SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NHỮNG GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 1 VIẾT CHỮ ĐÚNG VÀ ĐẸP TRONG PHÂN MÔN TẬP VIẾT Người thực hiện:
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NHỮNG GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 1
VIẾT CHỮ ĐÚNG VÀ ĐẸP TRONG PHÂN MÔN TẬP VIẾT
Người thực hiện: Nguyễn Thị Anh Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Đông Hải 1 SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Tiếng Việt
THANH HOÁ NĂM 2019
Trang 2MỤC LỤC
1 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng nghiên cứu 1
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
2 Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm 2
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 2
2.1.1 Vai trò của phân môn tập viết lớp 1 2
2.1.2 Cấu trúc, nội dung chương trình phân môn tập viết lớp 1 2
2.1.3 Quy trình dạy học phân môn Tập viết 2
2.2.Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3
2.2.1 Thuận lợi 3
2.2.2 Khó khăn 3
2.2.3 Nguyên nhân của thực trạng 4
2.3 Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 5
2.3.1 Giải pháp thứ 1: Giáo viên cần nắm chắc kiến thức, viết tốt mẫu chữ quy định để dạy học sinh 5
2.3.1.1 Tập viết chữ (Chữ cái, chữ số, từ ngữ, câu) trên bảng lớp 6
2.3.1.2 Tập viết chữ vào bảng con của học sinh 6
2.3.1.3 Luyện viết trong vở 6
2.3.2 Giải pháp thứ 2: Tích cực sử dụng đồ dùng dạy học trong phân môn Tập viết 6
2.3.3 Giải pháp thứ 3: Hướng dẫn học sinh thực hiện tốt nề nếp học tập, tư thế ngồi viết, cách cầm bút, để vở và cách trình bày bài viết 7
2.3.4.Giải pháp thứ 4: Dạy cho học sinh có kỹ thuật viết đúng, viết đẹp………….9
2.3.4.1 Dạy học sinh viết đúng, viết đẹp thành thạo các nét cơ bản 9
2.3.4 2 Cách viết các con số 11
2.3.5 Giải pháp thứ 5: Dạy phân môn Tập viết phải được kết hợp song song và đồng bộ với các môn học khác 11
2.3.5.1 Rèn chữ viết trong giờ Tập viết 12
2.3.5.2 Kết hợp rèn chữ trong tiết Học vần 12
2.3.5.3 Phối hợp với gia đình học sinh 12
2.3.6 Giải pháp thứ 6: Khắc phục những lỗi học sinh thường gặp khi tập viết 12
2.3.7 Giải pháp thứ 7: Sử dụng các bài tập giúp học sinh rèn chữ 13
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 15
2.4.1 Trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 15
2.4.2 Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 16
3 Kết luận, kiến nghị 17
3.1 Kết luận 17
3.2 Kiến nghị 18
Trang 31 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
Tiểu học là bậc học nền tảng, dạy Tiếng Việt trong đó có dạy Tập viết,chúng ta sẽ trao cho các em chìa khóa để mở ra những cánh cửa bước vào tươnglai, là công cụ để các em vận dụng suốt đời Song song với học chữ, Tập viếtđược coi là một phân môn có tầm quan trọng đặc biệt ở Tiểu học, nhất là đối vớicác em lớp 1 Phân môn Học vần, Tập đọc giúp cho học sinh đọc thông viết thạo.Viết đúng, đẹp, nhanh, rõ ràng sẽ giúp học sinh có điều kiện ghi chép bài học củatất cả các môn học tốt hơn Tuy vậy, vẫn còn nhiều học sinh viết sai, viết xấu,viết chậm, điều đó ảnh hưởng không nhỏ tới các môn học khác Ngoài ra Tập viếtcòn góp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho học sinh những phẩm chất đạođức tốt như: Tính cẩn thận bền bỉ, tinh thần kỉ luật và óc thẩm mỹ Như người
xưa đã nói: “Nét chữ, nết người” Nhận thức được tầm quan trọng đó, với ý thức,
lương tâm và trách nhiệm nghề nghiệp của người giáo viên, bản thân tôi luôn suynghĩ, trăn trở và không ngừng tích lũy kinh nghiệm, tìm ra phương pháp dạy họcthích hợp về chữ viết để sớm giúp các em viết chữ đẹp Phân môn Tập viết cónhiệm vụ củng cố và hoàn thiện tri thức cơ bản về hệ thống chữ viết và hệ thốngngữ âm Tiếng Việt; cung cấp cơ bản về hệ thống quy tắc chuẩn, các quy tắc nhậnbiết và thể hiện chức năng của chữ viết….; rèn luyện thuần thục kỹ năng viết
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài “Những giải pháp
giúp học sinh lớp 1 viết đúng và đẹp trong phân môn Tập viết ” Tôi mong rằng
qua đề tài này, giáo viên trong nhà trường có thể tham khảo và áp dụng để chấtlượng dạy học môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập viết nói riêng cho họcsinh lớp 1 sẽ ngày càng được nâng cao hơn
1.2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của sáng kiến là nghiên cứu và giới thiệu những biện pháp rènchữ trong việc dạy chữ viết Tiếng Việt, giúp học sinh lớp 1 viết đúng và đẹp.Thông qua các biện pháp này tôi có thể nâng cao kiến thức của bản thân và ýthức được việc nghiên cứu, tìm tòi phương pháp giảng dạy là một nhu cầu cũngnhư nhiệm vụ của mình
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những biện pháp rèn chữ viết cho họcsinh lớp 1 trường Tiểu học Đông Hải 1 thành phố Thanh Hóa
Trang 4Học sinh lớp 1D trường Tiểu học Đông Hải 1 trong giờ Tập viết
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để việc nghiên cứu đạt kết quả tốt, tôi sử dụng nhiều phương phápnghiên cứu, trong đó chủ yếu là các phương pháp sau:
+ Phương pháp nghiên cứu lí luận
+ Phương pháp điều tra, khảo sát, thu thập số liệu
+ Phương pháp quan sát
+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
2 Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1 Vai trò của phân môn Tập viết lớp 1
- Rèn kĩ năng viết chữ cho học sinh lớp 1 theo đúng mẫu quy định số
2.1.2 Cấu trúc, nội dung chương trình phân môn Tập viết lớp 1
Chương trình Tập viết lớp 1 phần học vần và phần luyện tập tổng hợp
- Phần học vần: Học sinh tập viết chữ cỡ vừa (mỗi đơn vị chữ cao 2 li) Cụ thể:+ Từ bài 1 đến bài 27: Học sinh viết chữ cái ngay trong giờ học âm và chữghi âm theo nội dung bài học tương ứng trong sách giáo khoa Mỗi tuần có 1 tiếtTập viết riêng (sau 5 bài học âm)
+ Từ bài 29 đến bài 103: Học sinh tập viết chữ ghi vần, tiếng ngay tronggiờ Học vần, theo nội dung bài học tương ứng trong sách giáo khoa Mỗi tuần có
1 tiết Tập viết riêng (sau 5 bài học vần)
- Phần luyện tập tổng hợp: Mỗi tuần học sinh có 1 tiết Tập viết để thực hiệncác yêu cầu: tập tô chữ cái viết hoa, luyện viết vần, từ ngữ theo cỡ chữ vừa và nhỏ
2.1.3 Quy trình dạy học phân môn Tập viết
Gồm 2 bước:
Bước 1: Hướng dẫn học sinh viết trên bảng con: Gồm các bước sau:
- Giới thiệu mẫu chữ viết
- Viết mẫu
- Hướng dẫn học sinh viết chữ ghi âm
- Hướng dẫn học sinh viết chữ ghi tiếng
Bước 2: Hướng dẫn học sinh viết trong vở Tập viết: Gồm các bước sau:
- Giáo viên dùng que chỉ tô lại từng chữ cái theo mẫu trên bảng
- Yêu cầu học sinh tập viết từng dòng theo mẫu đã hướng dẫn
- Giáo viên viết mẫu chữ ghi tiếng - từ mới trên bảng
- Yêu cầu học sinh tập viết tiếp từng dòng theo mẫu trong vở Tập viết
Trang 5- Giáo viên chấm một số bài viết của học sinh và nhận xét chung.
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1 Thuận lợi
a Về phía giáo viên
Trường Tiểu học Đông Hải 1 là một trường vốn có bề dày truyền thốnghiếu học Trường có đội ngũ cán bộ trẻ, năng động, sáng tạo, nhiệt tình, dám
nghĩ dám làm hết lòng tận tuỵ với công việc, với sự nghiệp “Trăm năm trồng người” mà Đảng và nhà nước giao cho Trường đã nhiều năm liền đạt danh hiệu
Lao động Xuất sắc, có nhiều thành tích đáng kể về mọi mặt
- Đóng trên địa bàn phường Đông Hải, cách trung tâm thành phố gần 4
km, trường Tiểu học Đông Hải 1 luôn nhận được sự quan tâm của Đảng ủy,chính quyền địa phương và ngành giáo dục, trong đó có sự quan tâm đặc biệt vàsâu sát của Ban Giám hiệu nhà trường
- Phòng Thư viện cung cấp đầy đủ đồ dùng cho từng lớp như: Bộ chữ dạyTập viết chữ thường và chữ hoa của nhà xuất bản Giáo dục; bảng chữ cái theomẫu chữ quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
c Về phía học sinh
- Các em háo hức với môi trường mới nên rất thích đến trường để học
- Trường Tiểu học dạy học sinh từng nét chữ đầu tiên nên việc hình thành
nề nếp, thói quen viết dễ dàng
d Về phía phụ huynh
- Đa số các phụ huynh có con em học lớp 1, là năm đầu cấp nên đều quantâm đến việc học tập của con em mình Phần lớn các em có đầy đủ sách vở, đồdùng học tập theo yêu cầu của giáo viên
- Môi trường giao tiếp, phương tiện, thông tin đại chúng thuận lợi choviệc dạy và học tập viết Tiếng Việt
2.2.2 Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, trong quá trình giảng dạy phân mônTập viết giáo viên vẫn còn gặp không ít những khó khăn sau:
a Về phía giáo viên
Nhà trường có 4 lớp 1, chủ yếu là do các giáo viên có tuổi đời còn trẻ,kinh nghiệm giảng dạy lớp 1 chưa nhiều làm giáo viên chủ nhiệm Để đạt đượckết quả tốt trong quá trình rèn chữ cho học sinh lớp 1 sẽ gặp không ít khó khăn.Việc sử dụng đồ dùng dạy học trực quan, tranh ảnh còn lúng túng, chưa khaithác hết tác dụng của đồ dùng dạy học
- Một số ít giáo viên chưa hiểu rõ bản chất của các nguyên tắc và phươngpháp dạy học phân môn Tập viết, chưa tích cực đổi mới phương pháp dạy họcTập viết, chưa có sự kết hợp đồng bộ với các môn học khác như: Học vần, Tậpđọc để giúp học sinh đọc đúng, đọc hiểu, từ đó dẫn đến viết đúng, viết đẹp
Trang 6- Một số giáo viên chưa nắm được kỹ thuật viết chữ, cách gọi các thuậtngữ khi dạy viết chữ Tiếng Việt như: chữ ghi âm, chữ ghi vần, chữ ghi tiếng,chữ ghi từ Mặt khác còn nhiều giáo viên còn nhầm lẫn giữa cách rê bút, cáchlia bút, điểm đặt bút, điểm dừng bút, cách nối chữ khi viết.
- Một số giáo viên chưa có sự phối hợp chặt chẽ với gia đình học sinhtrong lớp chủ nhiệm, điều đó hạn chế việc tạo điều kiện về tinh thần, vật chất
cho học sinh và việc rèn luyện chữ viết trong phong trào “Vở sạch - chữ đẹp”.
Đa số giáo viên còn coi nhẹ việc hình thành nề nếp học của học sinh chưa chú ýđến tư thế ngồi viết, cách cầm bút, để vở của học sinh
b Về phía học sinh
- Lớp 1 là lớp đầu cấp, các em còn nhỏ mới qua lớp mẫu giáo, nhận thứckhông đồng đều Bên cạnh đó, việc giáo dục cho các em những phẩm chất đạođức tốt như: Tính cẩn thận, tính kỷ luật và khiếu thẩm mỹ chưa được quan tâmđúng mức Mặt khác, từ môi trường hoạt động vui chơi là chính chuyển sangmôi trường chủ yếu là hoạt động học tập, các em phải đọc, phải viết nhiều hơn,gây mỏi tay, mỏi mắt… dẫn đến tình trạng uể oải, nản chí, ngại viết
- Việc làm quen với chữ viết đối với các em thật khó khăn bởi đôi tay cònvụng về, lóng ngóng Ở mẫu giáo các em mới được làm quen với đọc và tô cácchữ cái, chưa có khái niệm về đường kẻ, dòng kẻ, chưa nắm được cấu tạo củacác nét cơ bản, cấu tạo của các chữ cái; chưa nắm được độ cao, độ rộng, củatừng con chữ, khoảng cách giữa các chữ ghi tiếng, cách viết các chữ thường,dấu thanh và các chữ số; chưa nắm được quy trình viết chữ cái Nhiều em cònviết chữ ngược, số ngược
- Học sinh chưa thực hiện tốt, nghiêm túc các quy định trong giờ Tập viết như:+ Cầm bút chưa đúng cách
+ Ngồi viết chưa đúng tư thế
+ Vị trí đặt vở khi viết chưa đúng
- Đa số học sinh chưa nắm được kĩ thuật viết, cách rê bút, cách lia bút,nét nối, điểm đặt bút, điểm dừng bút trong một chữ ghi tiếng và khoảng cáchgiữa các chữ ghi tiếng, ghi từ
- Một số em còn thiếu đồ dùng học tập Bản thân các em chưa phát huyđược tính tự học, tự rèn luyện ở trường cũng như ở nhà Các em còn ham chơichưa chú ý đến học tập
c Về phía phụ huynh học sinh
Còn nhiều phụ huynh còn thờ ơ, chưa thường xuyên đôn đốc nhắc nhở việchọc tập của con em mình Phần lớn các phụ huynh chưa nắm được chữ mẫu, quytrình viết của chữ nên còn hạn chế trong việc hướng dẫn con em mình học ở nhà
2.2.3 Nguyên nhân của thực trạng
Đi sâu tìm hiểu thực tế qua các tiết dạy Tập viết, Thực hành luyện viết vàphần luyện viết trong các tiết Học vần Tôi thấy nguyên nhân dẫn đến những sailầm của học sinh lớp 1 chủ yếu là:
- Do học sinh chưa viết đúng và chưa nắm chắc cấu tạo của các nét cơ bản,chưa nắm được độ cao, độ rộng của từng chữ cái Các em chưa hiểu và nắm vữngquy trình viết chữ cái, quy trình nối các chữ cái trong chữ ghi tiếng nên chữ viếtsai độ cao, độ rộng, các nét chữ rời rạc, không đều nét, liền mạch
Trang 7- Do nhận thức còn hạn chế của đa số các bậc phụ huynh học sinh về mẫu
chữ và tầm quan trọng của phân môn Tập viết cho nên ngại hướng dẫn con emmình tập viết ở nhà vì sợ sai, sợ không đúng
- Do học sinh chưa được hướng dẫn, uốn nắn một cách tỉ mỉ, kịp thờithường xuyên từ cách cầm bút đến tư thế ngồi viết và cách viết theo đúng quytrình ngay từ khi các em mới bắt đầu đi học
- Do tâm lý lứa tuổi học sinh lớp 1, các em chóng nhớ nhưng lại mau quên,
nhanh chán, không luyện tập theo đúng yêu cầu của giáo viên Tốc độ viết nhanh,viết ngoáy, viết ẩu cũng chính là nguyên nhân để các em viết xấu, viết sai
Trước thực trạng khi dạy phân môn Tập viết Tôi nhận thấy cần phải tìm ranhững biện pháp thiết thực để nâng cao chất lượng dạy học phân môn Tập viếtcho học sinh lớp 1 Qua tìm hiểu và tham khảo nghiên cứu tôi xin đưa ra một sốgiải pháp cụ thể như sau:
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Giải pháp thứ 1: Giáo viên cần nắm chắc kiến thức, viết tốt mẫu chữ quy định để dạy học sinh.
Việc nắm chắc các mẫu chữ hiện hành theo chuẩn của Bộ giáo dục vàĐào tạo và việc viết tốt mẫu chữ quy định là một yêu cầu cần thiết không thểthiếu được đối với người giáo viên tiểu học Đây chính là một tiêu chí mà mọigiáo viên phải đặt ra và thực hiện Có nắm chắc các mẫu chữ thì giáo viên mớiviết đúng và đẹp theo chuẩn được từ đó mới hướng được dẫn học sinh viết đúng
và đẹp Chữ mẫu của giáo viên được coi như “Khuôn vàng, thước ngọc”, chuẩn
mực để học sinh noi theo Lứa tuổi của các em là lứa tuổi hay “bắt chước” và
làm theo mẫu Giáo viên viết như thế nào thì học sinh viết như thế Đặc biệt làhọc sinh lớp 1 Người giáo viên phải coi trọng việc trình bày trên bảng là trangviết mẫu mực của mình để học sinh học tập viết Tôi còn sưu tầm những bàiviết, vở viết sạch đẹp của học sinh những năm học trước để giới thiệu cho họcsinh học tập
Việc viết mẫu của giáo viên là một thao tác trực quan trên bảng lớp giúphọc sinh nắm bắt được quy trình từng nét của chữ cái Do vậy khi viết mẫu chohọc sinh tôi viết chậm lại đủ để cho học sinh quan sát, vừa viết vừa kết hợp nhịpnhàng với giảng giải, phân tích: Đặt bút từ điểm nào, rê bút như thế nào, đưabút vào vị trí nào, thứ tự các nét viết ra sao, dừng bút ở điểm nào? Tôi phân tích
cả cách viết dấu phụ, dấu thanh để học sinh dễ dàng nhận biết được cách viết
Tôi hướng dẫn cả về khoảng cách giữa các chữ ghi tiếng (bằng một con chữ o)
để học sinh không viết sát quá hoặc cách xa quá Đồng thời tư thế đứng viếtcủa giáo viên cũng phải hợp lý để học sinh quan sát được tay của cô khi viết
và theo dõi được cả quy trình viết chữ Khi hướng dẫn viết mẫu trên bảng lớplời nói của giáo viên phải nhẹ nhàng, gần gũi, chuẩn mực và dễ hiểu, tránhdùng các khái niệm khó hiểu hoặc cách nói mơ hồ không rõ ràng, nên dùngđúng các thuật ngữ cách gọi khi dạy viết chữ Tiếng Việt như: chữ ghi âm, chữghi vần, chữ ghi tiếng, chữ ghi từ Hướng dẫn tỉ mỉ cách viết từng con chữ,nét nối chính xác theo đúng quy định cho học sinh Không nên nói nôm, nóingọng, nói lộn xộn hoặc nói quá nhiều gây căng thẳng khó hiểu cho học sinh
2.3.1.1 Tập viết chữ (Chữ cái, chữ số, từ ngữ, câu) trên bảng lớp
Trang 8Hình thức tập viết trên bảng có tác dụng kiểm tra sự tiếp thu cách viết vàbước đầu đánh giá kỹ năng viết chữ của học sinh Hình thức này dùng để kiểmtra bài cũ hoặc sau bước giải thích cách viết chữ, bước luyện tập viết chữ ở lớp.
Từ đó, giáo viên phát hiện những chỗ sai của học sinh để uốn nắn (sai về kích
cỡ, hình dáng, thứ tự các nét viết)
2.3.1.2 Tập viết chữ vào bảng con của học sinh
Học sinh luyện tập viết bằng phấn vào bảng con trước khi viết vào vở.Học sinh có thể viết chữ cái, vần, chữ khó vào bảng Khi sử dụng bảng, giáoviên phải hướng dẫn học sinh cả cách lau bảng, cách giơ bảng, cách sử dụng vàbảo quản phấn…
Giáo viên cần hướng dẫn học sinh nhớ các đường kẻ trong bảng con vàtrong vở Tập viết Việc này cũng góp phần quan trọng trong việc nâng cao chấtlượng dạy viết chữ. 55
* Bảng con: Gồm 6 đường kẻ và 5 dòng kẻ
2.3.1.3 Luyện viết trong vở
Muốn cho học sinh sử dụng có hiệu quả vở tập viết, giáo viên cần hướngdẫn tỉ mỉ nội dung và yêu cầu về kĩ năng viết của từng bài (chữ mẫu, các dấuchỉ khoảng cách giữa các chữ, dấu chỉ vị trí đặt bút, thứ tự viết nét…) giúp các
em viết đủ, viết đúng số dòng đầu tiên ở mỗi phần bài viết
Chẳng hạn với nét khuyết xuôi, nét khuyết ngược, học sinh không rènviết ngay từ đầu thì dễ viết lệch, xấu sẽ dẫn đến những chữ được tạo bởi 2 nét
đó như: h, k, g, y cũng không được đẹp và đây cũng là 2 nét khó mà học sinh
thường lúng túng khi viết
2.3.2 Giải pháp thứ 2: Tích cực sử dụng đồ dùng dạy học trong phân môn Tập viết
Đồ dùng dạy học là yếu tố không thể thiếu trong quá trình dạy học Trongquá trình dạy học, học sinh nhận thức nội dung bài học dưới sự tổ chức dẫn dắtcủa giáo viên có sự hỗ trợ của các đồ dùng dạy học Tư duy của học sinh lớp 1chủ yếu từ trực quan cụ thể đến logic trừu tượng Đồ dùng dạy học giúp họcsinh khắc sâu các biểu tượng về chữ viết bằng nhiều con đường: mắt nhìn, tainghe, tay viết Qua đó sẽ chủ động phân tích hình dáng, kích thước, cấu tạo củachữ mẫu, tìm sự giống nhau và khác nhau giữa chữ cái đang học với chữ cái đãhọc Vì vậy đồ dùng dạy học đưa ra phải đảm bảo tính khoa học, đúng lúc, đúngchỗ, nhịp nhàng và phù hợp với nội dung bài dạy Tránh lạm dụng đồ dùng dạyhọc gây sự nhàm trán cho học sinh
Đồ dùng dạy - học trong môn dạy Tập viết lớp 1 là: Bảng con, phấntrắng, giẻ lau, vở Tập viết, vở Thực hành luyện viết của học sinh và bảng phụ
có kẻ ô li viết sẵn chữ mẫu của giáo viên, chữ mẫu trong khung chữ của bộ chữdạy Tập viết của giáo viên, hoặc chữ mẫu trong các bài giảng điện tử mà giáoviên đã cài đặt Việc sử dụng tốt các đồ dùng dạy học giúp học sinh tiếp thu
Trang 9kiến thức một cách nhẹ nhàng dễ hiểu, giáo viên không phải nói nhiều gây căngthẳng, nhàm chán trong giờ học.
Để giúp học sinh có kĩ năng, kĩ xảo sử dụng đồ dùng học tập đúng cách
và thành thạo đạt hiệu quả cao trong giờ Tập viết tôi thường hướng dẫn học sinhthực hiện theo yêu cầu của giáo viên
a Cách sử dụng đồ dùng dạy - học khi viết bảng con
- Bảng con phải luôn luôn được lau sạch sẽ bằng khăn lau sạch
- Học sinh viết bảng con: Yêu cầu ngồi viết đúng tư thế, cầm và điềukhiển phấn đúng cách, giơ bảng và xoá bảng theo các lệnh của giáo viên
Học sinh lớp 1D trường Tiểu học Đông Hải 1 trong giờ Tập viết
b Cách sử dụng đồ dùng dạy - học khi viết vở Tập viết hay Luyện viết
- Vở Tập viết, Luyện viết lớp 1 cần bọc bìa, dán nhãn vở, giữ gìn sạch sẽ,không để quăn mép, hoặc giây bẩn Khi viết chữ đứng học sinh cần để vở ngayngắn trước mặt Nếu tập viết chữ nghiêng (tự chọn) cần để vở hơi nghiêng saocho mép vở phía dưới cùng với mép bàn tạo thành một góc khoảng 150
- Bút chì dùng ở 8 tuần đầu lớp 1 cần được gọt cho cẩn thận đầu chìkhông quá nhọn hay dày quá để dễ viết rõ nét chữ
- Bút mực cần sử dụng loại bút có quản, ngòi bút nét thanh, nét đậm rađều mực Để tránh bẩn tay tôi thường hướng dẫn học sinh tỉ mỉ cách lấy mực,đậy nắp và lau sạch mực ở phần ngoài của bút bằng giấy lau thấm
2.3.3 Giải pháp thứ 3: Hướng dẫn học sinh thực hiện tốt nề nếp học tập, tư thế ngồi viết, cách cầm bút, để vở và cách trình bày bài viết
a Tư thế ngồi viết
Trang 10Để học sinh có thể tránh được một số bệnh học đường trong trường học
như: bệnh cong vẹo cột sống, bệnh cận thị… thì giáo viên phải luyện cho học
sinh có được một tư thế ngồi viết thật đúng, thật thoải mái:
- Lưng thẳng; không tì ngực vào bàn.
- Đầu hơi cúi, mắt cách vở 25-30cm
- Tay phải cầm bút, tay trái tì nhẹ lên mép vở để giữ
- Hai vai ngang bằng
- Hai chân để song song vuông góc với mặt đất, thoải mái
Học sinh mới vào lớp 1 chưa có khái niệm về đơn vị đo độ dài nên chưathể tự ước lượng được khoảng cách từ 25cm - 30cm nên tôi cho học sinh chốngcùi chỏ tay trên mặt bàn, ngửa bàn tay ra, áp trán vào sát lòng bàn tay để ướclượng khoảng cách mặt với vở và luôn giữ ở vị trí cố định như vậy khi viết, emnào quên có thể tự ước lượng lại được
Tư thế ngồi học đúng Tư thế ngồi học sai
b Hướng dẫn cách cầm bút đúng
Tay phải cầm chắc bút bằng 3 ngón tay (cái, trỏ, giữa) Đầu ngón trỏ cáchđầu ngòi bút chừng 2,5cm Mép bàn tay là điểm tựa của cánh tay phải khi đặtbút xuống bàn viết Lúc viết, điều khiển bút bằng các cơ cổ tay và các ngón tay
Trang 11Ở giai đoạn viết chì, cần chuẩn bị chu đáo cho đầu nét chì hơi nhọn đúngtầm nếu quá nhọn dẫn đến nét chữ quá mảnh, đôi khi còn chọc thủng giấy.Ngược lại, đầu nét chì quá “tù”, nét chữ quá to, chữ viết ra rất xấu.
Cầm bút xuôi theo chiều ngồi Góc độ bút đặt so với mặt giấy khoảng
450 Tuyệt đối không cầm bút dựng đứng 900 Đưa bút từ trái qua phải từ trênxuống dưới các nét đưa lên hoặc đưa sang ngang phải thật nhẹ tay, không ấnmạnh đầu bút vào mặt giấy
Cầm bút sai
c Cách để vở, xê dịch vở khi viết
Khi viết chữ đứng học sinh cần để vở ngay ngắn trước mặt Nếu tập viếtchữ nghiêng (tự chọn) cần để vở hơi nghiêng sao cho mép vở phía dưới cùngvới mép bàn tạo thành một góc khoảng 150 Khi viết độ nghiêng của nét chữcùng với mép bàn sẽ tạo thành một góc vuông 900 như vậy dù viết theo kiểu chữđứng hay chữ nghiêng, nét chữ luôn thẳng đứng trước mặt (chỉ khác nhau vềcách để vở) Khi viết xuống những dòng dưới, các em tự đẩy vở lên trên đểcánh tay luôn tì lên mặt bàn làm điểm tựa khi viết
- Mặt khác tôi phô tô gửi mỗi phụ huynh một bản hướng dẫn về tư thếngồi học, cách cầm bút, để vở Khuyên phụ huynh mua bảng chữ mẫu viếtthường của Bộ Giáo dục và Đào tạo để hướng dẫn học sinh luyện viết ở nhà
2.3.4 Giải pháp thứ 4: Dạy cho học sinh có kỹ thuật viết đúng, viết đẹp 2.3.4.1 Dạy học sinh viết đúng, viết đẹp thành thạo các nét cơ bản
Trước tiên tôi hướng dẫn học sinh nắm được các thuật ngữ dòng
kẻ:“Dòng kẻ ngang 1, ngang 2, ngang 3; ngang 4, ngang 5 Ô li 1, ô li 2…ô li
5 Đường kẻ ngang trên, ngang dưới của một ô li Dòng kẻ dọc 1, dòng kẻ dọc
2, … dòng kẻ dọc 5” trong vở ô li, Vở Tập viết, trên bảng con, bảng lớp Tiếp
theo tôi hướng dẫn cho học sinh nắm chắc và viết tốt các nét cơ bản của chữ.Nắm được tên gọi và cấu tạo của từng nét cơ bản bao gồm: Nét ngang, nét sổ,nét xiên trái, nét xiên phải, nét móc xuôi, nét móc ngược, nét móc hai đầu (là
Trang 12kết hợp của nét móc xuôi và nét móc ngược), nét cong hở phải, nét cong hở trái,
nét cong khép kín, nét khuyết trên, nét khuyết dưới, nét thắt Việc nắm chắc
cách viết, viết đúng, viết đẹp thành thạo các nét cơ bản sẽ nắm được cấu tạo củatừng chữ cái giúp cho việc nối các nét thành chữ cái sẽ dễ dàng hơn Sau đó tôidạy học sinh cách xác định toạ độ của điểm đặt bút và điểm dừng bút phải dựatrên khung chữ làm chuẩn Hướng dẫn học sinh hiểu điểm đặt bút là điểm bắtđầu khi viết một nét trong một chữ cái hay một chữ Điểm dừng bút là vị trí kếtthúc của nét chữ đa số điểm kết thúc ở 1/3 đơn vị chiều cao của thân chữ Riêng
đối với con chữ o vì là nét cong tròn khép kín nên điểm đặt bút trùng với điểm
dừng bút
Để chữ viết không bị rời rạc, đứt nét tôi nhấn mạnh hơn chỗ nối nét, nhắccác em viết đều nét, liền mạch đúng kĩ thuật
a Dạy cách rê bút: Là nhấc nhẹ đầu bút nhưng vẫn chạm vào mặt giấy
theo đường nét viết trước hoặc tạo ra vệt mờ để sau đó có nét viết khác đè lên.(Từ rê được hiểu theo nghĩa di chuyển chậm đều đều, liên tục trên bề mặt củagiấy, do vậy giữa đầu bút và mặt giấy không có khoảng cách)
b Dạy cách lia bút: Là dịch chuyển đầu bút từ điểm dừng này sang điểm
đặt bút khác, không chạm vào mặt giấy Khi lia bút, ta phải nhấc bút lên để đưanhanh sang điểm khác, tạo một khoảng cách nhất định giữa đầu bút và mặt giấy
Trong quá trình hướng dẫn học sinh về quy trình viết một chữ cái, rèn kĩthuật nối chữ, viết liền mạch người giáo viên cần lưu ý sử dụng các thuật ngữtrên cho chính xác
+ Ví dụ: Để giúp học sinh viết chữ m tôi hướng dẫn như sau:
- Nét 1: Đặt bút giữa đường kẻ 2 (ĐK 2) và đường kẻ 3 (ĐK 3), viết nét
móc xuôi trái chạm ĐK3, dừng bút ở ĐK 1
- Nét 2: Từ điểm dừng bút nét 1, rê bút lên gần ĐK 2 để viết tiếp nét móc
xuôi thứ hai có độ rộng bằng một ô li rưỡi; dừng bút ở ĐK 1
- Nét 3: Từ điểm dừng bút của nét 2, rê bút lên gần ĐK 2 để viết tiếp nét
móc hai đầu (độ rộng bằng nét 2); dừng bút ở ĐK2
c Các qui tắc cần tuân theo khi dạy phân môn Tập viết lớp 1
Khi dạy phân tập viết tôi luôn theo các qui tắc sau:
* Đảm bảo sự phối hợp đồng bộ của các bộ phận trên cơ thể trong việctham gia vào viết chữ
- Để thực hiện tốt các quy tắc này, tôi hướng học sinh phải biết nhắc lạicách để vở sao cho đúng, cách cầm bút, tư thế ngồi viết như thế nào là đúng