1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán quản trị tại Tổng công ty Xây dựng và phát triển hạ tầng

284 55 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 284
Dung lượng 10,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhóm công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài Luận án Phương hướng xây dựng hệ thống báo cáo Kế toán quản trị và tổ chức vận dụng vào các doanh nghiệp Việt Nam, 2002, của

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH

PHÙNG THỊ BÍCH HÕA

HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC

KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG VÀ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận án này là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Số liệu sử dụng trong Luận án hoàn toàn trung thực Những kết quả của Luận án chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào

Tác giả luận án

Phùng Thị Bích Hòa

Trang 3

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

22

1.1 KHÁI QUÁT TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

22

1.1.1 Khái quát Kế toán quản trị 22

1.1.2 Đặc điểm Kế toán quản trị trong Doanh nghiệp xây lắp 25

1.1.3 Vấn đề cơ bản tổ chức công tác Kế toán quản trị trong Doanh

nghiệp xây lắp

26

1.2 NỘI DUNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

30

1.2.1 Đặc điểm hoạt động Doanh nghiệp xây lắp ảnh hưởng đến tổ chức

công tác Kế toán quản trị

30

1.2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán Doanh nghiệp xây lắp 32

1.2.3 Tổ chức thu thập, ghi nhận thông tin Kế toán quản trị trong

Doanh nghiệp xây lắp

35

1.2.4 Tổ chức hệ thống hóa và xử lý thông tin Kế toán quản trị trong

Doanh nghiệp xây lắp

1.3 1 Các nhân tố bên trong Doanh nghiệp xây lắp 57

1.3 2 Các nhân tố bên ngoài Doanh nghiệp xây lắp 59

Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

TẠI TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG

2.1.2 Thông tin về kết quả hoạt động và chỉ tiêu phát triển 65

2.1.3 Đặc điểm hoạt động kinh doanh 69

2.1.4 Đặc điểm tổ chức công tác Kế toán tài chính 78

2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức công tác Kế toán quản trị 80

2.2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

TẠI TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG

81

Trang 4

2.2.1 Tổ chức bộ máy Kế toán quản trị 82

2.2.2 Thực trạng tổ chức thu thập, ghi nhận thông tin Kế toán quản trị 82

2.2.3 Thực trạng tổ chức hệ thống hóa và xử lý thông tin Kế toán quản

trị

92

2.2.4 Thực trạng tổ chức lập, phân tích thông tin Kế toán quản trị 103

2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN

QUẢN TRỊ TẠI TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN HẠ

DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG

116

3.1 ĐỊNH HƯỚNG, NGUYÊN TẮC VÀ YÊU CẦU HOÀN THIỆN TỔ

CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI TỔNG CÔNG TY

XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG

116

3.1.1 Định hướng hoàn thiện 116

3.1.2 Nguyên tắc hoàn thiện 118

3.1.3 Yêu cầu hoàn thiện 119

3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN

QUẢN TRỊ TẠI TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN HẠ

3.2.2 Hoàn thiện tổ chức thu thập, ghi nhận thông tin Kế toán quản trị 123

3.2.3 Hoàn thiện tổ chức hệ thống hóa và xử lý thông tin Kế toán quản

trị

127

3.2.4 Hoàn thiện tổ chức lập, phân tích thông tin Kế toán quản trị 136

3.3 ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP 140 3.3.1 Về phía cơ quan quản lý Nhà nước 140

3.3.2 Về phía Tổng công ty Xây dựng và phát triển hạ tầng 142

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Đầy đủ

Trang 6

TT Tên Bảng Trang

cho Tổng Công ty

85

Khai

101

dựng và phát triển hạ tầng

128

Trang 7

25 Bảng 3.3 Mã danh điểm Hàng tồn kho 133

2016

137

Trang 8

TT Tên Sơ đồ Trang

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Nghiên cứu

KTQT đã và đang đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và Doanh nghiệp xây lắp nói riêng Tất cả các thông tin

mà KTQT cung cấp sẽ là yếu tố then chốt giúp nhà quản lý hoạch định công việc giám sát và điều hành doanh nghiệp một cách hiệu quả nhất Có rất nhiều cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế Các tổ chức này

có thể rất khác nhau về vai trò, sứ mệnh, mục tiêu tuy nhiên bất cứ một tổ chức nào cũng có đặc điểm chính là đều đưa ra mục tiêu hoạt động và chiến lược hoạt động cụ thể mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa doanh thu, giảm tối thiểu chi phí

và tăng tối đa lợi nhuận; Mục tiêu quản trị, mọi nhà quản lý đều cần thông tin để điều hành, kiểm soát hoạt động của tổ chức Tổ chức với quy mô càng lớn thì nhu cầu thông tin cho quản lý đó càng nhiều Thách thức đặt ra là làm thế nào nhà quản trị công ty nắm bắt thông tin quản trị và đưa ra các quyết định tài chính tối ưu nhất? Các nhà quản trị khi đó sẽ xây dựng cho mình hệ thống thông tin kế toán để phục vụ cho việc kiểm soát hoạt động ra quyết định quản trị doanh nghiệp Vì thế hiểu rõ về nội dung của KTQT để từ đó triển khai các nội dung tổ chức công tác KTQT thực sự là vấn đề rất quan trọng, có ý nghĩa quan trọng đối với các Doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay, đó là xu thế mới trong ngành kế toán trước sự thay đổi của khoa học công nghệ Trước đây các kế toán viên thường dành 80% - 90% thời lượng công việc cho các nghiệp vụ kế toán hàng ngày như ghi chép sổ sách, đối chiếu giao dịch, lập sổ, theo dõi và quản lý tồn kho, định khoản, lập báo cáo tài chính…Thì ngày nay mọi chuyện đã trở nên rất khác, với việc ra đời các phần mềm kế toán, các ứng dụng tài chính như CRM, ERP đã giúp tiết kiệm rất nhiều thời gian cho các kế toán viên Đồng thời, xu thế mới đang dần hình thành khi nghề kế toán trở thành một nghề thiên nhiều đến quản trị thông tin tài chính

Sự cần thiết về mặt lý luận

Hệ thống hóa và trình bày một cách logic về tổ chức công tác KTQT là thực sự cần thiết nhằm làm cơ sở để tiếp cận và trình bày các vấn đề thực trạng, cũng như đưa ra các giải pháp hoàn thiện tại Licogi Qua tìm hiểu đã có nhiều

Trang 10

công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến KTQT tại các doanh nghiệp, nhưng tuy nhiên, những vấn đề lý luận về tổ chức công tác KTQT trong loại hình các Doanh nghiệp xây lắp, như Tổng công ty xây lắp theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con là chưa có Đặc biệt nội dung và cách thức tổ chức công tác KTQT ngày càng thay đổi trong điều kiện phát triển của công nghệ bổ sung, cũng như việc hoàn thiện và trình bày logic hơn nhằm phù hợp với đặc điểm từng loại hình doanh nghiệp

Sự cần thiết về mặt thực ti n

Các nhà quản lý thực hiện các chức năng cơ bản gắn liền với vai trò và

mục tiêu của KTQT Cụ thể đó là, (i) lập kế hoạch,để xây dựng kế hoạch nhà

quản trị thường phải dự đoán, phán đoán kết quả của các chỉ tiêu kinh tế sẽ xảy ra dựa trên những cơ sở khoa học có sẵn; (ii) tổ chức và điều hành các hoạt động Chức năng này nhằm truyền đạt các chỉ tiêu kế hoạch đã xây dựng cho các bộ phận trong Doanh nghiệp và tổ chức hoạt động tại các bộ phận theo như kế hoạch Đồng thời, yêu cầu nhà quản lý phải liên kết các bộ phận với nhau, sử dụng nguồn lao động hợp lý nhằm khai thác tối đa các yếu tố của quá trình sản xuất để đạt được các mục tiêu đã dự định; (iii) kiểm tra và đánh giá các kết quả thực hiện,căn cứ vào các chỉ tiêu của các kết quả thực hiện đối chiếu với các kế hoạch đã xây dựng để kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện kết quả của Doanh nghiệp Qua đó, phân tích và thu nhận các thông tin phục vụ cho quá trình kinh doanh tiếp theo Thực chất là so sánh sự khác nhau giữa thực hiện với kế hoạch đã xây dựng, từ đó xác định các nguyên nhân ảnh hưởng để điều chỉnh quá trình thực hiện của từng người, từng bộ phận nhằm đạt được các mục tiêu tối ưu;

(iv) ra quyết định,đây là chức năng cơ bản nhất của thông tin KTQT Ra quyết

định là công việc thường xuyên của các nhà quản trị ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng của Doanh nghiệp Việc ra quyết định thường dựa trên cơ sở tổng hợp nhiều nguồn thông tin khác nhau, nhưng trong đó thông tin KTQT thường giữ vai trò

có tính chất quyết định và độ tin cậy cao

Licogi được hình thành và phát triển qua thời gian dài, chuyển đổi từ Tổng Công ty xây dựng và phát triển hạ tầng-Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên theo Quyết định số 2243/QĐ-TTg ngày 11/12/2014 của Thủ tướng

Trang 11

Chính phủ phê duyệt phương án cổ phần hóa Công ty mẹ-Tổng Công ty Xây dựng và phát triển hạ tầng Từ Ngày 31/12/2015 Tổng công ty đăng ký hoạt động theo mô hình công ty cổ phầnvà hoạt động theo mô hình Công ty mẹ-Công ty con Vì thế, các yêu cầu hoàn thiện về cơ cấu tổ chức, quy trình quản lý đang được triển khai một cách triệt để Đồng thời, thực tế tổ chức công tác KTQT tại Licogi chưa được thực hiện một cách đầy đủ, khoa học và hệ thống, tức là khi nhà quản lý tại Tổng công ty cần các thông tin hữu ích phục vụ cho việc đưa ra các quyết định kinh doanh thì KTQT chưa cung cấp thông tin đáp ứng được các yêu cầu quản lý Do đó, tổ chức công tác KTQT cần được tăng cường vận dụng tại Tổng Công ty đối với từng cấp lãnh đạo cấp cao tại Công ty mẹ, lãnh đạo cấp trung là quản lý các Công ty Cổ phần và lãnh đạo cấp thấp và các tổ, đội xây dựng

Xuất phát từ những lý do nêu trên, Nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề

tàiHoàn thiện tổ chức công tác kế toán quản trị tại Tổng Công ty xây dựng và

phát triển hạ tầngđể thực hiện Luận án

2 Tổng quan những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Các công trình nghiên cứu liên quan đến tổ chức công tác KTQT đượctổng hợp theo thứ tự thời gian tăng dần và có sự tách biệt giữa công trình Nghiên cứu trong nước và công trình nghiên cứu nước ngoài để làm nổi rõ những khoảng trống nghiên cứu cũng như xác định những bài học kinh nghiệm được rút

ra mà Việt Nam cần thiết phải học Cụ thể:

2.1 Nhóm công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài

Luận án Phương hướng xây dựng hệ thống báo cáo Kế toán quản trị và tổ

chức vận dụng vào các doanh nghiệp Việt Nam, 2002, của Tác giả Phạm

Quang[25], đã đưa ra các nguyên tắc cơ bản để xây dựng và tổ chức vận dụng hệ thống báo cáo KTQT vào các doanh nghiệp Việt Nam; Xây dựng các khái niệm

về thu nhập, chi phí, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp; xây dựng hệ thống

báo cáo KTQT

Năm 2002, Luận án Tổ chức Kế toán quản trị và giá thành trong doanh

nghiệp sản xuất ở Việt Nam[5], Tác giả Trần Văn Dung,luận án nên được bản

chất của KTQT trong việc cung cấp thông tin, hệ thống hóa và phân tích làm rõ

Trang 12

cơ sở lý luận về tổ chức KTQT chi phí và giá thành trong các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam, tác giả đã đưa ra các giải pháp hoàn thiện KTQT và giá thành trong doanh nghiệp sản xuất; phân tích hệ thống kế toán chi phí, tổ chức KTQTphối hợp với kế toán tính giá thành cho doanh nghiệp sản xuất từ đó từng bước đưa KTQT vào công tác kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất Tuy nhiên, hiện nay các doanh nghiệp sản xuất rất đa dạng và nghiên cứu chỉ tập trung vào các doanh nghiệp Nhà nước do đó nghiên cứu mang tính chung cho các doanh nghiệp sản xuất mà chưa phân loại doanh nghiệp theo ngành nghề cụ thể

Năm 2002, Luận án Tổ chức Kế toán quản trị chi phí và kết quả kinh

doanh ở các doanh nghiệp kinh doanh Du lịch[39],Tác giả Phạm Thị Kim Vân,

luận án đã làm rõ bản chất, mục tiêu và phương pháp củaKTQTchi phí và kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói chung và kinh doanh

du lịch nói riêng tại thời điểm lúc bấy giờ; đánh giá thực trạng kế toán chi phí và kết quả kinh doanh, đánh giá thực trạng của KTQT trong doanh nghiệp kinh doanh du lịch Việt Nam để từ đó xác định phương hướng xây dựng mô hình tổ chức KTQT chi phí và kết quả kinh doanh dịch vụ du lịch Tuy nhiên, vì mô hình

hệ thống KTQT ở các doanh nghiệp rất rộng nên luận án chỉ tập trung chủ yếu nghiên cứu những nội dung cơ bản để hoàn thiện mục tiêu và phạm vi KTQT; hoàn thiện tổ chức KTQT chi phí và kết quả kinh doanh; hoàn thiện tổ chức phân tích chi phí và kết quả kinh doanh trong phạm vi nghiên cứu các doanh nghiệp du lịch thuộc sở hữu Nhà nước

Năm 2002, Luận án Kế toán quản trị và phân tích chi phí sản xuất trong

ngành sản xuất công nghiệp ở Việt Nam[35],Tác giả Lê Đức Toàn, luận án

nghiên cứu đánh giá thực trạng KTQT và phân tích chi phí của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp từ đó xây dựng mô hình KTQT và phân tích chi phí, hoàn thiện dự toán chi phí, phân tích đánh giá tình hình tài chính theo biến động của các yếu tố, phân tích trung tâm phí, trung tâm trách nhiệm Tuy nhiên, luận án chỉ tập trung vào mối liên hệ phân tích chi phí sản xuất với KTQT trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp ở phạm vi rộng

Năm 2002, Luận án Tổ chức Kế toán quản trị và phân tích kinh doanh

trong doanh nghiệp nhà nước[40], tác giả Giang Thị Xuyến, luận án nghiên cứu

Trang 13

KTQT trong mối quan hệ với phân tích hoạt động kinh doanh doanh nghiệp nhà nước từ đó đánh giá tổng thể về tình hình doanh nghiệp để đưa ra các quyết định tương lai của doanh nghiệp Tác giả đã đi sâu phân tích thực trạng tổ chức KTQT

và phân tích kinh doanh trong các doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam trong đó nêu lên thực trạng hoạt động và tổ chức quản lý, thực trạng tổ chức KTQT, thực trạng phân tích kinh doanh, thực trạng tổ chức KTQT một số nước trên thế giới

từ đó đưa ra lý do cần thiết và giải pháp hoàn thiện KTQT và phân tích kinh doanh trong doanh nghiệp Nhà nước tại thời điểm này Giải pháp đã đưa ra hai nội dung cơ bản để hoàn thiện tổ chức KTQT là hoàn thiện bộ máy kế toán và hoàn thiện tổ chức thu nhận, xử lý, hệ thống hóa và cung cấp thông tin KTQT Tuy nhiên, luận án tập trung chủ yếu nghiên cứu các chỉ tiêu, phương pháp sử dụng trong phân tích hoạt động kinh doanh và chưa thể hiện rõ nét về tổ chức KTQT và chỉ gói gọn trong phạm vi các doanh nghiệp Nhà nước

Năm 2004, Xây dựng hệ thống kế toán quản trị trong các doanh

nghiệp Dệt Việt Nam[36],Tác giả Dương Thị Mai Hà Trâm, luận án đã phân biệt

rõ phạm vi và nội dung của KTQT trong doanh nghiệp; hình thành các chỉ tiêu báo cáo thuộc KTQT trong doanh nghiệp dệt; xây dựng hệ thống KTQT gồm hệ thống chứng từ, sổ KTQT, báo cáo nội bộ; đưa ra mô hình tổ chức KTQT trong các loại hình doanh nghiệp dệt: quy mô lớn, quy mô vừa và nhỏ Luận án chỉ đưa

ra mô hình quản lý chung, chưa phản ánh hết các yếu tố chi phí, yếu tố sản xuất

Năm 2004, Luận án Tổ chức kế toán ở các trường Đại học trực thuộc Bộ

giáo dục và đào tạo[15],Tác giả Nguyễn Thị Minh Hường,luận án tác giả đã

trình bày, cơ sở lý luận, thực trạng tổ chức kế toán ở các trường Đại học trực thuộc Bộ Giáo dục và đào tạo đến thời điểm năm 2004 Với nội dung này tác giả đã khảo sát 198 trường Đại học và cao đẳng trên cả nước Tuy nhiên, tác giả trình bày các đặc điểm cơ bản quyết định đến tổ chức kế toán tại các trường Đại học này là các đặc điểm của trường Đại học sử dụng Ngân sách nhà nước Chính vì vậy thực trạng tổ chức công tác kế toán ở các trường Đại học trực thuộc Bộ Giáo dục và đào tạo cũng theo chế độ kế toán hành chính sự nghiệp của các đơn vị sự nghiệp có thu Trên cơ sở phân tích thực trạng trên tác giả đã đưa ra các giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán của các trường Đại học trực

Trang 14

thuộc Bộ giáo dục và đào tạo cũng trên phương diện là đơn vị hành chính sự nghiệp chứ không chú trọng đến việc tự chủ tài chính của mô hình các trường Đại học ngoài công lập

Năm 2007, Luận án Tổ chức Kế toán quản trị doanh thu và kết quả kinh

doanh trong doanh nghiệp vừa và nhỏ[38],Tác giả Nguyễn Vũ Việt, luận án đã

hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về KTQT, KTQT doanh thu và Kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng; đánh giá thực trạng tổ chức công tác KTQT doanh thu, Kết quả kinh doanh tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam từ đó đưa ra những định hướng, yêu cầu, nguyên tắc và mục tiêu hoàn thiện tổ chức KTQT doanh thu, chi phí và Kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ Đồng thời đưa ra các giải pháp hoàn thiện cụ thể theo từng nội dung tổ chức công tác KTQT doanh thu, chi phí và Kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Năm 2007, Xây dựng mô hình Kế toán quản trị chi phí cho các doanh

nghiệp sản xuất dược phẩm Việt Nam[33],Tác giả Phạm Thị Thủy, luận án đã đi

sâu nghiên cứu chế độ kế toán chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam qua các thời kỳ và đánh giá thực trạng kế toán chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm Việt Nam Luận án đã xây dựng mô hình KTQT chi phí cho các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm Việt Nam trong đó tăng cường kiểm soát chi phí thông qua việc phân loại chi phí, lập dự toán chi phí, phân tích biến động chi phí, xác định quy mô hợp lý cho từng lô sản xuất Tác giả đã đưa ra các điều kiện

để có thể thực hiện được mô hình KTQT chi phí này trong các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm Việt Nam, đó là cần có sự kết hợp của cả Nhà nước, doanh nghiệp, Bộ Tài chính và các hội nghề nghiệp Luận án chỉ tập trung nghiên cứu nội dung KTQT chi phí, chưa đề cập đến tổ chức hệ thống thông tin KTQT chi phí

Luận án Xây dựng Kế toán quản trị trong các doanh nghiệp sản xuất ở

Việt Nam, 2008, Tác giả Huỳnh Lợi[18],đã làm rõ các vấn đề lý luận và tổ chức

thực hiện KTQT; từ thực tế khảo sát 250 doanh nghiệp sản xuất, đã đánh giá tình hình áp dụng KTQT, nêu ra những tồn tại, các nguyên nhân cơ bản đồng thời khẳng định yêu cầu phải xây dựng KTQT đáp ứng yêu cầu của nhà quản lý

Trang 15

Đồng thời, luận án cũng đã đề xuất các giải pháp về xây dựng mô hình và cơ chế vận hành KTQT trong các doanh nghiệp sản xuất với các quy mô khác nhau Nhưng luận án cũng chưa làm rõ KTQT theo chức năng và theo từng khâu công việc; còn nặng trong phân tích kỹ thuật và chưa gắn kết giữa tổ chức công việc và

tổ chức nhân sự để thực hiện từng khâu công việc trong KTQT; mô hình và cơ chế vận hành chưa áp dụng thử nghiệm ở doanh nghiệp cụ thể

Năm 2010, Tổ chức Kế toán quản trị với việc tăng cường quản lý hoạt

động kinh doanh trong các doanh nghiệp xây lắp Việt Nam[27], tác giả Hoàng

Văn Tưởng Để hoàn thiện tổ chức KTQT với việc tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp xây lắp Việt Nam, tác giả đã đưa ra các yêu cầu cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác thông tin kinh tế tài chính cho nhà quản trị; hoàn thiện cơ chế quản lý của doanh nghiệp xây lắp; phù hợp với chính sách quản lý tài chính đã ban hành để đảm bảo tính hiệu lực; đảm bảo tính khả thi và

có hiệu quả; hướng tới sự hội nhập và phát triển kinh tế của Việt Nam Đồng thời, tác giả đưa ra sáu giải pháp cụ thể như hoàn thiện việc xây dựng hệ thống định mức chi phí và hệ thống dự toán ngân sách; hoàn thiện việc tổ chức KTQT các yếu tố sản xuất; hoàn thiện tổ chức KTQT chi phí; hoàn thiện việc tổ chức kế toán trách nhiệm; hoàn thiện tổ chức hệ thống báo cáo KTQT; hoàn thiện về mô hình tổ chức bộ máy KTQT Bên cạnh đó, luận án cũng đã đưa ra ba điều kiện cơ bản để hoàn thiện tổ chức KTQT trong các doanh nghiệp xây lắp Việt Nam Tuy nhiên, luận án nghiên cứu và áp dụng cho các doanh nghiệp đặc thù xây lắp lúc bấy giờ và tập trung chủ yếu vào các Tổng công ty như Tổng công ty xây dựng

và Xuất nhập khẩu Việt Nam (VINACONEX), Tổng công ty đầu tư và phát triển nhà đô thị (HUD), Tổng công ty xây dựng công nghiệp Việt Nam (VINAINCON)

Luận án Xây dựng nội dung và tổ chức Kế toán quản trị cho các doanh

nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam, 2010, Tác giả Phạm Ngọc Toàn[34], đã trình bày

và làm rõ hệ thống lý luận của KTQT và kinh nghiệm tổ chức KTQT trên thế giới để rút ra bài học kinh nghiệm cho các Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Số liệu khảo sát thực tế 140 doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như kế hợp nghiên cứu kinh nghiệm KTQT các nước, luận án đã đề xuất vận dụng KTQT phù hợp

Trang 16

với từng loại hình doanh nghiệp Nhỏ và vừa, siêu nhỏ; cũng như sự đồng nhất giữa KTTC và KTQT phù hợp với quy mô và đặc điểm hoạt động Tuy nhiên,

luận án chưađưa ra được các giải pháp cụ thể về việc vận dụng vào thực tế

Năm 2012, Luận án Tổ chức Kế toán quản trị chi phí vận tải hàng hóa

trong các công ty vận tải đường bộ Việt Nam[17],tác giả Nguyễn Thị Ngọc Lan

Trên cơ sở phân tích các đặc điểm và thực trạng tổ chức KTQT chi phí vận tải hàng hóa trong các Công ty vận tải đường bộ Việt Nam, tác giả đã nêu lên các nguyên tắc và yêu cầu để hoàn thiện tổ chức KTQT chi phí vận tải hàng hóa trong các Công ty vận tải đường bộ Việt Nam Đồng thời đưa ra hai điều điện cụ thể để thực hiện và ba giải pháp như hoàn thiện tổ chức bộ máy KTQT chi phí; hoàn thiện tổ chức thu nhận thông tin ban đầu về KTQT chi phí; hoàn thiện tổ chức, phân tích, xử lý và cung cấp thông tin về KTQT chi phí Luận án chỉ đưa ra

mô hình quản lý chung và áp dụng đặc thù cho các Công ty vận tải đường bộ

Năm 2012, Luận án Hoàn thiện tổ chức công tác trong các bệnh viện trực

thuộc Bộ Y tế của Việt Nam[14],Tác giả Lê Thị Thanh Hương, luận án tác giả hệ

thống hoá cơ sở lý luận về tổ chức công tác kế toán trong đơn vị dịch vụ công có thu gắn với cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng tổ chức công tác kế toán trong các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế ở Việt Nam Vận dụng lý luận để đánh giá thực trạng tổ chức công tác kế toán trong các bệnh viện trực thuộc Bộ

Y tế, tác giả đề ra các yêu cầu, quan điểm và giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế ở Việt Nam cũng như điều kiện thực hiện các giải pháp đưa ra

Năm 2012, Luận án Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng đến

chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng Công nghệ hoạch định nguồn lực doanh nghiệp ERP tại các doanh nghiệp Việt Nam, TS Nguyễn Bích

Liên [19], đã phân tích các khái niệm chất lượng thông tin kế toán, quản lý chất lượng toàn bộ và mô hình thực "hiện sản phẩm và dịch vụ cho chất lượng thông tin" PSP/IQ, mô hình liên quan hệ thống thông tin để giải quyết các lý luận về phương pháp xác định các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ERP Đồng thời, đã sử dụng các tiếp cận mới trong xác định nhân tố

Trang 17

ảnh hưởng, là phân tích dựa trên mô hình "hệ thống hoạt động" để có một cái nhìn toàn diện, logic, rõ ràng vấn đề nghiên cứu Kết quả phân tích nhân tố khám phá EF đã xác định được các nhân tố mới và thang đo nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng ERP tại Doanh nghiệp Việt Nam, kết quả này là nền tảng giúp phát triển các mô hình nghiên cứu tác động qua lại giữa các nhân tố dễ dàng hơn

Năm 2013, Luận án Xây dựng mô hình Kế toán quản trị trong các công ty

cổ phần chuyển phát nhanh thuộc tập đoàn bưu chính vi n thông Việt Nam[13],

Tác giả Ngụy Thu Hiền, luận án đã hệ thống hóa và làm sáng rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về KTQT Trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp xây dựng và vận dụng

mô hình KTQTtrong Doanh nghiệp chuyển phát nhanh bưu điện thuộc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam Tuy nhiên, luận án mới đưa ra mô hình KTQT

dành cho các công ty chuyển phát nhanh bưuđiện

Năm 2015, Luận án Tổ chức công tác Kế toán quản trị trong các Doanh

nghiệp thuộc Tổng công ty công nghiệp ô tô Việt Nam[23],Tác giả Phạm Thị

Tuyết Minh, luận án đã hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ

chức công tác KTQT và tác giả đã làm rõ được nội dung tổ chức công tác KTQT phù hợp với quy mô của các Doanh nghiệp công nghiệp cụ thể là 12 Công ty ô tô tác giả đã phân tích thực trạng và đưa ra được các giải pháp cho các Công ty ô tô

có tầm nhìn xa và cụ thể chi tiết về nhiều góc độ Tác giả tiếp cận cách tổ chức

hệ thống thông tin KTQT theo chức năng quản trị cũng như nội dung thông tin cần quản lý bao gồm tổ chức xây dựng định mức và dự toán ngân sách; tổ chức thu nhận thông tin ban đầu; hệ thống hóa và xử lý thông tin kế toán; tổ chức lập báo cáo KTQT, phân tích và cung cấp thông tin KTQT trong các Doanh nghiệp sản xuất và đưa ra được các giải pháp và kiến nghị để hoàn thiện tổ chức công tác KTQT trong các Doanh nghiệp thuộc Tổng công ty công nghiệp ô tô

Luận án Tổ chức hệ thống Kế toán quản trị trong các doanh nghiệp chế

biến thủy sản, 2016, của Tác giả Nguyễn Bích Hương Thảo[31],đã góp phần làm

sáng tỏ hơn các vấn đề lý luận về tổ chức hệ thống hóa KTQT trong các doanh nghiệp sản xuất; tiến hành nghiên cứu, khảo sát và đánh giá thực trạng về tổ chức

hệ thống KTQT trong các Doanh nghiệp chế biến thủy sản và phân tích, đánh giá

Trang 18

thực trạng tổ chức hệ thống KTQT tại các doanh nghiệp này; Đề xuất các giải pháp hoàn thiện về tổ chức bộ máy KTQT; Hoàn thiện tổ chức hệ thống thông tin KTQT phù hợp với đặc điểm, điều kiện của doanh nghiệp và cung cấp thông tin hữu ích đáp ứng yêu cầu của nhà quản trị

Năm 2016, Luận án Hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán tại các doanh

nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam,Tác giả Đặng Thị Thúy Hà

[10],Luận án đã đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận với 05 yếu tố cấu thành nên hệ thống thông tin kế toán đó là con người; hệ thống Chứng từ, Sổ và báo cáo kế toán; các chu trình kế toán; cơ sở hạ tầng Công nghệ thông tin và Kiểm soát nội bộ Trên cơ sở đánh giá các tồn tại, luận án đã đề xuất 05 nhóm khuyến nghị nhằm hoàn thiện Hệ thống thông tin kế toán trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics, bao gồm nhóm khuyến nghị về hoàn thiện yếu tố con người; nhóm khuyến nghị vi mô về tổ chức, cơ cấu tổ chức; nhóm khuyến nghị

về hoàn thiện hệ thống Chứng từ-tài khoản và Sổ kế toán; nhóm khuyến nghị về hoàn thiện các chu trình kế toán nhằm phục vụ kiểm soát đầu ra, các hoạt động phát sinh trong chu trình; nhóm khuyến nghị đẩy mạnh áp dụng phần mềm kế toán và cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin như áp dụng mô hình quản lý “cơ sở

dữ liệu tập trung”, triển khai ứng dụng giải pháp ERP (hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp); nhóm khuyến nghị hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội

bộ để phù hợp với mục tiêu của tổ chức, xác định rủi ro hiện hữu và tiềm ẩn…

Năm 2016, Luận án Hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán trong các Công

ty cổ phần Xây lắp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Tác giả

Nguyễn Thị Thu Thủy [32],đã khẳng định hệ thống thông tin kế toán là một hệ thống trong hệ thống thông tin quản lý của doanh nghiệp; tạo ra kênh thông tin hữu ích bao gồm KTTC và KTQT đối với các chủ thể kinh tế trong và ngoài doanh nghiệp với quá trình ra quyết định trong một môi trường sản xuất kinh doanh ngày càng nhiều biến đổi và cạnh tranh gay gắt; Chỉ ra và đi sâu nghiên cứu các yếu tố cấu thành hệ thống thông tin kế toán theo quy trình xử lý trên quản điểm tiếp cận hệ thống bao gồm 05 yếu tố và mối quan hệ giữa các yếu tố này để thực hiện mục tiêu tổng quản của hệ thống thông tin kế toán là hệ thống thu nhận thông tin kế toán; hệ thống xử lý thông tin kế toán; hệ thống quản trị cơ

Trang 19

sở dữ liệu; kiểm soát hệ thống và hệ thống cung cấp thông tin kế toán Trong đó, mỗi yếu tố đều được nghiên cứu theo nội dung KTTC và KTQT

các Doanh nghiệp chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên[22],Tác giả Trần Thị

Nhung, luận án đã hệ thống hoá và làm rõ hơn lý luận về Hệ thống thông tin KTQT trong Doanh nghiệp, vai trò của Hệ thống thông tin KTQT đối với nhu cầu thông tin theo từng cấp độ quản lý trong Doanh nghiệp; Luận án phân loại cấu trúc Hệ thống thông tin KTQT theo các tiêu thức khác nhau, trên cơ sở đó, tác giả tìm ra điểm chung của các cách phân loại trên, nghiên cứu sâu cấu trúc

Hệ thống thông tin KTQT theo tiến trình cung cấp thông tin của hệ thống Vai trò cung cấp thông tin của hệ thống lần lượt được thể hiện qua tiến trình cung cấp thông tin; qua chức năng Hệ thống thông tin KTQT Luận án nghiên cứu và đánh giá kinh nghiệm vận dụng Hệ thống thông tin KTQT tại một số quốc gia trên thế giới như Mỹ, Pháp, Nhật, Trung Quốc và đặc biệt là những quốc gia có điều kiện đặc điểm kinh tế gần giống Việt Nam như Malaysia, Singapore Từ đó tác giả rút ra bài học cho Doanh nghiệp Việt Nam đặc biệt là Doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa về công tác xây dựng Hệ thống thông tin KTQT theo tiến trình cung cấp thông tin (phân hệ thu thập - phân hệ xử lý - phân hệ cung cấp - phân hệ lưu trữ).Đồng thời,luận án phân tích rõ đặc điểm của Doanh nghiệp chè ảnh hưởng đến Hệ thống thông tin KTQT trong Doanh nghiệp chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, trong đó, tác giả đề cập sâu đến các đặc điểm là nhu cầu thông tin cho quản trị, trình độ tổ chức quản lý và khả năng thiết kế hệ thống trong doanh nghiệp chè; Luận án đánh giá thực trạng Hệ thống thông tin KTQT tại các Doanh nghiệp chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên thông qua kết quả điều tra trực tiếp và phiếu khảo sát; Luận án đã chỉ rõ sự cần thiết, yêu cầu, nguyên tắc hoàn thiện Hệ thống thông tin KTQT tại các Doanh nghiệp chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; Luận án đã đi sâu nghiên cứu, đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện Hệ thống thông tin KTQT tại các Doanh nghiệp chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên theo hướng đáp ứng những yêu cầu và nguyên tắc hoàn thiện phù hợp với điều kiện và đặc điểm của các Doanh nghiệp chè trên địa bàn

tỉnh Thái Nguyên

Trang 20

Năm 2016, Luận án Các nhân tố tác động đến việc vận dụng Kế toán

quản trị trong các Doanh nghiệp Nhỏ và vừa tại Việt Nam, của TS Trần Ngọc

Hùng [11]đã trình bày các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQT trong các Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam và đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến việc vận dụng KTQT trong các Doanh nghiệp Nhỏ và vừa tạiViệt Nam bằng phương pháp định tính và định lượng Luận án cũng trình bày việc vận dụng KTQT trong các Nhỏ và vừa tại một số quốc gia và khu vực, rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc vận dung KTQT trong các Nhỏ và vừa tại Việt Nam Từ đó, thông qua kết quả nghiên cứu, luận án đã đề xuất các giải pháp đồng bộ để góp phần làm gia tăng tính khả thi của việc vận dụng KTQT trong các Doanh nghiệp Nhỏ và vừa tại Việt Nam

Năm 2016, bài hội thảo Những yếu tố ảnh hưởng tới việc thiết kế hệ thống

Kế toán quản trị chi phí của các Công ty da giầy Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam tham gia TTP, Tác giả Nguyễn Văn Hải, Vũ Mạnh Chiến [16], đã trình bày

mô hình hồi quy OLS với mô hình nghiên cứu đề xuất làtổ chức KTQT chi phí bằng (=)α+ β1 (BCKD) + β 2 (CN) + β 3 (CNQLCDN) + ei Vớicác biến được diễn giải và đo lường thể hiện trên thang đo Likert 5 điểm, để đánhgiá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến việc tổ chức KTQT chi phí Đồng thời, đưa ra các khuyến nghị về tác động mạnh nhất của yếu tố chức năng quản lý, các doanh nghiệp Da Giầy Việt Nam muốn xây dựng hệ thống KTQT chi phí tốt, phù hợp, cần xuất phát đầu tiên từ nhu cầu của những nhà quản lý bên trong doanh nghiệp Đặc biệt, trong bối cảnh gia nhập TPP, nhiều quyết định sẽ cần những thông tin sâu sắc từ hệ thống KTQT chi phí này mang lại Với tình trạng chậm áp dụng KTQT trong các doanh nghiệp của Việt Nam nói chung và Da Giầy nói riêng, vấn đề này cần được nghiên cứu và triển khai sớm nhằm đem lại lợi ích cho doanh nghiệp cũng như hạn chế các rủi ro trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Da Giầy ViệtNam Hai yếu tố bối cảnh kinh doanh và Công nghệ

có mức độ tác động khá thấp đến thiết kế tổ chức hệ thống KTQT chi phí Phản ánh nhận thức của các doanh nghiệp Da Giầy còn coi nhẹ công tác vận dụng KTQT

Trang 21

Năm 2017, Luận án Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán ở các trường Đại

học ngoài công lập của Việt Nam trên địa bàn Hà Nội, Tác giả Hoàng Thị

Phương Lan [20], luận ángóp phần hệ thống hóa và luận giải rõ hơn cơ sở lý luận về tổ chức công tác kế toán tại các trường Đại học ngoài công lập của Việt Nam xuất phát từ nhu cầu sử dụng thông tin kế toán Phân tích cơ sở và các nhân

tố chi phối đến tổ chức công tác kế toán của đơn vị kế toán; đưa ra nguyên tắc và nội dung tổ chức công tác kế toán tại đơn vị kế toán; Phân tích đặc điểm, mô hình và các nhân tố chi phối đến tổ chức công tác kế toán của các trường Đại học ngoài công lập của Việt Nam trên địa bàn Hà Nội, là các đơn vị kinh doanh dịch

vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học Nghiên cứu khách quan và đánh giá thực trạng tổ chức công tác kế toán tại các trường Đại học ngoài công lập của Việt Nam trên địa bàn Hà Nội Trên cơ sở lý luận và thực trạng cùng bài học kinh nghiệm về tổ chức công tác kế toán của một số trường Đại học ngoài công lập quốc tế tại Việt Nam tác giả đề xuất các giải pháp cụ thể để hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các trường Đại học ngoài công lập của Việt Nam trên địa bàn Hà Nội Đồng thời đưa ra điều kiện để thực hiện các giải pháp

Năm 2017, Luận án Tổ chức công tác Kế toán quản trị trong các Doanh

nghiệp sản xuất và chế biến chè trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên[12],Tác giả

Nguyễn Phi Hùng, luận án đã hệ thống hóa và làm rõ lý luận về tổ chức công tác KTQT như khái niệm, vai trò, chức năng và nội dung của tổ chức công tác KTQT trong các Doanh nghiệp sản xuất Luận án phân tích rõ đặc điểm của Doanh nghiệp chè ảnh hưởng đến tổ chức công tác KTQT trong Doanh nghiệp xuất và chế biến chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, trong đó tác giả đề cập sâu đến các đặc điểm là nhu cầu thông tin cho nhà quản trị, trình độ tổ chức quản lý

và khả năng thiết kế hệ thống trong Doanh nghiệp sản xuất và chế biến chè Đánh giá thực trạng tổ chức công tác KTQT trong các Doanh nghiệp sản xuất chè tại Thái Nguyên thông qua kết quả điểu tra trực tiếp và phiếu khảo sát và đánh giá kinh nghiệm vận dụng tổ chức công tác KTQT tại một số quốc gia trên thế giới và trong khu vực như Mỹ, Pháp, Nhật, Trung Quốc…từ đó tác giả rút ra bài học cho Doanh nghiệp sản xuất Việt Nam Luận án đã đi sâu nghiên cứu, đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện tổ chức công tác KTQT tại các Doanh

Trang 22

nghiệp sản xuất chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên theo hướng đáp ứng những yêu cầu và nguyên tắc hoàn thiện phù hợp với điều kiện và đặc điểm của các Doanh nghiệp sản xuất chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

2.2 Nhóm công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến đề tài

Năm 2000, Management accounting at the Millenium, Tác giảMachael W

Maher [56], đã chỉ ra tầm quan trọng trong công tác giáo dục Kế toán quản trị trong thời đại hiện nay Theo tác giả, Kế toán quản trị định hướng cho việc kiểm soát chi phí trong tổ chức và kết luận có thể dùng ba cách phân loại chi phí khác nhau cho các mục đích kiểm soát chi phí bao gồm (1) chi phí chênh lệch; (2) chi phí toàn bộ và (3) chi phí trách nhiệm Từ đó, tác giả xác định các quy trình phân tích thông tin chi phí thông qua báo cáo phân tích chi phí, báo cáo đánh giá trách nhiệm quản lý Đây chính là cơ sở đánh giá hiệu quả hoạt động của từng bộ phận trong tổ chức góp phần vào công tác kiểm soát chi phí của tổ chức đó

Năm 2005, công trình nghiên cứu Organizatings &Society-“Management

accounting system design in manufacturing departments: an empirical investigation using a multiple contingencies approach"[53],tác giả Jonas Gerdin

đã quan tâm đến việc thiết kế KTQT phù hợp với điều kiện cụ thể của các Doanh nghiệp Khi phân tích các nhân tố tác động bên trong Doanh nghiệp đến việc lựa chọn mô hình KTQT tác giả đã khảo sát 126 Doanh nghiệp thuộc các ngành nghề khác nhau trên thế giới và khẳng định được ảnh hưởng của hai nhân tố bên trong tác động đến thiết kế KTQT là bộ máy quản lý và sự phụ thuộc giữa các phòng ban

Năm 2006, Management accounting practices in the British food and

drinks industry, Tác giả Abdel-Kader[41], nguồn gốc KTQT xuất phát từ cuộc

cách mạng công nghiệp của thế kỷ XIX,hầu hết việc ứng dụng KTQT vào giữa năm 1980 từ đó phát triển đến năm 1925 Trong hơn 60 năm tiếp theo KTQT phát triển chậm lại, thậm chí dừng hẳn trong việc cải tiến nội dung KTQT Nhưng đến giữa năm 1980, các nhà nghiên cứu KTQT đã đưa ra những đổi mới

và sử dụng các kỹ thuật mới của KTQT áp dụng cho thực trạng từng doanh nghiệp Tác giả đã vận dụng lý thuyết vào thực tiễn doanh nghiệp, bước đầu xác định mối quan hệ giữa các loại chi phí với việc đo lường hiệu suất hoạt động

Trang 23

Các khái niệm về KTQT được phổ biến và áp dụng rộng rãi trong thực tế các doanh nghiệp, đồng thời KTQT được tích hợp vào các chương trình giáo dục

Năm 2008, Nelson Waweru, Enrico Uliana, nghiên cứu đã chỉ ra những thay đổi trong công tác quản lý và hệ thống kiểm soát tại thời điểm bấy giờ [58],từ đó nêu lên vai trò quan trọng của cơ cấu tổ chức, vận hành hoạt động của doanh nghiệp khi áp dụng KTQT Chỉ ra những sự thay đổi tích cực khi áp dụng

hệ thống KTQT, những thay đổi khả quan về phương pháp kiểm soát, công tác lập kế hoạch Chỉ ra mối quan hệ tích cực, liên quan trực tiếp giữa KTQT và cách thức tổ chức quản lý để đưa ra các chiến lược khác biệt

Năm 2008, Management accouting, Tác giả Alkinson, Kaplan & Young[42], đề cập đến Kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp bao gồm thông tin và trách nhiệm nhằm thu thập, báo cáo, đánh giá các thông tin mang tính nội

bộ cho các cấp quản lý trong doanh nghiệp về các hoạt động Sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Về mặt thông tin, Kế toán trách nhiệm nhằm tập hợp, phân tích và báo cáo thông tin đáp ứng yêu cầu quản trị của các cấp quản trị trong doanh nghiệp Về mặt trách nhiệm, Kế toán trách nhiệm nhằm đánh giá thành quả của các bộ phận cũng như trách nhiệm của nhà quản lý bộ phận Để có thể kết hợp được thông tin và trách nhiệm, nhóm tác giả cũng đã đề cập đến sự phân cấp quản lý trong tổ chức, theo đó từng bộ phận trong doanh nghiệp được phân cấp cần phải lập báo cáo trách nhiệm cho nhà quản trị cấp cao hơn về các nội dung phát sinh tại bộ phận mình

Năm 2012, Luận án The use of management accounting practices in

Malaysian SMES [54], Tác giả Kamilah hmad, Đại học Exeter đã chỉ ra vai trò

của Kế toán quản trị trong công tác quản lý tại các Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Malaysia Kế toán quản trị hỗ trợ các Doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch, kiểm soát, đánh giá kết quả hoạt động, sử dụng nguồn lực một cách tối ƣu hóa,

hỗ trợ ra quyết định và cải thiện trao đổi thông tin; đồng thời xác định đƣợc các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng KTQT tại các Doanh nghiệp này; và cuối cùng là nêu lên mối liên hệ giữa việc áp dụng KTQT với kết quả kinh doanh của Doanh nghiệp

Trang 24

Năm 2012, Implementation Opportunities of Green Accounting for

Activity based costing in Romani, Sorinel Capusneanu, Tác giả Artifex,

Bucuresti[45], đề cập đến việc xác lập chi phí hoạt động so với các phương pháp truyền thống, phương pháp BC trước hết quy tập toàn bộ chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp (chạy máy, lắp ráp, kiểm tra chất lượng…) được xác định bởi giám đốc vận hành đối với mỗi hoạt động của tổ chức, sau đó phân bổ các chi phí hoạt động này vào từng sản phẩm, dịch vụ hay vào các đối tượng tạo ra hoạt động đó, thông qua các nguồn phát sinh chi phí Đồng thời, đề cập đến vai trò của kế toán

mô trường và việc vận dụng kế toán mô trường vào hoạt động cụ thể Phương pháp BC cho phép kế toán xác định chính xác hơn chi phí sản xuất thực tế

Năm 2013, đề tài Management Accounting Practices of UK Small-

Medium- Sized Enterprises [57], các tác giả Michael Lucas, Malcolm Prowle và

Glynn Lowth được bảo trợ của Viện KTQT Anh Quốc-CIM do các nhà nghiên cứu trước chưa dành nhiều sự quan tâm cho chủ đề KTQT trong Doanh nghiệp nhỏ và vừa nên các tác giả đã thực hiện một nghiên cứu với phương pháp nghiên cứu tình huống sâu (in-depth case studies) Các tác giả đã thực hiện phỏng vấn với các CEO, các chủ sở hữu đồng thời là người quản lý Doanh nghiệp và các nhà quản trị cao cấp khác trong Doanh nghiệp như trưởng phòng tài chính tại 11 Doanh nghiệp nhỏ và vừa của Anh Quốc Nghiên cứu mang tính khám phá này

đã đưa ra những hiểu biết rất quan trọng về thực tiễn sử dụng các công cụ KTQT trong các Doanh nghiệp, các hiểu biết này có thể là những gợi ý hữu ích cho việc phát triển các giả thuyết nghiên cứu cho các nghiên cứu khảo sát trên diện rộng sau này

2.3 hoảng tr ng nghiên cứu

Qua những trình bày thì hầu hết các công trình đều đã thể hiện được các nội dung cơ bản của kế toán quản trị, của tổ chức công tác kế toán quản trị tuy nhiên vẫn thể hiện những khoảng trống, những dư địa.Cụ thể, liên quan đến nội dung của tổ chức công tác kế toán quản trị như sau:

Thứ nhất, các công trình chưa thể hiệnđược có sự liên hệ, rõ nét giữa cơ

cấu tổ chức bộ máy quản lý, sự phân cấp với nhu cầu thông tin Đặc biệt đối với các đơn vị hoạt động theo mô hình Tổng công ty gồm Công ty mẹ và các công ty

Trang 25

con, gắn với các Trung tâm trách nhiệm Bởi vì với từng cấp sẽ có nhu cầu về thông tin, nhu cầu về thông tin là khác nhau, ví dụ các quản lý công trình thường vạch kế hoạch và ra quyết định về các phương án và lịch trình xây lắp, các quản

lý marketing thì ra các quyết định về quảng cáo, khuyến mãi Các quản lý tài chính thường ra các quyết định về huy động vốn và đầu tư Tựu chung lại ứng với mỗi mục tiêu, nhà quản lý đều cần thông tin cho các quyết định Người làm KTQT sẽ cung cấp các thông tin hữu ích cho các nhà quản lý các cấp trong tổ chức Vì vậy, một yêu cầu đặt ra cho các nhân viên KTQT là họ phải am hiểu các tình huống ra quyết định của các nhà quản lý

Thứ hai, có nhiều cách tiếp cận tổ chức công tác KTQTvà đều đảm bảo

thu nhậnđược các thông tin hữu ích cho các đối tượng liên quan phục vụ cho việc

ra các quyết định, như tiếp cận theo phần hành hay tiếp cận theo quy trìnhhay tiếp cận theo các khâu công việc kế tóan Tuy nhiên, với loại hình doanh nghiệp xây lắp tại mô hình Tổng công ty Licogi bao gồm Công ty mẹ và các công ty con thì chưa có công trình nào

Thứ ba, thông tin KTQT cung cấp dựa vào các dữ liệu quá khứ để dự đoán

các thông tin tương lai Do đó, KTQT mới được trình bày theo nội dung mà chưa

đề cập đến quy trình cũng như các yếu tố liên quan đến tổ chức công tác KTQT

Thứ tư, nhận diện và phân loại chi phí trong các doanh nghiệp xây lắp

chưa được cụ thể hóa theo những tiêu thức cụ thể, mà chủ yếu là nhận diện phân loại chi phí theo cách chung của các doanh nghiệp sản xuất

Thứ năm, hệ thống tài khoản và sổ kế toán củaKTQT chưa được đề cập

mà chỉ là các nội dung của KTQT Vì thế, cùng với kế toán tài chính thì hệ thống Tài khoản KTQT, Sổ KTQT cần được xây dựng cho phù hợp với đặc điểm hoạt động của Công ty xây lắp

Thứ sáu, hệ thống báo cáo và phương pháp phân tích, cung cấp thông tin

cần được cụ thể, chi tiết hơn

3 Mục đích nghiên cứu

Về mặt lý luận: trên cơ sở các tài liệu nghiên cứu liên quan, cũng như bản

chất của tổ chức công tác kế toán nói riêng, Luận án sẽ hệ thống hóa và trình bày

Trang 26

một cách logic các vấn đề khái quát về tổ chức công tác KTQT trong doanh nghiệp xây lắp, đặc biệt là doanh nghiệp xây lắp tổ chức theomô hình Tổng Công

ty, với cơ cấu tổ chức gồm Công ty mẹ và các Công ty con Đặc điểm của doanh nghiệp xây lắp, đặc điểm của mô hình, cơ cấu tổ chức của Công ty mẹ và các Công ty con đã chi phối đến tổ chức công tác KTQT Xây dựng các hệ thống Sổ

kế toán, hệ thống báo cáo KTQT và thực hiện các nội dung phân tích nhằm cung cấp các thông tin của KTQT làm cơ sở, khuôn mẫu để trình bày các chương thực trạng và giải pháp

Về mặt thực ti n: thông qua việc thu thập tài liệu thực tế bao gồm thu thập

ổ sách, báo cáo kế toán và điều tra khảo sát tại Tổng công ty Xây dựng và phát triển hạ tầng, gồm Báo cáo tài chính các năm (hợp nhất và thường niên), Hệ thống tiêu chuẩn chất lượng ISO 9001:2015; Biên bản họp và Nghị quyết Đại hội đồng Cổ đông; Thực tế công trình thi công Cọc khoan nhồi của gói thầu Thi công cọc khoan nhồi đại trà, thuộc công trình hỗn hợp Văn phòng, Siêu thị, Ga ra để

xe, nhà ở cao tầng và nhà trẻ tại dự án phát triển Nhà phong phú-Daewon Thủ Đức và phiếu điều tra, khảo sát thực tế tại Licogi, tiến hành tổng hợp, phân tích tình hình tổ chức công tác Kế toán quản trị theo mô hình mới là mặc dù hoạt động theo mô hình Công ty mẹ-Công ty con, nhưng các Công ty con hoạt động tương đối độc lập với Công ty mẹ và lại có các Công ty con cấp dưới Để từ đó đánh giá những kết quả đạt được cần phát huy và những hạn chế cần khắc phục làm cơ sở đưa ra các giải pháp tổ chức công tác KTQT tại licogi gnói riêng và trong các doanh nghiệp xây lắp nói chung

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: tìm hiểu tài liệu để hệ thống hóa các vấn đề lý luận

về tổ chức công tác KTQT trong các Tổng công ty hoạt động theo mô hình Công

ty mẹ và các công ty con; Thu thập tài liệu và khảo sát thực tế về nhu cầu thu nhận thông tin và tình hình thực tế tổ chức công tác KTQT tại Liccogi, tại Công

ty mẹ và các Công ty con, tập trung vào các khâu tổ chức thu thập, ghi nhận thông tin KTQT;Tổ chức xử lý, hệ thống hóa thông tin KTQT;Tổ chức lập báo cáo, phân tích và cung cấp thông tin KTQT…Để từ đó làm cơ sở cho cho việc

Trang 27

đánh giá thực trạng tổ chức công tác KTQT tại Licogi, và đưa ra các giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác Kế toán quản trị tại Tổng công ty

Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: Tại Licogi bao gồm tổ chức công tác KTQT tại các Công

ty xây lắpmà không nghiên cứu các Công ty có lĩnh vực kinh doanh khác

Về thời gian: luận án tiến hành khảo sát số liệu tại Licogi từ 2015, 2016,

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Ý nghĩa khoa học: Luận án tổng hợp trình bày và hệ thống hóa một cách

logic về nội dung tổ chức công tác KTQTtạiTổng công ty hoạt động theo mô hình Công ty mẹ và các công ty con theo nhiều các tiếp cận, để từ đó lựa chọn cách tiếp cận hợp lý và phù hợp nhất đối với loại hình Tổng công ty xây dựng Trên cơ sở đó làm nền tảng để trình bày những nội dung thực tế tại Licogitheo quy trình tổ chức công tác KTQT, cũng như định hướng, nguyên tắc và hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác KTQT tại Tổng công ty

Ý nghĩa thực ti n: Luận án là tài liệu tham khảo cho các đối tượng quan

tâm đến vấn đề tổ chức công tác KTQT trong Doanh nghiệp xây lắp Là tài liệu tham khảo cho Licogi đang trong quá trình cái cách nhằm hướng tới mô hình hoạt động hiệu quả

6 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, nghiên cứu lý luận kết hợp với khảo sát thực tế để phân tích, so sánh và tổng hợp thông tin Luận án sử dụng linh hoạt phương pháp nghiên cứu như định tính và các phương pháp thống kê so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích…để xử lý nguồn thông tin thu được làm cơ sở đưa ra các nhận định, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác KTQT tại Licogi

Trang 28

Thu thập dữ liệu sơ cấp: Để đạt được mục đích Nghiên cứu Luận án thực

hiện thu thập thông tin về từng nội dung liên quan đến tổ chức công tác kế toán tại

12 Công ty thuộc Licogi (01 Công ty Mẹ, 11 Công ty con cấp 1 và cấp 2) về cơ cấu

tổ chức quản lý; chức năng và nhiệm vụ; khái quát cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán và chính sách kế toán áp dụng Số liệu thứ cấp đó là xác định được dữ liệu ban đầu về

tổ chức công tác kế toán liên quan đến các nội dung mô hình tổ chức bộ máy kế toán, thu thập thông tin KTQT, xử lý và hệ thống hóa thông tin KTQT, lập báo cáo

và cung cấp thông tin KTQT…Ngoài ra, để thu thập dữ liệu sơ cấp, Tác giả kết hợp với thực hiện các phương pháp quan sát thực tế bằng việc đến Tổng công ty và tìm hiểu các phòng ban liên quan để nắm bắt quy trình, cơ sở vật chất, hệ thống báo cáo

và quy trình tổ chức KTQT tại Tại Tổng công ty Trong quá trình thu thập dữ liệu Tác giả thực hiện các công việc sau:

(i)Chọn mẫu khảo sát (xác định phạm vi khảo sát): với phạm vi là Tổng công

ty Licogi nên Tác giải chỉ chọn theo phạm vi đầy đủ bảo gồm Phiếu khảo sát dành được thực hiện bằng việc đến các Công ty phát phiếu và thu về Quá trình khảo sát thực hiện năm 2018 để đảm bảo tính cập nhật, tổng số phiếu phát ra và thu về theo từng cấp được thể hiện như sau

Phiếu khảo sát

(ii) Xác định đối tượng, nội dung khảo sát: để thu thập thông tin cho việc nghiên cứu Luận án, Tác giả lựa chọn đối tượng phát phiếu bao gồm đại diện lãnh đạo, nhân viên kế toán và những cán bộ làm ở bộ phân liên quan đến công tác KTQT Thực hiện khảo sát, thu thập thông tin gồm Bảng hỏi theo phụ lục 2.1b Phiếu khảo sát Quy trình thực hiện khảo sát như sau:

Bước 1, Xây dựng bảng câu hỏi và hoàn thiện phiếu Khảo sát, căn cứ vào

mục tiêu nghiên cứu là khảo sát thực trạng tổ chức công tác KTQTtại Licogi để xây dựng bảng câu hỏi của phiếu khảo sát Kết quả phiếu khảo sát hướng đến việc tổng hợp và có được dữ liệu thứ cấp

Bước 2, Thực hiện phát phiều điều tra khảo sát, với thời hạn mong muốn

nhận được là trong vòng 20 ngày kể từ ngày nhận được phiếu khảo sát, nếu quá thời

Trang 29

hạn sẽ điện thoại hỏi trực tiếp và tiếp tục động viên hoặc gửi tiếp phiếu để đảm bảo

độ lớn của mẫu Hình thức phát phiếu là in và gửi trực tiếp phiếu đến Công ty mẹ và

11 Công ty con

Bước 3, Nhận Phiếu khảo sát và cập nhật, xử lý thông tin, phiếu được thu

nhận sẽ được cập nhật vào bảng tổng hợp kết quả, đối với dữ liệu định tính và tiến hành phân tích

Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Việc thu thập tài liệu thứ cấp được

Tác giả thực hiện qua việc tra cứu các tài liệu trong và ngoài nước, trên Thư viện quốc gia, các website liên quan, đặc biệt website của Tổng công ty Licogi Các tài liệu tác giả nghiên cứu có liên quan đến đề tài gồm:

+ Luận án của các Tác giả trong và ngoài nước về tổ chức công tác KTQT, hoàn thiện tổ chức công tác KTQT

+ Các bài báo viết về tổ chức công tác KTQT trong và ngoài nước

+ Các báo cáo tài chính, Bản cáo bạch, Báo cáo họp Hội đồng cổ đông

8 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận án được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG CÁC DO NH NGHIỆP XÂY LẮP

Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG

Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG

Trang 30

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1.1 KHÁI QUÁT TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

1.1.1 Khái quát Kế toán quản trị

1.1.1.1 Sự cần thiết Kế toán quản trị

Theo Colin Drury (2012), Management and Cost Accounting [48], thì kế toán là quá trình xác định, đo lường, và tính toán các thông tin kinh tế nhằm cung cấp cho các nhà quản lý và được quyết định bởi người sử dụng thông tin Hay nói cách khác, kế toán liên quan đến việc cung cấp thông tin tài chính và thông tin phi tài chính cho người sử dụng để đưa ra được những quyết định đúng hơn Để hiểu về kế toán, cần thiết phải biết về quá trình ra quyết định và sự đa dạng của người sử dụng thông tin kế toán

Do kế toán là một ngôn ngữ thể hiện thông tin kinh tế cho những người quan tâm của các tổ chức Những người này ở nhiều tổ chức, đơn vị khác nhau (những người quản lý, cổ đông, những nhà đầu tư, nhân viên, người cho vay tiềm năng và các cơ quan quản lý Nhà nước), nên họ cũng yêu cầu những thông tin khác nhau, cụ thể:

+ Người quản lý yêu cầu thông tin trợ giúp họ trong việc đưa ra các quyết định và kiểm soát các hoạt động, ví dụ thông tin nhằm xác định giá bán, chi phí phát sinh, yêu cầu, sự cạnh tranh, lợi nhuận đối với từng sản phẩm, dịch vụ mà đơn vị cung cấp

+ Cổ đông yêu cầu thông tin về giá trị các khoản đầu tư, thu nhập thu được từ các cổ phiếu

+ Nhân viên yêu cầu thông tin về mức lương đơn vị sẽ đáp ứng và tránh những lý do sa thải

+ Tổ chức tín dụng và người cung cấp các khoản vốn vay yêu cầu thông tin về sự đảm bảo tài chính

+ Các cơ quan Nhà nước như tổng cục thống kê thu thập thông tin kế toán

và các thông tin chi tiết về bán hàng, lợi nhuận, các khoản đầu tư, ổ phiếu, Hàng tồn kho, cổ tức, tỷ lệ lợi nhuận sau thuế Hơn nữa, cơ quan quản lý thuế cũng yêu

Trang 31

cầu thông tin về tổng lợi nhuận để tính thuế Tất cả thông tin là quan trọng nhằm xác định chính sách quản lý kinh tế

Sự cần thiết để cung cấp thông tin kế toán phục vụ cho việc kinh doanh của, cá nhân cũng cần thông tin về tình trạng tài chính, ví dụ bạn muốn đặt cọc cho một khoản vay thì chắc chắn bạn phải yêu cầu thông tin chi tiết về tình trạng tài chính của tổ chức Các tổ chức phi lợi nhuận như các nhà Thờ, tổ chức từ thiện, câu lạc bộ, các cơ quan quản lý Nhà nước giống như là các tổ chức địa phương cũng được yêu cầu có thông tin kế toán để đưa ra các quyết định và báo cáo về kết quả các hoạt động của họ Tóm lại, có niều đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin kế toán nhằm phục vụ cho việc ra các quyết định Mục đích của

kế toán đó là cung cấp thông tin đầy đủ đáp ứng được các yêu cầu của người sử dụng ở mức chi phí thấp nhất có thể Rõ ràng, lợi ích thu được từ việc sử dụng thông tin kế toán cho việc đưa ra các quyết định là lớn hơn chi phí hoạt động của

hệ thống

Người sử dụng thông tin kế toán có thể chia ra thành 2 nhóm là những người bên trong tổ chức và những người bên ngoài tổ chức Vì thể, dễ dàng phân biệt hai loại kế toán tương ứng với người sử dụng thông tin bên trong và bên ngoài của kế toán Đó là KTQT liên quan đến việc cung cấp thông tin cho người trong tổ chức nhằm giúp họ có được quyết định tốt hơn và cải thiện tính hiệu quả, hiệu lực của tổ chức hoạt động, còn KTTC liên quan đến việc cung cấp thông tin cho các bên liên quan bên ngoài Do đó, KTQT có thể được gọi là thông tin nội

bộ, báo cáo nội bộ, còn KTQT được gọi là thông tin bên ngoài, BCTC

1.1.1.2 hái niệm Kế toán quản trị

Theo GS Robert S.Kaplan và nthony tkinson(2010), cho rằng “Kế

toán quản trị là một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong các tổ chức

mà nhà quản trị dựa vào đó để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức” [65] Quan điểm này cho rằng KTQT nằm trong hệ thống thông tin quản

trị của tổ chức mà căn cứ đó để nhà quản trị có được những quyết định , kế hoạch

về tổ chức cũng như kiểm soát quá trình thực hiện của tổ chức đó

Josette Peyrard (1997), cho rằng “Kế toán quản trị là quy trình định dạng,

đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo biểu, giải trình và thông tin các số liệu tài

Trang 32

chính và phi tài chính cho Ban giám đốc để lập kế hoạch, đánh giá, theo dõi việc thực hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ một doanh nghiệp và để đảm bảo cho việc sử dụng có hiệu quả và quản lý chặt chẽ các tài sản” [52] Khái niệm này

cũng cho rằng KTQT sẽ cung cấp các thông tin tài chính, thông tin phi tài chính trong phạm vi nội bộ một doanh nghiệp nhằm đảm bảo để Ban giám đốc thực hiện lập kế hoạch, đánh giá và theo dõi

Theo H.Bouqin, J.P.Zerbib (1998), thì “Kế toán quản trị là phương pháp

xử lý các dữ liệu kế toán để đạt được các mục tiêu thiết lập các thông tin cho việc lập dự toán ngân sách về chi phí, doanh thu và kết quả trong một thời kỳ hoạt động; kiểm soát có hiệu quả tình hình hoạt động của các bộ phận trong doanh nghiệp, chức năng của Kế toán quản trị bao gồm chức năng phân tích, dự đoán

kế hoạch và kiểm tra” [51] Khái niệm này cũng đã phản ánh rằng KTQT sẽ cung

cấp các thông tin về dự toán Ngân sách về chi phí, doanh thu và kết quả nhằm thực hiện các chức năng của KTQT là phân tích, dự đoán và kiểm tra kế hoạch

Theo nhóm tác giả Jan R.Williams, Susan F.Hakn, Mark S.Bettner (2019),

“Kế toán quản trị là trình bày, giải thích những thông tin kế toán với định hướng

chủ yếu phục vụ cho nhu cầu thông tin của những nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp để điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh” [55] Theo khái niệm

này thì KTQT sẽ trình bày, giải thích các thông tin kế toán nội bộ nhằm cung cấp phục vụ cho các Nhà lãnh đạo để thực hiện điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Theo Tác giả RayH.Garrison (2002), cho rằng “Kế toán quản trị là liên

quan với việc cung cấp thông tin cho các nhà quản lý bên trong doanh nghiệp, những người có vai trò điều khiển hoạt động của doanh nghiệp Kế toán quản trị

có thể tương phản với kế toán tài chính, liên quan đến việc cung cấp thông tin cho cổ đông, chủ nợ và những người khác bên ngoài doanh nghiệp” [63], Khái

niệm này thể hiện sự khác biệt với KTTC về cung cấp thông tin của KTQT là trong nội bộ doanh nghiệp, cho những nhà quản lý doanh nghiệp nhưng không đề cập đến các nhiệm vụ, chức năng của KTQT

Theo Vương Đình Huệ, Đoàn Xuân Tiên(2002), thì “Kế toán quản trị là

khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 33

một cách cụ thể, phục vụ cho các nhà quản lý trong việc lập kế hoach, điều hành,

tổ chức thực hiện kế hoạch và quản lý hoạt động kinh tế, tài chính trong nội bộ doanh nghiệp” [9] Khái niệm này thể hiện KTQT là môn khoa học với các chức

năng thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin nội bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh cụ thể cho các nhà quản lý doanh nghiệp nhằm điều hành, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và quản lý hoạt động kinh tế tài chính

Theo Đoàn Xuân Tiên (2009), “Kế toán quản trị là khoa học thu nhận, xử

lý và cung cấp những thông tin định lượng về hoạt động của đơn vị một cách cụ thể, giúp các nhà quản lý trong quá trình ra các quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị” [28] Khái niệm này tập trung vào việc KTQT

cung cấp thông tin cụ thể định lượng, nhằm giúp các nhà quản lý doanh nghiệp thực hiện các chức năng lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và đánh giá tình hình thực hiện hoạt động của doanh nghiệp

Theo Luật kế toán (2015),thì “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý,

phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” [26] Luật kế toán đã đề cập

các nội dung KTQT là thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính nội bộ phục vụ yêu cầu quản trị nhằm đưa ra các quyết định kinh tế tài chính của doanh nghiệp

Từ những phân tích các khái niệm, có thể nói rằng KTQT là khoa học,

thực hiện các nhiệm vụ thu thập, xử lý và cung cấp thông tin kinh tế tài chính trong nội bộ doanh nghiệp cho những người quản lý để thực hiện các chức năng tổng hợp, dự đoán các thông tin tương lai cũng như kiểm soát các mục tiêu đã đặt ra Đồng thời, KTQT trong DNXL là thực hiện việc ghi nhận, thu thập, xử lý

và phân tích, cung cấp thông tin về KTQT cho những cấp quản lý trong DNXL nhằm ra các quyết định điều hành, quản lý DNXL đạt được các mục tiêu, kế

hoạch đã đặt ra

1.1.2 Đặc điểm Kế toán quản trị trong Doanh nghiệp xây lắp

Cũng qua các khái niệm và yêu cầu thông tin quản trị doanh nghiệp, có thể trình bày chỉ ra đặc điểm của KTQT trong DNXL đó là:

Trang 34

Thực hiện chức năng thu thập, xử lýrồi cung cấp các thông tin liên quan đến hoạt động xây lắp củaDNXL nhằm phục vụ cho việc điều hành và ra các quyết định

Thông tin KTQT DNXL cung cấp không mang tính chất quy chuẩn, pháp quy như KTTC mà là khá linh hoạt trong việc phản ánh và cung cấp thông tin nhằm thực hiện chức năng quản trị của những nhà quản trị trong DNXL

KTQT sử dụng dữ liêu quá khứ, hiện tại và tương lai với các phương pháp

và kỹ thuật đa dạng, phù hợp nhằm giải quyết tốt các tình huống quản lý

Thông tin của KTQT DNXL mang tính hữu ích, kịp thời để nhà quản trị

xử lý các tình huống trong điều hành hoạt động và kiểm soát các mục tiêu của DNXL

Phạm vi của KTQT DNXL chú trọng nhiều hơn đến từng đơn vị nhỏ cụ thể nhằm gắn kết trách nhiệm tại những bộ phận này nhằm tăng cường trách nhiệm quản lý Thông tin KTQT DNXL chỉ mang tính nội bộ, phục vụ cho các chức năng điều hành, quản lý và ra quyết định một cách kịp thời

Hình thức và cách thức biểu hiện của thông tin KTQT DNXL không bị quy định nghiêm ngặt về mặt pháp quy cho nên có thể sử dụng đa dạng nhiều đơn vị đo lường bao gồm thước đo giá trị, hiện vật và thời gian

Thực hiện phân tích thông tin KTQT DNXL theo dạng thức mô hình kinh tế; dạng so sánh; dạng phương trình toán học; dạng đồ thị và dạng dự báo ước lượng

1.1.3 Vấn đề cơ bản tổ chức công tác Kế toán quản trị trong Doanh nghiệp xây lắp

1.1.3.1 Các quan điểm về tổ chức công tác ế toán quản trị

Theo Nguyễn Thị Đông (2002),“tổ chức công tác kế toán là những mối

quan hệ có yếu tố cấu thành bản chất của hạch toán kế toán, chứng từ kế toán, đối ứng tài khoản, tính giá, tổng hợp-cân đối kế toán” [7] Khái niệm này chỉ ra

rằng nội dung tổ chức công tác kế toán thể hiện tổ chức mối quan hệ có bốn yếu

tố cấu thành của hạch toán kế toán là Chứng từ kế toán, Tài khoản kế toán, tính giá và phương pháp tổng hợp cân đối kế toán

Trang 35

Theo Lưu Đức Tuyên, Ngô Thị Thu Hồng (2011), “Tổ chức công tác kế

toán phải giải quyết cả hai phương diện: tổ chức thực hiện các phương pháp kế toán, các nguyên tắc kế toán và phương diện tính toán nhằm đạt được mục đích nghiên cứu của khoa học kế toán và tổ chức bộ máy kế toán nhằm liên kết các cán bộ, nhân viên kế toán ở đơn vị để thực hiện tốt công tác kế toán” hay “tổ chức công tác kế toán là việc tổ chức vận dụng các phương pháp kế toán để liên kết các yếu tố cấu thành, các công việc của kế toán nhằm thực hiện tốt các nhiệm

vụ của kế toán trong doanh nghiệp” [29] Khái niệm thể hiện tổ chức nhằm liên

kết các nội dung công tác kế toán của doanh nghiệp nhằm hướng đến công tác kế toán được thực hiện tốt nhất các nhiệm vụ kế toán của doanh nghiệp

Như vậy, có thể hiểu về bản chất tổ chức công tác kế toán đó là thực hiện

sự phân công, sắp xếp các phần hành kế toán và nhân sự làm kế toán nhằm đảm bảo sự thông suốt trong quá trình thực hiện nội dung công tác kế toán ở đơn vị theo một trình tự nhất định thông qua các phương pháp kế toán Tổ chức công tác

kế toán tạo là phải tạo mối liên hệ giữa các yếu tố của hệ thống kế toán nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của bộ phận kế toán

Từ đó thấy rằng tổ chức công tác KTQT là một phần của tổ chức công tác

kế toán nói chung với việc sử dụng các phương pháp, kỹ thuật của KTQT để cung cấp thông tin cho bộ phận quản trị doanh nghiệp nhằm đưa ra các quyết định phục vụ cho việc điều hành quản lý hay có thể nói rằng tổ chức công tác KTQT là việc tổ chức về các nội dung KTQT của doanh nghiệp với mục đích nhằm đảm bảo tính hoạt động có hiệu quả nhất, liên tục để từ đó hướng đến mục tiêu là thực hiện tốt nhất công tác KTQT của doanh nghiệp hay Đối với DNXL thì tổ chức KTQT là thực hiện quy trình tổ chức đầy đủ các nội dung công việc của DNXL từ khâu thu nhận thông tin ban đầu, đến khâu hệ thống hóa, xử lý thông tin và lập báo cáo KTQT, phân tích, cung cấp thông tin đảm bảo cho các Nhà quản trị DNXL có được đầy đủ thông tin linh hoạt phục vụ cho việc ra các quyết định điều hành, quản lý

Trang 36

Có nhiều cách tiếp cận tổ chức công tác kế toán, như:

(i)Tiếp cận theo chu trình của kế toán có các khâu thu thập thông tin kế toán; tổ chức hệ thống hóa và xử lý thông tin kế toán; tổ chức lập báo cáo và phân tích, cung cấp thông tin kế toán

(ii) Tiếp cận theo phần hành tổ chức công tác có tổ chức kế toán về tài sản; tổ chức công tác kế toán nợ phải trả; tổ chức công tác kế toán Vốn chủ sở hữu; tổ chức công tác kế toán chi phí; tổ chức công tác kế toán thu nhập

(iii) Tiếp cận theo đối tượng sử dụng thông tin có tổ chức công tác kế toán tài chính và tổ chức công tác KTQT

(iv) Tiếp cận theo quy trình ra quyết định có khâu lập kế hoạch là khâu các giám đốc doanh nghiệp luôn có kế hoạch kinh doanh rõ ràng vào đầu các năm tài chính và mục tiêu của họ là đưa công ty cán đích doanh thu Kế hoạch này sẽ gắn liền với mục tiêu ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn Khi lên kế hoạch, giám đốc doanh nghiệp cần liên kết tất cả các lực lượng của các bộ phận trong công ty để hướng tới mục tiêu đã xác định; Khâu tổ chức công tác điều hành là trong việc tổ chức, nhà quản lý sẽ quyết định cách liên kết tốt nhất giữa

tổ chức, con người với các nguồn lực lại với nhau sao cho kế hoạch được thực hiện có hiệu quả nhất Trong việc điều hành, các nhà quản lý giám sát hoạt động hàng ngày và giữ cho cả tổ chức hoạt động trôi chảy; Khâu kiểm soát là sau khi

đã lập kế hoạch và tổ chức thực hiện, các giám đốc điều hành là người phải kiểm tra và đánh giá việc thực hiện kế hoạch Để thực hiện chức năng kiểm tra, họ sử dụng các bước công việc cần thiết để đảm bảo cho từng bộ phận và cả tổ chức đi theo đúng kế hoạch đã vạch ra Trong quá trình kiểm soát, họ sẽ so sánh hoạt động thực tiễn với kế hoạch đã thiết lập So sánh này sẽ chỉ ra ở khâu nào công việc thực hiện chưa đạt yêu cầu, và cần sự hiệu chỉnh để hoàn thành nhiệm vụ và mục tiêu đã thiết lập và khâu ra quyết định là việc thực hiện những lựa chọn hợp

lý trong số các phương án khác nhau Ra quyết định không phải là một chức năng riêng biệt, nó là một chức năng quan trọng, xuyên suốt các khâu trong quá trình quản lý một tổ chức, từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện cho đến kiểm tra đánh giá Chức năng ra quyết định được vận dụng liên tục trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp

Trang 37

(v)Theo nội dung cụ thể quy định của Luật kế toán 2015 hay theo mức độ phản ánh thông tin là tổng hợp, chi tiết hay theo quy trình tổ chức công tác kế toán đó là:

+ Tổ chức Chứng từ kế toán: các loại Chứng từ kế toán; lập Chứng từ kế toán; quy trình luân chuyển Chứng từ kế toán; hình thức biểu hiện của Chứng từ

kế toán; lưu trữ và bảo quản Chứng từ kế toán

+ Tổ chức Tài khoản kế toán, sổ kế toán: lựa chọn và áp dụng và hệ thống Tài khoản kế toán, hệ thống Tài khoản kế toán; mở, ghi khóa và lưu trữ Tài khoản kế toán; chữa Tài khoản kế toán; các hình thức Tài khoản kế toán

+ Tổ chức BCTC: BCTC của đơn vị kế toán, BCTC Nhà nước, nôi dung công khai BCTC, hình thức và thời hạn công khai BCTC, kiểm tra BCTC

+ Tổ chức Kiểm tra kế toán: nội dung kiểm tra kế toán, thời gian kiểm tra

kế toán, quyền và trách nhiệm của đoàn kiểm tra kế toán, quyền và trách nhiệm của đơn vị kế toán được kiểm tra kế toán, kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ

+ Tổ chức Kiểm kê tài sản và lưu trữ tài liệu kế toán: kiểm kê tài sản, bảo quản và lưu trữ tài liệu kế toán, trách nhiệm kế toán trong trường hợp bị mất hoặc

bị hũy hoại

+ Công việc kế toán trong trường hợp chia đơn vị kế toán, tách đơn vị kế toán, hợp nhất các đơn vi kế toán, sáp nhập đơn vi kế toán, chuyển đổi loại hình hoặc hình thức sở hữu, giải thể chấm dứt hoạt động phá sản

+ Tổ chức Bộ máy kế toán và người làm kế toán: Đơn vị kế toán phải tổ chức bộ máy kế toán, bố trí người làm kế toán hoặc thuê dịch vụ làm kế toán

Trong tổ chức công tác KTQT, những yếu tố quyết định việc tổ chức công tác KTQT đó là đối tượng của KTQT, các phương pháp của KTQT; Bộ máy và con người của KTQT Cụ thể là sắp xếp các nội dung công việc của KTQT như

là bộ máy, con người, các phần hành, các nội dung phù hợp với đặc điểm từng doanh nghiệp nhằm giúp các nhà quản trị đưa ra các quyết định kinh doanh đáp ứng các yêu cầu

1.1.3.2 Yêu cầu tổ chức công tác ế toán quản trị trong Doanh nghiệp xây lắp

Để tổ chức công tác KTQT DNXL đạt mục tiêu, yêu cầu đặt ra cần thực hiện các yêu cầu sau:

Trang 38

+ Tuân thủ các văn bản pháp quy: là Luật kế toán, Nghị định hướng dẫn Luật kế toán, các Chuẩn mực kế toán, Chế độ kế toán những văn bản này quy định rõ đối tượng áp dụng, phạm vi áp dụng và mức độ áp dụng

+ Phù hợp với đặc điểm hoạt động của DNXL: mỗi một loại hình doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, mục tiêu yêu cầu quản lý đều có những yêu cầu về

tổ chức công tác kế toán phù hợp

+ Nằm trong mô hình tổ chức công tác kế toán nói chung của doanh nghiệp, là các mô hình tổ chức công tác kế toán tập trung, tổ chức công tác kế toán phân tán và tổ chức công tác kế toán hỗn hợp trong đó có sự kết hợp hay tách biệt hay hỗn hợp giữa KTTC và KTQT

+ Đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả và có tính khả thi: đây là những yêu cầu mang tính tiên quyết khi tổ chức công tác kế toán Cần phải dựa trên những cái

đã, đang có để từ đó xây dựng, cải thiện nhằm nâng cao năng lực, tính hiệu quả cũng như đảm bảo có thể thực hiện được theo điều kiện của doanh nghiệp

+ Đảm bảo cung cấp thông tin KTQT DNXL đáp ứng được yêu cầu: các thông tin KTQT DNXL phải mang tính linh hoạt, đầy đủ và kịp thời để các nhà lãnh đạo doanh nghiệp có thể đưa ra các quyết định một cách đầy đủ, kịp thời để giải quyết các tình huống điều hành

1.2 NỘI DUNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

1.2.1 Đặc điểm hoạt động Doanh nghiệp xây lắp ảnh hưởng đến tổ chức công tác Kế toán quản trị

DNXL là một ngành sản xuất có tính chất công nghiệp có các đặc điểm:

Sản phẩm xây lắp mang tính chất riêng lẻ: sản phẩm xây lắp thường

đơn lẻ, riêng biệt và mỗi sản phẩm xây lắp có yêu cầu về mặt thiết kế mỹ thuật, kết cấu, địa điểm xây dựng khác nhau, việc tập hợp chi phí sản xuất tính giá thành và xác định kết quả thi công cũng đựơc tính cho từng sản phẩm xây lắp riêng biệt, Sản xuất xây lắp được thực hiện theo đơn đặt hàng của khách hàng nên ít phát sinh chi phí trong quá trình lưu thông Đặc điểm của sản phẩm xây lắp đơn lẻ đã ảnh hưởng đến việc xác định đối tượng tập hợp chi

Trang 39

phí, đối tượng tính giá thành thường cụ thể hơn thuận lợi cho khâu tổ chức thu thập thông tin ban đầu

Sản phẩm xây lắp có giá trị lớn, khối lượng công trình lớn, thời gian thi công tương đối dài:do đó kỳ tính giá thành không được xác định hàng

tháng như trong sản xuất công nghiệp mà xác định theo thời điểm khi công trình, hạng mục công trình hoàn thành và bàn giao thanh toán theo giai đoạn Việc xác dịnh đúng đắn đối tượng tính giá thành sẽ góp phần to lớn trong việc quản lý sản xuất thi công và sử dụng đồng vốn có hiệu quả nhất Đặc điểm này ảnh hưởng đến các khâu hệ thống hóa, xử lý thông tin cũng như khâu lập báo cáo và phân tích thông tin trong tổ chức công tác KTQT, vì do quá trình triển khai và hoàn thành sản phẩm dài nên bị ảnh hưởng của nhiều nhân tố như giá cả, định mức

Thời gian sử dụng sản phẩm xây lắp tương đối dài: nên mọi sai lầm

trong quá trình thi công thường khó sửa chữa phải phá đi làm lại, gây lãng phí,

để lại hậu quả nghiêm trọng, lâu dài và khó khắc phục Do đó trong quá trình thi công cần phải thường xuyên kiểm tra giám sát chất lượng công trình Đặc điểm này ảnh hưởng đến khâu hệ thống hóa, xử lý thông tin và khâu lập báo cáo, phân tích thông tin Vì phần xác định mức độ hoàn thành, mức độ và thời gian bảo hành sản phẩm

Sản phẩm xây lắp được sử dụng tại chỗ, địa điểm thường thay đổi theo địa bàn thi công:sau khi đi vào sử dụng công trình không thể di dời, đơn vị sẽ

phát sinh các chi phí như điều động công nhân, máy móc thi công, chi phí về xây dựng các công trình tạm thời cho công nhân và máy móc thi công Do vậy các đơn vị xây lắp thường sử dụng lực lượng lao động thuê ngoài tại chỗ, nơi thi công công trình để giảm bớt các chi phí khi di dời Đặc điểm này tác động đến việc xác định mức độ tiêu hao nguồn lực về nhân công, máy móc thiết bị đối với từng công trình trong khoảng thời gian nhất định, tức là xác định được tiêu thức phân bổ các chi phí này

Sản xuất xây lắp thường di n ra ngoài trời:nên chịu tác động trực tiếp

bởi điều kiện tự nhiên thời tiết nên việc thi công phần nào mang tính thời vụ

Do đó trong quá trình thi công cần tổ chức quản lý lao động, vật tư chặt chẽ

Trang 40

đảm bảo thi công nhanh, đúng tiến độ khi điều kiện môi trường thời tiết thuận lợi Đặc điểm này ảnh hưởng đến khâu tổ chức các yếu tố đầu vào như vật tư, nhân công cũng như quá trình sử dụng chúng

Triển khai công tác khoán được thực hiện: trong DNXL các đối tượng

công việc thực hiện là các công trình, hạng mục công trình, các công việc như đại

tu, sửa chữa xe máy, thiết bị phục vụ quá trình thi công.Hiện nay các đối tượng công việc này đều được các công ty thực hiện khoán nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi về tính chất đặc điểm của sản phẩm, thị trường Song đối với mỗi loại công việc lại áp dụng các hình thức khoán khác nhau phù hợp với mỗi loại hình công việc.Do tính chất, đặc điểm của ngành, sản phẩm xây lắp mà ở các doanh nghiệp

đã hình thành các đội, tổ đảm nhận các lĩnh vực công việc khác nhau mang tính chuyên môn hoá hoặc tổng hợp Trong cơ cấu tổ chức quản lý ở một công ty xây dựng nói chung và ở các đơn vị thi công cơ giới và xây lắp nói riêng hiện nay nếu công ty là đơn vị trung tâm sẽ có các dạng cơ cấu tổ chức sauCông ty - xí nghiệp đội - tổ hay Công ty - đội - tổ hay Công ty - xí nghiệp - công trình - đội - tổ.Tuy cơ cấu tổ chức có khác nhau nhưng trong bất cứ cơ cấu nào cũng cho thấy mắt sích cuối cùng là đội - tổ xây dựng Nó là đơn vị tổ chức cơ bản chủ yếu trong doanh nghiệp, ở đó thực hiện sự kết hợp giữa sức lao động của người lao động với tư liệu sản xuất để hoàn thành công trình Đặc điểm này ảnh hưởng đến

tổ chức công tác KTQT trong DNXL vì có liên quan đến thực hiện khoán các loại hình công việc thì đối tượng nhận khoán là các đội, tổ, người lao động trong công ty Thực hiện khoán đều phải thông qua hợp đồng giữa một bên là Công ty

là bên giao khoán và một bên là đội, tổ là Bên nhận khoán

1.2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán Doanh nghiệp xây lắp

Tổ chức công tác kế toán trong DNXL có các hình thức tổ chức Bộ máy

kế toán tập trung, tổ chức bộ máy kế toán phân tán và tổ chức bộ máy kế toán hỗn hợp Trong từng bộ máykế toán lại có mối quan hệ giữa KTTC và KTQT, sơ

đồ 1.1

Ngày đăng: 19/11/2019, 17:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w