1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TONG HOP DE VA GOI Y DAP AN NGHIEP VU SU PHAM CAO DANG DAI HOC

68 469 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 24,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lưu ý một số điều kiện cơ bản để hình thành xu hướng nghề nghiệp chosinh viên như: Giúp sinh viên làm quen với chương trình của ngành chuyênmôn; nắm được phương pháp tự giáo dục; tổ chức

Trang 1

CÂU HỎI ÔN TẬP HỌC PHẦN TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG

( Lớp NVSPGV- Q10.SP1.Tối.T8.2019)

Câu 1: Chỉ ra bản chất các đặc điểm cơ bản của tư duy Với tư cách là giảng

viên hãy nêu các ứng dụng của các đặc điểm tư duy nói trên nhằm phát triển tưduy cho sinh viên tại trường cao đẳng, đại học mà anh/ chị đang giảng dạy trong

xu thế hội nhập cuộc cách mạng 4.0

Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất những mốiliên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiện tượng trong hiênthực khách quan mà trước đó ta chưa biết

• Tính có vấn đề của tư duy

• Tính gián tiếp của TD

• Tính trừu tượng và khái quát của TD

• Tính chất lý tính của TD

• Tư duy QH mật thiết với Ngôn ngữ

• Tư duy QH mật thiết với NTCT

Tính có vấn đề của tư duy

Điều kiện 1 huống có vấn đề trở thành 1

THCVĐ của tư duy?

- Vừa sức

- Có nhu cầu giải quyết nó

- Vấn đề đó trong nội hàm bài giảng

Tính gián tiếp của tư duy

Phản ánh gián tiếp bằng ngôn ngữ

+ Phản ánh gián tiếp bằng phương tiện kỹ thuật,

máy móc, công nghệ…

Tính trừu tượng của tư duy:

Tư duy có khả năng trừu xuất khỏi sự vật, hiện tượng, những thuộc tính, nhữngdấu hiệu cụ thể, cá biệt giữ lại những thuộc tính nhất, chung cho nhiều sự vật vàhiện tượng rồi trên cơ sở đó mà khái quát thành một nhóm, một loại sự vật hiệntượng

VD: Diện tích tam giác S= ½ ah;

Kim loại là vật dẫn điện…

Tính chất lý tính của tư duy:

Trang 2

Chỉ có TD mới giúp con người phản ánh được bản chất của SVHT, những quiluật bên trong của nó… Bởi lẽ chỉ TD giúp chúng ta có được tầm nhìn…thúcđẩy sự đổi mới tư duy, mang lại nhiều giá trị cho cá nhân và XH Đó là tính chất

lý tính của tư duy

Ứng dụng các đặc điểm của TD để PTTD

cho SV trong CM 4-0:

- Cuộc CM Công nghiệp 4.0 là cuộc CM ở đó bản chất là kết nối INTERNET

VẠN VẬT ( Trí tuệ nhân tạo, CN Sinh học, Vật lý)

- Nêu khái quát đặc điểm tư duy của SV: Khá phát triển ( TDTT, TD lô gic, SVgiàu ước mơ…)

- Rèn luyện có thể chất, sức khỏe tốt ( Tập luyện + dinh dưỡng)

- Hệ thống bài tập, câu hỏi, đồ án, tiểu luận phong phú, thực tiễn, ….gây hứngthú cho sinh viên

- Phát triển ngôn ngữ cho sinh viên bằng nhiều cách khác nhau ( Nói, viết, phingôn ngữ, đọc sách – GV chỉnh sửa ) chú trọng KN lựa chọn ND dạy học (việcchọn và cung cấp tri thức trọng tâm, ngắn gọn cho SV)

- Coi trọng dạy cho sinh viên cách học, cách tìm, thu thập, xử lý thông tin trongthời đại bùng nổ của KH, CN….( 4.0)

- Tổ chức nhiều HĐ, yêu cầu SV sử dung CNTT trong học tập

- Tạo điều kiện cho học sinh tham quan thực tế, thực hành nhiều, tránh học kiểu

lý thuyết suông, dạy KN mềm…

- Giảng viên ĐH cần sử dụng phong phú, hiệu quả các loại PT, thiết bị DH hiệnđại, ứng dụng CNTT, mô

Câu 2 : Trên cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động nghề nghiệp anh (chị) hãy

phân tích các qui luật cơ bản của cảm giác Với tư cách là giảng viên, anh (chị)vận dụng các quy luật đó như thế nào để nâng cao chất lượng dạy học chuyênngành của mình ở trường cao đẳng, đại học hiện nay ?

Quy luật ngưỡng cảm giác:

Ngưỡng cảm giác là giới hạn mà ở đó cường độ

kích thích (tối thiểu hoặc tối đa) vẫn còn đủ để gây ra

Trang 3

cảm giác cho con người.

Ngưỡng sai biệt: Mức độ chênh lệch tối thiểu về cường độ và tính chất của haikích thích cùng loại đủ để ta phân biệt được sự khác nhau giữa chúng

=> độ nhạy cảm sai biệt

VD: Ly A Ly B.

Nội dung quy luật của ngưỡng cảm giác:

+ Ngưỡng cảm giác phía dưới tỉ lệ nghịch đối với độ nhạy cảm của cảm giác(Ngưỡng dưới càng thấp thì độ nhạy cảm càng cao)

+ Ngưỡng sai biệt tỉ lệ nghịch với độ nhạy cảm sai biệt của cảm giác

+ Ngưỡng sai biệt càng nhỏ thì độ nhạy cảm sai biệt càng cao

Quy luật thích ứng của cảm giác:

Thích ứng là khảng năng thay đổi độ nhạy cảm của cảm giác cho phù hợp vớicường độ kích thích

Các loại thích ứng:

Cảm giác mất hoàn toàn khi kích thích kéo dài và cường độ không thay

đổi

Tăng tính nhạy cảm của cảm giác khi kích thích thích yếu

Giảm tính nhạy cảm khi kích thích mạnh

Nội dung quy luật: Giảm độ nhạy cảm khi cường độ kích thích mạnh và

lâu, tăng độ nhạy cảm khi gặp kích thích yếu

Trang 4

- Chuyên môn hóa công việc ( Nhất nghệ vi tinh)

Luyện tập TX, Tăng thực hành và Tăng dần độ khó các câu hỏi, bài tập, yêucầu….giúp SV, NH không chỉ thích nghi mà còn PT

QUI LUẬT TÁC ĐỘNG QUA LẠI GIỮA CÁC CẢM GIÁC

* Các cảm giác không tồn tại độc lập mà tác động với nhau theo qui luật:

QL:

KÍCH THÍCH YẾU LÊN MỘT CƠ QUAN PHÂN TÍCH NÀY SẼ LÀM TĂNG

ĐỘ NHẠY CẢM CỦA CP PHÂN TÍCH KIA VÀ NGƯỢC LẠI

THỂ HIỆN Ở:

- Sự tác động qua lại của Cg và sự tương phản

Sự tác động qua lại giữa cảm giác:

• Tính nhạy cảm của một cảm giác chịu ảnh hưởng của một cảm

giác khác.

Tác động qua lại giữa cảm giác:

- Chuyển cảm giác C

- Cảm ứng cửa cảm giác:

- Hiện tượng át cảmgiác

- Hiện tượng tăng

- Cảm giác

Sự tương phản của cảm giác:

Là sự thay đổi cường độ hay chất lượng của cảm giác dưới sự ảnh hưởng của hainhóm kích thích có đặc điểm tương phản có tác động đồng thời hoặc tiếp nốivào một cơ quan cảm giác

Tương phản:

- Tương phản đồng thời

- Tương phản nối tiếp

Ứng dụng:

- Chú ý tính kế thừa của cảm giác tích cực trong dạy học ( sinh viên đang hào

hứng, vui vẻ….giảng viên đưa ra yêu cầu hoặc động viên…(Cảm giác cũ có lợicho việc hình thành cảm giác mới) Khi SV mệt mỏi, đói…không nên phê bình hoặc giao bài tập quá nhiều ( CG cũ o có lợi cho hình thành CG mới )

Trang 5

- Dùng ngôn ngữ trong DH; Dùng màu sắc trang trí slie bài giảng sao cho NỔIBẬT, RÕ TRỌNG TÂM, GÂY CHÚ Ý;

DH yêu cầu SV sử dụng phối hợp 5 giác quan ( học chuyên nghiệp)

- Các đánh giá SV, đồng nghiệp phải rõ ràng và theo mức độ ( Chuẩn đã Mục tiêu VÀ Thời điểm cụ thể, chú ý tâm trạng đối phương)

XD-CÂU HỎI ÔN TẬP HP GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

Câu 1 : Hãy phân tích những thành tựu và mặt tồn tại của vấn đề: Về giảng viên;chương trình đào tạo; giáo trình và tài liệu trong các cơ sở giáo dục đại

học ở Việt Nam hiện nay Từ đó, hãy liên hệ thực tiễn cơ sở giáo dục đại học

mà anh/chị giảng dạy để đưa ra các giải pháp theo quan điểm cá và giúp nhânnhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại học trong xu thế hội nhập quốctế

Cơ sở tâm lý học của quá trình giáo dục sinh viên

2.1 Vấn đề giáo dục hướng nghiệp

Xu hướng nghề nghiệp là những hiểu biết và tiếp nhận bên trong các mụcđích và nhiệm vụ của hoạt động nghề nghiệp có liên quan đến hứng thú, niềmtin, quan điểm và tâm thế đối với hoạt động này Việc hình thành xu hướng nghềnghiệp của sinh viên diễn ra trong suốt quá trình học tập ở trường đại học

Vào năm thứ nhất, sinh viên chưa có được những phẩm chất nghề nghiệpthuộc một ngành nhất định Trong quá trình làm quen với hoạt động học tập ởtrường đại học, sinh viên dần dần tích lũy được những tri thức chung có liênquan đến lĩnh vực nghề nghiệp mà sinh viên được đào tạo

Đến năm thứ hai, sinh viên đã quen với hầu hết các hình thức giảng dạy vàgiáo dục ở đại học Quá trình thích ứng đối với hoạt động học tập về cơ bản đã

Trang 6

hoàn thành Do tích lũy được tri thức chung nên các kỹ năng nghề nghiệp ở sinhviên dần được hình thành.

Bước sang năm thứ 3, hứng thú với hoạt động học tập chuyên môn và hoạtđộng khoa học được phát triển theo chiều sâu của nghề nghiệp đã chọn Nhữngphẩm chất có liên quan và phù hợp với nghề nghiệp tương lai được phát triểnmạnh

Đến năm thứ tư, sinh viên thực tập làm các công việc của người chuyên giakhi đi thực tập ở các cơ sở thuộc lĩnh vực nghề nghiệp của mình Họ đối chiếu,đánh giá các giá trị có liên quan tới nghề nghiệp, tích cực tìm tòi các thông tinnghề nghiệp và rèn các kỹ năng cần thiết Toàn bộ nhân cách của họ phát triển sátvới mục tiêu đào tạo

Vấn đề hình thành xu hướng nghề nghiệp cho sinh viên có ý nghĩa quantrọng đối với công tác giáo dục hướng nghiệp ở trường đại học Bởi lẽ, mặc dùsinh viên đã lựa chọn và học một nghề nhưng sự lựa chọn đó chưa ổn định Mặtkhác khi chọn nghề chưa hẳn sinh viên đã hiểu đầy đủ về nghề được chọn Mụcđích của giáo dục hướng nghiệp là giúp sinh viên yên tâm với nghề đã chọn, có

ý thức phấn đấu, rèn luyện các phẩm chất theo yêu cầu nghề nghiệp Nội dungcủa hoạt động này là giúp sinh viên hiểu đầy đủ về yêu cầu, xu hướng phát triểnnghề nghiệp, nhu cầu của thị trường lao động hiện nay, giúp sinh viên đối chiếuvới đặc điểm của bản thân để có biện pháp rèn luyện phù hợp

Để hình thành xu hướng nghề nghiệp cho sinh viên đồng thời cũng chính là

để làm tốt công tác giáo dục hướng nghiệp, cần lưu ý một số biện pháp sau:Trước hết phải tác động đến ý thức của sinh viên về mục đích và ý nghĩanghề nghiệp mà họ đã chọn, uy tín xã hội của nghề, những yêu cầu nghề nghiệpđối với cá nhân

Tổ chức các hoạt động học tập, lao động, xã hội của sinh viên có tính đếncác yêu cầu của hoạt động nghề nghiệp tương lai của họ; trong hoạt động có nội

Trang 7

dung nghề nghiệp, giúp sinh viên rèn luyện về phẩm chất và kỹ năng của ngườichuyên gia theo phân ngành ở đại học.

Tích cực hóa việc tự học và tự giáo dục của sinh viên; hình thành ở sinhviên niềm tin và thái độ tích cực đối với nghề nghiệp trong tương lai Điều nàycần được bắt đầu từ các bài học đầu tiên khi sinh viên mới nhập trường

Lưu ý một số điều kiện cơ bản để hình thành xu hướng nghề nghiệp chosinh viên như: Giúp sinh viên làm quen với chương trình của ngành chuyênmôn; nắm được phương pháp tự giáo dục; tổ chức các hoạt động thực tiễn làmnảy sinh nhu cầu nhận thức ở sinh viên; đảm bảo tính hệ thống và liên tục trọngviệc tự rèn luyện của bản thân sinh viên; có sự giúp đỡ và kiểm tra kịp thời cáchoạt động của sinh viên thông qua đội ngũ cán bộ giảng dạy và các tổ chức đoànthể …

Việc xem xét các đặc điểm nhân cách của sinh viên có vai trò quan trọngtrong việc xác định nội dung, hình thức và phương pháp tác động đến họ nhằmhình thành xu hướng nghề nghiệp của người chuyên gia tương lai trong trườngđại học

2.2 Vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản, giới tính

Sinh viên là lực lượng bắt đầu đủ tuổi kết hôn Thực tế cho thấy, hiện nay

số thanh niên sinh viên có quan hệ tình dục trước hôn nhân có xu hướng tăng

Do đó, đây là một lực lượng cần phải được giáo dục sức khỏe sinh sản, giới tính.Mục đích của quá trình giáo dục là hình thành ở sinh viên thái độ và hành viđúng đắn trong quan hệ tình yêu, tình bạn khác giới, biết cách giải quyết các vấn

đề liên quan đến tình yêu, tình dục …

Nội dung cơ bản của giáo dục sức khỏe sinh sản, giới tính là trang bị chosinh viên những kiến thức về giới, giới tính, sức khỏe sinh sản; kiến thức và khảnăng phòng tránh các bệnh lây qua đường tình dục …

Trang 8

IV Những yêu cầu về nhân cách của người giảng viên

1 Những yêu cầu đối với người giảng viên với tư cách là nhà sư phạm

* Các phẩm chất cần có của giảng viên:

Người giảng viên phải có các phẩm chất cơ bản: Tận tụy với nghề, chấpnhận nghề dạy học; Quan hệ đúng mực và có tình cảm trong sáng đối với sinhviên; Có lý tưởng nghề dạy học; Gương mẫu trong lối sống, trong hoạt độngchuyên môn và trong việc thực hiện các nghĩa vụ công dân

- Nhóm kỹ năng giảng dạy: Kỹ năng lựa chọn, vận dụng nội dung dạy học,phương pháp dạy học, các hình thức tổ chức dạy học …; Sử dụng thành thạo cácphương tiện dạy học hiện đại

- Nhóm kỹ năng giáo dục: Bao gồm các kỹ năng xác định mục tiêu, hìnhthức

giáo dục sinh viên theo chức năng nhiệm vụ đã được quy định; thực hiện nhiệm

vụ giáo dục đạo đức nghề nghiệp, các kỹ năng sống cho sinh viên…

- Nhóm kỹ năng nghiên cứu khoa học: Kỹ năng lựa chọn vấn đề và tổ chứcquá trình thực hiện một đề tài khoa học; kỹ năng hướng dẫn sinh viên nghiên cứukhoa học

- Nhóm kỹ năng hoạt động xã hội: Kỹ năng tổ chức các hoạt động xã hội,

kỹ năng hướng dẫn sinh viên tích cực tham gia các hoạt động phong trào …

- Nhóm kỹ năng tự học: Người giảng viên cần biết lựa chọn các bước đicho mình: Làm gì trước, làm gì sau? Học cái gì trước, học cái gì sau và học nhưthế nào? Ngoài ra, người giảng viên cần có kỹ năng hướng dẫn sinh viên tự tổchức hoạt động học tập một cách có hiệu quả

3 Các kiểu nhân cách giảng viên đại học

Trang 9

Dựa vào sự kết hợp những phẩm chất nhất định của hai loại hoạt động sưphạm và hoạt động nghiên cứu khoa học của người giảng viên, có thể chia thànhbốn kiểu nhân cách giảng viên đại học như sau:

- Kiểu 1: Là những giảng viên có khả năng kết hợp tốt các hoạt động củanhà khoa học với hoạt động của nhà sư phạm Đây là những giảng viên có trình

độ chuyên môn giỏi, trình độ nghiệp vụ sư phạm cao, vừa giảng dạy tốt, vừa cónhiều công trình khoa học chất lượng

- Kiểu 2: Là những giảng viên làm tốt công việc của nhà khoa học, rất cólợi cho công tác hướng dẫn và nghiên cứu khoa học của sinh viên nhưng lạigiảng dạy yếu vì không hấp dẫn sinh viên ở giảng đường, không được đánh giácao trong giảng dạy

- Kiểu 3: Bao gồm các giảng viên thực hiện tốt các hoạt động sư phạmnhưng lại không thực hiện tốt hoạt động nghiên cứu khoa học; trình độ chuyênmôn tuy không cao nhưng kiến thức chắc chắn; tuy không có sự sáng tạo xuấtsắc trong nghiên cứu nhưng khá thuần thục trong giảng dạy

- Kiểu 4: Là những giảng viên yếu cả về hoạt động khoa học lẫn hoạt động

sư phạm Có thể họ vẫn là giảng viên nhưng đã bị đào thải trong lòng sinh viên

V Đặc điểm của giao tiếp sư phạm đại học

1 Giao tiếp sư phạm

1.1 Giao tiếp sư phạm là gì?

- Giao tiếp giữa con người với con người trong hoạt động sư phạm gọi làgiao tiếp sư phạm

Hoạt động sư phạm là quá trình dạy học, bao gồm trong đó hoạt động củathầy (hoạt động dạy) và hoạt động của trò (hoạt động học)

Trang 10

Hoạt động sư phạm điển hình phải là hoạt động xảy ra trong nhà trường,trong đó chủ yếu là sự giao tiếp giữa giáo viên và học sinh Giáo viên là người tổchức, điều khiển quá trình giáo dục trong nhà trường được gọi là chủ thể giáotiếp với nghĩa chung nhất, còn học sinh là người lĩnh hội tri thức khoa học, kỹnăng, kỹ xảo nghề nghiệp do giáo viên truyền đạt, với nghĩa này học sinh là đốitượng (khách thể) giao tiếp trong hoạt động sư phạm Tuy nhiên, để dạy học,giáo dục đạt hiệu quả, chất lượng cao, chúng ta không thể coi học sinh là kháchthể thụ động mà các em thực sự là một chủ thể có ý thức, hoạt động tích cực đểlĩnh hội, tiếp thu tri thức khoa học do giáo viên truyền đạt.

Như vậy, có thể hiểu: Giao tiếp sư phạm là sự tiếp xúc tâm lý giữa giáo

viên và học sinh nhằm truyền đạt và lĩnh hội những tri thức khoa học, vốn sống, vốn kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo, xây dựng và phát triển nhân cách toàn diện ở học sinh.

Giao tiếp sư phạm có 3 nét đặc thù:

- Nét đặc thù thứ nhất: Trong giao tiếp sư phạm, giáo viên (chủ thể giao tiếp)

không chỉ giao tiếp với học sinh qua nội dung bài giảng, tri thức khoa học mà họphải là tấm gương sáng, mẫu mực về nhân cách đúng với đòi hỏi của xã hội quiđịnh cho học sinh noi theo Nghĩa là, ở thầy giáo, lời nói, việc làm, hành vi ứng

xử phải có sự thống nhất với nhau, có như vậy mới tạo được uy tín cao đối vớihọc sinh

- Nét đặc thù thứ hai: Thầy giáo dùng các biện pháp giáo dục tình cảm,

thuyết phục, vận động đối với học sinh, nghiêm cấm những hành vi xâm phạmthân thể và danh dự của học sinh

- Nét đặc thù thứ ba: Sự tôn trọng của Nhà nước và xã hội ta đối với giáo

viên Với truyền thống tôn sư trọng đạo của nhân dân ta nay cũng được Nhànước ta qui định bằng luật

Trang 11

Nhà nước có chính sách và tạo điều kiện để xã hội quí trọng nhà giáo, tôntrọng nghề dạy học, bảo đảm các điều kiện vật chất và tinh thần để nhà giáo thựchiện nhiệm vụ của mình.

1.2 Vị trí, vai trò của giao tiếp sư phạm

Giao tiếp sư phạm là điều kiện đảm bảo hoạt động sư phạm, vì quá trìnhtruyền đạt và lĩnh hội trong hoạt động sư phạm được diễn ra trong các mối quan

hệ giao tiếp của thầy và trò Như vậy, giao tiếp ở đây diễn ra như điều kiện củahoạt động sư phạm

Giao tiếp là một thành phần cơ bản của hoạt động sư phạm Những hìnhthức chủ yếu của công tác giáo dục và học tập diễn ra trong điều kiện giao tiếp,như giảng bài trên lớp, phụ đạo riêng, thi cử v.v

Không có giao tiếp thì hoạt động của giáo viên và học sinh không đạt đượcmục đích giáo dục

Giao tiếp sư phạm có vị trí cực kỳ quan trọng trong cấu trúc năng lực sưphạm Giao tiếp nói chung có nhiều chức năng, trong hoạt động sư phạm, giaotiếp sư phạm cũng có nhiều chức năng

Nó có thể là công cụ phục vụ công việc giảng dạy, có thể là điều kiện xãhội - tâm lý bảo đảm quá trình giáo dục, có thể là phương thức tổ chức các mốiquan hệ qua lại giữa thầy và trò

Nếu coi hoạt động sư phạm phục vụ 3 mục đích: Giảng dạy, giáo dục và pháttriển thì có thể xem giao tiếp sư phạm phục vụ việc thực hiện các mục đích trên.Như vậy: Giao tiếp sư phạm giữ một vị trí hết sức quan trọng và nổi bậttrong cấu trúc năng lực sư phạm, trong tay nghề dạy học và giáo dục

Biết tổ chức giao tiếp sư phạm hợp lý là quá trình tạo mọi điều kiện thuậnlợi về mặt tâm lý để phát triển động cơ học tập đúng đắn ở học sinh, phát huy

Trang 12

được tính tích cực hoạt động trí tuệ, phát triển tính sáng tạo, xây dựng thái độhọc tập đúng đắn, xóa đi hàng rào ngăn cách xa lạ giữa giáo viên với học sinh.Giao tiếp sư phạm hợp lý cũng có nghĩa là biết tạo ra những xúc cảm, tình cảmtích cực ở cả giáo viên và học sinh.

Vì vậy, trong việc đào tạo người giáo viên tương lai không thể thiếu nộidung của giao tiếp sư phạm, thiếu nó thì người giáo viên không thể thực hiệnđược nhiệm vụ của mình

1.3 Các giai đoạn của giao tiếp sư phạm

Theo kết quả nghiên cứu của các nhà TLH Xô Viết cũ: A.A.Bôđalôp,

V.A Cancalich, N.V Cudơmina, A.A Lêônchiep giao tiếp sư phạm có thểchia thành 5 giai đoạn sau:

- Giai đoạn định hướng trước khi thực hiện giao tiếp:

Trong giai đoạn này, người giáo viên tìm hiểu đối tượng giao tiếp (từng họcsinh, nhóm, tổ, lớp ) Người giáo viên mô hình hoá việc giao tiếp với nhóm,lớp học sinh để chuẩn bị cho hoạt động giảng dạy sắp diễn ra Do đó người giáoviên phải xác định mục đích và nhiệm vụ giáo dục, hoàn cảnh tâm lý, đạo đứccủa lớp học sinh, những đặc điểm tâm lý lứa tuổi và cá nhân học sinh, những đặcđiểm nhân cách của chính bản thân giáo viên, hệ thống các phương pháp giáodục và giảng dạy được sử dụng trong giao tiếp

- Giai đoạn tạo ra bầu không khí tiền giao tiếp:

Bên cạnh giai đoạn định hướng chung, trong trường hợp với một lớp họcmới, thì giao tiếp sư phạm ở đây còn phải qua giai đoạn tạo ra bầu không khítiền giao tiếp

Giai đoạn này dựa vào thông tin ban đầu của giáo viên về học sinh và củahọc sinh về giáo viên Trong giai đoạn này một việc có ý nghĩa quan trọng là

Trang 13

làm sao tạo ra được ấn tượng ban đầu chân thật, mạnh mẽ, có thể để lại dấu ấntốt đẹp cho quá trình giao tiếp sau đó.

Giai đoạn này còn gọi là giai đoạn mở đầu của quá trình giao tiếp, nghĩa làngười giáo viên tổ chức trực tiếp ở trên lớp với học sinh ngay lúc đầu tiên tiếpxúc với họ, giáo viên cụ thể hó kế hoạch giao tiếp, chính xác các điều kiện giaotiếp và thực hiện sơ bộ giai đoạn khởi đầu giao tiếp trực tiếp

- Giai đoạn “thăm dò tâm hồn đối tượng”:

Đây là giai đoạn cuối cùng của thời kỳ chuẩn bị, đồng thời cũng chính làgiai đoạn bắt đầu cuộc giao tiếp, thầy giáo hiểu tâm trạng học sinh, học sinhđồng cảm với thầy giáo, hai bên hiểu biết lẫn nhau Đây là điều kiện đảm bảocho giao tiếp sư phạm nói riêng, cho quá trình giảng dạy và giáo dục nói chung

- Giai đoạn điều chỉnh, điều khiển và phát triển quá trình giao tiếp:

Đây là giai đoạn thực hiện một loạt thao tác cần thiết như cách nói với họcsinh, cách im lặng giữa chừng, cách sử dụng các phương tiện trực quan, một sốđộng tác tín hiệu: Giơ thước, chỉ bảng v.v

Ở giai đoạn này, giáo viên phải thu hút sự chú ý của học sinh: Giảng bài, trảlời, giữ trật tự trong giờ giảng

Giai đoạn này còn gọi là giai đoạn ngôn từ, trình bày bài giảng, truyền thụtri thức, đây là giai đoạn trọng điểm, hạt nhân trong giao tiếp sư phạm

- Giai đoạn phân tích hệ thống giao tiếp đã được thực hiện và xây dựng mô hình giao tiếp cho hoạt động tiếp theo

Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình giao tiếp

Sự phân chia các giai đoạn giao tiếp ở trên không hoàn toàn tuyệt đối,không có nghĩa là các giai đoạn đó độc lập với nhau, mà giữa các giai đoạn có

sự liên quan mật thiết, giai đoạn trước sẽ là cơ sở cho giai đoạn tiếp theo

Trang 14

1.4 Nguyên tắc giao tiếp sư phạm

1.4.1 Nguyên tắc giao tiếp sư phạm là gì?

Nguyên tắc giao tiếp sư phạm là hệ thống những quan điểm chỉ đạo, địnhhướng cho hành vi, hành động tiếp xúc giữa giáo viên và học sinh nhằm đảmbảo kết quả của mọi quá trình giao tiếp

Những nguyên tắc giao tiếp sư phạm thực chất là những yêu cầu ứng xử,những yêu cầu này có tính bền vững đến mức độ chỉ đạo toàn bộ quá trình giaotiếp ở mọi hoàn cảnh (mọi tình huống) và đối với mọi cá nhân Tuy nhiên, trongnguyên tắc vẫn có độ giao động để đảm bảo kết quả của một quá trình giao tiếp.Tuỳ thuộc vào đối tượng, mục đích, nhiệm vụ và các tình huống giao tiếpkhác nhau mà người giáo viên có thể vận dụng các nguyên tắc giao tiếp sư phạmcho phù hợp, đạt hiệu quả Trong việc vận dụng các nguyên tắc này thì vốnsống, kinh nghiệm nghề nghiệp của người giáo viên có vai trò quan trọng

1.4.2 Các nguyên tắc giao tiếp sư phạm

Trong quá trình giao tiếp với học sinh, giáo viên cần đảm bảo các nguyêntắc sau:

a) Nguyên tắc đảm bảo tính mô phạm trong giao tiếp

Giáo viên hàng ngày tiếp xúc với học sinh, mọi hành vi, cử chỉ của học sinh

dù có chủ định hay vô tình đều trực tiếp tác động vào nhận thức của các em.Thầy cô giáo như tấm gương để hàng ngày học sinh noi theo Để giáo dục đượchọc sinh, nhân cách của người thầy phải là một nhân cách mẫu mực Vì vậy,giáo viên cần phải đảm bảo tính mô phạm trong giao tiếp

Tính mô phạm trong giao tiếp được thể hiện:

- Sự gương mẫu của người giáo viên về mọi mặt, điều đó được thể hiệntrong hành vi, cử chỉ, ngôn ngữ, trang phục.v.v

Trang 15

Nói năng phải mạch lạc, rõ ràng, khúc chiết, cử chỉ phải đĩnh đạc, đànghoàng, tự tin Thái độ và những biểu hiện của thái độ phải phù hợp với các phảnứng hành vi

Sự tế nhị, lịch thiệp của giáo viên là một nhân tố quan trọng cho sự thànhcông trong quá trình dạy học

- Trong giao tiếp với học sinh, thầy cô giáo cần có sự thống nhất giữa lời nói

và hành động, tránh mâu thuẫn, không ăn khớp giữa lời nói với việc làm, vì điều đó

sẽ làm ảnh hưởng không tốt tới sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh

b) Nguyên tắc tôn trọng nhân cách đối tượng giao tiếp

Tôn trọng nhân cách đối tượng giao tiếp có nghĩa là phải coi đối tượng giaotiếp là một cá nhân một con người với đầy đủ các quyền được học tập, lao động,vui chơi, nhận thức ,với những đặc trưng tâm lý riêng biệt, có quyền bình đẳngvới mọi người trong các quan hệ xã hội Trong quá trình giao tiếp, hãy tạo điềukiện thuận lợi để đối tượng giao tiếp bộc lộ thái độ, nhu cầu, nguyện vọng,những nét tính cách riêng của họ

Giáo viên không nên áp đặt, ép buộc học sinh phải tuân theo ý mình mộtcách máy móc, duy ý chí

Tôn trọng nhân cách học sinh được thể hiện :

- Phút ban đầu khi giao tiếp phải gây được ấn tượng tốt đẹp, dễ chịu để đốitượng giao tiếp có thể thiết lập được mối quan hệ tình cảm tốt đẹp

- Trong giao tiếp, giữa chủ thể giao tiếp và đối tượng giao tiếp phải có sựhiểu biết lẫn nhau Giáo viên cần lắng nghe ý kiến của học sinh, tôn trọng sựdiễn đạt bằng ngôn ngữ, cử chỉ, điệu bộ của các em, dù đúng hay sai cũng khôngnên cắt ngang hay tỏ thái độ phản đối gây cho các em sự sợ hãi không dám bày

tỏ hết nguyện vọng của mình

Trang 16

Cũng có thể chia kỹ năng giao tiếp sư phạm đại học thành các kỹ năng cụ thểnhư sau:

- Kỹ năng tìm hiểu đối tượng giao tiếp

- Kỹ năng tìm hiểu môi trường giao tiếp

- Kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp

Trang 17

bảo chất lượng bên trong đã và đang được thiết lập tại các trường Từ khóa:Đảm bảo chất lượng, kiểm định chất lượng, giáo dục đại học.

Đảm bảo chất lượng (ĐBCL) trong giáo dục đại học (GDĐH) đã phát triển từ rấtlâu, và rất thịnh hành trong hệ thống giáo dục đại học của Pháp, Ý và Anh Tuynhiên, phải đến đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, ĐBCL mới thực sự trở thành

xu hướng tất yếu toàn cầu Với xu hướng này, hệ thống ĐBCL GDĐH cấp quốcgia đã hình thành ở các nền giáo dục tiên tiến Đi liền với đó là sự ra đời của các

tổ chức, đơn vị ĐBCL và các công cụ ĐBCL, điển hình là kiểm định chất lượng(KĐCL - Accreditation), thẩm định chất lượng (Audit), xếp hạng đại học(Ranking) Cùng với xu hướng thế giới trong ĐBCL GDĐH, từ cuối năm 2005đầu 2006 VN đã bắt đầu triển khai Kiểm định chất lượng (KĐCL) GDĐH Tuyvậy, sau gần hơn 10 năm (2006-2015), hệ thống KĐCL vẫn chưa hoàn thành và

đi vào hoạt động chính thức Hệ thống ĐBCL GDĐH quốc gia về cơ bản vẫnchưa đượchình thành, chủ yếu dựa vào KĐCL và thiếu vắng nhiều công cụĐBCL được sử dụng phổ biến ở những nền giáo dục tiên tiến như Mỹ, Anh, HàLan, Úc và các nước châu Âu khác Hai trung tâm KĐCL mới được thành lập ở

VN, chưa chính thức triển khai hoạt động đánh giá chất lượng Có thể nói giữanền GDĐH của VN và các nước trong khu vực cũng như trên thế giới tồn tạinhững khoảng cách khá lớn về nhiều mặt, trong đó có công tác ĐBCL LuậtGiáo dục sửa đổi, Luật GDĐH, Chiến lược phát triển GDĐH 2011-2020 cũngnhư các chương trình cải cách GDĐH trong những năm gần đây đã chuyển trọngtâm vào chất lượng giáo dục, từ đó đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với việc hoànthiện và phát triển hệ thống ĐBCL GDĐH quốc gia Bài viết này chỉ ra một sốnhững vấn đề của hệ thống ĐBCL và KĐCL GDĐH VN, qua đó đưa ra một sốkhuyến nghị đối với việc phát triển hệ thống này Một vài trong số nhữngkhuyến nghị này đã từng được các chuyên gia nghiên cứu GDĐH trong nước đềcập, tuy nhiên ở thời điểm hiện tại, những khuyến nghị này vẫn có giá trị nênvẫn được đưa vào bài viết này

Giải pháp, đề xuất đối với việc xây dựng và phát triển hệ thống ĐBCL trongGDĐH VN Việc xây dựng và phát triển hệ thống ĐBCL quốc gia, đặc biệt làthiết kế của hệ thống từ việc sử dụng các công cụ ĐBCL, chức năng và nhiệm

vụ của các tổ chức ĐBCL đến vai trò của các bên tham gia, phụ thuộc vào nhiềuyếu tố Mô hình ĐBCL khi áp dụng vào một hệ thống GDĐH cần tính đến tínhthực tiễn, quy mô của hệ thống, các yếu tố văn hoá cũng như mức độ tự chủ củacác CSGDĐH Dựa trên hiện trạng ĐBCL trong GDĐH VN hiện nay và xuhướng ĐBCL trên thế giới, người viết xin đưa ra một số đề xuất đối với việcphát triển hệ thống ĐBCL quốc gia dưới đây Một là, cần khuyến khích vàthường xuyên thúc đẩy vai trò chủ động, tích cực của các trường ĐH&CĐ thôngqua tăng cường sự tham gia của các tổ chức hiệp hội vào hoạt động ĐBCL

Trang 18

ngoài Các hiệp hội có thể là Hiệp hội các trường ĐH&CĐ VN (mới thành lập)hoặc Hiệp hội ĐBCL GDĐH và Hiệp hội KĐCL GDĐH (chưa tồn tại, cần thànhlập) Hai là, kết hợp sử dụng đa dạng nhiều công cụ ĐBCL nhằm đa dạng hoáhoạt động ĐBCL, khai thác tối đa các thế mạnh của các công cụ khác nhau đểcông tác ĐBCL toàn diện hơn và đạt hiệu quả cao hơn Việc sử dụng kết hợpnhiều công cụ khác nhau cũng nhằm đảm bảo công tác này bao trùm được nhiềumặt và khía cạnh của chất lượng trong GDĐH Đối với những nền GDĐH kémphát triển trong đó ĐBCL chủ yếu chỉ dựa vào KĐCL chất lượng như VN,ĐBCL chỉ được hiểu một cách hạn chế và nhầm lẫn với KĐCL Việc đa dạnghoá các công cụ còn hỗ trợ thay đổi nhận thức này Cụ thể về công cụ ĐBCL,cần xem xét giới thiệu sử dụng đối sánh làm công cụ cải tiến chất lượng.Phương pháp này đã được sử dụng phổ biến ở Mỹ, Anh, Úc, cộng đồng châu Âu

và một số quốc gia khác trên thế giới, và được cho là công cụ cải tiến chất lượnghữu ích Đặc biệt, tại Anh đối sánh CTĐT theo chuyên ngành đang được sửdụng ở cấp quốc gia, được QAA tổ chức và điều phối thực hiện Đối sánh cũngđược sử dụng ở quy mô khu vực, như dự án đối sánh GDĐH châu Âu và dự ánđối sánh nhằm thúc đẩy cải cách quản trị đại học trong các trường đại học ở khuvực Trung Đông và Bắc Phi Sử dụng đối sánh được cho là xu thế tương lai củaĐBCL GDĐH trên thế giới

Một là, cần khuyến khích và thường xuyên thúc đẩy vai trò chủ động, tích cựccủa các trường ĐH&CĐ thông qua tăng cường sự tham gia của các tổ chức hiệphội vào hoạt động ĐBCL ngoài Các hiệp hội có thể là Hiệp hội các trườngĐH&CĐ VN (mới thành lập) hoặc Hiệp hội ĐBCL GDĐH và Hiệp hội KĐCLGDĐH (chưa tồn tại, cần thành lập) Hai là, kết hợp sử dụng đa dạng nhiều công

cụ ĐBCL nhằm đa dạng hoá hoạt động ĐBCL, khai thác tối đa các thế mạnh củacác công cụ khác nhau để công tác ĐBCL toàn diện hơn và đạt hiệu quả caohơn Việc sử dụng kết hợp nhiều công cụ khác nhau cũng nhằm đảm bảo côngtác này bao trùm được nhiều mặt và khía cạnh của chất lượng trong GDĐH Đốivới những nền GDĐH kém phát triển trong đó ĐBCL chủ yếu chỉ dựa vàoKĐCL chất lượng như VN, ĐBCL chỉ được hiểu một cách hạn chế và nhầm lẫnvới KĐCL Việc đa dạng hoá các công cụ còn hỗ trợ thay đổi nhận thức này Cụthể về công cụ ĐBCL, cần xem xét giới thiệu sử dụng đối sánh làm công cụ cảitiến chất lượng Phương pháp này đã được sử dụng phổ biến ở Mỹ, Anh, Úc,cộng đồng châu Âu và một số quốc gia khác trên thế giới, và được cho là công

cụ cải tiến chất lượng hữu ích Đặc biệt, tại Anh đối sánh CTĐT theo chuyênngành đang được sử dụng ở cấp quốc gia, được QAA tổ chức và điều phối thựchiện Đối sánh cũng được sử dụng ở quy mô khu vực, như dự án đối sánhGDĐH châu Âu và dự án đối sánh nhằm thúc đẩy cải cách quản trị đại học trongcác trường đại học ở khu vực Trung Đông và Bắc Phi Sử dụng đối sánh đượccho là xu thế tương lai của ĐBCL GDĐH trên thế giới Bên cạnh đó, rất cần

Trang 19

thiết phải thiết lập, phát triển và ban hành các công cụ theo dõi, giám sát và đánhgiá hoạt động của hệ thống GDĐH, ví dụ như hệ thống chỉ số, chỉ báo hiệu quả

và hoạt động GDĐH, đơn vị chuyên trách thu thập và theo dõi các chỉ số này3 ,khung tiêu chuẩn chất lượng GDĐH, khung năng lực quốc gia, Việc phát triểnmột công cụ khảo sát tương tự như SEQ (Student Experience Questionnaire),bảng hỏi khảo sát trải nghiệm của người học, để các trường ĐH&CĐ sử dụng,

dù nguyên bản hay có điều chỉnh, cũng là rất quan trọng trong việc thúc đẩytriển khai khảo sát ý kiến người học một cách khoa học, hệ thống và thực chất

Ba là, thúc đẩy, hỗ trợ phát triển hệ thống ĐBCL nội bộ trong các trườngĐH&CĐ Thẩm định nội bộ (Internal Audit), đánh giá đồng cấp và đối sánh lànhững công cụ ĐBCL nội bộ cần được thúc đẩy sử dụng tại các trườngĐH&CĐ Bốn là, nâng cao tính thực chất của các hoạt động và công cụ ĐBCL.Trước hết, nhất thiết phải có cơ chế xác nhận thông tin công khai của các trườngĐH&CĐ, có thể qua một tổ chức độc lập như một cơ quan thống kê giáo dục,hoặc có thể sử dụng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước(QLNN) Năm là, cần thiết lập cơ chế quản lý, quy định pháp lý và quy tắc nghềnghiệp phù hợp và chặt chẽ đối với các tổ chức, cá nhân tham gia ĐBCL Donăng lực ĐBCL ở các trường ĐH&CD còn hạn chế, nhu cầu được tư vấn vềcông tác này là rất lớn Điều tối quan trọng ở đây là phải có cơ chế quản lý hiệuquả, phù hợp và khung pháp lý thuận lợi để một mặt tạo môi trường lành mạnh

và đảm bảo tính liêm chính trong các hoạt động chuyên môn, mặt khác hạn chếtối đa nguy cơ xảy ra tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi” và tiêu cực xảy ratrong đánh giá chất lượng Sáu là, “cấp phép” cần phải được sử dụng kết hợpchặt chẽ với KĐCL Nếu cấp phép được dùng để kiểm soát chất lượng ban đầutại thời điểm mở trường, mở ngành đào tạo thì KĐCL cần phải tập trung kiểmsoát chất lượng trong quá trình đào tạo và phát triển của trường và chương trình

Kiến nghị đối với việc triển khai KĐCL ở VN

Áp dụng và thực hiện triển khai nguyên tắc “tính độc lập”

Tiệm tiến, từng bước cải tổ quy trình tổ chức nhằm giảm tải cho việc KĐCL Hướng đến phương pháp tiếp cận “Bắt buộc” dựa trên cơ sở phân cấp

Bộ tiêu chuẩn KĐCL cần nhấn mạnh về quá trình thực hiện với những bước tiến

bộ

Triển khai thực hiện Tuyển chọn, đào tạo kiểm định viên

Kết luận Chất lượng giáo dục là một phạm trù đa diện và tương đối Số 26 (36) Tháng 01 - 02/2016 PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP Giáo Dục & Đào Tạo 109phức tạp do bởi có quá nhiều yếu tố tham gia ảnh hưởng đến quá trình giáo dục

-Vì vậy, đảm bảo chất lượng GDĐH cho dù có thông qua công cụ và phương tiệnnào đi chăng nữa cũng là một quá trình lâu dài Không có công cụ ĐBCL nào có

Trang 20

thể ngay lập tức làm thay đổi chất lượng giáo dục Và, cũng không có một công

cụ nào có thể độc lập nâng cao được chất lượng của cả một hệ thống giáo dục

mà không kết hợp với các giải pháp khác Bản chất của các công cụ ĐBCL cũngphải được sử dụng kết hợp với nhau để ĐBCL đạt hiệu quả cao hơn ĐBCL vàKĐCL trong GDĐH của VN bắt đầu “thụt lùi” so với phong trào ĐBCL ở cácnước tiên tiến tới khoảng 15 năm Sau gần hơn 10 năm, hệ thống ĐBCL vàKĐCL trong GDĐH của VN vẫn chưa hoàn thiện trong khi các nước khác đãtrải qua 1 đến 2 kỳ đánh giá chính sách và thực hành ĐBCL và KĐCL để điềuchỉnh, cải tiến hệ thống của họ Tính đến thời điểm hiện tại, về ĐBCL, chúng ta

đã đi chậm hơn tới 25-30 năm so với các hệ thống GDĐH tiên tiến trên thế giới

Đã có rất nhiều bài học từ các nền GDĐH đi trước và rõ ràng chúng ta có thể vànên nghiên cứu cải tiến hệ thống của chúng ta từ những bài học đó Thôngthường, đó là cách khôn ngoan và hiệu quả để rút ngắn khoảng cách với các nềngiáo dục tiên tiến và đẩy nhanh quá trình hội nhập Tuy nhiên, việc này cần đượcthực hiện một cách cẩn trọng và chọn lọc Bài viết hy vọng mở rộng cuộc đốithoại giữa các nhà quản lý, những người làm chính sách và các nhà nghiên cứutrong vấn đề

Trang 21

CÂU HỎI ÔN TẬP HP TÂM LÝ HỌC GIÁO DỤC ( DẠY) ĐẠI HỌC

Câu 1: Bằng thực tiễn dạy học ở đại học, Anh (chị) hãy phân tích những yếu tố

chi phối đời sống tâm lý sinh viên hiện nay theo quan điểm cá nhân Trên cơ sở

đó hãy đưa ra biện pháp hữu hiệu góp phần nâng cao chất lượng đời sống tâm lýcủa sinh viên, giúp các em học tập tốt hơn ở trường đại học và thích nghi vớinhu cầu của thị trường lao động trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Hoạt động, giao tiếp với sự hình thành và phát triển tâm lý

Tâm lý người là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp:

- Thông qua hoạt động, con người lĩnh hội kinh nghiệm xã hội – lịch sử,đồng thời “ xuất tâm lực lượng bản chất” của mình ra bên ngoài, tạo nên sự ảnhhưởng đến người khác, đến các mối quan hệ xã hội

- Thông qua giao tiếp, con người gia nhập vào các mối quan hệ xã hội, lĩnhhội nền văn hóa xã hội để phát triển tâm lý; đồng thời nhận thức về người khác

và tự đánh giá bản thân

Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khẳng định: Tâm lý người có nguồn gốc

là thế giới khách quan, trong đó nguồn gốc xã hội là cái quyết định Tâm lýngười là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp của con người trong các mối quan

hệ xã hội Có thể tổng quát về sự hình thành và phát triển tâm lý người thôngqua sơ đồ dưới đây:

Trang 22

Xã hội (các quan hệ xã hội)

Đối tượng giao tiếp

Đối tượng hoạt động

Giao tiếp

Con người (Tâm lý-nhân cách)

Chủ thể HĐ- GT

Hoạt động

Đặc điểm tâm lý lứa tuổi của thanh niên sinh viên

Đặc điểm phát triển thể chất

Sinh viên đã trưởng thành về thể chất, có sự phát triển tương đối hoàn thiện

về sinh lý Hệ xương, hệ cơ phát triển ổn định, đồng đều, cân đối Các tuyến nộitiết phát triển ổn định Có sự tăng trưởng của các hoóc môn nam và nữ Cấu trúc

và chức năng của hệ thần kinh được hoàn thiện Các tố chất về thể lực như sứcnhanh, sức bền bỉ, dẻo dai, linh hoạt phát triển mạnh

Những đặc điểm về thể chất nêu trên tạo điều kiện thuận lợi cho sự pháttriển tâm lý ở lứa tuổi này

Những đặc điểm tâm lý cơ bản của sinh viên

Sự phát triển của hoạt động nhận thức

Hoạt động nhận thức trong học tập của sinh viên diễn ra ở cường độ cao.Các quá trình nhận thức như: tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng … đều đượchuy động tối đa để đáp ứng yêu cầu học tập theo phương thức tự nghiên cứu

Trang 23

Đối tượng học của sinh viên không phải chỉ là những tri thức khoa học hấpdẫn mà còn bao gồm rất nhiều tri thức khoa học vừa khó, vừa khô khan, nhưngsinh viên đều phải tập trung lĩnh hội và tham gia vào bài giảng nên tri giác cóchủ định, chú ý có chủ định được huy động là chủ yếu.

Hầu hết các tri thức khoa học ở đại học đều đòi hỏi phải ghi nhớ ý nghĩa, vìthế sinh viên phải biết tổ chức ghi nhớ để có trí nhớ dài hạn

Sinh viên có những phẩm chất tư duy tốt như: óc phân tích, tổng hợp, khảnăng phê phán, tính độc lập, khả năng khái quát vấn đề; đồng thời có sự sáng tạotrong vận dụng tri thức sao cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn

Khả năng tưởng tượng của sinh viên được phát triển ở mức độ cao; sinhviên có khả năng xây dựng những hình ảnh mới, độc đáo mà học sinh phổ thôngchưa có được, nhờ đó họ có thể lĩnh hội tốt các tri thức có tính chất trừu tượng ởđại học

Sự phát triển về nhân cách

a) Đời sống tình cảm

Sinh viên đã trưởng thành về tâm, sinh lý nên đời sống tình cảm rất phongphú, sâu sắc và bền vững Tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức và tình cảm thẩm

mỹ của sinh viên phát triển đến mức độ tích cực nhất

Tình cảm trí tuệ của sinh viên biểu hiện rõ qua thái độ tích cực đối với việcchiếm lĩnh tri thức khoa học Nhiều sinh viên chủ động tìm tòi, khám phá cácphương pháp học tập phù hợp với điều kiện và yêu cầu môn học nhằm thực hiệntốt nhiệm vụ học tập

Tình cảm đạo đức và tình cảm thẩm mỹ của sinh viên phát triển có chiềusâu Sinh viên có thể lý giải, phân tích một cách có cơ sở những gì mà họ yêuthích

Trang 24

Tình bạn của sinh viên phát triển mạnh và có chiều sâu Tình bạn góp phầnlàm cho nhân cách của sinh viên phát triển mạnh Tình yêu nam nữ của sinh viêncũng rất phát triển Tình yêu sinh viên thường là những mối tình đẹp, nhưng vẫncòn tồn tại một số lệch lạc trong quan hệ tình bạn khác giới và tình yêu.

Trí tuệ cảm xúc của sinh viên đã phát triển Sinh viên có những kinhnghiệm nhất định về các lĩnh vực tình cảm; có khả năng kiềm chế bản thân trướcnhững ham muốn tiêu cực, biết phân tích và đánh giá các hiện tượng trong đờisống xã hội và của bản thân

b) Sự phát triển tự ý thức

* Các mặt biểu hiện của tự ý thức:

Thông thường tự ý thức biểu hiện ở các mặt sau:

- Cá nhân tự nhận thức về bản thân mình từ dáng vẻ bề ngoài, vị trí, cácmối quan hệ xã hội đến phẩm chất và năng lực cá nhân

- Có thái độ đối với bản thân, tự nhận xét, tự đánh giá (hài lòng hoặc khônghài lòng, tự cao hoặc tự ti …)

- Xác định mục đích phấn đấu, tự điều khiển và điều chỉnh hành vi theomục đích tự giác

- Có khả năng tự giáo dục, tự hoàn thiện bản thân

* Đặc điểm tự ý thức của sinh viên:

Do sự trưởng thành về lứa tuổi, do sự thay đổi vị thế xã hội, sinh viên cókhả năng đánh giá khách quan về bản thân; có khả năng tự điều chỉnh các hoạtđộng tâm lý như nhận thức, thái độ và hành vi để thích ứng được với các hoạtđộng học tập, rèn luyện, hoạt động tập thể ở trường đại học

Trang 25

Sinh viên tự thu thập và xử lý các thông tin về bản thân để tự điều chỉnhmình Sinh viên tự nhìn nhận lại bản thân, so sánh với những nhận xét của chínhmình về bản thân, từ đó nảy sinh nhu cầu tự hoàn thiện.

Sự phát triển tự ý thức của sinh viên là biểu hiện của sự phát triển nhâncách người lao động trong tương lai Sự đánh giá khách quan về bản thân giúpsinh viên nhận thức rõ những điểm mạnh, điểm yếu của mình để xác định mức

độ đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp

c) Sự phát triển định hướng giá trị của sinh viên

Vào học đại học nghĩa là sinh viên đã lựa chọn giá trị là trình độ học vấncao, được lao động ở trình độ cao, được đãi ngộ hơn các tầng lớp lao động kháctrong xã hội Tuy nhiên, lý do chọn nghề ở những sinh viên khác nhau có sựkhác nhau

Do tác động của kinh tế thị trường, của xu thế hội nhập, các giá trị truyềnthống ít nhiều thay đổi Sinh viên hướng vào bản thân nhiều hơn, coi trọng cánhân hơn, đồng thời cũng chấp nhận thách thức của thực tế, sẵn sàng hợp tácnhững cũng chấp nhận cạnh tranh

Sinh viên là lớp người trẻ, có vốn kiến thức khoa học cơ bản và đang đượctrang bị những kiến thức thuộc lĩnh vực chuyên môn nhất định Sinh viên cókhát vọng vươn lên nhưng cũng bộc lộ tính bồng bột của tuổi trẻ nên việc thựchiện các dự định cho tương lai không phải lúc nào cũng diễn ra thuận lợi

2.3 Xu hướng và các kiểu nhân cách sinh viên

a) Xu hướng phát triển nhân cách sinh viên

Sinh viên là người đang học nghề nên xu hướng phát triển nhân cách củasinh viên là xung hướng phát triển nhân cách nghề nghiệp Mô hình nhân cách

Trang 26

mà sinh viên hướng tới là nhân cách của người lao động có trình độ cao tronglĩnh vực chuyên môn mà sinh viên đã chọn.

Sinh viên tiếp tục nhận thức rõ hơn, hiểu kỹ hơn về nghề nghiệp và các yêucầu của nghề nghiệp đã chọn, đồng thời dần dần hình thành tình cảm nghềnghiệp

Xu hướng nghề nghiệp dần được ổn định và từng bước hình thành phẩmchất, năng lực cần thiết của nghề

Tình cảm đạo đức, tinh thần trách nhiệm với cộng đồng phát triển mạnh;tình cảm bạn bè, tình yêu nam nữ phát triển và có tính chất bền vững

Do nhận thức về nghề nghiệp đầy đủ hơn nên sinh viên đã đặt kỳ vọng vềnghề nghiệp tương lai Sinh viên tự đối chiếu bản thân với yêu cầu của xã hội đểhoàn thiện mình nhằm đáp ứng các yêu cầu đó

Sự phát triển nhân cách sinh viên diễn ra theo hướng tăng dần khả năng đápứng các yêu cầu về phẩm chất và năng lực của nghề đã chọn từ năm đầu đếnnăm cuối

b) Các kiểu nhân cách của sinh viên

Dựa vào thái độ của sinh viên đối với hoạt động học tập và các hoạt độngchính trị xã hội, người ta phân chia 6 kiểu nhân cách sinh viên như sau:

- Kiểu 1: Là những sinh viên học tốt tất cả các môn cơ sở, cơ bản vàchuyên ngành; xác định mục đích học tập rõ ràng; tích cực tham gia hoạt độngnghiên cứu khoa học; tích cực trong các hoạt động chính trị xã hội Đây lànhững sinh viên toàn năng, thường được bầu vào các vị trí lãnh đạo tập thể sinhviên

Trang 27

- Kiểu 2: Là những sinh viên học khá; học tốt một số môn, thường là nhữngmôn chuyên ngành; tích cực tham gia các hoạt động chính trị xã hội; gắn bó vớitập thể lớp bằng các hoạt động học tập và rèn luyện nghề nghiệp

- Kiểu 3: Là những sinh viên đạt kết quả xuất sắc trong học tập; hiểu biếtrộng về nhiều lĩnh vực; say mê học tập và nghiên cứu khoa học; có thể có mộtnăng khiếu nào đó, nhưng không hứng thú tham gia các hoạt động chính trị xãhội

- Kiểu 4: Là những sinh viên có kết quả học tập trung bình, có thể là khá;không hẳn là thiếu chăm chỉ nhưng vì quan tâm và dành nhiều thời gian cho cáchoạt động chính trị xã hội nên ảnh hưởng đến kết quả học tập; gắn bó với tập thểbằng các hoạt động xã hội hơn là hoạt động học tập

- Kiểu 5: Là những sinh viên học trung bình hoặc yếu hơn một chút; khôngtích cực tham gia các hoạt động chuyên môn như nghiên cứu khoa học, ít tranhluận xêmina; không tích cực tham gia các hoạt động chính trị xã hội; không gắn

bó chặt chẽ với tập thể

- Kiểu 6: Là những sinh viên có học lực yếu; không tích cực tham gia cáchoạt động chuyên môn như nghiên cứu khoa học; không tích cực trong các hoạtđộng chính trị xã hội; ham chơi, thích tham gia vào các hoạt động vui chơi giảitrí hơn là học

LƯU Ý: HƯƠNG THẤY CÂU NÀY KHÔNG CÓ NHƯNG HƯƠNG SOẠN TỪ TRƯỚC CÁC ANH CHỊ CỨ THAM KHẢO THÊM NẾU CÓ

RA THI THÌ CHÉP LUÔN

Câu 2: Bằng thực tiễn dạy học ở đại học Anh/Chị hãy chứng minh “ giao tiếp

giữa giảng viên và sinh viên hiệu quả quyết định sự thành công của tiết dạy” từ

đó hãy đưa ra một số giải pháp nâng cao kỹ năng giao tiếp cho sinh viên

Cơ sở tâm lý học của quá trình dạy học và giáo dục sinh viên

Trang 28

Cơ sở TLH của hoạt động dạy học

1.1 Hoạt động dạy học của giảng viên

Hoạt động dạy học của giảng viên thực chất là sự tổ chức và điều khiển một cách tối ưu hoạt động học của sinh viên.

Nhiệm vụ quan trọng của người giảng viên là tích cực hóa hoạt động nhận thức của sinh viên thông qua việc tìm kiếm các phương pháp dạy học tích cực Giảng viên phải biết cách tổ chức, giao bài tập hoặc vấn đề để sinh viên tự tìm tòi, khám phá.

Hoạt động học của sinh viên có tác động không nhỏ đến hoạt động dạy của giảng viên Giảng viên có thể lựa chọn phương pháp dạy học tích cực nhưng nếu sinh viên không hưởng ứng thì hiệu quả dạy học hạn chế.Vì vậy, cần có sự tương thích giữa hoạt động dạy của giảng viên và hoạt động học của sinh viên Sinh viên phải hoàn thành nhiệm vụ học tập, độc lập giải quyết các bài tập, các vấn đề mà giảng viên giao cho theo kế hoạch bài giảng Như vậy, hoạt động dạy và hoạt động học cần được liên kết chặt chẽ, thống nhất với nhau qua nội dung và phương pháp dạy học

Hoạt động dạy ở đại học cần đạt được các giá trị cơ bản sau đây:

- Dạy sinh viên muốn học Nghĩa là phải hình thành động cơ học tập tích cực ở

sinh viên.

Người giảng viên cần giúp sinh viên nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của những tri thức được lĩnh hội; tạo tình huống có vấn đề để khơi dậy nhu cầu nhận thức

ở sinh viên …

- Dạy sinh viên biết học Nghĩa là phải hình thành phương pháp học tập tích cực

cho sinh viên.

Giảng viên phải tổ chức tốt hoạt động học tập cho sinh viên, giúp sinh viên tự mình chiếm lĩnh tri thức mới, phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo trong quá trình lĩnh hội.

Trang 29

- Dạy sinh viên tích cực, kiên trì học Nghĩa là, giúp sinh viên phát huy tính độc

lập, sự kiên trì, sự nỗ lực ý chí trong quá trình lĩnh hội trí thức.

Giảng viên giao nhiệm vụ học tập phù hợp với trình độ nhận thức của sinh viên;

có sự kiểm tra, đánh giá kịp thời và có tác dụng khích lệ…

- Dạy sinh viên học tập có kết quả Nghĩa là giúp sinh viên quan tâm đến chất

lượng học tập.

Các bài tập, các vấn đề mà giảng viên giao cho sinh viên chuẩn bị, tự lập giải quyết phải được hoàn thành theo kế hoạch bài giảng và đáp ứng các yêu cầu đặt ra.

1.2 Hoạt động học của sinh viên

Đối tượng của hoạt động học ở đại học là tri thức khoa học và các kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp mà người sinh viên cần có Ngoài việc lĩnh hội các tri thức khoa học, sinh viên có thể sáng tạo hoặc góp phần sáng tạo các tri thức mới dưới sự hướng dẫn của giảng viên.

Mục đích của hoạt động học ở sinh viên không chỉ hướng vào việc lĩnh hội tri thức

mà còn hướng vào làm thay đổi chính bản thân sinh viên Hoạt động học của sinh viên gắn liền với hoạt động nghiên cứu khoa học và không tách rời hoạt động nghề nghiệp.

Hoạt động học của sinh viên diễn ra dưới sự điều khiển trực tiếp của giảng viên

và nằm trong khuôn khổ của chương trình đào tạo thuộc một chuyên ngành nhất định Hoạt động học của sinh viên chủ yếu hướng vào tiếp thu những tri thức của chính bản thân hoạt động học – đó là phương pháp học Vấn đề cơ bản ở đại học là học phương pháp.

Nét đặc trưng trong hoạt động học tập của sinh viên là quá trình nhận thức ở cường độ cao mà trọng tâm là quá trình tư duy tìm tòi, khám phá Hoạt động học của sinh viên đòi hỏi sự sáng tạo cao, bởi lẽ những tri thức sinh viên cần lĩnh hội vượt ra ngoài giáo trình, bài giảng mà giảng viên cung cấp.

Trang 30

Sinh viên phải hoàn toàn tự quyết định kế hoạch học tập của mình sao cho trong một thời gian nhất định họ phải đáp ứng các yêu cầu của quá trình đào tạo.

Hoạt động học của sinh viên diễn ra phức tạp theo nhiều phương thức khác nhau Mỗi phương thức tạo ra một kiểu học tập tương đối riêng biệt Các kiểu học của sinh viên được thể hiện ở 5 kiểu tổng quát như sau:

- Kiểu 1: Việc học tập có tính chất thụ động, bắt chước, sao chép, ít tính chủ định Cách học này khuyến khích việc sử dụng cách dạy theo khuôn mẫu, áp đặt, buộc sinh viên phải chấp nhận các tri thức mà giảng viên cung cấp.

- Kiểu 2: Học theo nguyên tắc phát hiện – tìm tòi Đây là kiểu học tập được thực hiện bằng các hành động cảm tính rồi tiến đến các hành động lý tính, tức là hành động trí tuệ Sinh viên tự mình phát hiện, khai thác, tích lũy và xử lý các thông tin thu nhận được từ đó hình thành các khái niệm khoa học Tương thích với kiểu học này là phương pháp dạy học có chức năng tổ chức, định hướng, tạo môi trường, điều kiện để sinh viên làm việc (phương pháp kiến tạo – tìm tòi).

- Kiểu 3: Học tập bằng cảm xúc, rung cảm Đó là cách học bằng rung cảm, có sự đồng cảm giữa con người với nhau Nội dung chủ yếu của quá trình học tập chính là những trải nghiệm thực tế của sinh viên Cá nhân và nhóm sinh viên tham gia vào các quan hệ, tình huống nhất định, từ đó hợp tác, chia sẻ với nhau những kiến thức, kinh nghiệm, đánh giá và trao đổi ý tưởng Phù hợp với kiểu học này là cách dạy động viên – tham gia, khuyến khích – tham gia Giảng viên có thể sử dụng các phương pháp dạy học phổ biến như phương pháp động não, nêu vấn đề, thảo luận nhóm …

- Kiểu 4: Học dựa vào kinh nghiệm nhận thức và hoạt động trí tuệ của mỗi cá nhân sinh viên Ở kiểu học này, những vấn đề trong nội dung học tập trở thành nhân tố

cơ bản của các tình huống dạy học Những tình huống đó trở thành môi trường học tập trực tiếp của sinh viên Tương ứng với kiểu học này là cách dạy học nêu vấn đề Giảng viên sử dụng các phương pháp dạy học như phương pháp động não, nêu vấn đề, thảo luận nhóm …

Trang 31

- Kiểu 5: Kiểu học hỗn hợp Với kiểu học này sinh viên phải sử dụng đa dạng các phương pháp học tập Điều đó đòi hỏi giảng viên phải sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học, có phương án kết hợp các kiểu phương pháp sao cho phù hợp với đặc điểm tâm lý của sinh viên,

1.3 Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên

Sinh viên nghiên cứu khoa học chủ yếu phục vụ cho mục đích học tập Tuy nhiên thông qua hoạt động này sinh viên được rèn luyện một số phẩm chất và kỹ năng của người làm khoa học như: thế giới quan khoa học, các kỹ năng tìm tòi và khai thác tài liệu …

Một năng lực quan trọng được hình thành ở sinh viên đó là năng lực phát hiện và giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn, trong các hoạt động xã hội.

Các đề tài nghiên cứu của sinh viên chủ yếu hướng vào các nội dung dạy học và giáo dục học sinh Qua việc nghiên cứu các đề tài như thế sinh viên sư phạm vừa hiểu biết thêm các yêu cầu dạy học và giáo dục học sinh sau này, vừa biết cách phát hiện và giải quyết vấn đề trong thực tiễn giáo dục.

Việc nghiên cứu khoa học trong trường đại học còn giúp sinh viên phát triển tính tích cực hoạt động trí tuệ, biết nhìn vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau để có thể nắm vững các tri thức khoa học một cách sáng tạo

Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên có thể được tổ chức rất sớm từ khi các em mới vào trường và được diễn ra dưới nhiều hình thức, mức độ khác nhau: bài tập lớn, thu hoạch môn học, báo cáo chuyên đề, khóa luận tốt nghiệp …

Việc công bố kết quả nghiên cứu của sinh viên được thực hiện thông qua các hình thức như: Hội nghị khoa học của sinh viên, các cuộc thi do Bộ Giáo dục & Đào tạo tổ chức …

Trang 32

SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ TRONG DẠY

HỌC ĐẠI HỌC

Câu 1: Anh (Chị) hãy chọn một chương hoặc một bài trong học phần đang dạy hoặc sẽ dạy ở cao đẳng, đại học và đề xuất ý tưởng sử dụng phương tiện kĩ thuật và công nghệ nhằm đảm bảo nguyên tắc 3Đ

Đây là một câu hỏi do chính mỗi anh/ chị tự trình bày nên ở đây chỉ tóm tắt lại nội dung nguyên tắc 3Đ để anh/ chị nắm rõ phần lý thuyết để trả lời câu hỏi này.

Đúng lúc

Chọn những PPDH có khả năng cao nhất đối với việc thực hiện mục tiêu dạyhọc Việc thực hiện một mục tiêu dạy học nhất định thì có một số PPDH có khảnăng cao hơn các PPDH khác Chẳng hạn nếu đặt mục tiêu nhanh chóng truyềnthụ cho xong nội dung quy định thì PPDH thuyết trình có vị trí quan trọng.Nhưng nếu đặt mục tiêu phát triển năng lực tìm tòi sáng tạo của học sinh thì vấn

đề sẽ khác đi Do vậy, người thầy phải chọn phương tiện dạy học linh động, phùhợp nội dung và mục đích của bài giảng Lựa chọn PPDH cần chú ý đến hứngthú, thói quen của học sinh, kinh nghiệm sư phạm của giáo viên Ví dụ đối vớiviệc trình bày thông tin cần ưu tiên lựa chọn các PP sử dụng phương tiện nghenhìn, sử dụng truyền thông đa phương tiện Đối với các hoạt động chế biếnthông tin cần tổ chức các hoạt động tự phát hiện, phối hợp với làm việc theonhóm, phát huy càng tối đa tính tích cực, sáng tạo của học sinh

Hiện nay, rất cần thiết phải cho GV và HS trở nên quen thuộc với các kĩ thuậtdạy học mới có hiệu quả cao trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục

Trang 33

Đúng chỗ

Sử dụng phương tiện dạy học đúng chỗ là tìm vị trí để giới thiệu phương tiệntrên lớp học hợp lí nhất, giúp cho học sinh có thể sử dụng nhiều giác quan nhất

để tiếp xúc với phương tiện một cách đồng đều ở mọi vị trí trong lớp học

Vị trí trình bày phương tiện phải đảm bảo các yêu cầu chung cũng như riêng của

nó về chiếu sáng, thông gió và các yêu cầu kĩ thuật đặc biệt khác

Các phương tiện phải được giới thiệu ở những vị trí đảm bảo tuyệt đối an toàncho giáo viên và học sinh trong và ngoài giờ dạy Đồng thời phải bố trí sao chokhông làm ảnh hưởng tới quá trình làm việc, học tập của các lớp khác

Phải bố trí chỗ để phương tiện dạy học tại lớp sau khi dùng để không làm phântán tư tưởng của học sinh khi tiếp tục nghe giảng

Đủ cường độ

Từng loại phương tiện có mức độ sử dụng tại lớp khác nhau Nếu kéo dài việctrình diễn hoặc dùng lặp lại một loại phương tiện quá nhiều lần trong một buổigiảng, hiệu quả của chúng sẽ giảm sút Chú ý thay đổi PPDH và hình thức tổchức dạy học tránh nhàm chán, gây hứng thú cho học sinh Cần thay đổi PPDHsau 15, 20 phút Theo số liệu của các nhà sinh lí học, nếu như một dạng hoạtđộng được tiếp tục trên 15 phút thì khả năng làm việc sẽ giảm sút rất nhanh Nên

sử dụng phương tiện nghe nhìn không quá 3 đến 4 lần trong một tuần và kéo dàikhông quá 20 - 25 phút trong một tiết học

Đúng lúc: (trang 215)

 Giới thiệu TTNT Dẫn dắt gợi mở

Trang 34

Đúng chỗ: Phòng học phải có loa, máy chiếu tốt, tránh trường hợp máy chiếukhông đủ tốt.

Đúng cường độ: Chiếu trong vòng 15 phút Không chiếu nhiều quá

Câu 1: Vận dụng nguyên tắc 3Đ khi sử dụng phương tiện kĩ thuật và công nghệ

trong một chương hoặc một bài thuộc học phần anh (chị) đang hoặc sẽ dạy ởtrường cao đẳng/đại học nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học

Trả lời”

Nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học

a) Đảm bảo an toàn:

b) Đảm bảo nguyên tắc 3Đ: đúng lúc, đúng chỗ và đủ cường độ.

c) Đảm bảo tính hiệu quả

Đảm bảo nguyên tắc 3Đ: Đúng lúc, đúng chỗ và đủ cường độ

- Nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học “Đúng lúc”

Sử dụng đúng lúc phương tiện dạy học là việc trình bày phương tiện vào lúc cầnthiết, lúc học sinh cần được quan sát, gợi nhớ kiến thức, hình thành kĩ năng trong trạng

thái tâm, sinh lí thuận lợi nhất

Việc sử dụng phương tiện dạy học đạt hiệu quả cao nếu được giáo viên đưa đúngthời điểm nội dung và phương pháp dạy học cần đến Cần đưa phương tiện theo trình tự

bài giảng, tránh trưng bày đồng loạt trên bàn, giá, tủ trong một tiết học cũng nhưbiến lớp

học thành một phòng trưng bày

- Nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học “Đúng chỗ”

Sử dụng phương tiện dạy học đúng chỗ là tìm vị trí để giới thiệu phương tiện trên

lớp học hợp lí nhất, giúp cho học sinh có thể sử dụng nhiều giác quan nhất để tiếp xúc với

phương tiện một cách đồng đều ở mọi vị trí trong lớp học

Vị trí trình bày phương tiện phải đảm bảo các yêu cầu chung cũng như riêng của

nó về chiếu sáng, thông gió và các yêu cầu kĩ thuật đặc biệt khác

Các phương tiện phải được giới thiệu ở những vị trí đảm bảo tuyệt đối an toàn cho giáo viên và học sinh trong và ngoài giờ dạy Đồng thời phải bố trí sao cho không làm ảnh hưởng tới quá trình làm việc, học tập của các lớp khác

Ngày đăng: 19/11/2019, 14:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w