1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm về con người trong triết học của Friedrich Wilhelm Nietzsche

108 170 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau khi tham khảo các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, tác giả đặt ra hai nhiệm vụ nghiên cứu chính: thứ nhất, phân tích bối cảnh kinh tế xã hội, văn hóa tinh thần ở phương Tây nửa sau thế kỷ XIX và những tiền đề tư tưởng cho sự đời quan niệm của F. Nietzsche về con người. Thứ hai, phân tích làm rõ những nội dung chủ yếu của quan niệm F. Nietzsche về con người: về đạo đức của con người, về ý chí khát vọng quyền lực cá nhân và về quan niệm siêu nhân. Thứ ba, bước đầu đánh giá những giá trị và hạn chế của quan niệm F. Nietzsche về con người.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH

QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC

CỦA FRIEDRICH WILHELM NIETZSCHE

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH TRIẾT HỌC

Hà Nội – 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH

QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC

CỦA FRIEDRICH WILHELM NIETZSCHE

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết Học

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

1 Tính cấp thiết của đề tài 2

2 Tổng quan ti ̀nh hình nghiên cứu 4

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10

4 Cơ ̉ sở lý luâ ̣n và phương pháp nghiên cứu 10

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

6 Ý nghĩa khoa ho ̣c và thực tiễn 11

7 Kết cấu của luận văn 11

NỘI DUNG 12

CHƯƠNG 1 HOÀN CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG CHOSỰ RA ĐỜI QUAN NIỆM CỦA F NIETZSCHE VỀ CON NGƯỜI 12

1.1 Hoàn cảnh kinh tế - xã hội và văn hóa - tinh thần 12

1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội 12

1.1.2 Bối cảnh văn hóa - tinh thần 16

1.2 Tiền đề tư tưởng cho sự ra đời triết học F Nietzsche về con người 21

1.2.1 Nhân sinh quan trong triết học Hy Lạp cổ đại 21

1.2.2 Tự do ý chí con người của Schopenhauer 27

1.2.3 Ảnh hưởng từ âm nhạc của Richart Wargner 36

1.3 Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của F Nietzsche 38

Tiểu kết chương 1 45

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG TRIẾT HỌC CƠ BẢN TRONG QUAN NIỆM CỦA F NIETZSCHE VỀ CON NGƯỜI 46

2.1.Quan niệm của F Nietzsche về bản chất hiện thực của con người 46

2.2.Quan niệm của F Nietzche về hình thức biểu hiện của bản chất con người 63

2.3 Quan niệm của F Nietzsche về con người lý tưởng và con đường thực hiện nó 79

2.4 Một số nhận xét đánh giá 92

Tiểu kết chương 2 101

KẾT LUẬN 102

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Trang 4

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Có thể nói, thế kỷ XX là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của triết học phương Tây với hàng chục trào lưu triết học đan xen, nối tiếp nhau ra đời Các trào lưu triết học thời kỳ này đều cố gắng giải thích các vấn đề đa dạng của thế giới xoay quanh con người đặc biệt là vấn đề giá trị con người Mỗi một trào lưu triết học khác nhau đều cố gắng luận giải quan điểm của mình dưới một khía cạnh riêng biệt Trong đó, nếu những nhà triết học đời sống đề cao vai trò của ý chí con người thì chủ nghĩa hiện sinh lại đề cao vai trò của vấn đề tồn tại người, chủ nghĩa Freud lại đề cập đến con người chủ yếu từ vấn

đề vô thức và bản năng tính dục của nó Đa số các trào lưu triết học phương Tây hiện đại luôn có xu hướng liên kết với nhau, quan niệm trước làm tiền đề cho sự ra đời của quan niệm sau Để có thể nghiên cứu được các trào lưu triết học cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chúng ta không thể bỏ qua một giai đoạn quan trọng trong tiến trình phát triển lịch sử triết học - đó là trào lưu triết học đời sống Triết học đời sống là một xu hướng triết học phi duy lý ở Đức nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Các nhà triết học đời sống luôn cố gắng giải thích rõ ràng những vấn đề

về ý nghĩa, mục đích và giá trị của cuộc sống Những quan niệm được họ đưa

ra nhằm khắc phục những hạn chế của chủ nghĩa duy vật máy móc trên lập trường của chủ nghĩa phi duy lý, chủ nghĩa hư vô Một trong những triết gia tiêu biểu của triết học đời sống phải kể là Friedrich Wilhalm Nietzsche Ông

là một triết gia lớn người Đức nửa sau thế kỷ XIX, người được coi là một trong những đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa hiện sinh vô thần Khi F.Nietzschecòn sống các nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng đã bỏ qua những quan niệm vốn đã có ảnh hưởng sâu sắc trong thế kỷ XX của ông Hiện nay, các tác phẩm của F.Nietzsche đã được dịch ra tiếng Việt khá nhiều, tuy nhiên

Trang 5

chúng vẫn chưa nhận được nhiều sự quan tâm của các độc giả cũng như học giả ở trong nước Trên thế giới F.Nietzsche lại là người được đánh giá cao trong các lĩnh vực triết học, văn học, điện ảnh Đồng thời, những quan niệm của ông chính là tiền đề cho sự ra đời của các trào lưu triết học về sau Các nhà triết học đương thời coi ông như ông tổ của chủ nghĩa hiện sinh, là người khai phá chủ nghĩa hậu hiện đạivà chủ nghĩa nhân vị… Chính ông là người đã

đi ngược lại các quan điểm truyền thống khi đặt ra vấn đề xem xét lại các giá trị của con người Những quan niệm, học thuyết của ông nếu không được hiểu chính xác sẽ dẫn đến những cái nhìn sai lệch vềcuộc đời và sự nghiệp triết học của F.Nietzsche

Vấn đề con người đã và đang là vấn đề được quan tâm nhiều nhất trong lịch sử triết học Tất cả các trường phái triết học từ duy vật đến duy tâm, biện chứng hay siêu hình đều cố lý giải một cách trực tiếp hay gián tiếp những vấn

đề chung nhất về con người Như vậy, triết học nào cũng hướng đến con người và trở về với con người Việc giải quyết các nội dung xoay quanh vấn

đề con người là tiêu chí để phân biệt tính chất tiến bộ hay không tiến bộ của các hệ thống triết học trong lịch sử Chính vì vậy chúng ta phải có một cái nhìn đúng và toàn diện về những quan niệm của F.Nietzsche về con người để thấy được những đóng góp của ông trong tiến trình lịch sử triết học

Ở thế kỷ XX, chúng ta thấy sự khác nhau rõ rệt giữa những thành tựu của khoa học với những trang đen tối của thân phận con người Trong thế kỷ này, đúng như F.Nietzsche đã tiên đoán, con người đã giết Thượng đế để rồi trở nên sa đọa, hư hỏng, tàn bạo và điên rồ chưa từng thấy… Những gì con người trải qua trong những trận chiến tàn khốc chính là minh chứng rõ ràng nhất cho sự tàn bạo và sự suy giảm đạo đức con người Ngày nay những sự việc đó vẫn đang tiếp tục diễn ra với mức độ và hậu quả lớn hơn Vì vậy, việc xem xét lại những giá trị của con người là điều chúng ta nên làm

Trang 6

Mặt khác, trong những thập niên gần đây khi đất nước đang bước vào thời kỳ mở cửa hội nhập thì việc xem xét những giá trị của con người ngày càng trở nên cần thiết Tuy nhiên, thực tế cho thấy những nội dung liên quan trực tiếp đến con người chưa thực sự được chú trọng trong công tác giảng dạy

ở các bậc học.Mỗi cá nhân không nhận ra được cái tôi của mình đang ở đâu

và nó tồn tại như thế nào, họ chưa nhận thức được vai trò của bản thân, chưa

có những nhận thức về tương lai hay khát vọng được sống cho riêng mình,chưa tạo được ảnh hưởng nào đó đối với cộng đồng xã hội Quan niệm

về con người của F.Nietzsche sẽ cho chúng ta sự nhìn nhận sâu sắc hơn về ý nghĩa của cuộc đời mỗi cá nhân

Với ý nghĩa lý luận và thực tiễn như trên, tôi lựa chọn đề tài Quan

niệm về con người trong triết học củaFriedrich WilhelmNietzschelàm đề tài

nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của mình với mong muốn làm sáng tỏ những nội dung trong quan niệm triết học F.Nietzsche về con người

2 Tổng quan ti ̀nh hình nghiên cƣ́u

Các học giả phương Tây đã tìm hiểu và nghiên cứu những quan niệm triết học của F.Nietzsche từ rất sớm Nhiều nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu cuộc đời của F.Nietzsche để có thể hiểu một cách toàn diện về quan niệm của ông như Martin Heidegger, Felicien Challaye, Charter Andler, Karl Jasper… Trong đó đã có những tác phẩm của các tác giả phương Tây nghiên cứu về

F.Nietzsche được dịch ra tiếng Việt như: F.Nietzsche và triết học của Gilles Deleuze hay tác phẩm F.Nietzsche cuộc đời và triết lý của Felicien Challaye

Các tác phẩm này đều nói lên cuộc đời và sự nghiệp của F.Nietzsche ở nhiều góc độ khác nhau

Tác phẩm Nietzsche và triết học[12]là một tác phẩm sáng giá của tác

giả Gilles Deleuze được Bùi Văn Nam Sơn dịch và xuất bản vào năm 2010, tác phẩm đã trình bày một cách hệ thống về những quan điểm,quan niệm của

Trang 7

F.Nietzsche Tác giả đã trình bày những quan niệm , thuật ngữ quan tro ̣ng trong triết ho ̣c F Nietzsche theo mô ̣t hê ̣ thống từ đó đem la ̣i mô ̣t cách hiểu mới về triết ho ̣c F Nietzsche Với những phân tích chính xác và mang tính phê phán về triết học F.Nietzsche, Deleuze đã soi sáng tác phẩm của triết gia này, người vốn thường xuyên bị quy giản về chủ nghĩa hư vô, về ý chí quyền lực và về hình ảnh siêu nhân Deleuze đã nhận thấy trong triết học hiện đại trình bày những quan điểm mang sức sống mạnh mẽ nhưng nó cũng gây ảnh hưởng đối với tinh thần Những suy nghĩ của F.Nietzsche có một khả năng tranh luận lớn đối với triết học hiện đại lúc đó

Tác phẩm F.Nietzsche cuộc đời và triết lý[10]của Felicien Challaye

được dịch giả Mạnh Tường dịch và xuất bản đã đưa người đọc đi sâu tìm hiểu

về cuộc đời dữ dội đầy dao động và lôi cuốn của F.Nietzsche, những bước khởi đầu của tư tưởng F.Nietzsche những giai đoạn chịu ảnh hưởng của Schopenhauer và Wagner, những phê bình của F.Nietzsche về mọi quan niệm

đã có, sau hết là những mặc khải của F.Nietzsche về ý chí hùng tráng, lật đổ các giá trị, siêu nhân và trở về với vĩnh cửu Những nội dung được Felicien Challaye xem xét trong tác phẩm này bao gồm việc trình bày những phê bình của F Nietzsche về những quan điểm đã có, về siêu nhân, về tôn giáo chính trị, về nghệ thuật và cả khoa học Sau đó là những mặc khải của F Nietzsche

về ý chí quyền lực, về siêu nhân và vĩnh cửu

Ở mỗi một tác phẩm, các tác giả đều hướng sự nghiên cứu của mình vào cuộc đời nhiều biến cố của triết gia này để từ đó khái quát lại một cách hệ thống những quan điểm của F.Nietzsche Đây là nguồn tư liệu vô cùng quan trọng để các triết gia thời kỳ hiện đại có cơ sở nghiên cứu về những đóng góp của triết học F.Nietzsche cho triết học của nhân loại Những ghi chép của Gilles Deleuze và Felicien Challaye đều dựa trên những hoạt động và tác phầm của cả đời F.Nietzsche Cả 2 tác phẩm đều chỉ rõ cho người đọc thấy

Trang 8

được những giá trị về mặt nội dung, ý nghĩa của triết học F.Nietzsche đồng thời phê phán những mặt siêu hình hạn chế trong cái nhìn tiêu cực của ông về cuộc sống và tôn giáo

Mới đây nhất trong cuốn sách Dẫn luận về Nietzsche [35] của Michael

Tanner được Trịnh Huy Hóa dịch lại (2014) đã cho người đọc thấy bức chân dung của triết gia lừng lẫy với nhiều mảng sáng - tối tương phản gợi mở nhiều suy nghĩ về tình trạng con người ở thế kỷ F Nietzsche sống cũng như trong

xã hội hiện đại Các vấn đề được đề cập đến trong tác phẩm là bi kịch của sự sống, luân lý đạo đức và những dự báo của F Nietzsche về xã hội tương lai

Ở Việt Nam triết học của F.Nietzsche đã được tìm hiểu từ trước năm

1975 đặc biệt ở miền Nam Việt Nam Người đầu tiên tìm hiểu nghiên cứu về

F.Nietzsche là Nguyễn Đình Thi với cuốn Triết ho ̣c F.Nietzschexuất bản vào

năm 1942 Sau đó là sự ra đời của rất nhiều các công trình nghiên cứu về

F.Nietzsche như: F.Nietzsche và chủ nghĩa đi lên con người của Thế Phong

xuất bản năm 1967 Các tác phẩm nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh của các

tác giả cũng đã tập trung vào nghiên cứu triết học của F.Nietzsche như: Triết học hiện sinh của Trần Thái Đỉnh xuất bản năm 1967, Hiện tượng luận hiện sinh của Lê Thành Trị xuất bản năm 1974

Từ sau năm 1975 các công trình nghiên cứu về tư tưởng triết học F.Nietzscheđược thực hiện trên hai bình diện là văn học và triết học Trong

văn học có các tác phẩm: Những trường hợp giữa F.Nietzsche và văn học của Trần Mai Nhi được xuất bản năm 1993, hay cuốn F.Nietzsche: con người và tác phẩm của Zarathutra đã nói như thế của Hoàng Đức Bình được xuất bản năm 2004 Trong triết học có: Triết học phương Tây hiện đại của Lưu Phóng Đồng, Mười nhà tư tưởng lớn thế giới của Vương Đức Phong và Ngô Hiếu Minh, Phridrich F.Nietzsche của Lưu Căn Báo.Cả 3 tài liệu trên đều là công

trình của người nước ngoài được dịch sang tiếng Việt

Trang 9

Những tác phẩm kể trên là kết quả quá trình tìm tòi nghiên cứu lâu dài của các tác giả đã đưa người đọc khám phá ra nhiều điều mới mẻ trong các quan niệm của F.Nietzsche Các tác phẩm có đóng góp lớn trong quá trình nghiên cứu triết học F.Nietzshce lại xuất hiện trong vài chục năm trở lại đây, khi triết học hiện đại là trung tâm của tất cả các nghiên cứu Trong những

nghiên cứu về Triết học hiện sinh[4]của Trần Thái Đỉnh xuất bản năm

1967tác giả cũng đã cho người đọc thấy một khía cạnh mới của triết học F.Nietzsche khi đánh giá F Nietzsche là ông tổ của chủ nghĩa hiện sinh vô thần Tác giả không thông qua cuộc đời của F.Nietzsche để nhận định những quan điểm của triết gia này, ông nêu lên những quan điểm nổi bật trong tất cả các tác phẩm của F.Nietzsche như phê phán những giá trị cổ truyền và triết lý người hùng Những phân tích của tác giả Trần Thái Đỉnh cho đọc giả thấy được rõ nhất những nội dung quan trọng trong triết học F.Nietzsche, phê phán

là nội dung quan trọng trong triết học F.Nietzsche để muốn mọi người nhận thấy những giá trị vô song của cuộc đời Trần Thái Đỉnh đã cho người đọc thấy ngòi bút phê phán của F.Nietzsche dù muốn bảo vệ con người nhưng những từ ngữ F.Nietzsche dùng để phê phán lại có phần gay gắt và mang trong nó mầm mống của tội ác

Nổi lên trong những nghiên cứu về F.Nietzsche phải kể đến tác

phẩmPhridrich F.Nietzsche[1] của Lưu Căn Báo được xuất bản năm 2004 khi

triết học hiện đại đang được các triết gia nghiên cứu nhiều Tác phẩm được viết dựa trên những dấu mốc quan trọng của cuộc đời F.Nietzsche Những quan niệm của Nietzsche dần dần được mở ra dựa trên những biến cố lớn trong cuộc sống của ông, từ quãng thời gian ở trường đại học đến những ngày tháng phiêu bạt đều được F.Nietzsche kể lại trong tác phẩm của mình và điều

này đã được Lưu Căn Báo đúc rút lại trong tác phẩm Phridrich F.Nietzsche

Trang 10

Triết học F.Nietzsche hiện lên một cách rõ nét thông qua những đặc điểm về con người, tính cách và các biến cố lớn xảy ra trong cuộc đời ông

Tác phẩm F.Nietzsche triết nhân và thi nhân[13] của Trần Thanh Hà

được xuất bản năm 2009 đã đưa người đọc đến với cái nhìn khác về con người và sự nghiệp của F.Nietzsche Trong tác phẩm này tác giả đã có nhìn nhận khác về cuộc đời đầy thăng trầm của F.Nietzsche thông qua nghiên cứu những mối quan hệ của ông, đây cũng chính là tiền đề cho sự ra đời những quan điểm vô cùng quan trọng của F.Nietzsche Tác giả đã cho thấy những yếu tố ảnh hưởng đến triết học của F.Nietzsche như cuộc đời đầy bất hạnh, những mối quan hệ với Schopenhauer hay Wagner và điều quan trọng là bối cảnh xã hội phương Tây cũng ảnh hưởng vô cùng lớn đến những tác phẩm của F.Nietzsche Sau cùng trong tác phẩm, tác giả Trần Thanh Hà đã cho thấy một con người hoàn toàn khác của F.Nietzsche khi nhìn nhận ông dưới góc độ

là thi nhân Con người F Nietzsche khi là thi nhân có phần dịu dàng, thèm khát được yêu thương và là một gã si tình biết yêu tha thiết khác hoàn toàn F.Nietzsche với ngòi bút sắc nhọn và giọng văn phê phán

Trong những năm gần đây các chủ đề trong triết học F.Nietzsche ngày càng được nghiên cứu rộng rãi trong các công trình của các tác giả lớn như

Lược khảo triết học phương Tây hiện đại[3] của Nguyễn Tiến Dũng và Bùi Đăng Duy(2003), Diện mạo triết học phương Tây hiện đại [15] của Đỗ Minh

Hợp (2006) Các công trình này đều ít nhiều đề cập đến những tư tưởng cơ bản của F.Nietzsche, tuy nhiên các công trình nghiên cứu về tư tưởng của F.Nietzsche ở Việt Nam chỉ trình bày ở mức độ lý giải mội số nội dung cơ bản của triết học F.Nietzsche Những khía cạnh sâu trong nội dung về con người của triết học F.Nietzsche vẫn cần được nghiên cứu sâu và làm rõ hơn trong luận văn này

Trang 11

Trong Triết học phương Tây hiện đại [9] của tác giả Lưu Phóng Đồng

(2004) cũng chỉ ra vai trò của con người theo quan niệm của F.Nietzsche Những nội dung quan trọng của triết học F Nietzsche cũng được tác giả hệ thống hóa một cách chi tiết Trong đó, tác giả nhấn mạnh quan điểm phê phán của F Nietzsche với tư tưởng văn hóa và đạo đức cũ, đây cũng là phê phán sự chi phối của siêu hình học truyền thống đối với chủ nghĩa lý tính [9, 141]

Một công trình mới được công bố trong năm 2018 được nhiều đọc giả

chú ý đó là Friedrich Nietzsche và những suy niệm bên kia thiện ác[2] của tác

giả Phạm Văn Chung đã cho người đọc cái nhìn sâu sắc nhất về khía cạnh đạo

đức được bàn đến trong tác phẩm "Bên kia thiện ác" Tác giả đã đi sâu phân

tích nội dung ý nghĩa của từ “bên kia thiện ác” để thấy một cách tổng thể tinh thần của F Nietzsche khi tạo nên những quan niệm, tư tưởng, tri thức mới với những khả thể của chúng thuộc các lĩnh vực khác nhau được thể hiện trong

Bên kia thiện ác[2, 57]

Ngoài ra, còn có rất nhiều các bài tạp chí, luận văn, luận án tập trung

nghiên cứu về quan niệm của F.Nietzsche như: Tư tưởng đạo đức học của

trong Kỉ yếu hô ̣i thảo khoa học quốc tế năm 2007 của tác giả Đỗ Minh Hợp,

hay luận văn thạc sĩ Phê pha ́ n đạo đức Kitô giáo và chủ nghĩa phi đạo đức của F Nietzschedo Nguyễn Thị Thủy thực hiện đã nghiên cứu mô ̣t cách kĩ càng vấn đề đạo đức trong triết ho ̣c F.Nietzsche Luận văn Vấn đề con người trong triết học F Nietzschecủa Hồ Thị Mỹ Tình cũng đã bước đầu khái quát

được những quan niệm của ông về con người, tuy nhiên, sự nghiên cứu đó chỉ dừng lại ở cái nhìn tiêu cực trong quan niệm của F Nietzsche về con người

mà chưa thấy được những đóng góp của ông cho triết học hiện sinh, triết học đời sống hiện đại Trong luận văn này, quan niệm về con người của F.Nietzche sẽ được nghiên cứu dưới một góc nhìn khác, dựa vào bối cảnh của

Trang 12

thời đại và những ảnh hưởng của xã hội lúc bấy giờ.Tư tưởng của F.Nietzsche không chỉ là sự phê phán mà nó còn bộc lộ những khát khao của cá nhân muốn vượt qua chính bản thân mình Như vậy, quan niệm triết học của F.Nietzsche đã được nghiên cứu ở nhiều phương diện khác nhau, nhưng chưa

có luận văn, luận án nào đi sâu nghiên cứu quan niệm về con người trong triết

học của ông Chính vì thế, tôi chọn đề tài nghiên cứu Quan niệm về con người trong triết học của Friedrich WilhelmNietzsche với mong muốn ít nhiều khỏa lấp sự trống vắng đó

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích:Làm rõ một số nội dung chính trong quan niệm của

F.Nietzsche về con người, từ đó đánh giá về những giá trị và hạn chế của chúng

Nhiệm vụ:

+ Phân tích bối cảnh kinh tế -xã hội, văn hóa - tinh thần ở phương Tây nửa sau thế kỷ XIX và những tiền đề tư tưởng cho sự đời quan niệm của F.Nietzsche về con người

+ Phân tích làm rõ những nội dung chủ yếu của quan niệm F.Nietzsche

về con người: về đạo đức của con người, về ý chí khát vọng quyền lực cá nhân và về quan niệm siêu nhân

+ Bước đầu đánh giá những giá trị và hạn chế của quan niệm F.Nietzsche về con người

4 Cơ ̉ sở lý luâ ̣n và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sơ ̉ lý luận : Luận văn được th ực hiê ̣n trên cơ sở quan đi ểm về con

người của triết học Mác, của chủ nghĩa phi duy lý về con người, về đạo đức,từ đó tham chiếu quan điểm của triết học đời sống, về li ̣ch sử tư tưởng triết ho ̣c

Trang 13

- Phương pháp nghiên cứu : Luận văn sửdụng phương pháp luận biện

chứng duy vật với quan điểm: lịch sử, cụ thể, toàn diện và phát triển

Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp: phân tích và tổng hợp, diễn dịch và quy nạp, đối chiếu và so sánh,…

5 Đối tươ ̣ng và pha ̣m vi nghiên cứu

được thể hiện trong các tác phẩm chính của F.Nietzsche

- Phạm vi nghiên cứu: giới hạn chủ yếu ở các tác phẩm đã được dịch ra tiếng Việt của ông như: Bên kia thiện ác, Buổi hoàng hôn của những thần tượng, Zarathutra đã nói như thế, Nguồn gốc của bi kịch,Schopenhauer nhà giáo dục

6 Ý nghĩa khoa ho ̣c và thực tiễn

- Ý nghĩa khoa học: Luận văn này góp phần trình bày sâu hơn nội dung quan niệm con người củ a F.Nietzsche Từ đó làm rõ hơn ý nghĩa c ủa những quan niệm đó đối với triết học hiện sinh và đời sống xã hội hiện đại, đồng thời

gỡ bỏ những cách hiểu sai lệch với quan niệm của F.Nietzsche

- Ý nghĩa thực tiễn : Luận văn có th ể dùng làm tài liệu phục vụ nghiên cứu và giảng dạy các môn học về con người, lịch sử triết học… góp phần trình bày những quan ni ệm của F.Nietzsche về con người, từ đó tác giả nhận thấy trong quan ni ệm triết ho ̣c về con ngư ời của F.Nietzsche có chứa đựng những giá tri ̣ về lý tưởng sống, mục đích sống rất sâu sắc và thiết thực

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luâ ̣n văn gồm 2 chương và 7 tiết

Trang 14

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 HOÀN CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG CHO

SỰ RA ĐỜI QUAN NIỆM CỦA F.NIETZSCHE VỀ CON NGƯỜI

1.1.Hoàn cảnh kinh tế - xã hội và văn hóa - tinh thần

1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa duy lý nền văn minh kỹ thuật đã trải qua giai đoạn công nghiệp và những cuộc cách mạng xã hội từ thế kỷ XIX và thế

kỷ XX Ở giai đoạn này bối cảnh kinh tế xã hội châu Âu đang diễn ra những biến động về mọi mặt Cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên trên thế giới diễn ra ở nước Anh sau đó lan ra các nước Pháp, Đức, Nga, Mỹ, Nhật… Càng

về sau do điều kiện học hỏi được kinh nghiệm của các nước đi trước, thời gian thực hiện cách mạng công nghiệp diễn ra nhanh hơn và thành quả mà nó đem lại càng rõ rệt hơn Cuộc cách mạng công nghiệp có ý nghĩa to lớn đối với quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản Có thể coi cuộc cách mạng này

là sự khởi đầu cho hàng loạt những thay đổi của bộ mặt thế giới sau đó Trước hết, cuộc cách mạng công nghiệp đã làm thay đổi bộ mặt của chủ nghĩa tư bản, nó có tác dụng dọn sạch đường cho sự thống trị toàn diện của chủ nghĩa

tư bản Những thành tựu của cuộc cách mạng này đều được ứng dụng vào sản xuất dẫn tới sự đột phá trong năng suất lao động, tạo nên một khối lượng của cải đồ sộ bằng nhiều thế kỷ trước cộng lại Từ đó, khẳng định ưu thế kinh tế của chế độ tư bản trước chế độ phong kiến Sự phát minh ra động cơ hơi nước

có vai trò vô cùng quan trọng, đây được coi là phát minh có ý nghĩa quốc tế đầu tiên Nó được chế tạo ra không chỉ cho một vài lĩnh vực mà được áp dụng phổ biến cho mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, cũng chính động cơ hơi nước đã đẻ ra chủ nghĩa tư bản Khả năng lao động và sáng tạo của con người được phát huy cao độ, kỹ thuật cơ khí hóa ngày càng sâu rộng trong tất cả các

Trang 15

ngành các lĩnh vực.Đây là thời kỳ gắn với những thay đổi, biến động dữ dội trên mọi mặt ở châu Âu

Một kỷ nguyên mới bắt đầu: kỷ nguyên của chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa công nghiệp Các thành tựu trong khoa học, kỹ thuật, lý thuyết thực nghiệm đã chi phối các quá trình của xã hội, đem lại sự thay đổi lớn cho người dân châu Âu [15, 19].Sau gần một thế kỷ với những thay đổi mạnh mẽ

về kinh tế, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã tạo dựng được một khối lượng sản phẩm khổng lồ bằng tổng khối lượng của cải vật chất của loài người tạo ra trong lịch sử phát triển Kết quả của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất

đã làm sụp đổ hoàn toàn chế độ xã hội phong kiến và quan hệ sản xuất phong kiến, thay vào đó là xã hội tư bản chủ nghĩa tiến bộ hơn Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở Tây Âu về cơ bản đã được xác lập và phát triển mạnh

mẽ đang từng bước chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản đã chứng tỏ được tính ưu việt của mình so với các phương thức sản xuất trước đó Tuy nhiên, cùng với sự phát triển về kinh tế thì đời sống tinh thần của người dân châu Âu cũng có những mâu thuẫn gay gắt trong nhiều lĩnh vực đặc biệt là về chính trị, tôn giáo Đời sống của người dân trở nên căng thẳng, nhạy cảm và phức tạp hơn

Từ sự thay đổi một cách chóng mặt của kinh tế đã làm biến đổi sâu sắc đời sống chính trị, văn hóa, xã hội về cả tích cực lẫn tiêu cực Điều dễ dàng nhận thấy nhất trong sự đi lên của xã hội chính là đời sống con người ngày càng được nâng cao Khoa học kỹ thuật hiện đại đã làm giảm bớt sự tham gia của con người vào quá trình sản xuất đồng thời nâng cao được chất lượng sản xuất Tuy nhiên nền sản xuất mang tính xã hội hóa ngày càng cao càng làm cho sự phân chia giai cấp, sự phân hóa giàu nghèo trở nên gay gắt Nông dân thời kỳ này rơi vào bần cùng hóa và trở thành người không có tư liệu sản xuất

và buộc họ phải bán sức lao động đi làm thuê là chủ yếu Sự bùng nổ của quá trình đô thị hóa đã khiến cho tỉ lệ dân thành thị tăng đột biến và dân cư sống ở

Trang 16

nông thôn giảm nhanh Đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự ô nhiễm và các

tệ nạn xã hội gia tăng, khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, sự phân biệt giữa các giai tầng trong xã hội trở nên sâu sắc

Những thay đổi lớn về kinh tế dẫn đến sự thay đổi trong tư tưởng Trước sức ép của những hoạt động kinh tế, pháp luật đã được xây dựng nhằm điều tiết các hoạt động kinh tế, bảo vệ quyền và lợi ích của giai cấp cầm quyền Các thiết chế tôn giáo lớn đang mất dần ảnh hưởng Nếu như trước đây tôn giáo nắm vai trò thống trị trong đời sống tinh thần thì giờ đây khi khoa học kỹ thuật phát triển, đã khiến những thiết chế xã hội dần thay đổi theo hướng duy lý và làm lung lay vai trò của giáo hội Đời sống tinh thần của người dân châu Âu thay đổi, họ không còn tin tưởng tuyệt đối vào quyền lực của Chúa, chỗ dựa tinh thần của nhân dân châu Âu là Kitô giáo cũng dần giảm sút Người châu Âu lúc này được sống trong tư duy lý tính khi những chân lý khoa học đang dần thay thế cho những câu chuyện thần thoại của tôn giáo.Con người dường như bị phi nhân cách, bị tha hóa; tình trạng xã hội bất

an ngày càng gia tăng Nghiên cứu sâu vấn đề kỹ thuật, tiến bộ kỹ thuật, Karl Marx đã chỉ ra mặt trái của nó trong xã hội tư bảnlà những thành tựu khoa học làm suy đồi những giá trị tinh thần Xã hội phương Tây tiềm ẩn đầy những mâu thuẫn châm ngòi nổ cho các cuộc chiến tranh Trong xã hội phương Tây lúc này xuất hiện nhiều mâu thuẫn mới, đặc biệt là trong đời sống tinh thần: giữa một bên là những quan niệm truyền thống với những tập tục thành kiến của xã hội cũ đã tồn tại hàng trăm năm với bên kia là xã hội mới hiện đại với những quan điểm và chuẩn mực mới Con người lúc này đang đứng giữa sự khủng hoảng về giá trị, điều này đặt ra nhiệm vụ cho các nhà tư tưởng là phải xác lập hệ thống giá trị chuẩn mực Auguste Comte (1799 - 1857) đã thể hiện

sự tin tưởng vào những tiến bộ của khoa học và lợi ích mà kỹ thuật đem lại Ông đã đưa ra phân kỳ lịch sử gồm ba thời kỳ: thời kỳ thần học, thời kỳ siêu hình học, thời kỳ khoa học hay còn gọi là thời kỳ thực nghiệm Vào thời kỳ

Trang 17

thứ ba, cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế, về mặt tư tưởng, các trào lưu triết học mới cũng phát triển mạnh

Ở thế kỉ XIX, trong khi hầu hết các nước đều chọn con đường tư bản chủ nghĩa và đạt được những thay đổi rõ rệt về kinh tế thì ở Đức mọi thứdường như chưa có sự thay đổi rõ ràng Sau cách mạng 1848, nền đại công nghiệp Ðức bắt đầu phát triển nhanh chóng, đặc biệt ở Phổ Có thể nói rằng thời kỳ này Ðức từ một nước nông nghiệp chuyển sang một nước công nghiệp Giữa thế kỷ XIX, toàn bộ nước Ðức được lôi cuốn vào cao trào cách mạng công nghiệp Tuy nhiên, tình trạng thủ công nghiệp gia đình vẫn còn tồn tại khá nhiều và trước sự phát triển của công nghiệp, các ngành thủ công nghiệp ở Ðức cũng bị phá sản trầm trọng Trong đời sống chính trị tư tưởng nhân dân Đức đang bị chi phối bởi triết học duy tâm và tô n giáo, đă ̣c biê ̣t là triết ho ̣c của Hegel Lúc này ở Đức n ổi lên ba khuynh hướng đáng chú ý sau đây: xét lại truyền thống nhưng không vượt khỏi truyền thống; đối lập với truyền thống; chiết trung và cải lương Từ đó, có thể thấy đời sống tinh thần của nhân dân, xã hội Đức hoàn toàn bị tê liệt Ngay cả những người đấu tranh chống tôn giáo cũng không thoát khỏi hê ̣ thống triết ho ̣c của Hegel

Ngày nay, người ta vẫn nhìn cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất với con mắt đầy cảm phục Sự thay đổi cơ cấu ngành từ nông nghiệp sang công nghiệp, vai trò của công nghệ trong sản xuất được chú trọng, nhân tố con người giữ vai trò chủ đạo trong sự phát triển công nghệ hiện đại Những thành quả mà nó đem lại cho xã hội thời kỳ đó nói chung và nền tảng của kinh

tế thế giới sau này là không thể phủ nhận.Sự phát triển của khoa học, kỹ thuật

đã góp phần làm thay đổi cuộc sống con người trở nên tốt đẹp hơn, nhưng cũng vì nó mà giá trị nhân phẩm tương lai nhân loại bị ảnh hưởng Các giá trị truyền thống trước kia bị phá bỏ Con người châu Âu bàng hoàng, rơi vào cuộc khủng hoảng tín ngưỡng, khủng hoảng giá trị chưa từng có Từ những

Trang 18

rạn nứt của xã hội bấy giờ, nhiều chủ thuyết triết học, xã hội học ra đời chống lại chủ nghĩa công nghiệp, chủ nghĩa duy lý, tìm ra con đường thoát khỏi khủng hoảng Kierkegaad và F Nietzsche là những nhà triết học đời sống đã

cố gắng xây dựng lại các giá trị của đạo Kitô giáo

1.1.2 Bối cảnh văn hóa - tinh thần

F.Nietzsche nhận ra những gì đang diễn ra trong xã hội hiện đại, những tiến bộ về mặt vật chất không tự thân dẫn đến những tiến bộ về mặt tinh thần

Mà con người ngày càng chịu nhiều những áp bức bất công của giai cấp thống trị trong xã hội Do vậy, một nhiệm vụ mà con người cần thực hiện là giải phóng mình khỏi sự áp bức bên ngoài Một thực trạng quan trọng nữa là xã hội hiện đại đặt ra vấn đề tự do bên trong của con người Triết học con người F.Nietzsche ra đời để đặt lại những giá trị trong xã hội và giải phóng con người khỏi những gì đang tồn tại.Triết học con người của F.Nietzsche cũng là một bước ngoặt trong quan niệm triết học về con người Nó buộc người ta bắt đầu thừa nhận cần phải xem xét con người một cách cụ thể và sâu sắc hơn so với trước đây bằng những quan niệm về triết học siêu nhân và đạo đức con người

F Nietzsche sống ở thời kỳ mà những quyền cơ bản của con người đang dần mất đi Từ cuối thế kỷ XVIII sang đầu thế kỷ XIX, các cuộc cách mạng dân chủ tư sản dành được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng đã liên tiếp nổ

ra ở nhiều nước châu Âu và thu được nhiều thắng lợi về mọi mặt Giai cấp tư sản đang tạo dựng lòng tin trong nhân dân bằng những khẩu hiệu “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” Tất cả mọi mặt đời sống ngưởi dân châu Âu đều thay đổi, chính chế độ tư bản đã tạo nên sự thay đổi đó và đạt được những thành tựu phát triển kinh tế to lớn Sau khi giai cấp tư sản làm chủ về kinh tế, họ đã làm chủ cả chính trị, từ lúc đó chính các tập đoàn tư sản bắt đầu bộc lộ bản chất độc tài với sự bóc lột dã man đối với nhân dân lao động Tất cả những khẩu hiệu mà giai cấp tư sản nêu lên nhằm mục đích tạo dựng niềm tin đều đã

bị sụp đổ[15, 28]

Trang 19

Mơ ước của nhân dân lao động về một xã hội mới văn minh và tiến bộ hơn đều bị tan vỡ F Nietzsche là người đã nhìn thấy những mặt hạn chế của giai cấp tư sản, từ đó ông muốn làm rõ bộ mặt thật mà xã hội tư sản đang che giấu

Thứ nhất: khi xã hội tư sản phát triển và trở nên thắng thế cũng là lúc

xã hội công nghiệp hiện đạiđược hình thành Một trong những nội dung của nền công nghiệp hiện đại lúc này là muốn khẳng định sức mạnh của mình bằng cách đề cao vai trò của máy móc và cho rằng như thế nghĩa là nhân dân lao động sẽ được giải phóng khỏi tình cảnh nô lệ cho tầng lớp địa chủ thống trị Họ chỉ thấy máy móc đang dần thay thế cho sức lao động của con người, con người được tự do và giảm bớt sức lao động [15, 21] Nhưng F Nietzsche

đã thấy được hậu quả của nền công nghiệp hiện đại khi máy móc làm chủ Nhân dân lao động không bị lệ thuộc vào chủ như xã hội phong kiến mà lệ thuộc vào máy móc Con người lúc này chịu một tầng nô lệ nữa dưới đồng tiền do cơ chế thị trường của xã hội công nghiệp hiện đại gây nên F Nietzsche nhận thấy sự tự do thực sự của con người là khi con người tự chủ lấy mình mà không chịu tác động của hoàn cảnh xã hội Cùng với đó, xã hội

do giai cấp tư sản làm chủ đã đặt ra hàng loạt những nguyên lý đạo đức, thể chế nhà nước, các quy định về tôn giáo, pháp luật bắt con người phải tuân theo Con người luôn bị ràng buộc trong các nguyên tắc luật lệ hà khắc nên không thể gọi đó là xã hội tự do như giai cấp tư sản rêu rao

Thứ hai: Từ khi loài người xuất hiện mọi sự bình đẳng chỉ là tương đối Vậy mà ở chế độ tư bản chủ nghĩa, giai cấp tư sản lại nêu ra khẩu hiệu bình đẳng, đây phải chăng là một chiêu bài mà giai cấp tư sản đưa ra để thống trị

xã hội Sự bình đẳng tuyệt đối chưa bao giờ tồn tại trong xã hội loài người bởi những kẻ mạnh luôn là người nắm giữ quyền lực và gây áp lực lên kẻ yếu Đây chính là những gợi mở cho sự hình thành quan niệm về ý chí quyền lực

cá nhân của F Nietzsche Ông thấy rằng trong xã hội nào cũng vậy bản chất

Trang 20

của những người cầm quyền là sự sở hữu nhằm tạo dựng nên những nhà nước độc quyền

Giai cấp tư sản lúc này đề cao tinh thần bác ái, khi mọi người dân đã thấm nhuần tinh thần bác ái thì họ có thái độ nhẫn nhịn và cam chịu, đây chính là cơ sở cho giai cấp tư sản thao túng Sự tự do – bình đẳng – bác ái giúp F Nietzsche xây dựng nên tư tưởng về quyền tự do cá nhân, quyền tự do

cá nhân ở đây không phải là việc con người sử dụng bạo lực, phi nhân tính mà

F Nietzsche nhìn vào mặt trái của giai cấp tư sản, phủ nhận mặt trái của những gì giai cấp tư sản tuyên bố Xã hội tư sản được xây dựng trên nền tảng của chủ nghĩa duy lý, sự ra đời của xã hội mới bao giờ cũng dựa trên một hệ quả tất yếu nào đó Ở thời kỳ này, con người đang được sống trong giai đoạn đầu của thời đại văn minh công nghiệp, nền văn minh công nghiệp hiện đại đã đem lại cho con người nhiều giá trị to lớn, nhưng những mặt trái nó đem lại cho xã hội cũng không nhỏ Con người bị đặt trong hoàn cảnh sống làm nô lệ

về tinh thần, đây chính là điều khoa học tự nhiên không giải quyết được Các nhà triết học thời kỳ này bắt đầu đưa ra các học thuyết, quan điểm để đưa con người thoát khỏi sự cám dỗ hư ảo bên ngoài mà xã hội tư bản tạo nên và quay trở về với chính con người bên trong của mình Khi khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ con người đặt niềm tin tuyệt đối vào những gì khoa học đem lại mà không màng đến sự hao mòn dần những giá trị nhân văn cổ truyền hay giá trị đạo đức thiện ác Điều này có thể dẫn đến hậu quả làm mất đi tính nhân văn trong các mối quan hệ xã hội đương thời Những hạn chế của chế độ tư bản và giai cấp tư sản bộc lộ ngày càng rõ ràng, chủ nghĩa duy lý với tư cách

là hình thái ý thức cũng chứa đựng những mâu thuẫn bên trong vô cùng quan trọng Cho đến giữa thế kỷ XIX khi các cuộc cách mạng tư sản châu Âu ở Anh, Pháp, Đức dần lắng xuống, chế độ tư bản chủ nghĩa chính thức được xác lập thì những hạn chế của chúng mới bắt đầu bộc lộ rõ nét Xã hội hiện đại mà

Trang 21

nhà nước tư sản và chủ nghĩa duy lý đem lại cho người dân không phải là hạnh phúc toàn diện và sự phát triển đầy đủ về ý thức con người mà thay vào

đó là những khổ đau và sự tha hóa nhân cách con người Có thể nói từ đây chủ nghĩa tư bản ngày càng mất dần vị trí thống trị, con người mất dần niềm tin vào chủ nghĩa duy lý Trong bối cảnh đó, ở các nước phương Tây dấy lên làn sóng phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa duy lý truyền thống mà F Nietzsche cũng là người tham gia tích cực

Một trong những mục tiêu của các nhà triết học thời kỳ này chính là phá vỡ cơ sở của chủ nghĩa duy khoa học khi xã hội đặt những thành tựu về khoa học lên hàng đầu, những tư tưởng của các nhà triết học cho thấy họ đang loại dần đi sự thống trị của yếu tố khoa học, loại bỏ đi quyền lực của chủ nghĩa cơ giới Những thành tựu khoa học kỹ thuật thể hiện là nhân tố làm phức tạp hơn nữa bối cảnh tinh thần đang ngày càng trở nên phong phú và rối rắm hơn rất nhiều so với trước kia Quyền lực của kỹ thuật đặt ra vô số vấn đề gay gắt nhất, đòi hỏi cần phải được giải quyết Chỉ cần nhắc đến nguy cơ chiến tranh hạt nhân và hiểm họa sinh thái là ai cũng thấy rõ, song những vấn

đề đó chỉ là một phần của vô số vấn đề toàn cầu đang thật sự đe dọa đến sự tồn tại của loài người [15, 34] Ở thời đại này vấn đề đặt ra trong xã hội là phải giải phóng con người ra khỏi thế giới quan tôn giáo, giải phóng con người khỏi sự nô dịch của máy móc từ đó đặt con người vào vị trí trung tâm của xã hội

Nền văn minh phương Tây bắt đầu từ Socrates và Cơ đốc giáo đã làm con người ngày càng rơi vào trạng thái trụy lạc và tha hóa Sự suy đồi những giá trị của con người đã manh nha từ hàng trăm năm nhưng nó như dồn dập hơn vào thời gian cuối thế kỷ XIX Phương Tây thời kỳ này đối mặt với sự sụp đổ của nền văn minh đã tồn tại suốt nhiều thế kỷ và sự trỗi dậy của chủ nghĩa hư vô Nền văn hóa chân chính có sức sáng tạo bị suy tàn, văn hóa con

Trang 22

buôn xâm nhập vào các đô thị, cùng với nó là sức sống và xung động bản năng con người bị bóp nghẹt, con người lâm vào trạng thái bị tê liệt, sống không có mục đích, không có tự do Khoa học kỹ thuật mặc dù đạt những thành tựu vượt bậc nhưng tinh thần của con người thì lại ngày càng nghèo

nàn Trong Fridrich Nietzsche, Lưu Căn Báo đã nói rằng: “Nếu thần sáng tạo

ra tất cả, thế thì tại sao loài người không biến thành những con vật đớn hèn chỉ dựa vào bố thí, giống như những người truyền giáo suốt ngày chỉ quỳ lạy cầu xin vô tích sự Chúng ta đã là người thì cần phải sống ra dáng con người, hãy đứng lên rời bỏ hạnh phúc nô lệ!” [1, 101] Những giáo lýmà Cơ đốc giáo đang ca tụng đã bộc lộ tính giả dối và dần sụp đổ Con người dần mất đi chỗ dựa về tinh thần và lý tưởng do đó cũng mất đi những giá trị truyển thống [1,13-14]

Ở nửa sau thế kỷ XIX, nước Đức thực hiện sự thống nhất từ trên xuống dưới, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa trong nước phát triển nhanh chóng và từ chủ nghĩa tư bản tự do nước Đức đi rất nhanh lên chủ nghĩa đế quốc, nhưng chủ nghĩa đế quốc ở Đức được xác lập khi các nước trên thế giới đã chia xong thuộc địa Chủ nghĩa đế quốc Đức lúc này thể hiện đặc tính nóng vội bành trướng lãnh thổ, mở rộng thế lực Lúc này nước Đức đang ngủ quên trong chiến thắng Tuy nhiên những thắng lợi trên mặt trận chính trị không có nghĩa

đi kèm với thắng lợi về văn hóa Những thắng lợi về chính trị đang dần hủy diệt tinh thần nước Đức Nền văn hóa Đức dần mai một, không còn ý nghĩa, không thực chất

Đến nửa sau của thế kỷ XIX nhất là những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, hàng loạt những mâu thuẫn giai cấp trong xã hội Đức ngày càng nổi lên gay gắt, niềm tin của mọi người vào lý tưởng quốc gia và xã hội lý tính mà các nhà tư tưởng tán dương đã lụi tàn, tính hạn chế của siêu hình học truyền thống, của chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa lý tính đã bộ lộ rõ

Trang 23

ràng Trường phái triết học Hegel từng chiếm địa vị thống trị trong triết học Đức nay đã đến thời kỳ suy tàn, làn gió chuyển hướng trong lĩnh vực triết học

ở Đức và các nước phương Tây nổi lên mạnh mẽ Các vấn đề trong xã hội như tự do, giá trị, sự sống, lịch sử và văn hóa đang dần thay thế cho các vấn

đề siêu hình học truyền thống Các nhà triết học tập trung nghiên cứu về con người, về ý chí về sức sống của con người đã trở thành trào lưu có ảnh hưởng rộng rãi trong bối cảnh đó

F Nietzsche đã nhận thấy những quan niệm trật tự và đạo đức được lý tính thần thánh hóa trước đó nay đã bộc lộ những mặt tiêu cực, ngày càng trở nên mâu thuẫn gay gắt với hiện thực F Nietzsche nhận định rằng phải đánh giá lại những giá trị cổ truyền xưa cũ, chỉ ra con đường mới trong tương lai là việc làm bức thiết nhất đối với các nhà tư tưởng Những đòi hỏi này xuất hiện ngay từ thời Schopenhauer khi nó còn chìm đắm trong chủ nghĩa duy lý Đến nay nền văn minh phương Tây đã bước vào giai đoạn thay đổi nhiều chưa từng có F Nietzsche đã cho thấy sự nhanh nhạy của mình khi chỉ ra những biểu hiện đặc trưng của con người ở thế kỷ XIX Con người đang sống trong

sự sa đọa và chủ nghĩa hư vô đang làm chủ đời sống tinh thần của con người,

nó làm cho con người mất niềm tin vào sức sống của mình, làm cho con người trở thành nô lệ trước sức mạnh của kẻ khác không có khả năng trống đỡ

và mất đi quyền tự do Chính vì lẽ đó trong các tác phẩm của F Nietzsche hiện lên rõ nét nhất là tính chất phê phán những sai lầm của chủ nghĩa duy lý

1.2 Tiền đề tư tưởng cho sự ra đời triết học F.Nietzsche về con người

1.2.1 Nhân sinh quan trong triết học Hy Lạp cổ đại

Trong lịch sử văn minh thế giới, văn minh Hy Lạp với những thành tựu tuyệt vời và phong cách đặc sắc đã tạo nên một ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với phương Tây nói riêng và toàn thể nhân loại nói chung Hy Lạp cổ đại là cái nôi của nền văn minh phương Tây Không có Hy Lạp cổ đại thì không thể

Trang 24

tưởng tượng được văn minh phương Tây sẽ như thế nào và rõ ràng, châu Âu ngày nay mang dấu ấn truyền thống của nền văn minh Hy Lạp cổ đại Điều đặc biệt chính là việc nền văn minh Hy Lạp cổ đại xuất hiện một cách hết sức đột ngột và có thể xem đó là một bí mật vẫn cần được các nhà nghiên cứu, nhà khoa học tiếp tục giải mã F.Nietzsche coi nền văn minh Hy Lạp là nền văn minh đẹp nhất, được nhiều người thèm muốn nhất Người Hy Lạp đã sử dụng nghệ thuật để chế ngự nỗi đau, nỗi bi quan của mình Hình ảnh thần rượu Dionysus và thần mặt trời Apollo là những vị thần tượng trưng cho những mặt đối lập nhau trong xã hội Đây cũng là hai khái niệm quan trọng trong triết học về con người của F.Nietzsche Cuộc chiến trong xã hội Hy Lạp

cổ đại chính là việc giải quyết mối quan hệ đối kháng giữa thần mặt trời và thần rượu Theo F.Nietzsche thần mặt trời tượng trưng cho ánh sáng, cho những gì được coi là cái đẹp trong cuộc sống Ngược lại thần rượu thì lại tượng trưng cho những gì đau khổ, bế tắc, bi kịch của con người F.Nietzsche cho rằng những người Hy Lạp kết tinh những đức tính kiên cường, hoan lạc nhưng cũng từng có những đau khổ, bi kịch; từ đó họ chính là những người hiểu sâu sắc nhất cuộc sống nơi trần thế Hai vị thần này là hai thế lực đối lập vừa mâu thuẫn nhưng cũng vừa hỗ trợ bổ sung cho nhau Theo F.Nietzsche, triết học phải là nền triết học có cả hai yếu tố của thần rượu và thần mặt trời

Cuộc đời của Dionysos là một chuỗi những khổ đau bi thảm nhưng ông vẫn vươn lên hưởng thụ những thú vui của cuộc đời mà không có một chút oán hận Những gì Dionysos làm là nhìn vào sự đau khổ và tìm cách chống lại

sự đau khổ đó và thấy được những lạc thú ở trần thế để tiếp tục sống chứ không phải là thái độ phủ định lại sự đau khổ đấy Thái độ sống của Dionysos chính là cơ sở để thông qua đó F Nietzsche đưa ra quan niệm về tự do về ý chí sống của con người

Trang 25

Dionysos là một nhân cách khá phức tạp trong các vị thần, nhưng ông

là vị thần thể hiện được tính thống nhất của tất cả mọi thực thể và là hiện thân của sự sống Bởi, dù phải trải qua nhiều đau khổ, mất mát, hy sinh nhưng thần vẫn khẳng định và xác nhận cuộc sống Từ đây F Nietzsche cũng bộc lộ sự công kích của mình với những quan niệm lạc hậu của Kitô giáo, những niềm vui sự tốt đẹp của sự sống đều đã bị giáo lý của Kitô giáo biến thành những điều xấu xa dẫn đến hủy hoại con người Thần Dionysos đã gợi mở trong F Nietzsche những quan niệm về sức sống mãnh liệt của con người qua sự tái sinh của Dionysos

Bên cạnh hình ảnh của Dionysos là hình ảnh vị thần của ánh sáng, lý

tính, cái đẹp, trật tự – thần mặt trời Apollo Theo F Nietzsche, thần mặt trời

là tượng trưng của ngoại quan đẹp, còn ngoại quan của cái đẹp về bản chất là một loại ảo tưởng của con người Theo tinh thần Apollo, rằng con người, cuộc sống và định mệnh của hắn nằm ở trong quyền lực của những nguyên động lực tăm tối Dù bị chi phối và điều khiển bởi những ác lực như thế, nhưng con người cổ đại Hy Lạp, bằng sự lý giải của lý tính, vẫn có thể duy trì cuộc sống lạc quan, yêu đời trước những nghịch cảnh của sự đau khổ Trước ngưỡng cửa

của đền thờ Apollo tại Delphi, có ghi khắc hai phương châm: “hãy tự biết mình” và “hãy tiết độ”

Đây là hai kim chỉ nam để sống, để biết vai trò và bản chất của ta ở thân phận hữu tử làm người, tức là đã mang kiếp làm người thì phải chấp nhận tính hữu tử của mình, chấp nhận mọi khổ lụy, thử thách, hạn hữu và sự mong manh, dòn mỏng của kiếp người Hãy lạc quan, bằng lòng và an phận với mọi gian khổ, phải sống tiết độ, tìm cách trốn tránh chúng chỉ là khổ lực hoài công, nếu không muốn nói là căn nguyên của bi quan, tuyệt vọng Tinh thần của Thần mặt trời dạy cho con người giữ vững sự sống cá thể, lưu giữ lấy ảo mộng, quên đi đau khổ của cuộc sống – đây được coi là một loại nhân

Trang 26

sinh quan thẩm mĩ Thần mặt trời đã khoác một tầng ánh sáng đẹp lên vạn vật trên thế giới, khi người dân Hy Lạp tế thần Mặt trời rất nhiều thiếu nữ tay cầm cành nguyệt quế, xếp hàng chỉnh tề, từ từ di động đến miếu thờ thần Apollo tạo ra dáng vẻ bên ngoài trang nghiêm và tuyệt mĩ Nhưng tất cả những cái đó chỉ là mộng ảo, nó có khả năng làm cho con người quên đi những khổ đau, làm thỏa mãn ước nguyện trong ảo tưởng.Thần Apollo là hiện thân của khả năng xua đuổi và tránh né tai ương Điều này có liên quan đến quyền năng của thần trong việc xua tan bóng tối bằng ánh sáng mặt trời, và quyền năng về nhận thức lý trí với khả năng dự báo giúp xua tan sự hoài nghi và sự ngu dốt

Theo F Nietzsche, thái độ lạc quan như thế ở thời điểm trên đã bị gián đoạn do sự lưu nhập của những tư tưởng hay triết lý bi quan xuất phát từ phương Đông Đó là tinh thần Dionysus xuất hiện, tương phản với bối cảnh lạc quan và tích cực của tâm thức Apollo Thần Dionysus đã làm náo động và thức tỉnh Apollo bằng cách “lật tẩy”, hay “lột mặt nạ” trá hình của thái độ lạc quan, hời hợt và giả tạo ở trên Sự thật đó vốn được che đậy bởi lý tính và lập luận: trên thực tế, cuộc đời đầy những nguy hiểm, bạo loạn

Bi kịch Hy Lạp thời kỳ cổ đại được xây dựng với hợp khúc của Dionysos và Apollo Một mặt, những gì tốt đẹp trong thế giới “mộng” của trạng thái thần Apollo chính là tiền đề cho những bộ môn nghệ thuật Hy Lạp như nặn tượng, điêu khắc hay sử thi Mặt khác, trạng thái “say” sẽ làm cho chủ quan tan biến trong cái tôi lãng quên hoàn toàn, con người tìm đến thần Dionysos để quên đi những trạng thái ý thức hàng ngày, để quên đi hết những đau khổ của đời người, những bộ môn nghệ thuật như múa hát, âm nhạc của

Hy Lạp cũng từ đây mà được phát triển Truyền thống Hy Lạp xây dựng nên dưới những bi kịch khổ đau của Dionysos, hồi nhỏ ông bị lũ Titan xé xác thành từng mảnh và mẹ của ông bà Demeter đã sầu khổ để tang con nhưng bà cũng bất chợt tìm lại được niềm vui khi biết rằng con mình còn có thể sinh ra

Trang 27

một lần nữa Nghệ thuật mặc khải trong văn hóa Hy Lạp đã cho chúng ta thấy rằng chủ nghĩa cá nhân là nguyên nhân gây nên tội ác nhưng cũng cho họ thấy rằng con người luôn có hy vọng về một ngày mai hữu thể sẽ quay trở lại sau khi vượt qua những trông gai Từ những bi kịch Hy Lạp cổ đại cho chúng ta thấy rằng những bi kịch đích thực sẽ cho chúng ta miềm an ủi siêu hình trong

tư tưởng rằng cuộc sống dù có những điều giả dối hay những thử thách vẫn luôn tồn tại hy vọng về những nguồn vui vô tận Đặt con người trong những

bi kịch của cuộc đời, F Nietzsche có lẽ tìm thấy ẩn sâu trong những người dân Hy Lạp là những con người giàu bản năng sống, và từng chịu những đau khổ nặng nề, họ sẽ hiểu sâu sắc hơn tính chất bi kịch của cuộc sống Họ xuất phát từ nhu cầu tự vệ đối với đời sống, nên có nhu cầu hoan lạc thích thú đối với cái đẹp với nghệ thuật cho nên thần Dionysos và Apollo là những vị thần cứu tinh cho cuộc sống đau khổ của họ

F Nietzsche cho rằng tinh thần của Dionysos quan trọng hơn tinh thần của Apollo, bởi lẽ Dionysos thể hiện sức sống vô cùng vô tận, bên trong vị thần này mọi xung động nguyên thủy của con người đều được giải phóng chứ không bị trói buộc bởi bất cứ quan niệm, nguyên tắc lý tính nào cả Thế giới của Dionysos là thế giới say sưa mà ở đó tính người của con người được bộc

lộ đầy đủ, sinh mệnh của cá nhân và sinh mệnh của thế giới hòa vào làm một,

đó là thế giới vượt qua lý tính.F Nietzsche cũng cho rằng cuộc sống con người cũng cần có đau khổ, nếu không có đau khổ thì cuộc sống sẽ trở nên tẻ nhạt, đau khổ mới làm khơi lên sức sống của con người, mài dũa ý chí của con người, kích thích sức sống của con người, làm cho con người cảm thấy cuộc sống vui vẻ Triết học hiện đại là triết học phải có đủ tinh thần của Dionysos và tinh thần Apollo, trong đó tinh thần Dionysos giữ vai trò trọng yếu, tinh thần Apollo là thứ yếu giúp con người giữ vững sự sống cá thể, quên

đi khổ đau của cuộc sống

Trang 28

Một trog những triết gia Hy Lạp có ảnh hưởng đến F.Nietzsche phải kể

đến Socrates Câu châm ngôn của thần Apollo “Hãy nhận thức chính mình” đã thu hút sự quan tâm của ông và xâm chiếm tâm trí ông Hơn thế

nữa, chính châm ngôn này đã trở thành đòn bảy cho hoạt động triết học và quy định trước phương hướng tìm kiếm chân lý trong triết học Socrates Xôcrát lĩnh hội châm ngôn này như lời kêu gọi nhận thức nói chung, làm sáng

tỏ mục đích, vai trò và giới hạn nhận thức của con người so với sự thông thái của thần linh nói riêng Như vậy, ngay từ đầu, đối với Socrates, vấn đề nhận thức không phải là ở những chi tiết vụn vặt, mà là ở nguyên tắc nhận thức của con người về vị trí và vai trò của mình trong thế giới

Sự thâm nhập của Socrates vào thực chất những vấn đề của con người

đã thôi thúc ông không ngừng tìm kiếm con đường nhận thức mới, chân thực Sự quan tâm triết học của Socrates đến hệ vấn đề về con người và nhận

thức của con người, theo chúng tôi, đã đánh dấu bước chuyển của ông từ triết

học tự nhiên sang triết học đạo đức Điều này được thể hiện ở chỗ, con người

và vị trí của nó trong thế giới đã trở thành vấn đề trung tâm của đạo đức học Socrates và là đề tài chủ yếu trong mọi cuộc đối thoại của ông.Socrates dùng phương pháp đối thoại vì ông tin đây là cách đảm bảo nhất để đạt được tri thức chắc chắn Ông cho rằng mọi người ai cũng biết lẽ phải, họ sẵn sàng làm theo lẽ phải nếu được thức tỉnh Do đó, ông không rao giảng, nhưng thuyết phục người khác bằng kỹ thuật đặt câu hỏi Qua đối thoại, Socrates muốn giúp ông cũng như người đối thoại tìm ra chân lý, nhận thức chính mình, đi từ hiểu biết mơ hồ đến nhận thức rõ ràng về các khái niệm đạo đức như: công bằng, bất công, thiện và ác, cái đẹp và dũng cảm F.Nietzsche nhận thấy có

lẽ Socrate chính là tiêu biểu đầu tiên của khuynh hướng hiện sinh Nhưng F Nietzsche lại đứng ở phía đối lập Socrates, F.Nietzsche hiểu rằng, Socrate là

Trang 29

người đã thay thế quan niệm bi kịch về cuộc đời của thời kỳ khai nguyên triết

lý Hi Lạp bằng một kiến thức lý thuyết lấy tri thức làm con đường đạo đức

Thông qua việc nghiên cứu văn hóa Hy Lạp, Nietzsche đã nhận thấy ý nghĩa của cuộc sống, coi đó là điểm xuất phát cho toàn bộ hệ thống triết học của mình

1.2.2.Tự do ý chí con người của Schopenhauer

Nói đến chủ nghĩa duy ý chí chúng ta không thể không nhắc đến Athur Schopenhauer (1788-1860) Arthur Schopenhauer là một triết gia duy tâm người Đức Ông được vinh danh là một trong những triết gia nổi tiếng nhất ở

thế kỷ XIX Các tác phẩm chủ yếu của Schopenhauer có thể kể đến là: Thế giới ý chí và biểu tượng (1819), Bàn về ý chí tự nhiên (1836), Hai vấn đề cơ bản của luân lý học (1841) Có một điều không may cho Schopenhauer là các

tác phẩm của ông khi mới xuất bản không được công chúng đón nhận và sức ảnh hưởng của Schopenhauer cũng chưa rộng với lý do các tác phẩm của ông chủ yếu thể hiện sự phê phán lý tính, cổ vũ chủ nghĩa bi quan nên không phù hợp với xã hội Đức lúc bấy giờ Ông luôn tự an ủi mình rằng những tác phẩm của mình không dành cho những người đương thời mà nó dành cho những thời đại sau này Quả thực điều ông nghĩ là đúng, đến năm 1848, cuộc cách mạng ở nước Đức thất bại đã làm cho giai cấp tư sản Đức thất vọng, chủ nghĩa Mác đang lan rộng trong giai cấp vô sản đã làm cho mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản trở nên gay gắt Tâm lý của người dân lúc này là không tin vào lý tính, né tránh thực tế và cầu an Từ đây triết học của Schopenhauer được mọi người biết đến và ông trở thành triết gia vĩ đại trong lòng công chúng Những người có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến tư tưởng của Schopenhauer có thể kể đến Kant, Platon và Phật giáo Ông phê phán mạnh

mẽ hệ thống triết học của chủ nghĩa lý tính truyền thống, những quan điểm trong hệ thống triết học của ông được xây dựng nên nhờ những khuôn khổ cơ

Trang 30

bản của sự phê phán này Tác phẩm Thế giới ý chí và biểu tượng chính là

minh chứng tiêu biểu cho hệ thống lý luận bao trùm tất cả về tồn tại thế giới

Năm 1865 khi đang theo học đại học, F Nietzsche thường dạo bộ một mình để tự an ủi Ông luôn cảm thấy mình lẻ loi chịu đựng những thể nghiệm đau khổ, luôn thấy thất vọng và sống không có nguyên tắc, không có hy vọng, không có những hồi tưởng thân thiết, thường xuyên cảm thấy u uất âm thầm

suy nghĩ về mọi thứ Chính lúc này ông đã tình cờthấy được cuốn Thế giới ý chí và biểu tượng trong một hiệu sách cũ Ông đã mua về và ngày đêm nghiền

ngẫm về nó Trong tác phẩm của F Nietzsche viết về những cống hiến của Schopenhauer, ông bày tỏ: “sự êm ả dịu dàng rắn rỏi ôm lấy ta ngay những phát âm đầu tiên nơi giọng nói của ông, tỉ như lúc ta đi vào rừng, ta hít sâu hơi thở và bất ngờ cảm thấy một khinh khoái sâu xa Ta hít được ở làn khí vững chãi và lành mạnh, cảm thấy được một thứ thung dung, một thứ tự nhiên độc đáo, phẩm tính của những kẻ bên trong không những thấy êm ả cõi lòng

mà bên ngoài còn ngự trị cả một khoảng trời phong phú” [31, 24] F Nietzsche cảm thấy Schopenhauer hình như đặc biệt viết riêng quyển sách ấy cho ông Trong suốt hai tuần sau đó ông ép bản thân mình hai giờ sáng mới lên giường đi ngủ, đúng sáu giờ sáng thức giấc, ông đã mải miết đọc sách của Schopenhauer quên ăn quên ngủ

Thế giới ý chí và biểu tượng là tác phẩm hội tụ đầy đủ những quan

điểm cốt lõi của Schopenhauer trong việc nhìn nhận con người và thế giới Qua tác phẩm này có thể hiểu được cơ bản toàn bộ tư tưởng của tác giả Tác phẩm đã bộc lộ rõ quan điểm của Schopenhauer về thế giới với hai mệnh đề: thế giới là biểu tượng của tôi và thế giới là ý chí của tôi Trong mệnh đề thứ nhất ông cho rằng thế giới là biểu tượng tức mọi vật trong thế giới này đều cần lấy chủ thể làm điều kiện Lý giải điều này nhiều người cho rằng thế giới chỉ tồn tại khi chính chủ thể tồn tại trong nó và sức mạnh của sự sống không

Trang 31

phải bằng biểu tượng mà bằng trực giác Do đó, con người muốn nhận thức được biểu tượng thế giới bên ngoài thì cần có sự hoạt động của chủ thể đó là ý chí Và hình thức của nhận thức và chân lý dù có đa đạng và đặc biệt đến đâu cũng không tách rời hình thức cơ bản phân lập chủ - khách thể, trong đó khách thể là tồn tại tương đối so với chủ thể Điều này cho thấy Schopenhauer không coi khách thể và chủ thể tồn tại độc lập với nhau mà chúng cùng tồn tại tương đối với nhau trong thế giới biểu tượng Thế giới biểu tượng chính là nơi

có thể dung hòa được chủ thể và khách thể Từ mệnh đề thứ nhất Schopenhauer đã bộc lộ thái độ phê phán chủ nghĩa duy vật vốn khẳng định

có đối tượng tồn tại khách quan bên ngoài ý thức Ông đồng thời phê phán chủ nghĩa duy tâm vốn coi chủ thể là thực thể tồn tại độc lập, Hegel đã lấy ý niệm tuyệt đối là một chủ thể độc lập Những quan niệm của Schopenhauer trong việc giải quyết mối quan hệ giữa khách thể và chủ thể dần dẫn đến những sai lầm Đó là thế giới biểu tượng của Schopenhauerchỉ giúp nhận thấy mặt nhận thức luận chứ chưa nhìn nhận mối quan hệ đó đưới góc độ bản thể luận Schopenhauer đã dung hòa chủ thể và khách thể vào trong cùng một thế giới biểu tượng mà không thấy “sự tồn tại của bản thân vật không dựa vào tâm (tinh thần), chỉ khi làm khách thể, chúng mới dựa vào cái tâm của chủ thể Mà cái tâm thì là sản phẩm của vật không thể tồn tại độc lập được” [9, 122]

Trong mệnh đề thứ hai Schopenhauer nêu thế giới là ý chí của tôi nhằm khẳng định bản chất của thế giới bắt nguồn từ ý chí.Ông cho rằng ý chí là cái tôi chân thực, hoạt động của thân thể chính là hoạt động ý chí được khách thể hóa Kết luận cuối cùng của Schopenhauer chính là thế giới là ý chí và biểu tượng, ý chí là vật tự tại của thế giới, mọi hiện tượng đều là khách thể hóa của

ý chí tức biểu tượng Như vậy, ý chí đã trở thành hòn đá tảng trong hệ thống triết học của Schopenhauer Ông nhận thấy rằng chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm đều không thể trình bày đầy đủ học thuyết của mình, chúng đối

Trang 32

lập chủ thể và khách thể với nhau Schopenhauer cho rằng tính thứ nhất của vật chất phủ định đối tượng nhận thức dựa vào chủ thể của nhận thức, tính thứ nhất của tinh thần phủ định chủ thể nhận thức tồn tại tương đối với khách thể, cho nên ông nêu lên bản thể luận ý chí Muốn nhận thức được thế giới con người cần vượt qua được cách nhận thức phân tách chủ thể khách thể hay nói cách khác con người cần vượt ra khỏi thế giới biểu tượng Nội dung cốt lõi của ý chí mà Schopenhauer muốn đề cập đến đó chính là ý chí sinh tồn được biểu hiện ra thành bản năng của cá thể tìm đến sự sinh tồn mãnh liệt Ông đề cao bản năng sinh tồn của con người ở chính năng lực tư duy thông minh, nhận thức và vượt qua được khó khăn để tồn tại Điều quý giá nhất đối với mỗi cá thể là được sống nên chỉ cần được sống con người sẽ làm được mọi thứ bằng ý chí, nếu không được sống tất cả sẽ mất hết ý nghĩa Theo Schopenhauer ý chí không phải là một phần của ý thức cũng không phải là phẩm chất của con người cũng không phải là yếu tố được tạo ra từ lý tính Ý chí chính là bản năng sống có sẵn luôn tồn tại trong mọi sự vật hiện tượng Theo cách hiểu chung nhất thì ý chí của Schopenhauer chính là ý chí của vũ trụ do đó nó có tính tự do, tồn tại bất biến trong không gian và thời gian Ý chí của ông không chịu tác động của các sự vật hiện tượng trong thế giới, nó hoạt động theo bản năng tồn tại của bản thân Sự bất biến của ý chí được nâng lên thành năng lực đấu tranh sinh tồn của các sự vật hiện tượng trong thế giới Ông bác bỏ quan niệm của chủ nghĩa duy lý truyền thống, tiêu biểu là quan điểm của Decartes khi cho rằng “Tôi tư duy tôi tồn tại” là sai, theo Schopenhauer ý chí phải thay thế cho lý tính Con người trước tiên cần có ý chí sau đó mới nhận thức được thế giới hay lý tính chỉ là phương thức thể hiện của ý chí Ý chí chính là biểu hiện bên trong của thân thể, thân thể là biểu hiện bên ngoài của ý chí Ông coi thân thể như là điều kiện, là nơi trú ngụ của ý chí còn bản chất hay cái quyết định bên trong sự tồn tại của con người là ý chí Chỉ có ý chí mới có thể giải thích được những hành vi, hành

Trang 33

động hay sự tồn tại của con người Nếu bản chất của con người phụ thuộc vào

ý chí thì bản chất của thế giới cũng là ý chí, vì con người nằm trong thế giới cho nên mọi sự vật hiện tượng của con người cũng do ý chí chi phối Kết luận ông đưa ra khẳng định thế giới là ý chí và biểu tượng, mọi sự vật hiện tượng trong thế giới đều là sự khách thể hóa của ý chí

Từ hai mệnh đề trong Thế giới ý chí và biểu tượng Schopenhauer đã đặt

ra một vấn đề, từ bản năng sinh tồn của mình con người sẽ biết vượt qua những khó khăn thử thách tuy nhiên nó cũng thúc đẩy sự mong muốn được hưởng thụ và được thỏa mãn Ông chỉ ra rằng con người trở nên mất ý chí là

vì con người không được thỏa mãn với dục vọng của họ Schopenhauer là người chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng của Phật giáo, ông biết rằng con người sinh ra đã phải chịu những khổ đau, nhưng bằng bản năng sinh tồn và ý chí con người dần trưởng thành thông minh và có khả năng chống lại những đau khổ của cuộc đời Ông cũng chỉ ra con đường để có thể chống lại khổ đau, bi quan trong mỗi con người là bằng ý thức chấp nhận, bằng ý chí và lòng dũng cảm mà con người có thể vươn lên Suốt cả cuộc đời con người sẽ phải đối mặt với những khổ đau tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau như lo âu, sợ hãi, bệnh tật, hư vinh Theo cách lý giải của Schopenhauer, con người ai cũng phải chịu khổ đau và cuộc đời này là một hành trình của chuỗi các bi kịch nối tiếp nhau Căn nguyên của khổ đau còn bắt nguồn từ việc dù con người có thỏa mãn dục vọng nhưng đó lại trở thành sự đau khổ vô ích Lý giải điều này có thể hiểu dục vọng của con người cũng như lòng tham không đáy, cho dù có thỏa mãn được ở thời điểm này nhưng sự thỏa mãn đó không kéo dài mãi, còn dục vọng của con người là cái không thể mất đi do vậy sự thỏa mãn dục vọng đó là vô ích Bản thân mỗi cá nhân đều ích kỷ, từ lòng ích kỷ

sẽ sinh ra những mối nguy hại cho bản thân và người khác Mỗi người luôn đặt bản thân mình lên cao nhất, đều muốn biến bản thân mình thành trung tâm

Trang 34

vì thế họ sẽ không từ bỏ những thủ đoạn kể cả việc làm hại đến người khác để đạt được mục đích cá nhân Kết quả của những thủ đoạn đó là cá nhân không đạt được mục đích của mình không thỏa mãn bản thân đồng thời làm tăng thêm sự đau khổ bất hạnh cho những người xung quanh Cuối cùng khi con người ngày càng trưởng thành, khả năng nhận thức của họ ngày càng tăng cao thì họ lại càng nhận thức được những vấn đề mới mẻ làm tăng sự đau khổ đến mức không thể gạt bỏ nó Schopenhauer chứng minh rằng sự đau khổ của con người dần trở nên sâu sắc hơn khi ý chí của họ ngày càng cao Thế giới ý chí của Schopenhauer chính là việc con người phải tìm ra con đường giải thoát cho chính mình để không phạm phải những sai lầm, không làm hại đến người khác.Nếu xóa bỏ mọi dục vọng ham muốn thì khi đó con người sẽ không còn khổ đau Con người cần thoát khỏi sự ràng buộc của những mối quan hệ giữa

cá nhân và xã hội, phủ định cá nhân hóa, khi đó chủ thể đạt tới cõi Niết Bàn Những quan niệm của Phật giáo đã hằn sâu trong tâm thức của Schopenhauer khiến ông luôn suy ngẫm đễn cái chết để xóa bỏ mọi khổ đau cũng như tìm mọi cách để giải thoát khỏi cuộc đời Dưới con mắt của Schopenhauer cuộc đời này đúng như Phật giáo đã dạy từ lúc sinh ra đến lúc chết đi chỉ toàn bi ai khổ đau

Schopenhauer và ý chí luận của ông đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến phân tâm học, triết học đời sống và chủ nghĩa hiện sinh sau này Chủ nghĩa duy ý chí là một bộ phận thuộc trào lưu triết học nhân bản triết học phương Tây hiện đại Là triết học duy tâm đề cao tác dụng ý chí của con người, thậm chí biến nó thành nền tảng và điểm xuất phát của mọi tồn tại Chủ nghĩa duy ý chí ra đời trong bối cảnh lịch sử khi giai cấp tư sản châu Âu đã mất tính cách mạng và mâu thuẫn của hình thái ý thức, kiến trúc thượng tầng của nó biểu lộ

rõ ràng… Chủ nghĩa duy ý chí phản ánh sự phản ứng của tầng lớp phản động bảo thủ nhất trong giai cấp tư sản châu Âu lúc bấy giờ đối với lý luận cách

Trang 35

mạng có đặc trưng lý tính.Vấn đề mà Schopenhauer đặt ra cho tất cả các nhà triết học là con người có tự do ý chí hay không? Nhiều vấn đề bản thể luận không chỉ giải thích bằng kinh nghiệm, lý trí ở trong phạm vi thế giới sự vật hiện tượng mà còn được giải thích bằng bản năng tâm lý vô thức Ông nhận thấy rằng đời sống con người không còn phụ thuộc vào các yếu tố vật chất, hay thế giới ý niệm mà do chính hoạt động tuyệt đối của ý chí cá nhân, ý chí

vũ trụ quyết định

Quan điểm ý chí của Schopenhauer ra đời trong bối cảnh phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được củng cố và phát triển Lúc này mâu thuẫn giữa các giai cấp, các tầng lớp trong xã hội càng trở nên gay gắt Hàng loạt các cuộc cách mạng liên tiếp nổ ra đã thể hiện rõ sự khủng hoảng cả về kinh tế, chính trị lẫn ý thức của các giai cấp trong xã hội Cuộc cách mạng nổ ra ở nước Pháp năm 1789 đã giáng một đòn chí tử vào niềm tin của các nhà triết học, các nhà khoa học Hệ tư tưởng cách mạng tiến bộ mà giai cấp tư sản Pháp hướng đến là “tự do – bình đẳng – bác ác” đã bộc lộ mâu thuẫn ngày càng gay gắt với chính hiện thực đời sống trong lòng xã hội tư bản Xã hội tư bản châu Âu lâm vào tình trạng suy đồi khiến cho các cá nhân không thể tự

do phát triển do vậy cần phải lên án xã hội hiện tại để xây dựng nên một xã hội mới nhân văn hơn Schopenhauerkhẳng định triết học Kant là cửa ngõ để

đi vào triết học của ông, ai muốn hiểu ông người đó cần hiểu Plato, Kant và triết học Ấn Độ Ông khẳng định tính hai mặt của thế giới đó là thế giới biểu tượng và thế giới ý chí Trong đó mặt biểu tượng của thế giới xuất phát từ trực giác của chủ thể là sản phẩm do chính chủ thể sáng tạo ra Mệnh đề “Thế giới là biểu tượng của tôi” và “vạn vật chỉ là biểu tượng và các biểu tượng chỉ

có ở con người” Trong mệnh đề này ông nhấn mạnh vai trò quan trọng của chủ thể, nếu chủ thể khác nhau thì biểu tượng cũng khác nhau Sự khác nhau giữa trực giác của mỗi cá nhân gây nên sự khác nhau giữa biểu tượng của họ

Trang 36

Thế giới như biểu tượng của tôi và được đem lại qua sự thể nghiệm của tôi Mặt thứ hai chính là thế giới của ý chí, ý chí theo ông không phải là một phần của ý thức mà là bản năng là năng lượng tồn tại ở bên trong mọi sự vật hiện tượng Thế giới biểu tượng có được là do sự khách thể hóa của ý chí mà ra Con người chính là khách thể hóa cao nhất của ý chí

Không như Hegel với quan niệm lịch sử vận hành có định hướng tới cùng đích là tinh thần thế giới, lịch sử của Shopenhauer hoàn toàn không hướng về một cứu cánh nào cả Hay cứu cánh nếu có, duy nhất chỉ là tiếp nối mạch sống bất tận của ý chí biểu hiện qua thế giới hiện tượng Với Shopenhauer, đối tượng của dục vọng là nhằm thỏa mãn hay chiếm đoạt sở hữu, và sự thỏa mãn đó giống như những thèm muốn xác thịt, bảo xong nhưng không bao giờ xong, mọi thỏa mãn dục vọng chỉ là nhất thời và không bao giờ trọn vẹn và vĩnh viễn cả Đó là cội nguồn của sự bất hạnh và khổ đau Dưới ảnh hưởng sâu nặng của Phật giáo, Shopenhauer đưa ra bốn con đường giải thoát: thứ nhất là trầm tưởng nét đẹp: bằng sự chiêm ngưỡng và thưởng ngoạn những nét đẹp của thiên nhiên hay những tác phẩm nghệ thuật, sẽ giúp

ta tạm thời quên đi mọi lo âu khắc khoải, phiền muộn của đời sống Thứ hai là lắng nghe âm nhạc: âm nhạc giúp ta “thoát ly” hay “nhập hồn” vào thế giới của âm thanh, quên đi bản ngã và thân phận nghiệt ngã của mình Nhưng cũng giống như việc trầm tuởng vẻ đẹp, chỉ là tạm thời Thứ ba là khai hóa

lòng trắc ẩn: mọi sinh thể đều chịu chung một số phận khổ lụy, có lòng trắc ẩn

với tha nhân, với mọi loài không chỉ để xoa dịu nỗi đau khổ của họ mà còn là

sự cảm thông đồng loại Thứ tư là đình chỉ khát vọng sống: theo

Shopenhauer, đây là phương thức triệt để nhất khả dĩ vô hiệu hóa mọi hệ lụy khổ đau, nhất là ở bản năng tồn hữu nơi con người

Đối với F Nietzsche khi đọc được Thế giới ý chí và biểu tượng của

Schopenhauer ông đã tìm thấy ánh sáng cho những tháng ngày khổ đau của

Trang 37

mình Trong tác phẩm Schopenhauer nhà giáo dục, F.Nietzsche đã thốt lên

rằng “Tôi là một trong những kẻ khi đọc mấy trang đầu tiên của Schopenhauer đã biết chắc chắn sẽ đọc đến trang sau chót, sẽ chõ tai lắng nghe tiếng đồng vọng cuối cùng của ông Niềm tin tôi đã đặt vào ông tức khắc

đó, nó còn giữ được như vậy đến chín năm sau Tôi biết ngay rằng ông viết cho tôi, nếu ông cho phép tôi bày tỏ một cách dễ hiểu, nhưng điên rồ và thiếu nhã nhặn như thế” [31, 23] Có một điều dễ hiểu khi F Nietzsche tỏ ra vui mừng phấn khích khi đọc được tác phẩm của Schopenhauer là ông có một tuổi thơ u buồn, đơn độc, những người thân xung quanh ông lần lượt ra đi, những hoàn cảnh, số phận khổ đau mà xã hội gây nên đã khiến tác phẩm của Schopenhauer trở nên ám ảnh với F Nietzsche Điều chạm đến tâm hồn sâu thẳm của F Nietzsche chính là sự ngay thẳng, niềm vui và sự kiên trì của Schopenhauer F Nietzsche viết: “Ngay thẳng vì ông nói và viết cho ông, nhắm đến cho chính ông, niềm vui ví bằng tư tưởng cật lực nhất ông mang đến cho ta bao nhiêu là chiến thắng, sau cùng kiên trì vì ông không bao giờ là ông cả Tôi có cảm giác mình đã tìm thấy nhà triết học, người giáo dục hằng bao lâu đã mỏi mòn con mắt đợi Hẳn nhiên chỉ là qua trung gian sách

vở, và đấy là cái thiếu sót vô cùng quan trọng cho tôi Tôi gắng hết sức mình

để lãnh hội những gì ở bên kia sách vở, để hình dung con người sinh động còn lưu lại cho tôi bản chúc thư vĩ đại, kẻ chỉ chọn lựa người thừa kế ở những

ai muốn và có thể làm hơn một người đọc: là con và là học trò” [31, 28-29].F Nietzsche đã tin tưởng và đề cao những quan điểm của Schopenhauer cho đến khi ông tự mình xây dựng nên những quan điểm riêng biệt, đó là bởi những mâu thuẫn trong chính quan điểm của Schopenhauer khi ông cho rằng ý chí có

ở mọi sự vật hiện tượng, mà không nhận ra rằng chỉ có con người có mục đích mới có ý chí Từ những quan điểm của Schopenhauer, F Nietzsche đã xây dựng nên cho mình hệ thống triết học với những góc độ nhìn nhận mới hơn, tích cực

Trang 38

hơn và phù hợp hơn Ý chí luận của Schopenhauer chính là một trong những nguồn gốc lý luận của chủ nghĩa hiện sinh, của triết học đời sống

Trong khi con người tự trói buộc mình bởi các xiềng xích và giáo lý khô cứng thì Schopenhauer đã chỉ dạy, và rao giảng cho một lối sống tự do, tự tại, khai thác những yếu tố bản thể nguyên thủy trong sáng của thuở hồng hoang Lý thuyết của Schopenhauer là nền tảng cho triết học hiện sinh, lý thuyết phân tâm học sau này phát triển mạnh mẽ Bởi vậy nhà soạn nhạc vĩ đại Richard Wagner đã sáng tác trong giai đoạn từ năm 1848 đến năm 1869 tặng cho Schopenhauer chùm Opera “Der Ring des Nibelungen” (Chiếc nhẫn của người Nibelung), một tác phẩm âm nhạc được đánh giá là đã có ảnh hưởng lớn đến nền văn hóa hiện đại.Còn F Nietzsche thì cho rằng Schopenhauer là nhà giáo dục vĩ đại nhất sau đấng Jesus cho nền triết học và

tư tưởng Tây Âu

1.2.3 Ảnh hưởng từ âm nhạc của Richart Wargner

Nhà soạn nhạc kiêm nhạc trưởng, đạo diễn kịch và nhà lý luận âm nhạc người Đức Richard Wagner sinh ngày 22/5/1813 ở khu buôn bán “Zum roten und weißen Löwen” ở thành phố hội chợ Leipzig Cuộc đời Richard Wagner đầy sôi động với những thăng trầm khi ông là người tiên phong dùng kỹ thuật chất nửa cung (chromatism), cấu trúc đối âm (contrapuntal) Điều đó đã tạo ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển của nền âm nhạc châu Âu.Trong phong cách âm nhạc của mình, Richard đã thể hiện những quan điểm khác nhau về chế độ xã hội thời ông sống, đó là sự kỳ thị của một người đàn ông sinh ra trong một gia đình nghèo.Wagner là người quan tâm nhiệt tình đến trạng thái tâm lý cao đạo kiểu tư sản của người Đức dành cho Chúa, Vua và đế chế.F.Nietzsche vàWagner quen nhau khi còn học tại trường đại học Lepzig F Niezsche là người cho rằng Wagner đã đem lại ý tưởng về

“super man” (siêu nhân)

Trang 39

Quãng thời gian sống tại Thụy Sĩ, âm nhạc của Wagner thể hiện được

tư tưởng tự do, chống lại những quan niệm cổ hủ trong xã hội bấy giờ và người nhạc sĩ đã đem đến cho thính giả một dòng nhạc đầy sức sống mãnh liệt với niềm vui tươi mới Tác phẩm Tristan của Wagner là tác phẩm đã truyền cảm hứng mạnh mẽ cho F Nietzsche, nó đã dựng nên một con người nghị lực phi thường, xoa dịu những vết thương trong tâm hồn ông, đem đến cho ông những khát vọng về về một cuộc sống tốt đẹp hơn trong tương lai Những u uất, bi thương mà Schopenhauer đề cập trong tác phẩm của mình đều được bản nhạc của Wagner xoa dịu, nó làm mờ đi những vết đen tối trong bức tranh

bi ai về cuộc đời Tác phẩm âm nhạc của Wagner thời kỳ này là sự hòa hợp giữa thi ca – âm nhạc và cuộc sống Âm nhạc đó chuyển hóa ý chí khát vọng thành sức sống cho con người Wagner cho F Nietzsche thấy trong xã hội đầy rẫy những luật lệ khắt khe nhưng con người vẫn luôn đấu tranh vươn lên thể hiện tình yêu với cuộc sống Nhà triết học trẻ F.Niezsche tìm thấy và ngưỡng

mộ con người lý tưởng lẫn con người nghệ sỹ trong Wagner.Thậm chí, đối với F.Niezsche thì Wagner đứng ở vị trí thứ hai sau nhà triết học Schopenhauer F.Nietzsche nhìn thấy trong Wagner hình bóng người anh hùng của Dionysus… Vào năm 1873, F.Nietzsche đã viết cho Wagner rằng ông không còn tin tưởng bất cứ điều gì thành thật ở trong con người Wagner nữa Cuộc tan vỡ này được ấn định chính thức vào 9 năm sau, khi F.Nietzsche đến nghe vở “Parsifal”, thứ mà ông gọi là đạo Cơ đốc được cải biên cho những người hâm mộ Wagner F.Nietzsche biết rằng Wagner là một người theo thuyết vô thần nhưng điều đó đã thay đổi hoàn toàn khi Wagner lấy Cosima F.Nietzsche mặc dù có quan hệ rất thân thiết với Wagner nhưng vẫn

cứ hoài nghi về tín ngưỡng của Cosima Đó không còn là điều bí mật bởi F.Nietzsche đã biên tập rất nhiều bức thư bút chiến chống đạo Cơ đốc của Wagner F.Nietzsche vốn thấu hiểu Wagner hơn bất kỳ ai, nên đã cảm nhận

sự cơ hội chủ nghĩa và thiên về tín ngưỡng trong “Parsifal” Wagner là người

Trang 40

quan tâm nhiệt tình đến trạng thái tâm lý cao đạo kiểu tư sản của người Đức dành cho Chúa, Vua và đế chế F.Nietzsche biết rằng đó là sự ngượng ngùng của Wagner nhằm thỏa mãn công chúng và thứ tâm lý số đông Và đó là đoạn kết của một tình bạn đẹp Wagner có thể sau này đã sống rất lâu nhưng F.Nietzsche thì nghiền ngẫm về sự thất vọng và lưu giữ phần nào sự tin tưởng

về việc có khả năng đóng góp vào cuối sự nghiệp

1.3.Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của F.Nietzsche

Friedrich Wilhelm Nietzsche sinh ngày 15/10/1844 trong một gia đình theo đạo Tin Lành tại Roecken, tỉnh Thuringe, nước Đức.Cha của F.Nietzsche

là một mục sư đạo Tin Lành tại Roecken chính vì vậy ông được giáo dục rất

kỹ về trí và đức dục Cha của F.Nietzsche đã đặt tên ông theo tên của vua là Friedrich Wilhelm Nietzsche bởi ông sinh ra đúng vào ngày sinh nhật lần thứ

49 của Vua Friedrich Wilhelm IV nước Phổ Khi F.Nietzsche lên năm tuổi thì cha ông qua đời và gia đình ông phải rời đến vùng Naumburg sinh sống Khi

đó F.Nietzsche là người đàn ông duy nhất trong nhà bên cạnh mẹ, bà ngoại, hai người cô ruột và người em Elisabeth Vào tuổi này F Nietzsche đã tỏ ra là một cậu bé mộ đạo, thông minh, lịch thiệp và đã được người ta đặt cho biệt danh là ông mục sư con Sinh ra đã mang những bất hạnh khi bản thân ông bị khuyết tật bẩm sinh, ốm yếu lại bị chứng đau đầu mắt kém nên ông thường bị mọi người khinh thường chế nhạo Đây chính là lý do khiến tâm hồn của ông cảm thấy cô đơn, u uất Ngay từ lúc còn nhỏ và đến thời niên thiếu ông đã sáng tác rất nhiều bài thơ và bản nhạc, những ca khúc ca ngợi tổ tiên gốc Ba Lan của mình, những bá tước dòng họ Nietzski bị ngược đãi phải trốn khỏi quê hương Ông sớm đặt ra những câu hỏi nghi ngờ cuộc đời như: chúng ta là ai? Chúng ta từ đâu đến?

Từ năm 14 tuổi(1858) F.Nietzsche được nhận học bổng vào trường Schulpforta, nơi nổi tiếng đã từng đào tạo ra Klopstock và Fichte Trong thời

Ngày đăng: 18/11/2019, 22:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w