1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công ước CEDAW và Phong trào phụ nữ Ai Cập thế kỷ XX

115 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn sẽ là công trình nghiên cứu có hệ thống đầu tiên về phong trào phụ nữ tại Ai Cập thế kỷ XX, từ góc nhìn của nhà nghiên cứu Việt Nam trên cơ sở những nguồn tài liệu đa chiều. Ngoài ra, đây cũng là một nguồn tài liệu tham khảo bổ ích cho những nhà nghiên cứu, các công trình nghiên cứu liên quan về sau. Thứ nhất, làm rõ tiền đề phát triển của phong trào phụ nữ tại Ai Cập thế kỷ XX, bao gồm: tổng quan về truyền thống của phụ nữ Ai Cập, vai trò của phụ nữ trong Islam, bối cảnh quốc tế, khu vực, và tình hình nảy sinh và phát triển của phong trào phụ nữ tại Ai Cập thế kỷ XX. Thứ hai, trình bày và phân tích nguyên tắc phân kỳ của phong trào phụ nữ tại Ai Cập thế kỷ XX. Thứ ba, rút ra một số nhận xét về động cơ thúc đẩy, sự biến đổi cơ cấu và mục tiêu hành động, lực lượng quần chúng và các nhà lãnh đạo của phong trào phụ nữ tại Ai Cập thế kỷ XX. Thứ tư, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu và những tác động của phong trào phụ nữ tại Ai Cập thế kỷ XX đến sự phát triển của Ai Cập và ảnh hưởng của nó đối với phong trào phụ nữ Trung Đông và Bắc Phi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN LINH CHI

CÔNG ƯỚC CEDAW

VÀ PHONG TRÀO PHỤ NỮ AI CẬP THẾ KỶ XX

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÂU Á HỌC

Hà Nội - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN LINH CHI

CÔNG ƯỚC CEDAW

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, Luận văn thạc sĩ Châu á học với đề tài: “Công ước CEDAW và Phong trào phụ nữ Ai Cập thế kỷ XX” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Đỗ Thu Hà

Các số liệu, trích dẫn và tài liệu tham khảo trong luận văn là hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng

Hà Nội, năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Linh Chi

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn với đề tài “Công ước CEDAW và Phong trào phụ nữ Ai

Cập thế kỷ XX” được hoàn thành tại trường Đại học Khoa học Xã hội và

Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Để hoàn thành được Luận văn, bên cạnh những cố gắng của bản thân, tác giả luận văn đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân, tập thể

Trước tiên, với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu

sắc tới PGS TS Đỗ Thu Hà, cô đã nhiệt tình hướng dẫn khoa học cho tác giả

để Luận văn được hoàn thành

Tác giả xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo khoa Đông phương học và các thầy cô công tác ở các đơn vị ngoài trường, những người

đã cung cấp cho tôi những kiến thức hữu ích, giúp tôi có thể hoàn thành tốt luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, các cán bộ, công chức của các phòng, ban trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận giúp tôi hoàn thành khoá học và bảo vệ luận văn

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả Luận văn

Nguyễn Linh Chi

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ VỊ THẾ CỦA PHỤ NỮ TRONG XÃ HỘI AI CẬP THẾ KỶ XX 7

1.1 Địa vị của phụ nữ Ai Cập cổ đại 7

1.1.1 Phụ nữ trong hôn nhân và gia đình 7

1.1.2 Phụ nữ với thiên chức làm mẹ 8

1.1.3 Phụ nữ trong lao động 8

1.1.4 Phụ nữ trong chính trị 9

1.1.5 Các nữ thần trong Ai Cập cổ đại 10

1.2 Vị thế của phụ nữ trong Islam 11

1.3 Bối cảnh văn hóa - xã hội của phong trào phụ nữ Ai Cập thế kỷ XX 19

1.3.1 Sơ lược về Ai Cập thế kỷ XX 19

1.3.2 Tiền đề phong trào phụ nữ Ai Cập đầu thế kỷ XX 26

1.3.3 Phong trào phụ nữ quốc tế thế kỷ XX 27

1.3.4 Phong trào phụ nữ tại Thế giới Ả rập thế kỷ XX 28

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 32

CHƯƠNG 2 : SỰ KẾT NỐI CỦA PHONG TRÀO PHỤ NỮ AI CẬP THẾ KỶ XX VỚI CÔNG ƯỚC CEDAW 33

2.1 Sự phân kỳ trong phong trào phụ nữ Ai Cập thế kỷ XX 33

2.1.1 Làn sóng thứ nhất: Quyền giáo dục và quyền bầu cử (cuối thế kỷ XIX đến 1952) 34

2.1.2 Làn sóng thứ hai: Chủ nghĩa nữ quyền theo định hướng Nhà nước và quyền lao động (1952 - 1980) 37

2.1.3 Làn sóng thứ ba: Nữ quyền trong xã hội dân sự (1980 - 2011) 39

2.1.4 Làn sóng thứ tư: Quyền bất khả xâm phạm thân thể và quyền chính trị(từ 2011 đến nay) 41

Trang 6

2.2 Phong trào phụ nữ Ai Cập trước Công ước CEDAW 44

2.2.1 Hiệp hội phụ nữ Ai Cập 45

2.2.2 Hội Phụ nữ Muslim 46

2.2.3 Người con gái sông Nile 47

2.3 Công ước CEDAW 49

2.3.1 Nội dung Công ước CEDAW 49

2.3.2 Ai Cập ký Công ước CEDAW 51

2.4 Phong trào phụ nữ sau Công ước CEDAW 52

2.4.1 Hiệp hội Đoàn kết phụ nữ Ả rập 52

2.4.2 Hội đồng Phụ nữ Quốc gia 53

2.4.3 Tổ chức Hỗ trợ Pháp lý Phụ nữ Ai Cập 54

2.5 Nhận định của LHQ về tình hình thực hiện Công ước CEDAW ở Ai Cập thế kỷ XX 55

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 58

CHƯƠNG 3: ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG ƯỚC CEDAW ĐỐI VỚI PHONG TRÀO PHỤ NỮ AI CẬP THẾ KỶ XX 59

3.1 Những thành tố chịu ảnh hưởng của Công ước CEDAW 59

3.1.1 Sự tái sinh của phong trào phụ nữ 59

3.1.2 Sự thu hẹp không gian hoạt động 62

3.1.3 Sự đa dạng hóa loại hình hoạt động 64

3.1.4 Sự bùng nổ trong chương trình nghị sự và liên kết quốc tế 66

3.1.5 Mối quan hệ tương hỗ với Nhà nước 68

3.2 Thành tựu chính sau khi Ai Cập k‎c‎ư gn‎C ý‎ CEDAW 70

3.2.1 Xóa bỏ hủ tục FGM 71

3.2.2 Sửa đổi Luật Vị thế cá nhân 74

3.3 Một số đặc điểm của phong trào phụ nữ Ai Cập thế kỷ XX 77

3.3.1 Sự tự nhận thức của các nhà hoạt động nữ quyền Ai Cập 77

Trang 7

3.3.2 Vai trò của nam giới 79

3.3.3 Ảnh hưởng của công nghệ 80

3.4 Những ảnh hưởng tới phong trào phụ nữ ở Thế giới Ả rập 81

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 85

KẾT LUẬN 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC 100

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 AWSA The Arab Women's Solidarity Association

Hiệp hội Đoàn kết phụ nữ Ả rập

2 CEDAW Convention on the Elimination of all forms of

Discrimination against Women

Công ước của Liên Hợp Quốc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ

3 CEWLA Centre for Egyptian Women Legal Assistance

Trung tâm hỗ trợ pháp lý cho phụ nữ Ai Cập

4 EFU Egyptian Feminist Union

Hiệp hội phụ nữ Ai Cập

5 FGM Female genital mutilation

Thủ tục cắt xén bộ phận sinh dục của phụ nữ

6 ICPD International Conference on Population and Development

Hội nghị Dân số và Phát triển Quốc tế

7 LGBTQ Lesbian, Gay, Bisexual, Transgender and Queer

Cộng đồng những người đồng tính (đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính, chuyển giới, đa dạng tính dục)

8 NCW National Council for Women

Hội đồng Phụ nữ Quốc gia

9 NGOs Các tổ chức phi chính phủ

Trang 9

CÁC THUẬT NGỮ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN

Giới: Là thuật ngữ chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò trong tất cả các mối quan

hệ xã hội giữa nam giới – phụ nữ (trẻ em trai – trẻ em gái) [xem 5]

Giới tính: Là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ (trẻ

em trai – trẻ em gái) [xem 5]

Bình đẳng giới: là việc nam, nữ có vị trí, vai trò như nhau; được tạo

điều kiện và cơ hội để phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau thành quả của sự phát triển đó [xem 5] Ngân hàng Thế giới đưa ra định nghĩa về bình đẳng giới như

sau: “Bình đẳng giới là bình đẳng về luật pháp, về cơ hội – bao gồm sự bình

đẳng trong việc tiếp cận nguồn nhân lực, vốn và các nguồn lực sản xuất khác, bình đẳng trong công việc và trong tiếng nói” [xem 109]

Khái niệm bình đẳng giới ngụ ý rằng nam giới và nữ giới, trong đó gồm

cả cộng đồng người đồng tính luyến ái và người chuyển giới cần được đối xử công bằng trong tất cả các khía cạnh của đời sống - kinh tế - xã hội và quyền con người như: giáo dục, y tế, văn hóa, hôn nhân, gia đình, việc làm, các chính sách phúc lợi… [xem 106] Khái niệm này dựa trên Tuyên bố Liên Hiệp Quốc về Nhân quyền, với mục tiêu là sự bình đẳng về mặt luật pháp cũng như bình đẳng trong vị thế xã hội, đặc biệt là trong hoạt động bầu cử và bảo đảm được hưởng lương công bằng

Bất bình đẳng giới: Dựa trên định nghĩa về bình đẳng giới trên, bất

bình đẳng giới có thể hiểu là sự bất bình đẳng trong so sánh tương quan về vai trò, vị trí và tiếng nói của nam và nữ giới

Có nhiều định nghĩa về thuật ngữ “nữ quyền” và cũngkhông có thuyết

nữ quyền phù hợp cho phụ nữ ở mọi thời đại Trong phạm vi luận văn, đề tài

sử dụng thuật ngữ nữ quyền theo định nghĩa của nhà hoạt động nữ quyền Kamla Bhasin (2003): “Nữ quyền là nhận thức về sự thống trị gia trưởng, sự

Trang 10

bóc lột và áp bức phụ nữ về mặt vật chất và tinh thần trong lao động, sinh sản

và tình dục trong gia đình, tại nơi làm việc và trong xã hội nói chung; là hành động có ý thức của phụ nữ và nam giới để thay đổi tình trạng đó” [xem 58]

“Phong trào nữ quyền”: Từ sự phân tích về thuật ngữ nữ quyền ở trên,

có thể hiểu phong trào nữ quyền là phong trào đấu tranh vì quyền lợi của phụ

nữ và đem đến cho phụ nữ những quyền bình đẳng so với nam giới

Chủ nghĩa nữ giới hay chủ nghĩa nữ quyền, chủ nghĩa duy nữ là tập

hợp các phong trào và hệ tư tưởng nhằm mục đích xác định, xây dựng và bảo

vệ quyền lợi chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội bình đẳng cho phụ nữ [xem 37] Người theo chủ nghĩa nữ quyền là người vận động hoặc ủng hộ các quyền lợi cho phụ nữ và bình đẳng giới [xem 89]

Các vấn đề thường liên quan đến khái niệm quyền của phụ nữ bao gồm: toàn vẹn thân thể và quyền tự chủ; quyền được giáo dục và làm việc; quyền được trả lương bình đẳng; quyền sở hữu tài sản; quyền tham gia vào các hợp đồng hợp pháp, tổ chức các cơ quan công quyền; quyền bầu cử; quyền tự do kết hôn, bình đẳng trong gia đình và tự do tôn giáo Lý thuyết về chủ nghĩa nữ quyền, nổi lên từ phong trào nữ quyền, với mục đích để hiểu bản chất của bất bình đẳng giới [xem 83]

Những hành động vì nữ quyền thường được thúc đẩy bởi “ý thức nữ quyền” của các thành viên trong cộng đồng Có rất nhiều định nghĩa về ý thức

nữ quyền nhưng theo cá nhân người viết cho rằng định nghĩa mà nhà sử học

Gerda Lerner đưa ra là định nghĩa trọn vẹn nhất: “Tôi định nghĩa ý thức nữ

quyền là nhận thức của phụ nữ khi cho rằng họ thuộc về một nhóm lệ thuộc;

họ đã phải chịu đựng những điều không đúng với lẽ tự nhiên nhưng lại phù hợp với chuẩn mực xã hội; họ cần phải cùng với những người phụ nữ khác sửa chữa những sai lầm này; và cuối cùng, họ cần phải đưa ra nhìn nhận

Trang 11

khác để thay đổi xã hội, nơi phụ nữ với nam giới đều được bình đẳng hưởng quyền tự chủ và quyền tự quyết định” [64, tr.4]

Nhận thức về nữ quyền do đó có liên quan đến hiểu biết và ý thức của

xã hội, hoạt động thông qua đoàn kết hành động để thay đổi xã hội Phong trào nữ quyền là một phong trào chính trị vì nó thừa nhận sự mất cân bằng trong cấu trúc quyền lực và mối quan hệ xã hội liên quan đến vấn đề giới tính Phụ nữ được đặt ở vị trí trung tâm của cuộc đấu tranh để giành quyền bình đẳng cũng như cải thiện cuộc sống của họ trong mọi lĩnh vực như: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tôn giáo … Phong trào nữ quyền là một phong trào chính trị dựa trên sự nỗ lực của cả xã hội để thay đổi các điều kiện sống của phụ nữ

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lịch sử phong trào phụ nữ ở Ai Cập luôn có sự tham gia của một số nhóm xã hội và chính trị Mặc dù Ai Cập, so với các nước Ả rập, là nơi tiên phong trong những vấn đề cải cách, đặc biệt là phát triển các phong trào theo chủ nghĩa dân tộc và chống lại chủ nghĩa đế quốc nhưng quá trình đấu tranh

vì bình đẳng giới và quyền của phụ nữ không hề dễ dàng [xem 61]

Phong trào phụ nữ Ai Cập có thể được xem như là một cuộc đấu tranh cho các cơ hội bình đẳng giới trong lĩnh vực công cộng và công lý trong nước Khi nói về những ngày đầu của phong trào của phụ nữ, người ta thường lấy dẫn chứng về cuộc biểu tình công khai của phụ nữ Ai Cập vào ngày 16/3/1919 trong cuộc Cách mạng 1919 chống Đế quốc Anh xâm lược của người dân Ai Cập Đây là một cuộc biểu tình không chỉ được khắc sâu trong lịch sử đất nước Ai Cập mà còn được ghi lại bởi báo chí và thậm chí được ca ngợi trong bài thơ của nhà thơ Hafiz Ibrahim viết năm 1929 [16, 115] Ông

mô tả cuộc biểu tình dũng cảm của phụ nữ Ai Cập đã bị lực lượng cảnh sát dùng bạo lực để giải tán, khiến nhiều người bị thương Bạo lực mà phụ nữ tham gia biểu tình phải đương đầu đã không làm giảm đi nhiệt huyết đấu tranh của phụ nữ Ai Cập Trái lại, như lửa đổ thêm dầu, nó càng khiến các tổ chức của phụ nữ mở rộng quy mô và địa bàn hoạt động cùng với phát triển những chiến lược chính trị sắc bén hơn trong suốt một thế kỷ qua

Với một đất nước 90% dân số theo Islam giáo [32], quyền phụ nữ tại Ai Cập luôn là vấn đề được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm Đặc biệt,

Ai Cập là một trong những nước Islam giáo đầu tiên ký và phê chuẩn Công ước loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ CEDAW được Đại Hội

đồng Liên Hiệp Quốc chấp thuận năm 1979 Nghiên cứu về “Công ước

CEDAW và Phong trào phụ nữ Ai Cập thế kỷ XX”, do đó, sẽ là một đóng góp

Trang 13

cụ thể để tìm hiểu sâu hơn về sự phát triển của phong trào phụ nữ tại Ai Cập nói riêng và phong trào phụ nữ các nước Islam giáo nói chung, cùng với vai trò của Công ước CEDAW trong việc thúc đẩy phong trào phụ nữ tại Ai Cập

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

2.1 Ý nghĩa khoa học của luận văn

Luận văn sẽ là công trình nghiên cứu có hệ thống về phong trào phụ nữ tại Ai Cập thế kỷ XX, từ góc nhìn của nhà nghiên cứu Việt Nam trên cơ sở những nguồn tài liệu đa chiều Ngoài ra, đây cũng là một nguồn tài liệu tham khảo bổ ích cho những nhà nghiên cứu, các công trình nghiên cứu liên quan

về sau

2.2 Ý nghĩa thực tiễn luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ cung cấp những gợi mở khi nghiên cứu về phong trào phụ nữ và phụ nữ trong Islam nói chung, phong trào phụ

nữ tại Ai Cập thế kỷ XX nói riêng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Công ước CEDAW và phong trào phụ nữ 3.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Về thời gian: thế kỷ XX

+ Về không gian: Ai Cập và Thế giới Ả rập

4 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu của luận văn

4.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu tổng quát: nghiên cứu toàn diện về phong trào phụ nữ tại Ai Cập thế kỷ XX trên các phương diện: phân kỳ, nguyên tắc và kết quả hoạt động, các đặc điểm của phong trào và đánh giá ảnh hưởng của Công ước CEDAW đến phong trào phụ nữ Ai Cập thế kỷ XX

- Mục tiêu cụ thể: làm rõ thực chất phong trào phụ nữ tại Ai Cập thế kỷ

XX trên các phương diện như: tiền đề phát triển, động cơ thúc đẩy, sự biến

Trang 14

đổi cơ cấu và mục tiêu hành động, lực lượng quần chúng và các nhà lãnh đạo

để rút ra vai trò của Công ước CEDAW đến việc thúc đẩy sự thành công của phong trào

4.2 Nội dung nghiên cứu

Luận văn của tôi sẽ thực hiện những nội dung nghiên cứu sau:

Thứ nhất, làm rõ tiền đề phát triển của phong trào phụ nữ tại Ai Cập

thế kỷ XX, bao gồm: tổng quan về truyền thống của phụ nữ Ai Cập, vai trò của phụ nữ trong Islam, bối cảnh quốc tế, khu vực, và sự phát triển của phong trào phụ nữ tại Ai Cập thế kỷ XX trước và sau khi Ai Cập ký‎‎ ư gn‎ C ý‎ưEDAW

Thứ hai, trình bày và phân tích nguyên tắc phân kỳ của phong trào phụ

nữ tại Ai Cập thế kỷ XX

Thứ ba, rút ra một số nhận xét về động cơ thúc đẩy, sự biến đổi cơ cấu

và mục tiêu hành động, lực lượng quần chúng và các nhà lãnh đạo của phong trào phụ nữ tại Ai Cập thế kỷ XX

Thứ tư, đánh giá những ảnh hưởng của việc Ai Cập ký Công ước

CEDAW đến phong trào phụ nữ tại Ai Cập thế kỷ XX và ảnh hưởng phong trào phụ nữ Ai Cập với phong trào phụ nữ Thế giới Ả rập

5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Những công trình ở nước ngoài mà tác giả tham khảo trong luận văn liên quan đến đề tài gồm bốn loại:

Đề cập đến phong trào phụ nữ trên thế giới và các quốc gia Ả

rập: Remaking Women: Feminism and Modernity in the Middle East, Lila Abu-Lughod (1998); Gendering the Middle East, Deniz Kandiyoti (1996);

Women in the Middle East, Haleh Afshar (1993); Feminism and Nationalism

in the Third World, Kumari Jeyawordena (1986); Women in the Middle East: Past and Present, Nikki R Keddie (2006); Women in the Middle East and

Trang 15

North Africa, Fatima Sadiqui và Moha Ennaji (2010);Modernizing Women, Gender and Social Change in the Middle East, Valentine M Moghadam

(1993); Women’s Resistance in the Arab World and in Egypt, Nawal ElSadawi (1996); Reconstructing Gender in the Middle East, Fatma Müge Göçek và Shiva Balghi (1994); Introduction: Sexuality as a contested

political domain in the Middle East, P Kkaracan (2008);

Đề cập đến phong trào phụ nữ ở Ai Cập: The women’s movement in

Egypt, Nadia Abdel-Wahab (1995); The Women’s Movement in Egypt, with Selected References to Turkey, Nadje Al-Ali (2002); Secularism, Gender and the State in the Middle East: The Egyptian Women’s movement, Nadje Al-Ali

(2000); The women’s awakening in Egypt: Culture, society, and the press, Beth Baron (1994); ; Significant moments in the history of Egyptian women, Hoda Elsadda và E Abu-Ghazi (2001); Women, Islamisms and the State:

Dynamics of Power and Contemporary Feminisms in Egypt, Mahnaz

Afkhami (1860); Feminism in Egypt: A Conversation with Nawal Sadawi, Sarah Graham-Brown (1981); Attitudes to Female Employment in Four

Middle Eastern Countries, Ivy Papps (1993); Egypt as a Woman: Nationalism, Gender, and Politics, Beth Baron(2005);

Đề cập đến quyền của phụ nữ trong Islam, có thể sử dụng làm cơ sở văn hóa - xã hội cho động cơ, mục đích đấu tranh của phong trào phụ nữ Ai

Cập trong thế kỷ XX đến nay như: Feminists, Islam and the Nation: Gender

and Making of Modern Egypt, Margot Badran (1995); Gender and Islamism

in the 1990s, Mervat F Hatem (2002); Women and Gender in Islam: Historical Roots of a Modern Debate, Leila Ahmed (1993); bản dịch Dẫn luận về Hồi giáo, Malise Ruthven (2016) và một số bài báo như Egypt has just banned girls from wearing hijabs to school, The Independent; Egyptian elementary school teacher beats girl for not wearing hijab, Pamela Geller

Trang 16

Tài liệu gốc như Kinh Qur’an để khảo cứu và làm cơ sở cho những luận điểm

của tác giả

Đề cập đến Công ước CEDAW và tình hình thực thi Công ước tại Ai Cập, tác giả đã tham khảo những báo cáo định kỳ của Ai Cập về tình hình

thực thi CEDAW (vào năm 1996 và năm 2000) lên Liên Hiệp Quốc; The

Tension between Women's Rights and Religious Rights: Reservations to Cedaw by Egypt, Bangladesh and Tunisia, Michele Brandt và Jeffrey A

Kaplan (1995) Tuy nhiên các tác phẩm này mới chỉ đề cập đến việc thực thi quyền phụ nữ tại Ai Cập sau khi Ai Cập ký Công ước (1981), chứ chưa nghiên cứu nguyên nhân thúc đẩy Ai Cập – một nước Ả rập đầu tiên – ký Công ước và vai trò của CEDAW đến toàn bộ phong trào phụ nữ ở Ai Cập

Ở Việt Nam đến nay, theo chúng tôi biết, có Luận văn Thạc sĩ đã bảo vệ

của Bùi Thị Thơm (2015) về Vai trò của người phụ nữ theo đạo Hồi trong xã

hội (Qua khảo cứu Kinh Qur’an), bài báo đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch

sử của tác giả Nguyễn Nhân Trí (2015) về Nữ quyền trong Hồi giáo và bài

Địa vị người phụ nữ trong xã hội Hồi giáo truyền thống của tác giả Bùi Thị

Ánh Vân (2013) đăng trên Tạp chí VHNT; bài viết của PGS.TS Đỗ Thu Hà

(2018): Phụ nữ Muslim và hôn nhân qua thánh điển trên Tạp chí nghiên cứu

Châu Phi & Trung Đông, là các bài có nội dung về vai trò và địa vị của phụ

nữ cũng như một số quan điểm về nữ quyền trong Islam nói chung chứ không

đi trực tiếp vào đề tài luận văn của tác giả

6 Phương pháp nghiên cứu

Là đề tài về phong trào phụ nữ tại Ai Cập thế kỷ XX nên phương pháp nghiên cứu chủ yếu phương pháp nghiên cứu lịch sử vì phương pháp này giúp tìm nguồn gốc phát sinh (nguồn gốc xuất xứ, hoàn cảnh nảy sinh), quá trình phát triển và chuyển hóa (điều kiện, hoàn cảnh, không gian, thời gian… có ảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu), bên cạnh đó là phương pháp đồng đại, lịch đại để phát hiện bản chất và quy luật vận động của đối tượng

Trang 17

Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng phương pháp liên ngành cùng với các thao tác khoa học như thống kê, phân tích, so sánh… trong quá trình thực hiện luận văn để hoàn thành được những mục tiêu mà người viết đã đặt ra

7 Bố cục của luận văn

Luận văn được chia làm ba chương chính

Chương 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ VỊ THẾ CỦA PHỤ NỮ AI CẬP

Chương 2: SỰ KẾT NỐI CỦA PHONG TRÀO PHỤ NỮ AI CẬP THẾ KỶ

XX VỚI CÔNG ƯỚC CEDAW

Chương 3:ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG ƯỚC CEDAW ĐỐI VỚI PHONG

TRÀO PHỤ NỮ AI CẬP THẾ KỶ XX

Trang 18

CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ VỊ THẾ CỦA PHỤ NỮ TRONG

XÃ HỘI AI CẬP THẾ KỶ XX

1.1 Địa vị của phụ nữ Ai Cập cổ đại

Trước khi xem xét địa vị phụ nữ Ai Cập thế kỷ XX, không thể phủ nhận một điều là phụ nữ Ai Cập đã có nền tảng vững chắc từ thời cổ đại, họ

có một số quyền đặc biệt mà phụ nữ trong các xã hội cùng thời đại khác không thể so sánh Họ có thể sở hữu tài sản và bình đẳng với nam giới một cách hợp pháp tại tòa cho dù xã hội Ai Cập cổ đại vẫn trọng nam hơn

1.1.1 Phụ nữ trong hôn nhân và gia đình

Trong nhiều bài hát tình yêu thời Ai Cập cổ, từ “anh em” (anh trai, em gái) mang nghĩa là “ngang hàng” hay “bạn đời” Vì vậy, các bài hát tình yêu

có thể đang đề cập đến mối quan hệ bình đẳng giữa vợ và chồng [xem 94] Hôn nhân cận huyết trong Hoàng tộc khá phổ biến lúc bấy giờ Trong thần thoại về các vị thần, Usir (Osiris)1

cũng đã kết hôn với em gái của mình là Aset (Isis)

Người vợ thường cùng chồng làm việc và chia sẻ gánh nặng cùng chồng Gia đình thông thường gồm một vợ một chồng, nhưng đối với những gia đình qu‎c‎t ý,‎ợ t‎gnCng‎ớưg‎ gn‎ýc‎tưô‎ýC g‎gưgn ‎ộm,‎gưất là khi người

vợ cả không thể có con Hôn nhân thường được sắp đặt bởi cha mẹ, họ sẽ lựa chọn cho con cái mình đối tượng môn đăng hậu hộ đối Nhiều tài liệu cho rằng phụ nữ Ai Cập cổ đại có quyền sở hữu tài sản riêng, được hợp pháp ra tòa án khởi kiện và tự do làm việc ở nơi công cộng Người chồng không nắm quyền kiểm soát tài sản riêng của vợ vì phụ nữ có vị thế khá độc lập ở Ai Cập

cổ đại Phụ nữ Ai Cập cổ đại được xem là một trong những nhóm phụ nữ độc lập nhất Khi người chồng mất, góa phụ được quyền thừa kế tài sản và cũng

1 Usir là tên Thần bằng tiếng Ai Cập cổ, Osiris là tên Thần bằng tiếng Hy Lạp Đến ngày này, tên tiếng Hy Lạp phổ biến hơn nhưng tác giả vẫn để cả 2 tên trong luận văn

Trang 19

có nhiều tự do pháp lý như có thể mua bán đất đai, quyên góp và thậm chí cho vay [xem 75]

1.1.2 Phụ nữ với thiên chức làm mẹ

Thời kỳ cổ đại, Ai Cập có nhiều bằng chứng về niềm tin và thực hành tôn giáo liên quan đến thiên chức làm mẹ Nếu một người phụ nữ vô sinh, chồng cô có thể ly hôn với cô vì gia đình sẽ không có người thừa kế và nối dõi Nghi lễ liên quan đến sinh đẻ thường được các cặp vợ chồng mong muốn

có con thực hiện Các biện pháp tránh thai cũng được cho phép và được ghi chép trong các văn bản y tế

Khi mang thai, người Ai Cập tin rằng tử cung của người mẹ được nữ thần Tenenet bảo vệ Các biện pháp chăm sóc y tế và các nghi lễ được thực hành, người mẹ cũng được xức các loại dầu có lợi lên cơ thể Người Ai Cập

có cách để biết giới tính của trẻ Do hiệu nghiệm nên cách này đã được thực hành trong nhiều thế kỷ và lan sang các khu vực lân cận như Hy Lạp và cả châu Âu Họ cho lúa mạch và lúa mì vào hai túi vải riêng, sau đó ngâm chúng trong nước tiểu của phụ nữ mang thai Nếu lúa mạch nảy mầm trước thì đứa

bé là con trai, và ngược lại, nếu lúa mì mọc lên trước thì đứa bé là con gái

Người phụ nữ mang thai được các nữ hộ sinh hỗ trợ trong thời gian chuyển dạ Sản phụ ngồi trên một tấm thảm, bốn góc được đặt bốn viên gạch với niềm tin là hóa thân của bốn nữ Thần: Nut (Nữ thần Bầu trời); Tefnut (Nữ thần Ẩm ướt); Aset (Người Vợ và Người Mẹ hết mình); và Nebet Hut (Nữ thần Tận tụy).2

1.1.3 Phụ nữ trong lao động

Phần lớn phụ nữ Ai Cập cổ đại thường cùng chồng làm nông Nếu gia đình không có đàn ông thì phụ nữ cũng có thể quản lý ruộng vườn Phát triển

2 Một vị Thần có thể có nhiều tên gọi cũng như có nhiều hình dạng khác nhau do có sự khác biệt khi mô tả

về các vị Thần qua các thời kỳ cũng như các vùng miền khác nhau Tác giả đã lựa chọn những tên gọi phổ biên nhất theo Donna Jo Napoli trong Thần thoại Ai Cập

Trang 20

nhất là ngành dệt may, phụ nữ có thể làm thợ dệt - một trong những nghề cao quý Trong bức thư có niên đại khoảng 1800 TCN được tìm thấy tại Lahun đã xướng tên 6 nữ thợ dệt nổi tiếng [72, tr 144-145] Phụ nữ tầng lớp thượng lưu thường hiếm khi làm việc bên ngoài mà chủ yếu quán xuyến các công việc trong gia đình và giáo dục con cái Phụ nữ thuộc các gia đình giàu có thường thuê vú em chăm sóc trẻ Phụ nữ cũng có thể làm việc tại các đền thờ, làm những công việc như sản xuất nước hoa, biểu diễn nhào lộn, vũ công, ca sĩ và nhạc sĩ,… tất cả đều được coi là những công việc đáng kính trọng Phụ nữ quý tộc có thể giữ chức Tư tế trong Điện thờ, có vai trò linh thiêng là kết nối với một vị nam Thần hoặc nữ Thần [xem 88]

1.1.4 Phụ nữ trong chính trị

Hiếm có nền văn minh cổ đại nào cho phép phụ nữ giữ vị trí quan trọng trong xã hội Tuy nhiên, Ai Cập cổ đại đã có những phụ nữ là quan chức cấp cao được ghi chép trong lịch sử Ai Cập cổ đại cũng như các xã hội cổ đại khác cùng thời đại, đã sử dụng tôn giáo làm nền tảng cho xã hội Đây là cách các Pharaoh giữ vững ngai vàng và quyền lực của mình Thông thường, quyền lực xã hội cổ đại được cha truyền con nối, ngai vàng được trao cho một trong các Hoàng tử, trong trường hợp Pharaoh không có con trai, ngai vàng sẽ được truyền lại cho nam giới có họ hàng gần nhất với Pharaoh Cho dù vị Pharaoh có con gái nhưng ngôi vua khó có thể truyền lại trực tiếp cho con gái

Tuy nhiên vẫn có một số trường hợp ngoại lệ, bởi Pharaoh được coi

như vị Thần sống, hay Hậu duệ của các vị Thần nên người Ai Cập cổ đại tin

rằng người có huyết thống Hoàng gia mới được tiếp cận với ngai vàng Do

đó, trong trường hợp không thể truyền ngôi cho nam giới nào có dòng máu Hoàng gia, ngôi báu sẽ truyền cho người phối ngẫu của Hoàng gia - Hoàng hậu như trường hợp của Nefertiti (vợ của Akhenaton triều đại XVIII) Đối với người Ai Cập cổ đại, thà ngôi báu thuộc về người phụ nữ có dòng máu Hoàng gia còn hơn một người đàn ông không có dòng máu Hoàng gia

Trang 21

Hôn nhân cận huyết là cách để duy trì ngai vàng không rơi vào tay người ngoài Trong triều đại XVIII, Thutmose I và Hoàng hậu sinh ra công chúa Hatshepsut Hoàng tử Thutmose II là con trai của Ngài với người vợ thứ hai Tuy Thutmose II là anh trai của Công chúa nhưng để thâu tóm quyền lực hai anh em đã cưới nhau Thời gian sau, nhiều phụ nữ Ai Cập cổ đại đã đăng

cơ Không thể không kể đến Cleopatra VII (69 TCN - 30 TCN), bà nổi tiếng với vẻ đẹp và sự thông minh lanh lợi, bà đã sử dụng mối quan hệ tình cảm với những nhà lãnh đạo tài ba như Julius Caesar và Marcus Antonius để giữ được ngai vàng Những nữ Pharaoh được biết đến nhiều nhất trong lịch sử Ai Cập

cổ đại là: Nitocris (triều đại VI), Sobekneferu (triều đại XII), Hatshepsut (Triều đại XVIII), Neferneferuaten (Triều đại XVIII), Twosret (triều đại XIX) Nhiều người vợ của Hoàng gia cũng đóng vai trò quan trọng về ngoại giao và chính trị: Tiyi (Vợ của Amenhotep III), Nefertiti (Vợ của Amenhotep IV), Nefertari (Vợ của Ramses II)

Thời kỳ Tân Vương quốc, Hoàng hậu cũng nắm trong tay thần quyền

và được người dân tôn sùng bằng những tên gọi tôn kính như “Vợ của Thần”,

“Bàn tay của Thần” Người vợ Hoàng gia đầu tiên nắm giữ danh hiệu này là

Nefertari (vợ của Ahmose I), sau đó bà truyền lại danh hiệu cho con gái Meritamen và Hatshepsut Nefertari và Hatshepsut đều sử dụng danh hiệu này

để nhiếp chính thay Pharaoh Trong thời kỳ Nubian và Saite, “Vợ của Thần”

còn có thể xây dựng điện thờ riêng

1.1.5 Các nữ thần trong Ai Cập cổ đại

Trong thần thoại Ai Cập cổ đại có khá nhiều vị nữ thần Bằng cách nghiên cứu tên gọi và biểu tượng của các nữ thần, chúng ta biết được hình ảnh phụ nữ trong mắt người Ai Cập cổ đại Tương tự như Thần thoại Hy Lạp, các

vị thần có mối quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân, tổ tiên là thần Ra

Nữ thần và hình ảnh của họ thường gắn liền với cuộc sống và sinh sản

Nữ thần Aset (Isis) là vợ của Usir (Osiris) - người đã bị anh trai Set (Seth)

Trang 22

giết bởi lòng đố kỵ Bà là biểu tượng của người Vợ và người Mẹ với nỗi đau mất chồng và mất con Aset đã lượm nhặt 14 mảnh xác của chồng - đã bị anh trai Set xé xác vứt ra xa khỏi xứ Ai Cập - để hồi sinh người chồng, Bà dũng cảm đứng lên để bảo vệ đứa con trong bụng khỏi tai mắt của Thần Set, đã vì bảo vệ gia đình mà tìm cách lừa cụ của bà là Thần Ra vĩ đại để từ đó Thần Ra chỉ cai quản bầu trời, Aset cai quản mặt đất, Usir chồng bà cai quản cõi âm

Ai cũng nghĩ là Aset lên toàn bộ kế hoạch để chiếm quyền lực tối cao nhưng

họ không hề biết mục đích của bà chỉ đơn giản là bảo vệ con mình khỏi Thần Set, bà buộc phải trở thành pháp sư mạnh mẽ nhất từ trước đến nay Nữ thần được người dân tôn kính như Mẹ Thiên nhiên bởi bà liên quan đến những thần thoại về sự sống và cái chết Chính vì thế Aset (Isis) được coi là vị thần quan trọng nhất trong thần thoại Ai Cập Bà rất được sùng bái, đặc biệt là dưới thời kỳ đế chế La Mã hùng mạnh dưới tên Thần Isis Ngày nay, người Ai Cập thường sử dụng tên La mã hơn để gọi tên các vị thần do tính phổ biến hơn tên tiếng Ả rập cổ

Các nữ thần có ảnh hưởng nhất là: Aset (Isis) - Nữ thần Hoa súng, Hut Heru (Hathor) - Nữ thần niềm vui, Bastet (Bast) - Nữ thần mèo bảo vệ ngôi nhà, Sekhmet (Sachmis) - Nữ thần Chiến tranh, Nut (Neuth) - Nữ thần Bầu trời, Nebet Hut (Nephyhys) - Nữ thần Tận tụy

1.2 Vị thế của phụ nữ trong Islam

Islam xuất hiện tại bán đảo Ả rập vào khoảng thế kỷ thứ VII Từ Islam trong tiếng Ả rập là danh từ phái sinh từ gốc động từ có nghĩa là sự quy phục Thượng đế hay còn gọi là Allah Người theo Islam giáo gọi là Muslim, có nghĩa là người dâng mình cho Allah Islam giáo vừa là một đức tin tôn giáo,

vừa là một hệ tư tưởng chính trị Thiên Kinh Qur’an là nền tảng tin lý Islam giáo Người Muslim tin rằng Kinh Qur’an là những lời phán dạy của Allah

mặc khải cho Thiên sứ Mohamed, là lời tuyên thuyết của Allah mà không có

Trang 23

sự sửa đổi của con người Kinh Qur’an được coi là hằng hữu với Allah, là

thông điệp của Allah dạy các tín đồ về bổn phận của bầy tôi, về cách đối nhân

xử thế, về sự cao cả của Allah Kinh Qur'an gồm 114 chương (gọi là surah), chia thành các tiết (gọi là ayat) với 6.237 đoạn thơ

Trong Islam giáo, Allah không khải thị về bản thân Ngài mà về luật của

Ngài Thuật ngữ Shari’a không chỉ áp dụng cho luật pháp theo ý nghĩa chặt

chẽ về pháp lý, mà nó còn bao hàm những quy tắc lễ nghi cũng như phong

tục, tập quán, và thừa nhận tập tục địa phương Shari’a nghĩa đen là “cách đi

đến nơi có nước tuôn ra”, gợi ra ý niệm về sự tiếp cận cảnh giới thiêng liêng,

do đó luật vừa có mục đích duy trì lợi ích xã hội, vừa giúp con người đạt được

sự cứu rỗi.[6, tr 146]

Luật Shari’a được hình thành từ bốn nguồn chính, theo thứ tự ưu tiên,

là Kinh Qur’an và Sunnah (tổng hợp những việc làm và lời dạy của Thiên sứ

Mohamed và bạn đồng hành được sự chấp nhận của Ngài); nguồn phát sinh

bao gồm Ijma (quan điểm thống nhất của các học giả Islam giáo về các giải

pháp pháp lý cho những tình huống mới dựa trên cơ sở các nguyên tắc chung

của Kinh Qur’an và Sunnah và được những người có thẩm quyền chấp nhận)

và Qiyas (Là những quan điểm nhìn chung được đồng thuận cao của những

cộng đồng, đặc biệt là các học giả luật, về cách giải thích hai nguồn luật chính

là Kinh Qur’an và Sunna) Trong đó, Kinh Qur’an và Sunnah có giá trị pháp

lý cao nhất đồng thời thể hiện tính chất thần thánh của Luật Shari’a, còn Ijma

và Qiyas đóng vai trò là nguồn luật bổ trợ cho hai nguồn luật trên nhưng

không thể thiếu được trong hệ thống pháp luật của các quốc gia chịu sự chi

phối của Luật Shari’a

Xét về mặt lịch sử, không có xã hội Islam giáo nào, ngay cả trong thời

kỳ cao trào của văn minh Islam giáo, lại được cai trị hoàn toàn theo luật Islam giáo Luôn có một khoảng cách giữa những phát biểu mang tính lý thuyết của

Trang 24

nhà luật học và sự thực thi quyền lực chính trị trong thực tế Hơn nữa, do

những khác biệt về văn hóa và địa lý giữa các xã hội của người Muslim, Luật

Shari’a ở khắp nơi đều được bổ sung bởi những luật lệ theo tập quán địa

phương.[6, tr 27-28]

Chủ đề Islam giáo và quyền phụ nữ luôn được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và cũng là chủ đề gây nhiều tranh cãi Một số học giả cho rằng từ thế kỷ thứ VII, Islam giáo xuất hiện ở các nước Ả rập đã cải thiện rất nhiều

địa vị của người phụ nữ Ả rập so với thời kỳ mông muội trước đây (Jahiliya)

Sau khi Islam ra đời, những hủ tục man rợ trước đây như giết bé gái sơ sinh

hay bỏ mặc góa phụ và trẻ mồ côi từ thời Jahiliya đã được thay đổi Phụ nữ

đã được nhắc đến đầy tôn trọng trong Kinh Qur’an với vị thế không thua kém

so với đàn ông [xem 6]

Sự bình đẳng về tâm linh thậm chí là tự do tôn giáo đã được đề cập đến

trong Kinh Qur’an:

“Hỡi Nabi (Mohamed)! Hãy bảo các bà vợ của Ngươi: “Nếu quý bà muốn đời sống trần tục này và vẻ hào nhoáng của nó, thì quý bà hãy đến đây, tôi sẽ cho quý bà hưởng lạc và trả tự do cho quý bà một cách tốt đẹp” Ngược lại nếu quý bà yêu quý Allah và Sứ giả của Ngài và muốn một mái nhà (xinh đẹp) ở đời sau thì Allah sẽ thực sự chuẩn bị cho các phụ nữ(trong quý bà) làm điều tốt một phần thưởng rất lớn.”[Qur’an, 33:28-29]3

“Quả thật, đối với những người Muslim, nam và nữ; những người có đức tin, nam và nữ; những người cung kính, nam và nữ; những người chân thật, nam và nữ, những người kiên nhẫn, nam và nữ; những người bố thí, nam

và nữ; những người kiêng cử, nam và nữ; những người giữ lòng trinh bạch, nam và nữ; những người tưởng nhớ Allah nhiều, nam và nữ; Allah sẽ tha thứ

và ban thưởng to lớn cho họ”.[Qur’an, 33:35]

3Giải thích cách trích Kinh Qur’an: ví dụ (Qur’an, 33:28-29) có nghĩa là Kinh Qur’an, chương (surah) 33, tiết (ayat) 28 và 29

Trang 25

Bình đẳng về địa vị với nam giới:

“Hỡi nhân loại! Hãy sợ Rabb (Allah) của các ngươi Đấng đã tạo ra các ngươi từ một người duy nhất (Adam) và từ Người tạo ra người vợ và từ hai người này, (Allah) rải ra vô số đàn ông và đàn bà (trên khắp mặt đất) Hãy sợ Allah, Đấng mà các ngươi cầu xin quyền lợi và hãy kính trọng những mối quan hệ máu mủ; bởi vì quả thật Allah hằng theo dõi các ngươi”

[Qur’an, 4:1]

“Và những người tin tưởng, nam và nữ là bạn hữu và là đồng minh bảo

vệ lẫn nhau Họ ra lệnh làm điều phải và cản nhau làm điều quấy và dâng lễ Salah và đóng Zakah và tuân lệnh của Allah và Sứ Giả của Ngài Đó là những người mà Allah khoan hồng bởi vì Allah Toàn Năng, Thấu Suốt (tất cả) Allah hữu với những người có đức tin, nam và nữ, các Ngôi vườn (Thiên Đàng) bên dưới có các dòng song chảy để vào ở trong đó, với các biệt thự cao sang trong các Thiên Đàng vĩnh cửu; nhưng hạnh phúc tột bậc là sự Hài Lòng của Allah; và đó là một sự thắng lợi vĩ đại.” [Qur’an, 9:71-72]

“Họ (vợ) là y phục của các ngươi và các ngươi là y phục của họ”

[Qur’an, 2:187] Phụ nữ vẫn được giữ nguyên tên họ của mình, không phải thay đổi sau khi kết hôn, do đó cô vẫn duy trì họ và dòng tộc của bản thân

Quyền tư hữu:

“Và hãy tặng cho vợ (sắp cưới) tiền cưới bắt buộc (Mahr) của họ Nhưng nếu họ vui lòng tặng lại một phần nào cho các ngươi, thì hãy hoan hỉ hưởng một cách bổ ích”; “Và chớ ham muốn những thứ mà Allah dùng để ưu đãi người này hơn người nọ Đàn ông hưởng phần (kết quả) mà họ kiếm được

và đàn bà hưởng phần kết quả mà họ đã kiếm được; và hãy cầu xin Allah và Thiên Lộc của Ngài bởi Allah hằng biết hết mọi việc” [Qur’an, 4:7-32]

“Hỡi những ai có niềm tin! Các ngươi không được phép cưỡng bức vợ

để thừa hưởng gia tài của họ, cũng không được nhốt (hành hạ) họ để lấy lại một phần nào tiền cưới (Mahr) mà các ngươi đã tặng họ ” [Qur’an, 4:19]

Trang 26

Kinh Qur’an quy định phụ nữ quyền được hưởng của thừa kế và được

chia phần một cách công bằng và vinh dự, có lúc người đàn ông và phụ nữ được hưởng ngang bằng nhau, có lúc người phụ nữ lại được hưởng ở mức lượng khác nhau tùy theo mức độ thân thuộc và trách nhiệm phải chu cấp và nuôi dưỡng cho người khác Quy định về chia tài sản thừa kế cũng được nhắc

rất rõ trong Kinh Qur’an, chương 4, tiết 7, 11, 12, 19, 20, 21

“Và chớ ham muốn những thứ mà Allah dùng để ưu đãi người này hơn người nọ Đàn ông hưởng phần (kết quả) mà họ đã kiếm được và đàn bà hưởng phần (kết quả) mà họ đã kiếm được.”[Qur'an, 4:34]

Quyền được tôn trọng:

Theo lời thuật của Abu Huroiroh rằng có một người đàn ông đến gặp

Thiên Sứ của Allah nói: “Thưa Thiên Sứ của Allah! Trong nhân loại, ai là

người đáng nhất để cho tôi luôn đối xử tốt?” Người nói: “Mẹ của ngươi”

Người đàn ông đó hỏi tiếp người đáng kế tiếp là ai? Người nói: “Mẹ của

ngươi” Người đàn ông đó lại hỏi: “Vậy người đáng kế tiếp là ai?” Người

cũng nói: “Mẹ của ngươi” Người đàn ông đó vẫn hỏi: “Người đáng kế tiếp

là ai?” Người nói: “Cha của ngươi” [Al-Bukhari4

: 5626; Muslim5: 2548]

Bà A’ishah thuật lại, Thiên Sứ của Allah nói: “Người tốt nhất trong số

các ngươi là người đối xử tốt nhất với vợ của y, và Ta tốt nhất trong các ngươi trong việc đối xử tốt với vợ của Ta” [At-Tirmidhi6

: 3895]

Quyền được bảo vệ, giúp đỡ:

Ông Uqbah bin Amir thuật lại Tôi đã nghe Thiên Sứ của Allah nói:

“Ai có ba đứa con gái và luôn kiên nhẫn chịu đựng trong việc chăm sóc và nuôi dưỡng chúng, y cố gắng hết mình lo cho chúng ăn, cho chúng uống và

Trang 27

cho chúng mặc thì chúng sẽ là bức màn chắn giữa y và Hỏa Ngục vào Ngày Phục Sinh” [Ibn Majah7

: 3669]

Thiên Sứ của Allah nói: “Giúp đỡ những người góa phụ, những người

nghèo giống như đi chiến đấu cho con đường chính nghĩa của Allah, giống như người đứng dâng lễ nguyện Salah không ngừng nghỉ, và giống như người nhịn chay không xả chay” [Al-Bukhari: 5661; Muslim: 2982]

Kinh Qur’an xác nhận trách nhiệm của đàn ông với đàn bà “Vợ của các ngươi là một miếng đất trồng cho các ngươi Do đó, hãy đến gần mảnh đất trồng của các ngươi theo cách mà các ngươi muốn, nhưng hãy chuẩn bị tư tưởng trước cho bản thân của các ngươi (khi đến với họ).” [Qur’an, 2:223]

Câu này thường được nhiều nhà nghiên cứu trích dẫn, coi như điều này thể

hiện tư tưởng trọng nam khinh nữ trong Kinh Qur’an Nhưng trong bản dịch

chuyển ngữ tiếng Việt năm 2010 của Trung tâm in ấn Vua Fahad chuyên phát

hành Kinh Qur’an dưới sự giám sát của Bộ Islam, Ả rập Xê út, bản dịch đã giải thích rất chi tiết ý nghĩa của “miếng đất trồng” hay một số bản dịch đề là

“thửa ruộng” [xem 4] Allah ví người vợ như một miếng đất trồng, người

chồng như anh nông phu Nếu muốn có hoa màu tốt, anh nông phu phải vun xới miếng đất cho tốt thì gieo hạt mùa màng mới bội thu Do đó, vợ chồng cần phải vun đắp tình cảm thì mới sinh ra được những đứa con lành mạnh

Quyền trong hôn nhân và gia đình:

Hôn nhân là điều bắt buộc trong Islam giáo, và giới trẻ được khuyến khích kết hôn để tránh rơi vào những cám dỗ Tuy nhiên, trong cuộc sống hôn nhân không phải lúc nào cũng màu hồng, Allah luôn khuyên răn vợ chồng nên tìm cách hòa giải trước khi tiến đến ly hôn

“Và nếu người vợ sợ người chồng đối xử tàn tệ hoặc bỏ rơi, thì hai bên không có tội nếu chịu hòa giải với nhau; và hòa giải luôn là (một giải pháp) tốt.” [Qur’an, 4:128]

7 Sunan Ibn Majah (do Ibn Majah ghi lại) là một trong 6 tuyển tập Hadith được cộng đồng Muslim đánh giá cao vì tính xác thực của chúng

Trang 28

Khi cưới, người vợ được chồng tặng cho một khoản hồi môn (mahr), trong trường hợp người chồng khởi xướng chuyện ly hôn thì mahr sẽ hoàn

toàn thuộc về cô Nếu người vợ khởi xướng chuyện ly hôn thì cô sẽ mất hoàn toàn của hồi môn Đàn ông Muslim được phép kết hôn với phụ nữ không phải Muslim nhưng phụ nữ thì không được phép

Đặc biệt, Kinh Qur’an không cho phép bất kể nam hay nữ có hành

động thông gian với người không phải vợ/chồng hợp pháp của mình

“Và nếu hai người (đàn ông và đàn bà) trong các người phạm tội thông gian, thì hãy phạt cả hai thật nặng Nhưng nếu họ sám hối và sửa mình, thì hãy bỏ mặc hai người bởi vì quả thật Allah rất mực khoan dung.” [Qur’an,

4:16]

Tuy nhiên hình phạt với nữ giới lại được nhắc đến rõ ràng trong Kinh

Qur’an còn đối với đàn ông thì không

“Bất cứ người vợ nào của các ngươi phạm tội thông gian hãy đưa ra bốn người của các ngươi đến làm chứng để buộc tội họ Nếu họ thú tội, hãy nhốt họ trong nhà kho cho đến khi họ mệnh chung hoặc Allah sẽ mở cho họ một lối thoát khác.” [Qur’an, 4:15]

Trách nhiệm của phụ nữ:

Islam cho phụ nữ quyền tự do lựa chọn người chồng, và để phụ nữ giữ một vai trò trọng đại trong việc chăm sóc và dạy dỗ con cái Thiên Sứ của

Allah nói: “Người phụ nữ trong nhà chồng của cô ta là người trông coi quán

xuyến và cô ta có trách nhiệm với chồng con của cô ta.” [AlBukhari: 853;

Muslim: 1829]

“Người đàn ông là trụ cột (của gia đình) trên đàn bà bởi vì Allah ban cho người này sức lực hơn người kia và bởi vì họ chỉ dùng tài sản của họ vào việc cấp dưỡng gia đình Do đó, người đàn bà đức hạnh nên phục tùng chồng

và trông coi (nhà cửa) trong lúc chồng vắng mặt với sự giúp đỡ và trông chừng

Trang 29

của Allah; đối với các bà (vợ) mà các người sợ họ thất tiết và bướng bỉnh, (trước hết) hãy cảnh báo họ, (kế đó) từ chối ăn nằm với họ, và (cuối cùng) hãy đánh họ (nhẹ tay); bởi thế, nếu họ chịu nghe theo các ngươi thì chớ kiếm chuyện (rầy rà) với họ vì Allah rất tối cao, rất vĩ đại.”[Surah 4; dòng 34]

Như vậy, có thể thấy Kinh Qur’an xét về thời điểm xuất hiện là thế kỷ

VII tại bán đảo Ả rập thì những tư tưởng về phụ nữ đã cải thiện đáng kể thân phận của phụ nữ, đặc biệt là đảm bảo cho họ quyền lợi trong hôn nhân và sở hữu tài sản Tuy nhiên, đến ngày nay thì một số quan điểm đã không còn phù hợp với xã hội, thậm chí bị xã hội lên án gay gắt như quan điểm đa thê, quan điểm đàn ông có thể đánh vợ nếu không nghe lời, hay trong chia tài sản con gái chỉ bằng một nửa con trai, hoặc lời khai của phụ nữ chỉ bằng một nửa đàn ông, … Các nhà nữ quyền Islam giáo lập luận rằng không phải tự thân Islam giáo có tư tưởng đề cao nam quyền mà chính cách diễn giải của nam giới về tôn giáo này là thứ được viện ra để biện minh cho thái độ gia trưởng [4, tr

208] Thực tế, Luật Shari’a lại được xây dựng từ 4 nguồn chính: Kinh

Qur’an, Sunna, Ijma, Qiyas Trong khi Hadith 8

có nguồn gốc chủ yếu từ

những người bạn đồng hành (sahabah) được Thiên sứ tin tưởng trong đó có

Abu Huraira – người đứng đầu rất nhiều dòng dõi những nhà truyền đạt

Hadith Theo Fatima Mernissi, nhà nữ quyền người Maroc, Abu Huraira là

nguồn gốc của nhiều Hadith phản nữ quyền mà sau này lại rất thịnh hành [6,

tr 210-211]

Năm 1820 tại Cairo phụ nữ bị cấm cầm nguyện bên cạnh đàn ông ở

Thánh đường Islam (Masjid) và đến tận ngày nay phụ nữ vẫn có khu vực

riêng để cầu nguyện, cách khu cầu nguyện của nam giới và có lối đi vào

Masjid riêng dành cho đàn ông và đàn bà [xem 6] Có thể thấy, tư tưởng

8 Hadith là những ghi chép lại những lời giáo huấn, thực hành và phương thức sống của Thiên sứ Muhammad

và những việc làm của những người bạn hữu (Shahabah) của Người dưới sự chứng kiến của Người, những việc làm đó được chấp thuận và không bị cấm bởi Người

Trang 30

Islam truyền thống qua mỗi học giả, mỗi nhà luật pháp, nhà chính trị khác nhau lại có cách diễn giải khác nhau, thêm vào đó mỗi nước Islam giáo, tùy theo văn hóa bản địa, quyền phụ nữ cũng khác nhau như việc sử dụng mạng

che mặt (hijab) vốn được phương Tây cho là biểu tượng của đàn áp phụ nữ thì

có nơi cho phép lộ một phần tóc, có nơi cho phép lộ mặt, có nơi lại không cho phép phụ nữ để lộ bất cứ điểm gì trên gương mặt kể cả đôi mắt Cùng với tác động của hiện đại hóa và toàn cầu hóa, sự va chạm với nền văn minh phương Tây đã khiến phụ nữ Muslim có thêm động lực để dùng hành động chiến đấu

vì bản thân

1.3 Bối cảnh văn hóa - xã hội của phong trào phụ nữ Ai Cập thế kỷ XX

1.3.1 Sơ lược về Ai Cập thế kỷ XX

Cộng hòa Ả rập Ai Cập là quốc gia nằm ở đông bắc Châu Phi và Tây

Á Do địa hình sở hữu vùng sa mạc rộng lớn, cư dân Ai Cập sinh sống tập trung dọc theo các vùng đồng bằng dọc sông Nile và ven biển Ai Cập gồm 27 tỉnh thành trong đó thủ đô Cairo cũng là thành phố lớn nhất Ngôn ngữ chính thức là tiếng Ả rập chuẩn hiện đại, ngôn ngữ thông tục là tiếng phương ngữ Ả rập - Ai Cập Islam giáo là tôn giáo chính với 90% dân số là Muslim (chủ yếu theo dòng Sunni); Kito giáo (chủ yếu theo dòng Coptic Orthodox) và một số tôn giáo khác chiếm 10% (số liệu năm 2015) [xem 30]

1.3.1.1 Tôn giáo - chính trị

Tình hình tôn giáo ở Ai Cập thế kỷ XX có những chuyển biến đặc thù theo từng giai đoạn lịch sử chính trị trong nước Bởi tôn giáo chi phối mọi mặt của đời sống người dân Ai Cập, do đó phong trào nữ quyền cũng phần nào chịu ảnh hưởng bởi tình hình tôn giáo - chính trị trong nước qua mỗi thời kỳ

Trang 31

Giai đoạn thứ nhất từ năm 1900 đến năm 1922 Thời gian đầu, cuộc

đối đầu giữa những người Muslim và Copt9

diễn ra khá căng thẳng do Đảng Quốc gia (ينطولا بزحلا) định hướng Islam giáo là tôn giáo của quốc gia, đồng thời cho phép tư tưởng thế tục phát triển Tuy nhiên sau Chiến tranh Thế giới

I, Đảng Wafd (دفولا بزح) khởi xướng phong trào đoàn kết quốc tế dựa trên tư tưởng thế tục Bất chấp sự đối địch ban đầu của các cộng đồng tôn giáo, chủ nghĩa dân tộc được ưu tiên hàng đầu, bởi Ai Cập muốn giành độc lập cần có

sự đoàn kết giữa các đảng phái chính trị cũng như các cộng đồng tôn giáo

Giai đoạn thứ hai từ năm 1922 đến năm 1952 Ngày 28 tháng 2 năm

1922, Ai Cập giành được độc lập có điều kiện, thoát khỏi sự bảo hộ của Đế quốc Anh nhưng không hoàn toàn Đế quốc Anh vẫn có quyền quyết định một

số vấn đề nội bộ của Ai Cập, bao gồm cả việc cung cấp quyền lợi cho người nước ngoài và các dân tộc thiểu số ở Ai Cập Những người theo chủ nghĩa dân tộc Islam giáo cảm thấy Đảng Wafd đứng về phía người Copt Năm 1923, Hiến pháp đã được chính phủ Ai Cập ban hành, thông qua sự chấp thuận của

Đế quốc Anh Các nhóm tôn giáo thiểu số cũng tham gia vào quá trình soạn thảo Hiến pháp và họ cũng muốn giành quyền lợi về phía mình Đây là vấn đề được tranh luận rộng rãi khắp cả nước Hiến pháp năm 1923 công nhận: Islam giáo là tôn giáo chính thức của Ai Cập Sau thời kỳ các tôn giáo hòa hợp để thống nhất đất nước, tình hình tôn giáo trong nước lại trở nên khá căng thẳng

Năm 1928, Tổ chức Anh em Hồi giáo được thành lập bởi Hassan Banna, phá vỡ xu hướng thế tục và kêu gọi một xã hội lấy Islam giáo làm gốc

Al-Sự xuất hiện của Anh em Hồi giáo không chỉ đánh dấu sự trở lại của những giáo phái, mà còn khiến Đảng Wafd xảy ra xung đột nội bộ Vào giữa năm 1940, cuộc đấu tranh quyền lực nội bộ đã khiến một số lãnh đạo Copt trong Đảng Wafd đã rời bỏ Đảng này Vua Farouk ủng hộ đất nước đi theo con đường Islam

9 Người Copt là những người Kito giáo theo dòng Coptic Oxthodox

Trang 32

truyền thống, Nhà vua mong muốn trở thành Khalifa10, điều này cũng đóng một vai trò lớn trong việc phá vỡ tư tưởng thế tục trong giai đoạn này

Giai đoạn thứ ba từ năm 1952 đến năm 1970 Mở đầu giai đoạn này,

Hiệp hội Sĩ quan Tự do (رارحلأا طابضلا ةكرح) đã lên nắm quyền sau cuộc đảo chính quân sự do Đại tá Gamal Abdel Nasser lên kế hoạch nhằm lật đổ nền quân chủ và xây dựng chế độ cộng hòa Vua Farouk bị buộc phải thoái vị và trao quyền cho Tướng Muhammad Naguib - người chỉ huy cuộc đảo chính Năm 1953, Ai Cập chấm dứt chế độ quân chủ, tuyên bố thành lập Cộng hòa Ai Cập với Tổng thống đầu tiên là Muhammad Naguib Năm 1954, Tướng Nasser buộc Tổng thống Muhammad Naguib từ chức Nasser được nhân dân bầu lên làm Tổng thống năm 1956, ông là một nhà lãnh đạo nổi tiếng và có ảnh hưởng lớn trong suốt nhiều năm nắm quyền, ông mang đến sự thay đổi đáng kể, không chỉ cho Ai Cập mà còn cho Thế giới Ả Rập Hiến chương Quốc gia (ينطولا قاثيملا) được viết bởi Tổng thống Nasser, đã được Quốc hội chấp thuận vào ngày 30 tháng 6 năm 1962 Các văn bản thừa nhận tầm quan trọng của Islam giáo nhưng đây không phải là mối quan tâm hàng đầu đối với Tổng thống Nasser, tuy nhiên ông vẫn dựa vào tôn giáo để củng cố vị trí lãnh đạo của mình Sau này, Tổng thống Nasser đã thảo luận về các quyền tự do mà mỗi người dân Ai Cập có quyền được hưởng trong đó có tự do tôn giáo Nasser nghĩ rằng tôn giáo, nếu được thực hành không gây ảnh hưởng đến tự do của người khác thì cũng không cản trở tiến trình của dân tộc Sự thất bại trong Cuộc chiến tranh 6 ngày năm 1967 với Israel là thất bại gây bất ngờ đối với Thế giới Ả rập nói chung và người dân Ai Cập nói riêng Mọi hào quang của Tổng thống Nasser đã bị tiêu tan Với tầm quan trọng của tôn giáo trong cuộc sống hằng ngày, người Ai Cập cảm thấy họ bị trừng phạt vì thiếu đức tin

10 Người đứng đầu một quốc gia Islam giáo

Trang 33

Giai đoạn thứ tư từ năm 1970 đến năm 1981 Tổng thống Nasser qua

đời vào tháng 9 năm 1970 vì bệnh tim, Anwar Sadat trở thành Tổng thống kế nhiệm Một trong những hành động đầu tiên Sadat thực hiện trên cương vị Tổng thống là ban lệnh khoan hồng cho các tù nhân chính trị bao gồm cả các thành viên của Anh em Hồi giáo và các tổ chức Islam giáo khác Chính sách

“mở cửa” của ông đã thúc đẩy đầu tư và giảm sức ảnh hưởng của chính quyền trong lĩnh vực kinh tế Dưới thời Tổng thống Sadat, quyền tự do của nhân dân cũng được nới lỏng, trong đó bao gồm quyền tự do báo chí, tự do liên kết và cho phép các nhóm Islam giáo hoạt động Tôn giáo giúp ông lấy được sự tín nhiệm của đông đảo người dân, những hình ảnh Tổng thống đi cầu nguyện vào trưa thứ Sáu11

thường xuyên xuất hiện trên truyền hình để chứng minh đức tin của mình Mặc dù ông cũng đã thừa nhận lịch sử Ai Cập là lịch sử chung của cả người Islam giáo, Kitô giáo và những tôn giáo khác nhưng ông vẫn thiên về Islam giáo hơn Năm 1971, ông đã ban hành "Hiến pháp vĩnh cửu" tuyên bố Luật Shari’a là một trong những nguồn chính để xây dựng luật pháp Ai Cập Năm 1979, các văn bản chính thức đều thừa nhận Islam là tôn giáo của quốc gia, tiếng Ả Rập là ngôn ngữ chính thức và pháp luật được xây dựng dựa trên Luật Shari’a

Vào cuối năm 1970, mối quan hệ giữa Nhà thờ Thiên chúa giáo và Nhà nước trở nên tồi tệ Tổng thống Sadat trục xuất Giáo hoàng Shenouda ra một

tu viện trên sa mạc và tước quyền Giáo hoàng của ông Tận đến sau khi Sadat

bị ám sát bởi Husni Mubarak, Giáo hoàng Senouda mới được trở lại vị trí cũ Các nhóm Islam giáo tìm cách đánh bom Nhà thờ Thiên chúa giáo và nhắm vào chính phủ Xung đột tôn giáo giữa các tín đồ Thiên chúa giáo và Islam giáo ngày càng leo thang Năm 1978, Ai Cập và Israel ký Thỏa ước Trại David ngày 17 tháng 9 năm 1978, Ai Cập công nhận sự tồn tại của Israel và

11 Người Muslim có nghĩa vụ phải hành lễ 5 lần một ngày Riêng trưa thứ Sáu (ةعمجلا ةلاص)‎, những Muslim thường đến Masjid để hành lễ nguyện tập thể

Trang 34

Israel đồng ý rút quân ra khỏi bán đảo Sinai Thỏa ước này khiến Liên đoàn Ả rập vô cùng bất bình, họ đã chuyển trụ sở từ Cairo sang Tunis và điều này khiến Ai Cập gặp phải nhiều khó khăn ngoại giao Tổng thống Sadat đã từng nâng đỡ các nhóm Islam giáo để chống lại các đảng phái nhưng phong trào Anh em Hồi giáo ngày một lớn mạnh Họ phản đối Tổng Thống Sadat vì Thỏa ước Trại David, kết quả là nhiều thành viên của phong trào Anh em Hồi giáo đã bị truy bắt, giam cầm và cuối cùng Tổng thống Anwar Sadat đã bị ám sát vào tháng 10 năm 1981 bởi tổ chức Islam giáo cực đoan Jihad ( داهجيملاسلإا)

Giai đoạn thứ năm từ năm 1981 đến nay Sau khi Tổng thống Anwar

Sadat bị ám sát, các đạo luật khẩn cấp được áp dụng nghiêm ngặt, các cuộc biểu tình bị cấm trên cả nước, cảnh sát được phép dùng vũ lực với dân thường, các nhà hoạt động vì nhân quyền bị lùng bắt và các cuộc bầu cử diễn

ra đầy tính gian lận Tổng thống Mubarak đã đàn áp tổ chức Anh em Hồi giáo

và các nhóm Islam giáo khác nhưng không triệt để Các tổ chức này vẫn đứng đằng sau, liên kết cùng với một số Đảng như Tổ chức Anh em Hồi giáo liên minh với Đảng Lao động và thành công trong cuộc bầu cử Nghị viện năm

1990 Về mặt chính trị và xã hội, Tổng thống Mubarak đã tạo điều kiện cho những người Copt giữ những vị trí quan trọng trong bộ máy chính quyền Mubarak bổ nhiệm Fikri Makram Ebeid giữ chức Phó Thủ tướng và một người Copt làm Bộ trưởng phụ trách xuất nhập cảnh Mubarak trả tự do cho Giáo hoàng đã bị Sadat trục xuất Mubarak đã cố gắng duy trì mối quan hệ với Hoa Kỳ, điều này không nhận được sự đồng tình từ phía những người Muslim bảo thủ Islam giáo vẫn là tôn giáo chính của quốc gia trong nhiệm kỳ Tổng thống Mubarak Xung đột giáo phái đã tiếp tục diễn ra ở cả nông thôn

và thành thị [90, 92-96]

Trang 35

Mối quan hệ giữa hai cộng đồng tôn giáo lớn ở Ai Cập luôn hợp tác và đối đầu trong suốt thế kỷ XX Sự căng thẳng vẫn tồn tại cho dù bề ngoài khá yên bình Vì ở một đất nước mà tôn giáo nắm giữ vai trò quan trọng trong đời sống và cả hai cộng đồng đều là người Ai Cập thì cuộc đấu tranh giành quyền ảnh hưởng là điều đương nhiên

1.3.1.2 Kinh tế

Đầu thế kỷ XX, Ai Cập là đất nước thuộc bảo hộ của Đế quốc Anh Kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào nông nghiệp Người Anh đã góp phần phát triển công nghiệp với quy mô nhỏ ở Ai Cập, đặc biệt là chế biến nguyên liệu thô Tuy nhiên, thời gian này, kinh tế Ai Cập bị cản trở bởi những chính sách của Đế quốc Anh nhằm bán các sản phẩm của Anh trong nước Mặc dù Ai Cập được độc lập vào năm 1922, nhưng trên thực tế Đế quốc Anh vẫn đứng sau kiểm soát đất nước cho đến năm 1952 - khi một nhóm các sĩ quan quân đội trẻ lật đổ Vua Farouk

Kể từ khi giành được độc lập, Ai Cập đã cố gắng thoát khỏi hệ thống kinh tế phong kiến bị bỏ lại bởi Đế quốc Anh và gây dựng nền kinh tế độc lập Kể từ những năm 1950, viện trợ từ nước ngoài đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của Ai Cập Ai Cập nhận được nhiều hỗ trợ tài chính và quân sự của Liên Xô từ năm 1952 đến 1970 Các nước Ả rập, chủ yếu là các quốc gia vùng Vịnh, cũng hỗ trợ nhiều cho Ai Cập nhưng nguồn trợ cấp đã bị ngừng vào năm 1979 vì các nước Ả rập và Liên Xô đều phản đối Hiệp ước Hòa bình 1978 của Ai Cập với Israel [xem 29]

Từ năm 1979, Ai Cập nhận nguồn viện trợ kinh tế chính từ Hoa Kỳ, một phần để hỗ trợ đất nước đang phải đối mặt với những khó khăn về kinh tế

và chính trị, một phần là do Hoa Kỳ ủng hộ cho thái độ “thân thiện” của Ai Cập đối với Israel Viện trợ từ Hoa Kỳ cho Ai Cập dưới hình thức hỗ trợ cải

Trang 36

thiện cơ sở hạ tầng, tạo công ăn việc làm, hỗ trợ giáo dục và mở rộng khu vực

tư nhân

Năm 1987, Ai Cập phục hồi quan hệ ngoại giao với các nước Ả rập và tiếp tục được nhận viện trợ về kinh tế Sau khi Chiến tranh vùng Vịnh kết thúc vào năm 1991, viện trợ từ các nước Ả rập dành cho Ai Cập cũng giảm Nền kinh tế của Ai Cập đã được cải thiện đáng kể trong năm 1990 nhờ một số thỏa thuận với Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và một số nhà tài trợ lớn chủ yếu là các nước Ả rập, do Ai Cập đứng về phía liên minh do Mỹ đứng đầu chống lại Iraq trong cuộc chiến vùng Vịnh 1990-1991 Kể từ đó, Ai Cập duy trì được tốc độ tăng trưởng tích cực Lạm phát được kiềm chế, thâm hụt ngân sách giảm và ngoại tệ dự trữ tăng, GDP trung bình tăng 4-5% mỗi năm Mặc dù tốc

độ tư nhân hóa thấp và quy định mới về luật kinh doanh bởi dự án của IMF,

Ai Cập vẫn thành công thu hút đầu tư từ nước ngoài, hướng đến một nền kinh

tế thị trường Từ năm 1995, nền kinh tế Ai Cập phát triển khá ổn định, chính phủ bắt tay vào kế hoạch tư nhân hóa nhằm mở rộng khu vực tư nhân năm

1997 [xem 29]

Dù nền kinh tế đã đạt được những tiến bộ đáng kể, chính phủ Ai Cập vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức Kể từ năm 1998, tăng trưởng kinh tế của Ai Cập đã chậm lại, một phần do khủng hoảng kinh tế ở châu Á, phần khác là kết quả của việc chính phủ chú trọng đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn Suy thoái kinh tế khu vực vùng Vịnh vào năm 1998-1999 cũng ảnh hưởng tới nền kinh tế của Ai Cập Giá dầu thấp gây ra sự sụt giảm kiều hối - là một nguồn ngoại tệ chính - được gửi về nhà bởi những công nhân

Ai Cập làm việc ở khu vực vùng Vịnh Ngành du lịch cũng kém phát triển bởi làn sóng khủng bố của các chiến binh Islam giáo ở Ai Cập, điều này gây ra sự suy giảm ngoại hối Kể từ năm 1998, chính phủ miễn cưỡng từ bỏ cổ phần trong các doanh nghiệp Nhà nước càng khiến cho nền kinh tế Ai Cập suy

Trang 37

giảm Một số biện pháp đã được thực hiện như dần xóa bỏ nền kinh tế phụ thuộc Nhà nước, hoặc đưa ra các cải cách lập pháp, cải tổ cấu trúc, giảm thuế quan …

Theo Hướng dẫn Thương mại Quốc gia củaBộ Ngoại giao Hoa Kỳ vào năm 2000, chính phủ quan liêu là một trở ngại lớn cho sự phát triển kinh tế ở

Ai Cập Lương thấp và điều kiện sống khó khăn là nguyên nhân chính khiến tham nhũng phổ biến ở tất cả các cấp của khu vực công [xem 105] Điều này cũng là một phần nguyên nhân thúc đẩy phụ nữ giành quyền lao động và những quyền chính đáng khác

1.3.2 Tiền đề phong trào phụ nữ Ai Cập đầu thế kỷ XX

Vào thế kỷ XIX, phụ nữ đã bắt đầu có ý thức về vai trò và vị trí của họ

so với nam giới Những phụ nữ thượng lưu đã thảo luận về những chủ đề nhức nhối như mạng che mặt, vấn đề cô lập phụ nữ với xã hội và xác định đây

là đàn áp phụ nữ chứ không phải do tôn giáo Các tác giả cả nam giới và nữ giới đã bắt đầu dùng ngòi bút để lên tiếng bảo vệ quyền phụ nữ Có thể nói đến hai tác giả nam giới có tầm ảnh hưởng lớn như: Qasim Amin và Marqus Fagmi Qasim Amin đã viết về tầm quan trọng của giáo dục phụ nữ để họ có thể đóng góp nhiều hơn cho gia đình và xã hội Ông cho rằng việc đàn áp nữ giới là do vị thế quyền lực của nam giới, không phải do tư tưởng Islam giáo Tuy nhiên, trái ngược lại với những hành động kêu gọi bảo vệ quyền phụ nữ thì Qasim lại phản đối việc phụ nữ tham gia vào chính trị [xem 73] Một tác giả nữa không thể không nhắc đến là Marqus Fagmi – người đã tranh luận về việc bỏ tù phụ nữ Trong những bài viết của mình, ông tranh luận về quyền phụ nữ và sử dụng những lập luận thế tục chứng minh Những tác phẩm đó được coi là nền tảng cho sự phát triển của phong trào phụ nữ và chủ nghĩa nữ quyền ở Ai Cập thế kỷ XX

Trang 38

Hai thập niên đầu của thế kỷ XX, phụ nữ đã tham gia công khai các phong trào dân tộc, đấu tranh giành độc lập khỏi Đế quốc Anh Đây là giai đoạn sóng ngầm của những hoạt động nữ quyền Phụ nữ đã tạo ra không gian của riêng họ trong thế giới nam giới thống trị Trong giai đoạn này, phụ nữ tiếp tục thảo luận về mạng che mặt và việc tách rời phụ nữ khỏi xã hội Tuy nhiên, họ đã sớm chuyển chủ đề sang thảo luận về Ai Cập và chủ nghĩa dân tộc, phong trào nữ quyền trở thành một phần trong phong trào lớn và có tầm nhìn bao quát hơn Vấn đề chính được quan tâm nhất vẫn là giáo dục phụ nữ thông qua các hoạt động từ thiện và dịch vụ xã hội ngoài ra còn có những buổi hội thảo trao đổi kiến thức giữa các nhóm phụ nữ Giảng dạy trở thành con đường chính chuyên để các nhà hoạt động mở rộng địa bàn cũng như xây dựng hình ảnh phụ nữ hiện đại trong xã hội

Với sự ra đời của Hiệp hội Phụ nữ Ai Cập (EFU) bởi bà Huda Sharawi vào năm 1923, phong trào phụ nữ ngày càng phát triển và không còn phải hoạt động bí mật như trước nữa mà đã có thể bước ra thế giới bên ngoài dưới dạng các hiệp hội như EFU Họ tiếp tục tuyên truyền về giáo dục trẻ em và nữ giới nhưng tập trung hơn vào các quyền phụ nữ Một trong những chiến dịch chính của họ là thay đổi Luật Vị thế cá nhân (Personal Status Law), cho phép phụ nữ có thể hành động tự do mà không cần có sự đồng ý của chồng hoặc người giám hộ Một số chiến dịch khác nhằm yêu cadu quyền chính trị cho phụ nữ

1.3.3 Phong trào phụ nữ quốc tế thế kỷ XX

Nửa sau của thế kỷ XIX, các phong trào nữ quyền bùng nổ với yêu cầu bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực xã hội, kinh tế và chính trị trên Thế giới

Về mặt lịch sử phong trào nữ quyền hiện đại, đa số các ý kiến đều cho rằng đã

có ba làn sóng chính của phong trào này kéo dài cho tới ngày nay

Làn sóng thứ nhất khởi đầu từ hai nước Anh và Hoa Kỳ từ những năm

1830 kéo dài cho đến đầu thế kỷ XX Phong trào phụ nữ đòi các quyền về tài

Trang 39

sản, quyền về ký kết hợp đồng, quyền bỏ phiếu và các cơ hội khác bình đẳng như nam giới được trải rộng Ở Anh, điều này dẫn đến kết quả Nghị viện Anh

đã thông qua một đạo luật vào năm 1918 cho phép phụ nữ trên 30 tuổi có nhà riêng được quyền bỏ phiếu và 10 năm sau (năm 1928) quyền này được áp dụng cho mọi phụ nữ ở độ tuổi từ 21 trở lên Còn ở Hoa Kỳ, kết quả của phong trào đã dẫn đến sự sửa đổi lần thứ 19 Hiến pháp năm 1787, ghi nhận và thực hiện quyền bầu cử của phụ nữ ở tất cả các bang kể từ năm 1920

Làn sóng thứ hai diễn ra từ những năm 60 cho tới những năm 80 của thế kỷ XX, phong trào nữ quyền lan tỏa ở Hoa Kỳ và nhiều nước khác với các

mục tiêu được mở rộng và phát triển hơn nữa, bao gồm các quyền bình đẳng

về dân sự trong đó có các yêu cầu về quyền bình đẳng cho phụ nữ da màu, quyền sinh sản trong đó có các đòi hỏi về quyền tránh thai và quyền phá thai

và quyền được tuyển dụng bình đẳng của phụ nữ với nam giới

Sự phát triển của phong trào nữ quyền ở làn sóng thứ ba tính từ những năm 1990 cho đến nay đã trở nên ngày càng lan tỏa hơn cùng với sự mở rộng

và phát triển thêm nhiều quyền khác như quyền đòi hỏi được đối xử công bằng về tình dục và giới tính của phụ nữ so với nam giới, như các quyền liên quan đến việc được nhận thức và được giáo dục về căn bệnh thế kỷ AIDS, quyền không bị lạm dụng tình dục, quyền về tính dục của những người đồng tính, bên cạnh tính chất ngày càng cấp tiến hơn của các quyền liên quan đến bầu cử, đến tự do hành xử, đến học thuật

1.3.4 Phong trào phụ nữ tại Thế giới Ả rập thế kỷ XX

Phong trào phụ nữ khu vực Thế giới Ả rập thay đổi theo dòng chảy của lịch sử, tuy nhiên có một số điểm chung giữa các quốc gia vì có chung yếu tố lịch sử, chính trị Chẳng hạn như mối tương quan của phong trào phụ nữ với phong trào dân tộc, với quá trình hiện đại hóa đất nước, sự căng thẳng giữa xu hướng thế tục và tôn giáo chính thống… Trái ngược với quan điểm chung, các quốc gia Ả rập không hoàn toàn thống nhất và đồng nhất vì đa dạng về địa lý,

Trang 40

điều kiện kinh tế, tầng lớp xã hội, tôn giáo, quốc tịch, ngôn ngữ… Không có một hình tượng nguyên mẫu nào cho phụ nữ Ả rập như người đời vẫn thường

tưởng tượng đến những cô gái mặc abaya đen và trùm hijab che kín gương mặt

thậm chí cả đôi mắt Do đó, dưới góc nhìn khoa học, chúng ta phải rất cẩn trọng khi nói về phong trào phụ nữ và mối quan hệ về giới tính tại khu vực này Hầu như các cuộc thảo luận về phụ nữ ở các nước Ả rập hay các đề tài nghiên cứu đều cho rằng Islam giáo chi phối mọi vấn đề liên quan đến giới

Trong tác phẩm “Women in the Muslim Unconscious” (1984) Fatima

Mernissi một nhà xã hội học Morocco đồng thời là nhà nữ quyền cho rằng quan điểm Islam xưa cũ coi phụ nữ là mối nguy hiểm, cần có sự giám sát và kiểm soát chặt chẽ của nam giới Do đó, bà cho rằng Islam chịu trách nhiệm cho những điều vô hình và hữu hình đang kìm kẹp cuộc sống của phụ nữ Muslim [xem 33] Tuy nhiên, trong những nghiên cứu sau này, Mernissi đã thay đổi suy nghĩ và lập luận rằng Islam giáo thực chất đã bị bóp méo bởi các nhà luật pháp nam giới – những người không muốn tư tưởng của phụ nữ ảnh hưởng đến Islam giáo – mà Thiên sứ Mohamed không hề có ý đó [xem 6] Cho

dù Islam giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến bình đẳng giới hay không thì chúng ta cũng cần hiểu Ả rập (các quốc gia Ả rập) không đồng nghĩa với Islam Phần lớn người Ả rập là tín đồ Islam giáo, tuy nhiên tín đồ Islam giáo có mặt ở nhiều nơi trên Thế giới Bản thân Islam giáo cũng không đồng nhất bởi có sự khác biệt giữa dòng Sunni và Shi’a cũng như các nhóm Islam giáo khác

Trong lịch sử khu vực Ả rập, khi Islam giáo tiếp xúc với tư tưởng phương Tây thông qua chiến tranh thuộc địa, tư tưởng nữ quyền đã bùng nổ khắp nơi trong khu vực Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nghiên cứu kỹ hơn về lịch sử từng quốc gia, bối cảnh khu vực và quốc tế đã ảnh hưởng đến phong trào nữ quyền

Trong những năm 1980 – 1990, có nhiều bằng chứng cho thấy phát triển các phong trào phụ nữ độc lập Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa mối liên

Ngày đăng: 18/11/2019, 22:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w