Đối với bộ môn Lịch sử ngoài những năng lực chung còn có những năng lực chuyên biệt như: tìm hiểu lịch sử; nhận thức và tư duy lịch sử; vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học.” [22; tr.6] Tr
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
SINH Ơ TRƯƠNG THPT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học Lịch sử
Người hướng dẫn khoa học
ThS PHAN THỊ THÚY CHÂM
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, bên cạnh sự nỗ lực, cố gắng củabản thân, còn có sự quan tâm hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô, cũngnhư sự động viên, ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập
và nghiên cứu
Trước hết, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến ThS Phan Thị Thúy Châm
- người thầy đã tận tâm giúp đỡ và cung cấp những kiến thức và kinh nghiệmquý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy cô trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2,đặc biệt là các thầy cô trong tổ Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Lịch
sử đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tạitrường
Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu cùng các thầy côtrong tổ Xã hội và các em học sinh trường THPT Tiên Du số 1 (Bắc Ninh) nơitôi về thực tập đã tạo điều kiện cho tôi tiến hành thực nghiệm và hoàn thànhkhóa luận
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài không tranh khỏi những thiếu xót Tôirất mong nhận được sự đóng góp của mọi người để khóa luận được hoànchỉnh hơn
Em xin trân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Sinh viên
Trần Thị Thúy Hằng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của mình Những
số liệu và kết quả trong khóa luận là hoàn toàn trung thực Đề tài chưa đượccông bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Sinh viên
Trần Thị Thúy Hằng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 7
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 6
4 Muc đich va nhiêm vu cua đê tai 6
5 Cơ sơ phap luân va phương phap nghiên cưu 7
6 Đong gop cua khoa luân 8
7 Y nghia khoa hoc va thưc tiên cua đê tai 8
8 Cấu trúc của khóa luận 8
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VIỆC SỬ DỤNG CÂU HỎI TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX LỚP 10 NHẰM PHÁT HUY NĂNG LỰC TÌM HIỂU LỊCH SỬ CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT 9
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 9
1.1.1 Môt sô khai niêm cơ bản 9
1.1.2 Đăc trưng kiên thưc lich sư 13
1.1.3 Đăc điêm tâm li va nhân thưc cua hoc sinh lơp 10 ơ trương THPT 14
1.1.4 Đinh hương đôi mơi PPDH trong day hoc Lich sư ở trường THPT 19
1.1.5 Vai tro, y nghia cua viêc sư dung câu hoi trong day hoc Lich sư nhăm phat triên năng lưc tim hiêu lich sư cho hoc sinh ơ trương THPT20 1.2 Cơ sở thực tiễn 24
1.2.1 Thực trạng dạy và học lịch sử ở trường THPT 24
1.2.2.Thưc trang sư dung câu hoi trong day hoc lich sư nhăm phat triên năng lưc tim hiêu lich sư ơ trương THPT 25
Trang 5Tiểu kết chương 1 32
CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP SƯ DUNG CÂU HOI TRONG DAY HOC PHÂN LICH SƯ VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX LƠP 10 NHĂM PHAT TRIÊN NĂNG LƯC TIM HIÊU LICH SƯ CHO HOC SINH Ơ TRƯƠNG THPT 33
2.1 Vi tri, muc tiêu, nôi dung phân lich sư Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX (SGK Lich sư 10, chương trinh chuân) 33
2.1.1 Vi tri 33
2.1.2 Muc tiêu 34
2.1.3.Nôi dung 35
2.2 Nguyên tăc sư dung câu hoi trong day hoc Lich sư ơ trương THPT 37 2.2.1.Đam bao nôi dung bai hoc lich sư 37
2.2.2 Đam bao tinh vưa sưc 38
2.2.3 Đam bao tinh đa dang trong viêc thiêt kê câu hoi 40
2.2.4 Đam bao tinh hê thông 41
2.3.Quy trinh sư dung câu hoi trong day hoc Lich sư để phát triển năng lực tìm hiểu Lich sư cho HS ở trường THPT 41
2.4 Môt sô biên phap sư dung câu hoi trong day hoc phân Lich sư Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lơp 10 nhăm phat triên năng lưc tim hiêu lich sư cho hoc sinh ơ trương THPT 43
2.4.1 Sư dung câu hoi nhăm phat triên năng lưc nhân diên va sư dung tư liêu lich sư 43
2.4.2 Sư dung câu hoi nhăm phat triên năng lưc tai hiên va trinh bay lich sư 49
2.5.Thưc nghiêm sư pham 53
2.5.1.Muc đich thưc hiên 53
2.5.2.Đôi tương va đia ban thưc nghiêm 53
2.5.3.Nôi dung va phương phap thưc nghiêm 53
Trang 62.5.4.Kêt qua thưc nghiêm 54
2.5.5 Kêt luân sau thưc nghiêm 56
Tiêu kêt chương 2 57
KÊT LUÂN 58 TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined.
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
Trang 81 Lí do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
Trang 9Trong thời đại hội nhập như hiện nay, giáo dục là lĩnh vực có vai trò vôcùng quan trọng đối với mọi quốc gia, mọi dân tộc Đảng và nhà nước ta đã
khẳng định: “ Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Do vậy việc đổi mới giáo
dục là rất cần thiết và là mối quan tâm hàng đầu của các cấp, các ngành, cácnhà giáo dục và của toàn xã hội
Để nâng cao chất lượng giáo dục, cần đôi mơi tư muc tiêu, chương trinh,sach giao khoa đến phương phap day hoc Đăc biêt phai đôi mơi PPDH tưcach hoc “ truyền thu môt chiều” sang viêc HS đươc chu đông kham pha vachiếm linh kiến thưc dươi sư hương dân va đinh hương cua GV Co rất nhiềubiên phap đôi mơi PPDH như cai tiến cac PPDH truyền thống, kết hơp đadang cac PPDH, PPDH tich cưc,…
Lich sư không chỉ giúp ngươi hoc có được những kiến thức lịch sử mà cònhình thành và phát triển phâm chất năng lực cho người học Đất nước ta đãtrải qua một chặng đường lịch sử với bao thăng trầm của thời đại, có rất nhiềuchiến công huy hoàng cũng có những đau thương, mất mát không thể nào
quên Như chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “ Dân ta phải biết sử ta/ cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”, câu noi nay như một lời kêu gọi va yêu cầu của
Bác với nhân dân đặc biệt là thế hệ học sinh phải hiểu rõ được lịch sử nướcnhà , bởi nếu không có quá khứ thì sẽ không có hiện tại và tương lai Tuynhiên, thưc tế cho thấy môn Lịch sử đang bị hoc sinh thờ ơ, xem nhẹ, chỉ coi
là môn phụ và học theo kiểu đối phó Đồng thời một số GV còn chưa thực sựhiểu sâu về phương pháp dạy học và kiến thức còn lệ thuộc vào SGK, chưachủ động đổi mới dẫn đến giờ học năng nề, kho khăn
Đặt câu hỏi là kỹ năng quan trọng đối với mỗi GV và là một trong nhữngyếu tố quyết định đến chất lượng lĩnh hội kiến thức của học sinh Nôi dungcủa câu hỏi sẽ giúp học sinh kích thích tư duy, hướng HS vào nôi dung bài
Trang 10học, đồng thời giúp học sinh dê dang kham pha va ghi nhớ kiến thức mơi Thếnhưng, trên thưc tế viêc đăt câu hoi trong day hoc vân thương bi xem nhe GVchi đăt ra nhưng câu hoi “cho co” chưa chu y đến kết qua nhân đươc sau khi
HS tra lơi Cac câu hoi thương chưa tâp trung vao nôi dung kiến thưc, thâm trihoc sinh chi đoc lai nguyên trong sach giao khoa ma không hiêu ban chất câutra lơi, không tao sư kich thich tim toi dân đến viêc hoc trơ nên năng nề
Chương trinh giao duc phô thông tông thê va chương trinh môn hoc nhấn
manh: “giao duc phai giúp học sinh phát triển những phẩm chất, năng lực cần thiết, khả năng tự học và đinh hương nghề nghiệp phù hợp với năng lực
và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân Hệ thống các năng lực chung và năng lực chuyên biệt cho học sinh ơ tưng môn hoc đa đươc đưa ra trong chương trình giáo dục phổ thông tông thê Đối với bộ môn Lịch sử ngoài những năng lực chung còn có những năng lực chuyên biệt như: tìm hiểu lịch sử; nhận thức và tư duy lịch sử; vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học.” [22; tr.6] Trong đó, NLTHLS là một trong những năng lực quan trọng
giúp học sinh tìm hiểu, khai thác tư liệu để hình thành kiến thức, kĩ năng vàthái độ trong quá trình học tập, đồng thơi, đây cung la cơ sơ, nền tang đê phattriên cac năng lưc cần thiết khac
Phần lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX có vị trí và tầmquan trọng trong đó có nhiều sự kiện quan trọng, nhân vật tiêu biểu, để lạinhiều ý nghĩa, có sử dụng nhiều khái niệm lịch sử đòi hỏi học sinh phải nhậnthức đúng bản chất của nó đặc biệt trong giai đoạn này có nhiều tư liệu, sửliệu có giá trị cần khai thác Bơi xem đây là một giai đoan khó và buôc GVphải có những PPDH tích cực để phát triển NL cho HS đặc biệt là NL THLS
Xuất phát từ những lí do trên tôi quyết định chọn đề tài: “Sử dụng câu hỏi trong dạy học phần lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp
10 nhằm phát triển năng lực tìm hiểu lịch sử cho học sinh ở trường THPT”
làm đề tài khóa luận của mình
Trang 112 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc sử dụng câu hỏi trong dạy học nhằm phát triển năng lực cho học sinh
ở trường THPT là rất quan trọng Vấn đề này đã được khá nhiều các nhànghiên cứu và các nhà giáo dục trinh bay trong bai viết của mình
Tai liêu nươc ngoai
B.P Exipop đa viết “Những cơ sở lý luận dạy học” (1971), tập 3 NXB Giáo dục, “nhấn mạnh đến việc nâng cao tính tích cực, sáng tạo, độc lập, ham hiểu biết của HS trong quá trình học tập, đồng thời nêu rõ nhiệm vụ của nhà trường là phải phát triển tính tích cực và phương pháp làm việc tự lập cho HS” [9; tr.112].
Trong cuốn Phương phap va ki thuât lên lơp cua N.Miacolep do
Nguyên Hưu Chương dich (NXB Giao duc Ha Nôi, 1973) Tac gia đa khăng
đinh : “ Môi câu hoi phai la môt bâc thang đê khai quat viêc đưa ra chư nhất quyết không re sang hương khac.” [14 ;tr.121]
Trong giáo dục lịch sử, N.G Dari với cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào” NXB Giáo dục, Hà Nội, 1973 đa viết: “Tác giả đã đưa ra những yêu cầu quan trọng của giờ học lịch sủ, trong đó hoạt động nhận thức tích cực của HS là một điều kiện bắt buộc đối với giờ học được tổ chức khoa học
A.V Petrovsiki trong cuốn Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm,
tập 1, (NXB Giáo dục, 1982) đa trinh bay về đăc điêm tâm ly cua HS THPT
tư đo co cac biên phap phu hơp đê giao duc tre
Trang 12Tac phâm “Day hoc nêu vấn đề cua I.La.Lecne “ do Phan Tất Đắc dich (NXB Giao duc Ha Nôi, 1997), tac gia khăng đinh : “ sư cần thiết cua viêc đăt nhiêm vu nhân thưc cho HS trong suốt giơ hoc bằng cach lâp môt hê thống câu hoi liên quan chăt che vơi nhau Cac tai liêu sư dung đê đăt câu hoi phai đa dang, chinh xac va phu hơp vơi mưc đô nhân thưc cua HS Đồng thơi đề cập đến vai trò của người giáo viên trong dạy học, đăc biêt la vai tro đinh hương cua GV nhằm phat triên năng lưc cho HS.” [11;tr.85]
Tai liêu trong nươc:
“Vấn đề đăt câu hoi cua Giao viên ơ lơp kiêm tra đanh gia viêc hoc tâp cua hoc sinh” cua Nguyên Đinh Chinh (NXB Giao duc Ha Nôi, 1995), tac gia
đa nêu lên sư cần thiết cua viêc đăt câu hoi trong qua trinh day hoc, nêu lênnhưng yêu cầu khi GV đăt câu hoi cho HS va nêu lên môt số loai câu hoi cothê sư dung trong day hoc kiêm tra đanh gia
Trần Thị Tuyết Oanh trong cuốn Giáo trình giáo dục học tập 1 (NXB
ĐHSPHN, Hà Nội, 2005) tac gia đa đề câp đến viêc day hoc tiếp cận năng lựccho HS ơ trương THPT va môt số biên phap nhằm nâng cao chất lương giaoduc
Trong cuốn “Các con đương biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trương phổ thông” của Nguyễn Thị Côi, Nxb ĐHSP Hà Nội (2006)
tac gia cho rằng: Một trong những biện pháp để nâng cao hiệu quả bài học làviệc giup HS trình bày, tai hiên lịch sử trong dạy học lịch sư qua viêc hoathân thanh cac nhân vât lich sư
Cuốn “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới”, NXB Giáo
dục (2010), tác giả Thái Duy Tuyên tiếp tục đề cập đến phương pháp dạy họchiện đại, trình bày những cơ sở lí luận và hệ thống các phương pháp dạy học
hiện đại Tác giả cũng dành một phần “Những vấn đề cấp thiết” trình bày về
nội dung đổi mới phương pháp dạy học- tái hiện và sáng tạo trong dạy học,
tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh và nhấn mạnh “Điều quan
Trang 13trọng nhất trong việc đổi mới phương pháp dạy học là Thầy dạy thế nào để học sinh động não, để làm thay đổi chất lượng hoạt động trí tuệ của học sinh, làm phát triển trí thông minh, trí sáng tạo của họ Đó là bản chất của vấn đề,
là sự vận động nội tại của phương pháp giảng dạy” [6; tr.68].
Trong giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” (2012), NXB ĐHSP
Hà Nội, (Phan Ngọc Liên chủ biên) “Việc phát triển năng lực nhận thức và hành động cho học sinh trong quá trình học tập lịch sử không chỉ làm cho học sinh hiểu biết sâu sắc hơn, mà còn luyện tập cho các em trở thành người có tư duy độc lập, chủ động tích cực trong suy nghĩ và hành động”.[4;tr.59]
Trong luân văn Thiết kế va sư dung câu hoi trong day hoc lich sư ơ trương THPT (qua vi du Lich sư Viêt Nam giai đoan 1930-1945 ơ lơp 12) cua Nguyên Thi Duyên (2001), tac gia khăng đinh “…viêc sư dung câu hoi lam phương tiêc kich thich tinh tich cưc, đôc lâp trong nhân thưc, tư duy hoc sinh – cung vơi kết hơp đồng bô, hơp li cua cac phương phap, biên phap sư pham khac đa gop phần nân cao hiêu qua bai hoc lich sư.” [ 19;tr.125].
Trong luân văn Sư dung câu hoi nêu vấn đề trong day hoc lich sư đê phat huy tinh tich cưc, chu đông cua hoc sinh (2012) cua Ma Thi Xuân Thu Tac gia đa nhấn manh: “ Viêc đăt câu hoi trong day hoc lich sư la môt trong nhưng biên phap quan trong đê phat triên tư duy hoc sinh Song sư dung câu hoi va hê thống câu hoi như thế nao đê phat huy tinh tich cưc cua hoc sinh la môt vấn đề kho va phưc tap.” [21; tr.67]
Chương trinh giao duc phô thông tông thê (Ban hành kèm theo Thông
tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo) đa nêu : “Chương trình giáo dục trung học phổ thông giúp học sinh tiếp tục phát triển những phẩm chất, năng lực cần thiết đối với người lao động, ý thức và nhân cách công dân, khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời, khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học lên, học nghề hoặc
Trang 14ki X đến nưa đầu thế ki XIX (SGK lịch sử 10 chương trình chuẩn) do đo tôilưa chọn đề tài này làm đề tài nghiên cứu cua minh.
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc sử dụng câu hỏi trong dạy học phần lịch sử Việt Nam từ thế kỉ Xđến nửa đầu thế kỉ XIX lớp 10 nhằm phát triển năng lực tìm hiểu lịch sử chohọc sinh ở trường THPT
- Đề xuất một số biên phap sư dung câu hoi trong day hoc phần ViệtNam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lơp 10 (chương trình chuẩn) nhằmphat triên năng lưc tim hiêu lich sư cho hoc sinh ơ trương THPT
Trang 15- Các câu hỏi có thể vận dụng vào dạy học phần Lịch sử Việt Nam từthế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX (lớp 10, chương trình chuẩn) nhằm phát triểnnăng lực nhân diên va sư dung tư liêu lich sư
- Các câu hỏi có thể vận dụng vào dạy học phần Lịch sử Việt Nam từthế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX (lớp 10, chương trình chuẩn) nhằm pháttriển năng lực tai hiên va trinh bay lich sư
- Nguyên tắc sư dung câu hoi trong day hoc Lich sư ơ trương THPT
- Quy trinh sư dung câu hoi trong day hoc Lich sư để phát triển nănglực tìm hiểu Lich sư cho HS ở trường THPT
- Môt số biên phap sư dung câu hoi trong day hoc phần Lich sư ViệtNam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lơp 10 nhằm phat triên năng lưc timhiêu lich sư cho hoc sinh ơ trương THPT
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính đung đắn củanhững đề tai đưa ra
5 Cơ sơ phap luân va phương phap nghiên cưu.
5.1 Phương pháp luận.
Lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối củaĐảng ta về giáo dục
5.2 Phương pháp nghiên cứu.
Nghiên cứu lí thuyết: Tim hiêu và phân tích, tổng hợp sách báo, tạp chí,khóa luận, bài nghiên cứu, internet… về tâm lý học, giáo dục học, phươngpháp dạy học LS, vấn đề sử dụng câu hỏi trong dạy học Lịch sử ở trườngtrung học phổ thông; phân tích nội dung chương trình, SGK lớp 10 hiện hành
Trang 16Nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, dự giờ, trao đổi với giáo viên, học sinh,điều tra xã hội học để đánh giá về thực trạng sử dụng câu hỏi trong dạy họcLịch sử ở trường trung học phổ thông; Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra,đối chứng kết quả nghiên cứu của đề tài
Thực nghiệm sư phạm: sử dụng câu hỏi nhằm phát huy năng lực tìmhiểu lịch sử của học sinh lớp 10 ở trường THPT Tiên Du số 1
6 Đong gop cua khoa luân
Đề tài góp phần:
Khẳng định tầm quan trọng của việc sử dụng câu hỏi trong dạy họcLịch sử phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp 10nhằm phát triển năng lực tìm hiểu lịch sử cho học sinh ở trường THPT
Đề xuất một số biện pháp sử dụng câu hỏi trong DH Lịch sử
7 Y nghia khoa hoc va thưc tiên cua đê tai
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm đa dang lí luận dạy học bộmôn lịch sử
Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp GV và HS tiếp nhân kiến thức LS,kiến thức lí luận dạy học bộ môn, đặc biệt là việc sử dụng câu hỏi trong dạyhọc nhằm phát huy NL cho HS
8 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, khóaluận bao gồm 2 chương:
Trang 17Chương 1: Cơ sơ li luân va thưc
hoc phân lich sư Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lơp 10 nhăm phat triên năng lưc tim hiêu lich sư cho hoc sinh ơ trương THPT
Chương 2: Biện pháp sử dụng câu hỏi trong dạy học phần lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp 10 nhằm phát huy năng lực tìm hiểu lịch sử cho học sinh ở trường THPT
Trang 18NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VIỆC SỬ DỤNG CÂU HỎI TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX LỚP 10 NHẰM PHÁT HUY NĂNG LỰC TÌM HIỂU
LỊCH SỬ CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT.
Theo chương trinh giao duc phô thông tông thê: “năng lực là thuộc tính
cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.” [22;tr.14 ]
Tóm lại, dựa trên nhiều y kiến ở trên ta có thể đưa ra định nghĩa nhưsau: “Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bốicảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộctính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… năng lực của cá nhân đượcđánh giá qua phương thức và khả năng hoạt động của cá nhân đó khi giảiquyết các vấn đề của cuộc sống”
Năng lực được chia thành 2 loại là năng lực chung và năng lực chuyênbiệt
Trang 19Năng lực chung là nhưng năng lực cốt lõi cua cac hoạt động trong cuộcsống, học tập và lao động va đươc hình thành, phát triển dựa trên bản năng ditruyền của con người va quá trình giáo dục Bao gồm cac nhom NL chungnhư sau:
- NL công cu: NL ngôn ngư, NL tinh toan, NL ICT
- NL chung sống/ NL xa hôi: NL giao tiếp, NL hơp tac
- NL lam chu va phat triên ban thân: NL thâm mi, NL tư chu
NL chuyên biệt đươc hiêu la những NL được hình thành và phát triểndưa trên cơ sở các NL chung theo hướng chuyên sâu hơn, đăc thu trong cácloại hình công việc hoặc tình huống, môi trường cu thê
Trong quá trình dạy học Lịch sử, việc phát triển năng lực chuyên biệtrất được chú trọng Năng lực chuyên biệt được chia thành ba loại năng lực:
- NL THLS: “ học sinh co kha năng nhận diện được các tư liệu lịch sử, khai thác và sử dụng được tư liệu lịch sử nhằm phuc vu qua trinh học tập cua minh Đồng thời tái hiện nội dung lịch sử thông qua hình thức nói hoặc viết từ đơn giản đến phức tạp; xác định được các sự kiện trong không gian và thời gian cụ thể” [23;tr.7]
- NL nhận thức và tư duy lịch sử: “ Hs co kha năng chi ra được quá trình phát triển của lịch sử; tim hiêu được sự giống va khac nhau giữa các sự kiện; lí giải được mối quan hệ cac sư kiên trong tiến trình cua lịch sử Đưa ra đươc nhưng đánh giá của bản thân về các sự kiện, nhân vật trên cơ sở nhận thức và tư duy; hiểu được sự tiếp nối và thay đổi của lịch sử, biết suy nghĩ theo những hướng khác nhau khi đánh giá về sự kiện, nhân vật, quá trình lịch sử” [23;tr.7]
- NL vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học: “ rút ra được bài học và sư dụng được kiến thức lịch sử để lí giải những tinh huống thực tiễn; tự tìm hiểu những vấn đề lịch sử, phát triển năng lực sáng tạo, có khả năng tiếp cận và
Trang 20xử lý thông tin từ những nguồn khác nhau, có ý thức và năng lực tự học lịch
sử suốt đời.” [23;tr.7]
Nhân thấy NLTHLS la môt năng lưc quan trong va cần thiết cho hocsinh khi hoc môn lich sư Bơi lich sư la qua khư, ta chi co thê tiếp cân quakhư qua tai liêu, sư liêu,… nhằm tai hiên sư kiên trong qua khư Trong dayhoc Lich sư GV không thê giơi thiêu hết tất ca cac kiến thưc LS cho HS machi co thê giup HS nắm nhưng kiến thưc cơ ban Hơn nưa muốn so sanh, sưdung kiến thưc thi đầu tiên ta phai nắm chắc ban chất cua sư kiên ấy, vi vâyNLTHLS đong vai tro la nền tang cho sư hinh thanh cac NL chuyên biêt khac
Do đo, tôi tâp trung nghiên cưu phat triên NL tim hiêu lich sư cho HS
1.1.1.2 Câu hoi
Thương ngay ta thường sử dụng và phải giải quyết các câu hỏi Nhưngkhông mấy ai hiểu rõ được khái niệm chung nhất về câu hỏi, có rất nhiều ýkiến và khái niệm khác nhau
Khi nhắc đến câu hỏi, ta phải xác định trên 2 khía cạnh
Về nội dung: câu hỏi là câu nói lên sự thắc mắc, hoài nghi về một vấn
đề nào đó và cần được làm rõ
Về hình thức: có dấu chấm hỏi “?” hoặc có từ để hỏi: “ tại sao”?, “ như
thế nào”?, “ở đâu”?,… Tuy nhiên trong một số trường hợp, câu hỏi chưa nộidung nghi vấn tuy nhiên không có dấu chấm hỏi hay có từ để hỏi nhưngchúng ta vẫn nhận biết qua ngữ điệu
Trong dạy học lịch sử, câu hỏi thường nêu lên mâu thuẫn giữa kiếnthức đã học với kiến thức mới, giữa kiến thức và cách giải quyết kiến thức
Có nhiều căn cứ để phân chia câu hỏi: theo các khâu, theo các giai đoạncủa bài học, theo nội dung, theo mục đích của câu hỏi, theo định hướng câutrả lời,theo không gian sử dụng…
Trang 21- Dựa vào mức độ nhận thức của học sinh thì câu hỏi được chia thành:+ Câu hỏi tái hiện: học sinh tái hiện những kiến thức đã được học.+ Câu hỏi phát hiện (câu hỏi tìm kiếm): học sinh đọc SGK, tư liệu là cóthể trả lời được, tạo hứng thú học tập, cung cấp kiến thức mới.
+ Câu hỏi phát triển: Đòi hỏi học sinh phải độc lập suy nghĩ và có tínhsang tạo, không chỉ ghi nhớ mà còn nắm vững bản chất sự kiện,…
Nếu dựa vào thời điểm sử dụng, câu hỏi được chia thành các loại sau:
+ Câu hỏi nêu vấn đề: được dung vào đầu giờ, đầu mục để đặt ra nhiệm
vụ nhận thức cho học sinh
+ Câu hỏi gợi mở: Dùng trong quá trình biễn tiến bài học, nhằm tìmhiểu nội dung của bài học
+ Câu hỏi củng cố, kiểm tra: Sử dụng ở cuối bài học
Tuy nhiên, đa số mọi người thường chia câu hỏi theo mức độ nhân thưccủa câu hỏi bao gồm:
+ Câu hỏi nhận biết: Yêu cầu học sinh nhớ hoặc nhận ra những kiếnthức cơ bản đa biết, đa đươc hoc Có nghĩa là học sinh phai nhắc lại một loạtcac sư kiên, từ các sự kiện đơn giản đến các khái niệm lí thuyết, tái hiện trongtrí nhớ những thông tin cần thiết Đây là mức độ thấp nhất đạt được trong lĩnhvực nhận thức.Ví dụ như trình bày diễn biến, mốc thời gian, liêt kê cac sưkiên chinh,…
+ Câu hỏi thông hiểu: Yêu cầu học sinh giải thích được bản chất sựkiện, mối liên hệ giữa các sự kiện, diễn đạt được kiến thức đã học theo ý hiểucủa mình và trả lời được các câu hỏi tương tự Điều đó có thể được thể hiệnbằng việc chuyển tài liệu từ dạng này sang dạng khác (từ các số liệu sangngôn từ ), bằng cách giải thích được tài liệu (giải thích hoặc tóm tắt), mô tảtheo ngôn từ của minh Câu hoi nay ở mức độ này cao hơn so với mức độnhận biết Vi du như giai thich nguyên nhân, phân tich mối quan hê cua sưkiên nay vơi sư kiên kia,…
Trang 22+ Câu hỏi vận dụng: Yêu cầu học sinh vận dụng những kiến thức đãhọc để giải quyết một vấn đề nào đó của lịch sử như đánh giá sự kiện đã họcvới thưc tai Ơ mưc đô nay học sinh vượt qua cấp độ hiểu đơn thuần ma cóthể sử dụng, xử lý các kiến thưc lich sư của chủ đề trong các tình huống tương
tự Vi du như: Đanh gia sư anh hương giưa 2 sư kiên, liên hê sư kiên nay vơi
sư kiên kia,
1.1.2 Đăc trưng kiên thưc lich sư
Thứ nhất là tính quá khứ: “ Lịch sử là một dòng chảy liên tục trên trục thời gian từ quá khứ, hiện tại đến tương lai Nhận thức lịch sử trong khoa học lịch sử là nhận thức phần quá khứ trên trục thời gian ấy, bởi vậy người ta không thể tận mắt chứng kiến mà chỉ tiếp cận được chúng thông qua các tài liệu lịch sử.” [1;tr104] Yêu cầu cua GV la giúp HS tiếp cận lịch sử một cách
khách quan, trung thực Đê đam bao đươc điều nay, môi câu hoi cua GV đăt
ra phai giup HS khai thac tai liêu lich sư nhằm hinh thanh va phat triên kiếnthưc cua ban thân
Thứ hai là tính không lặp lại: “ Không có một sự kiện, hiện tượng Lịch sử nào xảy ra cùng thời điểm, trong các thời kì khác nhau là hoàn toàn giống nhau, dù có điểm giống nhau, không lặp lại mà là sự kế thừa, phát triển, sự lặp lại trên cơ sở không lặp lại” [1; tr105]
Do đo khi đăt câu hoi trình bày một sự kiện, hiện tượng nào đó trong lịch sửphải chu y đến thời gian và không gian làm xay ra sự kiện, hiện tượng đó
Thứ ba là tính cụ thể: “ Các nước, các dân tộc khác nhau đều mang những nét đặc sắc riêng trong tiến trình lịch sử và quy luật của nó Mỗi sự kiện cụ thể đều có hoàn cảnh, diễn biến, kết quả, ý nghĩa cu thê.” [1; tr110]
Vi vây GV cần đăt nhưng câu hoi giup HS hương tơi viêc trinh bay các
sự kiện lịch sử môt cach chi tiết, sinh động cang trơ nên cần thiết
Thứ tư là tính hệ thống (logic): “Nội dung tri thức trong môn Lịch sử rất phong phú, đề cập đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội loài người, bao
Trang 23gồm cả chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa - nghệ thuật, khoa học - kĩ thuật Nôi dung được nằm trong hệ thống, quan hệ chặt chẽ vơi nhau Việc tìm hiểu kiến thức mới va nhắc lai kiến thức cũ cần làm rõ mối quan hệ giữa các sự kiện để thấy được tính logic của Lịch sử.” [1; tr141].
Cac câu hoi liên hê cac sư kiên vơi nhau se giúp HS nhìn nhận lịch sửnhư một bức tranh toàn cảnh trên tất cả những lĩnh vực kinh tế, chính trị vănhóa – xã hội của từng giai đoạn, thời kỳ lịch sư
Thứ năm là tính thống nhất giữa “sử” và “luận”: trước tiên ta hiểu phần phần “sử” và phần “luận” như sau: “Phần sử là các sự kiện, hiện tượng đã xảy ra trong xã hội loài người (Lịch sử thế giới) cũng như của dân tộc (Lịch
sử dân tộc Phần luận là cách giải thích, đánh giá, nhận xét, bình luận về các
sự kiện lịch sử đã sảy ra Hai phần sử và luận có mối quan hệ chặt chẽ, không tách rời nhau” [1; tr.148].
Mọi sự kiện nếu muốn được sáng tỏ thì buộc phải giải thích, lý giải bảnchất của no, ngược lại mọi sự lý giải, giải thích, chứng minh đều phải lấy cơ
sở từ sự kiện lịch sử cụ thể Từ đặc điểm này, trong quá trình giảng dạy giáoviên cần đảm bảo sự thống nhất va liên kết giữa trình bày sự kiện với việc giảithích, bình luận sự kiện bằng cach đăt cac câu hoi dưa vao thông tin sư kiên ơmưc đô thấp đê đanh gia sư kiên ơ mưc đô cao hơn
Việc xác định nhưng điều nay giúp chúng ta tìm ra phương pháp, conđường thich hơp, có hiệu quả cho việc dạy học LS ở trường phổ thông
1.1.3 Đăc điêm tâm li va nhân thưc cua hoc sinh lơp 10 ơ trương THPT
* Đặc điểm tâm lý
Lứa tuổi nay bắt đầu từ 16 đến 18 tuổi Trong tâm lý học, các nhànghiên cứu đã xếp HS THPT thuộc giai đoạn tuổi đầu thanh niên- độ tuổi có
Trang 24nhiều sự thay đổi mới trong quá trình phát triển Sự phát triển thể chất đãbước vào thời kì phát triển bình thường, hài hòa, cân đối, hoàn chỉnh về chiềucao, cân nặng, Đồng thời, tâm lý ở tuổi HS THPT cũng thể hiện tính chấtphức tạp và không cố định chính vì vậy các nhà tâm lý học Macxit cho rằng:
“Khi nghiên cứu tuổi HS THPT thì cần phải kết hợp với quan điểm của tâm lý học xã hội và phải tính đến quy luật bên trong của sự phát triển lứa tuổi”
Thứ nhất, nhìn chung ở tuổi này các em có sức khỏe hơn tuổi HS
THPT Sự phát triển sẽ có tac đông đến nhân cách va tới sự lựa chọn nghềnghiệp sau này của HS
Thứ hai là điều kiện sống và hoạt động (gia đình, trường học, xã hội):
Các em thấy được trách nhiệm của minh đối với gia đình khi được tham giavào các vấn đề quan trọng Ở trương hoc, hoạt động chủ đạo vân la hoc tâp vađòi hỏi các em tích cực, chăm chi, cố gắng vận dụng tri thức một cách phuhơp
Trong lứa tuổi này HS THPT phat triên rất nhiều so với HS THCSchính vì vậy cần phải thay đổi phương pháp dạy học nói chung và phươngpháp đặt câu hỏi nói riêng nhằm kích thích, khơi gợi hứng thú và hiệu quả họctập cho học sinh ở tất cả các môn học trong đó có môn Lịch sử
Ở lứa tuổi này HS có thể xác định mục đích, khuynh hướng học tập.Các em bắt đầu tập trung vào các môn học yêu thích của mình Đồng thời các
em cũng đã hiểu mình đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời và những mônhọc chính là điều kiện cần thiết để tham gia hiệu quả vào cuộc sống lao động
xã hội Do đo, thái độ học tập các môn học của HS THPT có những chuyểnbiến rõ rệt nhằm chuẩn bị cho nghề nghiệp trong tương lai
Sự phát triển tâm lí xã hội:
Thứ nhất là sự phát triển xúc cảm, tình cảm: Khả năng tự kiểm soát và
tự điều chỉnh cảm xúc của các em đã được ổn định hơn Nội dung, chất lượngcủa tình cảm dần trở nên phong phú , tình cảm đạo đức dần được hình thành
Trang 25Đặc biệt là sự xuất hiện của một loại tình cảm là tình cảm nam nữ, biểu hiệncủa loại tình cảm này khá phức tạp và nhảy cảm Chính vì vậy, giáo viên nên
có những thái độ và biện pháp thích hợp, tế nhị và không nên can thiệp mộtcách thô bạo tránh những phản ứng tiêu cực từ phía HS
Thứ hai là sự phát triển về nhu cầu: ở lứa tuổi này quan hệ bạn bè
chiếm vị trí quan trọng hơn hăn Các em coi người bạn của mình như “ cáitôi” thứ 2 để giãi bày tâm sự Vì vậy GV cần tạo điều kiện cho HS phát triểnquan hệ giao tiếp, hợp tác trong tập thể nhằm tạo các mối quan hệ, tình bạn sựgắn bó tốt đẹp giữa các bạn học sinh với nhau Một đặc điểm nổi bật của lứatuổi này là cảm giác mình đã trở thành người lớn và mong muốn trưởng thànhcủa HS thể hiện rất rõ Do vậy HS có nhu cầu về tính độc lập, khao khát đượckhẳng định cái “tôi” của mình dẫn đến đôi khi các em ấm ức thậm trí là phảnkháng khi GV chưa nhìn nhận mình là một người lớn và không hiểu được tâm
tư nguyện vọng cùa mình Một điều kiện thuận lợi để phát triển năng lực của
HS là khuynh hướng học tập các môn học đã gần được hình thành rõ rệt Nhàtrường nên quan tâm tổ chức học tập cho thích hợp nhằm phát huy tối đã tiềmnăng và nhu cầu học tập của HS
Thứ ba là sự phát triển khả năng tự đánh giá, tự ý thức và tự giáo dục:Biểu hiện đặc trưng của khả năng tự ý thức ở độ tuổi này là khả năng tự đánhgiá bản thân theo chuẩn mực của xã hội Tuy nhiên lòng tự trọng ở lứa tuổinày phát triển mạnh, biểu hiện ở chỗ các em không chấp nhận mình kém coihay thua người khác Lòng tự trọng thường phát triển theo hai chiều hướng làtính tự trọng cao (đánh giá mình không thấp hơn người khác, biết bảo vệ nhâncách của mình) hoặc tính tự trọng thấp (không hài lòng về bản thân, xemthường chính mình, tự ti) Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nhâncách của HS THPT
Do đo, với nhưng đặc điểm riêng biệt va sự trưởng thành về tư duy vànhu cầu về môn học định hướng nghề nghiệp đòi hỏi người GV cần phải biết
Trang 26thay đổi phương pháp phù hợp, có hiệu quả Hoc tâp nhơ khám phá luônmang lại sự nhưng sư thú vị nhất đinh cho HS, đặc biệt đặc trưng của Lịch sử
là tìm hiều về quá khứ, về những gì đã diễn ra từ đó yêu cầu GV cần phải sửdụng linh hoạt và có hiệu quả các câu hỏi nhằm giúp HS khai thác, ghi nhớ vàhiểu bản chất sự kiện một cách chính xác nhất
*) Đặc điểm nhận thức
Bao gồm nhưng điểm chung và điểm riêng biệt đốivới quá trình nhậnthức của loài người
Thứ nhất (điểm chung): Trong học tập Lịch sử, quá trình nhận thức trải
qua các giai đoạn từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lí tính Quá trình này
là kết quả của việc tiếp nhận và ghi nhớ kiến thức LS, tạo biểu tượng
Thứ hai (điểm riêng): Khac so với quá trình nhận thức chung của loài
người là sự nhận thức của HS mang tính gián tiếp, tính được hướng dẫn vàtính giáo dục
- Tính gián tiếp: HS tiếp cân lich sư thông qua tài liệu và GV Do đặctrưng tính quá khứ của Lịch sử nên HS không thê trực tiếp tiếp cân với quákhứ mà phải thông qua tri giác với tư liệu, hiện vật LS
- Tính được hướng dẫn: quá trình hoc tâp của HS được tiến hành ơ môtđiều kiện sư phạm nhất định và dưới sự hướng dẫn của GV Ở HS THPT, tưduy trừu tượng đang phát triển, nên cần chú ý tăng cường các hoạt động kíchthích để hoàn thành giai đoạn nhận thức đó Tuy nhiên quá trình nhận thứccủa HS không tự diễn ra mà phải có sự kích thích; do đó việc sử dụng hệthống câu hỏi trong quá trình dạy học có ý nghĩa quan trọng và thiết thực đểkích thích quá trình hoc tâp của HS Vai trò định hướng của GV và sự chủđộng của HS là yếu tố quyết định đến kết quả của quá trình giảng dạy và họctập
- Tính giáo dục: Quá trình hoc tâp của học sinh là quá trình tiếp thu trithưc để phát triển cac năng lưc cần thiết Tính giáo dục trong dạy học phải
Trang 27được định hướng, kết hợp chặt chẽ với nội dung kiến thức Các câu hỏi sẽgiúp HS định hướng và đi đến kiến thức cần đạt.
Do đo, GV cần quan tâm đặc biệt đến phương pháp giảng dạy nóichung và các biện pháp sử dụng câu hỏi nói riêng nhằm góp phần phát triểnnăng lực cho HS Được tự mình kham pha những vấn đề lịch sử giúp HS nhớlâu kiến thức, hiểu rõ bản chất Nếu GV sử dụng tốt các câu hỏi sẽ góp phầnnâng cao chất lượng dạy học bộ môn ở trường phổ thông
Sự phát triển về nhận thức:
Thứ nhất về sự phát triển tri giác: việc học tập va chi số tri giac của HS
THPT lớn so với lứa tuổi THCS HS bắt đầu tập trung quan sát để tìm ra “cáiriêng” của mỗi đối tượng khác nhau
Thứ hai về sự tập trung chú ý: được quy định bởi sự lựa chọn các môn
học yêu thích của mình Ở lứa tuổi này các em đã biết phối hợp giữa việc ghichép, nghe giảng, và tham gia tìm hiểu bài học một các chủ động hơn
Thứ ba là sự phát triển trí nhớ: nhờ sự phát triển của thể chất mà trí nhớ
cũng có sự phát triển Trong các giờ học các em đã biết ghi nhớ kiến thức cóchọn lọc và theo các phương pháp nhất định Vì vậy trong dạy học GV cầnchủ ý bồi dưỡng và định hướng cho các em khả năng ghi nhớ logic, hệ thốnghóa kiến thức
Thứ tư là về sự phát triển tư duy: đây là giai đoạn hoàn thiện của năng
lực trí tuệ Theo Piaget, ở độ tuổi này HS đã hình thức tư duy hình thức và tưduy logic Tư duy ở lứa tuổi này có tính chặt chẽ hơn và có căn cứ nhất quánhơn, phân biệt cái thực và cái còn nghi ngờ Đồng thời tính phê phán tư duy
cũng phát triển Thứ năm về sự phát triển tưởng tượng: sự tưởng tượng của
HS được xây dựng bằng những chất liệu do hiện thực cung cấp qua hệ thầnkinh, các giác quan được phối hợp giữa những yếu tố hiện thực và những hìnhtượng tưởng tượng Một biểu hiện rõ rệt nhất của tưởng tượng chính là sángtạo và sự sáng tạo ấy phụ thuộc vào sự phong phú của kinh nghiệm thực tiễn
Trang 28Kinh nghiệm càng phong phú thì sáng tạo càng đặc sắc Bởi vậy cần tăngcường hoạt động giáo dục kinh nghiệm cho HS đê các em được nghe, đượcthấy, được nhìn nhiều hơn.
1.1.4 Đinh hương đôi mơi PPDH trong day hoc Lich sư ở trường THPT
Trong rất nhiều cac giai phap nhằm nâng cao chất lương đao tao thi giảipháp đổi mới phương pháp dạy học đươc xem la khâu vô cung quan trong ởtất cả các cơ sở giáo dục Thực trạng phương pháp dạy học ngày nay vẫn làphương pháp thuyết trình với quan điểm: “Lấy người dạy làm trung tâm”
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI đã nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật
và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực.” (27)
Trong chương trinh giao duc phô thông tông thê ban hanh ngay
27/12/2018 đa đề câp đến viêc : “ đổi mới phương pháp dạy học nhằm thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái
gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất cho học sinh.” [23;tr9]
Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phươngpháp đặc thù của môn học để thực hiện Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phươngpháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thànhnhiệm vụ nhận thức(tự chiếm lĩnh kiến thức) với sự tổ chức, hướng dẫn củagiáo viên”.Việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triểnnăng lực thể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau:
Trang 29+ Dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập
+ Chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và cáctài liệu học tập
+Tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở
thành môi trường giao tiếp GV - HS và HS – HS
+ Chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt
tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học)
Tóm lại, có rất nhiều phương hướng đổi mới phương pháp dạy học vớinhững cách tiếp cận khác nhau, tuy thuôc vao đăc thu va muc tiêu cua tưngmôn hoc Chương trình đôi mơi môn Lịch sử quán triệt đầy đủ quan điểm,mục tiêu, định hướng chung về xây dựng và phát triển chương trình giáo dụcphổ thông, đặc biệt là quan điểm phát triển phẩm chất và năng lực cho họcsinh Day hoc Lich sư phai mang tinh khoa hoc, hê thống, chu trong đến viêcthưc hanh, phat triên năng lưc, đồng thơi giao duc tư tương, tinh cam cho HS.Viêc đôi mơi cach thưc va nâng cao hê thống câu hoi co y nghia quan trongđối vơi viêc đôi mơi phương phap day hoc Lich sư vơi muc tiêu hình thành,phát triển phẩm chất và năng lực cho HS Viêc đăt câu hoi đong vai tro chuđao trong bất ki cac PPDH nao va no cang trơ nên quan trong khi thưc hiênPPDH tich cưc
1.1.5 Vai tro, y nghia cua viêc sư dung câu hoi trong day hoc Lich sư nhăm phat triên năng lưc tim hiêu lich sư cho hoc sinh ơ trương THPT 1.1.5.1 Vai trò
* Đối với GV
Các câu hỏi được cho là một trong những công cụ mạnh nhất trong kho
vũ khí của giáo viên Giáo viên luôn dựa vào các câu hỏi để khai thác, kiểmtra và đánh giá học sinh của họ Chỉ thông qua các đánh giá, giáo viên mới cóthể đo lường kiến thức và hiểu biết của học sinh về nội dung học tập Vàtrong môi trường lớp học truyền thống, đánh giá thường chuyển thành các câu
Trang 30hỏi Bằng cách đặt câu hỏi đúng, giáo viên sẽ đánh giá đúng một học sinh đãhiểu các khái niệm và thông tin được dạy trong lớp hay chưa đồng thời câuhỏi còn giúp giáo viên xác định lỗ hổng kiến thức, hoặc HS đang gặp khókhăn với tài liệu nào và cần trợ giúp điều gì.
Các câu hỏi có sức mạnh làm tăng sự tương tác học tập giữa GV và HS
và giữa các HS với nhau Khi GV đặt câu hỏi thì buộc HS tham gia trả lời câuhỏi và đóng góp vào câu hỏi đó Các câu hỏi se xoa bo sự đơn điệu của lớphọc và khuyến khích học sinh tham gia vào quá trình học tập
* Đối với học sinh
Các câu hỏi đối với HS về cơ bản có thể được coi như là một hoạt độngcửa ngõ Nếu một câu hỏi không thể khơi dậy sự tò mò của mình, có lẽ bạn sẽkhông bao giờ muốn tìm ra câu trả lời Mặt khác, nếu một câu hỏi thú vị, kíchthích khiến bạn tò mò thì chắc chắn bạn sẽ theo dõi dấu vết của nó và đi đếncâu trả lời cuối cùng Và hơn thế nữa, bạn có thể hiểu nó và ghi nhớ nó mộtcách dễ dàng hơn
Tử Hạ đã nói: "Mỗi ngày biết thêm điều mình chưa biết, như vậy mới đáng gọi là người ham học" Một học sinh biết cách học tốt là người biết cách
khai thác câu hỏi và tìm ra câu trả lời được chính xác cho câu hỏi đó Nếu câuhỏi càng được suy ngẫm lâu, càng tốn nhiều thời gian khám phá, tìm tòi câutrả lời thì kiến thức càng vững chắc, càng khó bị "vô ý"" xoá khỏi trí nhớ
Tóm lại việc sử dụng câu hỏi là một trong những con đường,phương pháp học tập hiệu quả nhằm phát huy năng lực tìm hiểu lịch sử cho
HS, góp phần thực hiện mục tiêu môn học
1.1.5.2 Ý nghĩa
“Garbage in, Garbage out” là một câu phổ biến trong lĩnh vực tin hoc:nếu bạn cung cấp thông tin đầu vào sai thì kết quả trả về sẽ bị sai Đây cũng làquy tắc phổ biến trong giao tiếp: nếu bạn đặt câu hỏi sai thì bạn sẽ nhận đượccâu trả lời sai hoặc một câu trả lời không như trông đợi
Trang 31Việc đặt câu hỏi không chỉ có y nghia đăc biêt trong việc kiểm tra đánhgiá mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển toàn diện cho HS.
Về kiến thức: Sử dụng câu hỏi trong học tập giúp HS nắm vững kiến
thức lịch sử trên cả 3 mức độ biết, hiểu và vận dụng
Thứ nhất, việc sử dụng các câu hỏi trong học tập như câu hỏi gợi mở,
câu hỏi khai thác, câu hỏi kiểm tra đánh giá… giúp tích cực nghiên cứu bàihơn nữa HS ở trường THPT có thể phân hóa kiến thức và ghi nhớ thành: kiếnthức nào cần nhớ chi tiết kiến thức nào cần khái quát và vấn đề nào cần hiểusâu Đồng thời GV dễ dàng gợi mở, cung cấp kiến thức nâng cao, liên hệ thực
tế cho học sinh thông qua các câu hỏi mở, câu hỏi liên hệ
Ví dụ khi dạy Bài 24 Tinh hinh văn hoa ơ cac thế ki XVI – XVIII
GV sử dụng câu hỏi: “Em hay trinh bay nhưng thanh tưu tiêu biêu về nghê thuât va khoa hoc – ki thuât ơ cac thế ki XVI – XVIII? ” để giúp học
sinh tìm hiểu về môt số công trinh nghê thuât va thanh tưu khoa hoc thơi kinay
Thứ hai, giúp HS tìm ra bản chất các vấn đề, sự kiện lịch sử GV định
hướng cho HS kham pha, nghiên cứu những sự kiện một cách sâu sắc để tìm
ra bản chất của sự kiện, nhân vật một giai đoạn lịch sử
Ví dụ khi dạy bài “ Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỷXVI – XVIII” phần “1 Sự sụp đổ của triều Lê sơ Nhà Mạc được thành lập”
GV sử dụng câu hỏi: “ Hiện nay việc đặt tên đường Mạc Thái Tổ và Mạc TháiTông ở Hà Nội đang gây tranh cãi bởi sự ra đời và những chính sách của nhàMạc trước kia Vậy em đánh giá như nào về vương triều này?” giúp HS hiểu
rõ bản chất của vương triều nhà Mạc đồng thời sử dụng những kiến thức đó
để giải quyết các vấn đề thực tế
Thứ ba, học tập thông qua các câu hỏi giup HS lĩnh hội tổng hợp nhiều
kiến thức khac nhau Để trả lời đươc các câu hỏi thì đòi hỏi HS phải vận dụng
Trang 32liên hệ linh hoạt nhiều lĩnh vực kiến thức khác nhau như văn học, địa lý, nghêthuât,…
Ví dụ khi dạy bài 23 “ Phong trào Tây Sơn và sự nghiệp thống nhất đấtnước, bảo vệ Tổ quốc cuối thế kỉ XVIII” GV sử dụng 2 câu thơ “ Mà nay áovải cờ đào/ Giúp dân dựng nước xiết bao công trình” trong bài thơ Ai tư vãncủa Ngọc Hân công chúa và đặt câu hỏi: “ Hai câu thơ trên nhắc về nhân vậtlịch sử nào?” giúp khơi gợi và xây dựng hình tượng người anh hùng áo vảiNguyễn Huệ cho HS thông qua việc vận dụng kiến thức văn học để trả lời câuhỏi
Về kĩ năng:
Thứ nhất, câu hỏi góp phần phát triển tư duy và rèn luyện cho HS khả
năng tiếp nhận, diễn đạt một vấn đề lịch sử các kỹ năng giao tiếp cá nhân khitrả lời như: tiếp nhận câu hỏi, phân tích, trình bày, thuyết trình, lập luận giúphọc sinh tự tin và nhận thức vấn đề sâu sắc hơn
Thứ hai, câu hỏi góp phần hình thành khả năng tự đánh giá, tự ý thức
và tự tìm hiểu cho HS Các câu hỏi giúp HS tự đánh giá quá trình học tập, tìmhiểu, khai thác tài liệu, thông tin của mình Từ đó có biện pháp tự điều chỉnhtrong quá trình học tập nhằm đạt kết quả cao nhất
Về thái độ: sử dụng câu hỏi góp phần bồi dưỡng, giáo dục tư tưởng,
tình cảm phẩm chất đạo đức cho HS THPT
Thứ nhất, giúp HS rèn luyện tinh thần kiên trì, cần cù trong học tập.
Khi gặp một câu hỏi khó, chưa thể dễ dàng tìm ra câu trả lời HS cần kiên trìtìm hiểu ở nhiều nguồn tài liệu khác nhau để tìm ra câu trả lời chính xác nhất
và quá trình này chắc chắn gặp rất nhiều khó khăn
Thứ hai, việc sử dụng các câu hỏi còn thể hiện thái độ hợp tác, tích cực
tham gia đóng góp vào tiết học của học sinh Khi câu hỏi được đặt ra, sự hàohứng và cách giải quyết câu hỏi đó của HS là những biểu hiện rõ ràng nhấtcho tinh thần học tập
Trang 33Thứ ba, đap ưng mục tiêu bài học: Với các mục tiêu thái độ được đặt
ra trước mỗi bài học thông qua các câu hỏi HS có thê trình bày, thể hiệnquan điểm cua ban thân với những vấn đề LS
Về định hướng phát triển năng lực:
Thứ nhất, các câu hỏi góp phần hình thành và phát triển cho HS những
năng lực chung như: NL tự học, giải quyết vấn đề và sáng tạo, NL giao tiếp,hợp tác
Thứ hai, ngoài việc hình thành và phát triển các NL chung các câu hỏi
còn góp phần phát triển các NL chuyên biệt trong môn lịch sử như:
Trang 34nhân tiếp theo là do quan niệm không đúng về vị thế, chức năng, nhiệm vụcủa môn học trong việc giáo dục nền tảng đạo đức và tinh thần cho thế hệ trẻViệt Nam
Chúng ta có thể thấy một thực tế, hầu hết mỗi tiết học môn Lịch sử các
em thật nhàm chán, vô vị khi chỉ được tiếp nhận một chiều hay lối học đọcchép truyền thống đã ăm sâu vào cách học của chúng ta Trong kì thi tốtnghiệp Trung học phổ thông những năm gần đây, rất ít các em lựa chọn mônLịch sử trở thành môn thi tốt nghiệp, đã có trường hợp chỉ có duy nhất một thísinh dự thi môn Lịch sử Điều đó đã phản ánh một thực trạng học tập bộ mônLịch sử của học sinh ở trường phổ thông hiện nay
Bên cạnh sự thờ ơ của học sinh thì việc môn Lịch sử ngày càng bị xemnhẹ còn do một số giáo viên chưa thực hiện tốt vai trò của mình: còn chưathực sự hiểu sâu về phương pháp dạy học và kiến thức còn lệ thuộc vào sáchgiáo khoa, tức là chưa làm chủ được kiến thức dẫn đến giờ học khô khannhàm chán và nặng nề chính tình trạng này đã làm mất đi tính hấp dẫn củamôn lịch sử Một vấn đề cần phải xét tới là trong khi môn lịch sử được phân
bổ rất ít tiết nhưng chương trình SGK lại quá dài cho nên GV phải chạy đuổitheo chương trình cho kịp tránh tình trạng cháy giáo án; vì vậy giáo viênkhông có thời gian để phân tích, đặt câu hỏi, đánh giá còn học sinh cũng cóquá ít thời gian để tìm hiểu, nghiên cứu vì phải học nhiều môn Bài học se trởnên đơn điệu với phần trình bày của giáo viên mà không có sự tương tác,tham gia đóng góp của HS
Môn lịch sử luôn luôn được khẳng định là quan trọng, nhưng trên thực
tế đã chưa được coi trọng Thực tế đã phản ánh một thực trạng khá buồn củaviệc dạy và học Lịch sử hiện nay ở trường THPT
1.2.2.Thưc trang sư dung câu hoi trong day hoc lich sư nhăm phat triên năng lưc tim hiêu lich sư ơ trương THPT
Trang 35Để hiểu được thực trạng, tôi tiến hành phát phiếu điều tra nhiều GV vàhọc sinh trong quá trình thực tập sư phạm Bao gồm có 10 giáo viên ở cáctrường: THPT Tiên Du số 1 (Bắc Ninh), THPT Hàn Thuyên (Bắc Ninh),THPT Xuân Áng (Phú Thọ) và học sinh ở Trường THPT Tiên Du số 1 (lớp10ª2, lớp 10ª3), THPT Xuân Áng ( lớp 10H, lớp 10G,) với số phiếu phát ra là
120 phiếu thu về 120 phiếu
Nội dung điều tra gồm: Quan điểm nhận thức của GV và HS về bộ mônLịch sử và chất lượng dạy và học Lịch sử ở trường phổ thông hiện nay; Mức
độ, tần suất và hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi trong dạy và học trongDHLS; Hình thức, phương pháp sử dụng các câu hỏi
Hình thức, PP điều tra: Tôi tiến hành trao đổi với GV và HS của trường
thực nghiệm, phát phiếu điều tra cho GV và HS ở 3 trường THPT
Qua điều tra tổng hợp kết quả điều tra thực tiễn, tôi thu được kết quảnhư sau:
1.2.2.1 Vê phia hoc sinh
Mức độ yêu thích môn Lịch sử
Rất thích Thích Bình thường Không thích
Điều này cho thấy không phải hầu hết các em học sinh đều quay lưng lại vớimôn lịch sử Tuy nhiên số học sinh không thích môn Lịch sử vẫn ở mức cao
Trang 36điều nay đoi hoi nha trương, giao viên cần co nhưng biên phap nhằm tăng sưhưng thu va chất lương giao duc cho HS đối vơi bô môn Lich sư.
Khó khăn khi học môn Lịch sử
Ý kiến khác
Khó vận dụng vào thực tế
Phải nhớ nhiều sự kiện, mốc thời gian
Phương pháp giảng dạy nhàm chán
0 5 10 15 20 25 30 35 40 45
Tư kết qua thống kê cho thấy, nguyên nhân HS chưa yêu thích va khokhăn trong viêc tiếp thu môn LS co rất nhiều nguyên nhân va một trongnhưng nguyên nhân ấy là do PPDH của GV chưa thực sự cuốn hút Chính vìthế GV cần đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy năng lực, tính tíchcực, chủ động của HS
Mức độ sử dụng câu hỏi của giáo viên
Thường xuyên Thỉnh thoảng Rất ít
Chưa bao giờ
Trang 37Mức độ yêu thích các câu hỏi
Có Không
Tư số liêu kết qua cua hai câu hoi trên ta thấy, ơ trương THPT GV đa thưchiên viêc đăt câu hoi trong qua trinh giang day Tuy nhiên, viêc nay lai khôngmang lai hiêu qua biêu hiên la đa số cac em không hao hưng va không thichcach đăt câu hoi cua GV Đây cung la môt trong nhưng nguyên nhân khiến
HS chưa thât sư yêu thích môn LS va đa số HS đều nhân thấy vai tro va ynghia cua viêc sư dung câu hoi cua giao viên
Mẫu câu hỏi mong muốn
Tất cả các đáp án trên
Thú vị, hình thức bắt mắt
Phù hợp với khả năng
Ngắn gon ̣n , rõ nghĩa
0 2 4 6 8 10 12 14 16
Tư viêc nhân thưc đươc vai tro cua câu hoi, số lương HS mong muốnthay đôi cach đăt câu hoi theo hương đam bao về hinh thưc va nôi dung chiếm
Trang 38ti lê cao hơn hăn Điều nay đăt ra yêu cầu GV cần phai đôi mơi cach đăt câuhoi phu hơp nhu cầu va sư phat triên cua ngươi hoc.
1.2.2.2 Vê phia giao viên
Tác dụng của câu hỏi
Tất cả các phương án trên
Kiểm tra, đánh giá
Khơi gợi hứng thú học tập của học sinh
Nhằm tìm hiểu nội dung của bài họnc
0 0.5 1 1.5 2 2.5 3 3.5 4 4.5 5
Nhìn vào bảng số liệu trên cho thấy, các GV đều thấy được ý nghĩa vàtầm quan trọng của việc sử dụng câu hỏi
Trang 39Nguyên nhân khó học môn Lịch sử
Do cơ sở vật chất
Do phương pháp dạy và học
Do thời lượng tiết học Ý kiến khác
Nhìn vào bảng số liệu trên cho thấy, các GV đều cho rằng trong xu thếhội nhập như hiện nay việc đổi mới cách học Tuy nhiên do tâm lí ngại thayđổi, chưa nhận thức đầy đủ về vai trò và ý nghĩa của việc đổi mới nên vẫn còn
y kiến cho rằng không nhất thiết phải thay đổi Một thực trạng đáng buồn ởcác trường THPT là việc dạy và học theo phát triển NL vẫn còn chưa đượcphổ biến và chưa được quan tâm, chú trọng
Mức độ tiếp nhận và trả lời câu hỏi
Rất tốt Tốt Không tốt
Trang 40Nhin vao bang kết qua điều tra trên ta thấy mưc đô tiếp nhân va tra lơicâu hoi cua HS ơ mưc đô thấp vân chiếm ti lê cao Điều nay phan anh chấtlương va cach đăt câu hoi cua GV chưa thât sư đat hiêu qua Giáo viên thườngxuyên sử dụng các câu hỏi vào nhiều mục đích khác nhau tuy nhiên lại chưađem lại hiệu quả.
Điều nay chưng to GV đa bươc đầu chu y đến viêc day hoc phat triên
NL cho HS Tuy nhiên vân con số it GV vân chưa hiêu đầy đu về phat triên
NL THLS môt trong số nguyên nhân đo la viêc tâp huấn cho GV về PPDHchưa thât sư hiêu qua
Tư viêc điều tra thưc trang sư dung câu hoi va NL THLS của HS S ởtrường THPT Tiên Du số 1, THPT Xuân Áng tôi nhận thấy:
Việc đặt câu hỏi đóng vai trò quan trọng trong qua trình dạy và học ở trườngTHPT đối với cả học sinh và giáo viên Việc đặt câu hỏi đã được tiến hành từlâu tuy nhiên vẫn còn mang nhiều hạn chế như chưa khơi gợi được hứng thúhọc tập Tư đó, chưa đat đươc hiệu quả hoc, chưa phát triển NL cho HS Do
đo, đặt câu hỏi phải được quan tâm và tiến hành trong các giờ học Lịch sửmột cách khoa học và đạt hiệu quả cao