1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biến thể ngữ âm đánh dấu ở huyện Quốc Oai và không gian hành chức của chúng trên bản đồ

120 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 4,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn đã phân tích, mô tả đặc điểm của các biến thể ngữ âm đánh dấu tại huyện Quốc Oai và mô tả không gian hành chức của các biến thể này trên bản đồ dựa trên kết quả cảm nhận thính giác đối với thanh điệu, âm đầu, âm chính trong sự so sánh với đặc trưng ngữ âm của các vùng khác nói riêng và với tiếng Việt toàn dân nói chung. Tại khu vực này, các thành phần còn lại của âm tiết không thấy xuất hiện các biến thể đánh dấu. Kết quả cụ thể như sau: Về thanh điệu: Theo kết quả phân tích mà chúng tôi thu được tại Quốc Oai, hệ thống thanh điệu tiếng Quốc Oai có 6 thanh điệu. Trong đó, thanh 1 (ngang) , thanh 2 (huyền), thanh 5 (sắc), thanh 6 (nặng) đều chỉ xuất hiện một biến thể đánh dấu. Thanh 4 (ngã) có ba biến thể đánh dấu. Thanh 3 (hỏi) không xuất hiện biến thể đánh dấu. Về phụ âm đầu: Theo kết quả phân tích mà chúng tôi thu được tại Quốc Oai, một số điểm điều tra hoặc nhiều điểm điều tra, các phụ âm đầu n, l, ş, ʐ, z đều xuất hiện ít nhất một biến thể đánh dấubiến thể khác biệt, phụ âm đầu ʈ có hai biến thể đánh dấubiến thể khác biệt. Về âm chính: Theo kết quả phân tích mà chúng tôi thu được tại Quốc Oai, một số điểm điều tra hoặc nhiều điểm điều tra, các nguyên âm ă, ɤˇ, ɔ, ɔˇ, ie đều xuất hiện ít nhất một biến thể đánh dấu. Tất cả các biến thể ngữ âm này đều được thể hiện trên bản đồ bằng phương pháp vẽ bản đồ ngôn ngữ học địa lí.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ QUỐC HƯNG

BIẾN THỂ NGỮ ÂM ĐÁNH DẤU

Ở HUYỆN QUỐC OAI VÀ KHÔNG GIAN HÀNH CHỨC CỦA CHÚNG TRÊN BẢN ĐỒ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội, 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ QUỐC HƯNG

BIẾN THỂ NGỮ ÂM ĐÁNH DẤU

Ở HUYỆN QUỐC OAI VÀ KHÔNG GIAN HÀNH CHỨC CỦA CHÚNG TRÊN BẢN ĐỒ

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60 22 02 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học PGS TS TRỊNH CẨM LAN

Hà Nội, 2018

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH VẼ 5

DANH MỤC BẢN ĐỒ 6

MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 8

2.1 Mục đích nghiên cứu 8

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 8

3 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu 9

3.1 Tư liệu nghiên cứu 9

3.2 Phương pháp nghiên cứu 10

4 Ý nghĩa của đề tài 11

5 Bố cục của luận văn 11

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KĨ THUẬT VẼ BẢN ĐỒ 1.1 Dẫn nhập 12

1.2 Cơ sở lí thuyết 13

1.2.1 Biến thể và biến thể đánh dấu 13

1.2.2 Vài nét về âm tiết tiếng Việt 14

1.2.2.1 Thanh điệu trong âm tiết tiếng Việt 15

1.2.2.2 Âm đầu trong âm tiết tiếng Việt 20

1.2.2.3 Âm đệm trong âm tiết tiếng Việt 22

Trang 4

1.2.2.4 Âm chính trong âm tiết tiếng Việt 22

1.2.2.5 Âm cuối trong âm tiết tiếng Việt 23

1.3 Vài nét về địa bàn và cảnh huống ngôn ngữ - xã hội của địa bàn nghiên cứu 24

1.3.1 Điều kiện tự nhiên – xã hội 24

1.3.2 Cảnh huống ngôn ngữ - xã hội của địa bàn nghiên cứu 27

1.4 Kĩ thuật vẽ bản đồ 29

1.5 Tiểu kết 41

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM NGỮ ÂM CỦA CÁC BIẾN THỂ ĐÁNH DẤU TẠI HUYỆN QUỐC OAI 2.1 Dẫn nhập 42

2.2 Các biến thể thanh điệu 43

2.2.1 Thanh ngang 43

2.2.2 Thanh huyền 44

2.2.3 Thanh hỏi 45

2.2.4 Thanh ngã 45

2.2.5 Thanh sắc 47

2.2.6 Thanh nặng 48

2.3 Các biến thể phụ âm đầu 49

2.3.1 Cặp phụ âm /n/ và /l/ 49

2.3.2 Các biến thể của phụ âm /ʈ/ (thể hiện trên cặp đối lập /ʈ/ và /c/, /ʈ/ và /z/) 51

2.3.3 Các biến thể của phụ âm /ş/ (thể hiện trên cặp đối lập /ş/ và /s/) 54

Trang 5

2.3.4 Biến thể của phụ âm /ʐ,/ (thể hiện trên cặp đối lập /ʐ,/ và /z/) 55

2.3.5 Biến thể của phụ âm /z/ (thể hiện trên cặp đối lập /z/ và /ʐ/) 56

2.4 Các biến thể nguyên âm 58

2.4.1 Nguyên âm /ɔ/ 58

2.4.2 Nguyên âm /ie/ 59

2.4.3 Nguyên âm /ɔˇ/ 60

2.4.4 Nguyên âm /ă/ 61

2.4.5 Nguyên âm /ɤˇ/ 62

2.5 Tiểu kết 63

CHƯƠNG 3 KHÔNG GIAN HÀNH CHỨC CỦA CÁC BIẾN THỂ ĐÁNH DẤU TẠI HUYỆN QUỐC OAI TRÊN BẢN ĐỒ 3.1 Dẫn nhập 65

3.2 Không gian hành chức của các biến thể thanh điệu 66

3.2.1 Thanh ngang 67

3.2.2 Thanh huyền 68

3.2.3 Thanh hỏi 69

3.2.4 Thanh ngã 70

3.2.5 Thanh sắc 71

3.2.6 Thanh nặng 72

3.3 Không gian hành chức của các biến thể phụ âm đầu 73

3.3.1 Cặp phụ âm đầu /n/ và /l/ 74

3.3.2 Biến thể của âm đầu /ʈ/ (thể hiện trên các cặp đối lập /ʈ/ và /c/, /ʈ/ và /z/) 76

Trang 6

3.3.3 Biến thể của âm đầu /ş/ (thể hiện trên cặp đối lập /ş/ và /s/) 77

3.3.4 Biến thể của âm đầu /ʐ/ (thể hiện trên cặp đối lập /ʐ,/ và /z/) 78

3.3.5 Biến thể của âm đầu /z/ (thể hiện trên cặp đối lập /z/ và /ʐ/) 79

3.4 Không gian hành chức của các biến thể nguyên âm 80

3.4.1 Nguyên âm /ɔ/ 81

3.4.2 Nguyên âm /ie/ 81

3.4.3 Nguyên âm /ɔˇ/ 83

3.4.4 Nguyên âm /ă/ 84

3.4.5 Nguyên âm /ɤˇ/ 85

3.5 Tiểu kết 86

KẾT LUẬN 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

PHỤ LỤC 93

Trang 7

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1: Mô hình âm tiết tiếng Việt 14

Hình 1.2: Đường nét thanh ngang 15

Hình 1.3: Đường nét thanh huyền 16

Hình 1.4: Đường nét thanh ngã 17

Hình 1.5: Đường nét thanh hỏi 17

Hình 1.6: Đường nét thanh sắc 18

Hình 1.7: Đường nét thanh nặng 19

Hình 1.8: Biểu đồ thanh điệu 19

Hình 1.9: Hệ thống âm đầu tiếng Việt 21

Hình 1.10: Hệ thống nguyên âm tiếng Việt 23

Hình 1.11: Hệ thống âm cuối tiếng Việt 24

Trang 8

DANH MỤC BẢN ĐỒ

Bản đồ 1: Không gian hành chức của các biến thể thanh ngang tại Quốc Oai

67

Bản đồ 2: Không gian hành chức của các biến thể thanh huyền tại Quốc Oai

68

Bản đồ 3: Không gian hành chức của biến thể thanh hỏi tại Quốc Oai 69

Bản đồ 4: Không gian hành chức của các biến thể thanh ngã tại Quốc Oai 70

Bản đồ 5: Không gian hành chức của các biến thể thanh sắc tại Quốc Oai 71

Bản đồ 6: Không gian hành chức của các biến thể thanh nặng tại Quốc Oai

72

Bản đồ 7: Không gian hành chức các biến thể của âm đầu /n/ tại Quốc Oai 74

Bản đồ 8: Không gian hành chức các biến thể của âm đầu /l/ tại Quốc Oai

75

Bản đồ 9: Không gian hành chức các biến thể của âm đầu /ʈ/ tại Quốc Oai

76

Bản đồ 10: Không gian hành chức các biến thể của âm đầu /ş/ tại Quốc Oai 77 Bản đồ 11: Không gian hành chức các biến thể của âm đầu /ʐ,/ tại Quốc Oai 78

Bản đồ 12: Không gian hành chức các biến thể của âm đầu /z/ tại Quốc Oai 79 Bản đồ 13: Không gian hành chức các biến thể của nguyên âm /ɔ/ tại Quốc Oai 81

Bản đồ 14: Không gian hành chức các biến thể của nguyên âm /ie/ tại Quốc Oai 82

Bản đồ 15: Không gian hành chức các biến thể của nguyên âm /ɔˇ/ tại Quốc Oai 83

Bản đồ 16: Không gian hành chức các biến thể của nguyên âm /ă/ tại Quốc Oai 83

Bản đồ 17: Không gian hành chức các biến thể của nguyên âm /ɤˇ/ tại Quốc Oai 85

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nghiên cứu ngữ âm học nói chung và ngữ âm trong tiếng Việt nói riêng

là một trong những bình diện nghiên cứu quan trọng trong nghiên cứu ngôn ngữ học và nghiên cứu tiếng Việt Trong nghiên cứu đặc trưng của các phương ngữ Việt, nghiên cứu ngữ âm (giọng nói) là bình diện quan trọng nhất Nghiên cứu tiếng Hà Nội nói chung, các thổ ngữ nhỏ trong vùng Hà Nội nói riêng cũng vậy, nghiên cứu đặc trưng ngữ âm trên cơ sở so sánh với tiếng Việt toàn dân thông qua mô tả hệ thống các biến thể khác biệt với tiếng Việt toàn dân và tiếng Hà Nội khu vực đô thị là một phạm vi cần có sự quan tâm thích đáng

Trong những nghiên cứu về tiếng nói của người Hà Nội, chúng ta không thể bỏ qua việc nghiên cứu tiếng nói tại khu vực ngoại thành/tiếng Hà Nội nông thôn Bởi, mặc dù nó thuộc về không gian hành chính của thủ đô, lại không quá xa trung tâm Hà Nội nhưng tiếng Hà Nội nông thôn chứa đựng độ

đa dạng rất đáng chú ý Sự đa dạng biểu hiện ở hệ thống các biến thể khác biệt với tiếng Hà Nội đô thị và tiếng Việt toàn dân xuất hiện khá dày đặc ở khắp các khu vực thuộc nông thôn Hà Nội Trong số đó, khu vực Hà Tây cũ nói chung và huyện Quốc Oai nói riêng, được coi là vùng đất lâu đời với những đặc điểm rất đặc biệt về lịch sử, văn hóa, và ngôn ngữ mà nhiều công trình nghiên cứu đã từng đề cập đến

Hiện nay, hầu như các nghiên cứu về tiếng Hà Nội khu vực ngoại thành chỉ là các nghiên cứu rất lẻ tẻ tại một hoặc một vài khu vực nhỏ mà chưa phải

là nghiên cứu cả một địa bàn lớn Cùng với những phương pháp nghiên cứu mới được học hỏi từ các chuyên gia, chúng tôi đã quyết định tiến hành các nghiên cứu đồng bộ tiếng nói của cả khu vực huyện Quốc Oai

Trang 10

Chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu tiếng nói khu vực huyện Quốc Oai là một việc làm hữu ích, góp phần thiết thực vào việc mô tả, phát hiện các đặc trưng đa dạng trong tiếng Hà Nội giúp giữ gìn vẻ đẹp trong sự đa dạng của tiếng Hà Nội Không chỉ thế, với một phương pháp làm việc mới được học hỏi từ các chuyên gia nước ngoài là kĩ thuật vẽ bản đồ phương ngữ thông qua việc định vị không gian hành chức của các biến thể khác biệt trên bản đồ, chúng tôi nhận thức sâu sắc ý nghĩa của việc ứng dụng một kĩ thuật mới vào một công việc mà phương ngữ học Việt Nam trước nay đã không mấy thành công Việc vẽ được bản đồ phương ngữ bằng một kĩ thuật mới với sự hỗ trợ hiệu quả của công nghệ thông tin và internet sẽ mở ra một hướng đi quan trọng cho phương ngữ học Việt Nam cho dù trên thế giới kĩ thuật truyền thống này đã gần như khép lại Vì những lý do trên, tôi đã chọn đề tài nghiên

cứu: Biến thể ngữ âm đánh dấu ở huyện Quốc Oai và không gian hành chức của chúng trên bản đồ làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn đặt ra mục đích nghiên cứu là khảo sát, mô tả đặc trưng của những biến thể ngữ âm đánh dấu tại huyện Quốc Oai và định vị không gian hành chức của những biến thể ấy trên bản đồ bằng kĩ thuật vẽ bản đồ của ngôn ngữ học địa lý

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện tốt mục đích nghiên cứu trên đây, luận văn phải thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu cơ sở lý thuyết có liên quan đến việc nghiên cứu các biến thể ngữ âm đánh dấu tại huyện Quốc Oai

Trang 11

- Lập bảng câu hỏi phỏng vấn, khảo sát tại địa bàn và ghi âm tiếng nói của người dân Quốc Oai

- Nghe kỹ, phát hiện các biến thể khác biệt với tiếng Việt toàn dân (biến thể đánh dấu) trong lời nói của người Quốc Oai, mô tả đặc trưng ngữ âm của các biến thể ấy

- Vẽ bản đồ không gian hành chức của các biến thể đánh dấu này

3 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu

3.1 Tư liệu nghiên cứu

Để có được dữ liệu phục vụ cho công việc nghiên cứu này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát, ghi âm giọng nói tại 21 xã thuộc huyện Quốc Oai Trong quá trình ghi âm để thu thập tư liệu, những thông tin liên quan đến nhân thân của cộng tác viên cũng được ghi lại như thông tin cá nhân, gia đình, công việc, đời sống, sinh hoạt hàng ngày,…để có dữ liệu sử dụng khi cần thiết

Về tiêu chí chọn công tác viên: Cộng tác viên gồm cả nữ và nam, đa phần trên 60 tuổi, là người sinh ra, lớn lên và thường xuyên sinh hoạt tại địa phương Chúng tôi cho rằng, đây là nhóm đối tượng hầu như ít ra khỏi địa phương và có khả năng bảo tồn mạnh nhất các đặc trưng ngữ âm của địa phương mình

Về số lượng cộng tác viên: Tại địa bàn huyện Quốc Oai, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn 71 cộng tác viên, bao gồm 44 nữ và 27 nam tại 21 điểm điều tra (tương đương 21 xã, thị trấn) Trong đó, tại mỗi điểm điều tra chúng tôi lựa chọn 3 - 4 cộng tác viên

Để phục vụ cho việc nghiên cứu này, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn, ghi âm trong tổng thời gian 11,6 giờ với 92 file ghi âm được thực hiện bằng máy ghi âm và công cụ ghi âm của điện thoại Sau khi ghi âm, chúng tôi lưu

Trang 12

lại những file ghi âm này trên máy tính, tiến hành nghe kỹ, xác định các biến thể đánh dấu, cảm nhận, phân tích và miêu tả chúng về đặc điểm cấu âm, so sánh với đặc điểm của các biến thể tương ứng trong tiếng Việt toàn dân để thấy rõ đặc trưng địa phương, mang tính đánh dấu của chúng.…

Để có đủ dữ liệu vẽ bản đồ như yêu cầu, tại mỗi điểm điều tra, chúng tôi đều xác định và ghi lại chính xác toạ độ địa lý bao gồm kinh độ và vĩ độ, địa chỉ cụ thể (thôn, xã) bằng cách sử dụng phần mềm google maps và la bàn Những dữ liệu này sẽ được nhập vào phần mềm vẽ bản đồ để hiển thị một cách chính xác không gian hành chức của các biến thể đánh dấu tại địa phương

3.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp điều tra điền dã với các kĩ thuật ghi âm, phỏng vấn để thu thập tư liệu nghiên cứu

- Phương pháp phân tích và miêu tả ngữ âm học để miêu tả đặc trưng của các biến thể đánh dấu hành chức trên địa bàn

- Phương pháp so sánh được dùng khi mô tả đặc điểm ngữ âm của các biến thể: So sánh đặc điểm ngữ âm của các biến thể ở Quốc Oai với tiếng Việt toàn dân để làm nổi bật tính đánh dấu của các biến thể đang hành chức trên địa bàn

- Sử dụng kĩ thuật vẽ bản đồ với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và internet: Kĩ thuật này sẽ được trình bày cụ thể ở Chương 1

Trang 13

4 Ý nghĩa của đề tài

Đây là một trong những đề tài nghiên cứu đầu tiên sử dụng kĩ thuật vẽ bản đồ để miêu tả các biến thể ngữ âm đánh dấu và định vị không gian hành chức của chúng Vì vậy, chúng tôi hi vọng, đề tài sẽ góp phần cung cấp một bức tranh tương đối hoàn chỉnh về đặc điểm ngữ âm của địa bàn huyện Quốc Oai thông qua hệ thống các biến thể đánh dấu và không gian hành chức của chúng

Đồng thời, chúng tôi cũng muốn góp phần vào việc ghi lại và bảo tồn

vẻ đẹp và sự đa dạng trong tiếng Hà Nội nông thôn trên địa bàn huyện Quốc Oai với những đặc trưng rất riêng so với tiếng Hà Nội đô thị nói chung và các khu vực nông thôn khác của Hà Nội

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn chia làm 3 chương như sau: Chương 1: Cơ sở lý thuyết và kĩ thuật vẽ bản đồ

Chương 2: Đặc điểm ngữ âm của các biến thể đánh dấu tại huyện Quốc Oai Chương 3: Không gian hành chức của các biến thể đánh dấu tại huyện Quốc Oai trên bản đồ

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KĨ THUẬT VẼ BẢN ĐỒ 1.1 Dẫn nhập

Trong chương này, chúng tôi xin trình bày một số vấn đề liên quan đến

cơ sở lý thuyết được áp dụng trong luận văn Đó là các khái niệm cơ bản như

biến thể và biến thể đánh dấu Để làm chỗ dựa cho việc mô tả đặc điểm của

các biến thể đánh dấu, một vài nét về đặc điểm âm tiết tiếng Việt, các thành phần trong âm tiết tiếng Việt cũng được trình bày rõ Bên cạnh đó, trong nghiên cứu phương ngữ, việc mô tả những nét khái quát về điều kiện tự nhiên,

xã hội của địa bàn nghiên cứu, cảnh huống ngôn ngữ - xã hội của địa bàn nghiên cứu gần như là một việc làm bắt buộc Vì vậy, những đặc điểm cũng như cảnh huống ngôn ngữ của huyện Quốc Oai hiện nay cũng là một nội dung cần có ở chương này

Ngoài ra, chúng tôi cũng nhận thấy rằng, kĩ thuật vẽ bản đồ áp dụng trong nghiên cứu phương ngữ nhìn chung còn rất mới mẻ ở Việt Nam Cho đến nay, hầu như chưa có nhà nghiên cứu Việt Nam nào sử dụng kĩ thuật này trong nghiên cứu phương ngữ Đây là một kĩ thuật quan trọng và hữu ích Nó không chỉ hữu ích trong nghiên cứu và mô tả ngôn ngữ/phương ngữ mà còn

có thể phục vụ trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác Với nhận thức ấy, chúng tôi cho rằng việc giới thiệu khái quát về kĩ thuật vẽ bản đồ này sẽ góp phần phổ biến nó một cách rộng rãi hơn Vì vậy, việc giới thiệu kĩ thuật và quy trình vẽ bản đồ sẽ là một nội dung quan trọng trong chương này

Trang 15

1.2 Cơ sở lí thuyết

1.2.1 Biến thể và biến thể đánh dấu

Khái niệm biến thể

Theo Từ điển tiếng Việt, biến thể được định nghĩa là: Thể đã biến đổi ít

nhiều so với thể gốc biến thể của âm vị Thơ lục bát biến thể [14, tr.64] Đó

là cách hiểu phổ biến và phổ thông về khái niệm biến thể Từ góc nhìn ngôn ngữ học, đặc biệt là ngôn ngữ học xã hội, biến thể (variety hay variant) được hiểu là hình thức biểu hiện của ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong hoàn cảnh xã hội giống nhau với các đặc trưng xã hội giống nhau [5] Cũng có quan điểm cho rằng, biến thể (variant, viriation) là hình thức biểu hiện của ngôn ngữ trong lời nói ở những cảnh huống giao tiếp nhất định [13, tr.278]

Với mục đích xác định, mô tả đặc điểm và định vị các biến thể đánh dấu tại huyện Quốc Oai trên bản đồ, chúng tôi kế thừa và sử dụng khái niệm

biến thể mà tác giả Trịnh Cẩm Lan đưa ra cho việc nghiên cứu của luận văn

này Trong khái niệm này,“cảnh huống giao tiếp” có thể hiểu là sự giao tiếp ở một phạm vi không gian, một địa phương nào đó, hoặc cũng có thể hiểu là sự giao tiếp ở một phạm vi xã hội, ở một nhóm xã hội nào đó với những yếu tố xác định cảnh huống như thời điểm cuộc giao tiếp diễn ra, nhân vật, chủ đề… của cuộc giao tiếp

Khái niệm biến thể đánh dấu

Biến thể đánh dấu là khái niệm được nhà ngôn ngữ học thuộc trường phái Praha là N Trubetzkoy (1890 - 1980) lần đầu tiên đưa ra và ứng dụng trong lĩnh vực âm vị học Sau này, khái niệm biến thể đánh dấu cũng được sử dụng trong các lĩnh vực khác của ngôn ngữ học như: hình thái học, cú pháp học, phương ngữ học, ngôn ngữ học xã hội,…Trong lĩnh vực phương ngữ học

Trang 16

và ngôn ngữ học xã hội, các nhà nghiên cứu sử dụng khái niệm tính đánh dấu

để chỉ những biến thể khác biệt của một đơn vị ngôn ngữ nào đó (âm vị, từ, ngữ…) về mặt khu vực hay xã hội [13, tr.279]

Như vậy, biến thể đánh dấu có thể hiểu là những biến thể khác biệt của một đơn vị ngôn ngữ Các đơn vị ngôn ngữ này có thể là các âm vị, các từ,…Chẳng hạn, ở một số địa phương, âm vị /ie/ có hai biến thể: biến thể [ie]-

0 được phát âm là [ie] trong “nhiều” và biến thể [ie]-1 được phát âm giống như [e] trong “nhều” Trong hai biến thể vừa nêu thì biến thể [ie]-1 được gọi

là biến thể đánh dấu

1.2.2 Vài nét về âm tiết tiếng Việt

Âm tiết tiếng Việt được chia thành hai bộ phận: Bộ phận đoạn tính (bao gồm các thành phần: âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối) và bộ phận siêu đoạn tính (thanh điệu) Trong đó, bộ phận đoạn tính lại được chia thành những thành phần nhỏ hơn theo các bậc phân định, bậc 1 với âm đầu và phần vần, bậc 2 (trong phần vần) gồm âm đệm, âm chính và âm cuối

Có thể hình dung cụ thể về các thành phần âm tiết tiếng Việt qua mô hình sau:

Hình 1.1: Mô hình âm tiết tiếng Việt

THANH ĐIỆU

ÂM ĐẦU

VẦN

Nguồn: Đoàn Thiện Thuật (2003), Ngữ âm tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia

Hà Nội

Trang 17

Dưới đây là các đặc điểm cụ thể của từng thành phần trong âm tiết tiếng Việt

1.2.2.1 Thanh điệu trong âm tiết tiếng Việt

Thanh điệu là một đơn vị siêu đoạn tính Thanh điệu được thể hiện trong toàn bộ âm tiết bao gồm âm đầu, âm đệm, âm chính và âm cuối Nó cùng với âm chính là những đơn vị luôn hiện diện trong một âm tiết

Thanh điệu tiếng Việt được thể hiện về mặt chữ viết như sau: “ˋ” (thanh huyền), “ ̉” (thanh hỏi), “˜” (thanh ngã), “ˊ” (thanh sắc), “.” (thanh nặng) Riêng thanh ngang/thanh không dấu không được thể hiện về mặt chữ viết

Như vậy, tiếng Việt có 6 thanh điệu Trong đó, năm thanh điệu được thể hiện bằng chữ viết, riêng thanh ngang hay thanh không dấu không được thể hiện bằng chữ viết

Sự thể hiện của các thanh điệu tiếng Việt1

1/ Thanh ngang (thanh không dấu): So với các thanh khác thì thanh

ngang là thanh có âm vực cao Đường nét âm điệu bằng phẳng, hầu như không lên không xuống từ đầu đến cuối

Trang 18

2/ Thanh huyền: Là thanh có âm vực thấp So với thanh ngang thì thanh

huyền có âm vực thấp hơn một quãng bốn đúng Đường nét âm điệu bằng phẳng hơi đi xuống thoai thoải

Hình 1.3: Đường nét thanh huyền

Nguồn: Đoàn Thiện Thuật (2003), Ngữ âm tiếng Việt, NXB Đại học

Quốc gia Hà Nội

3/ Thanh ngã: Thanh này xuất phát gần ngang với cao độ xuất phát của

thanh huyền Thanh này bắt đầu ở âm vực thấp nhưng kết thúc ở âm vực cao Đường nét âm điệu không bằng phẳng Thanh ngã có hai biến thể:

Biến thể thứ nhất có đường nét bắt đầu cao hơn thanh huyền một chút, nhưng đến giữa âm tiết thì đi xuống đột ngột, dốc đứng trong một thời gian ngắn (có thể đến một quãng năm), sau đó vút lên ngang với cao độ cũ và đi thêm một quãng ba thứ nữa

Biến thể thứ hai, đường nét bắt đầu và kết thúc như biến thể thứ nhất, nhưng bị gián đoạn ở giữa

Huyền

x

y

0

Trang 19

Hình 1.4: Đường nét thanh ngã

Nguồn: Đoàn Thiện Thuật (2003), Ngữ âm tiếng Việt, NXB Đại học

Quốc gia Hà Nội

4/ Thanh hỏi: Thanh này bắt đầu ở mức cao của độ xuất phát của thanh

huyền Kết thúc cũng ở cao độ thấp nên được coi là thanh điệu có âm vực thấp

Đường nét âm điệu thấp dần từ khi bắt đầu đến một quãng sáu thì chuyển sang một nét đi lên cân đối với nét đi xuống ban đầu và kết thúc bằng với cao độ xuất phát Sự đổi hướng đi của đường nét này gọi là đặc trưng

“gãy” của âm điệu

Hình 1.5: Đường nét thanh hỏi

Nguồn: Đoàn Thiện Thuật (2003), Ngữ âm tiếng Việt, NXB Đại học

Quốc gia Hà Nội

Trang 20

5/ Thanh sắc: Thanh này có những biến thể khác nhau được phân bố

trong những âm tiết thuộc loại hình khác nhau

Trong những âm tiết có âm cuối không phải là âm tắc họng vô thanh, thanh sắc xuất phát ở cao độ gần giống với thanh ngang Sau đó, âm điệu đi lên kết thúc cao hơn thanh ngang

Trong những âm tiết có âm cuối là âm tắc vô thanh:

Nếu âm chính là nguyên âm dài thì phần bằng ngang ngắn hơn khá nhiều hoặc có khi mất hẳn, cao độ khi xuất phát và kết thúc giống biến thể trên

Nếu âm chính là nguyên âm ngắn thì cao độ xuất phát cao hơn khá nhiều Đường nét âm điệu đi lên mạnh hơn và kết thúc ở một khoảng cách nhỏ

Hình 1.6: Đường nét thanh sắc

Nguồn: Đoàn Thiện Thuật (2003), Ngữ âm tiếng Việt, NXB Đại học

Quốc gia Hà Nội

6/ Thanh nặng: Là thanh thuộc âm vực thấp, bắt đầu bằng cao độ xấp xỉ

với mức cao độ ban đầu của thanh huyền Đường nét âm điệu của mỗi biến thể có sự khác nhau:

y

x

0

Sắc

Trang 21

Trong những âm tiết kết thúc bằng âm tắc vô thanh thì phần đi xuống nằm ngay ở cuối nguyên âm làm âm chính Nếu âm chính là nguyên âm ngắn thì phần bằng ngang ngắn lại

Hình 1.8: Biểu đồ thanh điệu

Trang 22

1.2.2.2 Âm đầu trong âm tiết tiếng Việt

Âm đầu là thành phần đứng ở vị trí thứ nhất trong cấu tạo âm tiết Tất

cả các âm đầu trong tiếng Việt đều là phụ âm Tuy vậy, các học giả vẫn chưa

có sự thống nhất về mặt số lượng phụ âm đầu trong tiếng Việt Hiện nay, có khá nhiều quan điểm khác nhau về mặt số lượng âm đầu Thứ nhất, quan điểm cho rằng, tiếng Việt gồm 21 phụ âm đầu Đây là xu hướng của các tác giả Nguyễn Bạt Tụy, M.B Emenueau Theo xu hướng này, các tác giả thừa nhận

sự tồn tại của các phụ âm quặt lưỡi nhưng không thừa nhận sự tồn tại của phụ

âm /p/ [15, tr.43] Thứ hai, quan điểm cho rằng, tiếng Việt gồm 22 phụ âm đầu vì thêm một âm tắc họng ở đầu /ɂ/ Theo quan điểm này có thể kể đến Lê Văn Lý, L.C Thompson, Đoàn Thiện Thuật [15, tr.43] Thứ ba, quan điểm cho rằng tiếng Việt chỉ gồm 19 phụ âm đầu Đây là cách phân loại của H Maspero, T.T Mkhitarian, Đinh Lê Thư Các tác giả này không thừa nhận sự tồn tại của âm quặt lưỡi Tuy nhiên, sự khác nhau giữa các tác giả này thể hiện ở chỗ H Maspero không thừa nhận sự tồn tại của âm /p/ nhưng lại thêm vào đó là một phụ âm vang /w/ Về phụ âm /h/, H Maspero cho rằng đây là

âm ngạc, T.T Mkhitarian cho là âm lưỡi sau, còn Đinh Lê Thư cho là âm yết hầu.[15, tr.43]

Về mặt âm vị, các phụ âm đầu trong tiếng Việt được thể hiện như sau: /b, m, f, v, t, t’, d, n, z, ʐ, s, ş, c, ʈ, ɲ, l, k, χ, ŋ, ɣ, h, ʔ/ [16, tr.166]

Trang 23

Hình 1.9: Hệ thống âm đầu tiếng Việt

Môi

Đầu lưỡi Mặt

lưỡi

Gốc lưỡi

Thanh hầu Bẹt Lưỡi

Tắc

Ồn

Không bật hơi

ng, ngh), có 1 âm vị có 3 biến thể âm vị (/k/ -> c, k, q)

Âm đầu của tiếng Việt trong các phương ngữ và thổ ngữ chứa đựng độ

đa dạng đáng chú ý, là một vấn đề rất thú vị và cần được nghiên cứu

Phương thức

Vị trí

Trang 24

1.2.2.3 Âm đệm trong âm tiết tiếng Việt

Âm đệm là thành phần đứng ở vị trí thứ hai trong cấu tạo âm tiết, nối phụ âm đầu với phần còn lại của vần Âm đệm có chức năng làm biến đổi âm sắc của âm tiết lúc mở đầu âm tiết, làm trầm hóa âm sắc của âm tiết và khu biệt âm tiết này với âm tiết khác

Về mặt phân bố của âm đệm: Âm đệm không xuất hiện sau các phụ âm

môi /m, b, p, v/ trừ vài trường hợp đặc biệt là “voan” “phuy”, “buýt” Âm đệm xuất hiện hạn chế sau 3 âm đầu sau: /n, ɣ, ʐ/ trừ một số trường hợp như: noa, noãn, roa, góa Âm đệm không xuất hiện sau tất cả phụ âm môi và không xuất hiện trước các nguyên âm tròn môi [16, tr.176]

Sự thể hiện của âm đệm trên chữ viết: Âm đệm được thể hiện bằng chữ

o khi đứng trước các nguyên âm: a, e, ă Âm đệm được thể hiện bằng chữ u khi đứng trước các nguyên âm: â, ê, y, ơ

1.2.2.4 Âm chính trong âm tiết tiếng Việt

Âm chính là thành phần đứng ở vị trí thứ ba trong cấu tạo âm tiết Âm chính là thành phần hạt nhân của âm tiết và không bao giờ vắng mặt trong cấu trúc của một âm tiết

Trong tiếng Việt, âm chính là các nguyên âm Do vậy, nó quy định âm sắc của âm tiết

Về mặt số lượng: Âm chính gồm 13 nguyên âm đơn /i, e, ε, ɤ, ɤˇ, a, ɯ,

ă, u, o, ɔ, ɔˇ, εˇ/ và 3 nguyên âm đôi /ie, ɯɤ, uo/ [16, tr.202]

Trang 25

Hình 1.10: Hệ thống nguyên âm tiếng Việt

Bổng Trung

Trung hòa Trầm

1.2.2.5 Âm cuối trong âm tiết tiếng Việt

Âm cuối là thành phần đứng ở cuối âm tiết Âm cuối trong tiếng Việt bao gồm 6 phụ âm: /p, t, k, m, n, ŋ/ và 2 bán nguyên âm: /-u/ và /-i/ Trong đó, bán nguyên âm /-u/ được thể hiện bằng chữ “o” khi đứng sau các nguyên âm đơn dài, bán nguyên âm /-u/ được thể hiện bằng chữ “u” trong các trường hợp còn lại

Sự phân bố của các phụ âm và nguyên âm trong âm cuối: Các phụ âm /p/ và /m/ trong âm cuối không xuất hiện sau nguyên âm /ɯ/ Các phụ âm /k, ŋ/ không xuất hiện sau nguyên âm /ɤ/

Âm lượng

Âm sắc

Trang 26

Hình 1.11: Hệ thống âm cuối tiếng Việt

1.3.1 Điều kiện tự nhiên – xã hội 2

Quốc Oai là một huyện nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng, có hai tuyến giao thông trọng yếu chạy qua là đường Láng - Hòa Lạc và đường Hồ Chí Minh nên có nhiều lợi thế phát triển đô thị và công nghiệp

Vị trí địa lý

Huyện Quốc Oai nằm ở phía Tây thành phố Hà Nội, cách trung tâm thành phố khoảng 20km Phía Đông giáp huyện Đan Phượng, huyện Hoài Đức; phía Tây giáp tỉnh Hòa Bình; phía Nam giáp huyện Chương Mỹ và phía Bắc giáp huyện Thạch Thất và huyện Phúc Thọ

2

Phương thức

Định vị

Trang 27

Ngày 21/ 4/1965, tỉnh Hà Tây được thành lập theo Nghị quyết của ủy ban Thường vụ Quốc hội Theo đó, huyện Quốc Oai thuộc tỉnh Hà Tây gồm

có 23 xã: Phú Mãn, Phú Cát, Hòa Thạch, Tuyết Nghĩa, Đông Yên, Liên Tuyết, Ngọc Liệp, Ngọc Mỹ, Cấn Hữu, Nghĩa Hương, Thạch Thán, Đồng Quang, Sài Sơn, Yên Sơn, Phượng Cách, Tân Hòa, Tân Phú, Đại Thành, Cộng Hòa, Hoàng Ngô, Tam Hiệp, Hiệp Thuận, Liên Hiệp

Ngày 27/12/1975, kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa 5 thông qua Nghị quyết hợp nhất hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình thành tỉnh Hà Sơn Bình Theo

đó, huyện Quốc Oai thuộc tỉnh Hà Sơn Bình

Ngày 29/12/1978: Quốc hội khóa VI, kỳ họp thứ 4 đã quyết định mở rộng thành phố Hà Nội Theo đó, chuyển các xã Tam Hiệp, Hiệp Thuận, Liên Hiệp, Cộng Hòa, Tân Hoà, Tân Phú, Đại Thành của huyện Quốc Oai thuộc tỉnh Hà Sơn Bình nhập vào thành phố Hà Nội Sau khi điểu chỉnh, huyện Quốc Oai còn lại 16 xã: Phú Mãn, Phú Cát, Hòa Thạch, Tuyết Nghĩa, Đồng Yên, Liên Tuyết, Ngọc Liệp, Ngọc Mỹ, Cấn Hữu, Nghĩa Hương, Thạch Thán, Đồng Quang, Sài Sơn, Yên Sơn, Phượng Cách, Hoàng Ngô

Trang 28

Ngày 17/2/1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 49-CP điều chỉnh địa giới hành chính các huyện ngoại thành Hà Nội Theo đó, sáp nhập các xã Cộng Hòa, Tân Hòa, Tân Phú và Đại Thành của huyện Quốc Oai vào huyện Hoài Đức; sáp nhập các xã Tam Hiệp, Hiệp Thuận, Liên Hiệp của huyện Quốc Oai vào huyện Phúc Thọ

Ngày 23/12/1988, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số HĐBT thành lập thị trấn Quốc Oai thuộc huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Sơn Bình trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của xã Hoàng Ngô Sau khi điều chỉnh, huyện Quốc Oai có 16 đơn vị hành chính trực thuộc gồm thị trấn Quốc Oai và

178-15 xã Phú Mãn, Phú Cát, Hòa Thạch, Tuyết Nghĩa, Đồng Yên, Liên Tuyết, Ngọc Liệp, Ngọc Mỹ, Cấn Hữu, Nghĩa Hương, Thạch Thán, Đồng Quang, Sài Sơn, Yên Sơn, Phượng Cách

Ngày 12/8/1991, kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII thông qua Nghị quyết chia tỉnh Hà Sơn Bình thành 2 tỉnh Hà Tây và Hòa Bình; chuyển thị xã Sơn Tây và năm huyện Hoài Đức, Phúc Thọ, Đan Phượng, Ba Vì, Thạch Thất của Hà Nội về tỉnh Hà Tây Theo đó, huyện Quốc Oai thuộc tỉnh Hà Tây Ngày 23/6/1994, Chính phủ ra Nghị định số 52-CP về việc điều chỉnh địa giới huyện và thành lập thị trấn, phường thuộc các huyện Hoài Đức, Chương Mỹ, Thạch Thất, Quốc Oai, thị xã Hà Đông, thuộc tỉnh Hà Tây Theo

đó, chuyển các xã Tân Phú, Đại Thành, Cộng Hòa, Tân Hòa của huyện Hoài Đức về huyện Quốc Oai quản lý Sau khi điều chỉnh, huyện Quốc Oai có 20 đơn vị hành chính trực thuộc gồm thị trấn Quốc Oai và 19 xã Phú Mãn, Phú Cát, Hòa Thạch, Tuyết Nghĩa, Đồng Yên, Liên Tuyết, Ngọc Liệp, Ngọc Mỹ, Cấn Hữu, Nghĩa Hương, Thạch Thán, Đồng Quang, Sài Sơn, Yên Sơn, Phượng Cách, Tân Hòa, Tân Phú, Đại Thành, Cộng Hòa

Trang 29

Từ ngày 1/8/2008, toàn bộ tỉnh Hà Tây được sáp nhập vào Hà Nội theo Nghị quyết của kỳ họp thứ ba Quốc hội khóa 12 ngày 29/5/2008 Theo đó, huyện Quốc Oai thuộc Hà Nội

Ngày 1/8/2008, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội ký Quyết định số 20/QĐ-Ủy ban Nhân dân về việc tạm giao toàn bộ diện tích tự nhiên

và dân số xã Đông Xuân (trước đây thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình)

về huyện Quốc Oai quản lý kể từ ngày 1/8/2008

Ngày 8/5/2009, Chính phủ ra Nghị quyết số 19/NQ-CP về việc xác lập địa giới hành chính xã Đông Xuân thuộc huyện Quốc Oai Theo đó, chuyển toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của xã Đông Xuân vào huyện Quốc Oai quản lý Sau khi điều chỉnh, huyện Quốc Oai có 21 đơn vị hành chính trực thuộc gồm thị trấn Quốc Oai và 20 xã Phú Mãn, Phú Cát, Hòa Thạch, Tuyết Nghĩa, Đồng Yên, Liên Tuyết, Ngọc Liệp, Ngọc Mỹ, Cấn Hữu, Nghĩa Hương, Thạch Thán, Đồng Quang, Sài Sơn, Yên Sơn, Phượng Cách, Tân Hòa, Tân Phú, Đại Thành, Cộng Hòa, Đông Xuân

Đơn vị hành chính

Quốc Oai hiện có 21 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 1 Thị trấn Quốc Oai và 20 xã là: Phú Mãn, Phú Cát, Hòa Thạch, Tuyết Nghĩa, Đông Yên, Liệp Tuyết, Ngọc Liệp, Ngọc Mỹ, Cấn Hữu, Nghĩa Hương, Thạch Thán, Đồng Quang, Sài Sơn, Yên Sơn, Phượng Cách, Tân Hòa, Tân Phú, Đại Thành, Cộng Hòa, Đông Xuân

1.3.2 Cảnh huống ngôn ngữ - xã hội của địa bàn nghiên cứu

Những cuộc điều tra điền dã và phỏng vấn với 71 cộng tác viên tại 21

xã, thị trấn thuộc huyện Quốc Oai đã cho chúng tôi những hình dung ban đầu

về cảnh huống ngôn ngữ - xã hội ở địa bàn này Bên cạnh đó, sau khi tiến

Trang 30

hành phân tích các đoạn ghi âm phỏng vấn, chúng tôi nhận thấy rằng có sự xuất hiện của khá nhiều các biến thể khác biệt, mang tính đặc trưng trong phát

âm của người dân tại địa bàn này Trong đó có các biến thể khác biệt của thanh điệu, các biến thể khác biệt của phụ âm đầu và các biến thể khác biệt của âm chính

Trong đó, biến thể khác biệt của thanh điệu, chẳng hạn như thanh

huyền được phát âm giống như thanh ngang Ví dụ như: nhà được phát âm gần như nha, gần được phát âm gần như gân,… Tuy nhiên, vẫn có những khu

vực thanh huyền được phát âm giống như thanh huyền toàn dân Hay như

thanh ngã được phát âm gần như thanh hỏi Ví dụ như: cũng được phát âm gần như củng, lễ được phát âm gần như lể,… Thậm chí thanh ngã còn xuất

hiện các biến thể được phát âm gần như thanh sắc và thanh nặng Ví dụ như:

cũng được phát âm gần như cúng, hay cũng được phát âm gần như cụng,…

Những biến thể phụ âm đầu bị đánh dấu đáng chú ý ở huyện Quốc Oai

là sự lẫn lộn giữa các cặp như: /l/ và /n/; /ş/ và /s/; /ʈ/ và /c/, /z/; /ʐ/ và /z/; /z/

và /ʐ,/ Trong đó, trường hợp cặp đối lập /d/ và /r/ chúng tôi cho rằng rất đặc biệt so với các khu vực khác của địa bàn Hà Nội, bởi có lẽ sự lẫn lộn này chỉ xuất hiện tại khu vực nam đồng bằng Bắc Bộ như: Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình Cụ thể, chúng tôi nhận thấy, tại khu vực Quốc Oai xuất hiện hiện

tượng phát âm, chẳng hạn như: dễ dàng được phát âm thành rễ ràng, bên dưới được phát âm thành bên rưới,…Ngoài ra, ở địa bàn này, chúng tôi còn bắt gặp

những biến thể ngữ âm – từ vựng [13, tr.306] của các biến thể phụ âm đầu được người dân nơi đây sử dụng, đó là các cặp [ʈ] và [c], [z] trong các cặp:

trồng và chồng, giồng; trả và chả, giả,…

Đối với hệ thống nguyên âm, bên cạnh các biến thể gốc, cũng xuất hiện các biến thể khác biệt Có thể kể ra các nguyên âm bị biến đổi như sau:

Trang 31

/ie/ ->[e] (nhiều -> nhều); /ɔ/ -> [uɔ]/[uoɅ] (con - cuon); /ɤˇ/ -> [ɤ] (cấy -> cới); /ă/ -> [ɤˇ] (hẳn -> hẩn),…

Tại địa phương này cũng xuất hiện các biến thể từ vựng như: vụ mùa -

vụ ré, nhiều - khối,… Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của chúng tôi chỉ giới

hạn trong các biến thể về mặt ngữ âm Do vậy, những kiểu biến thể từ vựng chúng tôi không xét đến

Qua việc mô tả tình trạng tồn tại của các biến thể đánh dấu chúng ta có thể nhận biết được đặc trưng ngữ âm rất riêng của địa bàn huyện Quốc Oai Ở đây, chúng tôi chỉ lựa chọn và tiến hành khảo sát một số âm vị có xuất hiện những biến thể khác biệt so với tiếng Việt toàn dân của địa bàn này Đối với thanh điệu, chúng tôi tiến hành khảo sát tất cả các thanh điệu Đối với phụ âm đầu, chúng tôi chọn biến thể địa phương của các âm vị /l/, /n/, /ʈ/, /z/, /ş/ và /ʐ/ Đối với các nguyên âm, chúng tôi lựa chọn biến thể địa phương của các

âm vị /ɔ/, /ɔˇ/, /ie/, /ă/ và /ɤˇ/ Đây là những biến thể ngữ âm mà theo chúng tôi là đã làm nên những đặc trưng cơ bản trong tiếng nói của địa bàn này

1.4 Kĩ thuật vẽ bản đồ

Cùng với phương pháp điều tra điền dã, ghi âm hội thoại, cũng như phương pháp phân tích và mô tả ngữ âm học như những phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong luận văn thì kĩ thuật vẽ bản đồ mà chúng tôi áp dụng trong đề tài nghiên cứu này cũng vô cùng quan trọng Đây được coi là kĩ thuật còn khá mới mẻ tại Việt Nam trong nghiên cứu ngôn ngữ học nói chung, ngữ

âm học/phương ngữ học nói riêng Kĩ thuật này, chúng tôi đã được thụ đắc từ giáo sư Mitsuaki Endo, thuộc Đại học Tokyo, Nhật Bản Giáo sư Endo hiện là Chủ tịch Hội Ngôn ngữ học địa lý Châu Á Ông cũng là người có rất nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu ngôn ngữ Đông Nam Á Dưới đây chúng tôi xin mô tả lại những hiểu biết của mình về các bước để vẽ bản đồ mà chúng tôi

Trang 32

đã được tiếp nhận từ phần trình bày khoa học của giáo sư Endo tại trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, tháng 2 năm 2018

Sau đây là các bước cơ bản trong kĩ thuật vẽ bản đồ được tham khảo từ tài liệu hướng dẫn vẽ bản đồ của giáo sư Mitsuaki Endo:

Bước 1: Lựa chọn kiểu bản đồ cơ sở

1 Sau khi đã đăng nhập bằng tài khoản cá nhân đã được đăng kí từ trang https://arcgis.com/home/index.html, nhấp chuột vào mục “Tạo một Bản đồ” (ở đây chúng tôi xin không nói về cách đăng kí tạo tài khoản cá nhân và cách đăng nhập)

2 Di chuyển chuột và phóng to, thu nhỏ bản đồ cơ sở Sau đó, người sử dụng chọn khu vực cần vẽ bản đồ bằng cách nhập tên địa danh cần vẽ vào ô “Tìm địa chỉ hoặc địa điểm”

Trang 34

5 Bản đồ được tạo đã được thêm vào thư mục “Nội dung” (2) Tất cả các bản

đồ đã được tạo lưu tại đây

6 Lựa chọn bản đồ cần mở: Nhấp chuột vào biểu tượng “” ở bên phải tên mỗi bản đồ Sau đó, chọn “Mở trong trình xem bản đồ” Bản đồ được chọn sẽ

mở ra

Trang 36

Bước 2: Chuẩn bị dữ liệu địa lí

Để vẽ bản đồ, trước hết người dùng cần chuẩn bị dữ liệu Sử dụng chương trình Excel để nhập các dữ liệu này

1 Nhập tên đề mục vào các ô trong hàng đầu tiên kiểu như sau:

2 Nhập thông tin về vĩ độ, kinh độ, địa chỉ và dạng thức của bản đồ cần vẽ

Dữ liệu chuẩn bị bắt buộc phải bao gồm thông tin về vĩ độ, kinh độ, địa điểm,…từ cột A đến cột E Để lấy các thông tin này, người dùng có thể sử dụng ứng dụng Google Maps (https://maps.google.com) hoặc một vài ứng dụng khác

 Google Maps: Nhấp chuột phải vào khu vực cần lấy thông tin, chọn mục “Đây là gì?”

Trang 37

3 Sau khi nhập các thông tin, ta có một file excel kiểu như sau:

Nguồn: Bảng Excel do chính chúng tôi nhập cho nghiên cứu này với những

thông tin điều tra được tại huyện Quốc Oai, tháng 4 năm 2018

4 Lưu lại tệp vừa hoàn thành bằng định dạng Excel và định dạng Unicode (.txt)

Bước 3: Thêm các lớp của bản đồ

Sau khi lựa chọn bản đồ gốc, người dùng đã có thể trình bày dữ liệu mình đã chuẩn bị trong bước 2 Trong phần mềm ArcGIS, những dữ liệu này được gọi là các “Lớp”

1 Nhấp chuột vào ô “Thêm” (1) và chọn ô “Thêm Lớp từ Tệp” (2)

2 Chọn Tệp dữ liệu (3) đã chuẩn bị trong bước 2, sau đó nhấp chuột vào ô

“Nhập Lớp” (4)

Trang 38

Bước 4: Thay đổi kiểu

1 Sau khi nhấp chuột vào ô “Nhập Lớp”, màn hình trang thay đổi kiểu sẽ mở

ra Nhấp chuột chọn ô “Chi tiết” (1), chọn “Hiện nội dung của bản đồ” (2) và sau đó chọn biểu tƣợng trong danh mục các nội dung của lớp muốn thay đổi

Trang 39

2 Trong bảng chọn thả xuống, lựa chọn thuộc tính muốn hiển thị trên lớp của bản đồ

3 Chọn thuộc tính hiển thị và chọn kiểu vẽ cho bản đồ: Chọn thuộc tính hiển thị (1 và 2) Sau đó nhấp chuột vào ô “Tùy chọn” (3)

4 Chỉnh sửa kiểu kí hiệu và kích thước kí hiệu hiển thị: Sau khi đã nhấp chuột vào ô “Tùy chọn” (trình bày ở mục 3 bên trên), tiếp tục nhấp chuột vào biểu tượng “Thay đổi tất cả các kí hiệu” (1), sau đó tùy chọn kiểu kí hiệu (2)

và kích thước kí hiệu (3), sau đó chọn OK (4) Sau khi đã hoàn thành việc chỉnh sửa kiểu và kích thước kí hiệu, nhấp chuột vào ô “Hoàn tất” (5)

Ngày đăng: 18/11/2019, 22:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w