1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp bồi dưỡng ý thức tự học cho sinh viên trường đại học sư phạm hà nội 2 hiện nay

77 143 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng ý thức tự học của sinh viêntrường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng ý thức tựhọc nhằm nâng cao

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Triết học

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Triết học

Người hướng dẫn khoa học:

TS Trần Thị Hồng Loan

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện khóa luận, ngoài sự cố gắng của bản thân, em đãnhận được sự giúp đỡ của thầy cô và bạn bè Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành

nhất tới TS Trần Thị Hồng Loan - người cô đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn

thành khóa luận này

Em xin bày tỏ lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Chính trịcùng các thầy cô giáo trong trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giảng dạy, chỉbảo em trong suốt thời gian qua

Em cũng xin bày tỏ lời cảm ơn tới gia đình cũng như bạn bè đã góp ý, ủng hộ

em hoàn thành khóa luận này

Trong quá trình nghiên cứu, với điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiếnthức của bản thân nên khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót

Kính mong sự góp ý, chỉ bảo của quý thầy cô cũng như các bạn sinh

viên Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2019

Người thực hiện

Phùng Tố Uyên

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của

TS Trần Thị Hồng Loan.

Tôi xin cam đoan rằng:

Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi và các số liệu trong khóa luận là trung thực Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 5 năm 2019

Người thực hiện

Phùng Tố Uyên

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BỒI DƯỠNG 6

Ý THỨC TỰ HỌC CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 6

1.1 Một số khái niệm cơ bản 6

1.2 Nội dung ý thức tự học của sinh viên 10

1.3 Sự cần thiết phải bồi dưỡng ý thức tự học cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 21

1.4 Một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới việc bồi dưỡng ý thức tự học cho sinh viên 24

Chương 2 THỰC TRẠNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 HIỆN NAY VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC TRẠNG 30

2.1 Vài nét khái quát về Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và đặc điểm của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 30

2.2 Thực trạng tự học của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và nguyên nhân của thực trạng 34

2.3 Nguyên nhân của thực trạng 41

Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ BỒI DƯỠNG Ý THỨC TỰ HỌC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 HIỆN NAY 44

3.1 Hoàn thiện cơ sở vật chất và các trang thiết bị phục vụ cho hoạt động tự học của sinh viên được thuận lợi và có hiệu quả 44

3.2 Giảng viên cần nâng cao yêu cầu và thường xuyên kiểm tra, đánh giá phần kiến thức tự học để nâng cao ý thức tự học của sinh viên trong Trường 46

Trang 6

3.3 Nhà trường và giảng viên cần phải nâng cao nhận thức về vai trò

và phương pháp tự học cho sinh viên trong Trường 49 KẾT LUẬN 57 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 59 PHẦN PHỤ LỤC

Trang 7

1 Lý do chọn đề tài

PHẦN MỞ ĐẦU

Trang 8

Ngày nay cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, cách mạng khoa họccông nghệ, Việt Nam ngày càng phát triển và hội nhập Thực tế này đòi hỏi conngười Việt Nam dù sống và làm việc ở đâu cũng phải không ngừng trau dồi kiếnthức học tập và rèn luyện để nâng cao sự hiểu biết đáp ứng yêu cầu của xã hội hiệnđại Nếu một xã hội mà kém hiểu biết thì xã hội đó không thể phát triển được và sẽ

bị tụt hậu so với khu vực và thế giới Điều này cho thấy mỗi cá nhân phải năngđộng, sáng tạo và đặc biệt là nâng cao ý thức tự học Do đó, sinh viên – những chủnhân tương lai của đất nước không chỉ học tập trên lớp mà còn phải có năng lực tựhoàn thiện, tự học để tiếp cận với các tri thức khoa học và công nghệ hiện đại bằngcác kênh thông tin khác nhau Trong điều 5 Luật Giáo dục 2005 của Việt Nam cũngquy định “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tưduy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năngthực hành lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” [15, 2]

Tuy nhiên để đáp ứng được yêu cầu của xã hội học tập đòi hỏi mỗi người nóichung và sinh viên các trường đại học nói riêng phải coi trọng vấn đề tự học Tựhọc là mỗi người tham gia vào hoạt động học tập phải chủ động, tích cực, tựnguyện tổ chức tốt hoạt động học tập của mình Coi việc học là yếu tố tự thân, phùhợp với quan điểm cơ bản của triết học là tự thân vận động Đồng thời, người họcphải là chủ thể tích cực, chủ động thực hiện hoạt động học tập của cá nhân, rènluyện tốt kĩ năng tự học của bản thân nhằm chiếm lĩnh và làm chủ tri thức đáp ứngyêu cầu của xây dựng xã hội học tập với nền kinh tế tri thức hiện nay

Vì vậy, có thể khẳng định rằng, tự học có một tầm quan trọng đặc biệt trongquá trình học tập của sinh viên, đây là hình thức học tập không thể thiếu của sinhviên trong điều kiện hiện nay Đặc biệt, việc tự học của sinh viên sẽ rất thiết thựckhi các trường đại học chuyển sang sử dụng hình thức đào tạo theo tín chỉ với thờilượng tự học của sinh viên chiếm 2/3 so với giờ học trên lớp Hiện nay, do yêu cầuđổi mới về nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo và giáo dục ở các trường

Trang 9

đại học đòi hỏi chúng ta phải tự học để tồn tại, để tự khẳng định mình và phát triểnmột cách bền vững.

Trong điều kiện đổi mới như vậy, bản thân mỗi người cần phải trang bị chomình những kĩ năng cần thiết, hết sức nỗ lực, tập chung thời gian cho tự học vàxác định được cách thức học tập đúng đắn, hiệu quả Kết quả học tập của sinh viênđược quyết định bởi chất lượng tự học của mỗi người Nhịp độ thế giới ngày mộtphát triển, sống có nghĩa là phải vươn lên không ngừng học tập Điều này thể hiệntrong câu nói của Lênin khuyên thanh niên: “Học, học nữa, học mãi” Bởi vốn trithức rất rộng lớn nên chúng ta phải tự đào luyện cho mình một nền tảng văn hóavững chắc cả về bề rộng lẫn chiều sâu Câu nói của Lênin đề cao vai trò của việchọc, học là cả một quá trình mà trong đó là cả một sự tìm tòi, nghiên cứu để nângcao vốn kiến thức của bản thân

Song, thực trạng hiện nay cho thấy còn nhiều sinh viên trong đó có sinh viênTrường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 còn rất lúng túng trong tự học, nhất là đối vớinhững môn mới chưa được tiếp xúc ở phổ thông Sinh viên học tập còn đối phó vớikiến thức và thi cử và khả năng tự học hỏi của họ còn rất hạn chế Thước đo hiệu quảcủa phương pháp dạy học là kết quả của tự học Chính vì vậy, việc nghiên cứu một

số biện pháp nhằm nâng cao, hình thành khả năng tự học cho sinh viên là một yêu

cầu mang tính cấp thiết Xuất pháp từ những lí do trên tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp bồi dưỡng ý thức tự học cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 hiện nay” làm đề tài nghiên cứu khoá luận tốt nghiệp của mình.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Tại Việt Nam, tự học đã trải qua một giai đoạn phát triển nghiên cứu lâu dài

cả về lí luận và thực tiễn Mặc dù đi sau so với giáo dục thế giới, nhưng nhữngthành quả nghiên cứu về hoạt động tự học nói chung và tự học dành cho sinh viênnói riêng cũng rất phong phú

Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn là một trong những nhà nghiên cứu về tự học điểnhình Hàng loạt cuốn sách, công trình của ông đã ra đời để thuyết phục giáo viên ởcác cấp học, bậc học thay đổi cách dạy của mình nhằm phát triển khả năng tự học

Trang 10

cho sinh viên ở mức độ tối đa Ông phân tích sâu sắc bản chất tự học, xây dựng kháiniệm tự học chuẩn xác, đưa ra mô hình dạy - tự học tiến bộ với những hướng dẫnchi tiết cho giáo viên thực hiện mô hình này.

Tác giả Phan Quốc Lâm (2010) với công trình “Tiếp cận vấn đề kĩ năng theoquan điểm hoạt động”, tạp chí Giáo dục, số Đặc biệt, tháng 11

Tác giả Dương Thị Linh (2010), “Một số vấn đề hoạt động tự học của sinhviên trong giai đoạn hiện nay, tạp chí Giáo dục, số Đặc biệt, tháng 1

Nghị quyết Hội nghị TW 2, Khoá VIII đề cập đến vấn đề “Tập trung nângcao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học sáng tạo của học sinh”, “Pháttriển phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên rộng khắp trong toàn dân, nhất làthanh niên”

Luật giáo dục 1988, chương 1, điều 4 có ghi “Phương pháp giáo dục phải pháthuy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy, sáng tạo của người học; bồi dưỡng nănglực tự học của học sinh, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên ”

Luận văn thạc sĩ của tác giả Dương Hoài Văn với đề tài: “Biện pháp quản lýtăng cường hoạt động tự học của sinh viên viện Đại học Mở Hà Nội trong bước pháttriển hiện nay”

Nhìn chung, các công trình vừa nêu trên đã đề cập đến nhiều nội dung khácnhau liên quan đến vấn đề tự học, để từ đó cung cấp những tiền đề khoa học quantrọng làm cơ sở trong việc xây dựng các biện pháp giải quyết vấn đề tự học cho sinhviên ở Việt Nam nói chung và sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 nóiriêng Tuy nhiên, chưa thấy có công trình nào tập trung nghiên cứu về ý thức tự học

và biện pháp bồi dưỡng ý thức tự học cho sinh viên, đặc biệt là sinh viên ở trườngĐại học Sư Phạm Hà Nội 2

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng ý thức tự học của sinh viêntrường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng ý thức tựhọc nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động học tập của sinh viên trong Trường

Trang 11

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để hoàn thành mục đích nghiên cứu, Khóa luận thực hiện một số nhiệm vụnghiên cứu chủ yếu sau:

Một là, trình bày một số vấn đề lý luận cơ bản về ý thức tự học và nội dung

của việc bồi dưỡng ý thức tự học cho sinh viên các trường Đại học hiện nay dướigóc độ tiếp cận triết học

Hai là, nghiên cứu thực trạng tự học của sinh viên trường Đại học Sư

phạm Hà Nội 2 hiện nay và nguyên nhân của thực trạng đó

Ba là, đề xuất một số biện pháp chủ yếu nhằm bồi dưỡng ý thức tự học cho

sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 hiện nay

4 Đối tượng nghiên cứu

Các biện pháp bồi dưỡng ý thức tự học của sinh viên trường Đại học Sư phạm

Hà Nội 2 trong giai đoạn hiện nay

5 Phạm vi nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu vấn đề ý thức tự học của sinh viên và đưa ra một sốbiện pháp bồi dưỡng ý thức tự học cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2trong giai đoạn từ năm học 2015 - 2016 đến năm học 2018 - 2019

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Đọc các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đềnghiên cứu nhằm nghiên cứu phương pháp luận, nghiên cứu ý nghĩa của tự học, cácyếu tố ảnh hưởng đến vấn đề tự học

- Phương pháp cụ thể: thống kê xã hội học, điều tra tâm lý học xã hội đối vớigiáo viên và sinh viên, quan sát thực tế, trao đổi toạ đàm,

7 Ý nghĩa của khóa luận

- Ý nghĩa lý luận: Bổ sung thêm cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề tự học

trong học tập

- Ý nghĩa thực tiễn: Làm rõ thêm thực trạng vấn đề tự học của sinh viêntrường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 hiện nay và khả năng thích ứng với yêu cầu tựhọc trong đào tạo theo tín chỉ Từ đó, bồi dưỡng, nâng cao ý thức tự học cho sinhviên trong trường

Trang 12

8 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Khoá luận bao gồm 3 chương:

Chương 1: Một số lý luận cơ bản về bồi dưỡng ý thức tự học cho sinh viêncác trường đại học

Chương 2: Thực trạng tự học của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 hiện nay và nguyên nhân của thực trạng

Chương 3: Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng ý thức tự học cho sinh viên trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2 hiện nay

Trang 13

Chương 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BỒI DƯỠNG

Ý THỨC TỰ HỌC CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1.1 Một số khái niệm cơ bản

và vai trò xã hội của ý thức.”

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: “Ý thức là đặc tính và sản phẩmcủa vật chất, ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người thôngqua lao động và ngôn ngữ.”

Theo triết học Mác-Lênin "Ý thức là sự phản ánh sáng tạo của thế giới kháchquan vào bộ não của người thông qua lao động ngôn ngữ” Nói về vấn đề này Mácnhấn mạnh: tinh thần, ý thức chẳng qua nó chỉ là cái vật chất di chuyển vào bộ óccon người và được cải biến đi trong đó

Tóm lại, ý thức bao gồm những yếu tố tri thức và những yếu tố tình cảm, ýchí trong sự liên hệ tác động qua lại nhưng về căn bản ý thức có nội dung tri thức vàluôn hướng tới tri thức

Theo chiều ngang, ý thức bao gồm các yếu tố cấu thành như tri thức, tìnhcảm niềm tin, lý trí….trong đó tri thức là yếu tố cơ bản, cốt lõi

Tri thức là kết quả của quá trình nhận thức của con người về thế giớihiện thực, làm tái hiện trong tư tưởng những thuộc tính, những quy luật của thế giới

và diễn đạt chúng dưới hình thức ngôn ngữ hoặc các hệ thống ký hiệu khác

Ngày nay, vai trò động lực của tri thức với sự phát triển kinh tế, xã hội trở nên

rõ ràng, nổi bật Loài người đang bước vào nền kinh tế tri thức, là nền kinh tế trong

đó sự sản sinh ra tri thức giữ vai trò quyết định Trong nền kinh tế tri thức, đa số

Trang 14

kinh tế dựa vào tri thức, dựa vào thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ, vì vậy

đầu tư vào tri thức là yếu tố then chốt cho sự tăng trưởng kinh tế dài hạn

Nhấn mạnh yếu tố tri thức là yếu tố cơ bản nhất của ý thức giúp chúng

ta tránh được quan điểm giản đơn coi tri thức những yếu tố tình cảm, niềm tin… ýthức mà không bao hàm tri thức, không dựa vào tri thức thì đó là hiện tượng trừtượng trống rỗng, không giúp gì cho con người trong hoạt động thực tiễn

Tình cảm là sự cảm động của con người trong quan hệ của mình với thực tếxung quanh và đối với bản thân mình Tình cảm là một thái độ đặc biệt của sự phảnánh thực tại, nó phản ánh quan hệ của con người đối với nhau, cũng như đối với thếgiới khách quan Tình cảm tham gia vào mọi hoạt động của con người và giữ một vịtrí quan trọng trong việc điều chỉnh hoạt động của con người Tình cảm có thể mangtính chất chủ động, chứa đựng sắc thái tình cảm tích cực, hoặc thụ động chứa sắcthái tiêu cực

Ý chí được coi là mặt năng động của ý thức, một biểu hiện của ý thức trongthực tiễn mà ở đó con người tự giác được mục đích của hoạt động nên tự đấu tranhvới mình để thực hiện đến cùng mục đích đã lựa chọn Có thể coi ý chí là quyền lựccủa con người đối với mình; nó điều khiển, điều chỉnh hành vi để con người hướngđến mục đích một cách tự giác; nó cho phép con người tự kìm chế, tự làm chủ bảnthân và quyết đoán trong hành động theo quan điểm và niềm tin của mình Lênincho rằng: “Ý chí là một trong những yếu tố tạo nên sự nghiệp cách mạng của hàngtriệu người trong cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt nhằm giải phóng mình, giảiphóng nhân loại.”

Trang 15

Theo Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là động não, suy nghĩ, sử dụng năng lực trítuệ (quan sát, so sánh, phân tích…) và có khi cả cơ bắp (khi sử dụng công cụ) cùngcác phẩm chất của chính bản thân người học (tính trung thực, khách quan, có chítiến thủ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học) cả động cơ, tình cảm, cả nhânsinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại,biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [19, 80]

Tác giả Lưu Xuân Mới cho rằng: “Tự học là hình thức hoạt động nhận thứccủa cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính sinh viên tiếnhành trên lớp, ở ngoài lớp theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đãquy định Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học có tính độc lậpcao và mang đậm nét sắc thái cá nhân như có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạyhọc” [11, 276]

Theo Giáo sư Đặng Vũ Hoạt và Phó giáo sư Hà Thị Đức trong cuốn “Lý luậndạy học đại học” thì “Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học Đó

là một hình thức nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹnăng do chính người học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc khôngtheo chương trình và sách giáo khoa đã được qui định”

Trong cuốn “Học tập hợp lí” R.Retke chủ biên, coi “Tự học là việc hoàn thànhcác nhiệm vụ khác không nằm trong các lần tổ chức giảng dạy”

Từ những quan điểm nêu trên, tôi đi đến định nghĩa về tự học như sau:

“Tự học là một quá trình hoạt động nhận thức của mỗi người, là một trong những nhân tố quyết định hiệu quả chất lượng chiếm lĩnh tri thức của loài người để phát triển nhân cách Tự học đòi hỏi một sự nỗ lực, tự giác, kiên trì sáng tạo về phương pháp hình thức phù hợp với điều kiện, khả năng và mục tiêu đặt ra.”

1.1.3 Khái niệm Ý thức tự học

Ý thứ tự học là ý thức tự rèn luyện tích cực để tiếp nhận kiến thức và củng cố

kĩ năng cho bản thân, là một việc làm khó khăn, cần ý chí phấn đấu và sự kiên trì

“Ý thức tự học là khả năng hình thành thái độ, động cơ và mục đích học tậpmột cách tự giác, chủ động; tự đặt được mục tiêu học tập để đòi hỏi sự nỗ lực phấn

Trang 16

đấu thực hiện; thực hiện các phương pháp học tập hiệu quả; điều chỉnh những saisót, hạn chế của bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua tự đánh giáhoặc lời góp ý của giáo viên, bạn bè; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp khó khăntrong học tập”.

1.1.4 Khái niệm Bồi dưỡng

Khái niệm bồi dưỡng được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu và đưa ra nhiềuđịnh nghĩa khác nhau:

Theo Đại Từ điển Tiếng Việt cho rằng: “Bồi dưỡng là làm cho khỏe thêm,mạnh thêm”

UNESCO định nghĩa: “Bồi dưỡng có ý nghĩa nâng cao trình độ nghềnghiệp Quá trình này diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiếnthức hoặc kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầulao động nghề nghiệp”

Bồi dưỡng theo nghĩa rộng là quá trình giáo dục, đào tạo nhằm hình thànhnhân cách và những phẩm chất riêng biệt của nhân cách theo định hướng mục đích

đã chọn

Tóm lại, bồi dưỡng là bổ sung, cung cấp thêm những thiếu hụt về tri thức, cậpnhật thêm cái mới trên cơ sở những cái cũ đã có nhằm mở mang có hệ thống nhữngtri thức, kỹ năng, nghiệp vụ, làm giàu vốn hiểu biết, nâng cao hiệu quả trong quátrình lao động

1.1.5 Khái niệm Sinh viên

Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng La - tinh “Student” có nghĩa làngười làm việc, học tập nhiệt tình, người đi tìm kiếm, khai thác tri thức Nó đượcdùng cùng nghĩa tương đương với từ “Student” trong tiếng Anh và “Etudiant” trongtiếng Pháp “Sinh viên” là để chỉ những người theo học ở bậc đại học và phân biệtvới học sinh đang theo học ở bậc phổ thông Theo ngôn ngữ Hán Việt, từ “sinhviên” được diễn nghĩa ra là người bước vào cuộc sống, cuộc đời Còn theo từ điểntiếng Việt, khái niệm “sinh viên” được dùng để chỉ người học ở bậc đại học Theoquy chế công tác Học sinh - Sinh viên trong các trường đào tạo của Bộ Giáo dục vàĐào tạo thì “sinh viên là người đang theo học hệ đại học và cao đẳng”

Trang 17

Sinh viên, sau khi ra trường, họ trở thành những lao động đã được qua đào tạo

ở các cấp bậc; do vậy, họ có nhu cầu tìm được việc làm phù hợp với trình độchuyên môn và có thu nhập tương xứng với trình độ đó

1.2 Nội dung ý thức tự học của sinh viên

1.2.1 Người học phải có kiến thức về các phương pháp tự học và các hình thức tự học

1.2.1.1 Người học phải có kiến thức về các phương pháp tự học

*Người học cần trang bị nền tảng kiến thức nhất định

Tự học là khả năng nhận thức của bản thân người học nhằm lĩnh hội tri thức ởmột lĩnh vực nào đó của nhân loại, thực chất đây là quá trình cá nhân tự tư duy trên

cơ sở phát huy mọi năng lực, phẩm chất vốn có của mình để đạt được mục tiêu nào

đó trong học tập, nghiên cứu Để đạt được mục tiêu này người học phải lựa chọn chomình một phương pháp phù hợp với điều kiện, khả năng của mình cũng như đốitượng môn học và nhiệm vụ học tập đã đặt ra - đó chính là phương pháp tự học.Làm như thế nào tổ chức cho sinh viên tự học một cách có hiệu quả thiết thực

là một vấn đề hoàn toàn không đơn giản Ngoài việc tìm hiểu khái niệm, những vấn

đề liên quan đến động cơ, thói quen học tập của sinh viên thì mỗi giáo viên rất cầnđến quá trình nghiên cứu nhằm tìm ra nội dung cơ bản, các phương cách tối ưu rènluyện phương pháp tự học cho sinh viên

Tuy nhiên để đáp ứng yêu cầu nêu trên cần xác định rõ những yêu cầu cơ bảncủa hoạt động tự học như: nội dung của hoạt động tự học gồm mấy vấn đề, để tiếpcận nó phải tuân thủ theo quy trình nào, điều kiện để áp dụng có hiệu quả các yêucầu ra sao… từ đó xây dựng những biện pháp dạy tự học tích cực tương ứng

Như vậy, phương pháp tự học của sinh viên là tổng hợp những cách thức, conđường, phương tiện mà sinh viên tự chọn cho mình trong quá trình học tập, nghiêncứu khoa học để hoàn thành tốt nhất những nhiệm vụ học tập và nghiên cứu khoahọc đã đề ra

Là một mắt xích không thể thiếu trong quá trình giáo dục - đào tạo, tự học gópphần đào sâu năng lực, phẩm chất của sinh viên, đây là vần đề không chỉ liên quanđến người học mà cả người dạy

Trang 18

Thực tế qua các cuộc thi quốc tế cho thấy, chỉ số thông minh của sinh viênViệt Nam không phải là thấp nhưng vấn đề là quy trình giáo dục của chúng ta cókhơi dậy và phát huy được khả năng tự học, tiềm lực tư duy của thế hệ trẻ đặc biệt

là sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng hiện nay hay không Một người thầygiỏi không phải chỉ uyên thâm trong chuyên môn mà phải là người hướng dẫn khoahọc để người học phát triển được hết năng lực tư duy của mình, nói cách khác ngườithầy phải là người hướng dẫn, giúp đỡ họ có được phương pháp tự học khoa học vàđúng đắn

Theo GS Nguyễn Cảnh Toàn: “Hướng dẫn tự học chủ yếu là hướng dẫn tư duytrong việc chiếm lĩnh kiến thức, hướng dẫn tự phê bình về tính cách trong quá trìnhchiễm lĩnh kiến thức Đó là tự học có hướng dẫn”

Nhà sinh lý học người Pháp Penna từng nói : “Phương pháp học tốt giúp taphát huy được tài năng vốn có; phương pháp học dở sẽ cản trở tài năng pháttriển” Như vậy phương pháp học tập có vai trò rất quan trọng để người đó có thểthành công trong học tập

Có thể thấy rằng đây là giai đoạn quyết định và chiếm nhiều thời gian côngsức nhất Nó bao gồm các hoạt động:

Cập nhập thông tin: Cần phải tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau

và từ những hoạt động đã được xác định như quan sát, đọc sách, nghe giảng, xemtruyền hình, tra cứu từ Internet, xemina, hội thảo, làm thí nghiệm, điều tra… Cùngvới sự đổi thay của xã hội đang khiến phần lớn sinh viên không gần gũi với sách vàchỉ để ý đến các phương tiện thông tin khác

Hệ thống thông tin: Việc hệ thống thông tin trong quá trình tự học không baogiờ diễn ra trong vô thức mà cần có sự gia công, xử lí mới có thể sử dụng được Quátrình này có thể được tiến hành thông qua việc phân tích, đánh giá, tóm lược, tổnghợp, so sánh… Việc tự học tương ứng với việc xử lí thông tin, có 3 giai đoạn: nắmbắt các dữ liệu; xử lý các dữ liệu; ghi nhớ và diễn đạt lại các dữ liệu

* Người học cần có phương pháp tự học đúng đắn

Tự học là một quá trình không thể “tốc chiến tốc thắng” mà được, theo quyluật của nhận thức, sự tích lũy kiến thức phải đi theo con đường “mưa dầm, thấm

Trang 19

sâu” và phải có phương pháp đúng đắn và khoa học Kiến thức mà ta muốn chiếmlĩnh không phải là thứ “mỳ ăn liền”, việc học không thể đốt cháy giai đoạn được.Cũng như người leo núi hay người đi đường dài, phải biết phân bổ sức lực hợp lý,biết lượng sức mình cho phù hợp và nếu có được phương pháp tốt nữa thì chắc chắn

sẽ đi được đến đích

“Điều chủ yếu không phải là nhồi nhét một mớ kiến thức hỗn độn… mà làphương pháp suy nghĩ, phương pháp nghiên cứu, phương pháp học tập, phươngpháp giải quyết vấn đề” - Phạm Văn Đồng, năm 1969

Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nhắc nhở sinh viên: “Ở Đại học, điềuchủ yếu là học phương pháp nếu anh tự vũ trang được một phương pháp vữngvàng thì anh dùng nó suốt đời, vì anh phải học mãi mãi ”

Không có một công thức vạn năng nào cho học tập Nên sinh viên cần phải cần

cù, sáng tạo và chịu khó thì mới đạt được kết quả tốt Nhưng chỉ có sự cần cù chịukhó không thôi thì rất vất vả trong công việc học tập Do vậy, cần phải có phươngthức học tập thì mới tiết kiệm được thời gian sức lực và mang lại hiệu quả cao Mỗisinh viên cần trang bị cho mình những kĩ năng cơ bản khi thực hiện một số phươngpháp: Phương pháp nghe giảng, thảo luận và phân tích thực tiễn để tìm ra tri thức,phương pháp ghi chép thông tin khi nghe giảng lý thuyết và thực hành

Việc tự học đối với từng môn học, từng người là khác nhau Tuy nhiên, cácphương pháp tự học vẫn có những điểm chung mà chúng ta cần tranh thủ đó

là phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá, quynạp diễn dịch, đọc sách, diễn đạt sự hiểu biết của mình bằng ngôn ngữ, sơ đồ, bản

vẽ, ký hiệu

Tự học của sinh viên được thực hiện thông qua: Việc chỉ đạo, tổ chức thựchiện các phương pháp dạy học tích cực; việc hướng dẫn các phương pháp tự họccho sinh viên, việc hướng dẫn phương pháp tự học cho sinh viên chọn, đọc, ghichép đúng khi đọc; thông qua việc tổ chức xêmina báo cáo chuyên đề về tự học củasinh viên; thông qua việc tổ chức sơ kết, tổng kết nêu gương sinh viên có phươngpháp tự học có hiệu quả

Trang 20

1.2.1.2 Các hình thức tự học

* Hình thức 1: Tự học không có sự hướng dẫn giáo viên bên cạnh

Ở hình thức tự học này có thể diễn ra ở hai mức :

+ Tự học theo sách mà không có sự hướng dẫn của thầy:

Kiểu học này người học tự học để hiểu, để thấm các kiến thức trong sách vởqua đó sẽ phát triển khả năng tư duy Tự học hoàn toàn với sách là cái đích màngười học phải chinh phục để hòa nhập được trong một xã hội học tập suốt đời.+ Tự học có thầy ở xa hướng dẫn:

Mặc dù thầy ở xa nhưng vẫn có sự trao đổi thông tin thô sơ hay phức tạp dướidạng phản ánh và giải đáp những thắc mắc, làm bài kiểm tra, đánh giá

* Hình thức 2: Tự học có sự hướng dẫn của giáo viên

+ Trong quá trình học tập trên lớp, giáo viên đóng vai trò định hướng và lànhân tố hỗ trợ quan trọng thúc đẩy và tạo điều kiện để trò tự lĩnh hội tri thức

+ Trong quá trình tự học ở nhà, với sự hướng dẫn gián tiếp của thầy, ngườihọc cần phải đề cao sự tự giác, chủ động sắp sếp kế hoạch, huy động mọi trí tuệ và

kỹ năng của bản thân để hoàn thành những yêu cầu do giáo viên đề ra

* Hình thức 4: Tự học trên thư viện

Tự học đây là vấn đề học tập ngoài nhà trường, tự học là quá trình tự bồidưỡng kiến thức hay nói cách khác tự học là trực tiếp bổ sung kiến thức sau khiđược đào tạo ở nhà trường, là quá trình tự đào tạo

Đọc sách và nghiên cứu sách để học tập, nâng cao nghề nghiệp, mở rộng tầmhiểu biết là phương pháp phổ biến nhất của việc tự học

1.2.2 Người học phải xác định được động cơ, thái độ đúng đắn đối với việc

Trang 21

mọi người, học ở mọi nơi, mọi lúc Muốn tự học thành công, mỗi sinh viên phảibiết tự vượt khó, vượt khổ; phải tìm ra được nội dung và phương pháp học tập phùhợp với điều kiện và năng lực của mình, phải nỗ lực thực hiện đúng kế hoạch tự họchàng ngày, theo tuần, của tháng, và từng năm; phải tận dụng được sự giúp đỡ củagiảng viên của các bạn và các phương tiện kỹ thuật học tập.

Để tự học có hiệu quả, điều đầu tiên bạn phải nắm vững mục tiêu học tập Khikhông đặt ra mục tiêu, chúng ta không biết tập trung vào việc gì và có khuynhhướng làm những việc mà chúng ta quan tâm vào thời điểm đó Chúng ta di chuyểnkhắp mọi hướng để rồi quay về lại đúng chỗ cũ thay vì tiến lên theo một hướng nhấtđịnh Đây là những mục tiêu vượt xa ngoài khả năng hiện tại của chúng ta và điềuquan trọng nhất là ý nghĩ đạt được những mục tiêu ấy thật sự làm chúng ta cảm thấyhết sức hạnh phúc, phấn khởi Chính cảm giác vui sướng đặc biệt này thúc đẩy tathức đêm thức hôm học hành chăm chỉ Tạo ra quyết tâm, động lực để hành độngkiên trì

Nắm mục tiêu môn học sẽ chỉ ra sự thay đổi về kiến thức, kỹ năng và thái độ

mà chúng ta cần đạt được sau khi hoàn thành từng bài hoặc cả môn học Nắm vữngmục tiêu sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hướng và cách học tập Khi nắm rõ được mục tiêuchúng ta sẽ: tập trung vào phần quan trọng trong nội dung bài học; hưng phấn hơn

vì có phương hướng rõ ràng; biết được cái gì cần học trước, cái gì cần ưu tiên, phân

bổ được thời gian hợp lý cho các nội dung; cảm nhận được sự đánh giá công bằngcủa giảng viên

Người học tự xây dựng cho mình động cơ học tập đúng đắn là việc cần làmcần thiết Mặc dù, thành công không bao giờ là kết quả của một quá trình ngẫunhiên thiếu tính toán, kể cả trong học tập lẫn nghiên cứu Tự hình thành động cơhọc tập tốt khiến cho người ta luôn tự giác say mê, học tập với những mục tiêu cụthể rõ ràng với một niềm vui sáng tạo bất tận

Thông thường các động cơ hứng thú nhận thức hình thành và đến được vớingười học một cách tự nhiên khi bài học có nội dung mới lạ, thú vị, bất ngờ, động

và chứa nhiều những yếu tố nghịch lí, gợi sự tò mò

Trang 22

Động cơ nhiệm vụ và trách nhiệm thì bắt buộc người học phải liên hệ với ýthức về ý nghĩa xã hội của sự học Giống như nghĩa vụ đối với Tổ quốc, tráchnhiệm đối với gia đình, thầy cô, uy tín danh dự trước bạn bè…Từ đó người học mới

có ý thức kỉ luật trong học tập, nghiêm túc tự giác thực hiện mọi nhiệm vụ học tập,những yêu cầu từ giáo viên, phụ huynh, tôn trọng mọi chế định của xã hội và sựđiều chỉnh của dư luận

Do vậy người giáo viên phải tùy đặc điểm môn học, tùy đặc điểm tâm sinh lílứa tuổi của đối tượng để tìm ra những biện pháp thích hợp nhằm khơi dây hứng thúhọc tập và năng lực tiềm tàng nơi sinh viên Và điều quan trọng hơn là tạo mọi điềukiện để các em tự kích thích động cơ học tập của mình Đối với phần đông nhữngngười trẻ, việc tạm gác những thú vui, những trò giải trí hấp dẫn nhất thời để toàntâm toàn sức cho việc học là hai điều có ranh giới vô cùng mỏng manh Nó đòi hỏi

sự quyết tâm cao và một ý chí mạnh mẽ cùng nghi lực đủ để chiến thắng chính bảnthân mình Vì suy cho cùng ai cũng có những nhu cầu riêng và từ đó có những hứngthú khác nhau Vấn đề là phải biết kết hợp biện chứng giữa nội sinh và ngoại sinh,tức là hứng thú nhận thức, hứng thú trách nhiệm được đánh thức, khơi dậy trên cơ

sở những điều kiện tốt từ bên ngoài Định hướng, điều chỉnh, soi sáng cho thái độ

và hành vi

* Tự hình thành thái độ đúng đắn

Thái độ học tập là một bộ phận cấu thành đồng thời là một thuộc tính cơ bảntoàn vẹn của ý thức học tập của chủ thể, là yếu tố quy định tính tự giác, tích cực họctập và thể hiện bằng những cảm xúc, hành động tương ứng Trong mối tương quan:Nhận thức - Thái độ - Hành động thì lĩnh hội tri thức (khâu trung tâm của hoạt độnghọc tập) đóng vai trò cơ sở, có ý nghĩa định hướng, điều chỉnh, soi sáng cho thái độ,hành vi

Thái độ học tập là một trong những cơ sở tâm lý quan trọng trong việchình thành và phát triển nhân cách cá nhân của sinh viên đại học sư phạm

Thái độ tự học trong học tập có ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả học tập củamỗi sinh viên Vì vậy mỗi sinh viên phải xác định được thái độ học tập đúng đắn

Trang 23

Nghĩa là các em phải nghiêm túc, trung thực, không ngại khó khăn trong việc thựchiện nội quy học tập, có ý thức vươn lên không ngừng để nắm bắt kiến thức khoahọc Người học phải biết suy nghĩ để đề ra yêu cầu cao đối với bản thân, không thỏamãn với kết quả học tập còn thấp cũng như những hiểu biết còn ít của mình, luônhọc hỏi bạn bè về phương pháp, kiến thức không được bảo thủ, phải biết cách phêbình và phê bình một cách nghiêm túc Luôn phải có thái độ cầu tiến, tìm tòi vàsáng tạo để tìm ra cho mình những cách thức tự học hiệu quả

Mỗi sinh viên cần phải luôn biết phát huy nội lực, cố gắng học tập và xâydựng cho mình một thái độ đúng đắn, dám mạnh dạn tiến bước vào con đường khoahọc với tư tưởng tiến công, không lùi bước trước khó khăn thất bại Đây là điềukiện quan trọng, quy định chất lượng và hiệu quả hoạt động học tập của bản thân

1.2.3 Người học xây dựng được kế hoạch tự học và chủ động thực hiện theo

kế hoạch

Đây là yếu tố không thể thiếu góp phần nâng cao hiệu quả tự học Kế hoạch tựhọc là bảng phân chia nội dung tự học theo thời gian một cách hợp lý, dựa trên yêucầu, nhiệm vụ tự học khả năng của bản thân và các điều kiện được đảm bảo, nhằmhướng tới mục tiêu đào tạo, mục tiêu môn học một cách khoa học Kế hoạch tự họcgiúp cho người học thực hiện các nhiệm vụ tự học một cách khoa học, hiệu quả Từ

đó việc xây dựng kế hoạch và việc thực hiện kế hoạch tự học sẽ góp phần nâng caohiệu quả tự học của sinh viên

Có kế hoạch và thời gian biểu tự học khoa học và phù hợp với điều kiện củamình Tức là bạn vạch ra một lộ trình dài hạn (cho cả khóa học hay một giai đoạnhọc) và lộ trình ngắn hạn cụ thể (cho việc học một, hay hai ba bộ môn, hay một sốchương mục ở một giáo trình nào đó) Vấn đề kế tiếp là phải chọn đúng trọng tâm,cái gì là cốt lõi là quan trọng để ưu tiên tác động trực tiếp và dành thời gian côngsức cho nó Nếu việc học dàn trải thiếu tập trung thì chắc chắn hiệu quả sẽ khôngcao Sau khi đã xác định được trọng tâm, phải sắp xếp các phần việc một cách hợp

lí logic về cả nội dung lẫn thời gian, đặc biệt cần tập trung hoàn thành dứt điểmtừng phần, từng hạng mục theo thứ tự được thể hiện chi tiết trong kế hoạch Điều đó

sẽ giúp quá trình tiến hành việc học được trôi chảy thuận lợi

Trang 24

Các hoạt động chủ yếu của sinh viên trong quá trình học tập thường là: họctrên lớp; học ôn tập tại nhà; học tập, nghiên cứu theo nhóm; sinh hoạt cá nhân, thamgia các hoạt động xã hội…

Sinh viên cần lập thời gian biểu cho từng ngày, từng tuần, từng tháng, từnghọc kỳ đánh dấu vào những việc quan trọng phải làm, các mốc thời gian để hoànthành mục tiêu Cuối mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng,…, sinh viên cần tự tổng kết lạixem mình đã thực hiện theo kế hoạch đề ra hay chưa; nếu chưa cần điều chỉnh thờigian biểu của những ngày tiếp theo

Quá trình học tập phải được tiến hành liên tục, đều đặn, có kỉ luật, không nênhọc suốt ngày đêm, sau đó lại “chơi dài” nhiều ngày, như thế sẽ ảnh hưởng đến sứckhỏe và không rèn luyện được tác phong làm việc khoa học Khi học, cần có thờigian nghỉ ngơi để đầu óc được thư giãn; cần tập trung cao độ, không suy lan man…

Kế hoạch tự học của sinh viên phải thực tế và linh hoạt, không thể lập một kếhoạch mà trong đó mỗi công việc đều quy định thời gian cụ thể chi tiết Vì như vậy,chúng ta có thể gặp những tình huống bất ngờ và kế hoạch bị phá vỡ Do đó, kếhoạch học tập của sinh viên không phải là cứng nhắc, mà là một kim chỉ nam, mộtphương hướng có thể điều chỉnh khi điều kiện thay đổi để sinh viên hành độngnhằm sử dụng quỹ thời gian một cách hợp lý và hiệu quả, sao cho kế hoạch đó phải

ở trong tầm với, phù hợp với điều kiện của mình, có như vậy chúng ta mới làm chủđược quỹ thời gian, không bị động trước nhiều nguồn tư liệu cần phải đọc và cáccông việc phải hoàn thành theo yêu cầu và sự hướng dẫn của giáo viên

Kỹ năng tự học giúp con người thành công trong mọi việc Ta không thể chỉbằng lòng với cách học thuộc các công thức, quy luật, nguyên lý nêu trong tài liệu,

mà phải tự tìm hiểu sâu thêm về những điều đã học Phải tập luyện kết hợp ba khảnăng: nghe, xem và ghi Trí nhớ âm thanh sẽ được kết hợp với trí nhớ hình ảnh, ấntượng của kiến thức dễ ăn sâu vào trong vỏ não Thoạt đầu, thì hai loại trí nhớ nàyhoạt động tách rời, chú ý nghe thì quên ghi hay trái lại Nhưng chỉ sau một thời gianchú tâm tập luyện, ai cũng có thể kết hợp các khả năng này Tính cẩn thận, tỉ mỉ,chính xác và khả năng tập trung chú ý phải được rèn luyện mới có chứ không do

Trang 25

bẩm sinh tự nhiên mà được Ngoài ra, rèn luyện sự chú tâm học cả những mônkhông thích, ta sẽ đồng thời rèn luyện được nghi lực, chủ động tập trung khi cầnthiết Đây là khả năng quý giá giúp con người thành công không chỉ trong học tập

mà còn trong tất cả mọi việc

Để tự học có hiệu quả chúng ta cần có kỹ năng và phương pháp tự học khoahọc Nếu tự học mà không có khoa học thì năng suất học tập thấp, kiến thức tiếp thukhông vững chắc và khó ứng dụng kiến thức trong thực tế Muốn nâng cao chấtlượng và hiệu quả tự học, phải có kỹ năng và phương pháp trong tất cả các khâutrong quá trình tự học như:

Kỹ năng khai thác - dùng tài liệu: Tài liệu, sách vở ở bậc đại học cũng đồ sộnhư khối lượng kiến thức cần tiếp thu Thông thường, ở buổi học mở đầu của mônhọc, thầy cô sẽ giới thiệu các quyển sách cần dùng cho học phần, các quyển sách cóthể tham khảo thêm Bạn không cần mua tất cả những quyển sách này, nhưng nênhọp nhóm và chia nhau mua đầy đủ các sách mà thầy cô nêu ra Có thể, bạn khôngdùng hết kiến thức của sách, nhưng sẽ cần một vài điều, một vài công thức mà sáchgiáo trình không có Không phải tài liệu đó không hay, mà có thể kiến thức viết trongtài liệu đó không phù hợp hay quá cao với chương trình mà môn học

Kỹ năng làm việc với sách: Đọc sách là kỹ năng không thể thiếu bởi học đạihọc sẽ phải học rất nhiều Theo đó, đầu tiên các bạn phải chọn một khối lượng vừa

đủ để bắt đầu, cố gắng nắm được cách bố trí, hệ thống của tư liệu, nếu có phần tómlượt của tư liệu thì cần phải đọc ngay nó Sau đó, đọc những gì bạn hiểu rõ nhất đểxác định độ khó, chừa lại những gì không hiểu Đừng nản chí nếu không hiểu Bạnnên dùng bút đánh dấu những chỗ quan trọng hay chưa hiểu để có thể xem lại.Trong khi đọc, thỉnh thoảng dừng đọc và đặt những câu hỏi kích thích và tự tìm câutrả lời

Kỹ năng khắc sâu kiến thức: Để có một ghi nhớ tốt hãy chọn cho mình mộtthói quen như khi đến trường kiểm tra sách vở; nên ghi danh sách các việc cần làmvào một tờ giấy nhỏ và thỉnh thoảng kiểm tra xem tiếp theo mình cần phải làm gì.Chỉ ghi chép những gì mà chúng ta chưa biết, những điều quan trọng mà sách

Trang 26

không có Ngoài ra, ghi nhớ qua các chi tiết quan trọng, các key words, các hình

Kỹ năng giải tỏa mệt mỏi: Bằng cách điều chỉnh chế độ nghỉ ngơi, thư giãn,tạo cho mình một khoảng thời gian ngắn mỗi ngày đề làm những điều mình thích.Sau khi đã cảm thấy thoải mái hơn hãy bắt đầu giải quyết vấn đề, xem xung quanhbạn có việc gì mà bạn có thể thay đổi để xoay chuyển tình hình Đừng để tâm vàonhững việc lặt vặt

1.2.4 Người học phải tự kiểm tra đánh giá và rút kinh nghiệm trong việc

tự học

Các nhà giáo dục đã cho rằng việc kiểm tra, đánh giá trong học tập là quá trìnhthu thập và xử lý thông tin về tình hình lĩnh hội kiến thức, bồi dưỡng tư tưởng đạo đức, hình thành kĩ năng, kỹ xảo của người học so với mục tiêu, yêu cầu học tập.Việc nhìn nhận kết quả học tập được thực hiện bằng nhiều hình thức: Dùngcác thang đo mức độ đáp ứng yêu cầu của giáo viên, bản thân tự đánh giá, sự đánhgiá nhận xét của tập thể thông qua thảo luận, tự đối chiếu so sánh với mục tiêu đặt

ra ban đầu… Tất cả đều mang một ý nghĩa tích cực, cần được quan tâm thườngxuyên Thông qua nó người học tự đối thoại để thẩm định mình, hiểu được cái gìlàm được, điều gì chưa thỏa mãn nhu cầu học tập nghiên cứu để từ đó có hướngkhắc phục hay phát huy

Vấn đề tự học rõ ràng không hề đơn giản Muốn hoạt động học tập có hiệu quảnhất thiết sinh viên phải chủ động tự giác học tập bất cứ lúc nào có thể bằng chínhnội lực của bản thân Vì nội lực mới chính là nhân tố quyết định cho sự phát triển.Người học cần phải biết vận dụng điều mới học được để trả lời các câu hỏi, đểlàm bài tập… Có vận dụng thì mới đạt được mục đích: học để làm gì? Có vậndụng thì mới nhớ lâu được, một kiến thức không vận dụng hoặc vận dụng ít thì sẽrất chóng quên Có vận dụng mới thấy kiến thức đó là cần thiết, cần thiết cho việctrả lời câu hỏi, làm bài tập, cần thiết để vận dụng vào các môn học hoặc nhờ cáckiến thức đó bạn có thể lý giải một việc gì đó trong tự nhiên hoặc xã hội lúc ấy bạn

Trang 27

sẽ thấy bổ ích và hứng thú với kiến thức bạn đã học được, từ đó bạn càng say sưakhám phá những kiến thức mới Khi một kiến thức mà bạn đã học được nếu biết vậndụng và vận dụng thành công thì lúc đó kiến thức ấy đã nhuần nhuyễn đối với bạn.

Từ lúc này, kiến thức đó là của riêng bạn

Ngoài ra, rất cần tới vai trò của người thầy với tư cách là ngoại lực trong việctrang bị cho sinh viên một hệ thống tri thức, kĩ năng, thái độ cùng với phương pháp

tự học cụ thể, khoa học Nhờ đó hoạt động tự học tự đào tạo của sinh mới đi vàochiều sâu thực chất Ngoại lực tác động vào tự học là toàn bộ các yếu tố của các cơchế, môi trường, điều kiện, phương tiện… có liên quan tới việc tự học của bạn.Người tự học cần biết các yếu tố ấy để khai thác và tận dụng triệt để những mặtthuận lợi của ngoại lực và khắc phục những khó khăn trong điều kiện và hoàn cảnhcủa mình

Tự kiểm tra đánh giá trong quá trình học tập, đặc biệt trong quá trình tự học làbiện pháp giúp sinh viên hình thành kỹ năng, kỹ xảo từ đó nhận biết rõ ưu khuyếtđiểm của bản thân nhất là phương pháp học tập để tìm cách khắc phục Về mặt nhậnthức, tự kiểm tra đánh giá tạo nên mối liên hệ ngược trong, giúp sinh viên có cơ sởthực tế với độ tin cậy cao để tự đánh giá kết quả học tập của mình cũng như khắcphục các sai lầm, thiếu sót Nó góp phần củng cố vững chắc các kiến thức đã lĩnhhội của sinh viên Đặc biệt, khi tự kiểm tra, đánh giá sinh viên sẽ tự khẳng địnhđược mình, tự mình đề xuất được biện pháp thỏa đáng để điều khiển và thúc đẩyhoạt động học tập của bản thân vận động đi lên

Tự kiểm tra đánh giá góp phần hình thành các kĩ năng và thói quen trong họctập như nhận thức về vấn đề đặt ra, nhạy bén, biết vận dụng kiến thức, kĩ năng vàocác hoạt động thực tiễn, thực tập… Việc tự kiểm tra, đánh giá nhìn nhận kết quảhọc tập qua quá trình tự học có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức: dùng cácthang đo mức độ đáp ứng yêu cầu của giáo viên, bản thân tự đánh giá, sự đánh giánhận xét của tập thể thông qua thảo luận, tự đối chiếu so sánh với mục tiêu đặt raban đầu… Tất cả các hình thức này đều mang một ý nghĩa tích cực, cần được quan

Trang 28

tâm thực hiện thường xuyên Thông qua nó người học tự đối thoại để thẩm địnhmình, hiểu được cái gì làm được, điều gì chưa thỏa mãn nhu cầu học tập nghiên cứu

để từ đó có hướng khắc phục hay phát huy, góp phần rèn luyện các thao tác dư duynhanh, sâu, độc lập và sáng tạo

1.3 Sự cần thiết phải bồi dưỡng ý thức tự học cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Quá trình tự học đóng một vai trò hết sức quan trọng Tự học giúp người họclàm chủ kiến thức một cách vững chắc nhờ vào khả năng tự phân tích, tổng hợp tàiliệu, từ đó có khả năng vận dụng các tri thức đã học vào việc giải quyết nhữngnhiệm vụ học tập mới Từ đó quyết định sự phát triển các phẩm chất nhân cách vàquyết định chất lượng học tập của sinh viên

Xã hội luôn vận động và phá triển không ngừng, thời gian trên lớp họckhông đủ để trang bị cho người học mọi tri thức và không thể nhồi nhét vào đầu

óc người học quá nhiều kiến thức Vì vậy việc bồi dưỡng nâng cao ý thức tự họccho sinh viên nói chung và sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 ngàycàng được chú trọng

Học ở đại học, đòi hỏi sinh viên phải tiếp thu một lượng kiến thức lớn và khó,cho nên ngoài thời gian học trên lớp sinh viên phải tự học, tự nghiên cứu ngoài giờlên lớp để mở rộng và đào sâu tri thức Cũng chính thông qua hoạt động tự học này

đã giúp rất nhiều cho sinh viên trong quá trình học tập Cụ thể:

Tự học còn có vai trò to lớn trong việc giáo dục, hình thành nhân cách chosinh viên Việc tự học rèn luyện cho sinh viên thói quen độc lập suy nghĩ, độc lậpgiải quyết vấn đề khó khăn trong nghề nghiệp, trong cuộc sống, giúp cho họ tự tinhơn trong việc lựa chọn cuộc sống cho mình Hơn thế, tự học thúc đẩy sinh viênlòng ham học, ham hiểu biết, khát khao vươn tới những đỉnh cao của khoa học,sống có hoài bão, ước mơ Do vậy, mỗi sinh viên hãy xây dựng cho mình một thóiquen, một phương thức tự học thích hợp

Có thể nói: Bản chất của công việc tự học của sinh viên đại học là quá trìnhnhận thức một cách tự giác, tích cực, tự lực không có sự tham gia hướng dẫn trực

Trang 29

tiếp của giáo viên nhằm đạt được mục đích, nhiệm vụ dạy học Nói khác đi, việc tự học ngoài lớp học đóng vai trò trọng yếu ở đại học.

Bên cạnh đó, tự học còn giữ vai trò lớn lao trong việc nâng cao khả năng hiểubiết và tiếp thu tri thức mới của sinh viên, nhiều nhà giáo dục nổi tiếng đã nêu lên sựcấp thiết phải khéo léo tổ chức việc tự học cho sinh viên Tự học với sự nỗ lực, tưduy sáng tạo đã tạo điều kiện cho việc tìm hiểu tri thức một cách sâu sắc, hiểu rõ bảnchất của chân lý Trong quá trình tự học, sinh viên sẽ gặp nhiều vấn đề mới và việc

đi tìm giải đáp cho những vấn đề ấy là cách tốt nhất để kích thích hoạt động trí tuệcho sinh viên Nếu thiếu đi sự nỗ lực tự học của bản thân sinh viên thì kết quảkhông thể cao cho dù có điều kiện ngoại cảnh thuận lợi đến mấy (thầy giỏi, tài liệuhay)

Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời, học tập đểkhẳng định năng lực phẩm chất và để cống hiến Tự học giúp con người thích ứngvới mọi biến cố của sự phát triển kinh tế - xã hội Bằng con đường tự học mỗi cánhân sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanh vớinhững tình huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang đến, kể cả những thách thức

to lớn từ môi trường nghề nghiệp Do đó, việc tự học không nên chỉ giới hạn trongcác giờ học trên lớp, với sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên Nếu rèn luyện chongười học có được phương pháp, kĩ năng tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều

đã học vào thực tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngàycàng được nâng cao

Đối với sinh viên nói chung và sinh viên trường Đại học sư phạm Hà Nội 2nói riêng việc định hình phương pháp tự học mang một ý nghĩa rất quan trọng bởikết quả học tập chưa phải là đích cuối cùng, kiến thức và các kĩ năng đạt đượctrong quá trình tự học sẽ là hành trang cho sinh viên trong suốt cuộc đời giảng dạy.Học sinh ở các trường phổ thông ngày nay rất nhanh nhạy trong việc cập nhậtthông tin, đòi hỏi giáo viên phải không ngừng trau dồi kiến thức của mình mới đápứng được yêu cầu nghề nghiệp Do đó, sinh viên sư phạm đang trong giai đoạn họctập để trở thành giáo viên thì việc tự tích góp kiến thức cho bản thân thông qua tự

Trang 30

Bổ sung thêm vốn kiến thức cho nền giáo dục ở trường Nếu như ta chỉ họcnhững kiến thức trong sách vở, những điều cô giáo dạy trên trường thì chưa đủ.Phương pháp dạy học trên trường quá nhồi sọ Môn gì cũng cần phải nhớ, nhớ chothật nhiều, nhớ một cách dập khuôn và máy móc Hiện nay chúng ta đang sống vàhọc tập cho thời kì hội nhập, thời đại của cuộc cách mạng 4.0 nên chúng ta phảithực sự cố gắng tìm tòi, sáng để có thể bắt kịp được với nhịp điệu của cuộc sống.Chính vì vậy chúng ta phải tự học bằng cách đọc thêm sách, ham hỏi hỏi từ thực tế

để bổ sung chỗ khuyết, trau dồi thêm vốn kiến thức

Việc tự học sẽ đem lại nhiều lợi ích cho bản thân người học:

Nắm được kiến thức chắc hơn, có thể tự học khi nghe giảng, đọc sách hay làmbài tập Đó là lúc chúng ta tích cực suy nghĩ, ghi chép, sáng tạo nhằm rút ra nhữngđiều cần thiết, hữu ích cho bản thân Tự học tạo điều kiện giúp chúng ta bình tâmsuy nghĩ vấn đề, thấu hiểu những kiến thức mới Thường xuyên tự học, ôn lại cáckiến thức đã biết, chúng ta sẽ ghi nhớ kiến thức một cách tốt hơn

Tăng cường khả năng nhận thức, tự học là hoạt động học tập diễn ra màkhông có sự tham gia trực tiếp của người dạy Chính chúng ta sẽ phải tự mình “giảimã” tri thức Trong quá trình đó, chúng ta sẽ vận dụng các thao tác liên tưởng, sosánh, tưởng tượng, thậm chí phải mượn những kiến thức cũ để hiểu được kiến thứcmới Điều đó sẽ giúp trí não chúng ta hoạt động linh hoạt, nâng cao nhận thức

Có thể tạo ra những ý tưởng lớn, những thiên tài trên thế giới đều thành côngnhờ tinh thần tự học Tự học sẽ là lực đẩy giúp chúng ta đào sâu khám phá Chínhtrong quá trình đó, chúng ta sẽ thường xuyên hoài nghi, thường xuyên đặt câu hỏicho bản thân Và biết đâu, một ý tưởng nào đó chợt xuất hiện Có những ý tưởng bất ngờ đã làm thay đổi thế giới

Rèn luyện ý chí, tự học là một công việc gian khổ, kéo dài trong suốt cuộc đờimỗi người Nhờ đó, mỗi người sẽ có được ý chí quyết tâm và sự kiên trì, bền bỉ.Gibbon cho rằng: “Mỗi người đều phải nhận hai thứ giáo dục, một thứ dongười khác truyền cho, một thứ quan trọng hơn - do chính mình tạo lấy” Trong một

xã hội công nghiệp và hiện đại, đòi hỏi con người phải không ngừng tự học hỏi, tự

Trang 31

tìm tòi để tự khẳng định mình và để hòa nhập với cộng đồng ngày càng văn minhtiến bộ.

Tự học - nhu cầu thiết yếu cho người học trong cuộc sống hiện đại Tự học có

ý nghĩa quan trọng, quyết định trực tiếp sự phát triển nhân cách cho sinh viên Cácnhà tâm lý học duy vật biện chứng cho rằng: bản chất của sự hình thành và pháttriển tâm lý con người là quá trình tiếp thu và lĩnh hội hệ thống kiến thức, kỹ năng,

kỹ xảo mà loài người đã phát hiện, tích lũy và tồn tại dưới dạng hệ thống hóa trithức khoa học Theo lý thuyết hoạt động thì tâm lý con người chỉ được hình thành,phát triển và bộc lộ trong quá trình học tập của cá nhân, có nghĩa là sinh viên phảitrực tiếp tham gia vào hoạt động

Tự học có ý nghĩa rất lớn đối với sinh viên trong môi trường dạy học ở trường

sư phạm, vì nếu không có tự học thì sinh viên không thể hoàn thành nhiệm vụ họctập theo phương châm “biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” Nhờhoạt động tự học mà sinh viên có thể hình thành được những năng lực cơ bản để cóthể “học tập suốt đời”, sau khi ra trường có thể tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình

độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu đổi mới của xã hội Những ai coi trọngđời sống tinh thần, người đó mới hiểu được rằng chỉ có tự học mới thực sự là cóhọc Sự học trong nhà trường là cần thiết, nhưng học sau khi rời ghế nhà trường lạicần thiết hơn Nếu xem xét việc tự hoàn thiện suốt cuộc đời con người thì việc họcngoài trường quan trọng hơn nhiều so với việc học ở nhà trường

Có thể nói, tự học là con đường ngắn nhất và duy nhất để hoàn thiện bản thân,biến ước mơ thành hiện thực Đó cũng là mục đích và trách nhiệm của đời người

1.4 Một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới việc bồi dưỡng ý thức tự học cho sinh viên

1.4.1 Chất lượng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động tự học của sinh viên

Cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật dạy học có ảnh hưởng không nhỏ đếnviệc hình thành kỹ năng tự học của sinh viên Đặc biệt với số lượng tiết học chủ yếu

là tự học và thực hành của chương trình đào tạo theo tín chỉ cơ sở vật chất đóng vaitrò rất quan trọng, phục vụ cho quá trình học tập, thí nghiệm, thực hành của sinh

Trang 32

viên Vì vậy, nhà trường cần đảm bảo điều kiện vật chất cho sinh viên cả về tài liệutham khảo, phòng máy, máy chiếu, thư viện…Thông qua việc tham khảo tài liệuthực hành, thí nghiệm sinh viên có thể hình thành và rèn luyện hệ thống kỹ năng:

Kỹ năng thực hành, kỹ năng nghiên cứu, kỹ năng đọc sách, kỹ năng phân tích, sosánh, tổng hợp

Chất lượng của hệ thống cơ sở vật chất gắn chặt với chất lượng đào tạo, vì thếviệc đầu tư, hiện đại hóa hệ thống cơ sở vật chất là đòi hỏi cấp thiết nhằm giúp chongười học đáp ứng được yêu cầu của thực tế công tác thi hành án trong tình hìnhmới Hơn nữa cơ sở vật chất kĩ thuật cũng phải đáp ứng được cả về số lượng và chấtlượng: phòng học phải đủ kích thước, ánh sáng, bàn ghế đúng quy cách cho sinhviên ngồi học, như vậy sẽ giúp sinh viên thoải mái trong vấn đề học tập và nghiêncứu Cần có thư viện rộng rãi, yên tĩnh và sạch sẽ cho sinh viên nghiên cứu ngoàigiờ lên lớp

Cơ sở vật chất kĩ thuật và thiết bị dạy học đóng vai trò hỗ trợ tích cực trongquá trình tự học Bởi vì có thiết bị tốt thì người học mới tự khai thác và tiếp nhận trithức một cách dễ dàng hơn Do vậy cơ sở vật chất kĩ thuật và thiết bị dạy học vừa làphương tiện nhận thức, vừa là đối tượng chứa nội dung cần nhận thức

Vì phần lớn thời lượng dành cho sinh viên tự học nên các trường thực hiện đàotheo hệ thống tín chỉ cần có cơ sở vật chất đảm bảo tốt nhất có thể Sinh viên khôngchỉ tự học tại nhà mà còn có nhu cầu ở lại trường vì họ có nhiều giờ trống xen giữanhững giờ học Vì vậy, vấn đề đặt ra là nhà trường phải giúp sinh viên sử dụng cóhiệu quả những giờ trống đó để tự học Nhà trường phải có hệ thống thư viện đủrộng và hiện đại đồng thời phải thúc đẩy mạnh mẽ việc triển khai và ứng dụng côngnghệ thông tin vào việc quản lí đào tạo và đổi mới phương pháp dạy - học Sinhviên chỉ có thể tự học hiệu quả khi họ không bị thiếu giáo trình và tài liệu Cần cóđường truyền Internet tốc độ cao bảo đảm cho sinh viên khai thác thông tin phục vụcho quá trình tự học, tự nghiên cứu

1.4.2 Tác động từ phía giảng viên về ý thức tự học đối với sinh viên

Phương pháp dạy học là con đường mà chủ thể dùng để tác dụng nhằm biếnđổi đối tượng theo mục đích đã định

Trang 33

Từ điển Giáo dục học: “Phương pháp dạy học, cách thầy cô tiến hành dạy nộidung đi đối với việc dạy cách học cho học trò nhằm giúp cho trò trau dồi phươngpháp tự học để nắm vững nội dung đang học, đồng thời để rèn luyện cách tự họcsuốt đời”.

Theo GS - TSKH Nguyễn Bá Kim (Trong cuốn “Phương pháp dạy học môntoán”) “Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động và giao lưu của thầy gây nênnhững hoạt động và giao lưu cần thiết của trò nhằm đạt được mục tiêu dạy học”Như vậy, có thể thấy rằng, phương pháp dạy học của thầy cũng có ảnhhưởng cực kỳ quan trọng đến sự hình thành và phát triển năng lực tự học của sinh viên Cụ thể:

Trong dạy học, giáo viên không chỉ là người nêu rõ mục đích mà quan trọnghơn là gợi động cơ học tập cho sinh viên Điều này làm cho sinh viên ý thức đượcnhững mục đích đặt ra và tạo được động lực bên trong giúp sinh viên học tập tựgiác, tích cực chủ động

Thông qua việc dạy học của giảng viên sinh viên nắm vững tri thức, kỹ năng,

kỹ xảo, hình thành năng lực và thế giới quan Từ đó mà phương pháp tự học củasinh viên được hình thành kéo theo đó là sự hình thành và pháp triển năng lực tựhọc của sinh viên

Hoạt động kiểm tra đánh giá của giảng viên ảnh hưởng đến hoạt động kiểmtra, đánh giá của người học Giảng viên đóng vai trò đánh giá và kiểm tra kết quả tựhọc của sinh viên Mục tiêu môn học và mục tiêu bài học chỉ được định lượng thôngqua việc đánh giá và kiểm tra của giảng viên Với vai trò này giảng viên kịp thờiphát hiện những sinh viên không có khả năng tự học, hoặc khả năng tự học khôngđúng cách, hoặc việc tự học do ép buộc mà có Cũng từ vai trò kiểm tra đánh giá màgiảng viên nhận diện được tư duy của mỗi sinh viên trong quá trình chủ động khaithác môn học, bài học ở mức độ tích cực nhất định

Giảng viên sẽ đóng vai trò định hướng nội dung môn học cũng như địnhhướng nội dung từng bài học cho sinh viên Trên cơ sở định hướng của giảng viênviệc tự nghiên cứu của sinh viên trọng tâm, giải quyết được những nội dung cơ bảncủa môn học cũng như đạt được mục tiêu của môn học và từng bài học Việc định

Trang 34

hướng của giảng viên liên quan đến các nội dung học nhóm, thảo luận, chuẩn bị bài

và trao đổi giữa những người học Giảng viên định hướng cách khai thác nội dung,định hướng kiến thức của bài học cũng như định hướng tư duy cho từng vấn đề.Định hướng là yếu tố thúc đẩy khả năng tự học Định hướng giúp người học đi đúngđường ray

Giảng viên đóng vai trò gợi mở tri thức trong quá trình tự học của sinh viên.Gợi mở của giảng viên là động lực thúc đẩy tính tích cực và tính say mê tìm tòi củasinh viên trong quá trình tự học Nghiên cứu một nội dung mới, vấn đề mới, bài họcmới, sự gợi mở của giảng viên như chất xúc tác đẩy mạnh tính chủ động nghiên cứucủa người học Việc gợi mở của giảng viên chẳng khác nào tìm lối thoát để sinhviên tự mình đi trên con đường tìm kiếm tri thức Việc gợi mở chấm dứt sự châylười, tính ì, trì trệ của sinh viên trước những mảng kiến thức mới Sự gợi mở củagiảng viên trong quá trình sinh viên tự học giúp sinh viên tìm hiểu kiến thức đúngđịnh hướng của giảng viên, đúng bản chất của nội dung cần học trong một môn họchoặc một bài học

Giảng viên đóng vai trò hỗ trợ cho sinh viên trong quá trình tự học Ở vai trònày giảng viên đi bên cạnh sinh viên nhưng không làm thay sinh viên Việc hỗ trợcủa giảng viên trong quá trình tự học của sinh viên chẳng khác nào sự giúp đỡ kịpthời của giảng viên đối với sinh viên Nội dung của môn học, bài học sẽ được làmsáng tỏ hơn, hấp dẫn hơn nếu trong quá trình học giảng viên hỗ trợ sinh viênnghiên cứu, tìm tòi tài liệu, chinh phục kiến thức Việc hỗ trợ kịp thời của giảngviên là giải pháp tối ưu và hiệu quả nhất mỗi khi sinh viên thất bại hoặc không tìm

ra đáp án trong bài học, trong các bài tập cụ thể, tình huống cụ thể Nếu việc địnhhướng và gợi mở cần giảng viên đối với quá trình tự học của sinh viên còn mangtính chung chung thì sự hỗ trợ của giảng viên đối với quá trình tự học lại hết sức

cụ thể Giảng viên hỗ trợ sinh viên đọc tài liệu, hỗ trợ tìm tài liệu, hỗ trợ đưa raphương án tối ưu, hỗ trợ cả về tinh thần trách nhiệm để sinh viên đam mê trongviệc tự nghiên cứu bài học

Giảng viên đóng vai trò hướng dẫn học đối với sinh viên trong quá trình tựhọc Giảng viên hướng dẫn khai thác bài học, hướng dẫn đọc tài liệu, hướng dẫn

Trang 35

làm bài tập, hướng dẫn tư duy từng vấn đề cụ thể Bên cạnh đó hướng tới việchướng dẫn làm bài tình huống và thực hành kỹ năng trong thực tiễn Vai trò này sẽgiúp sinh viên biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo, biến tri thức nhân loại thànhtri thức của mình.

1.4.3 Sự nhận thức của bản thân sinh viên về vai trò và phương pháp tự học

Tự ý thức của sinh viên là mức độ phát triển cao nhất của nhận thức, cóchức năng điều khiển nhận thức, điều chỉnh thái độ hành vi của mình để hoànthiện nhân cách Tự ý thức của sinh viên phụ thuộc vào sự hiểu biết về mụcđích, ý nghĩa và vai trò của tự học, nội dung, cách thức của tự học và nhân tốảnh hưởng đến tự học của bản thân

Nhận thức đóng vai trò định hướng cho hoạt động của bản thân TheoA.D.Lgarandrie: “Mỗi người có thể có những thói quen sau: thói quen gợi lạinhững cái cụ thể đã gặp trong cuộc sống hàng ngày, thói quen ghi nhớ máy móc,thói quen suy luận logic, thói quen tưởng tượng sáng tạo”

Như vậy phương pháp tự học có vai trò rất quan trọng để người đó có thểthành công trong học tập Mỗi người có một phương pháp làm việc riêng, thói quenhoạt động trí óc riêng không ai giống ai Phương pháp tự học là cách thức hànhđộng của người học trong quá trình lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng, tìm tòi trithức mới Theo Rubanki “Hãy mạnh dạn tự mình đặt ra câu hỏi, rồi tự mình tìm racâu trả lời Đó chính là phương pháp tự học” Nếu người học rèn luyện được thóiquen, phương pháp, kỹ năng tự học thì sẽ tạo cho họ lòng tham học, khơi dậy tiềmnăng vốn có trong mỗi người, làm cho kết quả tự học tăng lên

Phương pháp học tập là cách thức hoạt động của người học trong quá trìnhtiếp nhận, khám phá và xử lý thông tin nhằm hình thành tri thức và kỹ năng.Phương pháp học tập cũng có vai trò rất quan trọng đối với kết quả học tập Nếungười học tìm được phương pháp học phù hợp với bản thân, với phương thức đàotạo và đặc điểm môn học thì việc tiếp thu sẽ thuận lợi, không mất quá nhiều côngsức, thời gian và hiệu quả học tập sẽ cao Từ đó, nó kích thích và phát huyđược khả năng tiềm ẩn trong mỗi con người

Trang 36

Hầu hết các môn học đều được sắp xếp theo dạng phát triển, những tri thứcsau được xây dựng trên cơ sở của tri thức đã có trước Để chiếm lĩnh các tri thứckhoa học nói chung, người học cũng như người trèo thang không qua nấc thangthấp thì không thể tiến lên nấc cao hơn Để tự học có hiệu quả người học tự trang

bị cho mình vốn kiến thức tốt để tự nghiên cứu vấn đề mình quan tâm

1.4.4 Động cơ, sự hứng thú và ý chí vượt khó của sinh viên trong hoạt động

tự học

Ý thức học tập và động cơ nhận thức có ý nghĩa quyết định trong quá trìnhhình thành và phát triển năng lực tự học của sinh viên Vì xét cho cùng chất lượnghọc tập phải là kết quả trực tiếp của sự nỗ lực của chính bản thân người học Nếungười học không xác định được vai trò quyết định của mình trong sự thành bại của

sự học, thì không bao giờ tự học thành công Chỉ khi xác định được mục đích vàđộng cơ hoạt động đúng đắn Sinh viên mới có thể phát huy “nội lực” trong học tập,

từ đó kết hợp các yếu tố “ngoại lực” khác để tổ chức các hoạt động học tập diễn ramột cách hợp lý và thu được kết quả cao

Hứng thú giữ vai trò to lớn trong hoạt động của con người nó làm cho chủ thể

có khát vọng tìm hiểu sâu sắc đối tượng Trong học tập, nếu sinh viên không cóhứng thú, hoạt động sẽ kém hiệu quả hơn, khi sinh viên có hứng thú với công việctìm tòi tri thức, khám phá khoa học chắc chắn sẽ là điều kiện tốt để sinh viên hìnhthành nhiều kỹ năng tự học tương ứng

Việc học là cho bạn và do bạn, vậy nên cần có thái độ tích cực khi học tập Vàkhi bản thân mỗi sinh viên hiểu được tầm quan trọng của việc học, không chỉ là cácmôn học để thi mà còn gồm cả học những kĩ năng mềm khác như: thuyết trình, giaotiếp… bạn sẽ thấy rằng mình còn rất nhiều điều cần học, bởi nếu lười biếng bảnthân bạn sẽ bị thụt lùi Chỉ khi thoải mái, yêu thích và hiểu được những giá trị màviệc học mang lại thì các bạn mới có động lực học tập và đạt hiệu quả cao

Động cơ là yếu tố thúc đẩy con người hành động Động cơ học tập của sinhviên được hiện thân ở đối tượng của hoạt động học, đó là những tri thức, kỹ năng,

kỹ xảo, thái độ, giá trị, chuẩn mực về giáo dục, đặc biệt là sự tự giáo dục đem lạicho họ

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HÀ NỘI 2 HIỆN NAY VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC TRẠNG

2.1 Vài nét khái quát về Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và đặc điểm của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

2.1.1 Vài nét khái quát về Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 được thành lập theo Quyết định số128/CP, ngày 14/8/1967 của Hội đồng Chính phủ, trên cơ sở chia tách Trường Đạihọc Sư phạm Hà Nội thành 03 trường: Đại học Sư ph ạ m Hà Nội 1 , Đại học Sưphạm Hà Nội 2 và Đại học Sư phạm N goại n g ữ Hà Nộ i Trụ sở ban đầu được đặt ởCầu Giấy, Từ Li ê m , H à Nội

Ngày 11/10/1975, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 chuyển lên Xuân Hoà,huyện Sóc Sơn, Vĩnh Phú (nay là Xuân Hòa, thành phố Phúc Y ê n, V ĩ nh Phú c )

Nhiệm vụ đào tạo của Trường: Trường đào tạo cử nhân khoa học và sau đại

học các ngành: Sư phạm Toán, Sư phạm Vật lý, Cử nhân Ngữ văn, Sư phạm Tiểuhọc, Giáo dục Mầm non, cung cấp nguồn nhân lực sư phạm cho các tỉnh trung du

và miền núi, vùng sâu vùng xa phía Bắc Việt Nam

Hiện nay, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 phương thức đào tạo theo hệthống tín chỉ

Có thể khẳng định rằng hoạt động tự học của sinh viên là một hoạt độngkhông thể thiếu và đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình học tập ởbậc đại học Tuy nhiên, trong các phương thức đào tạo khác nhau, hoạt động này lại

có những nét đặc thù riêng Sự khác biệt giữa hoạt động tự học trong học chế niênchế so với học chế tín chỉ được thể hiện ở một số điểm sau:

Thứ nhất, trong phương thức đào tạo theo niên chế, sinh viên tuân thủ theomột chương trình do nhà trường định sẵn của từng học kỳ, từng năm học, từng khóahọc căn cứ vào thời khóa biểu Và khi chuyển sang phương thức đào tạo theo tínchỉ, kế hoạch học tập cụ thể phụ thuộc vào người học Sinh viên có nhiệm vụ vàquyền được lựa chọn môn học, thời gian học, tiến trình học tập nhanh, chậm phù

Trang 38

hợp với điều kiện của mình Phương thức này tạo cho sinh viên năng lực chủ độngtrong việc lập kế hoạch học tập khoa học, xác định thời gian, phương tiện, biệnpháp đề thực hiện các mục tiêu đề ra trong kế hoạch học tập đó Khi đó người sinhviên phải ý thức xây dựng kế hoạch tự học, tự nghiên cứu sao cho quá trình học tậphiệu quả nhất.

Thứ hai, hình thức tổ chức dạy học trong phương thức tín chỉ quy định hoạtđộng tự học của sinh viên như là một thành phần bắt buộc trong thời khóa biểu và làmột nội dung quan trọng của đánh giá kết quả học tập Hoạt động dạy - học theo tínchỉ được tổ chức theo ba hình thức: lên lớp, thực hành và tự học Trong ba hìnhthức tổ chức dạy học này, hai hình thức đầu được tổ chức có sự tiếp xúc trực tiếpgiữa giảng viên và sinh viên (giảng viên giảng bài, hướng dẫn; sinh viên nghegiảng, thực hành, thực tập dưới sự hướng dẫn của giảng viên, ), hình thức thứ ba cóthể không có sự tiếp xúc trực tiếp giữa giảng viên và sinh viên (giảng viên giao nộidung để sinh viên tự học, tự nghiên cứu, tự thực hành và sẵn sàng tư vấn khi đượcyêu cầu) Ba hình thức tổ chức dạy học tương ứng với ba kiểu giờ tín chỉ: giờ tín chỉlên lớp, giờ tín chỉ thực hành và giờ tín chỉ tự học

Thứ ba, nội dung một bài giảng trong hệ thống tín chỉ thường gồm 3 thànhphần chính:

• Phần nội dung bắt buộc phải biết được giảng trực tiếp trên lớp

• Phần nội dung nên biết có thể không được giảng trực tiếp trên lớp mà giáoviên có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể sinh viên tự học, tự nghiên cứu ở ngoài lớp

• Phần nội dung có thể biết dành riêng cho tự học, chuẩn bị bài, làm bài tập,thảo luận nhóm, làm thí nghiệm và các hoạt động khác có liên quan đến môn học

2.1.2 Đặc điểm của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Phần lớn sinh viên Đại học Sư phạm Nội 2 có mục đích và động cơ học tậpđúng đắn, có nỗ lực cố gắng trong học tập

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 là một trong những trường đại học có uytín về chất lượng đào tạo, với điểm tuyển sinh đầu vào trong nhóm cao nhất cảnước Do đó, hầu hết sinh viên có trình độ, vốn tri thức tốt và khá đồng đều

Ngày đăng: 18/11/2019, 12:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Khánh Bằng (1994), Phương pháp tự học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tự học
Tác giả: Lê Khánh Bằng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1994
2. Nguyễn Thị Dung (2014), “Góp phần rèn luyện kĩ năng tự học cho sinh viên”, Tạp chí Giáo dục, số 338, trang 35 – 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần rèn luyện kĩ năng tự học cho sinh viên”,"Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Thị Dung
Năm: 2014
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn Kiện Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Kiện Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
4. Hà Thị Đức (1992), “Về hoạt động tự học của sinh viên sư phạm”, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 4 (1992), trang 23-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về hoạt động tự học của sinh viên sư phạm”, "Tạp chíNghiên cứu Giáo dục
Tác giả: Hà Thị Đức (1992), “Về hoạt động tự học của sinh viên sư phạm”, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 4
Năm: 1992
5. Phạm Minh Giản (2007), “Vấn đề tự học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Đồng Tháp”, Tạp chí Khoa học giáo dục, số 17, trang 50 – 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tự học của sinh viên Trường Đại học Sư phạmĐồng Tháp”, "Tạp chí Khoa học giáo dục
Tác giả: Phạm Minh Giản
Năm: 2007
6. Đỗ Thu Hà (2009), “Vấn đề tự học của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ”, Tạp chí Khoa học giáo dục, số 48, trang 47-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tự học của sinh viên trong đào tạo theo học chế tínchỉ”, "Tạp chí Khoa học giáo dục
Tác giả: Đỗ Thu Hà
Năm: 2009
7. Trần Thị Minh Hằng (2011), Tự học và yếu tố tâm lý cơ bản trong tự học của sinh viên sư phạm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự học và yếu tố tâm lý cơ bản trong tự học củasinh viên sư phạm
Tác giả: Trần Thị Minh Hằng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2011
8. Nguyễn Văn Hùng (2004), “Sinh viên học tốt - yếu tố trực tiếp quyết định chất lượng đào tạo của trường Sư phạm kỹ thuật”, Tạp chí Phát triển giáo dục, số 12, trang 23-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh viên học tốt - yếu tố trực tiếp quyết định chấtlượng đào tạo của trường Sư phạm kỹ thuật”, "Tạp chí Phát triển giáo dục
Tác giả: Nguyễn Văn Hùng
Năm: 2004
9. Nguyễn Kỳ (1990), “Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học”, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 2 (1990), trang 24-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học”, "Tạp chíNghiên cứu Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Kỳ (1990), “Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học”, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 2
Năm: 1990
10. Nguyễn Hiến Lê (2017), Tự học - Một nhu cầu thời đại, Nxb Văn hóa văn nghệ, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự học - Một nhu cầu thời đại
Tác giả: Nguyễn Hiến Lê
Nhà XB: Nxb Văn hóa văn nghệ
Năm: 2017
11. Lưu Xuân Mới (2000), Lý luận dạy học đại học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học đại học
Tác giả: Lưu Xuân Mới
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
12. Đỗ Mười (1998), Thư gửi Hội thảo khoa học nghiên cứu và phát triển tự học, tự đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thư gửi Hội thảo khoa học nghiên cứu và phát triển tự học,tự đào tạo
Tác giả: Đỗ Mười
Năm: 1998
13. N.A Rubakin (1973), Tự học như thế nào?, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự học như thế nào
Tác giả: N.A Rubakin
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1973
14. Phan Bích Ngọc (2009), Nghiên cứu kĩ năng làm việc độc lập với sách của sinh viên Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đề tài cấp Đại học Quốc gia - mã số QN05.0 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kĩ năng làm việc độc lập với sách của sinhviên Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác giả: Phan Bích Ngọc
Năm: 2009
15. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật Giáo dục, được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục
Tác giả: Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2005
16. S.M.HecBơt (1984), Nghiên cứu học tập như thế nào?, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu học tập như thế nào
Tác giả: S.M.HecBơt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1984
17. Phạm Quang Tiệp (2012), “Một số vấn đề lí luận về tạo động cơ học tập cho người học”, Tạp chí Giáo dục, số 292, tr 20-21; 62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lí luận về tạo động cơ học tập chongười học”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Phạm Quang Tiệp
Năm: 2012
18. Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên) - Nguyễn Kỳ - Vũ Văn Tảo - Bùi Tường (1997), Quá trình dạy, tự học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình dạy, tự học
Tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên) - Nguyễn Kỳ - Vũ Văn Tảo - Bùi Tường
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
19. Nguyễn Cảnh Toàn (2001), Tuyển tập tác phẩm tự học - Tự giáo dục - Tự nghiên cứu, Nxb Trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập tác phẩm tự học - Tự giáo dục - Tựnghiên cứu
Tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn
Nhà XB: Nxb Trường ĐHSP Hà Nội
Năm: 2001
20. Trần Anh Tuấn 1996), “Vấn đề tự học của sinh viên từ góc độ đánh giá chất lượng kỹ năng nghề nghiệp”, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 5 (1996), trang 18-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tự học của sinh viên từ góc độ đánh giá chấtlượng kỹ năng nghề nghiệp”, "Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục
Tác giả: Trần Anh Tuấn 1996), “Vấn đề tự học của sinh viên từ góc độ đánh giá chất lượng kỹ năng nghề nghiệp”, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 5
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w