1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Di tích bến cống cái trong hệ thống thương cảng vân đồn (quảng ninh)

161 100 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 161
Dung lượng 3,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thương cảng Vân Đồn là một hệ thống gồm nhiều bến bãi, trong đó đã được các nhà nghiên cứu và xác nhận là các bến Cống Cái, Cái Làng, Cống Đông, Công Tây, Cống Hẹp, Vạn Ninh, Đượng Hạc..

Trang 1

I

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình tổng hợp và nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những ý kiến khoa học chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày 15 tháng 8 năm 2019

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đinh Thị Thanh Nga

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH THỊ THANH NGA

DI TÍCH BẾN CỐNG CÁI TRONG HỆ THỐNG THƯƠNG CẢNG

VÂN ĐỒN (QUẢNG NINH)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHẢO CỔ HỌC

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành luận văn khảo cổ này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Khảo cổ học, Học Viện Khoa học xã hội đã giúp

đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi đặc biệt gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Lê Thị Liên, người thầy đã định hướng và luôn giúp đỡ, tân tâm dạy dỗ tôi trong suốt quá trình thu thập tư liệu, nghiên cứu đề tài này, ngay từ ý tưởng ban đầu cho tới khi hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Viện Khảo cổ học, Trung tâm Nghiên cứu Khảo cổ học Dưới nước, phòng Thư viện… đã tạo điều kiện về thời gian và tài liệu để hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tới Sở Văn hóa Thể thao tỉnh Quảng Ninh, chính quyền xã Quan Lạn, xã Minh Châu, xã Thắng Lợi, huyện Vân Đồn đã tạo điều kiện cho tôi cùng đoàn nghiên cứu của Viện Khảo cổ học được khảo sát và khai quật trên địa bàn các xã từ năm 2014 đến nay

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, người thân đã động viên, giúp đỡ và tạo cho tôi những điều kiện tốt nhất trong suốt thời gian học tập vừa qua

Hà Nội, ngày 15 tháng 8 năm 2019

Tác giả Luận văn

Đinh Thị Thanh Nga

Trang 3

MỤC LỤC

Mở đầu……… 1

Chương 1: Tổng quan tư liệu về thương cảng Vân Đồn và di tích bến Cống Cái……… 11

1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của thương cảng Vân Đồn và di tích bến Cống Cái……… 11

1.2 Lịch sử hình thành thương cảng Vân Đồn và vị trí địa - lịch sử qua sử liệu 15

1.3 Các cuộc khảo sát và khai quật tại di tích bến Cống Cái……….………18

1.3.1 Khảo sát năm 2012-2013……… ……… 18

1.3.2 Khảo sát năm 2014………20

1.3.3 Khảo sát và khai quật năm 2016-2017……… 21

1.3.4 Khảo sát năm 2018……….23

1.3.5 Khảo sát năm 2019……….23

1.4 Tiểu kết chương 1……… 25

Chương 2: Di tích bến Cống Cái qua tư liệu khảo cổ học……….27

2.1 Đặc trưng di tích……… 27

2.1.1 Bến cảng……… 27

2.1.2 Đặc điểm tầng văn hóa……… 29

2.1.3 Dấu tích kiến trúc………30

2.1.4 Di tích hố đất đen……… 33

2.2 Đặc trưng di vật………34

2.2.1 Đồ gốm men……….35

2.2.2 Đồ gốm có áo……… 48

2.2.3 Đồ sành mịn……….49

2.2.4 Đồ đất nung……….52

2.2.5 Đồ kim loại……… … 54

2.2.6 Các loại hiện vật khác………55

2.3 Tiểu kết chương 2……….56

Chương 3: Vị trị bến Cống Cái trong bối cảnh thương cảng Vân Đồn………60

3.1 Mối quan hệ với các khu vực khác của thương cảng Vân Đồn………60

3.2 Vai trò của di tích bến Cống Cái trong kháng chiến chống Mông - Nguyên 70

3.3 Tiểu kết chương 3……… 73

KẾT LUẬN………74

TÀI LIỆU THAM KHẢO………77

PHỤ LỤC……… 87

Trang 4

SCN Sau Công Nguyên

TCN Trước Công Nguyên

TK Thế kỷ

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU, BẢN ĐỒ, S Ơ ĐỒ, BẢN VẼ, BẢN DẬP VÀ BẢN ẢNH

I DANH MỤC BẢNG BIỂU SỬ DỤNG TRONG CHÍNH VĂN

Bảng 2.1: Tổng hợp hiện vật xuất lộ tại bến Cống Cái năm 2014-2017

Bảng 2.2: Niên đại nhóm gốm men Việt Nam trong đợt khai quật tháng 8/2016 Bảng 2.3: Niên đại nhóm gốm men Việt Nam trong đợt khai quật tháng 8/2016 Bảng 2.4: Niên đại hiện vật lon/vại qua đợt khai quật năm 2016

Bảng 2.5: Các kỹ thuật tạo hoa văn thân sành mịn trong đợt khai quật năm 2016 Biểu đồ 2.1: Số lượng hiện vật xuất lộ tại bến Cống Cái năm 2014-2017

Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ các dòng gốm men Việt Nam trong đợt khai quật năm 2016 Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ các dòng gốm men Trung Quốc trong đợt khai quật năm 2016 Hình 2.1: Một số loại hình chính của gốm men Việt Nam

Hình 2.2: Diễn tiến niên đại gốm men Việt Nam thời Trần

Hình 2.3: Diễn tiến kỹ thuật tạo dáng trên lon sành mịn

II DANH MỤC BẢNG THỐNG KÊ, BẢN ĐỒ, SƠ ĐỒ, BẢN VẼ, BẢN DẬP

Cái Phụ lục 5: Bảng thống kê các dòng gốm men Việt Nam khai quật tháng 8/2016 Phụ lục 6: Bảng thống kê các dòng gốm men Trung Quốc khai quật tháng

8/2016 Phụ lục 7: Bảng thống kê tiền đồng năm 2014-2017

Phụ lục 8: Bảng thống kê hiện vật sắt khai quật tháng 8/2016 tại di tích bến

Cống Cái

2 BẢN ĐỒ-SƠ ĐỒ:

Phụ lục 9: Bản đồ huyện Vân Đồn

Phụ lục 10: Bản đồ khu vực khảo sát di tích bến Cống Cái năm 2014

Phụ lục 11: Bản đồ khu vực khảo sát di tích Mang Thúng năm 2014

Trang 6

Phụ lục 12: Bản đồ vị trí các hố thám sát và khai quật tại khu vực phía bắc bến

Cống Cái năm 2014-2017 Phụ lục 13: Bản đồ vị trí các hố thám sát và khai quật tại khu vực thung lũng Sơn

Hào năm 2014-2017 Phụ lục 14: Sơ đồ khu vực khảo sát bằng máy dò kim loại và các hố thăm dò tháng

3/2016 Phụ lục 15: Sơ đồ vị trí các hố khai quật tại di tích bến Cống Cái năm 2016

Phụ lục 16: Bản đồ vị trí các viên đá buộc thuyền và Giếng Đình tại bến Cống Cái Phụ lục 17: Sơ đồ vị trí ô lưới Grid và hố kiểm tra tại di tích Sơn Hào năm 2019 Phụ lục 18: Bản đồ các di tích thuộc xã Quan Lạn và Minh Châu

Phụ lục 19: Bản đồ các di tích trên đảo Thừa Cống

Phụ lục 20: Bản đồ các cụm di tích thuộc hệ thống thương cảng Vân Đồn

Phụ lục 21: Sơ đồ hành trình hàng hải đi qua Vân Đồn

3 BẢN ẢNH - BẢN VẼ:

Phụ lục 22: Ảnh khảo sát năm 2012, 2014, 2015, 2016 tại bến Cống Cái

Phụ lục 23: Bản vẽ địa tầng khảo sát năm 2014 tại di tích bến Cống Cái

Phụ lục 24: Bản vẽ hố 16SH.TS1

Phụ lục 25: Bản vẽ hố 16SH.TS2, TS3

Phụ lục 26: Bản vẽ hố 16SH.TS4, TS5, TS6

Phụ lục 27: Ảnh khai quật hố H1, H2, H3 năm 2016 tại bến Cống Cái

Phụ lục 28: Ảnh khai quật hố H4, H5 năm 2016

Phụ lục 29: Ảnh hố thám sát TS1, TS3, TS6, TS7, TS8 năm 2016

Phụ lục 30: Ảnh di tích Giếng Đình và đá neo thuyền

Phụ lục 31: Ảnh một số di tích khác trong hệ thống thương cảng Vân Đồn

Trang 7

Phụ lục 44: Ảnh-bản vẽ gốm men trắng Việt Nam

Phụ lục 45: Ảnh-bản vẽ gốm men trắng Việt Nam

Phụ lục 46: Ảnh-bản vẽ gốm men trắng Việt Nam

Phụ lục 47: Ảnh-bản vẽ gốm men nâu, ngọc, hoa nâu Việt Nam

Phụ lục 48: Ảnh-bản vẽ gốm hoa lam Việt Nam

Phụ lục 49: Ảnh-bản vẽ gốm hoa lam Việt Nam

Phụ lục 50: Ảnh-bản vẽ gốm men trắng Trung Quốc

Phụ lục 51: Ảnh-bản vẽ gốm men trắng Trung Quốc

Phụ lục 52: Ảnh-bản vẽ gốm men ngọc Trung Quốc

Phụ lục 53: Ảnh-bản vẽ gốm men ngọc Trung Quốc

Phụ lục 54: Ảnh-bản vẽ gốm men nâu Trung Quốc

Phụ lục 55: Ảnh-bản vẽ gốm men nâu Trung Quốc

Phụ lục 56: Ảnh-bản vẽ gốm hoa lam và KXĐ men Trung Quốc

Phụ lục 67: Hoa văn trên miệng và quai sành mịn

Phụ lục 68: Hoa văn bập vân trên thân sành mịn

Phụ lục 69: Hoa văn bập vân kết hợp hoa văn khác trên thân sành mịn Phụ lục 70: Hoa khắc vạch bằng que 1 hay nhiều răng trên thân sành mịn Phụ lục 71: Hoa trên thân sành mịn và sành thô

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong lịch sử Việt Nam, ở một số khu vực đã hình thành các trung tâm kinh tế và thương cảng quan trọng Khu vực miền Bắc từ rất sớm đã tham gia vào quá trình giao lưu buôn bán với các nước Ấn Độ, Đông Á, Địa Trung Hải Các kết quả nghiên cứu cho thấy, khu vực Vân Đồn đã có sự giao lưu với khu vực nam Trung Quốc từ rất sớm Quá trình giao thương này tồn tại đến thế kỷ XII thì chính thức được thành lập “trang Vân Đồn” và chỉ thực sự suy tàn vào thời Nguyễn, thế kỷ XIX Trong thời kỳ phát triển hưng thịnh, các thuyền buôn và thương nhân Trung Quốc, Lưu Cấu (Nhật Bản), Đông Nam Á như Trảo Oa (Java), Lộ Hạc, Xiêm La, Tam Phật Tề, Chiêm Thành và có thể

cả những thương nhân vùng Tây Nam Á và Châu Âu đến buôn bán trao đổi hàng hóa Cùng với Hội Thống, Vân Đồn trở thành hai thương cảng quan trọng, góp phần vào quá trình phát triển kinh tế đất nước ở khu vực miền Bắc

Từ khá sớm thương cảng Vân Đồn đã thu hút sự chú ý quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế Thương cảng Vân Đồn là một hệ thống gồm nhiều bến bãi, trong đó đã được các nhà nghiên cứu và xác nhận là các bến Cống Cái, Cái Làng, Cống Đông, Công Tây, Cống Hẹp, Vạn Ninh, Đượng Hạc

Bên cạnh một số vấn đề đã được giải quyết, nhiều vấn đề của thương cảng Vân Đồn đã và đang đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu như : vị trí phân bố, quá trình hình thành và phát triển, và mối quan hệ của các bến bãi trong hệ thống cảng Vân Đồn như thế nào?; Cấu trúc hay chức năng của chúng như thế nào ?; Trung tâm chính của thương cảng nằm ở đâu, có sự thay đổi qua các thời kỳ không? Do vậy, việc tiếp tục nghiên cứu điều tra, khảo sát về thương cảng này là hết sức cần thiết

Trang 9

Cống Cái là một trong những bến bãi nằm trong hệ thống thương cảng Vân Đồn Vị trí nằm về phía bắc thôn Sơn Hào, thuộc xã Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh Sau nhiều đợt tiến hành khảo sát và khai quật, các nhà nghiên cứu đã phát nhiều di vật xuất lộ trên bề mặt ven bờ vụng và cả trong địa tầng Các di vật xuất lộ gồm gốm men, sành, đồ đất nung, đồ kim loại Nghiên cứu các mặt cắt cho thấy tầng văn hóa ở di tích này khá dày Phần lớn các di vật xuất lộ có thể xác định niên đại vào thời Trần Ngoài ra cũng xuất hiện các di vật thuộc thời kỳ sớm hơn và muộn hơn Với số lượng lớn di vật và tầng văn hóa dày, ổn định, có thể xác định khu vực này đã tồn tại một khu dân cư phát triển nhất vào thời Trần Đây là một khu vực lý tưởng cho việc nghiên cứu một làng cổ liên hệ chặt chẽ với lịch sử hình thành và phát triển của thương cảng cổ Vân Đồn và những sự kiện liên quan đến cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông của nhà Trần, đặc biệt là trận đánh của Trần Khánh Dư

Tôi là người may mắn được trực tiếp tham gia khảo sát và khai quật tại

di tích bến Cống Cái từ năm 2014 cho đến nay Vì vậy, tôi mong muốn tìm hiểu quá hình hình thành, phát triển, suy tàn của di tích bến Cống Cái nói riêng và hệ thống thương cảng Vân Đồn nói chung

Từ những lý do trên tôi quyết định chọn đề tài: “Di tích bến Cống Cái trong hệ thống thương cảng Vân Đồn (Quảng Ninh)” làm luận văn thạc sĩ

của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Được nhiều tư liệu lịch sử trong và ngoài nước nói đến với tư cách là một thương cảng quốc tế do nhà Lý thành lập từ năm 1149, các xã đảo thuộc huyện Vân Đồn nói chung và khu vực đảo Quan Lạn nói riêng luôn là đối tượng nghiên cứu của các nhà sử học, khảo cổ học và các nhà nghiên cứu lịch

Trang 10

sử văn hóa Vị trí và hình thế của thương cảng Vân Đồn được mô tả trong các

sách sử Việt Nam và Trung quốc như Đại Việt sử ký toàn thư, Nguyễn Trãi

toàn tập, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Việt địa dư toàn biên, Đồng Khánh dư địa chí, Lĩnh ngoại đại đáp, An Nam Chí Nguyên…

Cuộc khảo sát về thương cảng Vân Đồn sớm nhất tại khu vực đảo Quan Lạn có lẽ là của GS Yamamoto Tatsuro vào năm 1936, khi ông nhắc tới chuyến khảo sát tại đảo Vân Hải, bến Con Quy, xã Quang Châu (xã Minh Châu ngày nay) và xã Quan Lạn Trong đợt này, ông đã thu thập được số lượng lớn tiền đồng Trung Quốc và Việt Nam Tiền Trung Quốc chủ yếu là thời Tống, một số ít thuộc thời Đường và thời Minh Thanh Tiền Việt Nam chủ yếu thuộc thời Lê và Nguyễn, đặc biệt là tiền Cảnh Hưng và tiền Minh Mạng Đồ gốm sứ sưu tầm trong dân (36 hiện vật và mảnh vỡ) được chuyên gia Nhật Bản cho rằng chúng thể hiện nhiều loại hình, có ảnh hưởng lớn từ các truyền thống Trung Hoa, nhưng vẫn là sản phẩm của Việt Nam, được chở

từ phía tây tới (nội địa), có lẽ để buôn, niên đại từ thời Tống đến thời Thanh Ông cho rằng bến Con Quy ở phía Bắc của đảo Quan Lạn là bến tốt nhất có thể tránh sóng và có thể là một bến quan trọng trong thời phồn vinh của cảng Vân Đồn [5, tr.76-122] Tại đây, các nhà nghiên cứu còn phát hiện được một

số tiền đồng thời Hán và di vật gốm, sành nhưng số lượng không nhiều Có thể, vào thời kỳ phát triển của thương cảng Vân Đồn, bến Con Quy chỉ đóng vai trò là cửa ngỏ, trạm dừng chân của thuyền buôn trước khi vào bến chính

Từ những năm 1960, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã tham gia vào việc nghiên cứu các thương cảng Thương cảng đầu tiên được chọn lựa nghiên cứu là thương cảng Vân Đồn Những kết quả nghiên cứu Vân Đồn

thời kỳ này đã được Đỗ Văn Ninh công bố trong tập sách “Tìm lại dấu vết

Vân Đồn lịch sử” do Sở Văn hóa Thông tin Quảng Ninh xuất bản năm 1971

Trang 11

Đồn, các nhà khảo cổ học cũng đã tiến hành khai quật một ngôi chùa - chùa Lấm và một ngọn tháp thời Trần trên đảo Thừa Cống Hàng loạt dấu vết các ngôi chùa khác, các nền nhà và một hệ thống hàng chục bến bãi như Cống Đông, Cống Yên, Cống Hẹp, Cái Làng, Con Quy… đã được phát hiện Trong

đó, tác giả có nhắc đến cuộc khảo sát khu vực bến Cống Cái và cũng đã xác định dấu tích sành sứ trải dài hàng trăm mét trên bờ nam bến Cống Cái Trên sườn núi là dấu tích các lớp nhà từ chân lên tới lưng chừng núi Trên đỉnh núi còn kiến trúc đình quay hướng chính nam và một lối đi mở xuống giếng Đình quanh năm đầy nước Trên cơ sở kết quả khảo sát của ông cho rằng trung tâm giao dịch xưa nằm ở khu vực giữa đảo Vân Hải, tức là bến Cống Cái và Cái Làng [60] Như vậy, vào những năm 60-70 của thế kỷ XX, các nhà khảo cổ học đã xác định vai trò quan trọng của khu vực Cống Cái trong thương cảng Vân Đồn

Năm 1990, đẩy thêm một bước nữa trong việc nghiên cứu thương cảng Vân Đồn Ban Quản lý các di tích trọng điểm tỉnh Quảng Ninh đã tổ chức một cuộc hội thảo về thương cảng Vân Đồn tại huyện Cẩm Phả Kỷ yếu hội thảo

“Thương cảng Vân Đồn, lịch sử, tiềm năng kinh tế và các mối giao lưu văn

hóa” được xuất bản năm 2009 Sau đó được chỉnh sửa và xuất bản cuốn sách

“Di tích lịch sử-văn hóa thương cảng Vân Đồn” năm 2010 Trong cuộc hội

thảo này, các nhà khảo cổ học đã cố gắng đi thêm một bước trong việc xác định trung tâm của thương cảng Vân Đồn, nhưng tại đây đã xuất hiện hai quan điểm trái ngược nhau Một ý kiến cho vị trí trung tâm của thương cảng Vân Đồn từ thời Lý cho đến ngày Vân Đồn suy tàn nằm trên đảo Quan Lạn

Ý kiến thứ hai cho rằng, tài liệu khảo cổ học cho phép xác định trung tâm cảng Vân Đồn thời Trần là đảo Thừa Cống (xã Thắng Lợi) Cho đến nay, câu trả lời cho vấn đề này còn để ngỏ Trong luận văn này, theo tôi, có thể trung tâm thương cảng Vân Đồn vào giai đoạn sớm, thế kỷ XII-XIV nằm ở đảo

Trang 12

Quan Lạn và bắt đầu suy tàn cuối thế kỷ XV Trong giai đoạn, thế kỷ XVI, đảo Thừa Cống trở thành là trung tâm của thương cảng Vân Đồn

XIV-Bên cạnh đó, trong các năm 1990, 1993, 1997, 2000, 2002, 2003, Trung tâm Hợp tác Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Tổng hợp Hà Nội nay là Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, phối hợp với Khoa Lịch sử, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Chiêu Hòa, Đại học Tổng hợp Osaka, Trung tâm Khảo cổ học tỉnh Okinawa cùng một số

cơ quan khoa học khác của Nhật Bản đã đến khảo cứu nhiều bến cảng cổ thuộc Vân Đồn Đáng chú ý là cuộc khai quật năm 2002-2003 tại di tích bến Con Quy (xã Quan Lạn) và Cống Tây (xã Thắng Lợi) Năm 2002, tại di tích Cống Tây, đoàn nghiên cứu đã tiến hành khai quật ở vụng thôn 3và vụng thôn

5 Kết quả khai quật cho thấy, tầng văn hóa dày 40cm, hiện vật chủ yếu là gốm men Việt Nam và Trung Quốc, sành, vật liệu kiến trúc Một số loại hình gốm men Việt Nam như hộp bát, bình hoa lam có nguồn gốc từ Hải Dương, niên đại thế kỷ XV-XVI Hiện vật gốm men Trung Quốc có niên đại thế kỷ XIV-XV, trong đó men ngọc là điển hình gốm lò Long Tuyền, thời Nguyên

Từ kết quả khai quật này, đoàn khai quật cho rằng: có thể ở đảo Thừa Cống

có 2 loại bến: bến chuyên chứa hàng nhập khẩu, chủ yếu lưu chứa gốm men Trung Quốc như vụng thôn 5, vụng Chuồng Bò Và bến chuyên lưu chứa, xuất khẩu gốm men Việt Nam như vụng thôn 3 [40, 44, tr.56-57] Tại bến Con Quy, năm 2002, đoàn nghiên cứu đã tiến hành mở 3 hố thăm dò với tổng diện tích 14m2 Ở khu vực khai quật, bề mặt đã bị san lấp do quá trình khai thác cát, chỉ còn lớp xáo trộn dày 60-100cm, là lớp cát màu xám chưa các mảnh hiện vật đồ gốm men, đồ sành Việt Nam và Trung Quốc, có niên đại

TK XIII-XVII và bộ sưu tập tiền đồng mà chủ yếu là tiền Trung Quốc có niên đại khá dài từ TK I đến TK XIII [39] Như vậy, có thể nhận thấy di tích bến

Trang 13

Con Quy có thời gian tham gia vào hệ thống thương mại sớm hơn các di tích khác trên đảo Quan Lạn

Năm 2003, một cuộc khai quật đã được thực hiện ở Bến Cái Làng, cách khu vực Cống Cái-Sơn Hào khoảng 3km về phía tây nam Kết quả đã xác định được các dấu tích cầu cảng, kiến trúc nhà ở và nhiều di vật gốm sành, đồ

sứ Trung Quốc và Việt Nam Trong đó đồ sứ Việt Nam được xác định có các loại hình từ thời Lý đến thời Lê, số lượng nhiều nhất thuộc thời Trần và thời

Lê Sơ Di tích theo đó được cho là phát triền thịnh đạt nhất từ thời Trần đến thời Lê Sơ [36]

Năm 2014, cuốn sách “Vân Đồn thương cảng quốc tế của Việt Nam”

của PGS TS Nguyễn Văn Kim được xuất bản, đã nêu ra thương cảng Vân Đồn vào thời Lý - Trần đã hình thành ba tiểu vùng Tiểu vùng thứ nhất tập trung ở đảo Thừa Cống, là nơi đặt trị sở của trang Vân Đồn thời Lý-Trần Tiểu vùng thứ hai gồm các địa điểm ở đảo Quan Lạn, là cửa ngõ của vùng thương cảng, có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh và kiểm soát thuế, đảm bảo các hoạt động bang giao và trao đổi sản phẩm cao cấp của tiểu vùng thứ nhất Tiểu vùng thứ ba là nhóm đảo phía đông nam của thương cảng thuộc xã Ngọc Vừng, là nơi buôn bán, kiểm soát và đảm bảo an ninh cho phía nam thương cảng Vân Đồn Ba tiểu vùng này hợp thành một hệ thống tạo nên vùng thứ nhất, hay gọi là vùng lõi của thương cảng Vùng thứ hai là cụm bến, cảng ven bờ bao gồm các tiểu vùng: Yên Hưng, Cửa Lục, Cái Bầu kéo dài đến Vạn Ninh ở phía Bắc Vùng thứ hai có vai trò trong việc cung cấp, luân chuyển hàng hòa từ các làng nghề thủ công, trung tâm nội địa ra thương cảng quốc tế, đồng thời đón nhận, tiêu thụ, điều phối hàng hóa của vùng thứ nhất Vùng thứ ba là các cảng vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh, là các cảng trung chuyển của Vân Đồn Như vậy, Nguyễn Văn Kim đã hệ thống các địa điểm theo tầm quan trọng của các địa điểm, Cống Cái là một địa điểm nằm ở tiểu vùng thứ 2

Trang 14

trong Vùng thứ nhất Ông nhận định các địa điểm ở đảo Thừa Cống vào giai đoạn thời Lý-Trần có vai trò quan trọng nhất [46, tr.278-297] Việc xác định các vùng và tiểu vùng trong thương cảng Vân Đồn và chỉ ra mối quan hệ của chúng với nhau, đã làm cho chúng ta có cái nhìn tổng thế, mối quan hệ khăng khít giữa các di tich trong hệ thống thương cảng Vân Đồn Tuy nhiên, theo ông thì các di tích trong đảo Thừa Cống có vai trò quan trọng nhất vào giai đoạn thời Lý-Trần

Từ năm 2012 – 2019, kết quả 8 cuộc khảo sát và 1 cuộc khai quật do Viện Khảo cổ học và nhóm chuyên gia quốc tế về khảo cổ học dưới nước cũng đã xác định được khu vực có tầng văn hóa thời Trần và nhiều dấu tích có liên quan đến bến bãi ở khu vực bến Cống Cái như giếng nước, đá neo thuyền, các dấu tích kiến trúc và số lượng lớn hiện vật có nguồn gốc Việt Nam và Trung Quốc, niên đại thế kỷ IX-XIX, nhưng tập trung nhất vẫn là thế

kỷ XII-XIV Bến Cống Cái do vậy là một khu vực lý tưởng cho việc nghiên cứu một làng cổ liên hệ chặt chẽ với lịch sử hình thành và phát triển của thương cảng cổ Vân Đồn và những sự kiện liên quan đến cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông của nhà Trần, đặc biệt là trận đánh Trần Khánh

Dư Các dấu tích khảo cổ học mới phát hiện còn cho thấy lịch sử chiếm cư ở khu vực này có thể còn bắt đầu từ thời xa xưa hơn Ngoài ra nhóm nghiên cứu còn phát hiện loại hình di vật đáng chú ý là khẩu súng thần công, thuộc phong cách thế kỷ 16, nhưng được đúc tại địa phương [49, tr.1]

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Thu thập và hệ thống hoá, phân tích, đánh giá tư liệu lịch sử và khảo cổ học đầy đủ nhất, từ trước đến nay về địa điểm bến Cống Cái

Nghiên cứu tính chất và loại hình của các di vật xuất lộ, vai trò của những di vật này đối với sự phát triển của thương cảng

Trang 15

Trên cơ sở các kết quả khai quật và nghiên cứu khảo cổ học, bước đầu xác định niên đại hình thành và phát triển của di tích, vai trò và vị trí của di tích trong bối cảnh chung của khu di tích thương cảng Vân Đồn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Di tích, di vật kết hợp với các tư liệu liên ngành

liên quan đến địa điểm Bến Cống Cái và hệ thống thương cảng Vân Đồn

Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: Toàn bộ khu vực Bến Cống Cái, thuộc thôn Sơn Hào, xã Quan Lạn, huyện Vân Đồn Luận văn kết hợp nghiên cứu so sánh một số di tích bến bãi khác trong hệ thống thương cảng Vân Đồn

Về thời gian: Trong thời gian hình thành, phát triển và suy tàn của di tích bến Cống Cái, từ thế kỷ XII đến thế kỷ XVIII Ngoài ra còn liên hệ với các thời kỳ trước và sau đó

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Nguồn tư liệu: Các báo cáo điều tra, khai quật khảo cổ học, các bài

nghiên cứu về di tích bến Cống Cái nói riêng, các di tích bến bãi khác thuộc thương cảng Vân Đồn nói chung đã được công bố trên các sách, tạp chí chuyên ngành và trong các kỷ yếu hội thảo về khảo cổ học Luận văn tham khảo một số sách khoa học có liên quan như địa chất, địa mạo, địa hình, khí hậu thuỷ văn, môi trường, dân tộc học có liên quan đến khu vựcVân Đồn, tỉnh Quảng Ninh

Các nguồn tư liệu lịch sử liên quan đến hệ thống thương cảng Vân Đồn

và kháng chiến chống quân Mông - Nguyên lần thứ 3

Phương pháp nghiên cứu:

Trang 16

Luận văn sử dụng các phương pháp khảo cổ học truyền thống như: phương pháp điều tra, khảo sát không tác động, thăm dò và khai quật khảo cổ, phân loại loại hình học, miêu tả, đo vẽ, chụp ảnh di tích, di vật khảo cổ Phương pháp nghiên cứu so sánh khảo cổ học được sử dụng nhằm làm rõ

sự tương đồng và khác biệt giữa di tích bến Cống Cái và những di tích bến bãi khác thuộc hệ thống thương cảng Vân Đôn Từ đó làm rõ những đặc trưng riêng, nổi bật của di tích bến Cống Cái trong lịch sử Ngoài ra, sử dụng phương pháp này để làm rõ xuất xứ, niên đại của các nhóm đồ gốm men đặc biệt là nhóm gốm men Trung Quốc

Vận dụng kết quả nghiên cứu của các khoa học có liên quan như: địa lý, địa chất, để bổ sung vào phương pháp tiếp cận đánh giá tổng thể

Ứng dụng phương pháp sử dụng hệ thống tọa độ GPS để xây dựng bản

đồ tiềm năng phân bố của những dấu tích thương mại ở khu vực này

Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử, toàn diện, cụ thể và biện chứng trong luận giải các mối quan hệ giữa di tích, di vật và các hiện tượng tự nhiên,

xã hội có liên quan để minh chứng cho các nội dung khoa học cần giải quyết của luận văn

Trang 17

qua lượng hàng hóa xuất nhập khẩu và nó là đầu mối quan trọng trong việc vận chuyển lưu thông hàng hóa [33, tr.28] Như vậy, Vân Đồn hoàn toàn xứng đáng là một thương cảng quốc tế có số lượng hàng hóa xuất nhập khẩu lớn, đa dạng và là một hệ thống với nhiều bến bãi

Bến bãi/bến tàu/thuyền: Là một bến trong hệ thống cảng/thương cảng Theo đó, về cơ bản, bến được hiểu là chỗ bờ sông, thường có bậc lên xuống

để lấy nước tắm giặt Chỗ quy định để tàu/thuyền, dừng lại để xếp dỡ hàng hóa [88, tr.97] Địa điểm Cống Cái là một bến bãi điển hình với các di tích có liên quan như giếng nước, bãi sành sứ dài 200m, các viên đá neo thuyền, dấu tích kiến trúc hai bên bờ Vào thời kỳ thương cảng Vân Đồn hoạt động, bến Cống Cái là nơi neo đậu tàu/thuyền, bốc dỡ hàng hóa Tuy nhiên, vào thời Nguyễn trở về sau, địa điểm này đã đánh mất vai trò là bến bãi mà nó chỉ còn tính chất là bến neo đậu tàu thuyền, không còn hoạt động buôn bán

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn đóng góp những tư liệu quan trọng về mặt

tư liệu khoa học với hệ thống di tích, di vật ở di tích bến Cống Cái Góp phần làm rõ diện mạo của di tích này và bổ sung tư liệu mới cho việc nghiên cứu thương cảng Vân Đồn

Ý nghĩa lý luận: Tập hợp, hệ thống hóa tư liệu và kết quả nghiên cứu về

di tích bến Cống Cái nói riêng, các di tích bến bãi khác thuộc thương cảng Vân Đồn nói chung

Phân tích, nghiên cứu so sánh để tìm hiểu về quy mô, tính chất, chức năng, thời gian sử dụng của di tích bến Cống Cái Nêu bật các giá trị về lịch

sử, văn hóa của di tích bến Cống Cái trong hệ thống thương cảng Vân Đồn Góp phần nghiên cứu và giải quyết một số vấn đề lịch sử thương cảng Vân Đồn

Trang 18

Cung cấp cơ sở khoa học tin cậy phục vụ cho công tác quy hoạch, bảo tồn và phát huy giá trị địa điểm bến Cống Cái trong hệ thống thương cảng Vân Đồn

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục minh họa, luận văn được bố cục thành 3 chương:

Chương 1 Tổng quan tư liệu về thương cảng Vân Đồn và di tích bến Cống Cái

Chương 2 Di tích bến Cống Cái qua tư liệu khảo cổ học

Chương 3 Vị trí bến Cống Cái trong bối cảnh thương cảng Vân Đồn

Trang 19

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TƯ LIỆU VỀ THƯƠNG CẢNG VÂN ĐỒN VÀ DI

Theo Địa chí Quảng Ninh thì: “khí hậu Quảng Ninh tiêu biểu cho khí hậu các

tỉnh miền Bắc Việt Nam vừa có nét riêng của một tỉnh miền núi ven biển Các quần đảo ở huyện Cô Tô và Vân Đồn có đặc trưng của khí hậu đại dương Theo số liệu quan trắc, mùa lạnh ở Quảng Ninh bắt đầu từ hạ tuần tháng 11

và kết thúc vào cuối tháng 3 năm sau, mùa nóng bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng 10 Mùa ít mưa bắt đầu từ tháng 11 cho đến tháng 4 năm sau, mùa mưa nhiều bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng 10 Giữa hai mùa lạnh và mùa nóng, hai mùa khô và mùa mưa là hai thời kỳ chuyển tiếp khí hậu, mỗi thời kỳ khoảng một tháng (tháng 4 và tháng 10) Dưới tác động của sự biến đổi khí hậu hiện nay, thời tiết của khu vực đảo Quan Lạn cũng có nhiều biến đổi” [83, tr.229]. Vào tháng 8 - 9 năm 2016, vẫn có những cơn bão liên tiếp cùng với lượng mưa lớn Vào tháng 4 năm 2017, thời tiết đã nắng gắt nhưng rất khô hạn, mực nước ngầm trong các giếng xuống rất thấp Bến Cống Cái có vai trò quan trọng trong hệ thống các bến ở đảo Quan Lạn nói riêng và cả hệ thống thương cảng Vân Đồn nói chung Di tích bến Cống Cái nằm ở phần trung tâm của đảo Quan Lạn, một hòn đảo thuộc tuyến Vân Hải nằm ở rìa phía đông nam của huyện đảo Vân Đồn Về quản lý hành chính, hiện nay khu vực này thuộc thôn Sơn Hào, xã Quan Lạn, huyện Vân

Trang 20

Đồn Di tích nằm cách trung tâm xã Quan Lạn khoảng 5km về phía đông bắc, các xã Minh Châu khoảng 5km về phía tây nam Di tích này gồm thung lũng Sơn Hào và ngã ba Cống Cái - Sông Mang

Thung lũng Sơn Hào được vây quanh bởi một dãy núi cao ở phía tây nam và một dãy đồi thấp ở phía đông bắc Nhân dân địa phương gọi đây là núi Vân, có thể đây là nguồn gốc tên gọi Vân Đồn ngày nay Những cồn cát trắng ở phía đông chạy dọc theo bờ biển theo hướng đông bắc - tây nam tạo cho thung lũng khá kín, tránh được gió bão từ biển đông và khá rộng rãi, với nhiều cánh ruộng kiểu bậc thang từ trên sườn các quả đồi thấp và ven chân núi kéo xuống vùng trũng thấp giữa thung lũng

Về phía bắc thung lũng Sơn Hào, những quả núi nhỏ có độ cao không lớn lắm nằm bao lấy một vụng nước - vụng Cống Cái, mở vào dòng Cống Cái

ở phía tây Quanh ba phía của vụng là những quả núi khá cao, nối với nhau bằng các võng núi hoặc khe núi thấp, có thể leo qua khá dễ dàng, đặc biệt là sườn đồi phía nam, nơi dẫn xuống thung lũng Sơn Hào Cống Cái là một cửa vụng được mở ra do đảo Quan Lạn và núi Man chạy song song ngăn một dải nước tạo thành Mỗi lần thủy triều lên xuống, nước biển cũng chảy vào hay

rút ra theo dải sông này như cái cống “Người vùng đảo gọi những dải nước

hẹp là “cống”, như vậy cống là chỉ dòng sông nhỏ Vì nhỏ, nên nước ra vào với lưu tốc lớn hơn sông và lưu tốc nước lớn lại là một tiêu chí quan trọng để gọi dải nước biển là sông hay là cống” [60, tr.133] “Cái” là vụng biển kín

đáo, không sâu, khi thủy triều dâng cáo thuyền bè vừa và nhỏ có thể cập bờ Chính vì vụng ở ngay bên cống và cống lại chảy qua cái nên vụng này được gọi là Cống Cái” [60, tr.143].

Vụng Cống Cái kín gió và không lớn lắm Cửa vào rộng khoảng 100m khi nước triều lên, nơi hẹp nhất khoảng 50m rồi lại mở rộng ở phía trong, có

Trang 21

đường ngăn một phần vụng cho việc xây dựng lò đốt rác nên diện tích phần còn lại chỉ khoảng hơn 1/2 Vụng thường cạn trơ đáy khi thủy triều xuống thấp, nhưng lúc thủy triều lên cao đủ sâu cho thuyền bè hàng chục tấn vào neo đậu Đặc biệt là ở bờ phía bắc, nơi có các khúc bãi khá phẳng và rộng Tình trạng cạn kiệt khi triều rút ngày nay còn do một thời kì đây là bến vận chuyển cát khai thác từ các cồn ven biển, tạo nên một lớp cát đọng phủ dầy dưới đáy

Án ngữ phía bắc vụng Cống Cái là Đồi Đình, một quả đồi khá cao, có sườn phía tây nam thoải xuôi xuống dòng Cống Cái Đồi Đình cũng chắn ngay phía đông nam khu vực ngã ba sông Mang mở vào Cống Cái, cách nơi

mở vào vụng Cống Cái khoảng 500m Phía nam Vụng Cống Cái là một quả đồi khác, thấp hơn Đồi Đình, nhưng có sườn phía bắc khá dốc với nhiều khối

đá lổn nhổn, không thuận lợi cho việc đi lại trên bộ cũng như dưới nước Tuy nhiên, một số khe nước chảy từ trên núi xuống được các khối đá lớn chặn lại, tạo nên những điểm dừng chân nhỏ, được chứng thực bởi sự có mặt của một

số mảnh sành sứ phía trong vụng

Ở khu vực rộng hơn, vụng Cống Cái là một trong những vụng nhỏ nằm hai bên bờ Cống Cái, một dòng nước từ Sông Mang mở vào khu vực Cái Làng Vụng Cái Làng là một vụng biển rộng, được ngăn lại bởi đảo Quan Lạn phía nam và núi Man nằm chặn giữa Sông Mang và Cống Cái ở phía bắc Về phía bắc, ở khoảng giữa vụng là làng Cái Làng, một làng cổ nổi tiếng trong hệ thống các di tích của thương cảng cổ Vân Đồn

Từ cửa Cống Cái mở về phía bắc là Sông Mang, đoạn này rộng tới khoảng gần 900m Đảo Con Quy nằm về phía bắc-đông bắc, cách Đồi Đình khoảng hơn 900m Nhưng những cồn cát và doi đất nổi lên về phía nam của đảo kéo tới cách Đồi Đình khoảng 300m, tạo nên những bãi nông rộng rãi Giữa Đồi Đình và cụm đảo này là một dòng nước mở ra hướng biển Đông, nhưng nay đã bị chặn lại bởi các cồn cát và đường nhựa Từ trên sườn phía

Trang 22

bắc đồi đình, một khe nước hầu như chảy suốt quanh năm đã được cư dân địa phương lợi dụng, thu vào một cái giếng nông, với một khối đá lớn bên ngoài,

có thể để neo thuyền

Sông Mang, có hình cách cung, chảy theo hướng đông bắc-tây nam, đến đoạn mở vào Cống Cái lại có hướng đông-tây, chếch nam khoảng 15 Chiều rộng trung bình khoảng 7-800m, nơi rộng nhất tới trên 1000-1500m Nơi sâu nhất đo được ở cửa Đối tới trên 30m, trong dòng chính trung bình khoảng 10-15m Hai bên bờ có nhiều vụng, được gọi là “mang”, như Mang Thúng, Mang Đò… Hiện nay, nhiều mang được xây bờ chặn lại để nuôi thủy sản Hướng và mức độ dòng chảy của sông Mang phụ thuộc vào thủy triều và thời gian trong năm Trong các cuộc lặn khảo sát năm 2014 ở đây, có thể thấy dòng nước chảy khá mạnh khi triều rút, độ sâu ở khu vực lặn khảo sát trong Mang Thúng

và Cống Cái không quá 9m [98]

Về phía đông khu vực nghiên cứu, dọc theo đảo Quan Lạn là những cồn cát cao ngăn những bãi cát trắng phau với những cánh ruộng và đồi núi bên trong Một số quả núi ăn lan ra biển, ngắt đoạn những cồn cát, tạo thành những bãi tắm tuyệt đẹp, như bãi tắm Quan Lạn, bãi tắm Sơn Hào và bãi tắm Minh Châu Bên trong những cồn cát cao, nay phủ đầy phi lao và các loại cây khác, được giữ làm rừng phòng hộ, có những gò đất pha cát xám nâu Một số, hiện là nơi cư trú hoặc được sử dụng làm đất nghĩa trang

Ngoài thung lũng Sơn Hào và những cánh ruộng thấp xen giữa các cồn cát, núi đá, đồi đất, phần lớn diện tích đồi núi, gò cát ở đây là rừng tạp tự nhiên, một phần là rừng trồng cây công nghiệp, chủ yếu là cây keo và cây thông Trước đây, rừng có nhiều loại cây gỗ quý, nhưng nay ở khu vực Sơn Hào rất ít thấy Rừng tự nhiên ở đây có nhiều loại cây làm thuốc và gia vị có giá trị, vẫn được dân địa phương thu hoạch, chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tại

Trang 23

chỗ Hải sản ở khu vực này, cũng như trong toàn huyện Vân Đồn nói chung rất đa dạng và có nhiều loài quý, có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là sá sùng Một trong những bãi khai thác sá sùng lớn của Quan Lạn là khu vực Cống Cái

- Cái Làng

1.2 Lịch sử hình thành thương cảng Vân Đồn và vị trí địa - lịch sử qua sử liệu

Ngày xưa, việc đi lại với phương Bắc theo con đường thủy ven vịnh Bắc

Bộ Thiên nhiên đã bố trí một loạt đảo chạy suốt ven biển tạo bức bình phong kín đáo, ngăn dòng nước ở giữa khiến việc đi lại yên bình như trên đường

sông Theo “Lĩnh Nam ngoại đáp” đời Tống ghi rõ: từ Khâm Châu thuyền đi

hướng Tây-Nam, một ngày đến châu Vĩnh An, theo trại Đại Bàn thuộc Ngọc Sơn, tới Vĩnh Thái, Vạn Xuân liền tới Thăng Long, thuyền đi mất 5 ngày” [60,

tr.121]. Theo “Đại Việt sử ký toàn thư” viết: năm 1006, “Duyên biên an phủ

sứ Thiệu Việp từng dâng vua Tống bản đồ đường thủy, bộ từ Ung Châu đến Giao Châu với ý đồ muốn lấy nước ta”[29; tr.168] Chứng tỏ con đường này

đã được người Tống nghiên cứu rất kỹ

Đường đi thuận lợi không những dùng cho quân đội mà còn là con đường buôn bán giữa nước ta với phương Bắc Trong suốt những năm chống Hán hóa, thuyền buôn các nước vẫn buôn bán với Việt Nam Đến năm 792, thuyền buôn qua lại nhiều đến nỗi, bọn quan lại nhà Đường cho rằng sự phồn vinh của Đại Việt có hại cho nền ngoại thương ở Quảng Châu nên họ yêu cầu vua Đức Tông ra lệnh cấm không cho tàu buôn các nước qua lại với Đại Việt

[5, tr.20] Năm 1009, vua Lê Ngọa Triều đã cầu thông thương với Ung Châu

nhưng vua Tống chỉ cho “thông thương với Liêm Châu và trấn Như Hồng

thôi” [29, tr.169].

Trang 24

Qua kết quả khai quật 3 ngôi mộ tại khu mộ Đá Bạc (xã Minh Châu) cho thấy người chết cùng gia quyến là người có quan chức cao Niên đại thế kỷ II-III với số lượng di vật phong phú và đa dạng đã cho thấy tầm quan trọng về mặt kinh tế vùng hải đảo, có thể là vào thời Hán, người Trung Quốc đã thiết lập một trị sở quản lý ở đâu đó xung quanh đảo Trà Bản hoặc Quan Lạn [60, tr.120] Với những tư liệu khảo cổ học được phát hiện tại di tích Đồng Chổi

và các ngôi mộ Hán tại Đá Bạc (xã Minh Châu), đảo Thẻ Vàng (xã Thắng Lợi) cho phép ta tin rằng, khu vực Vân Đồn vào khoảng 2000 năm trước đã

có thể là trọng điểm kinh tế và nằm trên trục đường biển quốc tế

Tên gọi Vân Đồn xuất hiện lần đầu tiên trong chính sử nước ta vào năm

1149 đời vua Lý Anh Tông, “lúc này thuyền buôn nước ngoài đến xin đỗ một

chỗ để buôn bán, vua cho ở, lập các trang trại ở cạnh bờ biển nên mới gọi là trang Vân Đồn, thuộc đạo Hải Đông, để buôn bán với ba nước ở phía Nam nước ta là Trảo Oa, Lộ Lạc, Xiêm La” [29, tr.302].

Từ đơn vị “trang” thời Lý, sau hai thế kỷ tồn tại, Vân Đồn phát triển mạnh mẽ trở thành thương cảng lớn và quan trọng của Đại việt Chính sử nhiều lần chép về việc thuyền buôn từ nhiều nước trong khu vực đến Vân Đồn xin buôn bán cư trú Bời vậy, vào năm 1349, đời Trần Dụ Tông, Vân Đồn đã được nâng lên thành “trấn” thuộc lộ Hải Đông, và cử quan lại, quân đội đến đây để quản lý đời sống của cư dân và khách thương

Thời thuộc Minh, Vân Đồn được đặt làm một huyện thuộc châu Tĩnh

An Vào thời Lê sơ, Vân Đồn được lập làm châu thuộc phủ Hải Đông, đạo An Bang Sang thời Lê Trung Hưng và Nguyễn, Vân Đồn là một châu thuộc phủ Hải Đông, trấn Yên Quảng Ngày nay, Vân Đồn là một huyện của tỉnh Quảng Ninh

Trang 25

Về vị trí của trang Vân Đồn, đến ngày nay vẫn là một câu hỏi lớn vì các ghi chép trong sử sách không rõ ràng khiến các nhà nghiên cứu vẫn còn nhiều

ý kiến trái ngược nhau Tuy nhiên, có thể xác định, thương cảng Vân Đồn được lập trên một hòn đảo trong vùng vịnh Bái Tử Long kín đáo

Sách “Đại Việt địa dư toàn biên” của Phương Đình Nguyễn Văn Siêu

chép: “Núi Vân Đồn ở phía đông bắc phủ Giao Châu, huyện Vân Đồn, ở

trong biển lớn Hai núi đối nhau, một dòng nước chảy qua giữa, thuyền buôn của các phiên quốc phần nhiều họp ở đấy” [78, tr.112]. Như vậy, sách này chỉ

rõ địa điểm núi Vân, sông Mang Điều này hoàn toàn phù hợp với địa danh hiện nay tại đảo Quan Lạn

Ngoài ra có một số sách ghi chép về cửa biển Vân Đồn Sách “Đại Nam

nhất thống chí” ghi: “ở phía đông của huyện bên ngoài có đảo Mai, cũng gọi

là cửa biển Mai” Có thể là chỉ cửa Gót, cũng có thể là cửa vào giữa núi Gót

với đảo Phượng Hoàng, cũng có thể là chỉ cửa giữa đảo Phượng Hoàng và

Ngọc Vừng ngày nay Sách “Đồng Khánh dư địa chí” ghi: “Đảo Vân Đồn ở

giữa biển, ngoài cửa biển Vân Đồn”, “cửa biển Vân Đồn ở địa phận xã Quan Lạn, phía ngoài có đảo Mai, còn gọi là cửa biển Mai, bên phải có đảo Ngọc Vừng, bên trái có đảo Cảnh Cước, phía trong có đảo Phượng Hoàng, phía đông đảo là sông Trạo Lai, thủy triều ở cửa biển sâu 1 trượng 8 thước, mực nước ban đêm sâu 1 trượng, rộng 140 trượng” [dẫn theo 5, tr.22].

Nhiều tài liệu xưa có ghi chép chung chung, như trong “An Nam chí

nguyên” của Cao Trùng Hưng chép: “Vân Đồn, tức Đồn Sơn, ở huyện Vân

Đồn, trong biển, hai dãy núi đối ngọn nhau, một dải nước chảy thông ở giữa, lập các hành rào chắn bằng gỗ đặt làm cửa biển, nhà dân ở dọc hai bên bờ Thời Lý-Trần thuyền buôn các nước thường tụ tập nhiều ở đó” [87]. Theo Đỗ Văn Ninh thì hai ngọn núi ở đây là núi của đảo Trà Bản và núi đảo Quan Lạn

Trang 26

(xã Quan Lạn), dải nước chảy thông ở giữa là sông Mang Tuy nhiên, Trịnh Cao Tưởng lại cho rằng hai ngọn núi là chỉ “đảo cống Đông và cống Tây (xã Thắng Lợi) cách nhau khoảng 200m thì mới có thể lập rào chắn” [93, tr.66].

Ngoài ra, trong các đợt khảo sát, nghiên cứu tại một số địa điểm có liên quan đến hệ thống thương cảng Vân Đồn ở thị xã Quảng Yên, huyện Hoành

Bồ, thành phố Móng Cái đã phát hiện một số bến bãi có dấu tích như đồ gốm

sứ, sành, lò nung gốm, dấu vết kiến trúc, thành lũy…có thể các địa điểm này

là điểm tập kết, trạm trung chuyển hàng hóa từ đất liền ra cảng và từ bên ngoài vào Đại Việt [63, 64, 93]

1.3 Các cuộc khảo sát và khai quật tại di tích bến Cống Cái

Trong thời gian từ năm 2012 đến 2019, tại di tích bến Cống Cái đã tiến hành 8 cuộc khảo sát và 1 cuộc khai quật Các đợt khảo sát năm 2012, 2013,

2014, 2015, 2016, 2017, 2018, 2019 đều được thực hiện bởi chương trình Khảo cổ học Hàng hải Việt Nam (VMAP) phối hợp với Viện Khảo cổ học và ngành Văn hóa tỉnh Quảng Ninh Trong đó, năm 2015, nhóm nghiên cứu tiến hành khoan mẫu ở vụng Cống Cái, nhưng đến nay chưa có kết quả Đợt khai quật tháng 8 năm 2016 được thực hiện bởi Viện Khảo cổ học và BQL các công trình trọng điểm tỉnh Quảng Ninh

1.3.1 Khảo sát năm 2012-2013

Năm 2012 là năm đầu tiên nhóm nghiên cứu quốc tế tiến hành khảo sát chiến trận của Trần Khánh Dư và thương cảng Vân Đồn Chương trình này được tiếp tục vào năm 2013 Phương pháp chính sử dụng là dùng máy quyét cạnh sóng âm (slide scan sonar) để khảo sát dọc theo sông Mang Năm 2012, nhóm chuyên gia đã khảo sát được khu vực dài khoảng 25km trên sông Mang, phát hiện khoảng 55 điểm chướng ngại vật Có thể 5-6 điểm trong số này là

Trang 27

vực khảo sát dài khoảng 13km, rộng 0,5-1,5km Tại các điểm nghi vấn tiến hành kiểm tra bằng phương pháp lặn sử dụng bình khí nén, tuy nhiên chưa phát hiện dấu tích tàu đắm ở đây

Một nhóm khác, tiến hành khoan lấy mẫu phân tích bào tử phấn hoa ở thôn Thái Hòa, xã Quan Lạn (Pl 2-h1,2) nhằm nghiên cứu môi trường cổ. Kết quả phân tích cho thấy sự phản ảnh của hệ sinh thái môi trường đối với sự dịch chuyển xã hội do chiến tranh hoặc bất ổn và biến đổi khí hậu Một nghiên cứu đa bào, bao gồm phấn hoa, mẫu than, mẫu thực vật, cho thấy thảm thực vật bản địa rất phong phú và ở mức độ thấp, nông nghiệp lúa nước và sự đốt cháy trong thời gian gió mùa tăng từ năm 1150 TCN đến 950 SCN Các di vật đồ gốm, công cụ bằng đá và các mảnh công cụ nhỏ được phát hiện tại di tích Đồng Chổi, ở phía bắc của đảo Quan Lạn cho ta biết sự chiếm đóng của

cư dân cổ đã bắt đầu từ 3000 BP Đến thời Hán, đã có sự trao đổi buôn bán và ảnh hưởng bởi văn hóa Hán qua việc phát hiện các mộ gạch tại di tích Đá Bạc Điều này cho thấy sự hiện diện của nông nghiệp sớm là phù hợp

Từ năm 950 đến 1450 SCN có sự thay đổi thảm thực vật ở vùng nhiệt đới khá rõ rệt, đó là phấn hoa của các loài dương xỉ tăng mạnh, họ hòa thảo giảm đáng kể, điều này cho thấy năng suất nông nghiệp giảm, sự đốt cháy hầu như không còn bởi sự thiếu vắng của than củi Thời kỳ này, khí hậu có sự biến đổi mạnh, giai đoạn đầu là khí hậu khô sau đó tăng độ ẩm, đây là khí hậu phù hợp với sự phát triển của các loại dương xỉ Nguồn nước thiếu hụt vào mùa thu và mùa đông làm cho nông nghiệp không thể canh tác 2 vụ/năm Một

sự thay đổi khác là khí hậu khô cằn hơn, với những năm hạn hán kéo dài Không có nguồn nước ngọt, sản xuất lúa gạo đã giảm hoặc được thay thế bằng thương mại Mà minh chứng rõ nét nhất đó là sự ra đời của thương cảng Vân Đồn vào thế kỷ XII, phát triển rực rỡ đến thế kỷ XVI

Trang 28

Từ sau năm 1450, thương cảng đã dần mất vai trò chủ chốt của mình trong nền kinh tế thương mại, thể hiện rõ qua số lượng hàng hóa đã giảm rõ rệt từ thế kỷ 16 Trong thời gian này, khí hậu trở nên ẩm ướt hơn và lượng mưa tăng hơn giai đoạn trước Nghề nông nghiệp được phát triển mạnh hơn, phản ánh qua số lượng phấn hoa, sự đốt cháy và dân số ngày càng tăng Sự suy giảm của thương cảng Vân Đồn tỷ lệ nghịch với sự phát triển của ngành nông nghiệp và dân số đã gợi ý về sự trở lại của nền kinh tế tự cung tự cấp ở vùng ven biển [97, tr.6-9] Ngoài ra, quỹ đất dành cho nông nghiệp ở khu vực đảo Quan Lạn là khá hạn chế nên cư dân đồng thời phải tham gia vào các hoạt động kinh tế khác như ngoại thương, ngư nghiệp… để đảm bảo đời sống của

họ

1.3.2 Khảo sát năm 2014

Tháng 5 năm 2014, trong quá trình làm đường để xây dựng lò đốt rác thải ở khu vực Cống Cái đã làm phát lộ một số lớn di vật Sau khi nhận được thông tin từ nhân dân, BQL các di tích trọng điểm Quảng Ninh (CDTTĐ) đã phối hợp với Viện Khảo cổ học tổ chức khảo sát nhanh tại khu vực này Cuộc khảo sát đã phát hiện nhiều mảnh sành sứ và gốm men, đặc biệt là các mảnh sành và gốm có đặc điểm thời Trần

Tháng 7 năm 2014, Viện Khảo cổ học phối hợp với BQL CDTTĐ tỉnh Quảng Ninh và các chuyên gia khảo cổ học dưới nước quốc tế tiến hành khảo sát trong khu vực này và thu thập nhiều di vật xuất lộ dọc theo con đường dẫn

ra Cống Cái của thôn Sơn Hào và rất nhiều mảnh sành, sứ, đất nung ven bờ vụng Các di vật xuất lộ bao gồm trang trí đất nung, mảnh sứ, sành, mảnh gạch và ngói Nghiên cứu mặt cắt ở vách phía tây của con đường trong khu vực này, ký hiệu 14SH3, 14SH4, đoàn đã xác định được dấu tích tầng văn hóa dày 30-40cm, hiện vật chủ yếu là đồ gốm men Việt Nam và đồ sành Phần lớn

Trang 29

các di vật xuất lộ có thể xác định niên đại vào thời Trần, và các di vật thuộc thời kỳ sớm hơn và muộn hơn [31, tr.15](Pl 22, h3-4; pl 28)

Ngoài việc khảo sát trên bề mặt, một số hố kiểm tra được thực hiện Trên

bờ vụng, trong phạm vi 1m2, ký hiệu 14CC.TS1, đã thu được 121 mảnh gồm

đồ gốm, sành, trong đó có 34 hiện vật thời Trần và 97 hiện vật thời Lê sơ Ngoài ra, mở 02 hố kiểm tra ở mép nước khi thủy triều xuống, khi thủy triều lên bị ngập nước hoàn toàn Mỗi hố có diện tích 1m2, ký hiệu 14CC.TS2, 14CC.TS3, sử dụng phương pháp lặn bình khí nén để tiến hành khai quật Các

hố thăm dò này dừng lại ở độ sâu chừng 30-40cm so với bề mặt vụng Hiện vật thu được 20 mảnh đồ gốm men, sành mịn của loại hình bát, lon, bình/vò

Số lượng không nhiều như khu vực dọc bờ Cống Cái [31, tr.14-15, 23] (Pl 1;

pl 10; pl22,h5-6).

1.3.3 Khảo sát và khai quật năm 2016-2017

Sau việc phát hiện di tích năm 2014, di tích bến Cống Cái được đánh giá

có vai trò quan trọng trong hệ thống thương cảng Vân Đồn, đặc biệt là trận thủy chiến của Trần Khánh Dư năm 1288 Nhằm tìm hiểu tính chất, đặc điểm

và phạm vi phân bố của di tích và lịch sử khai thác vùng, tháng 2-3/2016, tháng 4/2017, Viện Khảo cổ học đã phối hợp với BQL CDTTĐ và các chuyên gia quốc tế tiến hành khảo sát và thăm dò trên diện rộng toàn bộ khu vực Kết quả đã phát lộ nhiều dấu tích liên quan đến bến cảng, dấu tích kiến trúc, giếng nước và các di tích thuộc giai đoạn tiền sử Đặc biệt là số lượng rất lớn hiện vật thuộc nhiều loại chất liệu và nguồn gốc Cùng trong năm đó, cuối tháng 8 đầu tháng 9, Viện Khảo cổ học đã tiến hành khai quật di tích này

Đầu năm 2016, đoàn nghiên cứu tiến hành kiểm tra 6 hố thăm dò trong khu vực thung lũng Sơn Hào, kí hiệu 16SH.TS1-TS6, tổng diện tích 14m2nhằm chuẩn bị cho việc khai quật Kết quả đã xác định được lớp văn hóa chứa

Trang 30

nhiều di vật sành và gốm men thời Trần cùng với một số ít hiện vật Trung Quốc cùng thời Đặc biệt phát hiện được một số hố chôn cột nhưng chưa rõ quy mô của nó Tại khu vực bến cảng, gần Giếng Đình phát hiện được khúc

gỗ thân tàu được sử dụng để lót đường vào Giếng, khúc gỗ này nằm đè lên đồng tiền “Nguyên Hựu Thông Bảo” và 6 khối đá lớn được xác định dùng neo thuyền Ngoài ra, ở gần đền Vân Sơn phát hiện một số mảnh gốm thô, niên đại có thể thế kỷ I-II Do vậy, “bến Cống Cái - làng cổ Sơn Hào được đánh giá là khu vực lý tưởng cho việc nghiên cứu một làng cổ liên hệ chặt chẽ với lịch sử hình thành và phát triển của thương cảng cổ Vân Đồn” [49, tr.1] Các dấu tích khảo cổ học mới phát hiện còn cho thấy lịch sử chiếm cư ở khu vực này có thể còn bắt đầu từ thời xa xưa hơn (Pl 14; Pl 16; Pl 22, h7-8; Pl 29- 30)

Trên cơ sở này, tháng 8-9 năm 2016, Viện Khảo cổ học đã tiến hành đào

5 hố khai quật và 2 hố thăm dò, tổng diện tích 71m2 Các hố khai quật có ký hiệu 16SH.H1, H2, H3, H4, H5 và 2 hố thăm dò, ký hiệu 16SH.TS7, TS8 Tại khu vực bến bãi mở hố H1 (phía tây Giếng Đình), H2 (trên bờ vụng), H3 (trên cấp nền 1 phía tây nam sườn Đồi Đình), TS7 (ven bờ vụng), khu vực thung lũng Sơn Hào mở hố H4 (trên sườn đồi phía tây đường vào lò đốt rác), H5 (trên sườn đồi phía đông đường vào lò đốt rác), TS8 (trên sườn đồi) (Pl 12,

13, 15, 27-29, 32-35, 38-41) Do tác động của các cơn bão, hố 16SH.H3 phải dừng lại và được tiếp tục nghiên cứu vào tháng 4/2017 Trong đợt này, có 3

hố thăm dò 17SH.TS1-TS3 được tiếp tục mở trong khu vực xuất lộ nền móng kiến trúc ở hố 16SH.H3 Hai hố 17SH.TS4-TS5 được mở trên cấp nền 2 ở phía tây nam sườn Đồi Đình Tổng diện tích là 45m2(Pl 25, 26, 36, 37).

Kết quả cho thấy, tầng văn hóa dày 30-70cm , tùy vào từng khu vực Đã phát hiện lớp văn hóa chứa dấu tích thời Lê bao trùm lên các hoạt động vào

Trang 31

thời Trần trong các hố H1, H3, H5 Tại hố H4 chỉ có mặt lớp văn hóa thời Trần Xuất lộ các dấu tích kiến trúc thời Trần, Lê Trung Hưng

Hiện vật thu được qua ba cuộc khai quật và thăm dò năm 2016-2017 có

số lượng lớn, hơn 28.800 hiện vật với nhiều chất liệu như: gốm men Việt Nam và Trung Quốc, gốm có áo, đồ sành mịn, đồ đất nung, đồ kim loại [57,

tr.655-656] (Pl 2-4)

1.3.4 Khảo sát năm 2018

Năm 2019, Viện Khảo cổ học phối hợp với SVHTT tỉnh Quảng Ninh và nhóm chuyên gia quốc tế tiến hành khảo sát khu thương cảng Vân Đồn tại xã Quan Lạn và Minh Châu.Từ kết quả nghiên cứu của các năm trước đã phát hiện những di tích khảo cổ học quan trọng như bãi gốm sành ở ven vịnh, giếng nước, đá neo thuyền… Tuy nhiên di tích này đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi hoạt động ủi đường và đốt rừng xảy ra vào khoảng cuối năm 2017 Thậm trí những di tích quan trong như giếng Đình đã biến mất, các khối đá được xác định là đá neo thuyền bị dịch chuyển khỏi vị trí nguyên gốc, bến nước nơi phủ đày mảnh gốm cổ bị xáo trộn nghiêm trọng Các dấu tích kiến trúc phía tây nam, dưới chân đồi Đình đã bị xe ủi đường chạy qua làm biến dạng [37, tr.831; 55] (Pl 30, h1-2)

1.3.5 Khảo sát năm 2019

Năm 2019, Viện Khảo cổ học phối hợp với SVHTT tỉnh Quảng Ninh và nhóm chuyên gia quốc tế tiến hành ứng dụng các phương pháp khảo sát không tác động bằng máy dò GPR, để đánh giá đặc điểm và sự phân bố của các dấu tích khảo cổ học, phục vụ cho việc lựa chọn điểm khai quật và xây dựng bản đồ di sản văn hóa tại khu vực Sơn Hào Có 7 ô lưới (Grid) đã được thiết lập, đều nằm trên khu gò cao của di tích, trong đó Grid 1-5 nằm về phía đông lối vào lò đốt rác, Grid 6,7 nằm ở phía tây lối vào lò đốt rác (Pl 17)

Trang 32

Ở Grid 1-2, ngay trên bề mặt là các hiện tượng nằm tập trung, mật độ dày đặc, có thể là hiện vật hoặc đá Ở góc tây bắc của Grid 1, mở hố kiểm tra 19SH1, diện tích 1m2 Tại hố kiểm tra này, ở độ sâu -40cm, đã xuất lộ lớp đất sinh thổ, là sét vàng lẫn sỏi Tầng văn hóa chỉ dày 40cm, trong tầng văn hóa phát hiện lác đác các mảnh sành, gốm men nhỏ

Ở Grid 4, trên bề mặt xuất lộ các hiện tượng nằm tập trung, có thể là hiện vật Ở góc tây bắc của Grid 4, mở hố kiểm tra 19SH2, diện tích 1m2 Trong hố kiểm tra này, từ độ sâu -10cm, xuất lộ lớp sành, gốm men ken dày đặc với lớp đá cuội [56; 81]

1.4 Tiểu kết chương 1

Các thư tịch cổ trong và ngoài nước phần nào cho chúng ta thấy những thông tin cơ bản về thương cảng Vân Đồn.Tuy nhiên, các ghi chép rất giản lược và mơ hồ nên không tránh khỏi những các hiểu khác nhau của người đọc nên có rất nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ

Khu vực vụng Sơn Hào - bến Cống Cái có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự hình thành và phát triển thương cảng Đây cũng là vùng đất

có diễn trình lịch sử phát triển lâu dài, liên tục từ hậu kỳ đồ đá mới cho đến ngày nay Trong quá trình phát triển của mình, bến Cống Cái một trong những trung tâm trao đổi buôn bán giao thương, giao lưu văn hóa, có mối quan hệ với nhiều vùng, khu vực trong và ngoài nước

Tại di tích bến Cống Cái, qua 8 năm với 8 cuộc khảo sát và 1 cuộc khai quật đã xác định được một phần quy mô, tầng văn hóa, đặc trưng di vật và mối quan hệ của bến Cống Cái với thương cảng Vân Đồn Tại đây đã xuất lộ nhiều di tích quan trọng, là minh chứng cho vai trò bến cảng của di tích này Gồm có những vết tích của móng, cấp nền, bến bãi, giếng, đá neo thuyền, hố

Trang 33

dựng lại kiến trúc của bến cảng xưa Số lượng di vật thu được khá phong phú bao gồm gốm men, gốm có áo, sành mịn, đồ đất nung, đồ kim loại, đồ đá

Năm 1149, thương cảng Vân Đồn được chính thức thành lập, từ đó đến giai đoạn suy tàn vào thế kỷ XVI, thương cảng Vân Đồn đã phát triển mạnh

mẻ, “đóng vai trò quan trọng nhất trong hoạt động ngoại thương của Đại

Việt ” [5, tr.67]. Quỹ đất hạn chế, thêm vào đó là khí hậu khô nóng trong giai đoạn phát triển của thương cảng Vân Đồn, không phù hợp với nông nghiệp Nên có thể phần lớn dân cư chuyển sang tham gia vào các hoạt động thương nghiệp

Trang 34

Ba hố khai quật và thăm dò đã được thực hiện ở bờ vụng Hai hố thăm

dò trong phạm vi 1m2 và hố khai quật 16SH.H2 có diện tích 3m2, được mở sát mép nước Ở khu vực 1, đã mở hố 14CC.TS1, dưới chân giếng Đình, sưu tập hiện vật ngay trên bề mặt, tổng số 121 hiện vật, trong đó 41 mảnh thời Trần (chiếm 34%), 80 mảnh thời Lê (chiếm 66%) [31, tr.23] Hố khai quật 16SH.H2 có tầng văn hóa dày 25cm Ở khu vực 2, ở cửa sông vào bến Cống Cái, mở hố thăm dò 16SH.TS7, tầng văn hóa dày 10cm Sử dụng các hiện vật

ở LM để so sánh niên đại với hiện vật hố 14CC.TS1, tổng số 88 mảnh, trong

đó 83 mảnh thế kỷ XIII-XIV, chiếm 94%, 5 mảnh thế kỷ XV-XVI, chiếm 6%

Trang 35

[49, tr.118] Như vậy, khu vực 2 được sử dụng trong thời gian ngắn, vào thế

kỷ XIII-XIV Khu vực 1 có thời gian sử dụng dài hơn, vào thế kỷ XV-XVIII 2.1.1.2 Giếng nước

Giếng Đình (còn có tên Giếng Rùa Vàng hoặc Giếng Tiền) nằm ở giữa

và ngay sát chân sườn Đồi Đình Giếng có hình tròn, kè bằng đá, đường kính 2,8m, lòng giếng rộng 2m, sâu 1m, luôn luôn có nước ngọt Ở phía đông của giếng có đường bậc, được kê bằng đá Trên lối vào này, năm 2016 đã phát hiện được 1 đồng tiền thời Tống “Nguyên Hựu thông bảo”, nằm bên dưới đoạn ván thuyền Có thể đồng tiền và ván thuyền có liên quan đến thời gian hình thành và sử dụng của giếng Đình Thêm vào đó là các dấu tích kiến trúc phát hiện ở hố 16SH.H1 cho thấy vào các thời Trần- Lê Trung hưng đã có sự san lấp mặt bằng xung quanh Giếng để sử dụng

Thuyền buôn tới đây, ngoài việc trao đổi hàng hóa, nghỉ chân còn phải cần tiếp tế nước ngọt Giếng Đình có thể là một trong những nguồn tiếp tế nước ngọt quan trọng cho thuyền đi biển Hiện nay, giếng này đã bị lấp do quá trình khai thác gỗ (Pl 22-h7,8; Pl 30-h1,2).

Ngoài ra, ở phía bắc của Đồi Đình đã phát hiện một lạch nước, một tường đá xếp để thu nước vào giếng cạn và một khối đá lớn có thể dùng để neo thuyền Xung quanh khu vực này xuất lộ khá nhiều mảnh sành Hiện nay, ngư dân vẫn dừng thuyền lấy nước ngọt ở đây

2.1.1.3 Đá neo thuyền

Tổng số 7 viên đá neo thuyền được phát hiện, tập trung ở khu vực 1, trong đó có 1 khối đá ở khu vực phía bắc Đồi Đình (phía nam bến Con Quy)

Ở trong khu vực có khá nhiều viên đá nhỏ, nổi bật trên đó là các khối đá lớn,

có hình trụ hoặc chữ nhật, nằm dọc theo bến, sát mép nước, có thể chúng

Trang 36

được được dùng để neo đậu tàu/thuyền Kích thước bề mặt chủ yếu 120cm, cao 50-100cm (Pl 15-16; Pl 30-h3).

60-2.1.2 Đặc điểm tầng văn hóa

Ở khu vực bến Cống Cái, tầng văn hóa dày nhất trong khoảng từ 70cm, xuất lộ trong các hố 16SH.H1, H3, 17SH.TS1,2,3 Ở đây đã phát hiện được lớp văn hóa thời Lê sơ và Lê Trung Hưng bao trùm lên các dấu tích hoạt động vào thời Trần Lớp văn hóa thời Lê Trung Hưng chủ yếu là các dấu tích kiến trúc Sự xuất lộ của nhiều mẩu than và số lượng khá lớn di vật có mặt trong khu vực phía đông hố 16SH.H3, cùng với sự có mặt của các di vật thời Trần và sứ celadon Trung Quốc ở những lớp sâu nhất trong địa tầng các hố thăm dò cho thấy có mặt khu vực sinh hoạt thời Trần ở đây Sinh thổ ở khu vực này là lớp đất đất đồi thuộc loại sét cát loang lổ màu xám xanh và xám vàng, đôi chỗ là đá gốc nhiều cỡ (Pl 35).

50-Ở khu vực thung lũng Sơn Hào, tầng văn hóa dày 50-70cm ở hố 16SH.TS1, H5 Ngoài lớp xáo trộn bởi hoạt động của cư dân thời hiện đại, đã phát hiện các lớp văn hóa chứa dấu tích hoạt động vào thời Lê bao trùm lên các dấu tích hoạt động vào thời Trần Tuy nhiên dấu tích lớp văn hóa thời Lê Trung Hưng không rõ như ở khu vực bến bãi, nhưng lớp văn hóa thời Trần với các dấu tích ở đây lại rất rõ Có khả năng có dấu tích hoạt động vào thời

Lý ở những lớp đào sâu nhất của hố H5, căn cứ vào sự có mặt của gốm men Trung Quốc (Pl 40) Phía tây lối vào lò đốt rác, tầng văn hóa chỉ dày khoảng 30-50cm ở hố 16SH.TS2,3,4,8 và hố 16SH.H4 Ở khu vực này, hầu như chỉ thấy sự có mặt của lớp văn hóa thời Trần Sinh thổ ở khu vực thung lũng Sơn Hào là lớp đất sét đồi màu vàng lẫn các hạt sạn laterite màu đỏ, riêng ở phía tây có đá gốc nhiều kích cỡ

Trang 37

Trong hố H2 và TS7, tính chất của địa tầng không rõ ràng do ảnh hưởng bởi thủy triều Tuy nhiên, có thể nhận thấy sự tập trung khá thuần của hiện vật thời Trần trong hố TS7

Đặc biệt, ở hai hố 16SH.H3, H5, trong lớp văn hóa thời Trần chứa số lượng lớn mảnh hiện vật với nhiều hiện vật vỡ lớn Đặc biệt trong hố H5, phát hiện tập trung số lượng lớn các mẩu di vật kim loại, loại hình này lác đác ở hố H3

2.1.3 Dấu tích kiến trúc

2.1.3.1 Dấu tích kiến trúc ở khu vực bến Cống Cái

Theo các tài liệu cổ và lời kể của người dân địa phương, thì ở Đồi Đình

có 9 cấp nền, nhưng vì cây cối rậm rạp nên hiện tại mới chỉ xác định được vị trí và quy mô của hai cấp nền dưới cùng ở góc tây nam, gọi là cấp nền I và II Cấp nền I có dạng gần hình chữ nhật, chiều đông - tây 19m, bắc - nam 22m, xuất lộ dấu tích kiến trúc bằng đá Cấp nền II nằm về phía đông bắc cấp nền I,

ở giữa hai cấp nền có một khe nước ngọt được xếp bằng đá Cấp nền II cũng

có dáng gần hình chữ nhật, nhưng ở giữa rộng, thu hẹp về hai bên, có chiều dài 25m theo hướng tây bắc - đông nam, rộng 7 - 11m theo hướng đông bắc- tây nam

- Nền kiến trúc có móng kè đá xuất lộ ở khu vực cấp nền I

Từ kết quả khai quật và thăm dò năm 2016-2017, đã phát hiện móng kiến trúc rộng 1,4-1,5m, được xây dựng bằng việc xếp các khối đá nhiều cỡ thành hàng song song, chèn giữa và trên mặt bằng các loại đá nhiều cỡ và vô

số mảnh sành, gốm vỡ xuất lộ trong hố 16SH.H3, 17SH.TS1-TS3 Các viên

đá có kích thước và hình dạng không đều Chúng được chèn thêm bằng các mẩu đá nhỏ và các mảnh sành vụn Móng đá có hướng bắc lệch đông 150 Nền được nện bằng sét đồi lẫn các hạt laterit và số ít các mẩu gốm, sành, đá vụn

Trang 38

Mặc dù mới chỉ bộc lộ được phần đường móng phía tây và tây nam, nền kiến trúc này được xác định trong phạm vi diện tích khoảng 5m (bắc-nam) x 9m (đông - tây) Bên trong nền kiến trúc, có mặt một số khu vực được chèn nhiều đất đồi lẫn đá vụn và các khối đá kê cột có kích thước không đồng nhất Mặc

dù chưa bộ lộ đầy đủ và rõ ràng, nhưng “có thể dự đoán các bước gian rộng

khoảng 3m (gian chính) và 2m (gian phụ)” [49; tr 103] Về phía đông bắc kiến trúc, xuất lộ dấu tích các hố cột và hố than tro, có thể liên quan đến các công trình phụ như bếp lửa, nhà vệ sinh Tuy nhiên quy mô nhỏ và không có mặt các dấu tích khác như xương động vật, tàn tích thức ăn Dự đoán kiến trúc này được tạo dựng thời Lê Trung Hưng, căn cứ vào các mảnh sành gốm chèn vào kiến trúc (Pl 27-h5; Pl 36-37;)

Vào thời kỳ sớm hơn (thời Trần), có dấu vết kiến trúc sử dụng cột chôn trong hố kê và chèn các mẩu đá nhỏ ở đầu phía đông cấp nền 1 Như vậy, cấp nền I cũng được sử dụng vào thời Trần Tuy nhiên, do diện tích khai quật còn hạn chế, đặc điểm kiến trúc chưa được nhận diện rõ

- Cấp nền II và móng kè đá ven chân phía nam Đồi Đình

Kết quả khảo sát và phát quang cấp nền II ven chân đồi phía tây nam Đồi Đình cho thấy, những đường kè đá và mảnh sành, gốm đã được tạo dựng, tạo nên những cấp nền có quy mô rộng hẹp khác nhau Về phía tây nam, những khối đá kè lớn ngăn cách cấp nền này với một khe nước lớn chảy từ trên núi xuống Một số khối đá bằng phẳng mở xuống khe nước có thể được sắp đặt có chủ ý Về phía đông nam, các khối đá nhỏ hơn tạo ra một cấp nền thấp, mở xuống một khoảng bằng phẳng thấp xuôi dần xuống ven bờ vịnh Địa tầng hai

hố kiểm tra 17SH.TS4 và 17SH.TS5 cho thấy cấp nền này có thể được san bạt hai lần và cao hơn bề mặt nguyên thủy khoảng 55cm Trên đó có thể có kiến trúc dạng nhà có cột kê trên các khối đá tảng [49; tr.104].

Trang 39

- Dấu tích kiến trúc khu vực Giếng Đình

Các lớp đá kè tạo mặt phẳng trong khu vực gần Giếng Đình (hố 16SH.H1) có thể đã được tạo tác để phục vụ cho việc lấy nước và sử dụng quanh khu vực Giếng Các viên đá nhiều cỡ được xếp và chèn thêm các mẩu

đá nhỏ, mảnh sành, gốm để tạo mặt bằng hơi dốc Các lớp kè phía trên chứa các hiện vật thời Lê Trung Hưng, Nguyễn đã được tiếp tục và mở rộng, bên dưới là lớp kè chứa hiện vật thời Trần Cùng với một mảnh ván gỗ, có thể là mảnh tàu, và một đồng tiền thời Tống phát hiện trong lớp đá kè đường dẫn lên Giếng, có thể cho rằng giếng nước này đã được sử dụng chủ yếu từ thời Trần cho đến gần đây

Như vậy về cơ bản khu vực hố H1 thể hiện tính chất của các bậc cấp, được tạo dựng khoảng 3 lần vào những thời kỳ khác nhau Thời kỳ sớm nhất, các khối đá được chèn vào lớp đá gốc và được rải lên bề mặt bằng đất lẫn cuội, đá dăm nhỏ là chính Căn cứ vào sự xuất lộ của hiện vật, có thể chúng được tạo dựng vào thời Trần, thế kỷ XIII-XIV Thời kỳ thứ hai, các bậc cấp được thay đổi so với giai đoạn trước Trong thành phần rải nền có nhiều hiện vật hơn, nhưng đá cuội và đá dăm vẫn chiếm phần lớn Các di vật xuất lộ cho thấy các cấp nền này được tạo dựng vào thời Lê Trung Hưng, thế kỷ XVII-XVIII Thời kỳ thứ 3, các cấp nền mở rộng nhất, trong khoảng 2m, ngoài vật liệu đá, rất nhiều mảnh sành được sử dụng để tạo nền Cấp nền này có thể được tạo vào khoảng thế kỉ XVIII-XIX (Pl 27-h1-3; Pl 32, 33).

2.1.3.2 Dấu tích kiến trúc ở khu vực thung lũng Sơn Hào

- Móng kiến trúc chôn cột

Di tích này xuất lộ trong hố 16SH.H4, ở độ sâu -10cm, bề mặt xuất lộ có hình gần tròn, được đầm bằng đá nhỏ, các mảnh gốm men, sành vỡ nhỏ Phần xuất lộ có đường kính 1,6 – 1,7m theo chiều bắc - nam, chiều đông tây chưa

Trang 40

xuất lộ rõ nhưng đo được 1,5m Giữa móng kiến trúc là một hố đất lẫn cát màu xám vàng có đường kính khoảng 45 - 50cm, thuần, gần như không có hiện vật trên bề mặt Sau khi cắt ¼ diện tích của kiến trúc cho thấy, ở độ sâu 10cm so với bề mặt móng kiến trúc xuất lộ nhiều mảnh sành và gốm sứ khác nhau, chủ yếu là sành mịn, mảnh gốm men trắng và men ngọc thời Trần Xuống đến -20cm so với bề mặt móng kiến trúc, có nhiều đá dăm nhỏ, một số mảnh đá hộc, mảnh sành và gốm sứ thời Trần, tuy nhiên mật độ hiện vật không nhiều như lớp trên Về cơ bản đất màu nâu sẫm, vẫn là lớp vật liệu đầm bên trên sâu xuống Từ -20 đến -30cm so với bề mặt móng kiến trúc, đất vẫn màu nâu sẫm, có lẫn ít cát mịn và dăm đá nhỏ Hố đất này có thể là hố chôn cột.Từ tính chất của các di vật cho thấy có thể di tích thuộc thời Trần (Pl 28- h1-3; Pl 38).

- Hố cột

Ở hố 16SH.TS1 xuất lộ 3 di tích hố cột, đường kính 10-30cm, cách nhau 2m, nằm trong tầng văn hóa thời Trần Các hố này sâu khoảng 20-30cm, bên trong chỉ có vài mảnh gốm men, sành có niên đại thời Trần Đây có thể là dấu tích của kiến trúc bằng gỗ Nhưng vì diện tích khai quật nhỏ nên chưa xác định được tính chất cũng như quy mộ của kiến trúc này (Pl 24-h1)

2.1.4 Di tích hố đất đen

Ở khu vực phía bắc bến Cống Cái có khá nhiều hố đất đen xuất lộ ở hố 17SH.TS2, TS3 Các di tích này không có hình dạng cố định, không có cấu trúc nhất định Các hố đất chứa bùn hoặc than tro, đá lổn nhổn Hoặc bề mặt

có lẫn nhiều sỏi nhỏ lổn nhổn Có thể chúng là các hố cột hay hố than tro có liên quan đến di tích kiến trúc móng đá ở khu vực cấp nền 1 Các hố đất đen này xuất lộ trong lớp văn hóa thời Lê Trung Hưng (Pl 36, 37).

Ngày đăng: 20/11/2019, 10:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Abe Yuriko (2003), “Đồ gốm sứ và mối giao lưu Việt Nam- Nhật Bản, con đường giao dịch buôn bán tại Đông Á và Đông Nam Á”, Tạp chí Văn hóa quốc tế, số 9, tr.134-138 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồ gốm sứ và mối giao lưu Việt Nam- Nhật Bản, con đường giao dịch buôn bán tại Đông Á và Đông Nam Á”, Tạp chí "Văn hóa quốc tế
Tác giả: Abe Yuriko
Năm: 2003
3. Bảo tàng lịch sử Quốc gia Việt Nam (2014), Văn hóa Nhật Bản/ The culture of Japan, Nxb. Thế Giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Nhật Bản/ The culture "of Japan
Tác giả: Bảo tàng lịch sử Quốc gia Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Thế Giới
Năm: 2014
4. BQL các DT trọng điểm Quảng Ninh (2009), Kỷ yếu hội thảo khoa học: “Thương cảng Vân Đồn – lịch sử, tiềm năng kinh tế và các mối giao lưu văn hóa”, Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo khoa học: "“Thương cảng Vân Đồn – lịch sử, tiềm năng kinh tế và các mối giao lưu văn hóa”
Tác giả: BQL các DT trọng điểm Quảng Ninh
Năm: 2009
5. BQL các DT trọng điểm Quảng Ninh (2010), Di tích lịch sử - văn hóa thương cảng Vân Đồn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích lịch sử - văn hóa "thương cảng Vân Đồn
Tác giả: BQL các DT trọng điểm Quảng Ninh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2010
6. BQL các DT trọng điểm Quảng Ninh (2011), Khu di tích lịch sử chiến thắng Bạch Đằng năm 1288, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu di tích lịch sử chiến "thắng Bạch Đằng năm 1288
Tác giả: BQL các DT trọng điểm Quảng Ninh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2011
7. BQL di tích thắng cảnh Quảng Ninh (2001), Lý lịch di tích lịch sử thương cảng Vân Đồn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, Tư liệu Bảo tàng Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý lịch di tích lịch sử thương "cảng Vân Đồn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: BQL di tích thắng cảnh Quảng Ninh
Năm: 2001
8. BQL di tích thắng cảnh Quảng Ninh (2003), Lý lịch di tích lịch sử thương cảng Vân Đồn - bến Cái Làng, xã Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, Tư liệu Bảo tàng Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý lịch di tích lịch sử thương "cảng Vân Đồn - bến Cái Làng, xã Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: BQL di tích thắng cảnh Quảng Ninh
Năm: 2003
9. BQL di tích thắng cảnh Quảng Ninh, Lý lịch di tích đình Quan Lạn, xã Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, Tư liệu Bảo tàng Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý lịch di tích đình Quan Lạn, xã "Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
10. Nguyễn Ngọc Chất và nnk (2009), “Nghiên cứu hệ thống di tích thương cảng Vân Đồn, kết quả và nhận thức”, Những phát hiện mới về Khảo cổ học 2008, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.326-327 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hệ thống di tích thương cảng Vân Đồn, kết quả và nhận thức”, "Những phát hiện mới về Khảo cổ học 2008
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chất và nnk
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2009
11. Nguyễn Ngọc Chất và nnk (2009), Báo cáo khai quật Bảo Tháp (xã Thắng Lợi, huyện Vân Đồn) năm 2009, Tư liệu BT Lịch sử quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khai quật Bảo Tháp (xã Thắng "Lợi, huyện Vân Đồn) năm 2009
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chất và nnk
Năm: 2009
12. Nguyễn Ngọc Chất và nnk (2011), Báo cáo khai quật Bảo Tháp (xã Thắng Lợi, huyện Vân Đồn) năm 2010, Tư liệu BT Lịch sử quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khai quật Bảo Tháp (xã Thắng "Lợi, huyện Vân Đồn) năm 2010
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chất và nnk
Năm: 2011
13. Nguyễn Phương Chi (2005), “Vài nét tình hình kinh tế thời Trần Nhân Tông (1258-1308)”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 5, tr.24-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét tình hình kinh tế thời Trần Nhân Tông (1258-1308)”, Tạp chí "Nghiên cứu Lịch sử
Tác giả: Nguyễn Phương Chi
Năm: 2005
14. Nguyễn Thị Phương Chi, Nguyễn Tiến Dũng (2007), “Về các mối giao thương của quốc gia Đại Việt thời Lý – Trần (thế kỷ XI-XIV)”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 7, tr.23-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về các mối giao thương của quốc gia Đại Việt thời Lý – Trần (thế kỷ XI-XIV)”, Tạp chí "Nghiên cứu "Lịch sử
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Chi, Nguyễn Tiến Dũng
Năm: 2007
15. Hoàng Xuân Chinh và nnk (1966), Báo cáo thăm dò hải đảo Tuần Châu và Vân Đồn, Tư liệu Viện Khảo cổ học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thăm dò hải đảo Tuần Châu "và Vân Đồn
Tác giả: Hoàng Xuân Chinh và nnk
Năm: 1966
16. Hoàng Xuân Chinh, Đoàn Anh Tuấn (2013), “Bãi mảnh sành sứ cổ ven bờ đảo Thẻ Vàng trên Vịnh Bái Tử Long”, Những phát hiện mới về Khảo cổ học 2012, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.599-601 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bãi mảnh sành sứ cổ ven bờ đảo Thẻ Vàng trên Vịnh Bái Tử Long”, "Những phát hiện mới về Khảo cổ học 2012
Tác giả: Hoàng Xuân Chinh, Đoàn Anh Tuấn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2013
17. Trình Năng Chung, Nguyễn Quang Miên, Trần Minh (2008), “Phát hiện bến gốm sứ cổ ở đảo Cái Bầu, Vân Đồn, Quảng Ninh”, Những phát hiện mới về Khảo cổ học 2007, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.443 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát hiện bến gốm sứ cổ ở đảo Cái Bầu, Vân Đồn, Quảng Ninh”, "Những phát hiện mới về "Khảo cổ học 2007
Tác giả: Trình Năng Chung, Nguyễn Quang Miên, Trần Minh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2008
18. Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 3, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1992
19. Trần Khánh Chương (2017), Gốm Việt Nam, kỹ thuật và nghệ thuật, Nxb Mỹ Thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gốm Việt Nam, kỹ thuật và nghệ thuật
Tác giả: Trần Khánh Chương
Nhà XB: Nxb Mỹ Thuật
Năm: 2017
20. Nguyễn Lân Cường (1967), Báo cáo đợt điều tra Quảng Ninh, Tư liệu Viện Khảo cổ học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đợt điều tra Quảng Ninh
Tác giả: Nguyễn Lân Cường
Năm: 1967
21. Trần Anh Dũng (1992), “Góp thêm một số phương pháp chống dính men ở giai đoạn 10 thế kỷ sau công nguyên”, Những phát hiện mới về Khảo cổ học 1991, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.126-127 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp thêm một số phương pháp chống dính men ở giai đoạn 10 thế kỷ sau công nguyên”, "Những phát hiện mới về Khảo cổ học 1991
Tác giả: Trần Anh Dũng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1992

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w