn luyện và nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ như:
- Phát âm đúng chuẩn, viết đúng chính tả;
- Lựa chọn và sử dụng đúng từ ngữ;
- Sử dụng các loại dấu câu, thiết lập đoạn văn, tổ chức văn bản;
- Có k ĩ năng thuyết trình, kĩ năng nói trước công chúng;
- Nâng cao chất lượng văn hoá đọc;
- Hình thành các kĩ năng tạo lập, biên tập văn bản
Trang 27Trở về với bản ngữ 65
Sách giáo khoa dạy tiếng mẹ đẻ của chúng ta đã qua mấy thế hệ nhưng vẫn còn nhiều nhược điểm chưa khắc phục được Trong đó, nhược điểm lớn nhất là cách dạy bản ngữ như là dạy một ngoại ngữ và ở đó có rất nhiều tri thức không cần dạy cho người bản ngữ
Ngôn ngữ - tư duy - văn hoá là ba phạm trù luôn đồng hành với nhau Như vậy, giáo dục bản ngữ có mục tiêu rất rõ ràng trong quan hệ bộ ba ây Nó giúp con người suy nghĩ nhạy bén hơn, giao tiếp tốt hơn bàng ngôn ngữ mẹ đẻ và thẩm thấu sâu hơn những giá trị văn hóa dân tộc Giáo dục bản ngữ để hướng người ta tới chỗ: a) Hiểu đúng, nói đúng, viết đúng theo những chuẩn mực xã hội (chuẩn mực này hình thành trong quá trình lịch sử và luôn luôn hiện đại hoá trên hai phương diện “đúng” và “hay”); b) Có được tình yêu đối với tiếng mẹ đẻ và góp phần làm cho nó ngày một phong phú; c) Thưởng thức tác phẩm nghệ thuật ngôn từ Tình yêu đối với tiếng mẹ đẻ luôn có một ý nghĩa vô cùng cao đẹp và thiêng liêng Người bản ngữ đã tạo ra những tác phẩm văn học có giá trị từ ngôn ngữ mang đặc trưng văn hoá Đặc biệt là năng lực sáng tạo và tiếp nhận văn học của người bản ngữ Trong một thời gian dài, chúng ta thường hướng dẫn học sinh tiếp cận, phân tích tác phẩm văn học từ hai góc độ: nội dung và nghệ thuật, song mới chỉ chú ý đến nội dung còn phân tích nghệ thuật thì còn rất sơ sài, người học chưa thực sự cảm nhận được cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật
4 Nội dung dạy bản ngữ
Giáo dục bản ngữ có hai việc lớn là dạy kiến thức tiếng mẹ đẻ tại nhà trường, trang bị cho người học những tri thức cần và những cách thức (dụng ngôn) diễn đạt bằng tiếng mẹ đẻ Nó được thể hiện trong mối quan hệ của một mô hình tam phân:
r
Phương pháp dạy tiêng
Bất kì một nội dung nào đó được giảng dạy trong nhà trường bằng tiếng
mẹ đẻ đều phải theo mô hình này
- Chương trình: Trong chương trình, những nội dung tri thức được giới thiệu, được thiết kế theo một tổng thể, một trình tự, m ột quy hoạch nhất định Chương trình phải luôn luôn ổn định nhưng không cố định
Trang 28- P hư ơng p h á p dạy tiếng: Phương pháp dạy học bản ngữ khác với phương pháp dạy học ngoại ngừ, không chỉ đon thuần là sự truyền thụ và tiếp nhận kiến thức Sự phát triển, mở rộng ứng dụng là những yêu cầu bắt buộc và nhất là phải tăng cường khả năng thực hành tiếng, đặc biệt là những kĩ năng giúp người bản ngữ tạo lập thành công những sản phẩm ngôn bản Chẳng hạn, khả năng thuyết trình khi nói, khả năng thiết kế văn bản khi viết, Đây là Iihừng kĩ năng rất quan trọng Phương pháp tổng họp với từng nhóm đối tượng là yếu tố cần được chú
ý khi dạy người bản ngữ tiếng mẹ đẻ Ví dụ: ở đại học, hai kĩ năng quan trọng nhất đối với người học là thuyết trình và viết báo cáo khoa học,
Giáo dục ngôn ngữ “k ĩ th u ậ t”: Là giáo dục ngôn ngữ theo các nghiệp vụ Chẳng hạn: giáo dục ngôn ngữ báo chí và truyền thông (tập viết báo, kĩ thuật phỏng vấn, dẫn chương trình, thuyết trình trước công chúng, ); giáo dục ngôn ngữ trong các nghề nghiệp khác; rèn luyện kĩ thuật biên tập và xuất bản
Bốn nội dung quan trọng của giáo dục bản ngữ là:
- Giáo dục văn tự (chữ viết)
- Ngôn ngữ học đường bằng tiếng mẹ đẻ
- Ngôn ngữ trong nhà trường
- Giáo dục ngôn ngữ “kĩ thuật”
Chúng ta đã đạt được những thành công nhất định trong việc giáo dục văn
tự (chữ viết) và ngôn ngữ học đường bằng tiếng mẹ đẻ Riêng môn tiếng Việt trong nhà trường và giáo dục ngôn ngữ “kĩ thuật” thì chưa thành công Lộ trình học tiếng Việt trong nhà trường chưa đạt được yêu cầu M ột lí do cơ bản là đã
có một sự lầm lẫn giữa việc dạy tiếng mẹ đẻ cho người bản ngữ và dạy ngoại ngữ Dạy những cái không cần (mô tả tiếng mẹ đẻ cho người bản ngữ) và không dạy những cái cần (hướng dẫn sử dụng ngôn từ trong giao tiếp và chế tạo các sản phẩm trên văn tự), chưa định vị được những việc cần ưu tiên trong giảng dạy tiếng mẹ đẻ cho học sinh các cấp: giáo dục văn tự (viết cho đúng, cho đẹp); chữa lỗi phát âm để sao cho chuẩn; chữa lồi chính tả, giải thích ý nghĩa của từ
để sử dụng tò ngữ cho đúng (từ điển giải thích là công cụ, hồ trợ cho việc dạy
và học tiếng mẹ đẻ); dạy các nghi thức của lời nói như chào hỏi, bộc lộ cảm xúc, nhận xét, đánh giá, cầu khiến, Đặc biệt là phải dạy cho học trò phép lịch sự
Trang 29Trở vê với bản ngữ 67
trong ngôn từ giao tiếp, giúp các em học sinh tổ chức những văn bản từ đơn giản đến phức tạp; kĩ năng thuyết trình bằng tiếng mẹ đẻ (trả lời, phỏng vân, hỏi, trình bày, )
Người bản ngữ sử dụng thành thạo chức năng ngôn ngữ bản ngữ Vì vậy, nhiệm vụ của người bản ngữ khi đi học ở nhà trường là trau dồi ngữ năng - kĩ năng sử dụng ngôn ngữ của mình - đó là kĩ năng nói và viết - trên cơ sở đã có
N ội dung học tiếng mẹ đẻ cần chia thành nhiều cấp độ Chẳng hạn như việc học ngữ âm: vấn đề chuẩn phát âm chứ không phải học phát âm, cần điều chỉnh mối quan hệ giữa tiếng phổ thông và tiếng địa phương Phát âm tiếng Việt có một độ dao động, phải nghe được mọi giọng và viết chuẩn chính tả v ề mặt từ vựng, mỗi người Việt lại có vốn từ vựng khác nhau, phải có khả năng đối chiếu ngữ nghĩa trong từ vựng
v ề ngữ pháp, ngữ pháp của mỗi ngôn ngữ về cơ bản tương đối ổn định và
có độ bền Song đó chỉ là về phương diện lí thuyết, còn khi vận dụng vào trong thực tế thì vẫn có nhiều biến đổi khác biệt Cách dạy ngữ pháp cho người bản ngữ phải là trau dồi cách nói và cách viết tiếng mẹ đẻ Dạy người bản ngữ là dạy kĩ năng nói và viết Khía cạnh thứ hai là trau dồi văn hóa bản ngữ, bồi đắp tình yêu với tiếng mẹ đẻ Quý trọng nền văn hóa dân tộc là quý trọng ngôn ngữ
mẹ đẻ Để trau dồi tình yêu với bản ngữ thì phải dạy qua sản phẩm lời nói và câu văn Nói và viêt lời hay ý đẹp Ngoài chức năng chính là công cụ giao tiêp, ngôn ngữ còn có những chức năng phụ trợ khác như: chức năng thơ ca, chức năng bộc lộ cảm x ú c , Bản thân mỗi người học cũng phải tham gia sáng tạo sản phẩm và hoàn thiện sản phẩm ngôn từ mà sản phẩm quý giá nhất là tác phẩm văn học và sản phẩm truyền thông Ưu tiên cho việc dạy tiếng mẹ đẻ là kiểm tra
và hoàn thiện sản phẩm nói và viết, (“ăn cho nên đọi, nói cho nên lời”, “lựa lời
m à nói cho vừa lòng nhau”), cụ thể là:
Trong giao tiếp trực tiếp bằng lời nói:
- Trách nhiệm lời nói cá nhân trong hội thoại;
- Giao tiếp theo nhóm;
- Giao tiếp trước công chúng
Trong giao tiếp dân sự không được xâm phạm lãnh địa cá nhân và vi phạm nguyên tắc về tính lịch sự
Trong giao tiếp gián tiếp bằng chữ viết:
- Viết đúng quy tắc chính tả và sử dụng dấu ngắt câu;
Trang 306 8 Ngôn ngữ số 6 năm 2017
- Soạn thảo văn bản đúng quy cách và chuẩn mực: viết văn bản khoa học,
kĩ thuật, công nghệ; viết báo chí và các sản phẩm truyền thông; sáng tác văn học nghệ thuật;
5 C ác th à n h tố tro n g dạy bản n g ữ
Công cụ dạy tiếng là một bộ ba bao gồm: Giáo viên + Chương trình + Sách giáo khoa
1) Giáo viên là yếu tố quan trọng nhất, người thầy có nhiệm vụ hướng dẫn
và rèn luyện người học Tri thức ngôn ngữ là quan trọng với giáo viên Người giáo viên phải có hiểu biết sâu sắc về ngôn ngữ, muổn trải nghiệm thì phải thực hành, có tri thức, kinh nghiệm và sáng tạo Trong việc dạy tiếng, nghệ thuật truyền đạt phải cao Người dạy không chỉ dạy cách sáng tạo sản phẩm mà còn phải dạy cách hưởng thụ sản phẩm, c ầ n dạy cả kĩ năng sáng tác cho người bản ngữ (viết văn, làm thơ)
2) Chương trình môn học: Chương trình là bản định hướng và định tính về nội dung, là thước đo về dung lượng kiến thức cần trao cho người học Chương trình cần chia ra thành các thang độ Mỗi thang độ cần phù hợp với từng nhóm đối tượng đích Ở trường phổ thông, chương trình được xây dựng theo hình xoáy
ốc, ở đại học thường theo đường thẳng đứng
3) Sách giáo khoa: Sách giáo khoa thể hiện tính công cụ điển hình và là cầu nối giữa người học và người dạy Sách giáo khoa cần được sử dụng như một công cụ hỗ trợ tích cực, có tính cẩm nang, biên soạn theo các phương pháp mới và cập nhật liên tục về mặt phương pháp Tuy nhiên, các sách giáo khoa ở
ta trong khi viết về tiếng Việt cần bám sát những đặc trưng của bản ngữ mà quan yếu nhất là đặc trưng tính đcm lập trong cả hai nội dung từ pháp và cú pháp
TÀI LIỆU THAM KHẢO
T iếng Việt
1 Barry Clough (2008), Nghệ thuật nói trước công chủng, Nxb Hồng Đức, Thanh Hóa
2 Cao Xuân Hạo (1999), Tiếng Việt - M ẩy vẩn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa,
Trang 317 Đỗ Thị Kim Liên (1999), Ngữ nghĩa lời hội thoại, Nxb GD, Hà Nội.
8 G Brown, G Yule (2002), Phân tích Diễn ngôn, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội
9 Hervouet Loic (1999), Viết cho độc giả, Hội nhà báo Việt Nam
10 Lương Khắc Hiếu (chủ biên) (2008), Nghệ thuật phát biểu miệng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
11 Trường ĐH Ngoại ngữ - ĐHQG Hà Nội (lưu hành nội bộ) (2008), M ột số vấn
đề ngôn ngữ học ím g dụng, Hà Nội
Tiếng Anh
12 A Pters (1883), The Units o f Language Acquisition, Cambridge: CUP
13 D Larsen-Freemanm, L, Cameron (2008), Complex Systems and Applied Linguistics,
Oxford: OƯP
14 E Kaplan (2005), The Oxford Handbook o f Applied Linguistics, Oxford Blackwell
15 H.G Widdowson (1990), Aspects o f Language Teaching, Oxford: OUP
16 M.J Me Carthy (1998), Spoken Language and Applied Linguistics, Cambridge,
CUP.
17 Norbert Schmitt, (2010), An Introduction to Applied Linguistics, Hodder Education, UK
18 P Brown, s c Levinson (1987), Politeness, Some universals in language usage,
Cambridge University Press, Cambridge
Trang 33N G Ô N N G Ữ & đời số n g M Ụ C L Ụ C L A N G U A G E and L IFE
N G Ô N N G Ữ HỌC V À V IỆT N G Ữ HỌC
N G U Y E N V Ă N C H ÍN H N g ữ đoạn tiếng V iệt tham chiếu tò m ột vài chứng 3
Đ IN H V À N Đ Ứ C tích ngữ pháp lịch sử
reference o f historical grammar
N G U Y ỄN THỊ TH U TRA N G K ết tò m à trong tiếng V iệ t 13
The argumentative connector mà in Vietnamese
C H U T H Ị PH O N G L A N C hiến lược giao tiếp khi m ặc cả trong m ua bán 19
của sinh viên (từ góc độ lịch sự )
Communicative strategies in bargains in buying - selling o f student (from politeness perspectives)
N G U Y E N T H Ị K H Á N H CHI H ành động x in lỗ i v à hành động khen gián tiếp 25
người Nghệ Tình)
Indirect hedging apologizing and complimenting speech acts (based on daily communication o f Nghe Tinh people)
P H Ạ M N G Ọ C Đ O A N c ấ u trúc thành ngữ tiếng V iệt trong phóng sự trên 30
báo Đ à N a n g
Structures o f Vietnamese idioms in reportage on the Da Nang newspaper
L Ê P H Ư Ơ N G T H Ả O M ột v ài đặc điểm của các từ ngữ chỉ m àu sắc 34
trong tiếng Anh và tiếng Việt
Some characteristics in research on English and Vietnamese colour terms
N G O ẠI N G Ữ V Ớ I B Ả N N G Ữ
P H Ạ M T H Ị T H A N H T H Ù Y Đ ánh giá dịch thuật b ản dịch hiệp định xuyên 39
T hái B ình D ương TPP theo m ô hình của Peter
N ew m ark
Trang 34H ành động hỏi-cầu khiến tro n g tiếng H àn 46
Interrogative-imperative speech acts in the Korean language
Đ ặc điểm thanh điệu tro n g thơ tự do B ằng Việt 57
Characteristics o f tones in free verse by Bang Viet
N G Ô N N G Ữ V À V Ă N HÓA
M ột số m ô hình lời chúc h iện n ay 60
Some current models o f congratulation
Đ ặc trưng về xưng hô ừ o n g lời ca quan họ Bắc 64
T ừ âm vị học v à âm tiết ứ o n g các ngôn ngữ 74nhóm K hơ M ú ở V iệt N a m
Phonological words and syllables in Kho Mu languages in Vietnam
Trang 35số 6 (260)-2017 NGÔN NGŨ & ĐỜI SÓNG 3
NGÔN NGỮ HỌC VÀ VIỆT NGỮ HỌC
NGỮ ĐOẠN TIÉNG VIỆT THAM CHIẾU
TÙ MỘT VÀI CHỨNG TÍCH NGỮ PHÁP LỊCH s ử 1
NGUYỄN VĂN CHÍNH- - ĐINH VĂN ĐỨC **
1 Cú pháp, theo như thuật ngữ truyền
thống, có hai địa hạt là ngữ pháp ngữ đoạn/cụm
từ và ngữ pháp của câu
Ngữ pháp tiếng Việt, qua một số chứng tích
từ thế kỉ 15, nhất là ngữ pháp khẩu ngữ, cho
thấy ngữ pháp của các lối nói thiên về mặt
phong cách và ngữ dụng Trong một phát ngôn
ca dao kiểu như: “Tôi đã bảo mẹ rằng đừng/Mẹ
ham mẹ hứ mẹ bưng ngay vào” cấu trúc cú
pháp này khá đậc trưng cho lối diễn đạt theo
ngữ pháp khẩu ngữ tiếng Việt Một câu khác:
"Tôi không anh anh em em gì với nó cả" thì cái
cụm từ “anh anh em em” là vị ngữ ngữ pháp
nhưng sự tình được biểu đạt cách hàm ẩn về
mặt ngữ nghĩa Kết cấu này có giả trị tương
đương với một động từ (vị ngữ) nhưng giá trị
tình thái thì rộng hơn thế Người nói ở đây
không cần đến thì đến thể đến những dấu hiệu
ngữ pháp kiểu châu Âu, thay vào đó là những
tổ chức rất đặc biệt (mẹ hẩm, mẹ hử) bằng cách
lặp từ, điệp từ, tách từ, rồi biểu hiện theo
phong cách chức năng với giá trị ngữ pháp biểu
đạt qua phương tiện tinh thái là cái mà ngữ
pháp biến tố không có
Khi quan sát cú pháp ừong văn bản văn xuôi
thuộc văn học cổ chứng ta cũng thấy có nét đậc
thù, chẳng hạn lấy bản “Truyền kỳ mạn lục giải
ám” của Nguyễn Thế Nghi (khoảng thế kỉ 17)
làm ví dụ, chúng ta sẽ thấy trong văn bản chữ
Nôm này hiện tượng văn xuôi chưa có dấu
chấm câu Người Việt trên văn bản chữ Nôm,
vẫn theo lối chữ Hán, chưa có chấm câu và
chưa có đánh dấu ngắt như ừong các bài văn
viết hậu kĩ Thứ nữa, như đã nói, ngay trong
ngữ pháp văn viết, mật độ từ đơn tiết khá đậm
đặc, và mỗi một từ đơn tiết đều có một chức
nàng ngữ pháp riêng biệt Điểm thứ ba là sự
xuất hiện việc dùng các từ ghép, lúc đầu là từ
ghép thuần Việt (láy âm, láy nghĩa) sau đó mở rộng đến tò ghép Hán-Việt Chỉ trong văn xuôi hiện đại thì từ ghép Hán và Việt mói có theo
mô hình châu Âu Tuy nhiên, từ ghép chưa phải
là bằng chứng của ngữ đoạn, mặc dầu nó có dáng dấp của ngữ đoạn nhất là từ ghép chính - phụ (mot composite)
pháp cần quan sát đầu tiên
Ngữ đoạn là những tổ hợp tự do ban đầu thường là từ đơn cặp đôi, cặp ba phổ biến là dạng danh ngữ với một danh từ và một từ chỉ đơn vị đứng ở trước, hoặc động ngữ với động
từ và một vài phụ từ tình thái (xong, rồi, đã, chưa, ) không nhất thiết là một cấu trúc phức hcrp Hiện tượng ngữ đoạn phức họp ở các thế
kỉ 15, 16 chưa nhiều, nhất là kiểu ngữ đoạn có
có mô hình (danh ngữ, động ngữ) đầy đủ với định ngữ dài
Theo phương cách cấu trúc mờ rộng ngữ đoạn có nhiều thông tin hơn từ ghép, nhất là các thông tin phụ được nổi tiếp với trung tâm ngữ pháp Các thành tô phụ tăng cường và bô sung thông tin làm phức tạp hoá cái kết cấu ngữ đoạn, đặc biệt ba ngữ đoạn chính là danh ngữ, động ngữ và tính ngữ So với các thế kỉ trước
đó (theo chứng tích văn bản thế kỉ 15 và 16) từ khi có chữ Quốc ngữ thì các ngữ đoạn thiên cặp đôi ừong tiếng Việt đã bắt đầu có những thay đổi khác trước theo hướng phức tạp hóa với các phần phụ mở rộng Điều này dễ dàng nhận ra nhất ừong các văn bản chép tay của giáo hội Thiên chúa giáo Các tài liệu nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thiện Nam và Trần Thị
Mỹ, Nguyễn Văn Chính, Phạm Tú và Đinh Văn Đức (1981) trên tạp chí Ngôn ngữ đã bước đầu đề cập đến vấn đề này qua việc sử dụng các
hư từ ở ữong danh ngữ, động ngữ Kế theo đó,
*PGS TS; ĐHKHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội.Email: nguyen_vanchinh87@yahoo.com
**rt.v TV- ịM-rVlĩYUÁrMV fín i hnr D n n rơ in Hn Nôi Email- dỉnhvnnduc2002(a)vahno.com
Trang 364 NGÔN NGỮ & ĐỜI SÓNG Số 6 (260)-2017
Đinh Văn Đức, Nguyễn Văn Ấp, Nguyễn Văn
Khôi (1985) có nói thêm về việc sừ dụng loại
từ, tình thái từ ừong các văn bản chữ quôc ngữ
the kỉ 17
Nói về việc mở rộng các đoản ngữ thì phải
nói là không cần đợi đến khi có tiếp xúc
phương tây thì tiếng Việt mới có danh ngữ
Danh ngữ, động ngữ là một câu trúc ngữ pháp
đã hình thành từ rất lâu trong tiếng Việt Tuy
nhiên, trước khi có tiếp xúc thì cái mạnh nhất
của ngữ pháp tiếng Việt là những lối nói tổ họp
có cặp đôi, đăng đối chú ý nhiều vê phong
cách Cấu trúc ghép và câu trúc láy là những tô
hợp đơn giản nhưng là nền tảng, bền vững cho
đến nay Thơ Nguyễn Trãi với các tổ họp loại
từ + danh từ trong Quốc âm thỉ tập ỉà chứng
tích cho các đanh ngữ cơ sở Chúng phần lớn là
cặp đôi gồm có danh từ, một định ngữ ngắn
đứng sau hoặc một loại từ trước danh từ Tô
họp đặc trưng này có thể thấy trong một câu ca
dao có cả niên hiệu: Mẹ tôi tham thủng xôi
rền/Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng
các danh ngữ rõ ràng, đơn giản “thúng xôi rền ”
“con lợn béo ” “tiền Cảnh Hung” những tổ hợp
này vẫn hiện hữu íự nhiên trong khẩu ngữ của
chúng ta ngày nay
Quan sát Truyện Kiều chúng ta M y các
danh ngữ chưa phải là phức tạp như trong ngữ
pháp văn xuôi mới chữ Quổc ngữ cấu trúc
phức tạp là những danh ngữ kiểu những ngưòi
bạc ác tinh ma, hay những tên tội ây ừong câu
Những tên tội ẩy dứt tình làm sao. Danh ngữ
kiểu này thuở đó còn rất ít, nhưng một trăm
năm sau (đầu thế ld 20) tần số xuất hiện đã cao
hơn nhiều Khái niệm phức tạp hoá danh ngữ
đặc trưng cho lối diễn, đạt mói trong tiếng Việt
(thường là bốn vị trí, hay ít nhất ba vị trí có
thành tố phụ ở phía trước phía sau) Những hư
từ cả và, phô, thay thày, tuy phô biên nhưng
phải đợi đến khi xuất hiện tất cả, những, các,
một, thì cấu trúc biêu đạt ý nghĩa biêu đạt ý
nghĩa đối lập mới có ứiêm chức năng ngữ pháp
mới
Tuy nhiên, quá trình này diễn ra dần dần, ví
dụ ngày nay ừong khẩu ngữ chúng ta vẫn nói:
“Chỗ này cả thày bao nhiêu?” rồ ràng là lối nói
có tỉnh lược đã là lối nói bình thường từ xưa Cũng cần kiểm tra lại những chức năng ngữ pháp mới của hư từ cũng như quá trình biến đổi tương đối giống nhau của chúng, nghĩa là, đi từ thực đến hư, từ bán thực đến hư, đối với ngôn ngữ Việt là do nhu cầu diễn đạt những gì mà châu Âu đã thành thông lệ Quá trình biến đổi như thế đã từng diễn ra khi tiếng Latinh vốn hoàn toàn tổng họp tính biến thành tiếng Pháp với một phần phân tích tính, còn tiếng Anh thì lại rõ hơn nữa Nói về các tiếp xúc đầu tiên ngày nay chúng ta hay nói rằng các nhà Việt ngữ học thường mô tả tiếng Việt mô phỏng châu Âu thì cần hiểu chữ mô phỏng này là mô phỏng trên bình diện phương pháp Thực ra ừong các tiếp xúc ngôn ngữ thì mô phỏng nhau
là một sự khuyếch tán tự nhiên tù chỗ chưa diễn đạt đến chỗ biết diễn đạt, từ diễn đạt ít đến diễn đạt nhiều Lối nói mới dần dần chen vào bản ngữ lúc nào không hay Tiếng Việt hiện nay cũng vậy, những lối nói mới chỉ nhận diện được khi đối chiếu ngữ pháp của ngày hôm nay với những lối nói vài ba chục năm về trước Những biến đổi ấy cần được ghi lại và phải miêu tả bài bản hơn và kĩ lưỡng hoai Chăc chăn trong quá khứ, những biến đổi danh ngữ bắt đầu với sự xuất hiện hai cái đôi lập ngữ pháp của danh từ (đối lập cá thể hoả và phi cả thể hoá mà Nguyễn Tài cẩn đã nêu ra Tuy nhiên cái đối lập số nhiều và số ít thì chắc chắn là muộn hơn bởi vì đây là lối nói tất yêu mô phỏng châu Âu Khi đã có đối lập số ít số nhiều thì bắt đầu xuất hiện thêm đối lập xác định và bất định. Năm 1933, Hồ Ngọc cẩn từng phát biểu rằng muốn biết một từ tiếng Việt có phải là danh từ hay không thì cứ đặt trước nó từ một, một không chỉ là số từ mà còn là một hư từ phiếm định giống như quán từ a trong tiêng Anh hay là quán từ un, une ữong tiếng Pháp ^
3 Danh từ tiếng Việt, theo cách mới, băt đâu
có đối lâp xác đinh với những, các “các cuốn sách này” và “những cuôn sách này” đêu là xác định mặc dầu những dùng đê chỉ bộ phận trong cái toàn thể Đằng sau danh từ, để ứiêm tính xác
Trang 37số 6 (260)-2017 NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG 5
định ở danh ngữ có thêm vị trí của các định từ
(chỉ định): này, kia, nọ, ẩy, nhưng khi dùng từ
một (quán từ phiếm định) till rõ ràng không cần
phải có này, kia, nọ, ấy ở phía sau nữa Đối
lập này là một kết quả của tư duy phân tích
trong ngữ pháp sau khi tiếng Việt có tiếp xúc
với ngôn ngữ châu Âu Những lối nói xưa
dùng cách láy âm (anh anh, em em, nhà nhà,
người người, ) thì có thể hiểu đó là một cách
diễn đạt ý nghĩa số nhiều theo phương thức từ
vựng Khi có thêm con đường ngữ pháp với các
hư từ những, các, một kể cả vị trí zero thì ngữ
pháp tiếng Việt đã có thêm một nét mói gần với
lối dùng quán từ ừong tiếng châu Âu Không
phải ngẫu nhiên Nguyễn Tài cẩn (1960) đã gọi
đấy là những quán tò với những hư từ khá đặc
biệt
Hư từ cái trong danh ngữ, theo chúng tôi, có
hai phương diện một phương diện là ngữ pháp
và thứ hai là phương diện tình thái Với
Nguyễn Tài cần đây là một yếu tố ngữ pháp
thuộc phân đâu danh ngữ và đứng trước loại từ
(Cải con người ẩy ai cầu làm chi), nhưng nay
xét về mặt dụng học cái còn là một tác tử hình
thái dùng để nhấn mạnh chỉ đích danh vào sự
vật theo quan điểm của người nói (cải thằng
này, cái con này, cái thịt này, cái cá này, ),
lúc đẩy từ cái đứng ngoài các đối lập ngữ pháp
của danh từ Tuy nhiên, ừong ngữ pháp trước
thế ki 20 thì dường như ừong khẩu ngữ tiếng
Việt đã sừ dụng cái như là một yếu tố hình thái
còn ứong các văn bản văn xuôi thì cái xuất hiện
chưa nhiều Có lẽ, theo chúng tôi, do tính thiên
dụng học hơn là ngữ pháp của tiếng Việt thời
đó, cái cũng thiên phong cách hơn là biểu đạt
ngữ pháp Kiểm định lại, qua các văn bản thơ
ca, các phát ngôn có tính khẩu ngữ khẩu ngữ
khá nhiều ứong khi văn bản văn xuôi chữ Quốc
ngữ thi còn hạn chế Cái đứng trước danh từ,
sau này do tiếp xúc ngữ pháp của lối danh hoá
châu Âu, thì người bản ngữ đã nhin các sự tình
một cách trừu tượng hơn do đó cũng cần đến
danh hoá theo một hình thái mới Theo đó, cái
không chỉ đi với danh từ mà còn đi cả với động
từ, tính từ (cải đóng góp, cái thẳng lợ i, cải đẹp,
cái văn mình, ), yếu tố cải dùng ừong danh hoá không khác một hư từ Trường họp khác là dùng giới từ ừong định ngữ (hạn định) tức là nối các định ngữ vói trung tâm danh ngữ Giới
từ của cách đây mấy thế kỉ ừong các văn bản vẫn còn là một danh từ bình thường (của có nghĩa là của cải) từ cái nghĩa của cải dần dần
nó chuyển thành cái ý nghĩa ngữ pháp là sở hữu
rôi ừên cơ sở đó thi của ngữ pháp hoá và biên thành một giói từ (bên cạnh danh từ của) diễn đạt quan hệ phụ thuộc So sánh: nhà tôi và nhà của tôi rõ ràng của ừở thành một yếu tố có tính bắt buộc Khi yếu tố định ngữ ngữ pháp càng phức tạp, càng dài thì nhu cầu dừng giới từ của
càng cần thiết (ví dụ: ảo tôi, áo len của tôi, áo len của cha tôi, ). Quá trình ngữ pháp hoá là một hiện tượng xã hội ừong ngôn ngữ, tất cả mọi biến đổi bắt đầu từ nhu cầu sử dụng mới, nhu cầu do tiếp xúc, nhu cầu mở rộng danh ngữ
từ thế kỉ 17 trở đi là một trong những tất yếu của các biến đổi của ngữ pháp tìểng Việt
4 Sự mở rộng về ngữ đoạn nay còn thấy ở động ngữ hay ngữ đoạn động từ Một tình hình tương tự ừong giai đoạn có tiếp xúc đã diễn ra Phải nói là trước kia người Việt có một lối dùng động từ rất khác so với châu Ảu Trong khi ở các ngôn ngữ biến đổi hình thái, đặc biệt là tiếng Latinh, thì tất cả các ý nghĩa ngữ pháp của động từ đều nằm trong khung hình thái học của
từ (người ta gọi là cấu trúc tổng họfp tính) bao gồm việc diễn đạt các ý nghĩa về thì, về thể, về ngôi, về số, về giống, về dạng, về thức, trong khi đó với tư cách một ngôn ngữ đơn lập thì tiếng Việt biểu đạt động tò vị ngữ rất khác Người bản ngữ tiếng Việt chỉ nhằm vào việc biểu đạt sự tình với cảm thức: cái sự tình ấy đã xuất hiện hay chưa và đã xong chưa? Xét ữên phương diện ngữ pháp người ta không có ý thức về khái niệm thì, mà chi chú tâm vào cái tương đương với thể (trong tiếng châu Âu), người ta cũng không quan tâm xem sự tình đó diễn biến ra sao Do vậy, việc dùng các phương tiện thiên từ vựng trong trường hcrp này là hơp
lí Một khi chúng ta nói: Đã ba hôm nay tôi bị
ốm hay Đã mấy năm, tôi chưa gặp anh Nam,
Trang 386 NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG Số 6 (260)-2017
Chỉ tố đã hoàn toàn không có liên hệ đáng kể nghĩa riêng biệt? Đây là loại câu hỏi quan ừọngnào đến thòi gian mà chủ yêu là đê nhân manh bậc nhât mà người Vlệt Nam luôn noi đe nhạn(tình thái) vào cái khoảng thời gian đó Cao diện và phân loại sự tình, nhận diện các kiêuXuân Hao từng đưa ví dụ rất khó dịch sang diễn tiến của vận động (đã ăn cơm chưa, đã
pháp” câu sau đây: Mấy cái cây này vài tuần sang đến vị ngữ danh từ (ví dụ: Đã ngoài bảy trước hãy còn đang xanh mà ỉVỊy thì đã vàng mươi tuôi chưa, tât cả đã - chưa vừa là mọt
rực. Cao Xuân Hạo gọi các phụ từ ừong động cấu trúc ngữ pháp vừa là một cấu trúc tình thái,ngữ là những vị từ rình thái. Lôi nói dùng các vị sự xoăn lại giữa tĩnh thái và ngữ pháp (câu true
tư tình thái để nhấn mạnh là một đặc trưng cho động ngữ) Như thế có đủ cơ sở đê nói răng ỷ
phát ngôn tiếng Việt truyền thống Sau khi tìêp nghĩa tình thái vôn đã có từ trước ở các phụ tư xúc với các ngôn ngữ châu Au đặc biệt là việc của động từ, sau đó, qua cac tiep xuc, y nghíadịch thuật các văn bản viết thì bắt đầu có thêm này đã từng bước được ngữ pháp hoá rồicái nhu cầu đối chiếu để làm thế nào có thể chuyển thành những tác tổ ngữ pháp tạo dạngchuyển dịch tương ứng một số nội dung phát phân tích tính cho động từ vị ngữ Nhờ đó quá ngôn với các ý nghĩa ngữ pháp như thì, thể, tình ngữ pháp hoá khiến người Việt bắt đầusang ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt Trong quen với việc sử dụng tiêu chí mới chi ra ýtrương hợp này, ngươi ta phải đieu chinh bằng nghĩa thời - thề và các ý nghĩa khác Ý nghĩa
' 1 r 1 ~ _ 1 : ZJ , rA /^ ẻ n r lá n VnrtV> thsm Vi \ ĩ À rt n ơ n c rír r íìn a
dịch viên đã thực hành và đã đi tiên phong là nghĩa vê mặt ngữ pháp và nghĩa vê mặt tịnhtrong việc biến các phụ từ tình thái bên cạnh thái Còn như bổ tố và trạng tố thì ứiể hiệnđộng từ (đã, đang, từng, còn, chưa, vừa, mới, những nghĩa như là các mảng phản ánh thực
xong, ) thành những chỉ tố ngữ pháp hoá để tại ,
chuyển dịch các kháĩ niệm châu Âu sang tiếng Giai đoạn trước, ngữ pháp tiếng Việt nặng việt Bình diện mới là bình diện ngữ pháp, và hơn với các ý nghĩa tình thái nên cũng thiênnhờ đó trong tiếng Việt đã xuất hiện những kết tính chất chức năng nhiều hơn mà đã là chứccấu kiểu mơỉ, ví dụ: Tôi đã đọc cuốn sách này năng thì nó gắn với các biêu đạt có tính phong
rồi Tôi đã xem phim này ở nước ngoài, lúc cách Việc thể hiện ngữ pháp chủ yêu là những
quy tắc nhưng ở ngữ pháp tiếng Việt trước khi sang diễn đạt những sắc màu của thời gian Các có tiếp xúc châu Âu thì chưa có tính duy lí,yếu tố chỉ thời, thể trong tiếng Việt có khả năng chẳng hạn chưa hình thành các thê đôi lập nhau
là xuất hiện muộn hem so với ý nghĩa tình thái, phạm trù Sự pha ừộn và tương tác nhau (vừaĐây chi là một phán đoán về mặt ngữ pháp mà ngữ pháp vừa là phong cách, vừa là tình tháithôi Phải đợi đen thế kỉ 20 thi ngữ đoạn động vừa là cấu trúc) đã diễn ra trong suốt thời gian ’ - ’ ' “ ■ dài và là đặc trưng tổng quát của ngữ pháp
»x T T* Ai i \ Á • 1 Á 1 7 1 A *0/1
ngữ, ngữ pháp hóa các biêu đạt sự tĩnh Tuy
vạy, theo truyền thống, người Việt khi nói vẫn
quấn tâm nhấn mạnh vào phương diện phong trung tâm của đoản ngữ đã dân dân có thêmcách cùa vị ngữ, theo đó, chú ý đến sự xuat chức năng mới và chuyển thành những vai phụhiện hay chưa xuất hiện của sự tìrih Trong sô hơn, băt đâu quá trình ngữ pháp hoa đạy la mọtcác câu hòi thì cấu trúc “đã chưa” có một ý lôi đi của từ pháp tiêng Việt Động từ chuyen
Trang 39số 6 (260)-2017 NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG 7
động (ra, vào, lên, xuống, sang, qua, lại, tới, )
chuyển dần thành những từ chi hướng
(modiíicateur) rồi thậm chí chuyển thành giới
từ mà giới từ thì có thể đứng trước danh từ,
phải đứng trước danh từ Ví dụ như các tổ họp
tới nơi, đen nơi, sang năm, là kiểu tổ họp khá
mới Trước kia, những từ chỉ định như này, Ida,
nọ, ấy chuyên đứng sau danh từ, nhưng về sau
chúng còn có thể kết hợp vói những giới từ để
đứng sau danh từ tạo thành cấu trúc danh ngữ
Cả cái cấu trúc danh ngữ ấy ừong chức năng
ngữ pháp đối với động tò vị ngữ thì có thổ là
thành phần trạng ngữ Động từ khác cũng vậy,
khi nói tôi ở nhà dần dần đã chuyển thành tôi
đang ở nhà, và tôi ngồi ở bàn, tôi ngồi ở ghế
cũng giống như tôi ngồi trong nhà, tôi ngồi
ngoài vườn, thì từng bước từ ở đó từ chỗ là
động từ cũng dần dần đồng nhất ngữ pháp và
trở thành giói từ Giới từ, cũng như trong danh
ngữ, đã làm tăng khả năng mở rộng thành tố
phụ của động ngữ gần với trường hợp mở rộng
định ngữ của danh từ Đặc biệt các động từ tình
thái như muốn, cần, phải, có thể, trước kia chức
năng có vẻ như phụ cho động từ chính thì sau
này nó trở thành động từ chính có bổ ngữ là
động từ khác (theo T.Givón) và hơn thế còn có
thêm ý nghĩa tiếp thụ/bị động với các từ bị,
được, phải. Điều đó đã cho thấy những biến đổi
từng bước được cấu trúc hóa Tiếng Việt bắt
đầu có lối diễn đạt mới cho ý nghĩa tiếp thụ gần
với cái ý nghĩa bị động vốn chỉ có ừong các
ngôn ngữ châu Âu Ngày nay lối nói: “Dự án
này được tài ừ ợ bởi ngân hàng Ngoại thương
Việt N a m hay là “Ngôi nhà ẩy được xây dựng
bởi Vinaconex■” đã được coi là quy tăc ngữ
pháp bản ngữ, còn nếu dịch chúng sang ngôn
ngữ châu Âu thì đương nhiên sẽ dùng kết cấu bị
động Tuy nhiên, vói tiếng Việt, ngữ pháp về
cơ bản vẫn sử dụng lối nói chủ động là chính
5 Một đặc điểm khác, nếu nói về mở rộng
cấu trúc của đoản ngữ thì cũng cần nói đến ngữ
đoạn tính từ (tính ngữ) Tính từ tiếng Việt là từ
loại mà có nội dung ngữ pháp là biểu đạt phạm
trù đặc trưng Đặc trưng có thể theo kiểu
truyền thống và cũng có thể được hiện đại hoá
nhưng các khái niệm như phẩm chất, tính chất, màu sắc, kích thước, thì đã quen thuộc Tuy nhiên, do ngôn ngữ đơn lập, tính từ tiếng Việt cũng gần giống như động từ, không liên quan đến các đối lập ngữ pháp (thì, thể, ngôi ) như ngôn ngữ biến tố cho nên tính từ biểu đạt sự tình trực chỉ, thiên phong cách chức năng ừong các nhận định Tính từ tiếng Việt biểu đạt sự tình giống như động từ vậy Chẳng hạn người
ta dễ dàng nói kiểu câu như: Người này cao mét bẩy, hay Cái túi này nặng gần một tạ, theo đó những đặc trưng cũng được hiểu như sự tình
Sự tập họp hai phạm trù động từ và tính từ vôn khác nhau không phải do ngữ pháp mà thiên vê
chức năng về phong cách ừong các nhận xét Trong biểu đạt sự tình, tiếng Việt khác với các ngôn ngữ châu Âu (danh từ là danh từ, động từ
là động từ, tính từ là tính từ) gắn sẵn với những hình thái ngữ pháp cụ thể không nhầm lẫn được, trong khi người Việt lại sử dụng phương thức tò vựng và nó phong cách hoá nó đê nhận diện sự tình Kể cả danh từ cũng vậy, một khi biểu đạt sự tình theo lối trực chỉ “phi ngữ pháp” đanh từ dễ dàng lọt vào ô vị ngữ như động từ, tính từ vậy Ví dụ, chúng ta vẫn nói rang “Anh
ấy người Nghề'1 “Lương tôi một ừiệu đồng”,
cách thức này có từ trước và rất lâu dài, ngay cả
có khi tiếp xúc với ngữ pháp biến tố thì các ý nghĩa ngữ pháp của mỗi từ loại mói dân tách bạch và động từ, tính từ mới tiếp nhận các chỉ
tố ngữ pháp như là thòi, thể, mức độ, ngay cả ữên bình diện ngữ pháp người ta cũng thây động từ và tính từ gần nhau thật ra nó gần nhau
về mặt chức năng khi làm vị ngữ trong khi nó vẫn bảo lưu các ý nghĩa phạm trù của riêng từng từ loại Theo đó, mỗi từ loại có thể tiêp nhận thêm một số tiêu chí ngữ pháp mói của riêng mình Ví dụ như ữong kết cấu của tính ngữ còn có những từ chỉ thang độ (so sánh) như
rất, lắm, hơi, quả, khí, vô cùng nhờ đó tính từ không chỉ xuất hiện ừong cấu trúc danh ngữ (khi nó làm định ngữ) mà nó còn có thể làm chức năng trạng từ của các ngôn ngữ châu Âu Ngôn ngữ châu Âu, trạng từ là trạng từ khi nó
có hình thái ngữ pháp riêng, ừong khi tiêng
Trang 408 NGÔN N G Ữ & ĐỜI SỐNG S ố 6 ( 2 6 0 ) - 2 0 1 7
Việt thì tính từ kiêm nhiệm luôn chức năng của
trạng từ trong một hình thức từ chung (đi
nhanh, hát hay, học giỏi) thì các tính từ vẫn
hoàn toàn tương họp chức năng ngữ pháp với
động từ Sau này còn có thêm yếu tố ngữ pháp
là dùng từ “một cách” {một cách nhanh nhẹn,
một cách máy móc, một cách thuận tiện, ). Khi
đó nó là chỉ tố đánh dấu ngữ pháp cho đậc
trưng (của tính từ) chứ không phải đặc trưng
của động từ Chính đặc điểm này là một nhận
xét mới mà chúng tôi đưa ra góp phần định vị
động từ và tính từ trong tiếng Việt
Hai từ loại động từ và tính tò thực ra gần
nhau từ trước đó ừong phương cách biểu đạt sự
tình, gần nhau về mặt chức năng, gần nhau về
mặt phong cách còn sự gần nhau về mặt ngữ
pháp chỉ là kết quả của sự ngữ pháp hoá hậu kì
mà thôi Điều này giải thích tại sao chúng khác
với từ loại cùng tên ữong các ngôn ngữ biến
hình châu Âu nơi mà các từ loại luôn được
đảnh dấu -ngữ pháp một cách triệt để bằng
những phương tiện hình thức
6 Thứ nữa, với các quan hệ cú pháp thì
tiếng Việt từ xưa cũng đã có mặt các quan hệ
đẳng lập, chính - phụ, tường thuật nhưng chưa
được đánh dấu ngữ pháp đầy đủ, ít nhất là về
mặt trật tự hoặc bằng hư từ, dường như người
nói mới chú ý về mặt phong cách còn tôn ti cấu
trúc chưa rõ vì tổ chức ngữ pháp tầng khá đcm
giản Phổ biến vẫn là quan hệ cặp đôi nhờ vào
láy, lặp, đối mang tính tình thái, người đọc phải
tự luận thông tin đặc biệt phép đối ừong văn
biền ngẫu có tác dụng hướng dẫn nhận diện sự
tình như một loại quy tắc Chúng tôi cho điều
thú vị là chính phép đối trong văn biền ngẫu
tiếng Việt là một cách tổ chức ngữ pháp đặc thù
của ngôn ngữ đơn lập Căn cứ vào sự đối xứng
và tính cân đối (có bên này thì tất phải có bên
kia) người ta nhận diện đây như một quy tắc
ngữ pháp (bắt buộc), không thuần tủy là phong
cách, một nét riêng của ngữ pháp viết tiếng
Việt Ngữ pháp văn xuôi biền ngẫu tiếng Việt
đa tồn tại cho đến ngày nay, nó vẫn có cái hay
về mặt phong cách có điều ừong thực tế đã bị
thay thế bởi những kiểu câu mới (cú pháp mệnh đề) kiểu châu Âu
Liên từ là phương tiện tồ chức kết cấu ngữ pháp, nối các bộ phận của câu với nhau Trong ngôn ngữ châu Âu, từ rất sớm, liên từ có tác dụng quan trọng nối mệnh đề chính với mệnh
đề phụ trong các câu phức (complex sentence)
Do chỗ các ngôn ngữ biến tố có cấu trúc hình thái học (để thực hiện chức năng cú pháp) cho nên câu phức có hiện tượng gọi là hợp thì giữa mệnh đề chính và mệnh đề phụ Câu tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức, đều có hiện tượng này Tất cả đều bắt nguồn từ lối diễn đạt ữong tiếng Latinh trước đó Ngữ pháp tiếng Việt không có sự hợp thì giữa các động từ ở vế chính và vế phụ cho nên phương thức ghép ở đây ừở thành chủ yếu Với phương thức ghép thì liên từ và giới từ đặc biệt là liên từ có cương
vị quan yểu
Trong số các chứng tích ngữ pháp văn xuôi kiểu diễn đạt mệnh đề thì, như đã nói, các văn bản viết tay bằng chữ quốc ngữ của giáo hội Thiên chúa giáo trong ba thế kỉ 17,18,19 thì rõ nhất là kiểu câu rất dài châu Âu gọi là trường
cú (tiếng Pháp gọi là periodè). Hầu hết các câu trong loại văn bản nàỵ đều thuộc loại trường cú Những câu đó có thể dài 5 dòng, 7 dòng thậm chí 10 dòng, với cảm giác lê thê nhưng lại theo lối nói lối nói khẩu ngữ (người nói vừa nói vừa nghĩ!) Do độ dài quá lớn nên tất yếu phải dùng nhiều liên từ, trung bình có thể có 5, 7 liên từ thậm chí có thể cả chục liên từ ữong đó có sự lẫn lộn giữa việc dùng liên từ để liên kết với dùng liên từ để đánh dấu thông tin Sự lẫn lộn hai chức năng liên kết và chức năng đánh dấu
đề - thuyết đã tạo ra những hình thế cú pháp rất đặc biệt của câu (viết) khiến cho nó vừa gần vừa xa các phát ngôn thường dùng (ordinary) đương thời
Có ý kiến cho rằng thời kì đó lối viết văn xuôi mang nặng tính mô phỏng khẩu ngữ Điều
đó chỉ đúng một phần Cái chính là các văn bản này mô phỏng lối viết mà giáo hội Thiên chúa giáo thường dùng lối diễn đạt của tiếng Latình (những trường cú) Lối diễn đạt này vốn đã