Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực hiện trên, em chọn đề tài luận văn: Thực hiện chính sách đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Hà Nam, với hy vọng góp một
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VIẾT TIẾN HOÀN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ NÔNG NGHIỆP CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VIẾT TIẾN HOÀN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ NÔNG NGHIỆP CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, những kếtquả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan
Tác giả luận văn
Nguyễn Viết Tiến Hoàn
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 7
1.1 Cơ sở lý luận 7
1.2 Cơ cở thực tiễn 11
1.3 Khái quát tình hình đào tạo nghề tại Việt Nam 13
1.4 Kinh nghiệm thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở một số địa phương 19
Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ NÔNG NGHIỆP CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA 35
2.1 Khái quát đặc điểm tỉnh Hà Nam 35
2.2 Hệ thống đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn tỉnh Hà Nam 37
2.3 Thực trạng đào tạo và thực hiện chính sách đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn tỉnh Hà Nam 40
2.4 Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn tỉnh Hà Nam 52
Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ NÔNG NGHIỆP CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM 57
3.1 Một số vấn đề đặt ra 58
3.2 Định hướng và giải pháp 59
3.3 Một số kiến nghị 67
KẾT LUẬN 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Số lượng cơ sở dạy nghề theo loại hình đào tạo 13
Bảng 1.2 Số lượng và cơ cấu tuyển sinh học nghề theo cấp trình độ (giai đoạn 2012-2017) 15
Bảng 2.1 Phân bổ số lớp, học viên và kinh phí các lớp đào tạo nghề cho lao động nông thôn 41
Bảng 2.2 Phân loại đối tượng học viên (2012-2018) 42
Bảng 2.3 Kết quả học tập giai đoạn 2012-2018 44
Bảng 2.4 Tổ chức việc làm sau khóa học (2012-2018) 45
Bảng 2.5 Tổng hợp kết quả đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn (giai đoạn 2010-2018) 46
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 30 năm thực hiện đường đối đổi mới, dưới sự lãnh đạo củaĐảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt được thành tựu khátoàn diện và to lớn Nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ khá cao theohướng sản xuất hàng hoá, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả; đảmbảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia; một số mặt hàng xuất khẩu chiếm
vị thế cao trên thị trường thế giới Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướngtăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề; các hình thức tổ chức sản xuất tiếp tụcđổi mới Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường; bộ mặt nhiều vùngnông thôn thay đổi Đời sống vật chất và tinh thần của dân cư ở hầu hết cácvùng nông thôn ngày càng được cải thiện Xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả tolớn Hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và tăng cường Dân chủ cơ
sở được phát huy An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững Vịthế chính trị của giai cấp nông dân ngày càng được nâng cao
Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng,lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng Nông nghiệp phát triển còn kém bềnvững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưaphát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất; nghiên cứu, chuyển giao khoahọc - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế Việc chuyển dịch cơcấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phổbiến vẫn là sản xuất nhỏ phân tán; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiềumặt hàng thấp Công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề phát triển chậm, chưathúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn Cáchình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu phát triểnmạnh sản xuất hàng hoá Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu quy
Trang 8hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn yếu kém, môi trường ngày càng ônhiễm; năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế Đời sốngvật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn thấp, tỉ lệ hộ nghèo cao,nhất là vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa; chênh lệch giàu, nghèogiữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xãhội bức xúc.
Những hạn chế, yếu kém trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan.Nhận thức về vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn bất cập
so với thực tiễn; chưa hình thành một cách có hệ thống các quan điểm lý luận
về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn; cơ chế, chính sách phát triểncác lĩnh vực này thiếu đồng bộ, thiếu tính đột phá; một số chủ trương, chínhsách không hợp lý, thiếu tính khả thi nhưng chậm được điều chỉnh, bổ sungkịp thời Đầu tư từ ngân sách nhà nước và các thành phần kinh tế vào nôngnghiệp, nông dân, nông thôn còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển Tổchức chỉ đạo thực hiện và công tác quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, yếukém; vai trò của các cấp uỷ, chính quyền và các đoàn thể quần chúng trongviệc triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về nôngnghiệp, nông dân, nông thôn ở nhiều nơi còn hạn chế
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực hiện trên, em chọn đề tài luận văn:
Thực hiện chính sách đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Hà Nam, với hy vọng góp một phần giải quyết những bất
cập, hạn chế trong xây dựng chính sách đào tạo nghề nông nghiệp cho laođộng nông thôn để từ đó nâng cao thu nhập và ổn định đời sống của ngườinông dân, góp phần xây dựng nông thôn mới phát triển bền vững
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đề tài
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là một lĩnh vực còn mới, nhất làđào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn, tuy vậy lĩnh vực đào tạo
Trang 9nghề cũng được một số cơ quan, đơn vị và cá nhân quan tâm nghiên cứu vàtriển khai như:
- Báo cáo công tác dạy nghề Việt Nam năm 2011 của Viện Nghiên cứukhoa học dạy nghề (thuộc Tổng cục dạy nghề - Bộ LĐTB-XH) đã nêu kháiquát được hiện trạng và đưa ra các giải pháp chung cho công tác đào tạo nghềtại Việt Nam, tuy nhiên về lĩnh vực đào tạo nghề nông nghiệp thì mới sơ bộ
đề cập đến kết quả mà chưa đề cập đến nguyên nhân cũng như phân tích cácnghiên cứu có liên quan
- Báo cáo tổng quan về đào tạo nghề Việt Nam năm 2012 của Tổng cụcdạy nghề - Bộ LĐTBXH được trình bày tại hội nghề khu vực về đào tạo nghềtại Việt Nam cũng chỉ nêu tổng quát của đào tạo nghề nói chung và các giảipháp xây dựng đội ngũ giáo viên dạy nghề, cơ sở dạy nghề và cơ chế tài chínhcho công tác đào tạo nghề mà chưa đề cập đến phương thức thức đào tạo nghềcho lao động nông thôn
- Tác giả Nguyễn Tiến Dũng, nguyên Tổng Cục trưởng Tổng cục dạynghề, Bộ LĐTBXH, với bài viết: “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn trongthời kỳ hôi nhập quốc tế” đăng trên website của Bộ LĐTBXH Tác giả đã nêu
ra một số kết quả bước đầu trong công tác đào tạo nghề cho lao động ở nước
ta và đề cập đến một số hướng giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạonghề cho lao động Những giải pháp mà tác giả đưa ra còn mang tính kháiquát và chung chung Bài viết có tính tham khảo cho những nghiên cứu vềđào tạo nghề cho lao động nông thôn của từng địa phương cụ thể
- Nghiên cứu của tác giả Lã Thanh Tùng về đề tài "Những giải pháp cơbản về phát triển đào tạo nghề ở tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2012-2020" tậptrung nghiên cứu về đào tạo nghề cho lao động ở tỉnh Ninh Bình và cũng có
đề cập đến đào tạo nghề cho lao động nông thôn và nghề nông nghiệp, tuynhiên nội dung đề cập đến đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn
Trang 10còn nhiều hạn chế, chỉ nêu kết quả triển khai chứ chưa nghiên cứu và đề xuấtđược giải pháp cho đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn.
- Tác giả Trần Thành Nam cứu về đề tài "Đào tạo nghề cho lao độngnông thôn tỉnh Hà Tĩnh" tập trung đào tạo các nghề phù hợp với các đối tượngchính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo, người tàn tật,người bị thu hồi đất canh tác; lao động thuộc diện hộ cận nghèo và các đốitượng lao động nông thôn khác ở khu vực nông thôn Hà Tĩnh, chưa chú trọngđến đào tạo nghề nông nghiệp cho toàn bộ các hộ nông dân trong toàn tỉnh
- Một trong những nghiên cứu mới gần đây nhất là của tác giả VõThanh Tùng (năm 2018) nghiên cứu đề tài về "Thực hiện chính sách đào tạonghệ cho lao động nông thôn từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam" Đề tài đánh giáthực trạng việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tạitỉnh Quảng Nam một cách toàn diện, đề xuất các giải pháp hợp lý, sát thực đểhoàn thiện chính sách, nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đào tạo nghềcho lao động nông thôn trong thời gian tới Tuy nhiên đề tài cũng chỉ nghiên
cứ về đào tạo nghề cho lao động nông thôn nói chung, chưa nghiên cứuchuyên sâu về đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn nói riêng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Phân tích, đánh giá thực trạng công tác đào tạo nghề nông nghiệp cholao động nông thôn tại tỉnh Hà Nam Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp hiệu quảcho công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh Hà Nam trong thờigian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về thực hiện đào tạo nghề nông nghiệp cholao động nông thôn
Trang 11- Nghiên cứu thực trạng công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho laođộng nông thôn tại tỉnh Hà Nam.
- Trình bày những mặt được và hạn chế trong công tác đào tạo nghềnông nghiệp cho lao động nông thôn tại tỉnh Hà Nam
- Đề xuất giải pháp tăng cường hiệu quả công tác đào tạo nghề nôngnghiệp cho lao động nông thôn tại tỉnh Hà Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu việc thực hiện chính sách đào tạo nghề nông nghiệp cholao động nông thôn do tỉnh Hà Nam thực hiện
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Địa bàn nghiên cứu: nghiên cứu này được thực hiện tại TTKN tỉnh HàNam và một số đơn vị liên quan của tỉnh Hà Nam thực hiện công tác đào tạonghề cho lao động nông thôn
- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2012 đến 2018
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được triển khai dựa trên phương pháp luận duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luậtcủa Nhà nước về chính sách đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nôngthôn
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập, tổng hợp và xử lý thông tin: Phương pháp nàyđược thực hiện bằng cách tổng hợp số liệu qua báo cáo tình hình thực hiệnchính sách đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn tại Hà Nam
Trang 12- Phương pháp phân tích: Áp dụng phương pháp này để phân tích cácyếu tố ảnh hưởng trong việc thực hiện chính sách đào tạo nghề nông nghiệpcho lao động nông thôn tại tỉnh Hà Nam.
- Phương pháp chuyên gia: Phương pháp này được thực hiện bằng việcxin ý kiến các chuyên gia là các lãnh đạo, nguyên lãnh đạo các đơn vị, cơquan quản lý nhà nước ngành NN&PTNT tại tỉnh Hà Nam trong việc thựchiện chính sách đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Làm rõ hơn những vấn đề lý luận cơ bản về thực hiện chính sách đàotạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Hà Nam
6.2 Ý nghĩa thực hiện
Kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo cho các đơn vị,
cá nhân liên quan trong quá trình hoàn thiện và thực hiện chính sách đào tạonghề cho lao động nông thôn, nhất là các cơ sở đào tạo nghề nông nghiệp cholao động nông thôn
Luận văn cũng có thể sử dụng như một tài liệu tham khảo trong côngtác giảng dạy và nghiên cứu chính sách về đào tạo nghề và đào tạo nghề nôngnghiệp cho lao động nông thôn
7 Kết cấu của luận văn
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách đào tạonghề cho lao động nông thôn
Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách đào tạo nghề nông nghiệpcho lao động nông thôn tại tỉnh Hà Nam trong những năm qua
Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đào tạonghề nông nghiệp cho lao động nông thôn tại tỉnh Hà Nam
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm chính sách
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam “Chính sách là những chuẩn tắc cụthể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong mộtthời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung vàphương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm
vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”
Theo tác giải Vũ Cao Đàm thì “chính sách là một tập hợp biện phápđược thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra,trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơhoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiếnlược phát triển của một hệ thống xã hội”
1.1.2 Khái niệm chính sách công
Theo một số học giả trong và ngoài nước, chính sách công được hiểunhư sau:
- Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do Chính phủ tiếnhành (Peter Aucoin, 1971) Chính sách công là một tập hợp các quyết định cóliên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắnliền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó(William Jenkin, 1978)
- Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do Nhà nước tiếnhành (Peter Aucoin, 1971) mà vấn đề mà chính sách hướng vào giải quyết làvấn đề công
Trang 14- Chính sách công là cái mà chính phủ lựa chọn làm hay không làm(Thomas R Dye, 1984) Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sựlựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, docác cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đề ra (William N Dunn,1922).
- Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành độngcủa chính quyền để đáp lại một vấn đề công Nó được kết hợp với các cáchthức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức, cũngnhư các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện nhữngchương trình (Kraft and Furlong, 2004)
- Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiệnbằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đóđịnh hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội(PGS.TS Nguyễn Hữu Hải)
- Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan để lựachọn mục tiêu và những giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết cácvấn đề chính sách theo mục tiêu tổng thể đã xác định của đảng chính trị cầmquyền (PGS.TS Đỗ Phú Hải)
- PGS.TS Lê Chi Mai cho rằng "Chính sách công có những đặc trưng
cơ bản nhất như: chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước; chính sách
công không chỉ là các quyết định (thể hiện trên văn bản) mà còn là nhữnghành động, hành vi thực tiễn (thực hiện chính sách); chính sách công tập trunggiải quyết những vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mụctiêu xác định; chính sách công gồm nhiều quyết định chính sách có liên quanlẫn nhau"
1.1.3 Khái niệm thực hiện chính sách công
- Khái niệm: Tổ chức thực hiện chính sách là toàn bộ quá trình chuyển
Trang 15hóa các ứng xử của chủ thể thành hiện thực lên đối tượng quản lý nhằm đặtđược mục tiêu định hướng.
- Ý nghĩa thực hiện chính sách công:
+ Là khâu biến ý đồ chính sách thành hiện thực: Từ chủ ý của chủ thểquản lý được chuyển sang thành hành động cụ thể, tác động đến đối tượng,nhóm đối tượng được điều chỉnh theo mục tiêu định sẵn
+ Tổ chức thực hiện chính sách để thực hiện các mục tiêu chính sách,thực hiện mục tiêu chung: Có nghĩa là tổ chức thi chính sách tác động vào đờisống xã hội nhằm điều chỉnh, giải quyết một hay nhiều vấn đề nhưng vẫnkhông đi ngược lại mục tiêu chung của toàn hệ thống các chính sách khác
+ Khẳng định tính đúng đắn của chính sách: Một khi chính sách đượctriển khai rộng rãi điều đó có nghĩa là chính sách đó là đúng đắn, được cộngđồng xã hội chấp nhận và ủng hộ
+ Qua thực hiện chính sách ngày càng làm hoàn thiện hơn hệ thốngchính sách, pháp luật của Nhà nước bởi vì nó cho thấy trong quá trình tổ chứcthực hiện gặp phải những vướng mắc gì, đối tượng nào chưa bao quát đến để
có cơ sở điều chỉnh phù hợp, thậm chí có thể xây dựng, ban hành chính sáchmới
1.1.4 Khái niệm về đào tạo nghề
- Theo Các-Mác công tác dạy nghề phải bao gồm các thành phần sau:
Một là, giáo dục trí tuệ; Hai là, giáo dục thể lực như trong các trường Thể dục
Thể thao hoặc bằng cách huấn luyện quân sự; Ba là, dạy kỹ thuật nhằm giúp
học sinh nắm được vững những nguyên lí cơ bản của tất cả các quá trình sảnxuất, đồng thời biết sử dụng các công cụ sản xuất đơn giản nhất (Các- MácPh.Ăng-ghen Tuyển tập xuất bản lần 2, tập 16 trang 198)
- Theo tài liệu của Bộ Lao động thương binh và Xã hội xuất bản năm
2002 thì khái niệm đào tạo nghề được hiểu như sau: "Đào tạo nghề là hoạt
Trang 16lao động cần thiết để người lao động sau khi hoàn thành khoá học hành đượcmột nghề trong xã hội".
- Trong Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, Đào tạo nghề nghiệp làhoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghềnghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việclàm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp
1.1.5 Khái niệm về đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là chủ trương và hành động củaChính phủ nhằm thay đổi cơ cấu ngành lao động theo hướng giảm lao độngnông nghiệp tăng lao động ngành nghề và phi nông nghiệp góp phần giảiquyết công ăn việc làm, thúc đẩy nền kinh thế phát triển
1.1.6 Lao động nông thôn và đặc điểm lao động nông thôn
1.1.6.1 Lao động nông thôn
Nguồn lao động nông thôn là một bộ phận của nguồn lao động xã hội,bao gồm toàn bộ những người lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốcdân và những người có khả năng lao động nhưng chưa tham gia hoạt độngtrong nền kinh tế quốc dân thuộc khu vực nông thôn Cụ thể, nguồn laođộng nông thôn bao gồm những người đủ tuổi lưo động sống ở nông thônđang làm việc trong các ngành, lĩnh vực như nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp, xây dựng, dịch vụ hoặc các ngành phi nông nghiệp khác và nhữngngười trong độ tuổi có khả năng lao động nhưng hiện tại chưa tham gia hoạtđộng kinh tế
1.1.6.2 Đặc điểm của lao động nông thôn
Đặc điểm của người nông dân và lao động nông thôn là cần cù, chịukhó, sẵn sàng tiếp thu kiến thức mới để cải tạo vườn, ao, chuồng, cải tạo thiênnhiên, giúp ích cho cuộc sống của mình Tuy nhiên, một trong những đặcđiểm của LĐNT trong giai đoạn hiện nay là làm việc manh mún, do tập quán
Trang 17làm việc theo cảm tính, người nông dân không có sự tư vấn chi tiết của các cơquan chuyên môn, của những người có kinh nghiệm; thiếu việc làm, khôngtìm được việc làm, thời gian nhàn rỗi nhiều; phần lớn chưa có nghề và chưađược đào tạo nghề một cách bài bản là những đặc trưng cơ bản của lao độngnông thôn Chính đặc điểm của người nông dân như vậy làm cho vai trò đàotạo nghề càng trở nên quan trọng, quyết định sự thành công của việc hiện đạihóa nông nghiệp, nông thôn nói chung và thành công của phong trào xâydựng nông thôn mới nói riêng.
1.2 Cơ cở thực tiễn
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của sản xuất, trong những năm qua Đảng
và Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách về nông nghiệp, nông dân, nôngthôn, trong đó được cụ thể hóa bằng Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án "Đào tạo nghềcho lao động nông thôn đến năm 2020" Mục tiêu của đề án này là:
- Bình quân hàng năm đào tạo nghề cho khoảng 1 triệu lao đông nôngthôn, trong đo đào tạo, bồi dưỡng 100.000 lượt cán bộ, công chức xã;
- Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, nhằm tạo việc làm,tăng thu nhập cua lao đông nông thôn; gop phần chuyển dịch cơ cấu lao đông
và cơ cấu kinh tế, phuc vu sư nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nôngnghiệp, nông thôn;
* Giai đoạn 2009-2010:
- Tiếp tục dạy nghề cho khoảng 800.000 lao động nông thôn theo mụctiêu của Dự án “Tăng cường năng lực dạy nghề” thuộc Chương trình mục tiêuquốc gia giáo dục- đào tạo đến năm 2010 bằng các chính sách của Đề án này
- Thí điểm các mô hình dạy nghề cho lao động nông thôn với khoảng18.000 người, 50 nghề đào tạo và đặt hàng dạy nghề cho khoảng 12.000người thuộc diện hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, lao động nông thôn bị thu
Trang 18hồi đất canh tác có khó khăn về kinh tế Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghềtheo các mô hình này tối thiểu đạt 80%.
* Giai đoạn 2011-2015:
Đào tạo nghề cho 5.200.000 lao động nông thôn, trong đó: khoảng4.700.000 lao động nông thôn được học nghề (1.600.000 người học nghềnông nghiệp; 3.100.000 người học nghề phi nông nghiệp), trong đó đặt hàngdạy nghề khoảng 120.000 người thuộc diện hộ nghèo, người dân tộc thiểu số,lao động nông thôn bị thu hồi đất canh tác có khó khăn về kinh tế Tỷ lệ cóviệc làm sau khi học nghề trong giai đoạn này tối thiểu đạt 70%
* Giai đoạn 2016-2020:
Đào tạo nghề cho 6.000.000 lao động nông thôn, trong đo: Khoảng5.500.000 lao động nông thôn được học nghề (1.400.000 người học nghềnông nghiệp; 4.100.000 người học nghề phi nông nghiệp), trong đo đặt hàngdạy nghề khoảng 380.000 người thuộc diện hô nghèo, người dân tộc thiểu số,lao động nông thôn bị thu hồi đất canh tác co khó khăn về kinh tế Ty lệ coviệc làm sau khi học nghề trong giai đoạn này tối thiểu đạt 80%
Thực hiện quyết định của Chính phủ, Bộ NN&PTNT, UBND tỉnh HàNam cũng như các Sở, ban, ngành đã ban hành nhiều văn bản để triển khaicông tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn:
- Quyết định 584/QĐ-UBND ngày 20/5/2011 về việc phê duyệt Đề án
“Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Hà Nam đến năm 2020”
- Kế hoạch số 1590/KH-UBND ngày 11/11/2011 về việc Triển khaithực hiện Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Hà Nam đến năm2020” giai đoạn 2011-2015
- Kế hoạch số 973/KH-UBND ngày 16 tháng 6 năm 2014 của UBNDtỉnh Hà Nam về dạy nghề cho lao động nông thôn năm 2014
Trang 19- Quyết định số 451/QĐ-UBND ngày 6/5/2015 về việc ban hành danhmục nghề đào tạo ngắn hạn cho lao động nông thôn giai đoạn 2015-2020.
- Quyết định số 898/QĐ-UBND ngày 19/6/2017 về việc phân bổ chitiết vốn sự nghiệp Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới
- Kế hoạch số 1750/KH-UBND ngày 30/6/2017 của UBND tỉnh HàNam về Đào tạo nghề cho lao động nông thôn năm 2017
Các văn bản này là cơ sở thực tiễn để Hà Nam triển khai tốt công tácđào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn trong những năm qua
1.3 Khái quát tình hình đào tạo nghề tại Việt Nam
1.3.1 Hệ thống đào tạo nghề
Hệ thống đào tạo nghề tại Việt Nam hiện có ba cấp dạy nghề:
- Dạy nghề trình độ sơ cấp: nhằm trang bị cho người học nghề năng lựcthực hành của một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việccủa một nghề
- Dạy nghề trình độ trung cấp: nhằm trang bị cho người học kiến thứcchuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khả nănglàm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công việc vào một nghề
- Dạy nghề trình độ cao đẳng: nhằm trang bị cho người học nghề kiếnthức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khảnăng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm; có khả năng sáng tạo,ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; giải quyết các tình huống phứctạp trong thực tế
Hệ thống dạy nghề theo ba cấp độ có ưu điểm: đào tạo nhiều cấp trình
độ theo yêu cầu của thị trường lao động; liên thông trong hệ thống dạy nghề
và liên thông với các trình độ khác của hệ thống giáo dục quốc gia, tạo điềukiện và cơ hội người lao động động được học tập liên tục để nâng cao trình độnghề nghiệp Hệ thống dạy nghề ba cấp độ này cũng phù hợp với các trình độ
Trang 20dày nghề của các nước, tạo điều kiện cho việc hội nhập kinh tế quốc tế vàxuất khẩu lao động.
Các cơ sở dạy nghề được phát triển theo quy hoạch rộng khắp trên toànquốc, đa dạng về hình thức sở hữu và loại hình đào tạo Số lượng cơ sở dạynghề nói chung và cơ sở tư thục nói riêng tăng nhanh Năm 2013, cả nước có
1339 cơ sở dạy nghề, nếu tính cả các cơ sở khác có dạy nghề (bao gồm đạihọc, cao đẳng, trung tâm khác có dạy nghề) thì mạng lưới cơ sở dạy nghề cảnước có gần 2.040 cơ sở, trong đó cơ sở dạy nghề công lập chiếm khoảng60% Đặc biệt, thực hiện Quyết định 1956, mạng lưới trung tâm dạy nghề cấphuyện đã được mở rộng Năm 2013 có trên 430 trung tâm dạy nghề cấp huyệnnhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Bảng 1.1 Số lượng cơ sở dạy nghề theo loại hình đào tạo
Trang 211.3.2 Quy mô và cơ cấu nghề đào tạo
Hệ thống dạy nghề phát triển đã tạo cơ hội cho mọi người có nhu cầuhọc nghề đều được học nghề phù hợp Trong giai đoạn 2012-2017, tổng số đãtuyển sinh học nghề là 11,5 triệu người, trong đó cao đẳng nghề là 640.631người (chiếm 5,57%), trung cấp nghề là 999.567 người (chiếm 8,69%), sơ cấpnghề là 4.904.524 người (chiếm 42,62%) và dạy nghề dưới 3 tháng là4.962.44 người (chiếm 43,12%) Bình quân mỗi năm, hệ thống dạy nghềtuyển mới khoảng 1,91 triệu người
Trong giai đoạn 2012-2017, số lao động nông thôn được hỗ trợ họcnghề là khoảng 1,619 triệu người, trong đó có 35,2 nghìn người được hưởngchính sách ưu đãi người có công với cách mạng, 330,2 nghìn người dân tộcthiểu số, 178,1 nghìn người thuộc hộ nghèo, 36,4 nghìn người thuộc hộ bị thuhồi đất, 9,5 nghìn người là người khuyết tật, 78,5 nghìn người thuộc hộ cậnnghèo và 943,5 nghìn người thuộc đối tượng lao động nông thôn khác Tuynhiên, hiện nay người học nghề đa phần là lao động nông thôn, vùng sâu,vùng xa, vùng khó khăn hoặc thuộc đối tượng nghèo, cận nghèo Do vậy họrất khó khăn khi học nghề, nhiều người không có điều kiện đi học nghề
Quy mô cơ cấu nghề đào tạo được mở dần theo nhu cầu thực tế củadoanh nghiệp với danh mục nghề của gần 400 nghề đào tạo ở trình độ caođằng và khoảng 470 nghề đào tạo ở trình độ trung cấp Các cơ sở dạy nghề đã
mở thêm nhiều ngành nghề đạo tạo mới mà thị trường cần Cùng với việc đàotạo các nghề phục vụ cho các khu công nghiệp, khu chế xuất, các cơ sở dạynghề đã đào tạo các nghề phục vụ cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp, nông thôn và giải quyết việc làm cho người lao động Tuy nhiên, hiệnnay nhiều trường nghề vẫn tập trung tuyển sinh và đào tạo ngắn hạn và ởnhững ngành nghề có chi phí thấp như kế toán, tài chính, lái xe, dịch vụ…
Trang 22Cơ cấu học sinh học nghề theo trình độ còn hạn chế, mới chỉ tập trungvào trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng, trong khi tỷ lệ học sinhhọc ở trình độ cao đẳng nghề và trung cấp nghề rất thấp Nguyên nhân chủyếu ở đây là do nhận thức của người dân không muốn học nghề, học sinh tốtnghiệp THPT phần lớn có xu hướng đi học đại học hay cao đẳng chuyênnghiệp, các trường nghề gặp khó khăn trong tuyển sinh ở trình độ cao đẳngnghề và trung cấp nghề.
Bảng 1.2 Số lượng và cơ cấu tuyển sinh học nghề theo cấp trình độ
(giai đoạn 2012-2017)
Năm Tổng số
(người)
Cao đẳng nghề
Trung cấp nghề Sơ cấp nghề
Dạy nghề dưới
3 tháng Số
lượng (người)
Tỷ lệ
%
Số lượng (người)
2017 khoảng 98 nghìn người, chỉ chiếm khoảng 10% tổng số học sinh tốt
Trang 23nghiệp THCS Điều này, ảnh hưởng đến chính sách phân luồng học sinh tốtnghiệp THCS đi học nghề với mục tiêu đến năm 2020 có ít nhất 30% học sinhtốt nghiệp THCS đi học nghề, gây mất cân đối cơ cấu nhân lực đào tạo nghề.Nguyên nhân chủ yếu ở đây là, phần lớn học sinh tốt nghiệp THCS và THPT
có tâm lý không muốn đi học nghề
1.3.3 Nguồn lực tài chính đầu tư cho dạy nghề tại Việt Nam
Nguồn lực tài chính đầu tư cho dạy nghề tại Việt Nam bao gồm cácnguồn từ ngân sách nhà nước (NSNN) và ngoài NSNN Nguồn NSNN gồm 3nội dung: nguồn kinh phí thường xuyên, vốn đầu tư xây dựng cơ bản và vốnchương trình mục tiêu quốc gia Nguồn tài chính ngoài NSNN gồm: học phí,
lệ phí tuyển sinh, các khoản thu từ dịch vụ, hoạt động sản xuất kinh doanh, tưvấn chuyển giao công nghệ, vốn đầu tư, tài trợ của các tổ chức và cá nhântrong và ngoài nước
Từ năm 2016, kinh phí hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thônđược bố trí trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới,các địa phương phải căn cứ vào việc thực hiện các tiêu chí xây dựng nôngthôn mới để cân đối, bố trí kinh phí cho các hoạt động phù hợp với tổng sốkinh phí được cấp và khả năng hoàn thành các tiêu chí Trong tổng số 5,5triệu lao động nông thôn học nghề, NSNN dự kiến hỗ trợ đào tạo khoảng 3,8triệu người, số còn lại do các địa phương huy động các nguồn kinh phí khác
từ doanh nghiệp (DN), tổ chức cá nhân và người học để tổ chức đào tạo Hiện nay, nguồn lực tài chính cho đào tạo nghề tại Việt Nam được thể hiệnnhư sau:
(1) Nguồn lực tài chính từ NSNN:
Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 đã đượcThủ tướng Chính phủ phê duyệt có kinh phí gần 26.000 tỷ đồng Ngoài ra, laođộng nông thôn và đối tượng yếu thế còn được hưởng hỗ trợ theo Quyết định
Trang 24số 46/2015/QĐ-TTg quy định chính sách hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp, đàotạo dưới 3 tháng NSNN cũng được bố trí đào tạo nghề cho lao động nôngthôn thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình cho vay giảiquyết việc làm, cho vay vốn hộ nghèo…
Theo số liệu của Vụ Tài chính Hành chính sự nghiệp (Bộ Tài chính),chi NSNN cho lĩnh vực giáo dục đào tạo và dạy nghề đảm bảo tăng đều quacác năm: Năm 2015 là 184.070 tỷ đồng, năm 2016 là 195.604 tỷ đồng, năm
2017 là 215.167 tỷ đồng, năm 2018 là 229.074 tỷ đồng Như vậy, nếu so sánhmức tăng năm 2018 với năm 2015 thì số tăng gấp 1,24 lần
Hiện nay, nguồn lực tài chính từ NSNN chiếm khoảng 60% tổng nguồnlực tài chính cho dạy nghề Mức chi cho giáo dục dạy nghề không ngừng tăngqua các năm (từ mức 139.926 tỷ đồng 2014 đến 229.074 tỷ đồng 2018) Nếu
so sánh mức tăng năm 2018 với năm 2015 thì số tăng gấp 1,24 lần Chi chogiáo dục dạy nghề chiếm tỷ lệ từ 13,90% (2015) đến 17,64% (2017) trongtổng chi NSNN, tỷ lệ này sụt giảm còn 16,10% vào năm 2018
Về cơ cấu chi, định mức phân bổ chi sự nghiệp đào tạo và dạy nghềtheo tiêu chí dân số cho vùng miền núi - đồng bào dân tộc ở đồng bằng, vùngsâu cao hơn 1,56 lần so với vùng đô thị; đối với vùng cao - hải đảo cao hơn2,22 lần so với vùng đô thị
Tuy NSNN hiện nay dành cho công tác đào tạo nghề khá cao, song hiệuquả dạy nghề cho lao động nông thôn không đồng đều giữa các vùng trong cảnước, các vùng trung du miền núi phía Bắc, Tây Nguyên có số lao động nôngthôn được hỗ trợ học nghề và tỷ lệ lao động có việc làm sau học nghề thấphơn các vùng khác, trong khi kinh phí trung ương hỗ trợ bình quân luôn bằnghoặc cao hơn mức hỗ trợ bình quân chung của các vùng khác trong cả nước
Trang 25(2) Nguồn lực tài chính ngoài ngân sách:
- Học phí: Nguồn thu từ học phí hiện nay chiếm khoảng 18% tổngnguồn lực tài chính cho dạy nghề Nguồn thu từ học phí vẫn tăng đều qua cácnăm, nhất là trong giai đoạn 2014-2018 với mức từ 1.523 tỷ đồng năm 2014lên khoảng 4.892 tỷ năm 2018 (tăng xấp xỉ 3,2 lần) nhưng mức học phí họcnghề hiện còn thấp So với chi thường xuyên cho dạy nghề, tỷ trọng học phíthu được năm 2018 bằng khoảng 34%, trong khi năm 2014 chỉ khoảng 30%
- Nguồn viện trợ phát triển ODA: Nguồn vay và đóng góp của các tổchức, cá nhân trong và ngoài nước hiện nay chiếm tỷ trọng khoảng 9% trongtổng nguồn tài chính cho đào tạo nghề Nguồn tài chính ODA đầu tư cho các
dự án dạy nghề còn rất nhỏ; qua khảo sát chưa đầy đủ vốn ODA đầu tư chođào tạo nghề trọng điểm năm 2015 là gần 32 tỷ đồng, năm 2016 gần 38 tỷđồng, năm 2017 là gần 40 tỷ đồng Trong khi đó, các cơ chế, chính sách tàichính đối với nguồn kinh phí này còn nhiều bất cập Nguồn vốn vay trong vàngoài nước cho đào tạo nghề còn hạn chế về số lượng và chất lượng; thủ tụcgiải ngân còn phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều cơ quan
1.4 Kinh nghiệm thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở một số địa phương
1.4.1 Đối với tỉnh Bắc Ninh
1.4.1.1 Đặc điểm tự nhiên và xã hội
Tỉnh Bắc Ninh có diện tích 822,7 km2, nằm ở cửa ngõ phía Bắc của thủ
đô Hà Nội, dân số khoảng 1.247.454 người, trong đó nam giới chiếm 49,2%,
nữ giới 50,8% Lượng mưa trung bình hàng năm dao động trong khoảng1.400-1.600mm nhưng phân bố không đều trong năm Mưa tập trung chủ yếu
từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô từtháng 11 đến tháng 4 năm sau chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa trong năm
Trang 26Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.530-1.776 giờ, trong đó tháng cónhiều giờ nắng trong năm là tháng 7 và tháng có ít giờ nắng là tháng 1.
Dân số nông thôn có 870.682 người trong đó lao động nông thôn trong
độ tuổi lao động là 476.422 người Tính đến hết năm 2018, tỷ lệ hộ nghèo cònkhoảng 1,62%; Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 66,3%; Kinh tế trongnăm 2018 phát triển toàn diện, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm (GRDP)tăng 10,6% so với năm 2017, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 1.136.000 tỷđồng, hoạt động ngoại thương phát triển mạnh, tổng kim ngạch xuất, nhậpkhẩu ước 66,12 tỷ USD, trong đó xuất siêu 3,58 tỷ USD, thu ngân sách nhànước 27.912 tỷ đồng Theo thống kê, thu nhập bình quân 1 nhân khẩu/ thángtính chung cho toàn tỉnh là 4.957.000 đồng
Tổng diện tích gieo trồng vụ mùa năm 2018 ước đạt 35.605,4 ha, giảm3,2% (-1.164 ha) so với cùng vụ năm trước, năng suất lúa mùa ước đạt 56,2tạ/ha, tăng 0,7 tạ/ha; sản lượng thóc ước đạt 183,9 nghìn tấn, giảm 6,2 nghìntấn Chăn nuôi, giá thịt lợn hơi tăng và tổng đàn đang được phục hồi sau thờigian dài sụt giảm Ước tính đến cuối tháng 9, toàn tỉnh có 2.332 con trâu,giảm 43 con so cùng thời điểm năm trước; đàn bò có 30.314 con, giảm 465con; đàn lợn có 393.372 con, tăng 11,8 nghìn con; đàn gia cầm có 5.278 nghìncon, tăng 78 nghìn con Thuỷ sản: Ước tính diện tích nuôi trồng thuỷ sản 9tháng đầu năm là 5.201 ha, giảm 0,6% (Tương ứng giảm 34 ha) so cùng kỳ
1.4.1.2 Một số kết quả đạt được
Thực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủtướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Dạy nghề cho lao động nông thônđến năm 2020” Tỉnh Bắc Ninh đã ban hành một số Văn bản triển khai thựchiện Đề án như: Quyết định số 383/QĐ-UBND ngày 04/4/2011 về việc phêduyệt Đề án ”Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn2011-2015, định hướng đến năm 2020”; Quyết định số 88/QĐ-UBND ngày
Trang 2729/7/2011 về việc “Quy định mức chi phí đào tạo nghề trình độ sơ cấp và dạynghề dưới 3 tháng cho lao động nông thôn”; Chỉ thị số 11-CT/TU ngày21/11/2011 về việc ”Tăng cường lãnh đạo công tác đào tạo nghề cho laođộng nông thôn đến năm 2015 và những năm tiếp theo”; Quyết định số39/2017/QĐ-UBND ngày 20/12/2017 về việc quy định mức chi phí đào tạo
và mức hỗ trợ chi phí đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng
Từ 2010 đến 2019 số lao động nông thôn được hỗ trợ học nghề nôngnghiệp theo đề án 1956 là 22.841 người, trong đó: lao động nữ: 13.919 người,lao động là người thuộc diện chính sách người có công với cách mạng 108người, lao động thuộc diện hộ nghèo 762 người, lao động thuộc hộ cận nghèo
443 người, lao động là người khuyết tật 18 người, lao động là người bị thu hồiđất nông nghiệp là 695 người Một số mô hình dạy nghề cho lao động nôngthôn có hiệu quả:
- Mô hình Kỹ thuật trồng nấm: Người học nghề kỹ thuật trồng nấmnắm chắc được kỹ thuật, biết áp dụng kiến thức được học vào quá trình sảnxuất nấm tại gia đình, tận dụng được nguồn nguyên liệu sẵn có tại địaphương, tận dụng thời gian nhàn rỗi tổ chức trồng nấm tại gia đình với quy
mô nhỏ, nhằm cải thiện cuộc sống và tăng thêm thu nhập cho gia đình Một số
hộ gia đình tập trung thành tổ sản xuất Mô hình kỹ thuật trồng nấm đượcnhân rộng tại các xã ở huyện Lương Tài, Thuận Thành, Quế Võ, với mức thunhập của các lao động bình quân từ 3.000.000 - 4.000.000đ/người/tháng
- Mô hình kỹ thuật trồng nghệ: Tại xã Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh
và xã Bằng An, huyện Quế Võ sau khi tham gia lớp dạy nghề kỹ thuật trồngnghệ, học viên đã áp dụng những kiến thức vào quá trình sản xuất thực tế củagia đình và đạt hiệu quả khá cao, bình quân thu nhập trên 1 sào nghệ trên 11triệu đồng
Trang 28- Về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, người dạy nghề: Đội ngũ giáoviên có đủ điều kiện kiến thức chuyên môn và kỹ năng sư phạm, truyền đạt dễhiểu tạo điều kiện cho học viên tiếp thu một cách nhanh nhất Tuy nhiên bêncạnh đó vẫn còn một số giáo viên năng lưc sư phạm và kinh nghiệm vẫn cònhạn chế nhất định (nghệ nhân, lao động giỏi, người có tay nghề cao).
Tiêu chuẩn giáo viên của một số cơ sở dạy nghề chưa đảm bảo tỷ lệgiáo viên cơ hữu và giáo viên thỉnh giảng, một số giáo viên còn thiếu chứngchỉ sư phạm dạy nghề (thường là các nghệ nhân, thợ bậc cao) Tỉnh đã huyđộng được các nghệ nhân, cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, người lao động có tay nghềcao tại các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh, các trung tâm khuyếnnông - lâm - ngư, nông dân sản xuất giỏi tham gia dạy nghề cho lao độngnông thôn
- Về hoạt động kiểm tra, giám sát các lớp đào tạo nghề nông nghiệp cholao động nông thôn tại các địa phương đã được triển khai thực hiện như sau:
Ở cấp tỉnh, Phòng Cơ Điện- Ngành nghề nông thôn của Chi cục Pháttriển nông thôn thực hiện kế hoạch kiểm tra, giám sát hàng năm của Chi cục,
tổ chức kiểm tra tại các lớp học và các cơ sở dạy nghề cho lao động nông thôn
do các đơn vị dạy nghề thực hiện
Tại cấp huyện: Phòng Lao động TBXH các huyện kết hợp với các xã tổchức kiểm tra tại các lớp học trên địa bàn huyện, tuy nhiên công tác kiểm tragiám sát của cấp huyện, xã chưa được thường xuyên, liên tục
Hiệu quả của công tác kiểm tra giám sát: kịp thời phát hiện và chấnchỉnh được các sai sót trong hồ sơ học viên, việc duy trì sĩ số trên lớp, quátrình giảng dạy của giáo viên và công tác quản lý của cơ sở dạy nghề cũngnhư của chính quyền địa phương
Các đơn vị sau khi được kiểm tra đều có sự tiến bộ, những tồn tại, hạnchế được khắc phục, rút kinh nghiệm chung cho các đơn vị khác trong tỉnh
Trang 29Nhìn chung công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn nói chung,đào tạo nghề nông nghiệp nói riêng đã góp phần lớn trong việc chuyển đổi cơcấu lao động nông thôn,qua các lớp đào tạo nghề nông nghiệp cho lao độngnông thôn, người học đã được trang bị những kiến thức cơ bản và kỹ năngthực hành, sau khi kết thúc khóa học hầu hết các học viên nắm bắt được kiếnthức cơ bản về các nghề, bước đầu hình thành một số kỹ năng tổ chức sảnxuất tại các hộ, nhằm phát triển kinh tế gia đình góp phần tích cực trong việcphát triển nguồn nhân lực và giải quyết việc làm (chủ yếu là việc làm tại cácgia đình của học viên) Đây cũng là nhân tố chủ yếu trong việc chuyển đổi cơcấu lao động nông thôn, giúp người nông dân chuyển đổi nghề và tạo thêmnghề mới, phát triển kinh tế và tăng thu nhập cho gia đình, góp phần vào việc
ổn định an ninh chính trị tại địa phương, đặc biệt là địa bàn nông thôn
1.4.1.3 Những tồn tại và giải pháp
- Những khó khăn tồn tại:
Hoạt động của Ban chỉ đạo các cấp chưa được thường xuyên, cấphuyện chưa bố trí cán bộ chuyên trách theo dõi đào tạo nghề Đội ngũ cán bộquản lý dạy nghề ở cấp huyện chất lượng còn hạn chế vì một số không cóchuyên môn trong lĩnh vực đào tạo nghề và phải kiêm nhiệm nhiều công việckhác nhau
Các Trung tâm dạy nghề cấp huyện xác nhập với Trung tâm Giáo dụcthường xuyên cấp huyện, mảng đào tạo nghề chưa được đầu tư về nhiều về cơ
sở vật chất: các lớp học nghề chủ yếu mở tại các thôn, xã nên một số phònghọc chưa đảm bảo
Đội ngũ giáo viên thiếu và chủ yếu là giáo viên thỉnh giảng, một sốgiáo viên trẻ kinh nghiệm còn hạn chế, đa số giáo viên các nghề truyền thống,thủ công chưa có nghiệp vụ sư phạm, chủ yếu vẫn dựa vào kinh nghiệm đểtruyền nghề
Trang 30Chất lượng đào tạo còn hạn chế, hiệu quả và thu nhập ở một số nghềchưa đáp ứng được theo mong muốn của người tham gia học nghề Do vậy,học viên học qua lớp đào tạo nghề nông nghiệp tìm được việc làm còn khókhăn.
Việc chấp hành quy định về thời gian học tập đối với lao động nôngthôn chưa được nghiêm túc về thời gian học tập, vì ngoài việc học, LĐNT vẫnphải lo cuộc sống hàng ngày của gia đình họ
Ngoài ra, việc tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng còn gặp nhiều khókhăn, ruộng đất sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân còn manh mún,nhỏ lẻ; việc tích tụ ruộng đất tạo cánh đồng lớn còn gặp nhiều khó khăn; việcliên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm còn nhiều hạn chế; hiệu quả sảnxuất nông nghiệp so với các nghành khác thấp, hoen nữa chịu ảnh hưởng củathời tiết, dịch bệnh lớn
Các cơ sở dạy nghề chưa có kết nối giữa tuyển sinh đào tạo và giớithiệu việc làm cho học viên sau khi học xong
- Một số giải pháp:
Phân công trách nhiệm thực hiện các công việc và phối hợp giữa các cơquan, đơn vị liên quan thật rõ ràng Nâng cao nhận thức về vai trò quan trọngcủa công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn cho các cấp uỷ Đảng, chínhquyền, cán bộ cơ sở và chỉ đạo các cấp quân tâm, sát sao trong việc việc xâydựng, thực hiện đề án
Tổ chức việc học nghề và giải quyết việc làm sau học nghề phái gắnvới kế hoạch phát triển sản xuất của địa phương
Tăng cường cơ sở vật chất, chương trình, giáo trình dạy nghề, giáo viêndạy nghề, bảo đảm các điều kiện cho việc dạy học
Thường xuyên thực hiện công tác kiểm tra, giám sát
Trang 311.4.2 Đối với tỉnh Hải Dương
1.4.2.1 Đặc điểm tự nhiên và xã hội
Hải Dương có diện tích tự nhiên 1.662 km2, với dân số khoảng 1,8triệu người, trong đó trên 60% trong độ tuổi lao động, tỷ lệ dân số sống ở khuvực nông thôn khoảng 84,5% và chủ yếu là làm nghề nông Vùng đồi núi nằm
ở phía bắc tỉnh của tỉnh, chiếm 11% diện tích tự nhiên, là vùng đồi núi thấpphù hợp với việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày.Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông TháiBình bồi đắp, đất mầu mỡ thích hợp với nhiều loại cây trồng, sản xuất đượcnhiều vụ trong năm Tỉnh Hải Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới giómùa, chia làm 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông) Lượng mưa trung bình hàngnăm 1.300 - 1.700 mm Nhiệt độ trung bình 23,30C; số giờ nắng trong năm1.524 giờ; độ ẩm tương đối trung bình 85 - 87%
Năm 2018, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 157.556 ha,trong đó một số cây chủ lực có diện tích gieo trồng lớn cây lúa, diện tích lúađạt 116.408 ha, chiếm 73,9% tổng diện tích gieo trồng, năng suất lúa bìnhquân đạt 60,3 tạ/ha, ngô 57,82 tạ/ha, rau các loại 231,38 tạ/ha Tổng đàn trâuước đạt 4.045 con, đàn bò là 21.300 con, đàn lợn đạt 572.000 con (trong đó,lợn thịt 508.000 con chiếm 88,8% tổng đàn).DDàn gia cầm (gà, vịt, ngan,ngỗng) của toàn tỉnh đạt 11.300 nghìn con Sản lượng thịt gia cầm gồm (gà,vịt, ngan, ngỗng và gia cầm khác) ước đạt 36.955 tấn, sản lượng trứng giacầm (bao gồm cả trứng chim cút) ước đạt 361.347 nghìn quả Trong tổng đàngia cầm, gà là loại vật nuôi chủ yếu, tổng đàn gà toàn tỉnh 8.700 nghìn con,chiếm 77% tổng đàn, trong đó: đàn gà thịt là 7.700 nghìn con, chiếm 88,7%,tăng 4,6% Tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản đạt 11.173 ha, sản lượng thuỷsản nuôi trồng và khai thác ước đạt 73.799 tấn, trong đó sản lượng thủy sảnnuôi trồng ước đạt 72.066 tấn, chiếm 97,6% tổng sản lượng thủy sản Sản
Trang 32lượng cá đạt 71.992 tấn, chiếm 99,8% tổng sản lượng nuôi trồng Sản xuấtgiống thuỷ sản đạt 1.468 triệu con; trong đó, cá giống các loại 1.466 triệu con;giống thủy sản khác 2,4 triệu con.
1.4.2.2 Một số kết quả đạt được
Sở Nông nghiệp và PTNT đã tích cực tham gia cùng với các cơ quanchuyên môn của tỉnh tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh ban hành đề án, kếhoạch, chỉ thị, quyết định và các văn bản để triển khai công tác đào tạo nghềcho lao động nông thôn đến năm 2020 như: Quyết định số 2424/QĐ-UBNDngày 13/7/2009 về việc phê duyệt Quy hoạch dạy nghề tỉnh Hải Dương giaiđoạn 2009-2015 và định hướng đến năm 2020; Quyết định số 758/QĐ-UBNDngày 22/3/2011 về phê duyệt đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnhHải Dương đến năm 2020; Chỉ thị số 42-CT/TU ngày 05/8/2010 về tăngcường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác đào tạonghề nông nghiệp cho lao động nông thôn đến năm 2020; Công văn số
249/SLĐTBXH-DN ngày 23/2/2017 (Ban chỉ đạo đề án 1956) về việc thực
hiện công tác dạy nghề cho giai đoạn 2017-2020; Chỉ thị số 12/CT-UBNDngày 27/8/2018 về tăng cường nâng cao trách nhiệm và chất lượng trong côngtác giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Tổng số lao động nông thôn trong độ tuổi lao động (từ 15 tuổi đến 60tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với nữ) trên địa bàn tỉnh là: 685.105 lao động.Tổng số lao động thuộc lĩnh vực nông lâm thủy sản là 285.289 lao động,trong đó lao động đã qua đào tạo nghề nông nghiệp là 20.744 lao động, chiếm7,3%
- Đào tạo được cấp chứng chỉ
Tổng số lao động nông thôn được hỗ trợ đào tạo nghề nông nghiệp (dạy
nghề thường xuyên dưới 3 tháng) theo chính sách của Đề án 1956 giai đoạn
Trang 332010-2018 là 20.744 lao động, đạt 62,9% so với kế hoạch của cả giai đoạn2010-2018 Trong đó hỗ trợ từ ngân sách nhà nước là 20.744 lao động.
Tổng số lao động được hỗ trợ đào tạo phân theo các nhóm đối tượngtheo định hướng chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và PTNT là: 20.744 lao động,trong đó: Lao động là thành viên các hợp tác xã là 20.578 lao động; Lao độngthuộc diện chính sách đào tạo nhằm an sinh xã hội nông thôn là 166 lao động
(11 lao động thuộc đối tượng chính sách người có công với cách mạng, 48
lao động thuộc hộ nghèo, 107 lao động bị thu hồi đất nông nghiệp).
- Đào tạo không cấp chứng chỉ
Đến nay, tỉnh Hải Dương chưa được các Tổ chức phi chính phủ, cácDoanh nghiệp, Hiệp hội, Hiệp hội đào tạo, Tổng công ty, Tổ chức khác ở địaphương tham gia hỗ trợ đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn
- Hiệu quả đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn
Tổng số lao động đã học xong là 20.744 lao động, trong đó số người cóviệc làm sau học nghề là 17.850 lao động đạt 86% Sau khi học nghề xong,lao động tự tạo việc làm và xây dựng một số mô hình tổ chức sản xuất điểnhình: Mô hình chăn nuôi gà lai chọi của hội nông dân xã Gia Lương huyệnGia Lộc, Hội nông dân xã Tân Dân - Thị xã Chí Linh, Hội Nông dân phườngVăn An - Chí Linh, Hội nông dân thị trấn Nam Sách huyện Nam Sách
- Hoạt động tuyên truyền; tư vấn học nghề và việc làm đối với lao động nông thôn
Tuyên truyền và tư vấn về đào tạo nghề, việc làm cho lao động nôngthôn nhằm nâng cao nhận thức của người lao động góp phần nâng cao đờisống, thu nhập cho bản thân và gia đình Phổ biến chủ trương, chính sách củaĐảng và Nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn;
Trang 34Do không có kinh phí cho hoạt động tuyên truyền, tư vấn học nghề vàviệc làm nên công tác tư vấn tuyên truyền thường gắn liền với các buổi khaigiảng, buổi giảng dạy trên lớp
- Về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên
Đội ngũ giáo viên cơ hữu và thỉnh giảng có kiến thức và kinhnghiệm thực tế, có nghiệp vụ sư phạm truyền tải kiến thức phù hợp với đốitượng lao động nông thôn Trong công tác giảng dạy, nhiệt tình, chịu khó,ngoài giờ lên lớp một số giáo viên còn tận tình đến gia đình học viên chỉ dạy,
áp dụng thực hành vào trong sản xuất chăn nuôi, cây trồng sẵn có tại hộ giađình Tuy nhiên, vẫn còn một số giáo viên trẻ, kinh nghiệm thực tế còn hạnchế, phương pháp giảng dạy còn nặng về lý thuyết, ít ví dụ thực tiễn, chưa tạohứng thú cho học viên tiếp thu bài giảng
Trang thiết bị dạy nghề của các cơ sở dạy nghề hiện còn thiếu và chưađồng bộ; một số trang thiết bị được trang bị đã hư hỏng do sử dụng và vậnchuyển từ Trung tâm đến các địa điểm mở lớp tại xã và thôn Đa số địa điểm
mở lớp của các cơ sở dạy nghề là nhà văn hóa thôn hoặc hội trường UBND xã
để thuận tiện cho việc đi lại của học viên
- Hoạt động điều tra, khảo sát, dự báo nhu cầu; kiểm tra, giám sát, đánh giá
Công tác kiểm tra, giám sát về đào tạo nghề nông nghiệp được Sở
Nông nghiệp và PTNT (Chi cục Phát triển nông thôn) thực hiện thường
xuyên, nắm bắt và theo dõi tiến độ các lớp học: kiểm tra hồ sơ mở lớp, kiểmtra đối tượng học viên, kiểm tra hồ sơ sổ sách, kiểm tra kết thúc khóa học
1.4.2.3 Những tồn tại và giải pháp
- Những khó khăn tồn tại:
Công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách, cơ chế hỗ trợ về dạynghề cho lao động nông thôn còn hạn chế, lao động chưa thực sự nhận thức
Trang 35được ý nghĩa, tầm quan trọng, tính thiết thực, hiệu quả của công tác dạy vàhọc nghề Một số cán bộ chính quyền địa phương chưa thực sự vào cuộc vớicông tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn.
Thực hiện dự báo về việc làm, thu nhập của người lao động sau khi họcnghề chưa sát với thực tế, do chưa thực hiện tốt việc điều tra khảo sát về tìnhhình lao động, nhu cầu đào tạo nghề do chưa có nguồn kinh phí, chưa đánhgiá được chính xác tỷ lệ người có việc làm sau khi học nghề, số người họcnghề thuộc hộ nghèo, sau khi học nghề đã thoát được nghèo Việc quy địnhmỗi lao động nông thôn chỉ được tham gia học một nghề là không phù hợpthiếu thực tế vì sản xuất nông nghiệp một lao động thường tham gia làm nhiềunghề cả trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản, việc thay đổi nghề là rấtkhó khăn
Mạng lưới cơ sở dạy nghề phân bố không đều giữa các huyện, thànhphố Cơ sở vật chất, trang thiết bị cho công tác dạy nghề còn hạn chế, chưathực sự đảm bảo cho đào tạo Trình độ văn hóa của lao động nông thôn khôngđồng đều, việc tiếp nhận các kỹ thuật và nội dung học tập khó khăn
Chất lượng đào tạo nghề chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường laođộng và thực tế sản xuất kinh doanh ở các địa phương do đào tào chưa sátđược nhu cầu thực tế
- Một số giải pháp:
Công tác đào tạo nghề nông nghiệp thực hiện trên địa bàn các xã phảigắn với việc thực hiện tiêu chí số 14 của Bộ tiêu chí nông thôn mới của tinhHải Dương Thực hiện đào tạo nghề phải góp phần vào việc nâng cao thunhập, xóa đói giảm nghèo cho khu vực nông thôn
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách phát triển sảnxuất nông nghiệp, đào tạo nghề; các mô hình dạy nghề hiệu quả, các gươngđiển hình sản xuất giỏi, nông dân đã thành công sau học nghề
Trang 36Các cơ quan báo đài thường xuyên có nhiều phóng sự, bài viết đưa tin,giới thiệu về chính sách đào tạo nghề nông nghiệp, về các hoạt động dạy nghềnông nghiệp cho lao động nông thôn ở các địa phương,
Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả dạy nghề
Lựa chọn cơ sở đào tạo nghề nông nghiệp có đủ điều kiện về cơ sở vậtchất và các đội ngũ giáo viên có kinh nghiệm để dạy nghề nông nghiệp ứngdụng công nghệ cao
1.4.3 Đối với tỉnh Ninh Bình
1.4.3.1 Đặc điểm tự nhiên và xã hội
Ninh Bình có diện tích tự nhiên 1.391 km2 km², bao gồm 2 thành phố
và 6 huyện, dân số khoảng 918,5 nghìn người Toàn tỉnh có 67.000 ha đấtnông nghiệp, trong đó đất canh tác 55.000 ha; đất lâm nghiệp 13.000 ha; rừng
tự nhiên 10.400 Địa hình Ninh Bình phân chia thành ba vùng tương đối rõnét, vùng đồi núi ở phía Tây và Tây Bắc; vùng đồng bằng và vùng ven biểnphía Đông và phía Nam Khí hậu tỉnh Ninh Bình nằm trong vùng khí hậunhiệt đới, gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu ven biển Lượng mưa trungbình hàng năm trên 1.800 mm nhưng phân bố không đều, tập trung 70%lượng mưa vào mùa hè Mỗi vùng trong tỉnh có tiềm năng và thế mạnh riêng,song các vùng có thể bổ sung hỗ trợ nhau để phát triển nền kinh tế hàng hoátoàn diện cả cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, nuôi trồng thuỷ, hảisản, công nghiệp vật liệu xây dựng và công nghiệp chế biến nông sản thựcphẩm
Sản xuất nông nghiệp áp dụng nhiều ứng dụng kỹ thuật mới, thực hiện
cơ giới hóa sản xuất, triển khai có hiệu quả nhiều mô hình ứng dụng cộngnghệ cao vào sản xuất, nâng cao giá trị sản xuất trên 1 ha đất canh tác, qua đógiá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản đạt 8.503 tỷ đồng, giá trị sảnxuất/1 ha đất canh tác đạt 120 triệu đồng Tổng diện tích gieo trồng cây hàng
Trang 37năm toàn tỉnh đạt 99,6 nghìn hà Trong đó diện tích cây lúa đạt 75,6 nghìn ha,diện tích cây ngô đạt 5,1 nghìn ha Tổng đàn trâu, bò đạt 58 nghìn con, đànlợn 420 nghìn con, đàn dê 25 nghìn con, đàn gia cầm 5.550 nghìn con Sảnlượng thịt hơi xuất chuồng đạt 60,1 nghìn tấn, riêng thịt lợn hơi đạt 46 nghìntấn Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 13,1 nghìn ha, trong đó diện tích nuôithủy sản ruộng trũng đạt 4,7 nghìn ha Tổng sản lượng thủy sản ước đạt 51,3nghìn tấn Công tác xây dựng nông thôn mới tiếp tục được đẩy mạnh, đạtnhiều kết quả, diện mạo nông thôn thay đổi tích cực Tổng số xã đạt chuẩnnông thôn mới là 90 xã (đạt 75,6% tổng số xã) và 2 huyện đạt chuẩn nôngthôn mới, 01 thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.
1.4.3.2 Một số kết quả đạt được
Thực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủtuớng Chính phủ về việc phê duyệt đề án “Đào tạo nghề cho lao động nôngthôn đến năm 2020”, UBND tỉnh Ninh Bình đã tập trung chỉ đạo triển khai vàban hành các văn bản: Quyết định số 722/QĐ-UBND ngày 19/9/2012 về việcPhê duyệt danh mục nghề, định mức chi phí hỗ trợ đào tạo nghề từ ngân sáchnhà nước cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2012-2015; Côngvăn số 275/UBND-VP6 ngày 27/11/2013 về việc bổ sung đội ngũ giáo viên,người dạy nghề nông nghiệp; Quyết định số 422/QĐ-UBND ngày12/6/2014
về việc phê duyệt danh mục nghề, định mức chi phí hỗ trợ đào tạo nghề từngân sách nhà nước trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng cho LĐNTtrên địa bàn tỉnh Ninh Bình; Quyết định số 17/2014/QĐ-UBND ngày18/6/2014 về việc ban hành quy định trách nhiệm phối hợp tổ chức quản lýcông tác dạy nghề trên địa bàn tỉnh Ninh Bình; Quyết định số 635/QĐ-UBNDngày 18/5/2016 về việc phê duyệt danh mục nghề, thời gian đào tạo, địnhmức chi phí đào tạo và hỗ trợ đào tạo nghề từ ngân sách nhà nước trình độ sơcấp nghề và đào tạo nghề dưới 03 tháng cho lao động nông thôn
Trang 38Tổng số lao động nông thôn năm 2018 là 483.873, trong đó số lao độngtrong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản trên địa bàn tỉnh là 200.365 người Tổng sốlao động được hỗ trợ học nghề nông nghiệp theo đề án 1956 giai đoạn 2010-
2018 là 3.914 người (100% hỗ tợ từ nguồn ngân sách Trung ương), đào tạonghề nông nghiệp mới chỉ tập trung vào mục đích an sinh xã hội ở nông thôn
Sở Nông nghiệp và PTNT phối hợp với UBND các cấp tích cực tuyêntruyền, triển khai công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, phổ biến cácchính sách của Đảng và Nhà nước có liên quan đến người dân nhằm khuyếnkhích, huy động và tạo điều kiện để toàn dân tham gia công tác đào tạo nghề;
UBND cấp huyện giao UBND cấp xã có trách nhiệmtư vấn cho nôngdân lựa chọn nghề đào tạo phù hợp với đặc điểm và tình hình phát triển kinh
tế - xã hội của địa phương; Chỉ đạo các bộ phận, cán bộ chuyên môn, các hội,đoàn thể phối hợp với cơ sở dạy nghề tập trung tuyên truyền, vận động,hướng dẫn, tư vấn nghề cho người lao động biết để đăng ký học nghề, phốihợp cùng các cơ sở dạy nghề tiến hành tuyển sinh
Hiện nay, trên cơ sở chương trình khung của Bộ NN&PTNT, các cơ sởđào tạo xây dựng giáo trình, chương trình đào tạo phù hợp với điều kiện thực
tế với thời gian đào tạo nghề dưới 3 tháng Tuy nhiên, thời gian đào tạo lýthuyết dài, một số nội dung chương trình đào tạo nghề không còn phù hợp vớithực tiễn, cần được thường xuyên cập nhật, đổi mới, giúp cho người học nắmbắt được nhu cầu và xu hướng phát triển của xã hội, của ngành nghề và củađịa phương; để người lao động nông thôn không chỉ được trang bị kiến thức
về nghề nghiệp mà còn được trang bị kiến thức về thị trường, tiến bộ khoahọc kỹ thuật, vệ sinh an toàn thực phẩm, hội nhập quốc tế
Đội ngũ giáo viên tham gia giảng dạy tại các lớp đào tạo đáp ứng đủyêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ, trình độ sư phạm, nhiệt tình và tâm huyếtvới lớp học Cơ sở vật chất cơ bản đáp ứng yêu cầu học tập
Trang 391.4.3.3 Những tồn tại và giải pháp
- Những khó khăn tồn tại:
Về công tác tuyên truyền: Công tác tuyên truyền đào tạo nghề nôngnghiệp cho lao động nông thôn chưa thực sự tốt Các địa phương chưa thực sựchú trọng, quan tâm đến việc tuyên truyền cho người dân được biết chủtrương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tầm quan trọng của việc học nghềnông nghiệp nên người dân còn thụ động, lúng túng trong việc lựa chọn nghề,chưa tích cực tham gia học nghề
Về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất: Chương trình, nội dung đào tạocòn chưa sát với thực tế, còn nặng về lý thuyết; cơ sở vật chất, thiết bị kỹthuật còn nghèo nàn, thiếu đồng bộ
Về định mức kinh phíđào tạo: Còn thấp (đối với 1 số nghề cần muacây, con giống, nguyên vật liệu phục vụ thực hành với mức kinh phí quy địnhchưa đápứng yêu cầu) ảnh hưởng tới chất lượngđào tạo; mức thù lao giảngviên thấp; mức chi phí hỗ trợ cho người học (hỗ trợ tiềnăn, tiềnđi lại) chưađảm bảođể thu hút người lao động tham gia học nghề Kinh phí dành cho đàotạo nghề nông nghiệp hàng năm còn ít, chưa đáp ứng đủ nhu cầu học nghề củangười dân
Việc dạy nghề nông nghiệp hiện nay chưa gắn với các doanh nghiệphay hợp tác xãđể bao tiêu sản phẩm Phương án giải quyết việc làm cho ngườilao động sau đào tạo, tìm đầu ra cho sản phẩm nông sản còn nhiều khó khăn
Về người lao động tham gia học nghề: Ý thức học tập của một số họcviên chưa cao, học viên có thể nghỉ học vì những lý do như phiên chợ, hiếuhỷ…nên tỷ lệ chuyên cần chưa đảm bảo; còn diễn ra tình trạng học thay, học
hộ (những thành viên trong cùng một gia đình); tâm lý ỷ lại là những nguyênnhân dẫn tới hiệu quả đào tạo nghề chưa cao
Trang 40là những người có nhu cầu học thật; tránh tuyển cho đủ số lượng để mở lớp.
Phải có sự kết hợp, quản lý, giám sát chặt chẽ giữa các cấp, ngành, các
cơ sở đào tạo nghề, phân định rõ trách nhiệm, tổ chức quản lý bảo đảm thốngnhất chặt chẽ, nâng cao chất lượng, hiệu quả các lớp dạy nghề
Tiểu kết chương
Chương 1 của luận văn đã trình bày khái quát những vấn đề lý luận cơbản về khái niệm chính sách, chính sách công, về đào tạo nghề, chính sáchđào tạo nghề cho lao động nông thôn; qua đó, luận văn đã trình bày các kháiniệm có liên quan đến dạy nghề, dạy nghề nông nghiệp cho lao động nôngthôn; các quan điểm, mục tiêu, đặc điểm và đặc trưng của công tác đào tạonghề; các nội dung, hình thức đào tạo nghề, chính sách đào tạo nghề cho laođộng nông thôn; kinh nghiệm về đào tạo nghề, đào tạo nghề cho lao độngnông thôn ở một số tỉnh trong nước Nội dung nghiên cứu ở Chương 1 sẽ là
cơ sở cần thiết cho việc khảo sát, nghiên cứu thực trạng tình hình thực hiệnchính sách đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông từ thực tiễn của tỉnh
Hà Nam sẽ được trình bày trong Chương 2 tiếp theo