Phần lớn dân số nước ta tập trung tại khu vực nông thôn thôn, hoạt động kinh tế theo hộ là chủ yếu. Các hộ gia đình nông thôn Việt Nam không chỉ làm nông nghiệp đơn thuần mà có rất nhiều hộ kết hợp tham gia sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, là một mắt xích trong chuỗi cung ứng các mặt hàng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, hay kinh doanh tự doanh,... Hiện nay đã có rất nhiều hộ gia đình nông thôn đã chuyển sang hướng áp dụng công nghệ kỹ thuật vào sản suất cũng như tập trung, chuyên môn hóa, sản xuất đáp ứng các tiêu chuẩn quy trình quốc tế… từ đó nâng cao năng suất, nâng cao giá trị của sản phẩm. Tuy nhiên không phải tất cả các hộ gia đình nông thôn đều có đủ tiềm lực tài chính để thực hiện kế hoạch mở rộng sản xuất kinh doanh, phát triển ngành nghề và việc tiếp cận với các nguồn vay chính thức tại nông thôn hiện còn gặp khó khăn. Chính phủ, các cấp bộ ban ngành và 2 ngân hàng (NHCSXHVN, NHNNPTNTVN) đã có những chính sách cho vay ưu đãi, khuyến khích các hộ gia đình nông thôn vay vốn, nhưng những chính sách này vẫn chưa đạt được đúng như kỳ vọng đặt ra. Để các hộ gia đình nông thôn tiếp cận tín dụng dễ dàng cần có sự vào cuộc của toàn khối NHTM. Hiện tại, các NHTM cần có một khung đồng bộ, chuẩn hóa cho vay đối tượng này, dự đoán trong tương lai đây sẽ là đối tượng chiếm thị phần cho vay không nhỏ của các ngân hàng. Để hạn chế, phòng ngừa rủi ro khi cấp tín dụng cho các hộ gia đình nông thôn, các ngân hàng cần hiểu rõ đặc điểm, các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của hộ, đưa ra được bộ tiêu chí phù hợp để phân loại đối tượng, từ đó đưa ra dự báo về cấp tín dụng và quy mô cấp tín dụng. Nghiên cứu về “Nhân tố tác động tới khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của hộ gia đình nông thôn Việt Nam” là bước cần thiết khi NHTM muốn mở rộng hoạt động cấp tín dụng cho nhóm đối tượng này.
Trang 1NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI KHẢ NĂNG TIẾP CẬN TÍN DỤNG CHÍNH THỨC CỦA HỘ GIA ĐÌNH NÔNG THÔN VIỆT NAM
1 Giới thiệu
Phần lớn dân số nước ta tập trung tại khu vực nông thôn thôn, hoạt động kinh tế theo
hộ là chủ yếu Các hộ gia đình nông thôn Việt Nam không chỉ làm nông nghiệp đơn thuần mà
có rất nhiều hộ kết hợp tham gia sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, là một mắt xích trong chuỗi cung ứng các mặt hàng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, hay kinh doanh tự doanh, Hiện nay đã có rất nhiều hộ gia đình nông thôn đã chuyển sang hướng áp dụng công nghệ kỹ thuật vào sản suất cũng như tập trung, chuyên môn hóa, sản xuất đáp ứng các tiêu chuẩn quy trình quốc tế… từ đó nâng cao năng suất, nâng cao giá trị của sản phẩm Tuy nhiên không phải tất cả các hộ gia đình nông thôn đều có đủ tiềm lực tài chính để thực hiện kế hoạch mở rộng sản xuất kinh doanh, phát triển ngành nghề và việc tiếp cận với các nguồn vay chính thức tại nông thôn hiện còn gặp khó khăn Chính phủ, các cấp bộ ban ngành và 2 ngân hàng (NHCSXHVN, NHNN&PTNTVN) đã có những chính sách cho vay ưu đãi, khuyến khích các
hộ gia đình nông thôn vay vốn, nhưng những chính sách này vẫn chưa đạt được đúng như kỳ vọng đặt ra Để các hộ gia đình nông thôn tiếp cận tín dụng dễ dàng cần có sự vào cuộc của toàn khối NHTM Hiện tại, các NHTM cần có một khung đồng bộ, chuẩn hóa cho vay đối tượng này, dự đoán trong tương lai đây sẽ là đối tượng chiếm thị phần cho vay không nhỏ của các ngân hàng Để hạn chế, phòng ngừa rủi ro khi cấp tín dụng cho các hộ gia đình nông thôn, các ngân hàng cần hiểu rõ đặc điểm, các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của hộ, đưa ra được bộ tiêu chí phù hợp để phân loại đối tượng, từ đó đưa ra dự báo về cấp tín dụng và quy mô cấp tín dụng Nghiên cứu về “Nhân tố tác động tới khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của hộ gia đình nông thôn Việt Nam” là bước cần thiết khi NHTM muốn mở rộng hoạt động cấp tín dụng cho nhóm đối tượng này
2 Tổng quan nghiên cứu
2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trên thế giới, nhiều nghiên cứu về hộ gia đình nông thôn được thực hiện và tiếp cận trên nhiều khía cạnh Mỗi nghiên cứu chỉ ra được những đặc điểm riêng biệt của khu vực nghiên cứu, những nghiên cứu công bố sau tiếp nối kế thừa, phát triển các quan điểm nghiên cứu trước đó để phù hợp hơn
Các nghiên cứu về đặc điểm hộ gia đình nông thôn
Hộ gia đình nông thôn là hộ gia đình có đầy đủ các đặc điểm chức năng cơ bản nhưng sống ở khu vực nông thôn, để phân biệt với hộ gia đình thành thị [CITATION viw16 \y \t \l 1033 ] Theo một báo cáo của World Bank[CITATION Wor08 \n \t \l 1033 ], không phải tất cả hộ gia đình nông thôn đều là nông dân, nguồn thu nhập chính của một bộ phận không nhỏ đến từ các hoạt động sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp Báo cáo này đã chỉ ra một đặc điểm quan trọng của các hộ gia đình nông thôn ở châu Á là tỷ lệ tiết kiệm từ
Trang 2thu nhập cao và gia tăng trong cách mạng xanh làm cho vốn có sẵn cho đầu tư vào các hoạt động phi nông nghiệp Ngoài ra, các hộ gia đình nông thôn ngày càng cải thiện thu nhập nhờ tham gia vào nhiều hoạt động sản xuất, đa dạng nguồn thu Nghiên cứu về Việt Nam, báo cáo cũng chỉ ra các chỉ số về tài sản, thu nhập của các hộ đều tăng, trình độ giáo dục của các chủ
hộ dần được cải thiện Tỷ lệ thu nhập từ nghề nông có xu hướng giảm, các nông hộ đang tăng giá trị cho các sản phẩm nông nghiệp bằng cách tăng tỷ lệ các cây công nghiệp giá trị cao Tuy nhiên trong một nghiên cứu của Davidson R Gwatkin và các cộng sự [CITATION Dav07 \n \t \l 1033 ] kết luận hầu hết các chỉ tiêu được nghiên cứu như trình độ học vấn, thu nhập, tài sản tích lũy, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe hay các chương trình tín dụng ở nông thôn đều thấp hơn nhiều so với thành thị, đặc biệt ở các nước đang phát triển Trong một phân tích thực nghiệm của R Xie [CITATION Xie08 \n \t \l 1033 ] về tín dụng nông thôn Trung Quốc cho thấy thực tế các khoản vay nông nghiệp là hướng vào ngành phi nông nghiệp Moylan và Kilic [CITATION HEA17 \n \t \l 1033 ] chỉ ra 23% hộ gia đình nông thôn sở hữu hoặc vận hành ít nhất một doanh nghiệp phi nông nghiệp chủ yếu trong ngành thương mại bán buôn và bán lẻ Cuộc khảo sát của Tiberti và Vaid [CITATION MAR19 \n \t \l 1033 ], đã nêu ra được 2 lý do chính để các hộ gia đình nông thôn vay vốn là: mua các nguyên liệu đầu vào phục vụ tăng gia sản suất và để giúp đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của hộ gia đình
Các rủi ro mà ngân hàng gặp phải khi cho hộ gia đình nông thôn là khó dự đoán, mang những đặc thù riêng (ngoài các yếu tố về con người, công nghệ), bị ảnh hưởng của thời tiết thiên nhiên khắc nghiệt, mất mùa, được mùa mất giá… Do đó, các NHTM cần có một bức tranh tổng thể về đặc điểm của hộ gia đình nông thôn
Các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến khả năng tiếp cận tín dụng của hộ gia đình nông thôn
Tín dụng của hộ gia đình nông thôn được xếp vào loại tín dụng vi mô Nghiên cứu về các hạn chế tín dụng của các hộ gia đình nông thôn Trung Quốc, Rui Li và Zhu Xi [CITATION Rui10 \n \t \l 1033 ] đưa ra các nhân tố: đất đai, chi tiêu cho giáo dục, y tế
và giáo dục, mối quan hệ có tác động tích cực đáng kể đến nhu cầu tín dụng của hộ; với thanh khoản của hộ tương quan nghịch, Shahab E Saqib và các cộng sự [CITATION Sha18 \n \
t \l 1033 ] đưa thêm các yếu tố: thu nhập hàng tháng, quy mô gia đình, kinh nghiệm canh tác, đều có ảnh hưởng cùng chiều đến tiếp cận tín dụng nông nghiệp Mỗi thảm họa thiên nhiên lớn gây ra thiệt hại rất lớn trong sản xuất nông nghiệp, tạo khó khăn cho một số lượng lớn người vay để thực hiện trả nợ đúng hạn, trở thành nợ xấu [CITATION XuS12 \l 1033 ] Dean Karlan và các cộng sự [CITATION Dea13 \n \t \l 1033 ] đã tìm ra hai yếu tố quan trọng tác động đến nhu cầu mở rộng đầu tư, khả năng tiếp cận nguồn vốn của hộ gia đình nông thôn ở Ghana, một số nước đang phát triển ở châu Phi, châu Á, đó là các vấn đề về rủi ro mà các hộ phải đối mặt khi sản xuất nông nghiệp và môi trường tài chính Nghiên cứu
về khả năng tiếp cận nguồn vốn của nông dân Mỹ, một đất nước giàu có, phát triển bậc nhất với nền nông nghiệp hiện đại, văn minh, đi trước thế giới nhiều năm, cũng có một vài hạn chế Khi lợi nhuận kỳ vọng mà các ngân hàng, các TCTD, các quỹ đặt ra cho ngành nông
Trang 3nghiệp thấp hơn các ngành khác rất nhiều sẽ dẫn đến hiện tượng nguồn vốn đáng lẽ người nông dân, ông chủ các trang trại được vay với lãi suất ưu đãi theo quy định thì dòng vốn lại chảy vào các dự án mang lại tỷ suất sinh lợi cao [CITATION ABA19 \l 1033 ] hơn Các yếu tố khác như: vấn đề về thiếu thông tin của các khoản vay, tệ nạn quan liêu, thủ tục hành chính còn phức tạp, lãi suất cao, đôi khi các NHTM không giải ngân đúng lúc được đưa ra trong nghiên cứu của Okunade E.O [CITATION Placeholder1 \n \t \l 1033 ], hay vấn
đề về tài sản thế chấp mà Indulekha Aravind và ET Bureau [CITATION Placeholder2 \n \t \l 1033 ] đã đề cập cũng là một trong số những rào cản lớn gây khó khăn trong tiếp cận tín dụng của các hộ nông thôn
Tại Việt Nam , tác giả Nguyễn Văn Vũ An và các cộng sự [CITATION Ngu163 \n \t \l 1033 ] đã đưa ra các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của nông hộ: diện tích đất, quan hệ xã hội tương quan thuận; các biến dân tộc, khả năng vay từ nguồn TDPCT tương quan nghịch Kết quả khảo sát cho thấy, nông hộ không tiếp cận được nguồn TDCT với lý do chủ yếu là không có tài sản thế chấp, có những nông hộ được khảo sát cho rằng do thủ tục vay vốn rườm rà nên không tiếp cận được nguồn TDCT Hai tác giả Bùi Văn Trịnh và Trương Thị Phương Thảo [CITATION Bùi141 \n \t \l 1033 ] nghiên cứu
về khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính thức của các hộ nuôi tôm ở Trà Vinh trước đó cũng cho kết quả tương tự, bao gồm: thu nhập của hộ, thời gian làm nghề (kinh nghiệm sản xuất), lãi suất vay của hộ, khoảng cách từ nơi hộ sinh sống đến trung tâm huyện, số lần hộ có giao dịch vay vốn với các tổ chức tín dụng và số tổ chức tín dụng tại địa phương Danh tiếng của nông hộ có tác động nghịch đối với khả năng tiếp cận và cả lượng vốn vay của hộ [ CITATION Duo021 \l 1033 ] Theo tác giả Nguyễn Ngọc Tuấn [CITATION Tín \n \t \l 1033 ] bàn về giải pháp về tín dụng đối với hộ sản xuất cà phê tỉnh Đắk Nông: Trong
số hộ sản xuất cà phê ở Đắk Nông, đa số các hộ thiếu vốn đầu tư, nhu cầu vốn tín dụng ngân hàng của hộ sản xuất cà phê rất cao nhưng chưa được đáp ứng đủ, do đó trong sản xuất cà phê của hộ gặp nhiều khó khăn Tương tự khi đề cập đến hộ sản xuất cà phê, tác giả Nguyễn Văn Hoá [CITATION Tín14 \n \t \l 1033 ] đã chỉ ra việc tiếp cận vốn còn gặp nhiều khó khăn như thủ tục vay phức tạp, tài sản thế chấp phải đảm bảo, hạn mức cho vay thấp, mất nhiều thời gian, thái độ làm việc của nhân viên ngân hàng Sau khi có vốn rồi, khó khăn tiếp theo của các hộ sản xuất là việc hạch toán và sử dụng vốn vẫn chưa đem lại hiệu quả, dẫn đến mất khả năng trả nợ cho ngân hàng Nguyễn Phượng Lê và Nguyễn Mậu Dũng (2011) đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức của hộ từ phía tổ chức tín dụng: thủ tục cho vay; lãi suất cho vay; lượng vốn cho vay và thời gian cho vay
Qua tìm hiểu hầu hết các nghiên cứu tiếp cận theo hướng khả năng tiếp cận tín dụng của hộ gia đình nông thôn, đứng trên giác độ của các hộ đi vay Xét về các nghiên cứu trên
thế giới, mỗi nghiên cứu có phạm vi địa lý khác nhau, mặt khác trình độ phát triển của mỗi nước là không giống nhau Xét về trong nước, hầu hết các nghiên cứu đưa ra các đặc điểm cụ thể cho đối tượng nhất định, phạm vi nghiên cứu chưa bao quát toàn bộ hộ gia đình nông thôn
Việt Nam Những nghiên cứu trong nước và ngoài nước hiện có rất ít nghiên cứu đứng trên
giác độ NHTM, đặc biệt là ở Việt Nam, phần lớn các khoản vay cho khu vực nông thôn do NHNN&PTNT và NHCSXH giải ngân
Trang 42.2 Thị trường tín dụng chính thức khu vực nông thôn Việt Nam
Tín dụng chính thức tại khu vực nông thôn được cung cấp chủ yếu bởi hai ngân hàng
là NHCSXH VN và NHNNPTNT VN NHCSXH là ngân hàng chính sách hoạt động không vì lợi nhuận, thực hiện cấp tín dụng ưu đãi cho các đối tượng chính sách theo quy định của Chính phủ với mục tiêu chính là xóa đói giảm nghèo trên cả nước Các đối tượng chính sách khu vực nông thôn được vay tại NHCSXH thường yếu kém về kinh tế, được sử dụng tín dụng
ưu đãi về điều kiện cho vay, lãi suất, thời gian ân hạn, thậm chí ưu đãi trong xử lí nợ xấu NHNNPTNN là NHTM hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, thực hiện đồng thời cho vay thương mại và cho vay chính sách tại nông thôn với mục tiêu chính là cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn Như vậy, tín dụng chính sách của hai ngân hàng giúp tăng tiếp cận tín dụng cho các đối tượng có năng lực kinh tế thấp được tiếp cận vốn tín dụng dễ dàng Từ đó giúp đẩy mạnh phát triển đồng đều kinh tế - xã hội tại khu vực nông thôn, bước đệm cho các đối tượng chính sách có đủ khả năng vay vốn thương mại trong tương lai Mặt khác, NHCSXH chỉ cấp tín dụng chính sách nên chấp nhận rủi ro cao để thực hiện mục đích này, còn NHNNPTNT có thể cho vay đa dạng đối tượng hơn với mức lãi suất kém rủi ro hơn
2.3 Câu hỏi nghiên cứu
Bài viết đi sâu vào việc tìm câu trả lời cho bộ câu hỏi được cho là có thể làm rõ các yếu tố tạo lên ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của hộ gia đình nông thôn Cơ sở đưa
ra các câu hỏi này dựa trên các kết quả của các nghiên cứu đi trước trong và ngoài nước có giao thoa với bài viết và đặc điểm về hộ gia đình nông thôn đã được tổng quan Các câu hỏi cho các nhân tố tác động thuận chiều lên khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của hộ gia đình nông thôn: từng nhân tố độ tuổi, giá trị tài sản thế chấp, thu nhập ròng một năm, học vấn, diện tích đất, tiết kiệm trong NHTM, khả năng tiếp thu công nghệ, khả năng trang bị máy móc mới, khả năng sản phẩm được tiếp cận thị trường càng lớn và người đi vay là nam, thuộc dân tộc Kinh, thuộc hộ nghèo, tham gia tổ đội, có người đảm bảo cho khoản vay, có mục đích sử dung khoản vay thì cơ hội tiếp cận càng tăng? Các câu hỏi cho các nhân tố tác động ngược chiều lên khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của hộ gia đình nông thôn: từng nhân tố khoảng cách từ nơi ở đến nơi vay, thời hạn vay, dư nợ hiện tại càng lớn và không trả được nợ thì khả năng tiếp cận càng giảm?
3 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Dữ liệu nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu sử dụng bộ số liệu lặp Điều tra Tiếp cận nguồn lực hộ gia đình nông thôn Việt Nam - 2016 (VARHS), được thực hiện khảo sát chủ yếu bởi Viện Nghiên cứu quản
lý Kinh tế trung ương (CIEM) và Viện Nghiên cứu Kinh tế phát triển thế giới của Trường Đại học Liên hợp quốc (UNU-WIDER) Cuộc khảo sát nhằm mục đích điều tra về những hoạt động tạo thu nhập và mức sống ở vùng nông thôn, quan hệ đất đai, thị trường tín dụng, vốn xã hội và thích ứng với rủi ro của hộ gia đình Việt Nam Mẫu kết quả từ cuộc Điều tra gồm 2.668 hộ gia đình nông thôn trên 12 tỉnh: Hà Nội 2, Phú Thọ, Lào Cai, Điện Biên, Lai Châu, Nghệ An, Quảng Nam, Khánh Hòa, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng và Long An được sử dụng làm dữ liệu đầu vào Tuy nhiên, các khía cạnh được điều tra về hộ gia đình nông thôn khá rộng nên bài nghiên cứu chọn lọc những kết quả điều tra phục vụ cho đánh giá khả năng
Trang 5tiếp cận tín dụng chính thức của hộ gia đình nông thôn Việt Nam: nhóm thông tin nhân khẩu học, nhóm thông tin đất đai, nhóm thông tin thu nhập và nhóm thông tin đặc điểm hộ gia đình Sau khi xử lý xong dữ liệu, số quan sát của VARHS 2016 phù hợp đã giảm từ 2.669 quan sát xuống 2.157 quan sát
Bảng 3.1: Mẫu nghiên cứu
Nguồn: Kết quả tổng hợp của nhóm tác giả
Từ kết quả trên cho thấy, có 1.076 quan sát nam và 1.081 quan sát nữ tham gia vào khảo sát VARHS 2016 Tỷ lệ phần trăm nữ và nam tham gia là khá ngang bằng nhau, cụ thể
nữ chiếm 50,12% và nam chiếm 49,88%
Tỷ lệ người Kinh trả lời khảo sát là 69,12% gần xấp xỉ 2 lần số lượng người được hỏi
là các dân tộc thiểu số khác với tỷ lệ 30,88%
Trang 630.88%
Dân tộc
Kinh Dân tộc khác
Hình 4.1: Tỉ lệ dân tộc tham gia khảo sát
44.78%
55.22%
Trình độ học vấn
< THCS
> THCS
Hình 4.2: Tỉ lệ trình độ học vấn của người
tham gia khảo sát Nguồn: Kết quả tổng hợp của nhóm tác giả
Số lượng những người tham gia khảo sát chưa tốt nghiệp THCS chiếm tỷ lệ 44,78%;
dù không phải là đa số nhưng đây là một giá trị khá cao Tỷ lệ này thể hiện trình độ học vấn của hộ gia đình không phải quá cao
3.2 Biến nghiên cứu
Biến nghiên cứu được lựa chọn từ tổng quan nghiên cứu và đặc điểm hộ gia đình nông thôn Việt Nam, cụ thể:
Bảng 3.1: Thống mô tả biến nghiên cứu
Tên biến Diễn giải ngắn gọn ý nghĩa của biến Kỳ vọng về
dấu của hệ số
Giới tính Biến giả, nhận giá trị 1 nếu là nữ và 0 nếu là nam
-Dân tộc Biến giả, nhận giá trị 1 nếu là dân tộc Kinh và 0 nếu
Học vấn Biến giả, nhận giá trị là 1 nếu đối tượng tốt nghiệp
Hộ nghèo Biến giả; nhận giá trị là 1 nếu là hộ nghèo và 0 nếu
Diện tích đất Tổng diện tích đất hộ gia đình sở hữu (m2) +
Khu vực Biến giả; nhận giá trị 1 nếu hộ gia đình ở nông thôn
và 0 nếu ở thành thị
Thiên tai Biến giả; nhận giá trị là 1 nếu đất đai của hộ chịu
thiên tai và 0 nếu không chịu thiên tai
Tiết kiệm trong
NHTM
Khả năng tiết kiệm trong NHTM của hộ; Biến giả
Tổ đội giúp tiếp
cận tín dụng hoặc
bảo hiểm
Biến giả; Nhận giá trị là 1 nếu tham gia tổ đội giúp
Người bảo đảm Biến giả; Nhận giá trị là 1 nếu có người bảo đảm cho
Trang 7Tên biến Diễn giải ngắn gọn ý nghĩa của biến Kỳ vọng về
dấu của hệ số
-Khoảng cách Khoảng cách từ hộ gia đình đến địa điểm cho vay
-Thu nhập ròng 1
năm
Tổng thu nhập ròng 1 năm của hộ gia đình (nghìn
Tài sản thế chấp Biến giả; nhận giá trị 1 nếu hộ gia đình vay có TSTC
và 0 nếu vay không có TSTC
Giá trị TSTC Giá trị của khoản tài sản thế chấp (nghìn đồng) nếu
Mục đích sử dụng Biến giả; nhận giá trị là 1 nếu hộ gia đình sử dụng
Không trả được
nợ
Số lần hộ gia đình không trả được khoản vay (nếu
-Tiếp thu công
nghệ mới
Khả năng tiếp thu công nghệ mới của hộ; Biến giả
Trang bị máy
móc mới
Khả năng trang bị máy móc mới của hộ gia đình;
Sản phẩm tiếp
cận thị trường
Khả năng tiếp cận thị trường của sản phẩm tự sản
Dư nợ Tổng số dư nợ của hộ gia đình đến thời điểm hiện tại
-Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Với bộ dữ liệu dạng phi tuyến, mô hình hồi quy Logit được lựa chọn để ước lượng các nhân tố tác động đến khả năng tiếp cận tính dụng chính thức của hộ gia đình nông thôn Mô hình Logit phù hợp với ước lượng xác suất biến phụ thuộc nằm trong khoảng giá trị hơn là mô hình hồi quy tuyến tính LPM Nếu sử dụng mô hình LPM, kết quả ước lượng biến phụ thuộc
có thể cho giá trị nằm ngoài khoảng giá trị của biến, do đó kết quả không phù hợp Mô hình Logit:
Pi = exp (β1+β2X 2 i+…+βk X ki)
1+ exp (β1+β2X 2i+…+ βk X ki) Hay Li= β1 + β2X2i + … + β k X ki với Li¿ln( P i
1−P i)
Phương pháp ước lượng hợp lý tối đa - Maximum Likelihood (ML) phù hợp với mẫu lớn và với mô hình phi tuyến tham số như mô hình Logit nên đã được lựa chọn để ước lượng
mô hình
Không giống với mô hình tuyến tính LPM, ảnh hưởng biên của một biến giải thích trong mô hình Logit phụ thuộc không chỉ vào hệ số của biến đó mà còn vào các giá trị của tất
cả các biến giải thích trong mô hình Mô hình Logit sử dụng phân phối xác suất logistic để ước lượng các tham số của mô hình
Trang 84 Phân tích và đánh giá tác động tới khả năng tiếp cận tín dụng chính thức khu vực nông thôn Việt Nam
Với 2.157 quan sát đạt tiêu chuẩn, các dữ liệu quan sát này được sử dụng để kiểm định
mô hình nghiên cứu với một số kết quả như sau:
4.1 Phân tích thông kê mô tả
Bảng 4.2: Thống kê mô tả các biến
Chỉ tiêu Số quan sát Trung bình Độ lệch chuẩn Nhỏ nhất Lớn nhất
2 Giới tính (biến định
3 Giá trị tài sản thế chấp
4 Thu nhập ròng 1 năm
của hộ (nghìn đồng) 2.157 117.881,5 108.932,8 -19.120 638.245
5 Học vấn (biến định tính) 2.157 0,55216 0,4974 0 1
6 Diện tích đất (km2) 2.157 2.266,208 5,346.3 16 100.876
7 Dân tộc (biến định tính) 2.157 0,69124 0,4621 0 1
8 Hộ nghèo (biến định
9 Khoảng cách đến địa
10 Tiết kiệm trong
11 Tổ đội giúp tiếp cận
TD hoặc BH (biến định
12 Người bảo đảm cho
khoản vay (biến định tính) 2.157 0,5526 0,4973 0 1
13 Thời hạn khoản vay
14 Mục đích sử dụng cho
15 Không trả được nợ
16 Khả năng tiếp thu công
17 Khả năng mua sắm
máy móc mới (biến định
tính)
18 Khả năng bán được
19 Dư nợ hiện tại của
khoản vay (nghìn đồng) 2.157 61.409,95 127.189,6 0 1.800.000
Nguồn: Kết quả ước lượng
Theo kết quả hồi quy, hệ số Spearman giữa biến dân tộc và hộ nghèo > 0,8 nên cặp biến này bị loại khỏi mô hình do xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến Sau khi loại bỏ 2 biến này,
Trang 9mô hình không còn hiện tượng đa cộng tuyến Biến tuổi và biến dư nợ vừa có tác động cùng chiều và ngược chiều tới biến phụ thuộc, vì vậy nhóm đã sử dụng thêm hai biến tuổi-square
và dư nợ-square để phân tích xu hướng tác động này
Có nhiều biến có độ dao động lớn, như Giá trị tài sản thế chấp; Dư nợ hiện tại của khoản vay; Thu nhập ròng một năm của hộ gia đình Đặc điểm chung giữa các biến này đó là đều là biến định lượng, phản ánh khả năng tài chính biến đổi khác nhau giữa từng hộ gia đình Biến Dư nợ hiện tại có giá trị thấp nhất là 0 và lớp nhất là 1.800.000 nghìn đồng Khi các nông hộ vay cần có tài sản đảm bảo, trung bình giá trị tài sản đảm bảo của nông hộ đó để bảo chứng cho khoản vay là 269.739 nghìn đồng
Thậm chí, biến thu nhập ròng một năm của hộ gia đình còn dao động từ giá trị âm đến giá trị dương, thấp nhất là – 19.120 nghìn đồng và cao nhất là 638.245 nghìn đồng Để giải thích cho mức độ dao động lớn này, cần chú ý rằng biến độ tuổi cũng dao động mạnh từ 0 đến
96 tuổi Như vậy, có những người trả lời không trong độ tuổi lao động và không có khả năng tạo ra thu nhập ròng dương
Thời hạn khoản vay trung bình xấp xỉ 30 tháng, tương đương 2,5 năm Điều này cho thấy, trung bình các hộ gia đình thường đi vay vốn với thời hạn trung hạn
4.2 Phân tích các nhân tố tác động tới khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của hộ gia đình nông thôn Việt Nam
Các nhân tố phù hợp ước lượng trong mô hình: độ tuổi, giới tính, giá trị tài sản thế chấp, thu nhập ròng một năm của hộ, học vấn, diện tích đất, khoảng cách từ hộ đến địa điểm vay, tiết kiệm trong NHTM, tổ đội giúp tiếp cận tín dụng hoặc bảo hiểm, có người bảo đảm cho khoản vay, thời hạn khoản vay, mục đích sử dụng khoản vay, số lần không trả được nợ, khả năng tiếp thu công nghệ, khả năng trang bị máy móc mới, khả năng sản phẩm tiếp cận được thị trường và dư nợ hiện tại của khoản vay Kết quả ước lượng cho thấy, tuổi của chủ hộ
và dư nợ vừa có tác động cùng chiều và ngược chiều tới khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của hộ gia đình nông thôn Việt Nam Vì vậy, kiểm định tuổi-square và dư nợ-square giúp phân tích xu hướng tác động của những nhân tố này
Ngoài ra, Pseudo R2 = 0,8354; LR chi2 = 1.680,308; phần trăm dự báo chính xác là 81,7% nên mô hình có ý nghĩa thống kê phù hợp Kết quả ước lượng nhân tố tác động thể hiện ở bảng sau:
Bảng 3.2: Kết quả ước lượng mô hình hồi quy Logit
lượng
Tác động biên dy/dx
Giá trị P-value thống kê Z (P>|z|)
Giá trị tài sản thế chấp (X3) 0,7298553 1,27e-07 0,076*
Thu nhập ròng 1 năm của hộ (X4) 0,6458910 2,73e-07 0,045 **
Trang 10Thiên tai (X6) 4,279e-02 3,851e-03 0,367
Khoảng cách đến địa điểm vay (X9) -0,00488677 -0,0021447 0,787
Tiết kiệm trong NHTM (X10) 0,935052 0,9616711 0,000 ***
Tổ đội giúp tiếp cận tín dụng hoặc
Người bảo đảm cho khoản vay (X12) 0,7283982 0,0336299 0,088*
Thời hạn khoản vay (X13) -0,0344557 -0,0015122 0,029 **
Mục đích sử dụng cho SXKD (X14) 0,3962726 0,0164819 0,096*
Không trả được nợ (X15) -3,18886 -0,1399545 0,000 ***
Khả năng tiếp thu công nghệ (X16) 0,4555131 0,0172883 0,509
Khả năng trang bị máy móc mới
Khả năng bán được sản phẩm (X18) 0,869419 0,3159261 0,018 **
Dư nợ hiện tại của khoản vay (X19) 4,86e-06 2,83e-07 0,003 **
Dư nợ hiện tại của khoản vay-
(Ghi chú: *,**,*** lần lượt có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 10%, 5%, 1%)
Nguồn: Kết quả ước lượng
Kết quả ước lượng cho thấy, hộ gia đình có sổ tiết kiệm trong NHTM có tác động mạnh nhất đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức, diện tích đất của nông hộ ít ảnh hưởng nhất tới khả năng tiếp cận tín dụng chính thức Cũng theo kết quả này, tuổi của chủ hộ có tương quan thuận với khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của nông hộ Kết quả ước lượng chỉ ra rằng, khi người được khảo sát trong nông hộ tăng 1 tuổi và các yếu tố khác không đổi thì xác suất tiếp cận tín dụng chính thức tăng 0,0007234 Tuy nhiên, khi từ độ tuổi 65 trở lên, chủ hộ tăng 1 tuổi thì xác suất tiếp cận nguồn tín dụng chính thức lại giảm đi Điều này cũng phản ảnh được thực tế rằng ở ngưỡng độ tuổi nghỉ hưu phổ biến này, trong khi thu nhập tạo ra
và khả năng ngày càng giảm đi còn bệnh tật và các rủi ro tăng lên thì khả năng tiếp cận tín dụng chính thức sẽ thấp hơn
Kết quả nghiên cứu cũng phản ánh hiện trạng của các nông hộ tại nông thôn Việt Nam hiện nay khi người đi vay là nam giới có khả năng tiếp cận nguồn tín dụng chính thức dễ hơn
so với nữ giới Ngoài ra, trình độ học vấn cũng tác động tới khả năng tiếp cận tín dụng chính thức, chủ hộ có trình độ từ THCS trở lên thì xác suất tiếp cận được nguồn tín dụng chính thức của nông hộ cao hơn 0,0387 so với nông hộ có người khảo sát chưa tốt nghiệp THCS
Bên cạnh những nhân tố về nhân khẩu học, những nhân tố thể hiện khả năng thu hồi vốn của ngân hàng thương mại như giá trị tài sản thế chấp, thu nhập ròng của hộ/năm, diện tích đất, có sổ tiết kiệm tại ngân hàng, có tham gia tổ đội đều cho thấy tương quan thuận chiều
và thể hiện khi nông hộ có các điều kiện đảm bảo trên thì khả năng tiếp cận tín dụng chính thức trở nên dễ dàng hơn so với các nông hộ khác Cụ thể:
- Khi giá trị của tài sản đảm bảo càng cao thì khả năng tiếp cận được với nguồn tín dụng chính thức của nông hộ gia đình càng tăng lên