1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bảo đảm sự độc lập của thẩm phán từ thực tiễn tỉnh thanh hóa

115 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực tiễn công tác và mong muốn được tìm hiểu, nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện hơn, chỉ ra được một cách khác quan những bất cập, hạn chế và luận chứng khoa học được n

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

CAO VĂN TUẤN

B¶O §¶M Sù §éC LËP CñA THÈM PH¸N Tõ THùC TIÔN TØNH THANH HãA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

CAO VĂN TUẤN

B¶O §¶M Sù §éC LËP CñA THÈM PH¸N Tõ THùC TIÔN TØNH THANH HãA

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật

Mã số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS MAI VĂN THẮNG

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thanh Hóa, ngày 27 tháng 9 năm 2017

NGƯỜI CAM ĐOAN

Cao Văn Tuấn

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỰ ĐỘC LẬP CỦA THẨM PHÁN VÀ BẢO ĐẢM SỰ ĐỘC LẬP CỦA THẨM PHÁN 7

1.1 Nhận thức về thẩm phán và sự độc lập của thẩm phán 7

1.1.1 Nhận thức chung về thẩm phán và vị trí, vai trò của thẩm phán trong hoạt động tư pháp 7

1.1.2 Khái niệm về sự độc lập của thẩm phán và ý nghĩa, vai trò của nó đối với việc thực hiện quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền 9

1.2 Khái niệm về đảm bảo sự độc lập của thẩm phán và những yếu tố ảnh hưởng đến sự độc lập của thẩm phán 14

1.2.1 Khái niệm, cơ sở hình thành và vai trò của việc bảo đảm sự độc lập của thẩm phán 14

1.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự độc lập của thẩm phán trong hoạt động tư pháp 21

1.3 Nội dung bảo đảm sự độc lập của thẩm phán 23

1.3.1 Bảo đảm sự độc lập của cá nhân thẩm phán 23

1.3.2 Bảo đảm độc lập của thẩm phán khi xét xử 37

Tiểu kết chương 1 40

Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM SỰ ĐỘC LẬP CỦA THẨM PHÁN QUA THỰC TIỄN Ở TỈNH THANH HÓA 41

2.1 Thực tiễn xét xử và các yếu tố tác động đến bảo đảm sự độc lập của thẩm phán ở Thanh Hóa 41

2.1.1 Khái quát tình hình xét xử ở tỉnh Thanh Hóa 41

2.1.2 Các yếu tố tác động đền bảo đảm sự độc lập của thẩm phán ở Thanh Hóa 43

Trang 5

2.2 Thực trạng về cơ chế bảo đảm sự độc lập của thẩm phán ở tỉnh

Thanh Hóa 46

2.2.1 Thực trạng tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân với việc bảo đảm sự

độc lập của thẩm phán 47 2.2.2 Thực trạng pháp luật về tuyển chọn, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại thẩm

phán trong mối liên hệ với cơ chế đảm bảo sự độc lập của thẩm phán 57 2.2.3 Thực trạng pháp luật về bảo đảm an toàn, an ninh cá nhân, thân nhân của

thẩm phán như là yếu tố quan trọng bảo đảm sự độc lập của thẩm phán 61 2.2.4 Thực trạng pháp luật về đảm bảo thu nhập, đời sống vật chất của thẩm

phán như là yếu tố quan trong bảo đảm sự độc lập của thẩm phán 63 2.2.5 Thực trạng về cơ chế xử lý trách nhiệm thẩm phán với vai trò bảo

đảm sự độc lập của thẩm phán 67 2.2.6 Bất cập pháp luật tố tụng trong việc bảo đảm sự độc lập của thẩm phán 76

Tiểu kết chương 2 80 Chương 3: KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ CƠ

CHẾ BẢO ĐẢM SỰ ĐỘC LẬP CỦA THẨM PHÁN 81 3.1 Cơ sở lý luận và quan điểm của Đảng về hoàn thiện cơ chế bảo

đảm sự độc lập cho thẩm phán hiện nay 81

3.1.1 Cơ sở lý luận về hoàn thiện cơ chế bảo đảm độc lập cho thẩm phán 81 3.1.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo đảm sự độc lập cho

chuyên môn thẩm phán 86 3.2.3 Hoàn thiện chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ đối với thẩm phán 90 3.2.4 Đổi mới quy định về nhiệm kỳ thẩm phán 93 3.2.5 Hoàn thiện chế độ an ninh, an toàn đối với thẩm phán và người thân của

thẩm phán 94 3.2.6 Hoàn thiện chế độ trách nhiệm đối với thẩm phán 94

Trang 6

3.2.7 Đổi mới pháp luật tố tụng nhằm bảo đảm sự độc lập của thẩm phán

trong xét xử 97

3.3 Đổi mới phương thức, nội dung lãnh đạo của Đảng đối với ngành tư pháp 98

3.4 Các giải pháp đặc thù ở tỉnh Thanh Hóa 99

Tiểu kết chương 3 101

KẾT LUẬN 102

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự

CHXHCNVN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam HĐXX: Hội đồng xét xử

TAND: Tòa án nhân dân

TANDTC: Tòa án nhân dân Tối cao

TTHS: Tố tụng hình sự

XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của Đề tài

Tư pháp độc lập là một tiêu chuẩn quan trọng của nhà nước pháp quyền và thẩm phán độc lập là yêu cầu tối thiểu và quan trọng bậc nhất của nền tư pháp độc lập Do đó, bảo đảm sự độc lập của thẩm phán có ý nghĩa đặc biệt trong xây dựng

và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam Sự độc lập của thẩm phán quyết định đến chức năng xét xử, đến nhiệm vụ và sứ mạng bảo vệ công lý, bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Vì ý nghĩa quan trọng đó, sự độc lập của thẩm phán luôn là một nguyên tắc hiến định của hầu hết tất cả các quốc gia và bảo đảm sự độc lập của thẩm phán là nhiệm vụ của Nhà nước và toàn xã hội Ở Việt Nam, sự độc lập của thẩm phán được khẳng định trong Hiến pháp và tất cả các văn bản luật về tố tụng và được cụ thể hóa bởi pháp luật về tổ chức ngành Tòa án Nhìn chung, với sự quan tâm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước, sự độc lập của thẩm phán luôn được chú trọng, đề cao, quan tâm hoàn thiện Báo cáo hằng năm của Tòa án nhân dân tối cao về tổng kết ngành tư pháp và báo cáo tổng kết hằng năm ở các địa phương đều cho thấy sự phát triển không ngừng của ngành tư pháp từ chất lượng xét xử cho đến chất lượng nhân sự Kết quả đó phần nào cho thấy những chuyển biến tốt hơn trong việc bảo đảm sự độc lập cho thẩm phán

Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, sự độc lập của thẩm phán – một cá nhân

mà với những bản chất vốn có của một con người sẽ khó vượt qua – đã thực tế không được như kì vọng Khi sự độc lập của thẩm phán không được bảo đảm thì nguy hại lớn nhất và khó khắc phục nhất là niềm tin của người dân vào ngành tư pháp nói riêng và vào Đảng, Nhà nước nói chung bị ảnh hưởng nghiêm trọng và mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân

sẽ khó có thể thành công Trên thực tế, bảo đảm sự độc lập của thẩm phán là rất khó khăn, đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ Vì lẽ đó, vấn đề bảo đảm sự độc lập của thẩm phán là vấn đề có ý nghĩa chính trị, pháp lý, xã hội to lớn đòi hỏi phải luôn được nghiên cứu hoàn thiện

Trang 9

2

Thanh Hóa là một tỉnh đông dân đứng thứ ba cả nước và có đầy đủ các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội như một Việt Nam thu nhỏ Tình hình vi phạm pháp luật ở địa phương cũng diễn biến phức tạp, nhiệm vụ xét xử của thẩm phán và sự độc lập của thẩm phán ở địa bàn thời gian qua cũng là nội dung được quan tâm của Đảng ủy, chính quyền và nhân dân địa phương Trong những năm qua, cùng với nỗ lực của Đảng và Nhà nước trong việc cải cách hệ thống tư pháp mà trọng tâm là Tòa án, cấp ủy và chính quyền Thanh Hóa đã cho thấy những nỗ lực để hoàn thiện

hệ thống tư pháp, hướng đến sự độc lập của tư pháp mà trước hết là đảm bảo sự độc lập của cá nhân thẩm phán

Tuy nhiên, có thể thấy, vẫn còn nhiều những bất cập trong thực tiễn và triển khai thi hành hệ thống quy phạm pháp luật liên quan đến bảo đảm sự độc lập của thẩm phán Vẫn còn nhiều những bất cập, hạn chế của công tác xét xử trên địa bàn của Thanh Hóa Những bất cập ấy được lý giải bởi nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ những bất cập của hệ thống những bảo đảm sự độc lập của thẩm phán

Xuất phát từ thực tiễn công tác và mong muốn được tìm hiểu, nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện hơn, chỉ ra được một cách khác quan những bất cập, hạn chế và luận chứng khoa học được những nguyên nhân để từ đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất hoàn thiện hệ thống những đảm bảo cho sự độc lập của thẩm phán nhằm giúp cho hoạt động xét xử nói riêng và hệ thống Tòa án nói chung thực sự trở thành cái khiên quan trọng bảo vệ công lý, quyền và lợi ích hợp pháp của người

dân, Nhà nước và xã hội nên tác giả đã chọn đề tài “Bảo đảm sự độc lập của thẩm

phán từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa” làm luận văn Thạc sĩ Luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Nghiên cứu về bảo đảm sự độc lập của thẩm phán không phải là đề tài hoàn toàn mới nhưng vẫn luôn cho thấy sự cấp thiết và tính thời sự

Đã có nhiều công trình của những tác giả uy tín đã nghiên cứu sâu sắc, toàn diện về bảo đảm độc lập của thẩm phán Tiêu biểu phải kể đến các công trình:

Về sách tham khảo, chuyên khảo, có thể kể đến một số công trình nổi bật

Trang 10

3

như: Đào Trí Úc (2007), Mô hình tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Tư pháp 2007; Nguyễn Đăng Dung (2010), Hạn chế sự tùy tiện của cơ quan nhà nước, Nxb Tư pháp, Hà Nội 2010; Mai văn Thắng

(2014), Sự độc của thẩm phán - nhân tố quan trọng đảm bảo liêm chính tư pháp ở

Liên bang Nga trong cuốn Cải cách tư pháp vì một nền tư pháp liêm chính, Viện

chính sách và pháp luật

Về các bài viết chuyên sâu về vấn đề này, có các bài viết uy tín như: Đào Trí Úc (2010), Bàn về quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,

Tạp chí Luật học số 8; Đinh Văn Quế (2007), Một số vấn đề về tổ chức hệ thống

Tòa án theo định hướng cải cách tư pháp, Tạp chí TAND số 23; Bùi Ngọc Sơn

(2003), Sự độc lập của Tòa án trong nhà nước pháp quyền, Tạp chí NCLP số 4;

Võ Trí Hảo (2004), Dân chủ và sự độc lập của Tòa án, tạp chí Nghề luật, số 7; Nguyễn Minh Đoan (2010), Bàn về mô hình tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân ở

Việt Nam hiện nay, Tạp chí TAND số 14; Trương Hòa Bình (2010), Đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành Tòa án Việt Nam trên nền tảng tư tưởng Chủ tịch

Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền và công tác tư pháp, tạp chí TAND số 17;

Nguyễn Ngọc Chí, Đảm bảo sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người phiên

dịch, người giám định trong tố tụng hình sự, tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số

8/2008; Vũ Công Giao, Nguyễn Minh Tâm, Cải cách để bảo đảm tính độc lập của

thẩm phán, Hội Thẩm nhân dân, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 20; Đinh Thanh

Phương, Nguyên tắc độc lập trong hoạt động của Tòa án nhân dân,Tạp chí Khoa học; Trần Thu Hạnh (2009), Một số giải pháp nâng cao vị thế độc lập của thẩm

phán trong tố tụng hình sự, Tạp chí Khoa học, Đại học QGHN, Luật học số 25;

Đinh Thế Hưng (2010), Tiếp tục bàn về sự độc lập của thẩm phán, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 9; Lê Hồng Hạnh (2015), Làm thế nào để thẩm phán và Tòa

án độc lập trong thực thi công lý, Tạp chí Pháp luật và phát triển số 01 tháng 01;

Lê Thị Nga (2003), Tổ chức Tòa án nhân dân khu vực – Những vấn đề lý luận và

thực tiễn, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 4/ 2003 và nhiều những bài viết của các

học giả, nhà nghiên cứu uy tín khác

Trang 11

4

Về Luận văn, luận án: có thể kể đến các đề tài có liên quan trực tiếp đến vấn

đề nghiên cứu như: (1) Trịnh Ngọc Thúy (2013), Vị trí, vai trò của thẩm phán Tòa

án nhân dân cấp huyện trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự, Luận văn thạc sĩ,

Trường Đại học Luật Hà Nội; (2) Tô Văn Hòa (2006), Tính độc lập của Tòa án:

Nghiên cứu pháp lý về các khía cạnh lý luận, thực tiễn ở Đức, Mỹ, Pháp, Việt Nam

và các kiến nghị đối với Việt Nam, Luận án tiến sỹ Luật học, Khoa Luật, Đại học

Tổng hợp Lund, Thụy Điển; (3) Đỗ Gia Thư (2006), Cơ sở khoa học của việc xây

dựng đội ngũ thẩm phán ở nước ta hiện nay, Luận án Tiến sĩ; Lê Thành Dương

(2002), Luận án Tiến sĩ Đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân trong

giai đoạn hiện nay, Viện Nghiên cứu NN và Pháp luật; Quản Thị Ngọc Thảo (2016),

Luận án Tiến sĩ Nguyên tắc thẩm phán và Hội thẩm độc lập xét xử và chỉ tuân theo

pháp luật, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2016; Nguyễn Văn Khoa (2017),

Luận án Tiến sĩ Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng đội ngũ Cán bộ tư

pháp từ năm 2001 – 2011, Học Viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã có nhiều đóng góp cho việc nghiên cứu tiếp tục cũng như hoàn thiện vấn đề bảo đảm sự độc lập của thẩm phán Tuy nhiên, những nghiên cứu qua thực tiễn ở một địa phương cụ thể như ở Thanh Hóa thì lại chưa có những nghiên cứu đầy đủ và toàn diện, đặc biệt là sau khi ban hành Luật Tổ chức Tòa án nhân dân Đây là một khoảng trống mà theo tác giả cần có những nghiên cứu thêm nhằm luận giải để có những kiến nghị, đề xuất hoàn thiện

hệ thống các bảo đảm cho sự độc lập của thẩm phán ở nước ta nói chung và ở Thanh Hóa nói riêng

3 Mục đích, nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài “Bảo đảm độc lập của thẩm phán từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa” với mục đích nghiên cứu hệ thống các bảo đảm để đưa ra những kiến nghị, đề xuất và giải pháp cụ thể nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật và cơ chế bảo đảm sự độc lập của thẩm phán ở Thanh Hóa nói riêng và cả nước nói chung qua đó góp phần hoàn thành nhiệm vụ cải cách tư pháp của Đảng và Nhà

Trang 12

5

nước ta, bảo vệ công lý, gìn giữ niềm tin của người dân với ngành tư pháp tỉnh Thanh Hóa và của cả nước

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu đặt ra, nhiệm vụ của Đề tài được đặt ra là:

- Nghiên cứu và làm rõ cơ sở lý luận về thẩm phán và những vấn đề lý luận

bảo đảm sự độc lập của thẩm phán;

- Chỉ ra, phân tích được thực trạng bảo đảm sự độc lập của thẩm phán qua

thực tiễn ở tỉnh Thanh Hóa;

- Luận giải được những nguyên nhân của những bất cập, hạn chế hay những

tiến bộ, thành tựu trong việc bảo đảm sự độc lập của Thanh Hóa trong những năm gần đây;

- Đưa ra được những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật và hệ thống

bảo đảm sự độc lập của thẩm phán ở Thanh Hóa và cả nước

3.3 Đối tượng nghiên cứu

Để đạt được mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả Luận văn xác định đối tượng nghiên cứu cơ bản là:

- Những vấn đề lý luận, hệ thống các quan điểm về thẩm phán, sự độc lập của thẩm phán và bảo đảm sự độc lập của thẩm phán;

- Hệ thống các quy định của pháp luật, chính sách của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương liên quan đến bảo đảm sự độc lập của thẩm phán;

- Thực tiễn thực hiện cơ chế bảo đảm sự độc lập của thẩm phán ở Thanh Hóa trong từng lĩnh vực cụ thể

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp luận triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử của Chủ nghĩa Mác- Lênin, các quan điểm, tư tưởng của Mác-Lênin về nhà nước

và pháp luật, Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật

Ngoài ra, Luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học

xã hội và khoa học pháp lý như: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích lịch sử và một số phương pháp của

xã hội học

Trang 13

6

5 Những đóng góp và ý nghĩa về khoa học, thực tiễn của luận văn

Luận văn có một số đóng góp và ý nghĩa như sau:

- Luận văn góp phần hoàn thiện thêm cơ sở lý luận về bảo đảm sự độc lập

của thẩm phán;

- Đã đánh giá, phân tích và làm rõ thực trạng bảo đảm sự độc lập của thẩm phán

ở tỉnh Thanh Hóa trên nền tảng cơ chế bảo đảm sự độc lập của thẩm phán cả nước;

- Đưa ra được một những kiến nghị, đề xuất hoàn thiên cơ chế bảo đảm sự

độc lập của thẩm phán và những giải pháp cụ thể cho sự bảo đảm độc lập thẩm phán

ở Thanh Hóa

- Luận văn cũng có thể được dùng làm tài liệu nghiên cứu, làm tài liệu cho công tác thực tiễn trong hoạt động xét xử ở tỉnh Thanh Hóa

6 Nội dung của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được chia thành các chương sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về sự độc lập của thẩm phán và bảo đảm sự

Trang 14

7

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỰ ĐỘC LẬP CỦA THẨM PHÁN

Trong Tòa án - cơ quan duy nhất được nhân danh Nhà nước để đưa ra những quyết định, phán xét về hành vi của một người có tội hay không có tội và được quyền áp dụng hình phạt theo quy định của pháp luật đối với người có hành vi phạm tội Đặc biệt, trong các lĩnh vực xét xử khác như: Dân sự, kinh tế, hành chính, lao động phán quyết của Toà án có ảnh hưởng trực tiếp đối với quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự và những người tham gia tố tụng Chủ tịch nước CHXHCNVN từng khẳng định:

Để bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật, mang lại niềm tin trong nhân dân, đòi hỏi TAND, mà hình ảnh thể hiện tập trung nhất là người

Trang 15

8

thẩm phán, phải được nhân dân tôn trọng, là chỗ dựa vững chắc khi có việc yêu cầu Tòa án giải quyết và Bất kỳ sai sót nào của thẩm phán trong công tác xét xử cũng làm tổn hại đến uy danh của Toà án, suy rộng ra đó

là uy danh của Nhà nước Do vậy, thẩm phán phải luôn có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, trong cuộc sống của mình trước nhân dân Đối với thẩm phán TAND Tối cao, với chức năng nhiệm vụ của mình, các đồng chí còn phải thể hiện cho được vị trí, vai trò, bản lĩnh của mình với tư cách là thành viên của cơ quan xét xử cao nhất [71]

Thẩm phán là người trực tiếp tiến hành các hoạt động xét xử - một hoạt động

có kết quả là các bản án mà có ảnh hưởng, quyết định trực tiếp đến nhân thân, tài sản, tự do của cá nhân, tổ chức nên dù cũng là công chức nhà nước [34] nhưng thẩm phán có vị trí quan trọng và thiết yếu đối với nhu cầu bảo vệ pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền Thực chất, bản thân hoạt động xét xử đã ra đời từ rất sớm và nằm trong tay giai cấp chủ nô, phong kiến mà đại diện là vua Đến thế kỷ XVII, XVIII khi giai cấp tư sản lớn mạnh, Cách mạng tư sản nổ ra, học thuyết tam quyền phân lập với luận điểm: tách quyền lập hành pháp và tư pháp ra khỏi quyền lập pháp, quyền lực nhà nước phải hình thành ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp kìm chế và đối trọng, lúc đó, thiết chế Tòa án ra đời và chức danh thẩm phán làm nhiệm vụ xét xử vốn chưa từng có trước đó mới được hình thành [56, tr.16]

Từ đó, có thể hiểu chung về thẩm phán như sau: thẩm phán là người làm việc trong cơ quan Tòa án, chuyên xét xử các vụ án và giải quyết các vụ việc theo thẩm quyền của Tòa án, ra các bản án, quyết định nhân danh nhà nước [56, tr.17]

Theo Điều 65 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, thẩm phán là người

có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của Luật này được Chủ tịch nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ xét xử Cùng với quy định của Điều 102 Hiến pháp 2013 về nhiệm vụ của Tòa án nhân dân “Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo

vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”, có thể định nghĩa như sau về thẩm phán ở Việt Nam: thẩm phán là một chức danh nhà nước, được

Trang 16

Trong hoạt động tư pháp, thẩm phán là người giữ vị trí trung tâm đồng thời

là kết thúc của quá trình tố tụng Điều tra viên, kiểm sát viên dù đều là những chức danh quan trọng trong quá trình tiến hành tố tụng nhưng sự phán quyết kết quả cuối cùng vẫn do thẩm phán chịu trách nhiệm, kỳ vọng lớn nhất ở xã hội vẫn nằm ở thẩm phán chứ không ai khác Dù là tố tụng hình sự, dân sự hay hành chính thì thẩm phán

là người chịu trách nhiệm cuối cùng về kết quả của quá trình xét xử, sự đúng, sai và việc tìm ra sự thật khách quan của vụ việc có thể không phụ thuộc vào thẩm phán nhưng lại thể hiện trong phán quyết của thẩm phán Vì thế, với nền tư pháp nói chung thì chính những thẩm phán cụ thể chứ không phải cơ quan Tòa án có trách nhiệm và sứ mạng bảo vệ pháp luật, duy trì trật tự và công bằng xã hội

1.1.2 Khái niệm về sự độc lập của thẩm phán và ý nghĩa, vai trò của nó đối với việc thực hiện quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền

1.1.2.1 Khái niệm về sự độc lập của thẩm phán

Định nghĩa sự độc lập của thẩm phán Về mặt từ ngữ, độc lập là tính chất

của một mối quan hệ nhất định giữa chủ thể này với một hoặc nhiều chủ thế khác, trong đó, sự tồn tại, hoạt động của chủ thể này không nương tựa hoặc phụ thuộc vào bất cứ ai, vào bất cứ điều gì [30, tr.14] Sự độc lập của một chủ thể được đánh giá ở phương diện tồn tại và phương diện hoạt động Trong đó, độc lập trong tồn tại của chủ thể là yếu tố ổn định và quyết định đến tính độc lập trong hoạt động của chủ thể Có thể hiểu tính độc lập của Tòa án trong xét xử là tính chất của mối quan hệ phát sinh giữa Tòa án với các chủ thể khác trong quá trình Tòa án tồn tại cũng như thực hiện chức năng xét xử vụ án và giải quyết các vụ việc khác theo quy định của pháp luật Trong các mối quan hệ xã hội phát sinh, Toà án không lệ thuộc hay bị các chủ thể khác chi phối về phương diện tổ chức và hoạt động Những yêu cầu đó được thể hiện trong các quy định pháp luật tạo nên địa vị pháp lý của Tòa án, loại trừ

Trang 17

10

những sự ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình ra quyết định của Tòa án, để từ đó thẩm phán có thể ra phán quyết đối với một vụ việc chỉ dựa trên những tình tiết thực tế của sự việc và các quy định pháp luật có liên quan [25, tr.66]

Khái niệm tính độc lập của thẩm phán, cần được xem xét ở hai khía cạnh [25, tr.66] Thứ nhất là tính độc lập của cá nhân thẩm phán khi là một chức danh trong cơ quan nhà nước Thứ hai là tính độc lập của thẩm phán khi thực hiện chức năng xét xử của Toà án trong các vụ án cụ thể

Cơ sở về sự độc lập của thẩm phán Sự độc lập của thẩm phán được hình

thành từ cơ sở lý thuyết và cơ sở thực tiễn như sau:

Cơ sở lý thuyết về sự độc lập của thẩm phán khởi nguồn từ sự độc lập của

nhánh quyền tư pháp trong học thuyết tam quyền phân lập Thiết chế Toà án là một thiết chế rất đặc biệt trong hệ thống các cơ quan nhà nước Không những nó được hưởng quy chế phân quyền như các cơ quan lập pháp và hành pháp, mà còn phải độc lập hoàn toàn trước hai cơ quan này Mặc dù nhiều nhà nước dân chủ tư sản được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phân quyền giữa lập pháp, hành pháp và

tư pháp, nhưng trên thực tế, hành pháp và lập pháp vẫn có sự phối kết hợp với nhau

ở một mức độ nhất định, chỉ có tư pháp - do chức năng xét xử, bao giờ cũng được độc lập Sức mạnh của nhà nước pháp quyền tuỳ thuộc nhiều vào sự độc lập của hệ thống tư pháp Sự độc lập của thẩm phán hay hệ thống tư pháp trong mối quan hệ với lập pháp và hành pháp được lý giải như sau:

Cội nguồn tư tưởng độc lập xét xử và quá trình hình thành tư tưởng hiện đại

về độc lập trong hoạt động xét xử: Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới cho thấy các văn bản xa xưa nhất được phát hiện là Luật hình của nhà Hạ-Trung Quốc (2100

- 1600 trước Công nguyên) và bộ luật Hammurabi- Babylon (1792-1750 trước Công nguyên), trong đó có nhiều nội dung liên quan đến tư pháp, đến việc xét xử và hình phạt Sang đến thời kỳ cận trung đại, quyền lực tối cao của các thế lực phong kiến cai trị bắt đầu bị chia sẻ khi các văn bản về tổ chức quyền lực nhà nước ra đời Đại Hiến chương Anh (Magna Charta) được vua Anh ban hành vào năm 1215 tuy không không có quy định trực tiếp nêu rõ về độc lập của thẩm phán trong khi xét xử

Trang 18

11

hoặc những yếu tố liên quan nhưng đã nêu ra những nguyên tắc bình đẳng của pháp luật Cuối thế kỷ XVIII, J Locke, nhà triết học ủng hộ quan điểm quyền lực nhà nước thống nhất, có sự phân công giữa các nhánh quyền đã tuyên bố rằng việc hình thành các đạo luật với quyền khiếu nại đến các thẩm phán độc lập là điều cần thiết cho một xã hội văn minh và một khi xã hội mà không có họ (tức là thẩm phán) thì

đó là xã hội vẫn còn "trong một trạng thái tự nhiên" Tuy nhiên, J Locke lại không

đưa ra được cách thức, mô hình cụ thể để bảo đảm cho thẩm phán độc lập Trong

tác phẩm “Tinh thần pháp luật”, Montesquieu đưa ra tư tưởng phân quyền dựa trên

phân tích cách thức tổ chức quyền lực của nước Anh Theo đó, độc lập xét xử gắn kết chặt chẽ với sự phát triển của pháp quyền, với điều kiện tiên quyết của sự phân quyền và sự tồn tại của kiểm soát và cân bằng quyền lực… Tiếp đó, Đạo luật Hòa giải 1701 (Act of Setlement 1701) đã nêu rõ nguyên tắc bảo đảm nhiệm kỳ thẩm phán (nếu có phẩm chất tốt) và khẳng định rằng họ chỉ có thể bị thay thế bởi hai viện của Quốc hội theo một quy trình chặt chẽ thẩm phán Brooke của Tòa án thượng thẩm phán Anh cho rằng quy định này chính là nguyên tắc nền tảng của sự độc lập xét xử Sang đến thời kỳ hiện đại, tư tưởng đó càng được khẳng định và thể hiện sự tổ chức thực thi quyền lực nhà nước mà trong đó quyền lực xét xử phải độc lập so với các nhánh quyền lực khác [51, tr.8,9]

Cơ sở thực tiễn của sự độc lập thẩm phán

Về cơ sở thực tiễn, xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của thẩm phán và sự kỳ vọng của công chúng ở chức năng xét xử của thẩm phán buộc thẩm phán phải độc lập Sự độc lập của thẩm phán xuất phát từ bản chất của hoạt động tư pháp mà thẩm phán là người trực tiếp thực hiện, nói đến tư pháp là nói đến công lý, nói đến tư pháp là nói đến sự phân xử và phán xét các tranh chấp, sự đúng sai phù hợp với pháp luật và công lý [42] Vì lý tưởng đó nên hoạt động xét xử đòi hỏi phải được bảo đảm sự độc lập, nếu thẩm phán không độc lập khi xét xử thì không nên sinh ra chức danh thẩm phán và không nên có cơ quan là Tòa án, vì xét xử khách quan, tìm

ra sự đúng sai và sự thật là thiên chức [49] của thẩm phán

Điều này có thể được lý giải cụ thể hơn rằng: thẩm phán dù ở thời nào, quốc

Trang 19

12

gia nào thì sự độc lập luôn gắn liền với chức danh này, việc không thừa nhận sự độc lập của thẩm phán dù với bất kỳ lý do gì đồng nghĩa với việc công lý đang bị xâm phạm Độc lập là yếu tố quan trọng nhất giúp cho thẩm phán đưa ra những phán quyết khách quan và công bằng Ngược lại, khi thẩm phán bị áp lực từ một nguồn lực bất kỳ, phán quyết của thẩm phán không còn dựa trên lý lẽ của sự khách quan,

lẽ phải có thể bị sai lệch, khi đó nhiệm vụ bảo vệ công lý của tư pháp xem như thất bại Về điều này, Douglass North, một học giả nổi tiếng về kinh tế và pháp luật người Mỹ (giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1993) đã chứng minh một cách thuyết phục rằng, việc thiết lập và duy trì một nền tư pháp độc lập, đảm bảo cho pháp luật, mệnh lệnh của Nhà nước được tuân thủ một cách nghiêm chỉnh, củng cố chữ “tín” của Nhà nước, chữ “tín” của pháp luật là một trong những bí quyết thúc đẩy phát triển kinh tế ở chính Hoa Kỳ trong suốt chiều dài lịch sử của mình [63, tr.108]

1.1.2.2 Ý nghĩa, vai trò của sự độc lập của thẩm phán đối với việc thực hiện quyền tư pháp trong Nhà nước pháp quyền

Một cơ quan tư pháp độc lập hoàn toàn là một trong những thẩm phán được hưởng quyền sở hữu trong suốt hành vi tốt, mức lương đủ để che chở họ khỏi áp lực của chính phủ hoặc các bên tư nhân [69, tr.331] Nói tóm lại, độc lập tư pháp có thể được định nghĩa ở nghĩa chung về tự do – mà thực sự chính là trách nhiệm - dựa trên các sự kiện và luật, và do đó không có ràng buộc bên ngoài [69, tr.335]

Tư pháp độc lập được hiểu là trạng thái pháp lý mà ở đó Tòa án cũng như các thẩm phán thông qua các cơ chế, biện pháp pháp lý có thể thi hành nhiệm vụ, thẩm quyền được pháp luật quy định mà không phải chịu sự ràng buộc, tác động hay sự ảnh hưởng có tính chất trái luật, đi ngược lại ý chí của họ từ phía các nhánh quyền hành pháp, lập pháp, của cả hệ thống chính trị, chính quyền địa phương, yếu

tố tổ chức bên trong hệ thống tư pháp cũng như những yếu tố tự thân hay nhu cầu cá nhân thẩm phán

Với sứ mệnh cao cả của mình, thẩm phán được trao quyền lực và được thiết

kế để nhân danh quyền lực Điều này rất cần thiết, nhưng kèm theo đó là những nguy cơ lạm quyền của chính thẩm phán Nếu điều tệ hại đó xảy ra, thì vô cùng nguy hiểm, bởi đúng như theo nhận định của Susan Rose – Ackerman:

Trang 20

13

Do các quyết định của ngành tư pháp có khả năng phân phối lại quyền lực và tài sản nên các thẩm phán có thể lạm dụng địa vị nghề nghiệp của họ để mưu lợi cho mình Nếu cơ quan tư pháp lại là một mắt xích của tham nhũng, thì cả người dân lương thiện, lẫn quan chức tham nhũng đều

có chung một nhận thức là hối lộ có thể giải quyết mọi vấn đề của pháp luật! Vì vậy, một hệ thống tư pháp liêm chính và có uy tín có ý nghĩa quan trọng trong việc đấu tranh chống tham nhũng và duy trì trật tự pháp luật Tất nhiên, điều nguy hại đó không chỉ đến từ sự lạm dụng của thẩm phán nhằm mưu cầu lợi ích cá nhân, những nguy hại đó hoàn toàn có thể đến từ những ảnh hưởng, tác động, áp lực mà thẩm phán phải hứng chịu khi đưa ra những quyết định của mình Để phòng ngừa những điều đó, cần thiết lập đầy đủ các điều kiện để

đảm bảo mỗi thẩm phán là người liêm chính

Thiết chế Toà án là một thiết chế rất đặc biệt trong hệ thống các cơ quan nhà nước Không những nó được hưởng quy chế phân quyền như các cơ quan lập pháp

và hành pháp, mà còn phải độc lập hoàn toàn trước hai cơ quan này Mặc dù nhiều nhà nước dân chủ tư sản được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phân quyền giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhưng trên thực tế, hành pháp và lập pháp vẫn

có sự phối kết hợp với nhau ở một mức độ nhất định, chỉ có tư pháp - do chức năng xét xử, bao giờ cũng được độc lập Sức mạnh của nhà nước pháp quyền tuỳ thuộc nhiều vào sự độc lập của hệ thống tư pháp [12]

Sự độc lập của thẩm phán có những vai trò như sau đối với việc thực hiện quyền tư pháp trong Nhà nước pháp quyền:

Một là, sự độc lập của thẩm phán là nền tảng bảo đảm cho sự độc lập của Tòa

án và nền tư pháp Thực chất, sự độc lập của thẩm phán và của Tòa án có quan hệ chặt chẽ nhưng không đồng nhất, muốn Tòa án độc lập thì thẩm phán phải độc lập nhưng sự độc lập của Tòa án không dẫn đến sự độc lập đương nhiên của thẩm phán

Vì thế, sự độc lập của thẩm phán chính là tiền đề, là cơ sở, là trung tâm bảo đảm cho

sự độc lập của Tòa án và nền tư pháp, đó yếu tố thiết yếu trong nhà nước pháp quyền

Hai là, sự độc lập của thẩm phán là yếu tố tiên quyết bảo đảm sự phán quyết

Trang 21

14

của thẩm phán là khách quan, bảo đảm công bằng, công lý Việc không bị tác động bởi một chủ thể, sự kiện, yếu tố khác là cơ sở cho việc thẩm phán đưa ra những kết luận, đánh giá đúng đắn, xác thực, không thiên vị hay lệch lạc Dù phán quyết của thẩm phán có thể chưa thật sự đúng với sự thật khách quan của vụ việc do những giới hạn khó vượt qua của các điều kiện nhân lực, năng lực có giới hạn của con người nhưng chỉ cần thẩm phán độc lập khi ra phán quyết thì đó chính là lẽ công bằng mà người dân cần có Sự công bằng, lẽ phải hay công lý cuối cùng cũng chỉ nhằm bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân và đó cũng là đích đến,

là thước đo về chuẩn mực của Nhà nước pháp quyền

1.2 Khái niệm về đảm bảo sự độc lập của thẩm phán và những yếu tố ảnh hưởng đến sự độc lập của thẩm phán

1.2.1 Khái niệm, cơ sở hình thành và vai trò của việc bảo đảm sự độc lập của thẩm phán

1.2.1.1 Khái niệm

Khái niệm "độc lập” có nghĩa là một mình tự lập, hành động không phụ thuộc vào người khác Độc lập xét xử không ngoài mục đích đảm bảo tính tối cao của pháp luật, giữ vững sự cân bằng và kiểm soát các quyền lực của nhà nước, bảo

vệ quyền con người [24] Để bảo đảm sự độc lập của thẩm phán cần có một cơ chế bảo đảm, đó là tổng thể các thể chế, thiết chế và các điều kiện bảo đảm cho sự vận hành cơ chế Trong đó, thể chế đóng vai trò là những cơ sở pháp lý, những quy tắc cho sự vận hành, còn thể chế là các chủ thể trong cơ chế vận hành đó và nó chỉ được diễn ra khi có các điều kiện phối hợp trên thực tế mà thông thường thuộc về chế độ chính trị, truyền thống pháp lý hoặc yếu tố văn hóa, con người

Như vậy, có thể hiểu ban đầu về cơ chế bảo đảm sự độc lập của thẩm phán là những cách thức, phương thức có vai trò, nhiệm vụ tôn trọng, bảo toàn và bảo vệ sự độc lập của thẩm phán Cơ chế này được hình thành từ nhiều phương thức ở các khía cạnh khác nhau, từ pháp lý cho đến các phương thức mang tính chính trị, xã hội Do đó, cơ chế bảo đảm sự độc lập của thẩm phán là một tổng thể các phương thức có mối quan hệ gắn kết, tương hỗ và đặc biệt kết nối ở nhiệm vụ bảo đảm sự độc lập của thẩm phán

Trang 22

1.2.1.2 Cơ sở hình thành cơ chế bảo đảm sự độc lập của thẩm phán

Sự độc lập của thẩm phán luôn là nhu cấu bức thiết của đời sống chính trị - pháp lý, bất kỳ Nhà nước nào cũng đều đưa ra các phương thức bảo đảm sự độc lập của thẩm phán, tuy nhiên, với tính chất của hoạt động tư pháp và những thuộc tính của một cá nhân thì việc bảo đảm sự độc lập của thẩm phán phải cần đến một cơ chế với sự tổng hợp của các phương thức khác nhau

Lý giải về Cơ sở cho sự hình thành cơ chế bảo đảm sự độc lập của thẩm phán, chúng tôi cho rằng:

Thẩm phán với vị trí và chức năng của mình, có nhiều khả năng bị sự can thiệp chi phối của các chủ thể khác nhau, từ nhiều phía mà theo tổng kết, chúng tôi đồng ý với ý kiến rằng: thẩm phán muốn độc lập phải bảo đảm tránh được, chịu đựng được và vượt qua được các mối quan hệ chi phối sau đây: (1) Sự tác động từ các yếu tố bên ngoài, có thể là các Đảng phái chính trị, các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm, quyền hạn trong việc đánh giá, tuyển chọn, bổ nhiệm thẩm phán, những chủ thể tiến hành tố tụng khác như cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, có thể là những người tham gia tố tụng, có thể là dư luận, là truyền thông; (2) Sự tác động từ các yếu tố bên trong hệ thống tư pháp như giữa Tòa án cấp trên với tòa án cấp dưới, Chánh án, Chánh tòa với thẩm phán và thứ (3) là sự chi phối của các thành viên khác trong Hội đồng xét xử đối với thẩm phán Thực tiễn hoạt động của tòa án ở Hoa Kỳ - một nền tư pháp độc lập bậc nhất trên thế giới, cho thấy, khi giải quyết một vụ tranh chấp cụ thể, trong đó lợi ích giữa hai bên tranh chấp mang tính đối chọi nhau về tính thắng/thua, hợp pháp/bất hợp pháp, đúng/sai, các bên thường

Trang 23

16

mong muốn vụ việc được kết thúc theo hướng có lợi cho mình Trong bối cảnh đó,có 3 nguồn áp lực chính mà thẩm phán thường phải đối mặt đó là: (1) các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trong bộ máy cầm quyền, bao gồm cả lãnh đạo của tòa

án, thẩm phán của tòa án cấp trên (nhất là trong các vụ xét xử có liên quan tới cán

bộ lãnh đạo của các cơ quan này hoặc thân hữu của những cán bộ này); (2) các bên đương sự trong vụ việc; và (3) dư luận xã hội (áp lực dư luận) Tư pháp độc lập vì thế chính là sự độc lập của thẩm phán đối với cả 3 nguồn áp lực kể trên Ngoài ra,

sự độc lập của thẩm phán còn bao hàm sự độc lập của chính những người cùng làm công tác xét xử với nhau khi giải quyết một vụ án (tức là sự độc lập của các thẩm phán với nhau), thậm chí là sự độc lập của thẩm phán với chính mình (theo nghĩa họ không được xét xử những vụ việc mà bản thân họ đã có đi ̣nh kiến hoă ̣c có l ợi ích liên quan tới vụ việc hoặc với các bên trong vụ việc ấy) [7]

Với tổng thể các mối quan hệ như thế, để bảo đảm sự độc lập của thẩm phán, không có một công cụ, phương tiện đơn lẻ nào là hiệu quả, trước hết là pháp luật với những quy định bảo đảm sự độc lập của thẩm phán có ý nghĩa là nền tảng pháp

lý tôn trọng và bảo vệ sự độc lập của thẩm phán với hai nội dung: (1) khẳng định sự độc lập của thẩm phán và quy định những biện pháp pháp lý bảo đảm cho sự độc lập đó cả về phương diện tổ chức, hoạt động (2) Cấm đoán các chủ thể khác can thiệp vào hoạt động của thẩm phán và (3) quy định trách nhiệm đối với thẩm phán khi thiếu sự độc lập và trách nhiệm của chủ thể khác khi can thiệp vào sự độc lập của thẩm phán

Tuy nhiên, dù pháp luật là cơ bản nhưng vẫn chưa đủ để bảo đảm sự độc lập của thẩm phán mà sự độc lập này cần phải được bảo đảm bởi những yếu tố khác ngoài pháp luật, đó là các yếu tố thuộc về: chế độ chính trị, điều kiện vật chất, trình

độ chuyên môn, ý thức trách nhiệm của thẩm phán và đôi khi nó còn là truyền thống, văn hóa Do đó, muốn bảo đảm sự độc lập của thẩm phán, một phương thức

là không hiệu quả, mà phải cần một cơ chế với tổng hợp tất cả những yếu tố thuộc

về quy tắc (thể chế), thuộc về chủ thể (thiết chế) và những điều kiện khác bảo đảm cho sự vận hành của cơ chế

Trang 24

17

Thẩm phán liêm chính có nghĩa là thẩm phán chỉ làm những điều đúng đắn, đàng hoàng, trong sáng, không tham lam, không vụ lợi và khi thực hiện nhiệm vụ chỉ tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và nhân danh công lý Liêm chính không chỉ là những phẩm chất tốt đẹp, trong sáng, chính đáng, phù hợp với những chuẩn mực, đạo đức của một cá nhân, mà còn là những yêu cầu, tiêu chuẩn, đòi hỏi đối với những hành vi, hành động của thẩm phán – người nhân danh công lý để bảo vệ quyền, tự do, phẩm giá của con người, trật tự, công lý và công bằng xã hội Nhưng, thẩm phán xét cho cùng cũng chỉ là một con người, và vì thế nên có đủ tất cả mọi xúc cảm, hỉ, nộ, ái, ố mà một con người thường có Ở khía cạnh khác, thẩm phán là một nhà chức trách nắm giữ quyền lực, nhân danh công lý để thực thi nhiệm vụ nên thẩm phán cần phải có những đảm bảo để thực sự độc lập và chỉ có thực sự độc lập thì thẩm phán mới được liêm chính Và chỉ khi thẩm phán thực sự liêm chính thì hệ thống tư pháp mới có được đầy đủ năng lực, uy tín và niềm tin để thực sự trở thành cái khiên đỡ, là thành trì vững chắc cuối cùng bảo vệ quyền, tự do, nhân phẩm của mỗi con người, bảo vệ công bằng, công lý và trật tự xã hội [52]

Sự độc lập của thẩm phán, theo đó chỉ được bảo đảm khi tổng thể các yếu

tố sau đều cùng hướng đến mục tiêu tạo cơ sở cho sự độc lập của thẩm phán: (1) quy trình đề cử, tuyển chọn, bổ nhiệm thẩm phán minh bạch, công khai và dựa trên trình độ, năng lực và đạo đức của thẩm phán, (2) nhiệm kỳ của thẩm phán vững chắc, lâu dài, (3) cơ sở và quy trình xem xét kỷ luật, bãi nhiệm thẩm phán phải công khai, minh bạch và khách quan, (4) thẩm phán phải được hưởng lương

và chế độ đại ngộ thỏa đáng, (5) Cần có bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp cho thẩm phán, (6) quy định trách nhiệm của Tòa án ở mức hợp lý và cân bằng với sự bảo đảm độc lập của thẩm phán

1.2.1.3 Vai trò của cơ chế bảo đảm sự độc lập của thẩm phán

Việc hình thành một cơ chế bảo đảm sự độc lập của thẩm phán có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với một nhà nước hầu như ở tất cả các khía cạnh trong đời sống chính trị - pháp lý, văn hóa – xã hội của một quốc gia Ở từng mặt cụ thể, cơ chế bảo đảm sự độc lập của thẩm phán có vai trò cụ thể như sau:

Trang 25

18

Thứ nhất, vai trò của cơ chế đối với bản thân thẩm phán và hệ thống tư

pháp: cơ chế bảo đảm sự độc lập của thẩm phán là cơ sở cho những phán quyết công minh, khách quan của thẩm phán, là nền tảng cho một nền tư pháp hướng đến bảo vệ công lý và lẽ công bằng Nếu không có cơ chế bảo đảm sự độc lập của thẩm phán thì bản thân thẩm phán không làm tốt chức trách của một người phán xử, thẩm phán lúc này chỉ là công cụ cho những thế lực, những nhóm người muốn chi phối

vụ việc theo chiều hướng của mình Nói cách khác, cơ chế bảo đảm độc lập của thẩm phán sẽ là bệ phóng cho những thẩm phán chân chính muốn khẳng định sứ mạng của người phán quyết, là cơ sơ cho niềm tin về trách nhiệm bảo vệ công lý của các thẩm phán

Với hệ thống tư pháp, cơ chế bảo đảm sự độc lập của thẩm phán là sự cấu thành cơ bản nhất trong cơ chế bảo đảm sự độc lập của ngành tư pháp thẩm phán độc lập là yêu cầu đầu tiên của một nền tư pháp độc lập, vì thế việc có một cơ chế bảo đảm sự độc lập của thẩm phán hoàn chỉnh thì nhiệm vụ của cả ngành tư pháp mới có cơ sở hoàn thành

Thứ hai, cơ chế bảo đảm sự độc lập của thẩm phán với việc thực hiện chức

năng của Nhà nước: mỗi Nhà nước đều có chức năng đối nội và đối ngoại, chức năng đối nội nhằm thực hiện trách nhiệm của Nhà nước với người dân của mình Cơ chế bảo đảm sự độc lập của thẩm phán là tiền đề bảo đảm cho việc Nhà nước thực hiện thành công, hiệu quả việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, phân xử và phán xét sự đúng, sai của các hành vi, buộc người có hành vi sai trái phải gánh trách nhiệm nhân thân, tài sản với vi phạm do mình gây ra Điều đó giúp giữ vững an ninh, trật tự và an toàn xã hội, bảo đảm một Nhà nước an toàn, có trật tự, kỹ cương, những giá trị tốt đẹp được nhân rộng và hạn chế những tiêu cực

Từ thực tiễn các quốc gia đều cho thấy, khó có một nhà nước nào phát triển kinh tế bền vững khi vấn đề tội phạm, hoặc các vi phạm hành chính, dân sự không được xem xét giải quyết thấu tình đạt lý, đặc biệt khó có nhà nước nào trở thành hình mẫu của sự vươn lên nếu không phòng chống được tham nhũng mà sự độc lập của thẩm phán là yêu cầu tối thiểu cho cuộc đấu tranh khó khăn này

Trang 26

19

Thứ ba, cơ chế bảo đảm sự độc lập của thẩm phán là một sự bảo đảm cho

việc xây dựng nhà nước pháp quyền Theo Theodor Meron - một học giả hàng đầu trong lĩnh vực luật nhân đạo thì tư pháp độc lập là nội dung cơ bản của Nhà nước pháp quyền bởi khi thẩm phán độc lập từ những áp lực chính trị hay áp lực khác, họ sẽ giải quyết tranh chấp một cách công bằng, theo hướng dẫn của pháp luật [65, tr.256-257] Độc lập tư pháp là điều kiện không thể thiếu của Nhà nước pháp quyền, trong đó, độc lập của thẩm phán trong xét xử là yêu cầu cao nhất Yêu cầu về tính độc lập, khách quan phải được cụ thể hoá thành các quy định trong Hiến pháp và pháp luật, đặc biệt là quy định rõ ràng về vị trí, thẩm quyền của từng cơ quan tư pháp Khi thẩm phán là chủ thể thực hiện quyền tư pháp, một hoạt động nhân danh công lý và bảo vệ công lý nên phải cần được bảo đảm sự độc lập để xứng đáng là một người đứng giữa, trung lập, không bị chi phối bởi bất cứ chủ thể nào

Sự độc lập của thẩm phán bảo đảm Tòa án tồn tại đúng bản chất của mình là chủ thể bảo vệ công lý và khi đó Nhà nước cũng có thể trở thành đối tượng xét xử của thẩm phán và khi “Quan tòa độc lập sẽ không thuộc về tôi hay thuộc về Chính phủ” dân chủ, quyền con người, công lý sẽ đứng trên nhà nước Vì thế, nếu không có cơ chế bảo đảm độc lập cho thẩm phán thì thậm chí với việc tuân theo pháp luật thuần túy cũng là điều khó khăn nói chi đến việc dựa vào công lý, lẽ phải mà thực chất đó chính là niềm tin và nhân cách của thẩm phán để bảo vệ công lý – một tiêu chuẩn không thể thiếu của Nhà nước pháp quyền Do đó có thể nói,sự độc lập của thẩm phán đến mức độ nào thì thành công của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền đạt đến mức độ đó

Thứ tư, cơ chế bảo đảm sự độc lập thẩm phán với việc bảo đảm tính hệ

thống của pháp luật và đảm bảo tính tối thượng của luật Cơ chế bảo đảm sự độc lập của thẩm phán thực chất được sinh ra từ tinh thần thượng tôn pháp luật nên nó có ý nghĩa lớn lao trong việc đề cao pháp luật và giữ vững tính hệ thống, tính toàn vẹn của pháp luật thẩm phán độc lập nhưng phải căn cứ vào pháp luật, việc đưa pháp luật làm căn cứ cơ bản nhất chứ không phải những sự tác động khác ngoài pháp luật

sẽ bảo đảm rằng giá trị điều chỉnh của pháp luật là không thể thay thế Bên cạnh đó,

Trang 27

20

pháp luật của một nhà nước luôn được ban hành bởi nhiều chủ thể khác nhau trong

bộ máy nhà nước, sự chồng chéo mâu thuẫn giữa các quy định là phổ biến, với cơ chế bảo đảm sự độc lập của thẩm phán, việc lựa chọn những quy định có giá trị pháp lý cao hơn sẽ là yếu tố quan trọng bảo đảm tính thống nhất của pháp luật Ngoài ra, với thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính, thẩm phán với sự độc lập được bảo đảm sẽ góp phần đắc lực trong việc rà soát, đánh giá thậm chí là sàng lọc tính hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật của các chủ thể khác nhau và có

lẽ so với giám sát và kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật thì cơ chế tư pháp

tỏ ra hiệu quả hơn, thiết thực hơn ở nhiệm vụ bảo đảm sự hợp pháp của các quyết định quản lý nhà nước

Thứ năm, cơ chế bảo đảm sự độc lập của thẩm phán với vai trò bảo đảm

quyền và lợi ích chính đáng của người dân, bảo đảm quyền con người, quyền công dân Thông qua hoạt động xét xử một cách độc lập, thẩm phán khi đưa ra những phán xét hợp pháp, phù hợp với sự thật khách quan để tuyên bố một người có tội hoặc không có tội, một tài sản của người này hay người khác, một quyết định hành chính là đúng hay sai… đều đụng chạm đến những quyền lợi thiết thân nhất của cá nhân, tổ chức, đều can thiệp trực tiếp đến những giá trị cơ bản nhất của quyền con người, quyền công dân Vì thế, không một cơ quan nào gắn với quyền con người, quyền công dân hơn Tòa án và mức độ dân chủ của một xã hội được đo bằng hiệu quả xét xử của Tòa án Cơ chế bảo đảm sự độc lập của thẩm phán có vai trò hàng đầu nếu không muốn nói là gần như thống lĩnh trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân Về điều này, có học giả đã khẳng định rằng: tất cả những gì

mà ngành tư pháp làm được là chứng tỏ mình độc lập và muốn bảo vệ quyền công dân đến mức cả các nhà chính trị lẩn dân chúng đều tự cảm thấy đều phải tôn trọng điều đó và tuân theo sự phán xét của ngành tư pháp [31, tr.321]

Thứ sáu, vai trò của cơ chế bảo đảm sự độc lập của thẩm phán với tiến

trình tố tụng Cơ chế bảo đảm sự độc lập của thẩm phán có mối liên hệ đặc biệt với các nguyên tắc khác của tố tụng Pháp luật tố tụng cũng là một thể chế nằm trong các phương thức mang tính pháp lý bảo đảm sự độc lập của thẩm phán Các

Trang 28

21

quy trình tố tụng dù mang tính kỹ thuật, nghiệp vụ và chuyên môn nhưng với sự tương tác qua lại giữa các chủ thể trong qúa trình tiến hành tố tụng để tìm ra sự thật khách quan dễ dàng có sự tác động làm ảnh hưởng đến nhận thức và đánh giá

vụ việc của thẩm phán Vì thế, cơ chế bảo đảm sự độc lập của bản thân thẩm phán

sẽ là cơ sở cho một tiến trình tố tụng khách quan, minh bạch Tuy nhiên, về tổng thể, bản thân thể chế tố tụng cũng phải gánh vác trọng trách lớn trong việc bảo đảm sự độc lập của thẩm phán trong tiến trình tiến hành tố tụng chứ không thể trông chờ hoàn toàn vào cơ chế bảo đảm sự độc lập của thẩm phán bên ngoài quy trình tố tụng mặc dù cơ chế này là cơ bản

1.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự độc lập của thẩm phán trong hoạt động tư pháp

Để hình thành nên một cơ chế bảo đảm sự độc lập của thẩm phán cần xem xét đến các yếu tố trực tiếp hoặc có nguy cơ ảnh hưởng đến sự độc lập của thẩm phán trên cả hai phương diện: độc lập cá nhân và độc lập trong hoạt động xét xử

1.2.2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự độc lập cá nhân của thẩm phán

Thẩm phán dù là người có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức nhưng bình diện chung thẩm phán vẫn là một công chức nhà nước và cuối cùng thẩm phán vẫn là những con người bình thường, có đời sống cá nhân những con người thông thường khác và đương nhiên cũng có khả năng bị chi phối bởi các yếu tố xung quanh Các yếu tố thiết nghĩ có ảnh hưởng lớn đến sự độc lập cá nhân của thẩm phán bao gồm:

Thứ nhất, chế độ tuyển dụng, bổ nhiệm, nhiệm kỳ Một chế độ tuyển dụng,

bổ nhiệm chức danh thẩm phán nghiêm túc, văn minh, không bị chi phối bởi các yếu tố bên ngoài sẽ giúp thẩm phán tránh được sự tác động bởi yếu tố được, mất của công việc

Thứ hai, tiền lương và chế độ đãi ngộ: tiền lương và các chế độ phụ cấp là

cái mà bất cứ thẩm phán nào cũng quan tâm và do đó việc tiền lương ít ỏi, chế độ đãi ngộ không xứng đáng thì thẩm phán dễ tham nhũng

Thứ ba, sự tôn trọng sự độc lập của thẩm phán của những chủ thể khác Việc

Trang 29

22

thừa nhận, tôn trọng, tôn vinh và trân quý sự độc lập của thẩm phán như một điều quý giá trong đời sống chính trị - xã hội là điều cần thiết để thẩm phán không bị những tác động từ các chủ thể khác Đặc biệt, ý thức tôn trọng sự độc lập của thẩm phán ở người dân mà cụ thể hơn là những cá nhân, tổ chức là bị can, bị cáo, là bị đơn, nguyên đơn hay những người có liên quan đến vụ việc là có ý nghĩa quan trọng, hạn chế ảnh hưởng đến sự độc lập của thẩm phán

Thứ tư, yếu tố truyền thông và dư luận Một thẩm phán dù có trình độ chuyên

môn vững vàng và đạo đức tốt cũng khó tránh khỏi bị tác động nhất định bởi yếu tố truyền thông và dư luận Dư luận và truyền thông có thể là chính nghĩa cũng có thể

bị dẫn dắt vì một mục đích nào đó, điều đó sẽ rất nguy hiểm nếu thẩm phán không

đủ bản lĩnh chính trị và không đủ năng lực, kỹ năng nghề nghiệp để xem xét vụ việc một cách khách quan

1.2.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự độc lập của thẩm phán trong hoạt động xét xử

Thứ nhất, mô hình tổ chức Tòa án Thực tiễn cho thấy, mô hình tổ chức Tòa

án sẽ quy định cách thức tổ chức hệ thống Tòa án có tác động mạnh mẽ đến sự độc lập Cho dù một nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc phân quyền hay tập quyền thì sự phân định rạch ròi giữa quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là đòi hỏi khách quan, cần thiết để hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước, đảm bảo cho hiệu lực hoạt động của bộ máy nhà nước Trong các nhánh quyền lực đó, tư pháp phải độc lập

Thứ hai, mô hình tố tụng và pháp luật tố tụng Mô hình tố tụng thẩm vấn hay

tranh tụng sẽ có ý nghĩa lớn trong việc ảnh hưởng đến sự độc lập của Tòa án Với nguyên tắc tranh tụng được áp dụng hiện nay ở Việt Nam và hầu hết các nước, sẽ là

tiền đề cho việc bảo đảm sự độc lập của thẩm phán

Theo Hiến pháp 2013 thì: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo

đảm” [36, Điều 103, Khoản 5] Đây là nguyên tắc mới của Hiến pháp năm 2013 so

với Hiến pháp năm 1992 Cụ thể hóa quy định này của Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức

Tòa án nhân dân 2014 quy định: “Bảo đảm tranh tụng trong xét xử Nguyên tắc tranh

Trang 30

23

tụng trong xét xử được bảo đảm Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho những người tham gia tố tụng thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử Việc thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử theo quy định của luật tố tụng” [37, Điều 13]

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân

2014, Luật Tố tụng hành chính 2015, Bộ Luật Tố tụng hình sự cũng đã ghi nhận nguyên tắc này và cụ thể hóa bằng các quy trình tố tụng cụ thể bảo đảm sự độc lập

của thẩm phán

1.3 Nội dung bảo đảm sự độc lập của thẩm phán

Để bảo đảm sự độc lập của thẩm phán, cơ chế bảo đảm sự độc lập của thẩm phán được thiết lập, tuy nhiên, nội dung của cơ chế bảo đảm độc lập của thẩm phán

ở đây nằm ngoài quy trình tố tụng cụ thể, nói cách khác đây là cơ chế chung, được thiết lập trên cơ sở các quy tắc xung quanh nhiệm vụ, chức năng, vị thế của thẩm phán nói chung chứ không gắn với bất kỳ hoạt động tố tụng cụ thể nào Theo đó, để thẩm phán được độc lập, thẩm phán cần được những bảo đảm ở hai phương diện: phương diện độc lập cá nhân và phương diện độc lập khi tiến hành xét xử

1.3.1 Bảo đảm sự độc lập của cá nhân thẩm phán

Đối với nhóm các biện pháp trực tiếp bảo đảm cho từng cá nhân thẩm phán được độc lập này thường nhận được sự quan tâm nhiều hơn của các học giả nghiên cứu về tính độc lập của thẩm phán cũng như pháp luật thực định của các nước về các biện pháp bảo đảm tính độc lập của thẩm phán Có thể đề cập một số biện pháp chính sau: (1) Nghề nghiệp của thẩm phán phải được đảm bảo; (2) Cơ chế tuyển dụng, quản lý và đề bạt phải khách quan và dựa trên các tiêu chuẩn hợp lý Để bảo đảm điều đó, cơ chế tuyển dụng và đề bạt phải thực sự khách quan và chủ yếu phải dựa trên các tiêu chí về năng lực chuyên môn và nhân cách của thẩm phán Cơ chế quản lý đối với thẩm phán cũng phải được thiết lập phù hợp với bản chất công việc của thẩm phán Về nguyên tắc, thẩm phán không có cấp trên về mặt chuyên môn (3) Chế độ và cơ chế kỷ luật khách quan, rõ ràng và hợp lý Bảo đảm một sự nghiệp

ổn định để thẩm phán yên tâm với công việc chuyên môn là cần thiết Song điều đó không có nghĩa là thẩm phán được đặc quyền miễn trừ trách nhiệm đối với sai

Trang 31

24

phạm (4) Các thủ tục, quy trình kỷ luật chỉ được tiến hành trên cơ sở những sai phạm rõ ràng và kiểm chứng được của thẩm phán (5) An toàn của thẩm phán phải được bảo đảm Do tính nhạy cảm của công việc xét xử, không hiếm khi thẩm phán

bị đe dọa về tính mạng, sức khỏe và cả nhân phẩm Nếu để thẩm phán bị xâm hại thì không những bản thân thẩm phán bị nguy hại, độc lập tư pháp bị ảnh hưởng mà ngay cả tính tôn nghiêm của Tòa án và pháp luật cũng bị coi thường Chính vì vậy, vấn đề bảo vệ an ninh cho thẩm phán luôn được coi trọng (6) Thu nhập của thẩm phán phải đủ, ngạn ngữ “Người nắm hầu bao bạn là người quyết định số phận của bạn” đúng với yêu cầu của độc lập của thẩm phán và Tòa án [21]

Ở góc độ quốc tế, nhận thấy, sự độc lập của tư pháp và thẩm phán là một trong những nguyên tắc cơ bản của nền dân chủ, tôn vinh quyền tự do quyết định vấn đề dựa trên pháp luật và niềm tin nội tâm và lương tâm của thẩm phán mà nhiều văn bản quốc tế cũng ra đời trong đó có thể chế những nội dung nhằm bảo đảm sự độc lập của thẩm phán Ví dụ, Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người; Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị; Tuyên bố và Chương trình hành động Viên năm 1993; Bộ tiêu chí về độc lập tư pháp của Liên đoàn Luật sư Quốc tế ban hành năm 1982 tại Niu Đêli; Tuyên bố Quốc tế Monreal về Độc lập tư pháp năm 1983 Theo đó, nội dung của cơ chế bảo đảm sự độc lập của thẩm phán bao gồm tổng hợp các nội dung sau:

Thứ nhất, chế độ tuyển dụng, bổ nhiệm, thẩm phán: Đây là điều kiện đầu

tiên và cơ bản bảo đảm sự độc lập của thẩm phán vì chế độ tuyển dụng, bổ nhiệm sẽ ảnh hưởng đến tư thế của thẩm phán ngay khi đảm nhiệm vị trí Nếu một thẩm phán được bổ nhiệm bởi những chủ thể có thẩm quyền là đại diện cho Nhà nước như nguyên thủ quốc gia thì vị thế của thẩm phán sẽ được tôn vinh ngay từ xác lập Hiện nay, đa số các nước đều quy định thẩm quyền bổ nhiệm thẩm phán là Nguyên thủ quốc gia (ví dụ như: Pakistan quy định thẩm phán của Tòa án cao cấp do Tổng thống bổ nhiệm sau khi đã bàn bạc với các thẩm phán đứng đầu của Tòa án tối cao, thẩm phán đứng đầu của Tòa án cao cấp và Tỉnh trưởng có liên quan Ở Thái Lan, bất

kỳ một cấp bậc thẩm phán nào đều do Quốc vương bổ nhiệm trên cơ sở đề xuất của

Trang 32

25

Ủy ban thẩm phán thẩm phán Tòa án tối cao và Tòa án địa phương của Singapore lại

do Thủ tướng và thẩm phán đứng đầu Tòa án đề cử, Tổng thống bổ nhiệm Tất cả thẩm phán ở Ai-len nói chung đều do Tổng thống bổ nhiệm Ở Anh, các thẩm phán đều do Thủ tướng đề cử, nữ hoàng Anh bổ nhiệm)

Một số ít các nước do những người đứng đầu Nghị viện, Chính phủ hoặc các cơ quan Chính phủ bổ nhiệm (chẳng hạn như: Ở Nhật, thẩm phán đứng đầu của Tòa án tối cao do Nội các đề cử, Nhật hoàng bổ nhiệm Các Đại thẩm phán khác lại do Đại thẩm phán đứng đầu Tòa án tối cao đề cử, Nội các bổ nhiệm Tất

cả các thẩm phán các cấp thuộc cấp dưới của Tòa án cao cấp đều do Tòa án tối cao

đề cử danh sách, nội các bổ nhiệm, Nhật Hoàng chứng thực Tại Hàn Quốc, Chánh

án và thẩm phán của Tòa án tối cao do Tổng thống Hàn quốc bổ nhiệm và được Quốc hội phê duyệt Các thẩm phán khác được Chánh án Tòa án tối cao bổ nhiệm với sự chấp thuận của Hội đồng thẩm phán của Tòa án tối cao) Không hiếm trường hợp thẩm phán được bổ nhiệm bởi Ủy ban thẩm phán (hoặc Ủy ban Tư pháp) như thẩm phán Tòa án các cấp của Bồ Đào Nha lại do Hội đồng thẩm phán tối cao căn cứ vào quy định pháp luật để bổ nhiệm Ở Trung Quốc, chức vụ thẩm phán do Đại hội đại biểu nhân dân các cấp và Ban Thường vụ bổ nhiệm Nhìn chung, đa số các quốc gia đều không quy định thẩm quyền bổ nhiệm thẩm phán là những chức danh có khả năng ảnh hưởng đến thẩm phán như Chánh án, người đừng đầu chính quyền địa phương các cấp…

Bổ nhiệm là con đường thành lập thẩm phán phổ biến nhưng ngoài ra còn có phương thức bầu thẩm phán: điển hình cho việc áp dụng phương thức bầu thẩm phán là Hoa Kỳ Trừ thẩm phán liên bang do Tổng thống bổ nhiệm và được Thượng viện bỏ phiếu phê chuẩn, còn lại hầu hết thẩm phán các bang đều được bầu Hệ thống bổ nhiệm này dựa trên niềm tin rằng công dân có quyền lực chọn thẩm phán của mình và có thể lựa chọn người khác trong lần bầu tiếp theo nếu không hài lòng với hiệu quả công tác của những người này trong nhiệm kỳ của họ [50]

Ở nước ta, chế độ tuyển dụng, bổ nhiệm thẩm phán được quy định trong

Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 là khá nghiêm ngặt theo đó, thẩm phán Tòa án

Trang 33

26

nhân dân tối cao được Chủ tịch nước bổ nhiệm sau khi Quốc hội phê chuẩn và theo

đề nghị của Hội đồng Tuyển chọn, Giám sát thẩm phán quốc gia Còn các thẩm phán khác cũng do Chủ tịch nước bổ nhiệm theo đề nghị của Hội đồng Tuyển chọn, Giám sát thẩm phán quốc gia

Thứ hai, về nhiệm kỳ thẩm phán: để độc lập thì thời gian nhiệm kỳ của thẩm

phán cũng là vấn đề mang tính quyết định Thực tế cho thấy, việc sắp hết nhiệm kỳ,

do bị chi phối bởi các yếu tố xung quanh việc có được tái bổ nhiệm lại mà thẩm phán sẽ thiếu công tâm, thiếu khách quan thậm chí là dễ bị tác động bởi những chủ thể hoặc những sự việc có thể ảnh hưởng đến việc tái bổ nhiệm của họ Do đó, tạo

ra một nhiệm kỳ đủ dài, đủ để thẩm phán không bị tác động bởi các điều kiện khách quan của việc hết nhiệm kỳ, chiến thắng được nỗi lo sợ khi sắp hết nhiệm kỳ là một trong những nội dung được quan tâm hàng đầu nhằm bảo đảm sự độc lập của thẩm phán Tuy nhiên, không phải quốc gia nào cũng quy định nhiệm kỳ thẩm phán đủ dài để bảo đảm cho sự độc lập của họ Cụ thể, qua khảo sát các nghiên cứu của nhiều tác giả, chúng tôi nhận thấy nhiệm kỳ thẩm phán ở các nước trên thế giới chủ yếu phân thành hai loại: chế độ suốt đời (chính xác hơn là cho đến tuổi nghỉ hưu) và chế độ nhiệm kỳ; cũng có nước áp dụng cả hai chế độ

Chế độ suốt đời là một khi được bổ nhiệm (hoặc bầu cử) làm thẩm phán tức

là được bổ nhiệm (hoặc bầu cử) suốt đời; nếu không có nguyên nhân được pháp luật quy định thì không được bãi miễn chức vụ Đại đa số các nước trên thế giới thực hiện chế độ bổ nhiệm (hoặc bầu cử) thẩm phán suốt đời như Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Ý, Bỉ, Ai-len, Lúcxămbua, Canada, Mêhicô, Ấn Độ, Thái Lan v.v nhưng trong đó lại hạn chế nhiệm kỳ đối với thẩm phán của một số Toà án như nhiệm kỳ của thẩm phán Toà án Hiến pháp Ý là 9 năm và không được làm nhiều nhiệm kỳ, nhiệm kỳ thẩm phán Singapore là 9 năm và không được tái bổ nhiệm lại Các nước thực hiện chế độ thẩm phán suốt đời đại đa số đều có quy định tuổi về hưu Ngày 22 tháng 10 năm 1982 tại New Delhi - Ấn Độ thông qua “Luật tiêu chuẩn tối thiểu về độc lập Tư pháp của Hiệp hội giới luật pháp quốc tế” cũng cho rằng, chế độ thẩm phán suốt đời cần hạn chế bằng cách cưỡng chế nghỉ hưu Chỉ có một số ít nước

Trang 34

27

như Bỉ, Bồ Đào Nha quy định chế độ thẩm phán suốt đời không cần phải nghỉ hưu; cũng có một số nước quy định có thể kéo dài thời hạn nghỉ hưu hoặc có nghỉ hưu hay không phải do chính bản thân thẩm phán quyết định

Chế độ nhiệm kỳ là việc giữ chức vụ thẩm phán có kỳ hạn nhất định Quy định của các nước về kỳ hạn cụ thể không giống nhau; kỳ hạn thẩm phán của các cấp xét xử khác nhau cũng không giống nhau Một số nước quy định thẩm phán có thể làm nhiều nhiệm kỳ, nhưng nhiệm kỳ đều tương đối dài Nhiệm kỳ của thẩm phán Toà án liên bang Thụy Sĩ là 6 năm; nhiệm kỳ của thẩm phán Toà án tối cao Panama là 18 năm, thẩm phán các cấp của Nhật đều có nhiệm kỳ 10 năm, mỗi nhiệm kỳ đều phải sát hạch một lần, sau khi thông qua có thể được tái bổ nhiệm

Một số nước như Mỹ, Vênêzuêla vừa áp dụng chế độ thẩm phán suốt đời vừa thực hiện chế độ nhiệm kỳ Ở Mỹ, tất cả thẩm phán Toà án liên bang và thẩm phán Toà án của 7 bang là chế độ giữ chức vụ suốt đời, còn thẩm phán của đại đa số các bang thực hiện chế độ nhiệm kỳ Quy định của các bang về nhiệm kỳ dài ngắn không giống nhau, nói chung nhiệm kỳ là từ 4 đến 15 năm, đa số là 6 - 8 năm

Nhìn chung, việc thực hiện chế độ giữ chức vụ suốt đời hay chế độ nhiệm

kỳ thì tuyệt đa số các nước đều thực hiện chế độ “không thể thay đổi” đối với thẩm phán tại chức, tức là trước khi hết nhiệm kỳ, với những nguyên nhân không theo luật định thì không được bãi miễn, cách chức hoặc ra lệnh cho họ phải về hưu [16] Việc kéo dài nhiệm kỳ thẩm phán sẽ đem lại lợi ích rất lớn cho thẩm phán, đó là: ổn định nghề nghiệp; tránh sự can thiệp của cấp uỷ địa phương, các

cơ quan hành pháp, lập pháp và ngay cả sự can thiệp của toà án cấp trên vào công việc bổ nhiệm thẩm phán, từ đó làm cho thẩm phán không chỉ có khả năng độc lập mà còn dám độc lập xét xử [26]

Ở Việt Nam,thẩm phán áp dụng chế độ nhiệm kỳ và có sự thay đôi theo xu

hướng tiến bộ theo thời gian Cụ thể, theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân hiện hành, Nhiệm kỳ đầu của các thẩm phán là 05 năm; trường hợp được bổ nhiệm lại hoặc được bổ nhiệm vào ngạch thẩm phán khác thì nhiệm kỳ tiếp theo là 10 năm [37]

Trang 35

28

Thứ ba, về điều kiện tiêu chuẩn trở thành thẩm phán

Muốn trở thành thẩm phán độc lập thì ngay từ đầu họ phải là những công dân

có những tố chất của một thẩm phán độc lập, việc đợi đến khi trở thành thẩm phán

họ mới xây dựng những phẩm chất cần thiết để bảo toàn sự độc lập của mình thì sự độc lập đó chỉ là hình thức và sớm sẽ sụp đỗ vì các yếu tố vật chất, quyền lực khác Như vậy, tiêu chuẩn ban đầu cần có ở một ứng cử viên thẩm phán là quan trọng vì

sự vô tư, tính lôgic, trình độ chính xác, tính độc lập của các quyết định luôn lệ thuộc vào các tính cách cá nhân thẩm phán với tính tình ông ta [26]

Về tiêu chuẩn đạo đức: hầu hết các nước đều quy định người đảm nhiệm chức vụ thẩm phán phải có phẩm chất đạo đức tốt Mêhicô còn quy định phải có tiểu sử trong sạch, có danh dự cá nhân tốt Vênêzuêla thì quy định mọi hành vi trong cuộc sống đều phải trong sáng; còn Pháp thì yêu cầu thêm là phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ quân sự theo quy định

Về trình độ, năng lực, kinh nghiệm: nhìn chung, muốn độc lập thì thẩm phán phải giỏi chuyên môn và có kinh nghiệm xét xử Không thẩm phán nào có thể độc lập khi thiếu tự tin và hoài nghi với phán quyết của chính bản thân mình Thực vậy, chất lượng xét xử một vụ việc thực chất phụ thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp của thẩm phán [22, tr.94-100] vì thẩm phán độc lập được đến đâu, mức độ nào là do trình độ chuyên môn, năng lực quyết định, không ai đánh giá một thẩm phán bị lệ thuộc là kém khi họ có xuất phát điểm kém về trình độ chuyên môn nhưng việc tuyển chọn một công dân có trình độ kém làm thẩm phán mới là đáng trách Hoạt động xét xử là hoạt động đòi hỏi kỹ năng chuyên môn và trình độ chuyên nghiệp, nó không phải là hoạt động thiện nguyện xã hội hay mang tính nhân đạo của tôn giáo nên một thẩm phán mà thiếu kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp sẽ dễ bị người khác lợi dụng Cho nên, trình độ chuyên môn, năng lực thẩm phán là điều kiện tối thiểu bảo đảm cho sự độc lập của thẩm phán

Nhìn chung, ở đa số các nước, để trở thành thẩm phán thì yêu cầu chung là tốt nghiệp đại học chuyên ngành luật Có nước yêu cầu phải có bằng Thạc sỹ luật,

Trang 36

29

thậm chí là Tiến sĩ Luật (Mỹ) Cá biệt có trường hợp của Trung Quốc cho phép để đảm nhiệm chức vụ thẩm phán có thể tốt nghiệp các trường cao đẳng không phải chuyên ngành luật nhưng phải có kiến thức chuyên môn về pháp luật và có thời gian công tác Tòa án đủ 2 năm; hoặc có bằng cử nhân chuyên ngành luật và có thời gian công tác Tòa án đủ 1 năm Những người có bằng Thạc sĩ, Tiến sĩ luật thì không cần điều kiện về thời gian công tác

Đức và Nhật Bản đều quy định qua 2 lần thi đạt tiêu chuẩn mới được nhận chức danh thẩm phán Đức còn đòi hỏi người tham dự thi lần đầu phải học ít nhất

3 năm rưỡi tại trường Đại học chuyên ngành luật Sau khi xong lần thi thứ nhất phải thực tập 2 năm nữa mới có thể tham dự kỳ thi thứ 2 Các nước Anh, Mỹ, Singapore, Braxin, Vê-nê-duê-la, Bỉ mặc dù không quy định các cuộc thi riêng cho thẩm phán song đều yêu cầu trước khi làm thẩm phán phải từng là luật sư với chế độ thi rất nghiêm ngặt

Tại một số nước như Áo, Hung-ga-ry, Hà Lan, việc lựa chọn thẩm phán còn bao gồm phải đáp ứng được điều kiện về tâm lý Thông qua một cuộc kiểm tra tâm

lý, các ứng viên sẽ được khảo sát bởi các bài kiểm tra trí thông minh, khả năng làm việc nhóm, khả năng tập trung, khả năng ra quyết định trong trạng thái tâm lý căng thẳng và các vấn đề khác Những cuộc kiểm tra này có thể được tiến hành bởi một công ty tư nhân chuyên nghiệp và kết quả của nó sẽ được cung cấp cho Tòa để cân nhắc trong khung đánh giá tổng thể đối với các ứng viên thẩm phán

Quy định về các trường hợp không được làm thẩm phán cũng là một quy định cần thiết để loại trừ những trường hợp cụ thể, chẳng hạn như một số nước đều

có quy định cụ thể về các trường hợp sau đây không được làm thẩm phán: Người có tiền sự, đã bị kết án tù (Nhật Bản, Vê-nê-duê-la, Trung Quốc, Hàn Quốc) bị phế truất quyền bãi miễn xét xử của Tòa án, bị cấm làm quan chức theo các quy định khác của pháp luật (Nhật Bản); Người đang tại ngũ, cha đạo, lãnh đạo của các đảng hay nhà hoạt động chính trị, người có tiền sự hay từng bị Tòa án xử phạt tù hoặc từng bị kỷ luật do có hành vi sai trái, làm tổn hại đến uy tín nghề nghiệp hoặc công chức đã bị buộc thôi việc (Trung Quốc, Vênêduêla)

Trang 37

30

Ở Việt Nam, điều kiện tiêu chuẩn trở thành thẩm phán cũng phù hợp với

thông lệ chung Muốn trở thành thẩm phán, phải có các tiêu chuẩn sau [37]: Là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và trung thực

Về năng lực, trình độ: công dân phải có trình độ cử nhân luật trở lên, đã được đào tạo nghiệp vụ xét xử, có thời gian làm công tác thực tiễn pháp luật

Thứ tư, về chế độ trách nhiệm của thẩm phán:

Chế độ trách nhiệm được đặt ra trong cơ chế bảo đảm sự độc lập của thẩm phán là phải công khai, minh bạch, rõ ràng, đầy đủ cơ sở pháp lý Về vấn đề này, Luật tiêu chuẩn tối thiểu về độc lập Tư pháp của Hiệp hội giới luật pháp quốc tế quy định: “thẩm phán trừ khi do vụ án hình sự, do sơ suất lớn hoặc thông thường do sức khoẻ không tốt đã thể hiện rõ không thích hợp với chức vụ thẩm phán, nếu không không được bãi chức” và “nguyên nhân bãi chức thẩm phán cần căn cứ vào quy định của văn bản pháp luật”;

Nhìn chung, nguyên nhân, điều kiện cách chức, miễn nhiệm thẩm phán đương chức ở tuyệt đại đa số các nước đều có quy định rõ ràng Hiến pháp liên bang

Mỹ quy định: “thẩm phán trừ khi vi phạm pháp luật, phạm tội bị phế truất hoặc tự động từ chức, nếu không chức vụ của họ là suốt đời” Luật của Toà án Nhật Bản cũng quy định: “thẩm phán trừ khi do công khai bị phế truất hoặc do trường hợp căn

cứ vào Luật của Viện kiểm sát và căn cứ vào quy định khác của pháp luật bị xét xử hoặc do sức khỏe không tốt không thể thực hiện chức vụ, nếu không không được bãi chức, điều động công tác, đình chỉ chức vụ hoặc giảm thù lao” Mê-hi-cô quy định chỉ có phạm tội bị tước quyền tự do mới bị bãi chức Ở Anh, các thẩm phán Toà án cao cấp chỉ có phạm tội nghiêm trọng mới có thể bị cho thôi chức vụ Ở Trung Quốc, theo quy định tại Điều 13 Luật thẩm phán thì thẩm phán có một trong các hoàn cảnh sau đây cần đề nghị thôi chức theo luật định: mất quốc tịch Cộng hoà nhân dân Trung Hoa; điều đi khỏi Toà án; chức vụ biến động, không cần bảo lưu chức vụ cũ; qua sát hạch xác định không xứng đáng với chức vụ; vì lý do sức khoẻ

Trang 38

31

trong một thời gian dài không thể thực hiện được chức vụ; nghỉ hưu; từ chức hoặc

bị sa thải; do vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật, phạm tội không thể tiếp tục đảm nhiệm chức vụ được nữa Ở NewZealand, Việc cách chức, miễn nhiệm thẩm phán chỉ được thực hiện trong hai trường hợp: (1) thẩm phán có hành vi vi phạm các chuẩn mực đạo đức; (2) thẩm phán không đủ năng lực Hai trường hợp này được quy định cụ thể trong luật của Quốc hội Các nước khác như Braxin, Đức, Thái Lan,

Ấn Độ, Ý cũng đều có quy định tương tự, gần giống các nước trên về vấn đề này

Về cơ chế và thẩm quyền bãi nhiệm, cách chức thẩm phán, đại đa số các nước đều đưa ra những quy định nghiêm khắc tương ứng về quyền hạn bãi miễn chức vụ của thẩm phán và trình tự của nó Hiến pháp liên bang Mỹ quy định việc xoá bỏ chức vụ thẩm phán liên bang phải căn cứ vào trình tự phế truất thông qua Thượng viện và Hạ viện mới có thể thực hiện được Hiến pháp Ấn Độ quy định trừ khi cả hai Viện cùng trình lên Tổng thống bản tường trình, Tổng thống mới có thể

hạ lệnh bãi miễn chức vụ của thẩm phán Toà án cao cấp và Toà án tối cao, mà bản tường trình nói trên lại phải được hai Viện thông qua với số phiếu quá bán của toàn thể nghị sĩ và số nghị sĩ có mặt để bỏ phiếu phải chiếm 2/3 tổng số nghị sĩ mới có thể trình lên Tổng thống Ở Anh lại yêu cầu, nếu không được Thượng nghị viện và

Hạ nghị viện nhất trí thông qua thì không được bãi chức thẩm phán Toà án cao cấp

Có nước còn quy định rất rõ ràng rằng: bổ nhiệm và bãi miễn thẩm phán là quyền hạn thống nhất, như thẩm phán Thái Lan do Quốc vương bổ nhiệm nên bãi miễn hoặc cho thẩm phán nghỉ hưu cũng phải do Quốc vương ra quyết định thẩm phán Toà án các cấp của Triều Tiên do chính Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra thẩm phán đó bãi miễn Việc bãi chức thẩm phán Toà án sơ cấp ở Mê-hi-cô do chính Hội nghị toàn thể Toà án cao cấp đã bổ nhiệm thẩm phán đó quyết định Việc bãi chức thẩm phán Toà án địa phương ở Anh cũng phải do Đại thẩm phán đã bổ nhiệm thẩm phán đó quyết định [16]

Ở NewZealand, để tránh việc tùy tiện, lợi dụng vì lý do chính trị, áp dụng không đúng về việc cách chức, miễn nhiệm thẩm phán, thì cơ chế bãi nhiệm thẩm phán mang tính chế ước: người đứng đầu Nhà nước (hoặc đứng đầu Chính phủ) đề

Trang 39

32

xuất, nhưng phải có sự chấp thuận của Nhánh lập pháp (Quốc hội) và ngài Toàn quyền sẽ quyết định việc cách chức, miễn nhiệm đối với thẩm phán Tòa án Tối cao, Tòa Cấp cao và Tòa Phúc thẩm Đối với thẩm phán Tòa án khu vực (cấp thấp nhất), ngài Toàn quyết quyết định theo sự đề nghị của Tổng chưởng lý

Ở Canada, thẩm phán không thể bị bãi nhiệm chỉ vì lý do chính quyền cho rằng bản án của thẩm phán đưa ra có sai sót hoặc thẩm phán đã đưa ra phán quyết trái với chính sách chung của bên hành pháp thẩm phán của tòa sơ thẩm bang (do chính quyền bang bổ nhiệm) không thể bị bãi nhiệm nếu như không có một cuộc điều tra khách quan, công bằng bởi hội đồng tư pháp của bang Đối với các thẩm phán do chính quyền liên bang bổ nhiệm, trước khi tiến hành việc bãi nhiệm, thẩm phán phải được điều tra kỹ lưỡng bởi Hội đồng tư pháp quốc gia Canada Đây là Hội đồng mà thành phần chỉ là các thẩm phán do Chánh án Tòa Tối cao là chủ tịch, các thành viên còn lại là chánh án hoặc phó chánh án các tòa phúc thẩm của bang được thành lập theo Luật thẩm phán Trường hợp Hội đồng thấy có lý do chính đáng để bãi nhiệm thẩm phán, Hội đồng phải có báo cáo với Bộ trưởng Tư pháp Canada và sau đó vụ việc được đưa ra thảo luận để ra nghị quyết chung ở Quốc hội lưỡng viện của Canada [41, tr.676]

Đặc biệt, ở các quốc gia có chỉ số minh bạch cao thì việc quy định trách nhiệm nặng hơn đối với thẩm phán tham nhũng là một trong những phương thức hữu hiệu để phòng chống tham nhũng và đồng thời bảo đảm sự độc lập của thẩm phán Ví dụ, thẩm phán ở newZealand sẽ phải chịu hình phạt nặng nhất nếu có tham nhũng (ở newZealand dù nhận 1 đô la với bất cứ hình thức nào cũng đều bị coi là tham nhũng), với hình phạt tối đa được áp dụng là không quá 14 năm tù Trong khi

đó, đối với những người trong các cơ quan khác như Bộ trưởng, Đại biểu Quốc hội, viên chức chính phủ… chỉ bị xử phạt tối đa là 7 năm tù [43] Điều này được lý giải rằng: trách nhiệm thẩm phán nặng hơn là cần thiết, bởi thẩm phán là những người

am hiểu chuyên sâu về pháp luật, và có nhiều kinh nghiệm nên áp dụng hình phạt nặng hơn sẽ ngăn ngừa những hành vi phạm tội “tinh vi” của thẩm phán [22]

Ở Việt Nam, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân quy định như sau: thẩm phán

Trang 40

33

phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và các quyết định của mình; nếu có hành vi vi phạm pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật thẩm phán trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà gây thiệt hại thì Tòa án nơi thẩm phán thực hiện nhiệm vụ xét xử có trách nhiệm bồi thường và thẩm phán đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho Tòa án theo quy định của luật

Chế độ trách nhiệm của thẩm phán nước ta không được xếp vào trách nhiệm đặc thù so với các chủ thể nhà nước khác thẩm phán là công chức và do đó có thể

bị xử lý kỷ luật theo quy định pháp luật cán bộ, công chức Ngoài ra, cũng như công chức khác, thẩm phán có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thực hiện hành vi phạm tội và các tội phạm giành riêng cho thẩm phán và cán bộ, công chức nói chung là các tội phạm liên quan đến chức vụ Riêng trách nhiệm bồi thường, thẩm phán ngoài áp dụng trách nhiệm bồi thường nói chung theo Luật Bồi thường nhà nước thì còn là chủ thể chủ yếu của trách nhiệm bồi thường do oan sai – một loại trách nhiệm bồi thường đặc thù giành cho cơ quan tiến hành tố tụng [60]

Thứ năm, về chế độ lương của thẩm phán:

Lương thẩm phán chỉ có ý nghĩa trong việc góp phần bảo đảm tính độc lập của thẩm phán khi nó thỏa mãn hai yếu tố: một, nguồn lương và các chế độ đãi ngộ

do luật định và không phụ thuộc vào ý chí tùy tiện của phía cơ quan hành pháp; hai, mức lương đủ cao để thẩm phán không lệ thuộc vào vật chất hoặc các yếu tố liên quan gián tiến đến vật chất

Tiền lương của thẩm phán phải không thể dưới một mức tối thiểu mà có thể đặt họ dưới sức ép về chính trị bởi sự lôi kéo bằng tiền bạc Chính vì thế, tiền lương của thẩm phán được bảo đảm bởi Hiến pháp Luật Hiến pháp New Zealand nghiêm cấm việc cắt giảm tiền lương thẩm phán trong suốt nhiệm kỳ Pháp luật nhiều nước cũng có quy định tương tự, chẳng hạn như Điều 79 Hiến pháp Nhật cũng quy định thẩm phán sẽ nhận tiền lương thích đáng, không bị cắt giảm trong suốt nhiệm kỳ

Ở Hoa Kỳ, đối với các thẩm phán liên bang, nguyên tắc đãi ngộ đối với thẩm

Ngày đăng: 20/11/2019, 23:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Việt Anh (2010), Can thiệp vào xét xử, vụ Đồ Sơn không phải cá biệt, https://vnexpress.net/tin-tuc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Can thiệp vào xét xử, vụ Đồ Sơn không phải cá biệt
Tác giả: Việt Anh
Năm: 2010
3. Trương Hòa Bình (2010), “Đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành Tòa án Việt Nam trên nền tảng tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền và công tác tư pháp”, Tạp chí TAND, (17) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành Tòa án Việt Nam trên nền tảng tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền và công tác tư pháp”, "Tạp chí TAND
Tác giả: Trương Hòa Bình
Năm: 2010
4. C.Mác và Ph.Angghen (1995), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Angghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
5. Nguyễn Văn Cương (2014), “Cơ chế bảo đảm tư pháp độc lập ở Canada”, Tạp chí Cảnh sát nhân dân - Học viện Cảnh sát nhân dân, http://www.csnd.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế bảo đảm tư pháp độc lập ở Canada”," Tạp chí Cảnh sát nhân dân - Học viện Cảnh sát nhân dân
Tác giả: Nguyễn Văn Cương
Năm: 2014
6. Nguyễn Văn Cương (2014), Cơ chế bảo đảm độc lập tư pháp ở Hoa Kỳ, http://csnd.vn/Home/Quoc-te Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế bảo đảm độc lập tư pháp ở Hoa Kỳ
Tác giả: Nguyễn Văn Cương
Năm: 2014
8. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (2005), Thông tư liên tích số 04/2005 Hướng dẫn chi tiết thi hành Quyết định số 171/2005/QĐ-TTg Về chế độ phụ cấp trách nhiệm đối với Thẩm phán, Thư lý Tòa án và Thẩm tra viên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tích số 04/2005 Hướng dẫn chi tiết thi hành Quyết định số 171/2005/QĐ-TTg Về chế độ phụ cấp trách nhiệm đối với Thẩm phán, Thư lý Tòa án và Thẩm tra viên
Tác giả: Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2005
9. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (2008), Quyết định 1253/2008 về Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 1253/2008 về Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân
Tác giả: Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2008
10. Nguyễn Ngọc Chí (2008), “Đảm bảo sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người phiên dịch, người giám định trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người phiên dịch, người giám định trong tố tụng hình sự”, "Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Năm: 2008
11. Nguyễn Đăng Dung (2010), Hạn chế sự tùy tiện của cơ quan nhà nước, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hạn chế sự tùy tiện của cơ quan nhà nước
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2010
13. Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, “Bàn về sự độc lập của tư pháp trong nhà nước pháp quyền”, http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về sự độc lập của tư pháp trong nhà nước pháp quyền
14. Lê Thành Dương (2002), Đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân trong giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sĩ luật học, Viện Nghiên cứu NN và Pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Lê Thành Dương
Năm: 2002
15. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
16. Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội, Kinh nghiệm quốc tế về nhiệm kỳ và bãi miễn chức vụ thẩm phán, kênh thông tin tổng hợp, http://luatsungaynay.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm quốc tế về nhiệm kỳ và bãi miễn chức vụ thẩm phán
17. Nguyễn Minh Đoan (2010), “Bàn về mô hình tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí TAND, (14) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về mô hình tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay”, "Tạp chí TAND
Tác giả: Nguyễn Minh Đoan
Năm: 2010
18. Minh Đức (2017), Thẩm phán xài bằng giả bị đình chỉ xét xử, http://www.tienphong.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thẩm phán xài bằng giả bị đình chỉ xét xử
Tác giả: Minh Đức
Năm: 2017
19. Vũ Công Giao, Nguyễn Minh Tâm (2010), “Cải cách để bảo đảm tính độc lập của Thẩm phán, Hội Thẩm nhân dân”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách để bảo đảm tính độc lập của Thẩm phán, Hội Thẩm nhân dân”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Vũ Công Giao, Nguyễn Minh Tâm
Năm: 2010
20. Hồ Hải Hà, “Văn hóa và trật tự tại Tòa àn”, Báo pháp luật TPHCM, http://www.phapluattp.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và trật tự tại Tòa àn”, "Báo pháp luật TPHCM
21. Lê Hồng Hạnh (2015), “Làm thế nào để thẩm phán và tòa án độc lập trong thực thi công lý”, Tạp chí Pháp luật và phát triển, (01) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm thế nào để thẩm phán và tòa án độc lập trong thực thi công lý”, "Tạp chí Pháp luật và phát triển
Tác giả: Lê Hồng Hạnh
Năm: 2015
7. Nguyễn Văn Cương, Một số ý kiến về quyền tư pháp và tư pháp độc lập trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Phần 2), Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp, http://khpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/ Link
24. Nguyễn Quang Hiền, Nguyên tắc "Khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật - thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện, http://tks.edu.vn Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w