1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thân phận con người qua ca dao cổ truyền người Việt

119 181 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tập hợp và hệ thống được tư liệu phản ánh Thân phận con người trong ca dao cổ truyền người Việt trong bộ “Kho tàng ca dao người Việt”. Trình bày được một vài quan niệm về thân phận con người trong tôn giáo, triết học, văn học… đồng thời giới thuyết một vài khái niệm liên quan đến đề tài Phân tích về nội dung và nghệ thuật để làm sáng tỏ thân phận con người, đặc biệt là người nông dân và phụ nữ được thể hiện qua ca dao cổ truyền người Việt, từ đó, cung cấp cho mọi người những hiểu biết sâu hơn về thân phận con người trong xã hội phong kiến.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

Hà Nội, tháng 8 năm 2018 Người viết luận văn

Nguyễn Thị Nhinh

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài: “Thân phận con người qua ca dao cổ truyền

người Việt” và toàn bộ nội dung luận văn không phải là sự sao chép bất cứ

một công trình khoa học hay luận văn nào đã được công bố trong và ngoài nước Tôi cũng xin cam đoan các tài liệu tham khảo mà tôi sử dụng để hoàn thành luận văn đã được trích nguồn đầy đủ và chính xác

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới các thầy cô trong khoa Việt Nam học và Tiếng Việt, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc Gia Hà Nội đã giúp đỡ và truyền dạy cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quãng thời gian học tập, nghiên cứu tại trường

Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Việt Hương, người đã dành nhiều thời gian quý báu tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi luôn nhận được sự giúp

đỡ, đông viên của bạn bè và những người thân trong gia đình

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 2

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 11

6 Đóng góp của luận văn 11

7 Cấu trúc luận văn 12

PHẦN NỘI DUNG 13

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 13

1.1 Quan niệm về thân phận con người trong xã hội 14

1.1.1 Khái niệm thân phận con người 14

1.1.2 Thân phận con người theo quan niệm Nho giáo 15

1.1.3 Thân phận con người theo quan niệm Phật giáo 16

1.1.4.Thân phận con người trong Triết học Hiện sinh 18

1.2 Thân phận con người trong Văn chương 19

1.2.1 Thân phận con người trong Văn học thế giới 19

1.2.2 Thân phận con người trong Văn học Việt Nam 21

1.3 Giới thiệu về Ca dao người Việt 25

1.3.1 Khái niệm Ca dao cổ truyền 25

1.3.2 Nội dung của Ca dao cổ truyền người Việt 26

1.3.3 Đặc trưng nghệ thuật của Ca dao cổ truyền người Việt 27

1.4 Ca dao cổ truyền của người Việt với vấn đề con người 30

Tiểu kết chương 1 33

Chương 2: THÂN PHẬN NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG CA DAO CỔ TRUYỀN NGƯỜI VIỆT 34

2.1 Đời sống vật chất của người nông dân 37

2.1.1 Những khó khăn trong công việc hàng ngày 37

Trang 6

2.1.2 Đời sống nghèo khổ, túng quẫn 42

2.2 Đời sống tinh thần của người nông dân 46

2.2.1 Các hủ tục nặng nề 47

2.2.2 Sự áp bức bóc lột của giai cấp thống trị 50

2.2.3 Sự phản kháng lại những bất công của người nông dân 52

Tiểu kết chương 2 55

Chương 3: THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG CA DAO CỔ TRUYỀN NGƯỜI VIỆT 56

3.1 Đời sống vật chất của người phụ nữ trong xã hội phong kiến 57

3.2 Đời sống tinh thần của người phụ nữ trong xã hội phong kiến 59

3.2.1 Vị trí của người phụ nữ trong xã hội cũ 59

3.2.2 Bi kịch về thân phận người phụ nữ 65

3.3 Từ tiếng nói than thân đến tiếng nói phản kháng 72

Tiểu kết chương 3 75

Chương 4: PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN THÂN PHẬN CON NGƯỜI TRONG CA DAO CỔ TRUYỀN NGƯỜI VIỆT 76

4.1 Một số biểu tượng 77

4.2 Ngôn ngữ 84

4.3 Thời gian và không gian nghệ thuật 87

4.3.1 Thời gian 87

4.3.2 Không gian nghệ thuật 91

Tiểu kết chương 4 94

PHẦN KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

PHỤ LỤC……… ……… 102

Trang 7

Văn học dân gian luôn gắn liền và thể hiện những nỗi niềm của người nông dân lao động thấp cổ bé họng trong thời kỳ phong kiến Đặc biệt, trong

xã hội xưa, thân phận người phụ nữ luôn bị xem thường, coi nhẹ bởi quan niệm trọng nam khinh nữ đã ăn sâu vào tâm thức của mọi người Cùng với các thể loại văn học khác, ca dao ra đời đã diễn tả tâm hồn, tư tưởng, tình cảm, cảm xúc đa dạng của nhân dân Do đó một trong những nét chủ đạo của

ca dao truyền thống là sự thể hiện hết sức phong phú tư tưởng tình cảm của con người nói chung, người phụ nữ, người nông dân nói riêng Ca dao viết về vấn đề người phụ nữ là một vấn đề hết sức hấp dẫn và lôi cuốn, bởi qua đó phần nào ta hiểu được đời sống tâm hồn, tình cảm của họ trong xã hội xưa và nay

Qua việc tìm hiểu bước đầu, chúng tôi nhận thấy hình ảnh của người phụ

nữ được phản ánh qua ca dao cổ truyền khá đậm nét Điều đó cho thấy người phụ nữ Việt Nam đã giữ một vai trò quan trọng đặc biệt trong lao động sản xuất và hoạt động xã hội Tuy nhiên xã hội phong kiến lại đánh giá thấp kém vai trò của họ, đẩy họ vào cảnh cùng đường tuyệt lộ

Hơn nữa, khi tiếp cận với kho tàng ca dao cổ truyền của dân tộc chúng tôi nhận thấy thân phận của con người là một trong những vấn đề nổi bật

Trang 8

2

Thực ra, thân phận con người không phải là vấn đề mới mẻ trong các nghiên cứu về ca dao Tuy nhiên, để có một cái nhìn hệ thống hơn và lý giải chúng rõ

hơn từ góc độ Việt Nam học, chúng tôi chọn Thân phận con người qua ca

dao cổ truyền người Việt làm đề tài nghiên cứu cho luận văn này

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Ca dao là một thể loại trong loại hình trữ tình Dân gian được các nhà nghiên cứu văn học và folklore học quan tâm từ lâu Rất nhiều các công trình sưu tầm cũng như nghiên cứu về ca dao được xuất bản Có thể nói, cho đến nay, chúng ta đã có một kho tàng khá đồ sộ các công trình sưu tầm, nghiên cứu về thể loại này Tùy theo góc độ nghiên cứu, các nhà nghiên cứu có những cách tiếp cận khác nhau Có thể kể ra một số các nhà nghiên cứu, sưu tầm khá tiêu biểu về Văn học Dân gian nói chung và Ca dao Việt Nam nói riêng như: Vũ Ngọc Phan, Cao Huy Đỉnh, Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật, Hoàng Tiến Tựu v.v…

2.1 Những công trình sưu tầm Ca dao

Công tác sưu tập, biên soạn ca dao cũng như dân ca đã bắt đầu cách đây

từ hai thế kỷ và công trình sưu tập ca dao sớm nhất mà chúng ta được biết là

Nam phong giải trào (cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX) của tác giả Trần

Liễu Am Có thể ca dao đã được sưu tầm từ sớm hơn nhưng dù sao thì chúng

tôi cũng không biết được những công trình có trước Nam phong giải trào Sau

đó, từ thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, các nhà Nho đã biên soạn khá nhiều

công trình về Ca dao, tục ngữ như Nam phong ngạn ngữ thi (thế kỷ XIX) của tác giả Ngô Đình Thái, tác giả Ngô Giáp Đậu với Đại Nam quốc tuý (thế kỷ

XIX),… Đó là những công trình bằng chữ Nôm, còn những công trình bằng chữ quốc ngữ thì ngay từ trước cách mạng tháng Tám đã xuất hiện khá phong

phú, trong đó không thể không kể đến Phong dao, ca dao, phương ngôn và

tục ngữ (1936) của Nguyễn Văn Chiểu Sau cách mạng tháng Tám, thuộc loại

Trang 9

3

công trình sưu tập, biên soạn ca dao có quy mô có thể kể đến các công trình:

Tục ngữ dân ca, ca dao Việt Nam của Vũ Ngọc Phan (in lần thứ nhất năm

1956) Đây là một tác phẩm có giá trị sâu sắc về nhiều mặt, được tái bản nhiều lần Tác giả chú trọng về chất lượng hơn số lượng trong việc chọn những câu, những bài sáng tác của nhân dân Công trình này là kết quả của nhiều năm nghiên cứu, tập hợp được khá nhiều tinh hoa tục ngữ, ca dao, dân

ca của cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Tuyển tập tục ngữ ca dao Việt Nam (2003) do Nguyễn Cừ, Nguyễn Thị

Huế, Trần Thị An biên soạn có 758 trang Đây là công trình sưu tầm được số lượng tương đối lớn những câu tục ngữ, ca dao trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam

Được đánh giá cao nhất là bộ Kho tàng ca dao người Việt của các tác giả

Nguyễn Xuân Kính (chủ biên) - Phan Đăng Nhật - Phan Đăng Tài - Nguyễn Thúy Loan - Đặng Diệu Trang (4 tập) Đây là công trình sưu tầm đầy đủ nhất, công phu nhất từ trước đến nay Những câu ca dao được sắp xếp theo thứ tự chữ cái đầu, giúp người đọc dễ dàng tra cứu, tìm hiểu Đây thực sự là tài liệu tham khảo hữu ích cho người đọc muốn tìm hiểu về ca dao Việt Nam

Công trình sưu tầm gần đây nhất về ca dao đã được xuất bản đó là cuốn Tục

ngữ ca dao Việt Nam (2014) của Ngọc Hà Tác giả đã sưu tập, tuyển chọn

những câu ca dao, tục ngữ hay, ý nghĩa và tương đối điển hình của kho tàng

ca dao, tục ngữ Việt Nam Tác giả xếp các câu ca dao tục ngữ theo chủ đề giúp người đọc dễ dàng tiếp cận nghiên cứu

Trên đây là những nét sơ lược về công tác sưu tầm biên soạn ca dao Việt Nam từ trước đến nay Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, ca dao không chỉ dừng lại ở mức độ là đối tượng để biên soạn, sưu tầm mà ca dao, tục ngữ đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như văn học, ngôn ngữ học, xã hội học…

Trang 10

4

2.2.Những công trình nghiên cứu về Ca dao

2.2.1 Những công trình nghiên cứu về Ca dao nói chung

Ca dao là mảnh đất màu mỡ đối với các nhà nghiên cứu văn học nói chung và văn học dân gian nói riêng Bên cạnh những công trình sưu tầm về

ca dao, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ca dao trên nhiều khía cạnh với những vấn đề và cách triển khai khác nhau

Năm 1973, Giáo trình Văn học Dân gian Việt Nam do Đinh Gia Khánh

chủ biên cùng tác giả Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn đã được tái bản bổ sung nhiều lần Đây là một cuốn sách có nhiều đóng góp cho việc học tập nghiên cứu về văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng Đặc biệt là

chương: Các thể loại văn học dân gian Việt Nam Cụ thể hơn là Các thể loại

trữ tình dân gian, trong đó có ca dao

Năm 1992 với cuốn Thi pháp ca dao, Nguyễn Xuân Kính đã nghiên cứu

một cách có hệ thống các yếu tố thi pháp trên nhiều khía cạnh: Ngôn ngữ, thể thơ, kết cấu thời gian không gian nghệ thuật, một số biểu tượng hình ảnh truyền thống trong ca dao Có thể nói đây là cuốn sách có giá trị lớn trong việc cung cấp cho độc giả những tri thức vừa cụ thể vừa khái quát về thi pháp

ca dao

Bên cạnh công trình nghiên cứu một cách khá toàn diện về thi pháp ca dao nói trên cũng có những công trình khác nghiên cứu về một khía cạnh của

thi pháp ca dao như: Nghệ thuật ca dao (1984) của Minh Hiệu; Khảo sát

phương thức tổ chức ngôn ngữ của ca dao (1987) của Nguyễn Phan Cảnh; Cấu tứ trong thơ trữ tình dân gian và những truyền thống nghệ thuật của ca dao dân ca Việt Nam (tái bản: 1991, 1997) của Chu Xuân Diên; Công thức truyền thống và đặc trưng cấu trúc của ca dao dân ca trữ tình (1997) của Bùi

Mạnh Nhị; Những thế giới nghệ thuật ca dao (1998) của Phạm Thu Yến; Tiếp

cận ca dao bằng phương pháp xâu chuỗi theo mô hình cấu trúc (1999) của

Trang 11

5

Triều Nguyên; một số bài viết trong cuốn sách Những vấn đề thi pháp văn

học dân gian (2003) của Nguyễn Xuân Đức v.v…

Ngoài ra, còn có những công trình nghiên cứu, phê bình, bình giảng ca

dao trong đó phải kể ra một số các công trình tiêu biểu như: Ca dao Việt Nam

và những lời bình (2007) của Vũ Thị Thu Hương; Bình giảng ca dao (1992)

của Hoàng Tiến Tựu; Bình giảng ca dao (2001) của Triều Nguyên; Văn học

dân gian (1972) của nhóm tác giả Đinh Gia Khánh (chủ biên); Cấu trúc ca dao trữ tình (2004) của Lê Đức Luận v.v… Đây là những công trình nghiên

cứu, bình giảng về ca dao, nghiên cứu ca dao dưới nhiều góc độ, phương diện

cụ thể nhằm đưa ra cho người đọc một cái nhìn đa chiều về ca dao Việt Nam Bên cạnh đó còn một số luận văn, luận án khoa học nghiên cứu về ca dao

dưới góc độ văn học, văn hóa như: Luận án Biểu tượng nghệ thuật trong ca

dao truyền thống người Việt (năm 2001) của Nguyễn Thị Ngọc Điệp đã bước

đầu tiến hành phân loại, miêu tả và tìm hiểu hệ thống biểu tượng nghệ thuật trong ca dao từ nhiều phương diện như: nguồn gốc và con đường hình thành biểu tượng, sự vận động của biểu tượng trong từng chỉnh thể đơn vị hoặc

nhóm đơn vị ca dao; Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Hằng Phương với đề tài: Sự

chuyển đổi thi pháp từ ca dao cổ truyền đến ca dao hiện đại (trên tư liệu ca dao trữ tình người Việt) (2004) Trong luận án này, tác giả đã tìm ra yếu tố

truyền thống và yếu tố cách tân trong ca dao cổ truyền và ca dao hiện đại về phương diện thi pháp Luận án bước đầu phát hiện và lý giải những quy luật

cơ bản chi phối sự chuyển đổi thi pháp từ ca dao cổ truyền đến ca dao hiện đại

Góp phần xây dựng nên chân dung con người qua ca dao phải kể đến biện pháp miêu tả con người được các tác giả dân gian sử dụng Nguyễn Thị

Thúy Loan trong luận văn Thạc sĩ với đề tài: Vấn đề miêu tả ngoại hình con

người trong kho tàng ca dao người Việt (2012) đã nghiên cứu để làm rõ vấn

Trang 12

6

đề này Về mặt tư liệu, tác giả đã thống kê được một lượng tài liệu khá lớn

Về mặt nội dung, tác giả chỉ dừng lại ở việc miêu tả ngoại hình con người như thế nào mà không nghiên cứu miêu tả ngoại hình con người bằng cách nào Tình yêu, hôn nhân là mảng đề tài vô cùng rộng mở và luôn được các nhà văn học quan tâm, khai thác Đặc biệt, văn hóa ứng xử về tình yêu, hôn nhân của người Việt xưa lại có sức hấp dẫn hơn nữa Luận văn của Nguyễn

Thanh Trang với đề tài: Văn hóa ứng xử về tình yêu và hôn nhân trong ca dao

người Việt (2014), đã làm nổi bật một phần văn hóa ứng xử của người Việt

qua ca dao, thông qua việc hệ thống hóa một cách tương đối chi tiết và đầy đủ

về mảng ca dao tình yêu, hôn nhân trong kho tàng ca dao người Việt

Bên cạnh những mảng màu sáng trong tình yêu, hôn nhân, luận án của

Lê Huy Thực với đề tài: Triết học đạo đức trong kho tàng tục ngữ, ca dao,

dân ca Việt Nam (2015) lại đề cập tới nỗi bất hạnh trong tình yêu – hôn nhân

của con người, đặc biệt về nỗi bất hạnh của người phụ nữ

Ca dao là mảnh đất nghệ thuật vô tận của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khoa học nhân văn Chính vì thế, ca dao đã được sưu tầm, nghiên cứu từ rất sớm Đó là nguồn tài liệu vô cùng quý giá để chúng tôi cũng như những nhà nghiên cứu sau này kế thừa và phát huy những giá trị vô giá trong kho tàng văn học của dân tộc

2.2.2 Những công trình nghiên cứu về thân phận con người trong Ca dao

Bên cạnh những công trình nghiên cứu chung về ca dao còn có nhiều công trình nghiên cứu về một khía cạnh của thể loại này Có thể nói đây là khía cạnh khá nổi bật trong ca dao: vấn đề thân phận con người, đặc biệt là thân phận người phụ nữ

Năm 1957, khi đề cập đến vấn đề con người trong ca dao, Vũ Ngọc Phan

đã khẳng định: “Trong cuộc đời người phụ nữ phải chịu nhiều nỗi khổ quá và

Trang 13

7

chịu nhiều thiệt thòi quá Mặc dù công sức đóng góp cho xã hội và gia đình không thua kém gì đàn ông, nhưng trong thực tế người phụ nữ không có quyền lực gì” [40, tr 231] Về mặt nghệ thuật, tác giả nhận xét: “Những hình tượng ẩn dụ như hoa, con cò… thường được sử dụng để ví, để làm rõ nỗi khổ

và vẻ đẹp của người phụ nữ một cách hết sức tế nhị và kín đáo” [40, tr.25]

Năm 1969, ở tập chuyên luận Thi ca bình dân Việt Nam, hai tác giả

Nguyễn Tấn Long và Phan Cảnh đã phân tích khá sâu sắc về thân phận của người phụ nữ trong ca dao Hai ông khẳng định về nội dung: Người phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi và áp bức trong xã hội Họ bị lệ thuộc vào đàn ông và bị tước hết mọi quyền lực Họ phản ứng lại với những bất công bằng nhiều cách khác nhau Họ dám chống lại luật lệ khắc khe, đi theo tiếng gọi của tình yêu đích thực

Năm 1974, trong công trình nghiên cứu Tìm hiểu tiến trình văn học dân

gian Việt Nam, Cao Huy Đỉnh cho rằng: “Vấn đề thân phận con người trước

hết là số phận người dân nô lệ và người phụ nữ lao động là chủ đề chính của

ca dao dân ca Cuộc đời người phụ nữ là một chuỗi những nỗi khổ đau dài dằng dặc Sống một mình cũng khổ, lấy chống cũng khổ và khổ hơn nữa nếu như phải làm lẽ” [8, tr 64] Về nghệ thuật, tác giả nhận xét: “Hình tượng con

cò thường được sử dụng để miêu tả hình ảnh người phụ nữ và người nông dân với một âm điệu buồn man mác” [8, tr.78]

Năm 1978, trong cuốn Nghiên cứu tiến trình lịch sử của văn học dân

gian Việt Nam, nhà nghiên cứu văn học dân gian Đỗ Bình Trị cho rằng: hình

tượng người phụ nữ thường được gặp nhiều nhất trong hai dạng thức là bài ca

về sinh hoạt gia đình và bài ca trữ tình về tình yêu, hôn nhân (bài ca giao duyên) Những nội dung mà ông đề cập đến trong công trình này là: Bài ca về sinh hoạt gia đình, chủ yếu diễn tả sâu sắc nỗi đau khổ của người phụ nữ ở trong gia đình và ngoài xã hội Tác giả đã khẳng định: “Sự phản kháng mãnh

Trang 14

8

liệt đó bắt nguồn từ những mâu thuẫn với ách áp bức nặng nề của chế độ gia trưởng Song mặt khác nó còn có cơ sở ở cách nhìn nhận vấn đề tình yêu và hôn nhân của người phụ nữ” [53, tr.123]

Năm 1998, nghiên cứu Những thế giới nghệ thuật của ca dao, tác giả

Phạm Thu Yến cũng đã nêu lên cảm hứng về thân phận người phụ nữ trong ca dao truyền thống và trong thơ hiện đại Tác giả đã có cái nhìn khái quát về thân phận người phụ nữ trong ca dao truyền thống để từ đó làm nổi bật nỗi khổ và vẻ đẹp tâm hồn của họ

Lê Văn Sâm, trong bài viết Thân phận người phụ nữ Việt Nam qua ca

dao hò vè đã phân tích về thân phận người phụ nữ với những nỗi khổ nhục vì

những hủ tục, quan niệm trọng nam khinh nữ, tư duy áp đặt lên người phụ nữ Tất cả đã tạo ra cuộc đời đầy oan trái của người phụ nữ xưa thông qua ca dao Ngoài ra, còn một số luận văn, luận án khoa học nghiên cứu về thân phận con người trong ca dao như: Luận văn của Lưu Thị Nụ (khoa ngữ văn

Đại học tổng hợp Hà Nội) với đề tài: Người phụ nữ qua những hình ảnh so

sánh trong ca dao Việt Nam (1992) Tác giả đã tìm hiểu hình tượng thơ ca là

người phụ nữ với tất cả các biểu hiện về ngoại hình, tính cách, thân phận và đặc biệt là về tâm trạng của người phụ nữ được thể hiện qua thủ pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao

Bên cạnh đó, còn có các luận văn nghiên cứu về ca dao như: Tìm hiểu

thân phận người phụ nữ qua ca dao với mô típ thân em (2001) của Lê Lan

Anh (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn); Thể thơ lục bát trong ca dao

tình yêu người Việt (2002) của Phạm Thanh Huyền (Đại học sư phạm Thái

Nguyên); Không gian nghệ thuật trong ca dao hiện đại (2007 ) của Đỗ Thị Tuyết Lan (Đại học sư phạm Thái Nguyên); Nét đẹp của người phụ nữ trong

ca dao cổ truyền người Việt (2008) của Lê Thị Nguyệt (Đại học sư phạm Thái

Nguyên …

Trang 15

cổ truyền người Việt trên cơ sở kế thừa thành quả của những người đi trước

3 Mục đích nghiên cứu

Chọn vấn đề Thân phận con người qua ca dao cổ truyền người Việt, luận

văn nhằm mục đích làm rõ cuộc sống cực khổ, vất vả, bị chà đạp, o ép của người nông dân, người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa đầy những bất công Những con người trong xã hội đó luôn khát khao được tự do, khát khao

có được cuộc sống tốt đẹp hơn nhưng họ lại luôn phải chịu đựng sự chà đạp,

vô lý, bất công, coi thường Qua đó, tác giả đưa ra cái nhìn bao quát về thân phận của người nông dân, người phụ nữ trong xã hội phong kiến

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong xã hội Việt Nam, một xã hội với hơn 90% dân số là nông dân, xã hội phong kiến với nhiều ràng buộc bởi lễ nghi, tập tục lạc hậu, một xã hội mà địa vị của người phụ nữ luôn ở vị trí thấp nhất Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thân phận con người trong ca dao, nói đến thân phận là nói đến số phận cực khổ, bất hạnh của con người Những con người bất hạnh nhất, cực khổ nhất trong xã hội là người nông dân và người phụ nữ Chính vì thế, trong nghiên cứu này tác giả tập trung chủ yếu vào hai đối tượng trên để làm rõ thân phận của họ được tái hiện qua ca dao cổ truyền của người Việt như thế nào

Trang 16

10

Luận văn đặt vấn đề nghiên cứu về thân phận, trọng tâm là thân phận người nông dân và người phụ nữ trong ca dao cổ truyền của người Việt chứ

không phải ca dao Việt Nam nói chung

Dựa vào một số nghiên cứu của các nhà nghiên cứu văn học dân gian đi trước, chúng tôi sử dụng khái niệm ca dao cổ truyền người Việt có nghĩa là những bài ca dao của người Việt xuất hiện trước năm 1945

4.3 Phạm vi tư liệu khảo sát

Tư liệu về ca dao rất phong phú, đa dạng, tuy nhiên để làm đề tài Thân

phận con người qua ca dao cổ truyền người Việt, chúng tôi sử dụng tư liệu

ca dao trong bộ sách Kho tàng ca dao người Việt (4 tập) của Nguyễn Xuân

Kính và Phan Đăng Nhật làm chủ biên cùng các soạn giả Phan Đăng Tài, Nguyễn Thuý Loan, Đặng Diệu Trang làm tư liệu khảo sát chính Đây là công trình tập thể, tập hợp một cách công phu và thống kê tương đối đầy đủ về ca dao Việt Nam từ nhiều cuốn sách Chính vì thế, đây là một tài liệu rất có giá trị, bộ sách cho chúng ta một bức tranh khá đầy đủ về ca dao cổ truyền của người Việt

Chính vì vậy, trong luận văn này chúng tôi trích dẫn nguyên văn lời ca dao để làm dẫn chứng với cách chú thích (tra ở phần tài liệu tham khảo) để chỉ dẫn xuất xứ

Ví dụ:

Rủ nhau đi cấy xứ Đoài

Ăn cơm thời ít, ăn khoai thời nhiều (R240).

Đây là lời ca dao bắt đầu bằng chữ R, số thứ tự 240 được trích dẫn từ bộ

Kho tàng ca dao người Việt

Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo thêm một số tài liệu để hiểu rõ hơn về thân phận con người trong ca dao như:

Trang 17

11

Phan, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội

Thị Huế, Trần Thị An biên soạn, Nxb Văn học

5 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai đề tài này chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản của ngành nghiên cứu văn học nói chung và văn học dân gian nói riêng như: Phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, tổng hợp và đặc biệt luận văn có sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành – một phương

pháp nghiên cứu khá cơ bản trong ngành Việt Nam học

Phương pháp thống kê

Trong luận văn chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm thống kê toàn

bộ các lời ca dao nói về thân phận con người, đặc biệt là những lời ca dao viết

về thân phận người nông dân, người phụ nữ, để từ đó, trên cơ sở số liệu thống

kê được, chúng tôi có thể tiến hành phân loại phục vụ cho việc nghiên cứu

Phương pháp phân tích tổng hợp

Dựa trên kết quả của việc thống kê, phân loại chúng tôi sẽ tiến hành phân tích và hệ thống hóa để rút ra những kết luận cần thiết

Phương pháp nghiên cứu liên ngành

Sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, chúng tôi sẽ vận dụng kiến thức của các ngành khoa học có liên quan như: văn hóa học, dân tộc học hay ngôn ngữ học để lý giải về thân phận con người trong xã hội cũ, góp phần làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu trong đề tài

6 Đóng góp của luận văn

Nghiên cứu đề tài Thân phận con người qua ca dao cổ truyền người

Việt luận văn muốn góp một phần nhỏ vào việc hệ thống được toàn bộ lời ca

dao phản ánh thân phận của con người, từ đó đi vào phân tích nội dung và

Trang 18

12

nghệ thuật làm nổi bật thân phận của người nông dân, người phụ nữ trong xã hội cũ, nhằm cung cấp cho mọi người có những hiểu biết sâu hơn về thân phận của con người trong xã hội phong kiến

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Chương 2: Thân phận người nông dân trong ca dao cổ truyền

Trang 19

13

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Nói đến thân phận con người là nói đến những điều cụ thể gần gũi nhưng lại rất trừu tượng Thân phận con người là điều mà chúng ta đang sống, trải qua và cảm nhận từng ngày Cuộc đời có nghĩa hay vô nghĩa điều do cách nhìn và đón nhận cuộc sống của mỗi người Con người khi sinh ra không ai

có quyền lựa chọn số phận cho mình Mỗi chúng ta đều có một “thân phận” riêng, không ai giống ai Từ hoàn cảnh xã hội, gia đình, nền tảng văn hóa, giáo dục cho đến những điều kiện giao tiếp trong cộng đồng và rất nhiều yếu

tố khác nữa, tất cả đều góp phần hình thành cái gọi là “thân phận” riêng của mỗi chúng ta Có những thân phận may mắn, cũng có những thân phận đen tối

mà mỗi chúng ta đều không có quyền chọn lựa Chúng ta chỉ có thể đón nhận, thích nghi, không ngừng cố gắng để thay đổi thân phận Trong cuộc sống, có những người ngay từ khi sinh ra đã được bao bọc trong nhung lụa, có kẻ hầu người hạ Bên cạnh đó, cũng có những người sinh ra với đôi mắt mù lòa, suốt đời không nhìn thấy ánh mặt trời hay què quặt, không đủ chân tay như bao người khác, mắc những chứng bệnh kinh niên, để rồi suốt đời rất hiếm khi có được một ngày khỏe mạnh Trong hầu hết các trường hợp bất hạnh ấy, dường như không hề do bất kỳ lỗi lầm nào của bản thân họ mà con người quy chụp

là do số phận, họ phải chịu thân phận đó

Bên cạnh đó, dù được sinh ra khỏe mạnh trong cùng một gia đình nhưng cách mà mỗi người thích nghi, cố gắng trong cuộc sống lại khiến cho mỗi người có một số phận riêng Như vậy, nói đến thân phận con người là muốn nhấn mạnh đến sự tác động, ảnh hưởng qua lại hai chiều giữa hoàn cảnh sống

và tính cách để tạo nên vòng đời, số phận và nét riêng ở mỗi con người

Trang 20

14

Thân phận con người ở mỗi góc nhìn, mỗi khía cạnh lại được đánh giá khác nhau Bởi vậy, đã có rất nhiều cách lý giải về thân phận con người Để làm rõ vấn đề nghiên cứu, chúng tôi đưa ra một vài khái niệm cũng như cách nhìn, quan niệm về thân phận con người từ góc độ văn chương, triết học, tôn giáo…

1.1 Quan niệm về thân phận con người trong xã hội

1.1.1 Khái niệm thân phận con người

Vấn đề con người luôn là sự quan tâm, phân tích, luận bàn trực tiếp hay gián tiếp của các trường phái triết học xưa và nay Tuy nhiên, tùy theo mỗi thời kỳ lịch sử mà sự phát hiện và nghiên cứu về con người có góc độ, khía cạnh khác nhau Chủ đề này không mới nhưng lại luôn mang tính thời sự và chưa bao giờ cũ Chúng ta khám phá, tìm hiểu thế giới xung quanh thì nhiều nhưng khám phá, tìm hiểu về con người, bản thân mình, như nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận thì vẫn còn ít

Ngày nay, vấn đề con người, thân phận con người và nhân loại lại nổi lên và đặt ra nhiều vấn đề mới hơn bao giờ hết Nói về thân phận con người

đã có rất nhiều quan niệm khác nhau với những cách lý giải riêng nhưng phần lớn đều mang tính bi quan, vì cảm thấy con người bất hạnh, bị chà đạp, thấp kém, khổ đau

Theo từ điển tiếng Việt, thân phận con người có nghĩa là:“địa vị xã hội

thấp hèn hoặc cảnh ngộ không may mà con người không sao thoát khỏi được,

do số phận định đoạt (theo quan niệm duy tâm)” [ 63]

Theo Từ điển mở Wiktionary thân phận là: “Địa vị xã hội thấp hèn và

cảnh ngộ không may của bản thân mỗi người như đã bị định trước” [64]

Trang 21

15

Từ “Thân phận” có thể dùng trong một số kết hợp như: thân phận nghèo hèn, thân phận tôi tớ, thân phận con cò, thân phận người nông dân, thân phận người phụ nữ Đặc biệt trong ca dao thường xuất hiệm cụm từ: thân phận con

cò, thân phận con tằm, để nói lên thân phận vất vả, cực khổ của người nông dân trong xã hội cũ

1.1.2 Thân phận con người theo quan niệm Nho giáo

Như chúng ta đã biết, Nho giáo còn được gọi là Khổng giáo, là một hệ thống đạo đức, triết lý và tôn giáo do Khổng Tử phát triển để giáo hoá con người, nhằm xây dựng một xã hội thịnh trị Sau này nhà nước phong kiến đã

sử dụng Nho giáo như một công cụ để củng cố và duy trì trật tự xã hội Khổng

Tử đã đặt ra một loạt những chuẩn mực cho một số hoạt động chính trị và an sinh xã hội: Tam cương ngũ thường là lẽ đạo đức mà nam giới cần phải theo Tam tòng tứ đức là lẽ đạo đức mà nữ giới cần phải có Ông cho rằng nếu người trong xã hội giữ được Tam cương ngũ thường, Tam tòng tứ đức thì xã hội được bình ổn

Nho giáo vào Việt Nam trước hết giữ vai trò của một học thuyết chính trị, đạo đức giúp nhà vua trị nước, yên dân và xây dựng một trật tự xã hội phù hợp với cương thường lễ nghĩa Sau đó, Nho giáo đã dần trở thành công cụ đắc lực và chỗ dựa của các triều đại phong kiến Việt Nam, áp bức nhân dân lao động Việt Nam cả trên hai bình diện thế giới quan duy tâm và đạo đức - chính trị - xã hội

Như vậy, từ một hệ thống đạo đức có nhiều ưu điểm làm chuẩn mực cho

xã hội, dần dần, khi nó đã trở thành một công cụ để cai trị nhà nước thì hệ thống này có những điều ràng buộc con người khá khắt khe

Trang 22

16

Khi Nho giáo giữ vai trò như một công cụ để cai trị, người phụ nữ tuân theo

“Tam tòng, tứ đức” có nghĩa là luôn phải phụ thuộc, phục tùng người đàn ông, họ không thể tự quyết định cuộc sống của mình Đây là những quy tắc khắt khe, cứng nhắc ràng buộc người phụ nữ trong mọi mối quan hệ Họ dường như bất khả kháng, không hề có một chút địa vị cũng như quyền lực trong gia đình và ngoài xã hội Giai cấp phong kiến chỉ quan tâm và tìm cách làm thế nào để giữ vững được vị thế của họ mà không cần quan tâm đến những con người khác trong xã hội Chính vì thế, thân phận con người trong

xã hội phong kiến với tư tưởng Nho giáo không được quan tâm, người lao động và phụ nữ bị coi thường Họ sinh ra chỉ để phục tùng, chịu cuộc đời vất

vả, bất công là lẽ đương nhiên Đó là số phận của họ, họ sinh ra để chịu đau khổ, chịu sự bóc lột

1.1.3 Thân phận con người theo quan niệm Phật giáo

Nếu như trong Nho giáo quan niệm thân phận con người không do họ định đoạt thì trong Phật giáo lại quan niệm thân phận con người do chính nghiệp mà con người tạo nên từ kiếp trước Theo Phật giáo, sự rủi may trong

số phận không phải do thiên mệnh hay định mệnh mà thân phận mỗi con người là kết quả do quá trình của chính người đó hành động từ một đến nhiều đời Hay nói cách khác, con người tồn tại trên thế gian này là kết quả của nghiệp thiện và bất thiện của họ từ quá khứ (luật nhân quả), chứ không do sự thưởng, phạt nào của bất cứ ai

Vấn đề thân phận được Phật giáo phản ánh trong giáo lí Tứ Diệu Đế, biểu hiện tập trung ở Khổ Đế Phật quan niệm đời sống con người, thân phận con người về căn bản là khổ đau Phật nhìn nhận cuộc sống, thân phận con người một cách khách quan, không ru con người ta vào giấc mơ ở cõi Niết Bàn hay miền Cực Lạc, cũng không làm cho con người ta bi quan trong cuộc

Trang 23

17

sống Phật chỉ dạy cho con người thức tỉnh, nhận thức rõ cuộc đời, thân phận theo đúng chân tướng của nó Từ đó chỉ dẫn họ đi tìm con đường giải thoát Quan niệm về thân phận con người trong triết học Phật giáo thiên về xu hướng âm tính: khổ đau, bất hạnh Con người sống chủ yếu chỉ lo tham lam hưởng thụ Họ cho rằng cuộc đời là một sự hưởng thụ mà không ý thức được cái lạc thú ấy chỉ là khoảnh khắc, chóng tàn chóng mất Một ngày nào đó cái

vô thường ập đến thì con người sẽ rơi vào bể khổ trầm luân Từ ý thức về thân phận con người như vậy, Phật đã đi tìm nguyên nhân khiến con người khổ đau, bất hạnh Ngài cho rằng có vô vàn nguyên nhân, nhưng có ba nguyên nhân chính tạo nên, đó là Tham - Sân - Si (Tham: lòng tham; Sân: nóng vội, vội vàng, hấp tấp; Si: quá si mê, đắm đuối một điều gì đó) Ba thứ này Phật gọi là tam độc, đó là nguồn gốc, căn nguyên của mọi khổ đau, mà nguyên nhân dẫn đến tam độc chính là ái dục và vô minh, đó chính là Nghiệp

Phật giáo rất lạc quan với kiếp sống của con người, Phật giáo hướng con người tới trách nhiệm cá nhân, đó là diệt trừ tham, sân, si cho chính bản thân mình Đức Phật dạy rằng khi con người trút hơi thở cuối cùng họ sẽ mang theo hai hành trang theo họ Hành trang thứ nhất là việc thiện mà họ đã tích lũy trong cuộc đời sẽ đưa họ lên cõi an lành, niết bàn Hành trang thứ hai là những hành vi tội lỗi như giết người, cướp của, lừa dối… những việc đã tạo đau thương cho chính bản thân và người khác sẽ đẩy họ xuống thế giới thấp kém như súc vật quỷ đói Như vậy thân phận con người sẽ giúp con người tiến bộ đi lên hoặc thoái hóa đi xuống là do nghiệp mà họ đã tạo ra Mỗi con người sinh ra đều có một thân phận khác nhau, tuy nhiên mỗi người đều có thể sống an vui với thân phận của mình nếu như họ biết sửa đổi nghiệp, nỗ lực

tu tâm, hành thiện

Trang 24

18

1.1.4.Thân phận con người trong Triết học Hiện sinh

Vấn đề con người, giá trị con người, thân phận con người chưa bao giờ được các nhà triết học phương Tây quan tâm và bàn luận nhiều như trong thời hiện đại, nhất là từ những thập kỷ đầu của thế kỷ XX

Chủ nghĩa hiện sinh là một trường phái triết học chủ yếu trong trào lưu chủ nghĩa nhân bản phi duy lý Triết học hiện sinh đặt lên vị trí hàng đầu, tính đặc thù độc đáo của tồn tại con người Tính độc đáo này không thể nhận thức bằng khái niệm và cũng không thể diễn đạt qua ngôn ngữ Chủ nghĩa hiện sinh bắt nguồn từ học thuyết của S Kierkegaard và trở thành một trào lưu tư tưởng phổ biến ở Đức vào những năm 20 của thế kỷ XX

Triết học hiện sinh là triết học dạy con người suy nghĩ về thân phận làm người Văn của triết học hiện sinh là văn mô tả với chủ ý cho chúng ta cảm thấy sự khinh bỉ đối với những con người tầm thường, với mục đích làm thức tỉnh con người, bỏ cách sống của sự vật để bắt đầu một đời sống nhân vị, nhân vị cao cả của con người tự do Triết học hiện sinh đã đưa con người trở lại với con người, đã gợi hứng cho nhiều thanh niên biết suy nghĩ về ý nghĩa cuộc đời

Triết học hiện sinh hướng về phía con người, quan tâm tới con người cụ thể, trong những hoàn cảnh cụ thể, chứ không quan tâm vũ trụ hay con người bằng khái niệm chung chung Triết học hiện sinh còn ảnh hưởng rõ rệt của tư tưởng Phật giáo, coi cuộc đời con người là bể khổ trầm luân, nhìn nhận thực

tế cuộc sống con người từ sự khổ đau, bi đát

Về chủ nghĩa hiện sinh trong văn học, thân phận con người được phản ánh qua hàng loạt nhân vật với những biểu hiện khác nhau Nội dung chính của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học là thể hiện thân phận đau khổ của con

Trang 25

19

người trong cuộc đời, sự xung khắc căng thẳng của con người trong xã hội hiện đại và nỗi lo âu sợ hãi của con người trong một thời đại khủng hoảng khi niềm tin và chân lý không còn, trước mắt con người chỉ là sự đổ vỡ

Triết học phương Tây hiện đại có hàng trăm trường phái, nhưng tập trung bàn về ba hệ triết học: triết học con người, triết học khoa học và triết học tôn giáo, trong đó trung tâm là triết học về con người, thân phận con người, dù đa dạng nhưng chung quy là “tìm về nhân vị con người” (M.Schler), hay hướng về “những giá trị con người” (R.Le Senne 1882-1954) Vấn đề nhân vị con người như là vấn đề đầu tiên, xuyên suốt tất cả các trào lưu triết học hiện đại

1.2 Thân phận con người trong Văn chương

Con người là hạt nhân của mọi sự tồn tại, quan niệm về con người trong mỗi hình thái ý thức xã hội không đồng nhất Với vai trò là một hình thái ý thức xã hội, văn chương đề cập tới vấn đề con người theo hướng riêng của mình

1.2.1 Thân phận con người trong Văn học thế giới

Văn chương thời đại nào và ở bất kỳ quốc gia nào cũng đều kỳ vọng mang đến cái đẹp chân - thiện - mỹ cho con người, cho cuộc sống Cái đẹp văn chương là cái đẹp tâm hồn thuần khiết, tỏa ra ở mỗi ngòi bút, bằng sự cảm nhận từ chính trái tim được rung động

Thân phận con người là đề tài muôn thuở của các nền văn hóa và là đích đến của văn học mọi thời đại Những tác phẩm kinh điển thế giới đều xoay quanh vấn đề thân phận con người Macxim Goorki nói văn học là nhân học, chính giá trị nhân bản viết về con người và vì con người là nhân tố làm nên sức sống cho mọi nền văn hóa của mọi thời đại Điểm chung nhất của sự phát

Trang 26

nữ và ước mơ quyền sống bình đẳng, hạnh phúc của họ

Thời Phục Hưng, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa Nhân văn (Humanism), một nền văn học lấy con người làm trung tâm, đã phát triển rực rỡ và để lại nhiều thành tựu cho nền văn học nhân loại Văn học thời Phục Hưng đã dũng cảm đấu tranh cho quyền lợi chính đáng của con người Nhìn chung văn học thời kỳ này, con người đã được đề cao hơn trong quá trình nhận thức và hành động

Đến thế kỷ XIX, nền văn học với sự thống trị mạnh mẽ của trường phái hiện thực Con người thời kỳ này thuộc mọi thành phần, vị trí trong xã hội, họ đấu tranh để giải phóng mình khỏi những xiềng xích xã hôi, tiến tới cái tốt đẹp hơn, nhưng họ lại luôn rơi vào thất bại và đổ vỡ Tiêu biểu nhất cho cây bút viết về thân phận con người là Franz Kafka

Về văn chương hiện sinh, thân phận con người được phản ánh trong hàng loạt nhân vật với những biểu hiện khác nhau Nội dung chính của văn học hiện sinh là thể hiện thân phận đau khổ của con người trong cuộc đời, sự xung khắc căng thẳng của con người trong xã hội hiện đại và nỗi lo âu sợ hãi của con người trong một thời đại khủng hoảng khi niềm tin và chân lý không

còn, trước mắt con người chỉ là sự đổ vỡ MeurSailt trong Người xa lạ đã bộc

Trang 27

21

lộ những tình cảm khác thường với thế giới xung quanh, coi tình mẫu tử, tình yêu, hành vi giết người, cái chết bản thân, chẳng gì đáng quan trọng cả Bên

cạnh đócòn rất nhiều nhân vật trong các tác phẩm khác như: Caligula, Dịch

hạch, Buồn nôn… Con người trong chủ nghĩa hiện sinh là những kiểu con

người bi kịch, bị đọa đày bởi hoàn cảnh, kiểu con người bất lực và vô vọng trước đời sống

Như vậy, những tác phẩm văn học phương Tây là sự thể hiện của niềm thất vọng sâu xa trước những câu hỏi về những nỗi đau khổ của cuộc đời, về cái ác, sự tuyệt vọng dập tắt mọi khát vọng, sự nhỏ bé và bất lực của con người trước xã hội và định mệnh

1.2.2 Thân phận con người trong Văn học Việt Nam

Văn học là một sáng tạo nghệ thuật Đối tượng chính của văn học là con người Văn học nhìn nhận số phận con người từ hiện thực cuộc sống Tùy vào từng giai đoạn lịch sử, từng thời kỳ phát triển của văn học mà số phận con người được đề cập, nhìn nhận một cách khác nhau Văn học luôn đứng về phía con người, bênh vực, cảm thông, chia sẻ với những con người lâm vào cảnh cùng đường tuyệt lộ Văn học viết về mọi khía cạnh của con người, nhưng vấn đề cơ bản mà văn học hướng đến vẫn là vấn đề thân phận con người

Khi viết về con người, về thân phận của họ, các nhà văn đã đưa văn học trở về với tính nhân văn, những giá trị đích thực của nó Văn học không chỉ là tiếng nói răn đời, mà còn là tiếng nói hiểu đời, cảm thông chia sẻ Văn học

không chỉ biết tụng ca mà còn là vũ khí phê phán Vì vậy trong bài viết Vấn

đề con người trong văn học, nhà nghiên cứu Lê Ngọc Trà quan niệm: “Trong

ý nghĩa giản dị, văn học là buồn vui đời người, là sự chiêm nghiệm về những

gì được mất, là hồi ức về quá khứ, sự không thỏa mãn với hiện tại và dự cảm

Trang 28

22

về tương lai và trầm tư về lẽ tồn vong của con người trong mối quan hệ với xã hội, tự nhiên và vũ trụ” [52, tr 51-65] Văn học bàn về thân phận của con người là đi vào khám phá thế giới tinh thần, đời sống bên trong của con người Nó đề cập đến mọi phương diện: thiện - ác, tốt - xấu, đúng - sai, nỗi đau, sự mất mát, bi kịch hay hạnh phúc,… tất cả được thể hiện qua lăng kính

và cách cảm nhận của mỗi nhà văn

Ngay từ thuở sơ khai, nền văn học ban đầu chỉ là văn học dân gian mang tính truyền miệng thì đề tài về con người và đặc biệt là thân phận con người

đã trở thành đề tài phổ biến Một cô gái xinh đẹp, chăm chỉ, hiền lành đã cam chịu cuộc sống khổ cực, bất hạnh khi phải sống chung với mẹ con dì ghẻ của

Tấm cho đến khi gặp được hoàng tử trong truyện cổ tích Tấm Cám Số phận của những người nông dân nghèo khó, hiền lành như Sọ Dừa trong truyện Sọ

Dừa hay anh thanh niên trong truyện Cây tre trăm đốt Kết cục cuộc đời của

nhân vật trong truyện cổ tích, thần thoại,… giai đoạn này đã bắt đầu báo hiệu

số phận con người trong văn học

Đến văn học trung đại thì số phận con người được nói đến rõ hơn, đặc biệt là số phận người phụ nữ Ở giai đoạn này, chế độ xã hội nam quyền

“trọng nam khinh nữ”, quyền lực rơi vào tay những người đàn ông, người phụ

nữ trở thành những kẻ phụ thuộc và không có quyền làm chủ cuộc đời mình

Họ là những người có tài, sắc nhưng lại bạc mệnh, đó là số phận của người chinh phụ mòn mỏi, cô đơn, tuyệt vọng trong mong ngóng chờ đợi tin tức

người chồng nơi chiến trận trong Chinh phụ ngâm khúc (Đặng Trần Côn) Số

phận mong manh, bất hạnh của người cung nữ tài sắc, giàu tình cảm trong

Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), số phận “bảy nổi ba chìm” của

những người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương Ở giai đoạn này, có thể

khẳng định Truyện Kiều của Nguyễn Du là tác phẩm đầu tiên của nền văn học

Trang 29

Bước sang văn học hiện đại thì vấn đề thân phận con người được đề cập nhiều hơn Trong tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn, các tác phẩm chủ yếu tập trung miêu tả những đột phá của con người cá nhân Trong văn chương Tự Lực Văn Đoàn, các tác giả đã đề cập nhiều đến những cuộc đời, số phận của những cô gái phải chịu cảnh hôn nhân gượng ép không có tình yêu, phải sống trong sự hà khắc của nhà chồng, điều đó khẳng định ý thức cá nhân bằng lối thoát trong tình yêu và giải phóng bản thân, bất chấp các quan hệ xã hội Hàng loạt tác phẩm Tự Lực Văn Ðoàn đã chĩa mũi nhọn đả kích vào lễ giáo

phong kiến, đòi hạnh phúc lứa đôi và quyền sống con người như: Nửa chừng

xuân của Khái Hưng, Ðoạn tuyệt của Nhất Linh

Đến văn học hiện thực phê phán, con người được nhìn nhận theo xu hướng phơi bày hiện thực và mặt trái xã hội Các nhà văn nhìn nhận con người như những nạn nhân với số phận bấp bênh, bi đát Trước hết, đó là những con người có mối quan hệ đối kháng, đó là kiểu con người bị bần cùng

hóa trong Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, Tắt đèn của Ngô Tất

Tố, Chí Phèo của Nam Cao… Đặc biệt trong Tắt đèn, Ngô Tất Tố đã dày

công dựng lên một hình tượng người nông dân bị bần cùng hóa mà nguyên nhân chính là chính sách sưu thuế hà khắc, tàn bạo của xã hội phong kiến Bên cạnh con người bị bần cùng hóa là con người lưu manh hóa Khi nhắc tới con người bị lưu manh hóa, tác phẩm đầu tiên người ta nghĩ đến chính là tác

Trang 30

24

phẩm Chí Phèo của Nam Cao, hay Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng Con người

mặc dù bị vùi dập, bị lưu manh hóa nhưng vẫn chưa mất hết khát vọng làm

người lương thiện như nhân vật Chí Phèo, “ai cho tôi lương thiện đây” Chí

Phèo thực sự lâm vào một tấn bi kịch tâm hồn đau đớn, bi kịch bị xã hội dứt khoát cự tuyệt làm người Kết cục Chí Phèo phải tìm đến một cái chết đầy bi

phẫn, thảm thương Qua Chí Phèo, Nam Cao khái quát một hiện tượng xã hội

phổ biến ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, một bộ phận người nông dân lao động lương thiện bị đẩy vào con đường tha hoá, lưu manh hoá Như vậy, văn học ở giai đoạn này đã thể hiện một cách trung thực thân phận con người, xây dựng được tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình

Văn chương Việt Nam đã trải qua các giai đoạn chuyển mình, văn học

sau 1975 xuất hiện những góc nhìn khác Trong truyện Vợ chồng A Phủ, Tô

Hoài đã xây dựng nhân vật Mị - một người con gái đẹp, một tâm hồn tràn đầy khát khao cuộc sống, khát khao yêu đương Nhưng người con gái miền sơn cước đó phải chịu một cuộc đời bạc mệnh Có thể điểm qua một số tác phẩm nổi tiếng thuộc văn học Việt Nam hiện đại viết về thân phận con người như:

Chiếc thuyền ngoài xa, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bức tranh, Sắm vai, Bến quê (Nguyễn Minh Châu), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn

Kháng), đặc biệt là Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh hay Nguyễn Ngọc Tư với Cánh đồng bất tận Hành trình theo đuổi bóng dáng con người của văn

chương là một hành trình bất tận Tùy vào quan niệm văn chương từng thời, hình tượng con người khi đi vào tác phẩm văn học sẽ mang những dáng vẻ riêng Số phận con người ở mỗi thời kỳ lại được phác họa với những đặc điểm riêng Bên cạnh đó, văn chương còn phản ánh khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc, ý thức vùng lên phản kháng đi tìm cuộc sống tự do của con người

Trang 31

25

1.3 Giới thiệu về Ca dao người Việt

1.3.1 Khái niệm Ca dao cổ truyền

Thuật ngữ ca dao đã được dùng với nhiều nghĩa rộng, hẹp khác nhau Đã

có nhiều nhà nghiên cứu về văn học nói chung và văn học dân gian nói riêng đưa ra một số khái niệm về ca dao Theo nghĩa gốc thì “ca là bài hát có khúc

điệu, dao là bài hát không có khúc điệu” [40, tr.26] Trong trường hợp này, ca

dao đồng nghĩa với dân ca Tuy nhiên, trong thực tế nội hàm của ca dao đã có

sự thu hẹp Hiện nay, các nhà nghiên cứu đã cơ bản thống nhất “dùng danh từ

ca dao để chỉ riêng thành phần nghệ thuật ngôn từ (Phần lời thơ) của dân ca

(không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi)” [40, tr.26] Ca dao được quan niệm rộng, hẹp khác nhau nhưng không mâu thuẫn về bản chất Ca

dao và dân ca là hai thuật ngữ tương đương để chỉ một đối tượng là những

câu hát dân gian có sự kết hợp lời và nhạc, gắn với diễn xướng, thể hiện sâu

sắc tính nguyên hợp của Văn học dân gian Ca dao là những bài ca không cần tiếng đệm, luyến láy nhạc điệu Dân ca là những bài ca được dùng để hát, có thêm tiếng nhạc đệm, đưa hơi Dân ca được trình diễn trong những môi

trường diễn xướng nhất định

Như vậy có thể định nghĩa Ca dao như sau: Ca dao là thơ ca dân gian

tồn tại ở dạng lời thơ hoặc điệu hát gắn bó mật thiết với đời sống sinh hoạt

của nhân dân Với bản chất trữ tình, ca dao có chức năng diễn tả một cách

trực tiếp tâm hồn, tình cảm của nhân dân lao động

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, các nhà nghiên cứu đã sử dụng

thuật ngữ ca dao hiện đại (hay ca dao mới) để phân biệt với ca dao cổ truyền

(ca dao cổ/ ca dao truyền thống)

Trang 32

26

Như vậy, ca dao cổ truyền (hay ca dao cổ/ca dao truyền thống) là khái

niệm chỉ riêng thành phần nghệ thuật ngôn từ (phần lời thơ) của dân ca (không kể tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi) được sáng tác và sưu tầm chủ yếu từ Cách mạng tháng Tám trở về trước Cũng chính vì vậy, chúng tôi sẽ sử

dụng khái niệm về ca dao cổ truyền này làm phạm vi tư liệu khảo sát trong

luận văn

1.3.2 Nội dung của ca dao cổ truyền người Việt

Thơ ca dân gian trong đó có ca dao có nội dung phản ánh và biểu đạt rất rộng lớn Đó là tình cảm của nhân dân đối với quê hương đất nước, truyền thống dân tộc và những mối quan hệ gia đình, xã hội khá đa dạng, phong phú

Ca dao cổ truyền người Việt là những bài ca tình tứ, là khuôn thước của lối thơ trữ tình, không những thế ca dao còn phản ánh ý thức lao động, sản xuất, tình hình chính trị xã hội và tư tưởng đấu tranh của nhân dân trong cuộc sống Chính vì thế, nội dung của ca dao được thể hiện trên hai mặt chính: nội dung trữ tình và nội dung thế sự

Nội dung trữ tình

Ca dao trước hết là tiếng hát về tình yêu của con người: tình yêu quê hương đất nước, tình yêu lao động, tình yêu gia đình, tình yêu nam nữ… Trong nội dung trữ tình ấy, ca dao về tình yêu nam nữ là bộ phận phong phú nhất Ca dao trữ tình về tình yêu nam nữ hay nói tới những cuộc gặp gỡ của trai gái trong khung cảnh lao động, hội hè, vui xuân

Nội dung ca dao trữ tình về hôn nhân và sinh hoạt gia đình phản ánh mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, giữa vợ chồng, cha con, mẹ con, anh em, mẹ chồng nàng dâu, giữa nam và nữ…

Trang 33

27

Nội dung thế sự

Bên cạnh nội dung trữ tình, ca dao phản ánh nội dung thế sự chiếm số lượng đáng kể và mang giá trị to lớn Nội dung thế sự chủ yếu mà ca dao thường nói đến chính là lịch sử Khi đề cập đến một hiện tượng lịch sử cụ thể,

ca dao nhắc đến các nhân vật và sự kiện quan trọng trong lịch sử dân tộc Ca dao không miêu tả chi tiết mà chỉ nhắc đến sự kiện lịch sử để nói lên thái độ

và quan điểm, cung cấp tư liệu quý báu cho thế hệ sau để tìm ra ý nghĩa chân thực của những biến cố lịch sử đó

Trong xã hội phong kiến, quyền sống của con người luôn bị chà đạp, đặc biệt là nông dân và phụ nữ là những người khổ cực nhất Chính vì thế ca dao còn là những tiếng nói than thân trách phận và tiếng nói phản kháng của họ Ngoài ra, ca dao còn là kho tài liệu phong phú về phong tục tập quán của nhân dân Trên đây ta mới đề cập đến nội dung ca dao trong một số chủ đề cơ bản Thực ra nó còn phong phú hơn nhiều, nhất là khi quan sát những bình diện, những dạng thức biểu hiện của ca dao sẽ thấy rõ hơn tính đa dạng độc đáo đáo của nó

1.3.3 Đặc trưng nghệ thuật của Ca dao cổ truyền người Việt

1.3.3.1 Kết cấu

Kết cấu là một phương tiện cơ bản và tất yếu của tác phẩm nghệ thuật Kết cấu đảm nhiệm các chức năng giúp cho việc bộc lộ tư tưởng và chủ đề của tác phẩm Ca dao có kết cấu ngắn gọn, đa số một bài ca dao chỉ có từ 2 đến 4 dòng thơ, chiếm tỉ lệ gần 90% Chính đặc điểm ngắn gọn này đã chi phối cấu tứ ca dao rất lớn

Kết cấu trong ca dao ngắn gọn, thể hiện rõ dấu ấn của lối đối đáp, trò chuyện giữa nhân vật trữ tình và đối tượng trữ tình, chứa đựng những công

Trang 34

28

thức truyền thống dân gian đặc thù và những nét chung trong lối miêu tả, kể chuyện Đặc điểm nổi bật trong kết cấu của ca dao là sử dụng công thức truyền thống, sử dụng các mẫu đề có tính chất ổn định, được sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần, ví dụ như: "Thân em như ", "Chiều chiều ", "Ngó lên ",

"Người về ", tạo ra không gian giới hạn trong các dị bản ca dao, tạo nên lối suy nghĩ, lối thể hiện mang truyền thống thẩm mĩ dân gian sâu sắc

Ca dao có một số kết cấu tiêu biểu như: kết cấu tương hợp, kết cấu nối tiếp, kết cấu một vế đơn giản,…

1.3.3.2 Ngôn ngữ

Ngôn ngữ trong ca dao rất giản dị, dễ nhớ, gần với ngôn ngữ sinh hoạt đời thường của người lao động Ca dao sử dụng rất linh hoạt những âm thanh, nhạc điệu của tiếng Việt ở những tiếng đơn, tiếng kép, tiếng ghép, nên khi tả người, tả việc, tả hình dung, tả tiếng kêu, tả cảnh rất tài tình

Ngôn ngữ ca dao vừa đậm đà bản sắc dân tộc vừa mang sắc thái địa phương Chúng ta nhận thấy dấu ấn văn hóa vùng miền nhờ vào ngôn ngữ địa phương Khi sáng tác ca dao, tác giả dân gian đã lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ vùng miền phù hợp để bộc lộ tâm tình và những cảm xúc thẩm mĩ mà ngôn ngữ giao tiếp thông thường không thể nào diễn đạt được Ngôn ngữ ca dao là một thứ ngôn ngữ giàu sắc thái biểu cảm, tính chất biểu tượng, ước lệ,

tượng trưng, ẩn dụ…

1.3.3.3 Nhân vật trữ tình

Nhân vật trữ tình là người trực tiếp bộc lộ những cảm xúc, suy nghĩ, tình cảm tâm trạng trong tác phẩm Nhân vật trữ tình trong ca dao bao gồm nhân vật trữ tình hiển ngôn và biểu tượng, trong đó hai vai giao tiếp nam – nữ là chủ yếu, nó có tính điển hình và khái quát cao, tính cách nhân vật trữ tình

Trang 35

29

được bộc lộ chủ yếu qua việc trình bày những tâm trạng, những tình cảm Nhân vật trữ tình trong ca dao bao gồm một số kiểu nhất định:

- Cô gái và chàng trai trong quan hệ bè bạn, lứa đôi

- Người vợ, người chồng, người mẹ, người con, trong đời sống gia đình

- Người lao động trong lao động, sinh hoạt, quan hệ với xóm làng, quê hương, đất nước

- Người lính và người vợ lính trong cảnh ngộ li biệt và xa cách

- Người con gái, con dâu, người vợ trong gia đình gia trưởng

1.3.3.4 Thời gian và không gian nghệ thuật

Trong thơ ca dân gian, đặc biệt là ca dao, thời gian và không gian nghệ thuật có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và với thể loại, nó là phương tiện để tác giả dân gian thể hiện sâu sắc nhất những tâm tư, tình cảm, suy nghĩ của mình Thời gian trong ca dao là thời gian hiện tại, thời gian của chính thời điểm diễn xướng Thời gian trong ca dao có tính công thức và ước lệ: bây giờ, hôm nay, trăm năm, ngàn năm, chiều chiều, đêm đêm, đêm trăng thanh Ngoài ra trong

ca dao còn có thời gian đối lập: khi xưa, bây giờ, khi đi, khi về để diễn tả sự

thay đổi trong tình cảm

Không gian trong ca dao là những nơi gần gũi, giản dị ở làng quê, là phương tiện để nhân vật bộc lộ tâm tư, cảm xúc, suy nghĩ của mình Đây là không gian trần thế, đời thường thân thuộc, nơi các nhân vật sinh sống, gặp

gỡ, lao động, trò chuyện, ca hát,…

Không gian bao gồm không gian địa lý, không gian xã hội, không gian tâm lý, không gian đối lập xa – gần, không gian thề nguyền Bên cạnh tính

Trang 36

30

xác thực, không gian nhiều khi cũng mang tính phiếm chỉ và bị chi phối bởi cảnh quan của nhân vật trữ tình

1.4 Ca dao cổ truyền của người Việt với vấn đề con người

Ca dao là một thể loại văn học dân gian mang đậm màu sắc trữ tình Chất trữ tình trong ca dao xuất phát từ chính chức năng phô diễn đời sống tâm hồn, tình cảm của nhân dân lao động Vì vậy, nói tới con người Việt Nam qua

ca dao, như một lẽ đương nhiên là khám phá những vẻ đẹp tâm hồn của con người qua thế giới ngôn từ dân gian lựa chọn để phô diễn

Trong kho tàng ca dao Việt Nam, có nhiều chủ đề về đất nước, lịch sử nhưng chủ đề về con người là chủ đề lớn nhất Trong đó,ca dao về đề tài lao động chiếm một số lượng không nhỏ Đó là những bài ca của người lao động nói về tình cảm của mình với công việc, đồng thời thể hiện cảm xúc của mình trong lao động Tuy công việc nhà nông vất vả, nhưng người nông dân Việt Nam vốn cần cù, nên không những họ không ngại những việc chân lấm tay bùn mà họ còn tìm thấy niềm vui trong công việc của mình

Trong những bài ca dao về lao động, hình ảnh người lao động được tái hiện dù vất vả cực nhọc, khó khăn vô cùng, nhưng chưa bao giờ thấy họ chán nản, khoanh tay chờ trời, cũng chưa bao giờ hết hi vọng vào một tương lai tốt đẹp Chính lao động đã đem lại cho họ một tâm hồn lành mạnh và tinh thần thiết thực đó

Rủ nhau lên núi đốt than Anh đi Tam Điệp em mang nón trình Củi than lem luốc với tình Ghi lời vàng đá xin mình chớ quên.( R252)

Trang 37

31

Như vậy, có thể nhận thấy qua ca dao, người nông dân đã bày tỏ quan điểm, thái độ và tình cảm của mình đối với lao động, đồng thời thể hiện mơ ước về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc của họ

Ca dao bộc lộ niềm đồng cảm sâu sắc với số phận bất hạnh của con người trong xã hội phong kiến, đặc biệt với số phận của nông dân và phụ nữ Thực ra, trong xã hội Việt Nam trước đây, khi mà 99% dân số là nông dân sống chủ yếu bằng nghề nông thì đại đa số phụ nữ đều là nông dân Trong luận văn này, chúng tôi tách bạch thân phận nông dân và thân phận phụ nữ bởi phụ nữ trong xã hội cũ có một số phận khá đặc biệt, họ phải gánh vác trên vai một thân phận nặng nề hơn, với những áp lực, chịu đựng, những ràng buộc khổ sở và bất hạnh hơn rất nhiều

Bằng cách dùng hình tượng cụ thể, ca dao đã miêu tả thân phận khổ cực, hèn mọn, bé nhỏ của người nông dân dưới chế độ phong kiến một cách rất chân thực:

Gánh cực mà đổ lên non Cong lưng mà chạy, cực còn theo sau.(G36)

Đặc biệt hơn nữa, thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến lại gặp nhiều bất hạnh, đau khổ hơn Họ là tầng lớp thấp kém nhất trong xã hội, đối với gia đình họ bị lệ thuộc, đối với xã hội lại càng không được coi trọng, bị khinh rẻ, bị trói buộc bởi những luân lý hà khắc

Có thể thấy ca dao phản ánh mọi khía cạnh đời sống của người nhân dân lao động Vẻ đẹp của con người Việt Nam trong ca dao truyền thống cũng được các tác giả dân gian xây dựng nên một cách chân thực, sống động, nhiều màu sắc Dường như tác giả dân gian đã ưu ái con người bằng cách khắc họa hình ảnh của họ đầy đủ ở mọi khía cạnh từ tinh thần tới thể chất Chân dung

Trang 38

32

con người hiện lên với vẻ đẹp của bản lĩnh dám đấu tranh với sự bất công, cái

ác và cái xấu ở con người, trong xã hội, tinh thần lạc quan, tự trào về cảnh ngộ của bản thân để vượt lên hoàn cảnh, số phận

Ca dao là một thể loại văn học dân gian giàu chất trữ tình và mang đậm bản sắc dân tộc Chính vì thế mà tiếp cận ca dao ta có thể nhận biết rất rõ con người, hiểu thấu hơn tâm hồn người dân đất Việt Đó cũng chính là lý do để

chúng tôi chọn đề tài Thân phận con người qua ca dao cổ truyền Việt Nam để

làm rõ thân phận, cuộc sống cực khổ, vất vả của người nông dân, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa

Trang 39

33

Tiểu kết chương 1

Bằng việc tìm hiểu về vấn đề con người, thân phận con người theo quan niệm của Nho học, Phật giáo, triết học và văn chương Có thể thấy: thân phận con người là vấn đề trung tâm phản ánh của mọi lĩnh vực Phật giáo và triết học hiện sinh đều có điểm chung khi nhìn nhận thân phận con người dưới góc nhìn từ hiện thực cuộc sống với quan niệm đời là bể khổ, trầm luân, và thân phận con người đều do con người quyết định và hành động Con người đều phải chấp nhận đối diện với bi kịch của cuộc đời Con người được nhìn nhận trong các mối quan hệ cộng đồng, tự nhiên và với chính bản thân mình Văn học đề cập đến những mâu thuẫn, những nghịch lý cuộc đời và số phận con người trong từng hoàn cảnh cụ thể Văn học hướng ngòi bút thẳng vào sự thật

để khắc họa nên những mất mát, hi sinh, nỗi cô đơn, bi kịch trong cuộc sống, trong tình yêu hạnh phúc của con người và những nỗi thống khổ bởi chiến tranh, bởi xã hội phong kiến và định kiến xã hội chà đạp con người

Trong ca dao cổ truyền người Việt, vấn đề con người được phản ánh khá toàn diện cả về đời sống vật chất và đời sống tinh thần Bởi ca dao là hình thức để con người thổ lộ tâm tình, vì vậy ca dao phản ánh vấn đề thân phận con người đúng với hiện thực xã hội, họ là những con người thuộc tầng lớp lao động nghèo khổ, chịu nhiều nỗi khổ bất công, oan trái Tuy nhiên, bên cạnh phản ánh hiện thực, ca dao còn đồng cảm và nói lên khát vọng tự do, khát vọng được sống chính đáng của họ

Trang 40

34

Chương 2: THÂN PHẬN NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG CA DAO CỔ

TRUYỀN NGƯỜI VIỆT

Khi tìm hiểu về thân phận con người trong Ca dao cổ truyền, hướng của chúng tôi chủ yếu tập trung vào thân phận của người nông dân và phụ nữ Lý giải về điều này, chúng tôi đã nói ở phần Lý do chọn đề tài

Trong các công trình nghiên cứu về Ca dao, có tác giả dùng “Câu ca dao”, có tác giả dùng “bài ca dao”, lại có tác giả chọn “lời ca dao” hay “đơn vị/tác phẩm ca dao” để chỉ một khúc ca dao được ghi chép, sưu tầm Trong luận văn này, chúng tôi xin được sử dụng thuật ngữ “lời ca dao” theo nhà nghiên cứu văn học dân gian Nguyễn Xuân Kính làm đơn vị khảo sát Ở đây, lời được hiểu theo nghĩa là một cơ cấu nghệ thuật hoàn chỉnh về nội dung và

cả hình thức văn học

Như chúng tôi đã đề cập, nội dung của ca dao rất phong phú: ca dao nói

về phong cảnh đất nước, các sản vật ở các địa phương, ca dao về tình yêu của con người với quê hương đất nước, với gia đình, ca dao về các quan hệ trong

xã hội.v…v

Nằm trong hệ thống các nhân vật trong ca dao cổ truyền, nhân vật người nông dân được nói đến rất nhiều lần bằng cách trực tiếp hay gián tiếp Khảo

sát 11.825 lời ca dao cổ truyền trong Kho tàng Ca dao người Việt, chúng tôi

thống kê có 2401 lời nói về thân phận con người (chiếm 20,3%) Trong đó, có

111 lời trực tiếp nói về thân phận người nông dân Trong thực tế, người phụ

nữ cũng thuộc tầng lớp những người nông dân, song, với vị trí vai trò đặc biệt, chúng tôi muốn dành một chương riêng để nói về thân phận của người phụ nữ, qua đó sẽ làm nổi bật những nỗi đau, những buồn tủi, cay cực mà người phụ nữ phải nếm trải khi sống trong một xã hội đầy rẫy những bất

Ngày đăng: 18/11/2019, 21:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w