Chúng em tiến hành nghiên cứu đề tài “So sánh những quy định pháp lí về hối phiếu theo ULB 1930 và Luật công cụ chuyển nhượng của Việt Nam 2005 và minh họa một trường hợp cụ thể để rút r
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
TIỂU LUẬN MÔN: THANH TOÁN QUỐC TẾ
Đề tài: So sánh những qui định pháp lý về hối phiếu theo ULB1930 và Luật công cụ chuyển nhượng của Việt Nam 2005 và minh họa trường
Trang 2- Làm phần so sánh nghiệp vụtruy đòi, nghiệp vụ thanhtoán
- Góp ý chỉnh sửa nội dung
- Thuyết trình
3 Trần Thị Trang 1511110843
- Làm phần so sánh nghiệp vụchấp nhận và ký hậu hốiphiếu
5 Võ Văn Hải 1415510043 - Làm case
6 Lê Tuấn Anh 1412210806
- Làm phần so sánh nội dunghối phiếu đòi nợ
9 Nguyễn Thị Lan Anh 1511120004 - Làm so sánh nghiệp vụ bảo
lãnh, thanh toán
10 Trần Khánh Hà 1411110178 - Thuyết trình
- So sánh 2 mẫu hối phiếu
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với xu hướng toàn cầu hóa kinh tế, giao dịch thương mại quốc tế ngàycàng mở rộng và phát triển về mọi mặt Trong đó, thanh toán quốc tế - với vai trò làkhâu cuối cùng của giao dịch thương mại quốc tế cũng luôn được các quốc gia chútrọng và xem xét để tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho cả bên nhập khẩu vàxuất khẩu cũng như để giảm thiểu các rủi ro trong thanh toán
Bên cạnh những thuận lợi nhất định mà các công cụ thanh toán như hốiphiếu, kì phiếu, séc,… mang lại giúp cho việc thanh toán quốc tế trở nên nhanh gọn
và đảm bảo hơn thì vẫn còn chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn Và lí do thường gặpphải nhất là trở ngại về môi trường pháp lí quốc tế và của mỗi quốc gia Mặc dù cácđiều kiện thanh toán quốc tế đã được quy định khá đầy đủ và rõ ràng trong bộ tậpquán quốc tế của ICC nhưng vẫn còn nhiều bất cập và thiếu đồng bộ nên đã cónhiều tranh chấp xảy ra trong khâu thanh toán của các giao dịch thương mại quốc
tế
Để giảm thiểu những tranh chấp đó, đòi hỏi các bên phải nghiên cứu kĩlưỡng, cẩn thận những quy định chung của luật pháp các quốc gia cũng như luật và
tập quán quốc tế Chúng em tiến hành nghiên cứu đề tài “So sánh những quy định
pháp lí về hối phiếu theo ULB 1930 và Luật công cụ chuyển nhượng của Việt Nam 2005 và minh họa một trường hợp cụ thể để rút ra bài học” nhằm mang tới
cho mọi người cái nhìn tổng quan về sự khác biệt giữa hai nguồn luật này trong việcđiều chỉnh công cụ thanh toán thường gặp - hối phiếu Trong bài nghiên cứu, chúng
em có vận dụng những kiến thức được học trong môn Thanh toán quốc tế cũng nhưtìm hiểu những kiến thức thực tế qua ví dụ minh họa để làm rõ hơn về đề tài
Trang 5Do điều kiện thời gian và kiến thức có hạn, nên đề tài nghiên cứu của chúng em cònnhiều thiếu sót, rất mong cô chỉnh sửa và giúp đỡ để bài nghiên cứu đầy đủ và hoànthiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 6CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HỐI PHIẾU THEO ULB 1930
VÀ LUẬT CÔNG CỤ CHUYỂN NHƯỢNG CỦA VIỆT NAM
2005
1.1. Các nguồn luật điều chỉnh hối phiếu
1.1.1. Luật thống nhất Geneva về Hối phiếu và kì phiếu theo ULB 1930
Để thống nhất việc lưu thông hối phiếu, các nước tư bản đã ban hành các luật
điều chỉnh hối phiếu như: Luật hối phiếu của Anh 1882: Bill of Exchange Act of
1882 (BEA), Luật thương mại thống nhất của Mỹ năm 1962 Uniform Commercial Codes of 1962 (UCC)… Trong đó, đặc biệt được áp dụng rộng rãi nhất là bộ luật
theo công ước Geneva được ký kết năm 1930 Tên đầy đủ của nó là luật thống nhất
về hối phiếu Uniform Law for Bills of exchange (ULB) Ngày nay, Luật hối phiếu
thống nhất ULB 1930 có hiệu lực tại tất cả các nước châu Âu (ngoại trừ Anh).Nhiều nước khác mặc dù không tham gia Công ước Geneve, nhưng vẫn xây dựngLuật hối phiếu của họ tương thích với ULB 1930
Riêng đối với Việt Nam, bởi vì vào năm 1930, Việt Nam vẫn đang là thuộc địacủa Pháp, và vào thời điểm đó, Pháp bắt đầu tham gia công ước Geneva và chínhthức áp dụng luật ULB Cho nên tại Việt Nam cũng áp dụng rộng rãi luật này từnăm 1937 cho đến nay Vì vậy ngày nay để giải thích về hối phiếu ở nước ta cũngchỉ nên dựa vào ULB hơn là các văn bản pháp lý khác
1.1.2. Luật các công cụ chuyển nhượng của Việt Nam 2005 (LCCCN 2005)
Luật Các công cụ chuyển nhượng đã được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 8thông qua vào ngày 29/11/2005, và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006
Luật Các công cụ chuyển nhượng áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân ViệtNam, tổ chức và cá nhân nước ngoài tham gia vào quan hệ công cụ chuyển nhượngtrên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
6
Trang 71.2 Hối phiếu
1.2.1.Khái niệm hối phiếu
Luật thống nhất Geneva về Hối phiếu và kỳ phiếu ULB 1930 định nghĩa:
Hối phiếu bao gồm các nội dung: một mệnh lệnh đòi tiền vô điều kiện đểthanh toán một số tiền nhất định, tên của người trả tiền, thời gian và địađiểm thanh toán, tên của người thụ hưởng, địa điểm ký phát, chữ ký củangười ký phát
Luật các công cụ chuyển nhượng Việt Nam năm 2005 phân biệt rõ Hối
phiếu đòi nợ và Hối phiếu nhận nợ:
Hối phiếu đòi nợ là giấy tờ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người
bị ký phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêucầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụhưởng
Hối phiếu nhận nợ là giấy tờ có giá do người phát hành lập, cam kếtthanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặcvào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng
1.2.2. Những bên liên quan trong một hối phiếu
Đối với hối phiếu đòi nợ, các bên liên quan có thể bao gồm:
Người ký phát hối phiếu (drawer): là người xuất khẩu.
Người bị ký phát (người trả tiền) (drawee): là người nhập khẩu hàng
hay có trách nhiệm trả tiền
Người hưởng lợi (bereficiary): trước hết là người ký phát hối phiếu,
kế đến là người do người ký phát hối phiếu chỉ định trên hối phiếu
Trang 8 Người chấp nhận (acceptor): là khi người bị ký phát chấp nhận hối
phiếu kỳ hạn và người chấp nhận phải có trách nhiệm thanh toán hốiphiếu khi đến hạn
Người chuyển nhượng (endorser): là người chuyển quyền hưởng lợi
hối phiếu cho người khác bằng cách trao tay hay bằng thủ tục ký hậu
Người cầm phiếu (holder or bearer): là người có quyền nhận hối
phiếu khi hối phiếu được trả tiền
Người bảo lãnh: Là bất kỳ người nào ký tên vào hối phiếu, ngoại trừ
người ký phát và người bị ký phát, thường là ngân hàng nổi tiếng
1.2.3. Đặc điểm của hối phiếu
a Hối phiếu đòi nợ
Tính bắt buộc trả tiền của hối phiếu
Hối phiếu đòi nợ là “tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện” Người trả tiền hốiphiếu phải trả theo đúng nội dung ghi trên tờ phiếu và không thể viện bất cứ lý doriêng nào của mình để từ chối trả tiền đối với người ký phát hối phiếu hay người thụhưởng, trừ trường hợp hối phiếu được lập ra trái với các đạo luật chi phối nó
Người ký phát là người chịu trách nhiệm cuối cùng trong việc thanh toán chongười thụ hưởng (nếu khi đã chuyển nhượng mà bị người bị ký phát từ chối thanhtoán/ chấp nhận)
Tính trừu tượng của hối phiếu
Hối phiếu được lập dựa trên các giao dịch hợp đồng cơ sở (giao dịch cơ sở củahối phiếu thương mại là hợp đồng thương mại, của hối phiếu ngân hàng là hợp đồngcung ứng dịch vụ chuyển tiền ký kết giữa Ngân hàng và người yêu cầu chuyển tiền)nhưng hối phiếu này trở thành nghĩa vụ trả tiền độc lập với hợp đồng cơ sở
8
Trang 9Trên hối phiếu không nêu nguyên nhân phát sinh việc lập hối phiếu, mà chỉghi số tiền phải trả và những nội dung liên quan đến việc trả tiền Hiệu lực pháp lýcủa hối phiếu cũng không bị ràng buộc bởi bất cứ nguyên nhân gì sinh ra hối phiếu,
do đó hối phiếu không bị luật các nước cấm (ngoại trừ hối phiếu khống vì là hốiphiếu không được hình thành trên giao dịch cơ sở) Nói cách khác, nghĩa vụ trả tiềncủa hối phiếu là trừu tượng
Tính lưu thông của hối phiếu
Hối phiếu có thể được chuyển nhượng một hay nhiều lần trong thời hạn của
nó Hối phiếu có tính chất này vì hối phiếu là lệnh đòi tiền của người này với ngườikhác, trên hối phiếu có một giá trị tiền nhất định và hối phiếu có tính bắt buộc &tính trừu tượng
Hối phiếu có thể dùng thanh toán tiền mua hàng, trả nợ, chuyển nhượng, cầm
cố, thế chấp, vay vốn, chiết khấu và tái chiết khấu
Hối phiếu là trái vụ một bên
Hối phiếu là công cụ do người phát hành yêu cầu người bị ký phát thực hiệnnghĩa vụ dân sự trả tiền, vì vậy nghĩa vụ dân sự này có được thực hiện hay khôngphụ thuộc vào sự chấp nhận của người ký phát Hối phiếu sẽ vô hiệu nếu người bị
ký phát từ chối thanh toán một cách hợp pháp hoặc bị phá sản
b Hối phiếu nhận nợ
Hối phiếu nhận nợ có những đặc điểm giống như hối phiếu đòi nợ, chỉ khác ở một
số đặc điểm sau:
(i) Hối phiếu nhận nợ là một công cụ hứa trả tiền, chứ không phải là một
công cụ đòi tiền Nên muốn lưu thông dễ dàng nó thường phải được một
Trang 10Người thứ ba đứng ra bảo lãnh, trừ trường hợp Người lập phiếu có uy tínlớn về tài chính.
(ii) Kỳ phiếu là một công cụ hứa trả tiền vô điều kiện do con nợ viết ra để
hứa trả một số tiền nhất định cho chủ nợ Do đó trong lưu thông khôngphát sinh yêu cầu chấp nhận thanh toán
(iii) Người lập phiếu phải phát hành hối phiếu nhận nợ trước khi Người thụ
hưởng hối phiếu nhận nợ thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng giao dịch cơsở
(iv) Các quy định pháp lý đối với hối phiếu đòi nợ có thể áp dụng để điều
chỉnh đối với hối phiếu nhận nợ, trong chừng mực không trái với tínhchất và đặc điểm của hối phiếu nhận nợ
1.2.4. Vai trò của hối phiếu
Hối phiếu giữ một vai trò quan trọng trong hoạt động thương mại quốc tế đượcxem là một công cụ hữu hiệu để giảm rủi ro, thiệt hại trong quá trình thực hiện cácgiao dịch mua bán, đáp ứng được các nhu cầu thanh toán trong trường hợp có sựkhác biệt về địa lý giữa nơi bán và nơi mua
Song song với vai trò là một phương tiện thanh toán, hối phiếu còn được xem
là một công cụ tín dụng do người ta có thể thực hiện các hoạt động chiết khấu trênhối phiếu Tín dụng hối phiếu là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn mà thực chất là ngânhàng tiến hành mua lại các hối phiếu thương mại đang trong thời kỳ chưa đến hạnthanh toán và cung ứng một khoản vốn cho các thương nhân để họ có điều kiện tiếptục hoạt động sản xuất kinh doanh Khi kết thúc thời hạn chiết khấu, ngân hàng sẽđòi tiền ở người có nhiệm vụ trả tiền hối phiếu
1.2.5. Phân loại hối phiếu đòi nợ
Căn cứ vào thời hạn trả tiền của hối phiếu, người ta chia hối phiếu thành
ba loại:
10
Trang 11 Hối phiếu trả tiền ngay: Người trả tiền khi nhìn thấy hối phiếu này do người
cầm hối phiếu xuất trình phải lập tức trả tiền ngay
Hối phiếu trả tiền sau một số ngày nhất định: Người trả tiền khi nhìn thấy
hối phiếu này ký chấp nhận trả tiền và sau đó từ 5 đến 7 ngày tiến hành trảtiền hối phiếu đó
Hối phiếu có kỳ hạn: Sau một thời hạn nhất định (thường lớn hơn 7 ngày) kể
từ ngày ký phát hối phiếu hoặc ngày chấp nhận hối phiếu, người trả tiền phảithanh toán tiền trên hối phiếu
Căn cứ vào chứng từ kèm theo hối phiếu, người ta chia hối phiếu thành hailoại:
Hối phiếu trơn: Là hối phiếu mà việc thanh toán tiền trên hối phiếu này
không kèm theo chứng từ thương mại Thường được sử dụng để thu cước phívận tải, đòi nợ cũ…
Hối phiếu kèm chứng từ: Là loại hối phiếu được gửi kèm theo chứng từ
thương mại đến người có nghĩa vụ trả tiền
Căn cứ vào tính chất chuyển nhượng của hối phiếu, người ta chia hốiphiếu thành hai loại:
Hối phiếu đích danh: Là loại hối phiếu ghi rõ tên người thụ hưởng, loại hối
phiếu này không thể chuyển nhượng bằng nguyên tắc ký hậu
Hối phiếu theo lệnh: Là loại hối phiếu yêu cầu người thanh toán trả tiền theo
lệnh của người thụ hưởng hối phiếu Hối phiếu theo lệnh được chuyểnnhượng bằng hình thức ký hậu theo luật định
Căn cứ vào chủ thế ký phát hối phiếu chia làm hai loại:
Hối phiếu thương mại: Là hối phiếu do người xuất khẩu ký phát đòi tiền
người nhập khẩu, liên quan đến nghiệp vụ thanh toán hàng hoá xuất khẩuhoặc cung ứng dịch vụ
Hối phiếu Ngân hàng: Là hối phiếu do Ngân hàng phát hành lệnh cho Ngân
hàng đại lý của mình thanh toán tiền nhất định cho người thụ hưởng được chỉđịnh trên hối phiếu (loại hối phiếu này không thể chuyển nhượng)
Trang 13CHƯƠNG 2: SO SÁNH NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LÝ VỀ HỐI
PHIẾU THEO ULB 1930 VÀ LUẬT CÔNG CỤ CHUYỂN
NHƯỢNG 2005
Như đã nêu ở phần đặc điểm hối phiếu, các quy định pháp lý đối với hốiphiếu đòi nợ có thể áp dụng để điều chỉnh đối với hối phiếu nhận nợ, trong chừngmực không trái với tính chất và đặc điểm của hối phiếu nhận nợ Do vậy phần sosánh quy định pháp lý về hối phiếu đòi nợ và hối phiếu nhận nợ theo hai nguồn luậtnày là tương tự nhau Chỉ khác là hối phiếu nhận nơ thì không có nghiệp vụ yêu cầuchấp nhận như là đối với hối phiếu đòi nợ
2.1 Nội dung hối phiếu đòi nợ
Những nội dung cơ bản mà hối phiếu cần có được đề cập đến trong Điều 1
và Điều 2 của Luật thống nhất về hối phiếu ULB 1930; và Điều 16, Mục 1 (Phát
hành hối phiếu đòi nợ) của Luật công cụ chuyển nhượng Việt Nam 2005
2.1.1. Những điểm giống nhau
Nhìn chung, hai luật đều thống nhất những nội dung cần có trong một hốiphiếu đòi nợ như sau:
− Tiêu đề hối phiếu;
− Một mệnh lệnh vô điều kiện yêu cầu thanh toán một số tiền xác định;
− Thời gian thanh toán;
− Địa điểm thanh toán;
− Tên và địa chỉ của người thụ hưởng hoặc người phát hành hối phiếu;
− Tên và địa chỉ của người thanh toán;
− Ngày và nơi phát hành hối phiếu;
− Chữ ký của người ký phát;
Ngoài ra, trong việc nhận định tính pháp lý của một hối phiếu khi nó thiếumột trong các thông tin ở trên, cả hai luật cũng có sự thống nhất chung, cụthể:
− Khi hối phiếu không nêu rõ thời gian thanh toán thì được xem như làthanh toán ngay khi xuất trình;
− Khi không nêu rõ địa điểm trả tiền thì địa điểm được ghi bên cạnh tênngười trả tiền được xem là nơi trả tiền;
− Khi không có nêu địa điểm ký phát thì xem như đã ký phát tại nơi đượcnêu bên cạnh tên của người ký phát
(Điều 2 – ULB 1930 và Điều 16 – Luật CCCCN 2005)
Trang 14 Đối với việc xem xét tính pháp lý của những đối tượng khác trên hối phiếu,
cả ULB 1930 và Luật CCCN 2005 đều thừa nhận:
− Trong trường hợp số tiền ghi trên hối phiếu giữa phần số và phần chữ có sựkhác biệt thì số tiền ghi bằng chữ có giá trị thanh toán Còn trường hợp sốtiền trên hối phiếu đòi nợ được ghi hai lần trở lên bằng chữ hoặc bằng số và
có sự khác nhau thì số tiền có giá trị nhỏ nhất được ghi bằng chữ có giá trịthanh toán
(Điều 6 – ULB 1930 và Khoản 3 Điều 16 – Luật CCCCN 2005)
− Nếu trên nội dung hối phiếu xuất hiện chữ ký giả mạo hoặc chữ ký của mộtngười không được uỷ quyền thì chữ ký đó không có giá trị, đồng thời chữ kýcủa những người có liên quan khác vẫn có giá trị
(Điều 7 - ULB 1930 và Điều 12 - Luật CCCCN 2005)
2.1.2. Những điểm khác nhau:
Bên cạnh những điểm chung giữa hai luật, tất nhiên cũng tồn tại những khácbiệt, được trình bày trong bảng bên dưới:
Bản nối dài - Có thể có thêm tờ phụ đính
kèm
- Được dùng để ghi nội dungbảo lãnh, chuyển nhượng,cầm cố, nhờ thu
- Phải có chữ ký giáp lai củangười đầu tiên lập tờ phụ
(Điều 16)
Có thể ký hậu trên 1 tờgiấy và đính kèm với hốiphiếu và được người kýhậu ký tên vào
Phải ghi rõ tên và địa chỉ
(Điểm đ, khoản 1, Điều 16)
- Cần ghi rõ địa chỉ
(Điểm h, khoản 1, Điều 16;
- Không bắt buộcphải đóng dấu
- Không cần ghi rõđịa chỉ
(Khoản 6, khoản 8 Điều 11)
14
Trang 15Khoản 18 Điều 4)
Về cơ bản, luật các công cụ chuyển nhượng Việt Nam 2005 được soạn thảotrên cơ sở tham khảo và so sánh giữa các luật điều chỉnh về các công cụ chuyểnnhượng trên thế giới, sau đó hiệu chỉnh, bổ sung, sửa đổi để phù hợp với tập quán
và môi trường pháp lý tại Việt Nam nên mỗi luật có một ưu điểm riêng khi áp dụng
Luật CCCCN 2005 áp dụng tốt tại Việt Nam nhưng không đủ rộng để ápdụng ra ngoài môi trường pháp lý của Việt Nam và ngược lại Do đó việc hiểu đúngcác luật này là vô cùng cần thiết
Bên dưới là mẫu hối phiếu tuân theo luật ULB 1930:
Mẫu hối phiếu theo luật CCCN 2005
Trang 16 Phân tích sự khác nhau giữa hai mẫu hối phiếu trên:
− Mẫu hối phiếu theo ULB chỉ cần ghi tên người bị ký phát
− Mẫu hối phiếu theo Luật CCCN 2005 cần ghi rõ tên và địa chỉ của người bị
ký phát
2.2. Các nghiệp vụ liên quan đến hối phiếu
2.2.1. Nghiệp vụ chấp nhận
a. Định nghĩa:
Điều 4.16 Luật Công cụ chuyển nhượng: chấp nhận là cam kết của người bị ký
phát về việc sẽ thanh toán toàn bộ hoặc một phần số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợkhi đến hạn thanh toán bằng việc ký chấp nhận trên hối phiếu đòi nợ theo quy địnhcủa Luật này
Điều 28 ULB 1930: Bằng việc chấp nhận hối phiếu, người bị ký phát cam kết
thanh toán hối phiếu khi đến hạn
b. Thời hạn xuất trình hối phiếu
16
Trang 17Về thời hạn xuất trình để yêu cầu chấp nhận:
Đối với hối phiếu trả chậm: Theo điểm b khoản 1 Điều 18 Luật công cụ chuyển nhượng và Điều 23 ULB 1930, thời hạn xuất trình hối phiếu để yêu
cầu chấp nhận là 1 năm, nếu thời hạn thanh toán hối phiếu vào một thời điểmnhất định sau khi xuất trình
Đối với hối phiếu quá hạn thanh toán: Khoản 2 Điều 18 Luật công cụ
chuyển nhượng và ULB 1930 quy định vô hiệu
c. Thời hạn chấp nhận
Về thời hạn trả lời chấp nhận sau khi xuất trình yêu cầu:
Điều 19 Luật công cụ chuyển nhượng: Thời hạn chấp nhận hối phiếu là 2
ngày kể từ ngày xuất trình hối phiếu Trong trường hợp hối phiếu được xuấttrình dưới hình thức thư bảo đảm qua mạng bưu chính công cộng, thì thờihạn này được tính từ ngày người bị kí phát xác nhận đã nhận được hối phiếu
ULB 1930: không đề cập đến vấn đề này
d. Hình thức, nội dung của chấp nhận
Điều 25 ULB 1930:
Chấp nhận phải được viết lên hối phiếu Nó được diễn đạt bằng chữ “Đãchấp nhận” hoặc thuật ngữ tương tự nào khác Nó được người trả tiền kývào Chữ ký đơn giản lên mặt của hối phiếu cũng tạo nên sự chấp nhận
Không bắt buộc phải có ngày chấp nhận Trong trường hợp không ghi ngàychấp nhận, chấp nhận được xem là vô hiệu nếu hối phiếu có yêu cầu về mộtkhoảng thời gian nhất định để thanh toán hoặc xuất trình
Chấp nhận là vô điều kiện, những người trả tiền có thể chấp nhận một phầncủa số tiền được thanh toán Mội sự chấp nhận thay đổi nội dung của hốiphiếu sẽ được xem như sự chấp nhận của anh ta
Điều 21 Luật CCCN
Người bị kí phát thực hiện việc chấp nhận hối phiếu đòi nợ bằng cách ghi tênlên mặt trước của hối phiếu đòi nợ cụm từ “chấp nhận", ngày chấp nhận, vàchữ ký của mình Nếu thiếu ngày chấp nhận hoặc chữ kí thì chấp nhận đượccoi là vô hiệu
Có thể chấp nhận từng phần, chấp nhận phải vô điều kiện nếu không thì chấpnhận vô hiệu
Trong trường hợp chỉ chấp nhận thanh toán một phần số tiền ghi trên hốiphiếu đòi nợ, người bị ký phát phải ghi rõ số tiền được chấp nhận
Trang 18Luật CCCN 2005 ULB 1930
Bắt buộc ghi đầy đủ trên mặt trước của
hối phiếu từ “đã chấp nhận” + ngày chấp
nhận + chữ ký
Có thể chỉ cần ký tên là đã tạo thành sựchấp nhận hợp lệ
Nếu không ghi đủ ngày ký chấp nhận thì
hối phiếu vô hiệu
(Điều 25)
e. Người ký chấp nhận hối phiếu
ULB 1930: Người ký chấp nhận là người bị ký phát hoặc của 1 người khácđồng ý thanh toán thay người bị ký phát không thanh toán
Điều 19 Luật CCCN: Người ký chấp nhận là người bị ký phát
f. Chấp nhận có bổ sung điều kiện
ULB 1930: chỉ có thể bổ sung địa điểm thanh toán, nếu khác thì được coi là
từ chối
Luật CCCN (Điều 21): bổ sung được coi là từ chối
2.2.2. Nghiệp vụ ký hậu chuyển nhượng
a. Định nghĩa
Theo Điều 4.14 Luật công cụ chuyển nhượng 2005: ký hậu là việc người thụ
hưởng chuyển giao quyền sở hữu công cụ chuyển nhượng cho người nhận chuyểnnhượng theo các hình thức chuyển nhượng đã quy định
Theo ULB 1930: Không nêu lên định nghĩa của kí hậu chuyển nhượng
b. Hình thức của ký hậu chuyển nhượng
Điều 13 ULB 1930: Sự ký hậu phải được viết trên hối phiếu hoặc lên một
mảnh giấy gắn vào hối phiếu Nó phải được người ký hậu ký tên vào
Khoản 1 Điều 31 Luật CCCN: Việc chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng
phải được người thụ hưởng viết, ký tên trên mặt sau của Hối phiếu đòi nợ
c. Tính chất của ký hậu chuyển nhượng
18