Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay, ứng dụng công nghệ thông tin CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước CQNN, hướng tới mục tiêu xây dựng phát triển Chínhphủ điện tử CPĐT là xu thế tấ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN LỢI QUỐC KHÁNH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐỂ XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ
ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Hà Nội - 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN LỢI QUỐC KHÁNH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐỂ XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ
ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là kết quả nghiên cứu riêng của tôi, chưađược công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào của người khác
Việc sử dụng kết quả, trích dẫn tài liệu của người khác đảm bảo theođúng các quy định Các nội dung trích dẫn và tham khảo các tài liệu, sáchbáo, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm theo danh mục tài liệu thamkhảo của Luận văn
HỌC VIÊN
NGUYỄN LỢI QUỐC KHÁNH
Trang 4MỤC LỤC
Chương 1 9
LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN, XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ 9
1.1 Một số khái niệm 9
1.2 Chủ thể chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng Chính phủ điện tử 18
1.3 Thể chế chính sách ứng dụng công nghệ thông tin 19
1.4 Những nhân tố tác động đến chính sách ứng dụng công nghệ thông tin 23
Chương 2 28
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN, XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ TRONG CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM 28
2.1 Sự hình thành, phát triển của công nghệ thông tin tại Việt Nam 28
2.2 Vấn đề chính sách ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng chính phủ điện tử 32
2.3 Thực tiễn tổ chức thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng chính phủ điện tử trong các cơ quan nhà nước tại Việt Nam 44
Chương 3 61
CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐỂ XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ 61
3.1 Các giải pháp 61
3.2 Nội dung giải pháp 61
3.3 Kiến nghị đối với các CQNN có thẩm quyền 67
KẾT LUẬN 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
WTO Tổ chức thương mại thế giới
CNTT-TT Công nghệ thông tin và truyền thông
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong hoạt động của
cơ quan nhà nước (CQNN), hướng tới mục tiêu xây dựng phát triển Chínhphủ điện tử (CPĐT) là xu thế tất yếu, là mô hình phát triển phổ biến của nhiềuquốc gia, xây dựng CPĐT trở thành nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của bất cứChính phủ nào CPĐT cho phép người dân tương tác, nhận được các dịch vụ
từ Chính phủ 24 giờ một ngày, 07 ngày một tuần, tăng tính minh bạch, giảmchi phí, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Chính phủ, góp phần làmgiảm tiêu cực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốcphòng Nhận thức được tầm quan trọng của ứng dụng CNTT và CPĐT, Đảng,Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm tạo hành lang pháp lý cũng nhưtăng cường ứng dụng CNTT, thúc đẩy CPĐT Tuy nhiên, việc thực hiện cácchính sách này còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ dẫn đến hiệu quả ứng dụngCNTT còn nhiều hạn chế Do đó, cần đánh giá đúng thực trạng ứng dụngCNTT nói chung, trong đó tập trung vào các ứng dụng CNTT để xây dựngCPĐT; kịp thời phát hiện những bất cập, tồn tại, hạn chế; từ đó đề xuất cácgiải pháp nâng cao hiệu quả của công tác này trong thời gian tới là một đòihỏi khách quan và hết sức cần thiết Đó chính là lý do em đã lựa chọn nghiên
cứu đề tài “Thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng chính phủ điện tử ở Việt Nam hiện nay”
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ứng dụng CNTT nói chung, bao gồm các ứng dụng CNTT để xây dựngCPĐT vốn không phải là một vấn đề mới mà trong thực tế đã có nhiều nhànghiên cứu, nhiều cơ quan tìm hiểu, nghiên cứu tại rất nhiều tài liệu Một sốtài liệu được tác giả lựa chọn để tham khảo, nghiên cứu bao gồm:
1 Bộ Thông tin và Truyền thông (2015) Khung kiến trúc Chính phủ
điện tử Việt Nam, phiên bản 1.0.
Trang 72 Đặng Hữu (2001), Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nhà xuất bản Chính trịQuốc gia, Hà Nội
3 Đặng Hữu (2005), Công nghệ thông tin - mũi nhọn đột phá đưa loàingười vào thời đại kinh tế tri thức, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội
4 Trần Việt Cường (2014), Một số vấn đề về nghiên cứu xây dựng kiếntrúc hệ thống thông tin quốc gia, Tạp chí Công nghệ thông tin và Truyềnthông, tháng 9/2014 (kỳ 2), tr.19-20
5 Thu Hà (2015), 6 bài học triển khai thành công tin học hóa trong cácCQNN, Tạp chí Công nghệ thông tin và Truyền thông, tháng 01/2015 (kỳ 2),
từ thực tiễn của các CQNN tại Việt Nam cho đến nay chưa có một công trìnhkhoa học nào đề cập đến Những tài liệu nêu trên sẽ giúp ích cho việc thamkhảo, đối chứng trong quá trình nghiên cứu đề tài của tác giả
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu của Luận văn: trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận vềthực hiện chính sách ứng dụng CNTT xây dựng CPĐT, đánh giá việc thựchiện chính sách ứng dụng CNTT thúc đẩy CPĐT tại các CQNN tại Việt Nam
đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách ứng dụng côngnghệ thông tin xây dựng CPĐT
Trang 83.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Những nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản mà Luận văn cần đặt ra:
- Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT trong các CQNN tại Việt Nam;
- Tiến hành thu thập và tổng hợp thông tin, tài liệu phục vụ cho việcphân tích thực trạng tổ chức thực hiện chính sách ứng dụng CNTT để xây dựngCPĐT tại các CQNN;
- Phân tích, đánh giá việc thực hiện chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT từ thực tiễn các CQNN tại Việt Nam;
- Đề xuất giải pháp nâng cao kết quả thực hiện chính sách ứng dụngCNTT để xây dựng CPĐT ở Việt Nam hiện nay
3.3 Giả thiết nghiên cứu
Thứ nhất, chính sách ứng dụng CNTT nói chung, trong đó có nhữngchính sách về xây dựng CPĐT đã được tổ chức thực hiện ở các CQNN tạiViệt Nam nhưng chưa mang lại kết quả và hiệu quả như mong muốn của nhànước cũng như của các đối tượng chính sách Do đó, nếu chính sách ứng dụngCNTT được các CQNN triển khai, tổ chức thực hiện một cách khoa học, hợp
lý và phù hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam thì sẽ đem lại nhiều kết quảcao hơn so với hiện tại, từ đó, góp phần tạo thêm động lực để xây dựng, pháttriển CPĐT
Thứ hai, việc thực hiện những chính sách ứng dụng CNTT chưa thật sựtạo ra động lực mạnh mẽ để thúc đẩy quá trình xây dựng CPĐT Vấn đề này
có thể do quá trình tổ chức thực hiện chính sách chưa thực sự phù hợp phùhợp và nếu có các giải pháp phù hợp thì sẽ nâng cao được kết quả cũng nhưhiệu quả thực hiện chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT ở ViệtNam hiện nay Do vậy, nếu các CQNN tại Việt Nam có những cơ chế, giải
Trang 9pháp ứng dụng CNTT phù hợp trên cơ sở sử dụng nguồn lực hợp lý thì sẽ thuđược nhiều kết quả cao và bền vững hơn.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT, cụ thể là nghiên cứugiải pháp tổ chức thực hiện và công cụ chính sách ứng dụng CNTT từ thựctiễn của các CQNN tại Việt Nam dưới góc độ khoa học chính sách công
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2015 đến nay
- Không gian nghiên cứu: Tại các CQNN tại Việt Nam
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: Đề tài này chủ yếu nghiên cứu cácchính sách ứng dụng CNTT, trong đó tập trung vào nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách ứng dụng CNTT trong các CQNN để xây dựng CPĐT
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Cách tiếp cận của Luận văn mang tính đa ngành, liên ngành xã hội học,vận dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công với sự tham gia của nhiềuchủ thể chính sách Lý thuyết chính sách công được nghiên cứu thông qua thựctiễn và được vận dụng để giúp hình thành lý luận về chính sách chuyên ngành
5.2 Cơ sở thực tiễn
Luận văn nghiên cứu, đánh giá thực tiễn triển khai ứng dụng CNTT nóichung, trong đó, tập trung vào các ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT tạiViệt Nam thông qua việc tổng hợp, phân tích các số liệu, báo cáo, bài viếtnghiên cứu của nhiều tác giả qua các thời kỳ Cùng với đó là kinh nghiệmthực tiễn triển khai của một số quốc gia đã xây dựng thành công CPĐT (như:Estonia, Nga, Pháp, Anh…) cũng được tác giả nghiên cứu, khai thác để đềxuất giải pháp ứng dụng phù hợp cho bối cảnh Việt Nam
Trang 105.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin:
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp để thu thập, phântích và khai thác thông tin từ các nguồn tài liệu, báo cáo, văn bản hiện hànhliên quan đến đề tài nghiên cứu Bao gồm: các văn kiện, tài liệu, Nghị quyếtcủa Đảng; văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ (Luật, Nghịđịnh, Thông tư hướng dẫn Nghị định…); các công trình nghiên cứu khoa học,báo cáo, thống kê của các tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếptới vấn đề thực hiện chính sách ứng dụng CNTT nói chung, trong đó có cácchính sách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT
- Phương pháp phân tích so sánh:
Luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích so sánh Các đốitượng nghiên cứu được khảo sát, đánh giá trong các bối cảnh thực tế và dựatrên các số liệu báo cáo, thống kê được thu thập từ những tài liệu nghiên cứu,
từ các báo cáo đánh giá, tổng kết tình hình, kết quả ứng dụng CNTT trong cácCQNN Từ đó đưa ra các nhận xét, đánh giá sự phù hợp của các chính sáchứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT trong bối cảnh thực tiễn triển khai tạiViệt Nam
Trang 116 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
- Hoạt động nghiên cứu về chính sách ứng dụng CNTT cũng như tìnhhình triển khai, thực thi các chính sách ứng dụng CNTT có thể được tiếp cận dướinhiều góc độ của các ngành khoa học khác nhau Trong Luận văn này, việc nghiêncứu về hoạt động ứng dụng CNTT được tiếp cận dưới góc độ của ngành khoa họcchính sách công, vì vậy Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá thựctrạng, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chínhsách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT tại Việt
Nam
- Luận văn tập trung hệ thống hóa một cách cơ bản, dựa trên cơ sở khoahọc và thực tiễn các khái niệm, nội hàm về CNTT nói chung cũng như tình hìnhthực hiện chính sách ứng dụng CNTT trong các CQNN tại Việt Nam và làm rõnhững vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách ứng dụng CNTT để xâydựng CPĐT
- Luận văn cung cấp thông tin về thực trạng ứng dụng CNTT, trong đótập trung vào các ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT, đồng thời, tổng hợp quanđiểm và yêu cầu của Đảng và Nhà nước về thực hiện chính sách ứng dụng CNTT.Trên cơ sở thực trạng và những quan điểm, yêu cầu nêu trên, Luận văn đề xuấtnhững giải pháp nhằm tổ chức thực hiện hiệu quả chính sách ứng dụng CNTT đểxây dựng CPĐT
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện chínhsách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT tại các CQNN, Luận văn đề xuấtnhững giải pháp nhằm tổ chức thực hiện hiệu quả chính sách, bảo đảm phùhợp với những yếu tố đặc thù của các CQNN tại Việt Nam, góp phần thực hiện thành công chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT, phù hợp với
Trang 12điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay.
7 Kết cấu của Luận văn
Luận văn được chia làm 3 chương (bao gồm phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo), trong đó:
Chương 1: Lý luận về chính sách ứng dụng CNTT, xây dựng CPĐTChương 2: Thực trạng chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT trong các CQNN tại Việt Nam
Chương 3: Các giải pháp thực hiện chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT
Trang 14Chương 1
LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN,
XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm công nghệ thông tin và Chính phủ điện tử
Khái niệm "công nghệ thông tin" được nêu tại rất nhiều nguồn tài liệu,tạp chí khoa học Qua nghiên cứu của tác giả, khái niệm này xuất hiện lần đầutrong một bài viết trên tạp chí Harvard Business Review vào năm 1958 Trong
đó, hai tác giả Leavitt và Whisler đã viết: "Công nghệ mới chưa thiết lập một
tên riêng Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin” Tại Việt Nam, khái niệm
CNTT được nêu tại trong Nghị quyết 49/CP ngày 04/8/1993 của Chính phủ
về phát triển CNTT, như sau: “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học,
các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội” Khái niệm này được sử dụng rộng rãi và được phát
triển, bổ sung, cập nhật tại Luật CNTT số 67/2006/QH11 ngày 29/06/2006
của Quốc hội, theo đó, “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công
nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số” Như vậy, với những quy định tại Luật CNTT,
khái niệm CNTT đã được quy định một cách hoàn chỉnh và được pháp lý hóatại một văn bản Luật, tạo cơ sở cho hoạt động triển khai ứng dụng CNTT, sảnxuất các sản phẩm ứng dụng CNTT… của các Bộ, ngành, địa phương, các tổchức, cá nhân có liên quan
Đối với CPĐT, khái niệm CPĐT được Liên hiệp quốc định nghĩa là:
“Chính phủ điện tử là Chính phủ ứng dụng CNTT nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của CQNN, tăng cường công khai, minh bạch thông tin,
Trang 15cung cấp dịch vụ công tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp” [25] Các
dịch vụ của CPĐT thông thường bao gồm: G2G (cung cấp thông tin, các dịch
vụ liên quan giữa các cơ quan của Chính phủ với nhau); G2B (Chính phủcung cấp thông tin, dịch vụ cho doanh nghiệp); G2C (Chính phủ cung cấpthông tin, dịch vụ cho người dân); G2E (Chính phủ cung cấp các thông tin,dịch vụ cho cán bộ, công chức, viên chức)
Về các giai đoạn phát triển CPĐT, đây là quá trình lâu dài, liên tục, quacác giai đoạn khác nhau Việc phân chia các giai đoạn phát triển CPĐT nhằmxác định mức độ phát triển CPĐT của mỗi cơ quan, cũng như làm cơ sở xácđịnh lộ trình, kế hoạch triển khai CPĐT đúng hướng, phù hợp với điều kiện,nhu cầu thực tế
Các tổ chức khác nhau có cách phân chia các giai đoạn phát triển CPĐTcủa riêng mình, trong đó nổi bật là cách phân chia của Gartner (một công ty tưvấn, nghiên cứu hàng đầu thế giới về CNTT), bao gồm các giai đoạn sau [2]:
Giai đoạn 1: Hiện diện (Presence)
Sự phát triển CPĐT giai đoạn này được đặc trưng bởi sự hiện diện các
cơ quan chính phủ trên mạng Internet, mục đích chính là cung cấp các thôngtin cơ bản về các cơ quan chính phủ như chức năng, nhiệm vụ, địa chỉ liên hệ,thời gian làm việc và có thể cung cấp thêm các văn bản liên quan đến xã hội
Giai đoạn 2: Tương tác (Interaction)
Trong giai đoạn này, các trang thông tin điện tử của các cơ quan chínhphủ cung cấp các chức năng tìm kiếm cơ bản, cho phép tải về các biểu mẫuđiện tử, các đường liên kết với các trang thông tin điện tử liên quan, cũng nhưđịa chỉ thư điện tử của các cơ quan, cán bộ chính phủ
Giai đoạn 3: Giao dịch (Transaction)
Trang 16Trong giai đoạn này, các trang tin, Cổng thông tin điện tử của các cơquan chính phủ cho phép thực hiện hoàn chỉnh các dịch vụ, bao gồm việc nộp
hồ sơ, xử lý hồ sơ, trả phí dịch vụ trực tuyến
Giai đoạn 4: Chuyển đổi (Transformation)
Giai đoạn này là mục tiêu dài hạn của các cơ quan chính phủ Ngoàiviệc thực hiện các chức năng trong giai đoạn 3, CPĐT giai đoạn này cung cấpcho người dân một điểm truy cập duy nhất tới các cơ quan chính phủ để thựchiện mọi giao dịch, các hoạt động của cơ quan chính phủ là minh bạch vớingười dân
Ngoài các khái niệm chính về CNTT và CPĐT mang tính nghiên cứu,học thuật như đã nêu trên, một số khái niệm phổ biến khác đã được quy địnhtại các văn bản quy phạm pháp luật của CQNN có thẩm quyền, bao gồm:
Nhóm các quy định về ứng dụng CNTT trong CQNN [9]:
- Ứng dụng CNTT: Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các
hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và
các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này
- Ứng dụng CNTT hoạt động của CQNN: là việc sử dụng CNTT vào
các hoạt động của CQNN nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động nội
bộ của CQNN và giữa các CQNN, trong giao dịch của CQNN với tổ chức và cácnhân, hỗ trợ đẩy mạnh cải cách hành chính vào bảo đảm công khai, minh bạch
Nhóm các khái niệm về Dịch vụ công trực tuyến, Cổng thông tin điện
tử và Trang thông tin điện tử của CQNN [10]:
- Trang thông tin điện tử: là trang thông tin hoặc một tập hợp trang
thông tin trên môi trường mạng phục vụ cho việc cung cấp, trao đổi thông tin
Trang 17- Cổng thông tin điện tử: là điểm truy cập duy nhất của cơ quan trên
môi trường mạng, liên kết, tích hợp các kênh thông tin, các dịch vụ và các
ứng dụng mà qua đó người dùng có thể khai thác, sử dụng và cá nhân hóa việc hiển thị thông tin
- Dịch vụ hành chính công: là những dịch vụ liên quan đến hoạt động
thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do CQNN có thẩm quyền cấpcho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong cáclĩnh vực mà CQNN đó quản lý Mỗi dịch vụ hành chính công gắn liền với một thủtục hành chính để giải quyết hoàn chỉnh một công việc cụ thể liên quan đến tổchức, cá nhân
- Dịch vụ công trực tuyến: là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ
khác của CQNN được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường
Các mức độ dịch vụ công trực tuyến, bao gồm
+ Dịch vụ công trực tuyến mức độ 1: là dịch vụ bảo đảm cung cấp đầy
đủ các thông tin về thủ tục hành chính và các văn bản có liên quan quy định về thủtục hành chính đó
+ Dịch vụ công trực tuyến mức độ 2: là dịch vụ công trực tuyến mức
độ 1 và cho phép người sử dụng tải về các mẫu văn bản và khai báo để hoàn thiện
hồ sơ theo yêu cầu Hồ sơ sau khi hoàn thiện được gửi trực tiếp hoặc qua đườngbưu điện đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ
+ Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3: là dịch vụ công trực tuyến mức
độ 2 và cho phép người sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến cơquan, tổ chức cung cấp dịch vụ Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cungcấp dịch vụ được thực hiện trên môi trường mạng Việc thanh toán lệ phí (nếu có)
và nhận kết quả được thực hiện trực tiếp tại cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ
Trang 18+ Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4: là dịch vụ công trực tuyến mức
độ 3 và cho phép người sử dụng thanh toán lệ phí (nếu có) được thực hiện trựctuyến Việc trả kết quả có thể được thực hiện trực tuyến, gửi trực tiếp hoặc quađường bưu điện đến người sử dụng
Có thể thấy, trong đời sống hàng ngày, CNTT dần trở nên phổ biến, cónhững ảnh hưởng to lớn đến đời sống xã hội và đã trở thành phương tiệnkhông thể thiếu cho con người trong học tập, sinh hoạt, công việc hàng ngày.CNTT đã và đang góp phần tạo ra môi trường thông tin thuận lợi, phong phú,phục vụ cho mọi hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội Máy vi tính, các thiết
bị cầm tay thông minh, hệ thống mạng và những cơ sở dữ liệu đã giúp chúng
ta tạo đột phá trong quá trình phát triển Các ứng dụng CNTT ngày càng trởthành phương tiện hiệu quả, quan trọng trong nhiều lĩnh vực quản lý nhà nướccũng như giúp thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốcphòng… Thêm vào đó, CNTT còn hỗ trợ dự báo nhu cầu phát triển của toàn
xã hội, khai thác được tối đa các nguồn lực trong xã hội, đáp ứng tốt nhất nhucầu của người dân… Còn đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, ứng dụngCNTT tập trung vào 02 mảng chính là: Ứng dụng CNTT để hiện đại hóa dâychuyền sản xuất và ứng dụng CNTT phục vụ quản lý kinh doanh đã góp phầntạo ra được những thay đổi về chất đối với toàn bộ quy trình sản xuất (từ thiết
kế, lắp đặt dây chuyền sản xuất cho đến tự động hóa nhiều công đoạn trongquy trình sản xuất…) và quản lý kinh doanh (quản lý, sử dụng hiệu quả cácnguồn lực, thương mại điện tử,…) nên CNTT thực sự trở thành động lực pháttriển của nền kinh tế
Việc một xã hội có thể khai thác, sử dụng một cách sáng tạo năng lựccủa CNTT để giải quyết các vấn đề đặt ra của xã hội đó là vấn đề quan trọngcủa kỷ nguyên thông tin hiện nay Ở các quốc gia phát triển, họ chú trọngtrước tiên là sử dụng CNTT như là một phương tiện hữu hiệu để hỗ trợ bộ
Trang 19máy chính quyền điều hành quản lý, xã hội Trong khi đó, tại Việt Nam, ứngdụng CNTT trong các CQNN có tên gọi khác là chương trình xây dựng CPĐTcũng đã được chú trọng triển khai nhiều hơn trong những năm qua, nhất là saukhi Nghị quyết số 36a/NQ-CP được ban hành, đi vào cuộc sống Tuy chưa đạtnhiều kết quả như mong nhưng những gì đã đạt được hoàn toàn khẳng địnhtính đúng đắn và sự cần thiết việc triển khai ứng dụng CNTT để xây dựngCPĐT.
Ngoài những vai trò nêu trên, CNTT còn có nhiều vai trò trong pháttriển kinh tế - xã hội như:
- CNTT là hạ tầng cơ sở cho nền kinh tế tri thức, kinh tế chia sẻ: Khái
niệm kinh tế tri thức, kinh tế chia sẻ là những khái niệm mới hiện nay, trong
đó, kinh tế tri thức được Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) định
nghĩa là: "Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế ngày càng phụ thuộc trực tiếp vào
việc sản xuất phân phối và sử dụng tri thức và thông tin" (OECD 1996) [25].
Còn Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC 2000) thì
đưa ra khái niệm: "Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế mà trong đó quá trình
sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức trở thành động lực chính cho tăng trưởng, cho quá trình tạo ra của cải và việc làm trong tất cả các ngành kinh tế" [25] Những khái niệm của các tổ chức quốc tế nêu trên cho thấy, mọi nỗ
lực đều hướng về một điểm chính là “làm thế nào để giàu tri thức?” Câu trảlời mà chúng ta đều có thể biết hoặc nhìn thấy ngay, đó là: “cần phải dựa vàoCNTT” vì CNTT vừa là phương tiện giúp con người tập hợp được nhiềuthông tin nhất vừa là công cụ xử lý thông tin hiệu quả nhất để có thể tìm ranhững cái mới Tương tự như vậy, kinh tế chia sẻ (còn được gọi là sharingeconomy hoặc tiêu dùng cộng tác) là một mô hình thị trường lai (ở giữa sởhữu và tặng quà) trong đó đề cập đến mạng ngang hàng dựa trên chia sẻ
Trang 20quyền truy cập vào hàng hóa và dịch vụ (phối hợp thông qua các dịch vụ trựctuyến dựa vào cộng đồng) [25] Cả kinh tế tri thức và kinh tế chia sẻ đều tậptrung, nhấn mạnh vào vai trò của CNTT như là nền tảng quan trọng, là hạ tầng
cơ sở của 02 nền kinh tế này
- CNTT trong phát triển kinh tế, quản lý xã hội:
+ CNTT thay đổi cách thức giao tiếp: Tất cả mọi người trên khắp thếgiới có thể cùng truy cập vào Internet, tham gia vào những cuộc gặp gỡ trên mạng,đọc tin tức hàng ngày, tiến hành các giao dịch thương mại hoặc trò chuyện với bạn
bè, người thân trên khắp thế giới Rào cản ngôn ngữ được giảm thiểu rất nhiềuthông qua các công cụ hỗ trợ dịch đa ngôn ngữ, dịch tự động như: GoogleTranslate, Microsoft Translator…
+ CNTT thay đổi cách thức chúng ta khai thác, sử dụng thông tin: Aicũng có thể tiếp cận, yêu cầu tải về hoặc sao chép tài liệu, tạp chí, … được xuấtbản bằng bất kỳ ngôn ngữ nào để tham khảo thông qua truy cập Internet
+ CNTT thay đổi cách thức học tập: Mọi người đều có thể tham dựnhững chương trình học tập trên mạng bất chấp vị trí địa lý, tuổi tác, những hạnchế thể chất hoặc thời gian biểu cá nhân cũng như tiếp cận những kho dữ liệuchung để học tập, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, tri thức một cách dễ dàng và tiếtkiệm
+ CNTT biến đổi phương thức thương mại: Khách hàng có thể tiếp xúcvới các sản phẩm mình cần mua sắm một cách dễ dàng thông qua các dịch vụ bánhàng trực tuyến; doanh nghiệp kinh doanh sẽ nhanh chóng điều chỉnh chiến lượctiếp thị hoặc danh mục hàng hóa trên cơ sở phân tích những phản hồi từ phía kháchhàng Người tiêu dùng có thể đặt hàng những hàng hóa, lựa chọn dịch vụ cung cấp,giá cả phù hợp một cách thuận lợi từ nhà riêng, văn
phòng hay bất cứ đâu chỉ với chiếc điện thoại thông minh có kết nối mạng Internet
Trang 21+ CNTT giúp thay đổi phương pháp nghiên cứu: Việc nghiên cứu khoahọc ngày càng trở nên thuận tiện hơn so với trước đây nhiều nhờ sự trợ giúp
các các hệ thống công nghệ thông tin chuyên dụng Những hệ thống này cóthể mô phỏng, giả lập hoặc tạo ra các phòng thí nghiệm ảo Thêm vào đó, sự
hỗ trợ mạnh mẽ của thư viện điện tử được cung cấp miễn phí hoặc có thu phítrên Internet cũng đã mang lại cho các nhà nghiên cứu rất nhiều lợi thế so vớiphương pháp nghiên cứu truyền thống
+ CNTT đổi mới phương thức hoạt động của các CQNN: các CQNNxây dựng những hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu chuyên ngành để phục vụcác hoạt động nghiệp vụ, cập nhật thông tin, dữ liệu thuộc phạm vi chức năngquản lý nhà nước của các Bộ, cơ quan, địa phương Điều này cho phép ngườidân có nhiều cơ hội tiếp cận với bộ máy chính quyền Họ có thể truy cập đểtìm hiểu thông tin hoạt động của các CQNN thông qua các Trang thông tinhoặc Cổng thông tin điện tử của CQNN hoặc đăng ký thực hiện các dịch vụcông trực tuyến thông qua Cổng dịch vụ công trực tuyến của các Bộ, ngành,địa phương Người dân và doanh nghiệp dần sẽ trở thành “người sử dụngtrung tâm” của hệ thống CPĐT CNTT giúp CQNN thu thập được nhiều dữliệu hơn từ các hệ thống đang hoạt động do đó làm tăng chất lượng thông tinphản hồi tới các cơ quan ban hành chính sách, cơ quan quản lý Ngoài ra,CQNN cũng có thể bảo đảm việc cung cấp nhiều thông tin hơn cho côngchúng và hỗ trợ thêm những cách thức liên lạc mới thông qua các thiết bị vitính, di động có khả năng truy cập môi trường mạng giữa các nhà hoạch địnhchính sách đến từng công dân Thông qua các cách thức này, CNTT giúp nângcao năng lực điều hành trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước của cácCQNN tại Việt Nam
Trang 221.1.2 Khái niệm chính sách
Theo tác giả Vũ Cao Đàm: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được
thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”.
Chính sách là những đường hướng hành động, ứng xử cơ bản của chủthể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động, phát triển nhằm đạtđược mục tiêu nhất định
1.1.3 Chính sách công:
Theo nhà nghiên cứu Thomas R.Dye thì: “Chính sách công là cái mà
Chính phủ lựa chọn làm hay không làm” Chính sách công là những đường
hướng hành động ứng xử cơ bản của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trongđời sống cộng đồng được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúcđẩy phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội Vận dụng vào thực tế củaViệt Nam, chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liênquan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể và giải phápthực hiện giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định
Qua những nghiên cứu nêu trên, ta có thể nhận định: Chính sách ứng
dụng CNTT hoạt động của CQNN là tổng thể những quan điểm, thái độ, quyết định, quy định của Đảng và Nhà nước với các giải pháp, công cụ cụ thể nhằm sử dụng CNTT vào các hoạt động của CQNN để nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động nội bộ của CQNN và giữa các CQNN, trong giao dịch của CQNN với tổ chức và các nhân, hỗ trợ đẩy mạnh cải cách hành chính vào bảo đảm công khai, minh bạch.
Trang 231.2 Chủ thể chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng Chính phủ điện tử
Chính sách ứng dụng CNTT khi được ban hành sẽ tác động trực tiếphoặc gián tiếp đến đời sống và có liên quan tới rất nhiều chủ thể khác nhautrong xã hội Chính vì vậy, trong quá trình tổ chức triển khai thực thi chínhsách ứng dụng CNTT, CQNN cần huy động sự tham gia của các bên vào quátrình thực hiện chính sách để bảo đảm tính hiệu quả, đồng bộ
Chủ thể thực thi chính sách ứng dụng CNTT là các CQNN từ trungương tới địa phương, cùng với đội ngũ cán bộ, công chức thực thi công vụ.Trong quá trình thực thi chính sách, các CQNN giữ vai trò điều tiết, địnhhướng các hoạt động thực hiện chính sách thông qua những công cụ quản lýcủa mình để việc thực thi chính sách luôn bám sát mục tiêu mà chính sách đã
đề ra Các CQNN tham gia vào quá trình thực hiện chính sách bao gồm:
Thứ nhất là Chính phủ: Chính phủ vừa là cơ quan, chủ thể ban hành
chính sách nhưng cũng đồng thời là cơ quan có trách nhiệm tổ chức thực hiệnchính sách
Thứ hai là Ủy ban Quốc gia Chính phủ điện tử: Ủy ban có chức năng,
nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về chủtrương, chiến lược, cơ chế, chính sách tạo môi trường pháp lý thúc đẩy xây dựng,phát triển CPĐT hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số; tạo thuậnlợi cho việc triển khai Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tại Việt Nam
Thứ ba là Bộ Thông tin và Truyền thông: Bộ Thông tin và Truyền
thông là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước vềlĩnh vực thông tin và truyền thông, trong đó có công nghệ thông tin nói chung,xây dựng Chính phủ điện tử nói riêng và quản lý nhà nước các dịch vụ côngtrong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ
Trang 24Thứ tư là Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: đây là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, có
trách nhiệm tổ chức triển khai các nhiệm vụ liên quan đến ứng dụng CNTT đểxây dựng Chính quyền điện tử trên địa bàn tỉnh, thành phố
1.3 Thể chế chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
CNTT và truyền thông luôn được Đảng và Nhà nước xác định là công
cụ quan trọng hàng đầu để thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ, đẩy nhanh quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ứng dụng rộng rãi CNTT vàtruyền thông là những yếu tố mang ý nghĩa chiến lược, góp phần thúc đẩytăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và tăng năng suất lao động
Ngày 29/06/2006, Quốc hội đã thông qua Luật công nghệ thông tin.Đây là văn bản pháp lý vô cùng quan trọng, cụ thể hóa chủ trương của Đảng
đã được nêu tại Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị vềđẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa, cụ thể, tại Khoản 1 Điều 5, Luật công nghệ thông tin đã quy
định: “Ưu tiên ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Điều này cho thấy tầm quan trọng của ứng dụng và phát triển CNTT,
trong đó có những ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN Ngoài LuậtCNTT, một số văn bản quy phạm pháp luật cũng đã được cấp có thẩm quyềnban hành để định hướng ứng dụng CNTT trong quản lý hành chính nhà nướcnhư sau:
Thứ nhất: Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/04/2007 về ứng dụng
CNTT trong hoạt động của CQNN Nội dung Nghị định không chỉ bao gồmcác quy định về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN mà còn cả cácđiều kiện bảo đảm ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN (bao gồm xâydựng cơ sở hạ tầng thông tin, cung cấp nội dung thông tin, phát triển và sử
Trang 25dụng nguồn nhân lực CNTT, đầu tư cho ứng dụng CNTT), quy định về hoạtđộng của CQNN trên môi trường mạng (bao gồm quy trình công việc, quản lývăn bản điện tử, bảo đảm an toàn thông tin mạng) cùng với những yêu cầu về
tổ chức thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của CQNN
Có thể nói Nghị định 64/2007/NĐ-CP đã tạo ra môi trường pháp lý thuận lợihơn rất nhiều để triển khai công tác ứng dụng CNTT trong hoạt động củaCQNN sau khi Luật Công nghệ thông tin được ban hành
Thứ hai: Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 246/2005/QĐ-TTg
ngày 06/10/2005 về việc phê duyệt chiến lược phát triển CNTT và truyềnthông Việt Nam đến 2010 và định hướng đến năm 2020, đã chỉ ra một số nộidung mang tính định hướng cho phát triển ứng dụng CNTT trong quản lýhành chính nhà nước như: Ứng dụng rộng rãi CNTT và truyền thông trongmọi lĩnh vực, khai thác có hiệu quả thông tin và tri thức trong tất cả cácngành Xây dựng và phát triển Việt Nam điện tử với công dân điện tử, CPĐT,doanh nghiệp điện tử, giao dịch và thương mại điện tử để Việt Nam đạt trình
độ khá trong khu vực ASEAN; hình thành xã hội thông tin Cơ sở hạ tầngthông tin và truyền thông phát triển mạnh mẽ đáp ứng yêu cầu trao đổi thôngtin của toàn xã hội Đào tạo về công nghệ thông tin và truyền thông ở cáctrường đại học đạt trình độ và chất lượng tiên tiến trong khu vực ASEAN
Thứ ba: Quyết định số 1819/QĐ-TTg ngày 26/10/2015 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tintrong hoạt động của CQNN giai đoạn 2016 - 2020, đưa ra một số mục tiêuchủ yếu [22]: Cung cấp đầy đủ thông tin trên trang thông tin điện tử hoặccổng thông tin điện tử của tất cả các CQNN theo quy định tại Nghị định số43/2011/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2011 của Chính phủ về việc cung cấpthông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổngthông tin điện tử của CQNN (30% hồ sơ thủ tục hành chính được xử lý
Trang 26trực tuyến tại mức độ 4; 95% hồ sơ khai thuế của doanh nghiệp được nộp quamạng…); đẩy mạnh việc triển khai các ứng dụng công nghệ thông tin trongnội bộ cơ quan nhà nước (100% văn bản không mật trình Ủy ban nhân dântỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộcChính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ dưới dạng điện tử; 80% văn bảntrao đổi giữa các CQNN dưới dạng điện tử…); xây dựng và hoàn thiện hạtầng kỹ thuật, các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia, xây dựng vàhoàn thiện hạ tầng kỹ thuật các cấp, tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tửđồng bộ, kết nối, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin.
Bên cạnh đó, còn nhiều văn bản khác (bao gồm cả văn bản quy phạmpháp luật, văn bản chỉ đạo điều hành) cũng đã được ban hành, góp phần thúcđẩy ứng dụng CNTT, cụ thể như:
- Luật giao dịch điện tử số 51/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốchội quy định về giao dịch điện tử trong hoạt động của các cơ quan nhà nước; tronglĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại và các lĩnh vực khác do pháp luật quyđịnh Cùng với Luật công nghệ thông tin, Luật giao dịch điện tử đã tạo nền tảngpháp lý quan trọng cho các ứng dụng CNTT, giao dịch điện tử trong hoạt động củaCQNN cũng như các giao dịch của người dân, doanh nghiệp trên môi trườngmạng;
- Luật Viễn thông số 41/2009/QH12 ngày 23/11/2009 của Quốc hộiquy định về hoạt động viễn thông, bao gồm đầu tư, kinh doanh viễn thông; viễnthông công ích; quản lý viễn thông; xây dựng công trình viễn thông; quyền vànghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động viễn thông;
- Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ quyđịnh về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tinđiện tử hoặc cổng thông tin điện tử của CQNN và các điều kiện bảo đảm hoạt độngcho cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước;
Trang 27- Nghị định số 130/2018/NĐ-CP ngày 27/9/2018 của Chính phủ về việcquy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứngthực chữ ký số, trong đó, quy định rõ ràng, cụ thể về chữ ký số và chứng thư số;việc quản lý, cung cấp và sử dụng chữ ký số, chứng thư số và
dịch vụ chứng thực chữ ký số nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc cung cấp,
sử dụng chữ ký số của CQNN các cấp cũng như người dân, doanh nghiệp;
- Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 15/4/2015 của Chính phủ ban hànhChương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TWngày 01 tháng 7 năm 2014 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương ĐảngCộng sản Việt Nam về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tinđáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế
- Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07/3/2019 về một số nhiệm vụ, giảipháp trọng tâm phát triển CPĐT giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến 2025.
Đây là văn bản rất quan trọng của Chính phủ, ban hành những chính sáchtrọng tâm về phát triển CPĐT hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số và xãhội số nhằm tiếp tục hiện thực hóa quyết tâm xây dựng Chính phủ kiến tạophát triển, liêm chính, hành động, phục vụ người dân, doanh nghiệp, nhất làtrong bối cảnh Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư
- Quyết định số 698/QĐ-TTg ngày 01/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm
2015 và định hướng đến năm 2020;
- Quyết định số 28/2018/QĐ-TTg ngày 12/07/2018 của Thủ tướngChính phủ Về việc gửi, nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước;
- Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 07/6/2019 của Thủ tướng Chính phủ về vềviệc tăng cường bảo đảm an toàn, an ninh mạng nhằm cải thiện chỉ số xếp hạngcủa Việt Nam
Trang 28Có thể nói, hệ thống chính sách, văn bản pháp luật về CNTT nói chung
và những văn bản điều chỉnh hoạt động ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐTnói riêng được ban hành tương đối đầy đủ, tạo nên khung pháp lý cơ bản choviệc ứng dụng CNTT
trương, chính sách ứng dụng CNTT cầncó sự nhất quán và định hướngrõràng, lâu dài, kịp thời cập nhật những biến động nhanh chóng của khoa học, công nghệ Vấn
đề này rất quan trọng đối với CQNN vì khi CQNN có sự thay đổi lãnh đạo, người đứng đầu thường dẫn đến việc thay đổi chính sách
* Hạ tầng nhân lực
Bên cạnh chủ trương, chính sách thì hạ tầng nhân lực cũng là yếu tốthen chốt của việc triển khai ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT Nhân lựctrong hoạt động ứng dụng CNTT bao gồm đội ngũ lãnh đạo, công chức, viênchức các CQNN và các nhà hoạch định chính sách, nhà khoa học, chuyên gia
Trang 29CNTT, đội ngũ nhân viên, kỹ thuật viên Trong đó, khả năng nhận thức, khả năng hoạch định chiến lược và đưa ra những quyết sách đúng đắn của nhà lãnh đạo, quản lý là sự hỗ trợ tốt nhất cho công tác ứng dụng CNTT mộtcủa cơ quan,
tổ chức CNTT là một lĩnh vực đòi hỏi sự cập nhật liên tục các thông tin, các xuhướng công nghệ mới, do vậy vấn đề tuổi tác, khả năng sử dụng thành thạo ngoại ngữ của cán bộ, nhân viên là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tổ chức thực thi các chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT Thêm vào
đó, sự tham gia của đội ngũ chuyên gia trong việc triển khai và phát triển các ứng dụng CNTT là hết sức cần thiết Với vốn kiến thức, kinh nghiệm tích lũy trong nhiều năm nghiên cứu, công tác trong lĩnh vực CNTT, các chuyên gia sẽ
có nhiều đóng góp cho quá trình triển khai, tổ chức thực thi chính sách ứng dụng CNTT, xây dựng CPĐT
Để xây dựng nền tảng tri thức và nhân lực CNTT đòi hỏi mỗi cơ quan,
tổ chức cần phải có chiến lược đúng đắn để tích lũy, nâng cao tri thức và có
kế hoạch sử dụng, củng cố nguồn nhân lực đó Sử dụng có hiệu quả nguồnnhân lực CNTT sẽ dẫn đến việc triển khai, tổ chức thực thi các chính sách ứngdụng CNTT có hiệu quả
* Hạ tầng kỹ thuật
Do yếu tố đặc trưng của ngành CNTT nên các phần mềm, ứng dụngCNTT cần phải có hạ tầng trang thiết bị, cơ sở vật chất (máy vi tính, đườngtruyền mạng, máy chủ…) để cài đặt, vận hành Hạ tầng kỹ thuật tác động, chiphối các yếu tố liên quan đến quá trình tổ chức, triển khai các ứng dụngCNTT Một hệ thống thông tin tốt, hoạt động hiệu quả phục vụ hoạt động củaCQNN cần phải bảo đảm sự đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật và các phần mềmứng dụng Hạ tầng kỹ thuật yếu kém, lạc hậu (trang thiết bị cũ, cấu hìnhthấp…) thì việc ứng dụng CNTT cũng sẽ không đạt được kết quả như mongmuốn của CQNN triển khai ứng dụng CNTT
Trang 30Tương tự như các ngành, nghề khác, việc triển khai ứng dụng CNTTcóquan hệ mật thiết với nguồn kinh phí mà CQNN phải bảo đảm, cân đối để đầu
tư các ứng dụng CNTT Các Bộ, cơ quan, địa phương quan tâm, bố trí đầy đủnguồn kinh phí cho CNTT sẽ triển khai được nhiều ứng dụng CNTT hơn.Trong khi đó, các Bộ, cơ quan, địa phương khác do điều kiện về nguồn vốnkhông đáp ứng thì việc triển khai các ứng dụng CNTT sẽ rất chậm, trì trệ Cácloại chi phí chính mà CQNN phải bảo đảm, cân đối cho hoạt động ứng dụngCNTT bao gồm: Chi phí đầu tư (thuê hoặc mua sắm) trang thiết bị và cácphần mềm ứng dụng; chi phí đào tạo, tập huấn cho người sử dụng; chi phí cậpnhật dữ liệu vào các cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin; chi phí truyền thông;chi phí vận hành, duy trì hạ tầng kỹ thuật, các phần mềm ứng dụng, , v.v Dođặc điểm của hoạt động ứng dụng CNTT là liên tục (các hệ thống CNTT phảibảo đảm khả năng hoạt động liên tục, không ngừng nghỉ) vì vậy việc duy trìnguồn kinh phí, tiến độ đầu tư cho CNTT cũng như đảm bảo và cân đối kinhphí cho phù hợp với quy mô và mục tiêu ứng dụng CNTT là rất quan trọng
Quy mô đầu tư cho các hoạt động CNTT ảnh hưởng trực tiếp đến kếtquả của việc ứng dụng CNTT Đây là yếu tố quyết định về tiến độ, sự đồng
bộ, hiệu quả trong quá trình triển khai của các dự án đầu tư ứng dụng CNTT
* Cơ cấu tổ chức
Ngoài các yếu tố nêu trên, cơ cấu tổ chức cũng là một yếu tố tác động khá nhiều đối với quá trình ứng dụng CNTT Tính hiệu quả của cơ cấu tổ chức quyết định đến sự phát triển vàkết quả triển khai ứng dụng CNTT Về bản chất, việc triển khai các ứng dụng CNTT phục vụ hoạt động của các CQNN phải đáp ứng đầy đủ những yêu cầu về quy trình, nghiệp vụ, cơ cấu tổ chức của cơ quan
đó Do vậy, trong quá trình tổ chức thực thi các chính sách ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT, sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ giữa các thành phần của cơ quan, tổ chức là yếu tố góp phần đơn giản hóa quy
Trang 31trình ứng dụng CNTT vào hoạt động của mình Những cơ quan, tổ chức có bộmáy tinh giản, gọn nhẹ thì việc triển khai ứng dụng CNTT sẽgặp nhiều thuậnlợi hơn những cơ quan tổ chức có bộ máy cồng kềnh, phức tạp, đa ngành, đalĩnh vực Việc CQNN xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của đơn vị trực thuộc,bảo đảm tính thống nhất trong quản lý, điều hành từ trên xuống dưới sẽ tạo racách tiếp cận mang tính tổng quát và các quy trình phối hợp chặt chẽ, rõ ràng,gắn trách nhiệm cụ thể cho từng đối tượng (lãnh đạo, công chức, viên chức,người lao động tại các bộ phận khác nhau) giúp cho việc triển khai các hệthống CNTT mà tổ chức xây dựng trở nên đơn giản, dễ triển khai áp dụng.
* Mức độ, khả năng sẵn sàng ứng dụng CNTT của người dân, doanh nghiệp
Những yếu tố như đã nêu trên đều rất quan trọng nhưng vẫn chưa đầy
đủ nếu không đề cập tới yếu tố người sử dụng Cho dù CQNN có xây dựng,cung cấp nhiều ứng dụng CNTT (điển hình là các dịch vụ công trực tuyếnmức độ 3, 4) nhưng người sử dụng là người dân, doanh nghiệp không quantâm hoặc chưa sẵn sàng hoặc ít sử dụng, khai thác thì việc triển khai của cơquan đó được đánh giá là không hiệu quả, thậm chí còn gây lãng phí, tốn kémcho ngân sách nhà nước Để việc triển khai có hiệu quả, các ứng dụng CNTT
do CQNN cung cấp phải thực sự thiết yếu đối với người dân, doanh nghiệp;giao diện, chức năng của phần mềm phải bảo đảm tính thân thiện, dễ sửdụng… và phải tính đến khả năng, mức độ sẵn sàng tiếp cận, khai thác, sửdụng ứng dụng CNTT của người dân, doanh nghiệp Như vậy, việc triển khaicác chính sách ứng dụng CNTT mới có thể đem lại những hiệu quả như mongđợi
Trang 32Tiểu kết chương
Có thể thấy vai trò ngày càng quan trọng của CNTT trong cuộc sốnghàng ngày của mỗi con người CNTT làm thay đổi thói quen học tập, làmviệc, giải trí hay các hoạt động sản xuất kinh doanh Trong bối cảnh ViệtNam tăng cường hội nhập quốc tế như hiện nay, CQNN các cấp cũng khôngthể nằm ngoài xu hướng ảnh hưởng của CNTT Thông qua việc tổ chức triểnkhai các ứng dụng CNTT, CQNN cung cấp cho người dân, doanh nghiệpnhiều dịch vụ hơn (bao gồm các dịch vụ công trực tuyến để tạo thuận lợi choquá trình thực hiện thủ tục hành chính giữa người dân, doanh nghiệp vàCQNN), thu hẹp khoảng cách giữa công dân và chính quyền, từng bước nângcao tính minh bạch, bình đẳng Việc ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐTtrong các CQNN do đó đã nhận được sự quan tâm đặt biệt của các cấp, cácngành, sự đồng thuận, hưởng ứng của người dân và doanh nghiệp
Chương 1 nêu khái quát những vấn đề cơ bản mang tính lý luận vềchính sách ứng dụng CNTT nói chung, trong đó có ứng dụng CNTT để xâydựng CPĐT, xác định rõ chủ thể, thể chế chính sách ứng dụng CNTT, nhậndiện được những nhân tố tác động đến chính sách ứng dụng CNTT trong cácCQNN ở Việt Nam hiện nay
Những nghiên cứu, lý luận về chính sách ứng dụng CNTT được trìnhbày trong Chương này sẽ là cơ sở, nền tảng và điều kiện quan trọng để nghiêncứu, phân tích về thực trạng thực hiện chính sách ứng dụng CNTT để xâydựng CPĐT từ thực tiễn của các CQNN tại Việt Nam ở chương sau
Trang 33Chương 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN, XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ TRONG CÁC CƠ QUAN
NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM
2.1 Sự hình thành, phát triển của công nghệ thông tin tại Việt Nam
Ứng dụng CNTT được triển khai tương đối sớm tại nước ta Tuy nhiên,cho đến năm 1993, với việc Chính phủ ban hành Nghị quyết 49/CP ngày04/8/1993 về phát triển CNTT ở nước ta trong những năm 90, ngành CNTTmới có những định hướng phát triển rộng rãi trên quy mô toàn quốc Nghị
quyết đã xác định rõ những mục tiêu chính cho việc ứng dụng CNTT là: “Xây
dựng hệ thống các máy tính và phương tiện truyền thông được liên kết với nhau trong các mạng với những công cụ phần mềm đủ mạnh và các hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu có khả năng phục vụ các hoạt động quản lý nhà nước và các hoạt động huyết mạch của nền kinh tế Một số hệ thống thông tin trong nước được ghép nối với các mạng thông tin quốc tế; phát triển rộng rãi việc ứng dụng CNTT góp phần tăng năng suất, chất lượng hiệu quả sản xuất, kinh doanh, …” Sau khi ban hành Nghị quyết 49/CP, Thủ tướng Chính phủ
đã phê duyệt Chương trình quốc gia về CNTT - Kế hoạch tổng thể đến năm
2000 (Quyết định số 211/TTg ngày 07 tháng 4 năm 1995) để xác định nhữngnhiệm vụ cụ thể mà các bộ, ngành, địa phương phải thực hiện trong giai đoạn1995-2000
Tại các quốc gia khác trên thế giới, đặc biệt là vào những năm cuối củathế kỷ XX, ngành CNTT đã những có bước phát triển nhảy vọt làm thay đổi
về cơ bản cách thức mà con người làm việc, học tập và sinh hoạt Để kịp thờinắm bắt xu hướng CNTT thế giới trong giai đoạn phát triển mới, ngày17/10/2000, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 58-CT/TW về đẩy mạnh ứng
Trang 34Trong đó, những mục tiêu chính được xác định là:“CNTT được ứng dụng
rộng rãi trong mọi lĩnh vực, trở thành một trong những yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng; phát triển mạng thông tin quốc gia phủ trên cả nước, với thông lượng lớn, tốc độ
và chất lượng cao, giá rẻ; tỷ lệ người sử dụng Internet đạt mức trung bình thế giới; công nghiệp công nghệ thông tin trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tốc độ phát triển hàng năm cao nhất so với các khu vực khác; có tỷ lệ đóng góp cho tăng trưởng GDP của cả nước ngày càng tăng” Chỉ thị của Bộ
Chính trị sau đó được Chính phủ cụ thể hóa tại 03 văn bản quan trọng:Chương trình hành động triển khai Chỉ thị số 58-CT/TW, Đề án “Tin học hóaquản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2005” và Kế hoạch tổng thể vềứng dụng và phát triển CNTT ở Việt Nam đến 2005 Với sự vào cuộc chỉ đạosát sao, đồng bộ từ Bộ Chính trị cũng như từ Chính phủ, đảng bộ, chính quyềncác cấp từ trung ương tới địa phương đã triển khai mạnh mẽ các ứng dụngCNTT, trong đó tập trung vào các ứng dụng phục vụ hoạt động của CQNN;các phầm mềm, cơ sở dữ liệu dùng chung được xây dựng, triển khai; mạngthông tin (diện rộng) của Chính phủ được đầu tư xây dựng, phát triển; cán bộ,công chức được đào tạo kỹ năng cơ bản để khai thác, sử dụng CNTT Mặc dùgiai đoạn này chính sách ứng dụng CNTT được xây dựng với mục tiêu, tầmnhìn chiến lược, thậm chí rất nhiều chính sách vẫn còn tiếp tục được tổ chứcthực thi tới ngày hôm nay (xây dựng các cơ sở dữ liệu dùng chung, cơ sở dữliệu nền tảng quốc gia như dân cư, đất đai…), việc tổ chức thực thi chính sáchlại không hợp lý, tồn tại nhiều hạn chế bất cập, gây ra nhiều hậu quả nghiêmtrọng cho các CQNN (điển hình là sự thất bại của Đề án Tin học hóa quản lýhành chính nhà nước giai đoạn 2001-2000 hay còn gọi là Đề án 112)
Giai đoạn 2010 - 2015, cùng với việc Chính phủ, các Bộ, ngành, địaphương đẩy mạnh cải cách hành chính, CNTT đã trở thành công cụ hỗ trợhiệu quả cho hoạt động cải cách hành chính Nhiều Bộ, ngành bắt đầu xây
Trang 35dựng, đưa vào vận hành các cơ sở dữ liệu quốc gia (như Văn bản pháp luật,Thủ tục hành chính, Đăng ký giao dịch bảo đảm, Hộ tịch…) và cácTrang/Cổng thông tin điện tử để đăng tải, cung cấp cho người dân, doanhnghiệp thông tin về hoạt động của các CQNN, các văn bản, quy định, cơ chế,chính sách mới ban hành…Thêm vào đó, nhiều ứng dụng CNTT phục vụ giảiquyết các thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, giảm chi phí hoạtđộng; tăng tính minh bạch trong hoạt động của CQNN, tạo thuận tiện chongười dân và doanh nghiệp cũng được đưa vào sử dụng (phần mềm một cửađiện tử được đưa vào vận hành tại Bộ phận tiếp nhận và Trả kết quả hiện đạicấp tỉnh, huyện theo Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chínhphủ; hệ thống thông tin hỗ trợ Đăng ký giao dịch bảo đảm do Bộ Tư pháptriển khai…) Khi đánh giá tổng quan về tình hình ứng dụng CNTT thời kỳnày, Nghị quyết số 36a/NQ-CP nhận xét: CNTT đã góp phần không nhỏ vàocông tác quản lý nhà nước của các bộ, ngành, địa phương, nhất là trong xử lý
hồ sơ hành chính, quản lý ngân sách, thuế, kho bạc, hải quan, bảo hiểm xãhội, thành lập doanh nghiệp Ngay trong năm 2015, tỷ lệ doanh nghiệp thựchiện kê khai thuế điện tử đã tăng từ 65% lên 98%; thời gian nộp thuế củadoanh nghiệp giảm từ 537 giờ/năm xuống còn 167 giờ/năm Việc thực hiệnthủ tục hải quan điện tử theo Hệ thống thông quan tự động (VNACCS/VCIS)
và Cơ chế một cửa quốc gia tại cảng biển quốc tế đã giảm thời gian thôngquan hàng hóa bình quân từ 21 ngày xuống còn 14 ngày đối với xuất khẩu, 13ngày đối với nhập khẩu, giảm được 10 - 20% chi phí và 30% thời gian thôngquan hàng hóa xuất nhập khẩu cho doanh nghiệp Việc đẩy mạnh phát triển vàứng dụng CNTT trên tất cả các lĩnh vực đã góp phần tháo gỡ nhiều khó khăn,vướng mắc, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, nâng cao hiệu lực,hiệu quả quản lý nhà nước và quản trị doanh nghiệp [6]
Trang 36Mặc dù việc ứng dụng CNTT tại Việt Nam nói chung và ứng dụngCNTT trong hoạt động của các CQNN được Đảng, Nhà nước và Chính phủquan tâm, đầu tư từ sớm, tuy nhiên, đến năm 2015, tại Nghị quyết số 36a/NQ-
CP ngày 14 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ về CPĐT, Chính phủ mới cónhững chỉ đạo cụ thể, giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành, địa phương đẩy mạnhtriển khai ứng dụng CNTT để xây dựng CPĐT Với sự quyết tâm của các cấpcác, ngành, trong giai đoạn từ 2015 – 2017, việc ứng dụng CNTT để xây dựngCPĐT đã đạt được một số kết quả nổi bật như: vị trí của Việt Nam về CPĐTtheo xếp hạng của Liên hợp quốc được nâng cao (năm 2016, Việt Nam xếpthứ 89/193 quốc gia được thực hiện đánh giá, tăng 10 bậc so với năm 2014)[25]; cơ chế, chính sách cho triển khai, xây dựng CPĐT được xây dựng, hoànthiện Nhiều văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội, Chính phủ, Thủtướng Chính phủ và bộ, ngành liên quan ban hành điều chỉnh việc thiết lập,ứng dụng CNTT trong phục vụ nhân dân và trong hoạt động của cơ quan hànhchính nhà nước, quy định về công tác bảo đảm an toàn, an ninh thông tin; vềCổng dịch vụ công quốc gia, hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, cấptỉnh và kết nối, liên thông các hệ thống thông tin này; về gửi, nhận văn bảnđiện tử giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước; về chữ ký sốcho văn bản điện tử; về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thôngtin trên mạng; về quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật như: Luật An toàn thông tinmạng; Luật Tiếp cận thông tin, Luật An ninh mạng và các văn bản hướng dẫn;Thông tư số 10/2016/TT-BTTTT ngày 01/4/ 2016 của Bộ Thông tin vàTruyền thông; Thông tư số 39/2017/TT-BTTTT ngày 15/12/2017 của BộThông tin và Truyền thông; Thông tư số 41/2017/TT-BTTTT ngày19/12/2017 của Bộ Thông tin và Truyền thông; Thông tư số 45/2017/TT-BTTTT ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Bộ Thông tin và Truyền thông…
Trang 37Các văn bản pháp luật này đã góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việctriển khai, xây dựng CPĐT.
Tiếp tục phát huy những thành tựu đạt được trong giai đoạn 2015-2017,ngày 17/3/2019, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 17/NQ-CP về một sốnhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển CPĐTgiai đoạn 2019 - 2020, địnhhướng đến 2025 với mục tiêu: Hoàn thiện nền tảng CPĐT nhằm nâng caohiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước và chất lượngphục vụ người dân, doanh nghiệp; phát triển CPĐT dựa trên dữ liệu và dữ liệu
mở hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số; bảo đảm an toànthông tin và an ninh mạng; nâng xếp hạng CPĐT theo đánh giá của Liên hợpquốc tăng từ 10 đến 15 bậc năm 2020, đưa Việt Nam vào nhóm 4 nước dẫnđầu ASEAN trong xếp hạng CPĐT theo đánh giá của Liên hợp quốc đến năm2025
2.2 Vấn đề chính sách ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng chính phủ điện tử
2.2.1 Thực trạng chính sách
Theo đánh giá tại Nghị quyết số 17/NQ-CP của Chính phủ, trong nhữngnăm qua, Đảng, Chính phủ luôn quan tâm, coi trọng phát triển ứng dụng côngnghệ thông tin, xây dựng CPĐT trong hoạt động của các CQNN và phục vụngười dân, doanh nghiệp Trên cơ sở đó, các bộ, ngành, địa phương đã cónhiều cố gắng và đạt được những kết quả bước đầu quan trọng làm nền tảngtrong triển khai xây dựng CPĐT, như: ban hành theo thẩm quyền, trình cấp cóthẩm quyền ban hành các văn bản quy định, hướng dẫn để hoàn thiện hànhlang pháp lý, thúc đẩy việc xây dựng CPĐT; xây dựng và đưa vào vận hànhmột số cơ sở dữ liệu như Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, Cơ
sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm; đang triển khai xây dựng Cơ sở dữ liệu quốcgia về dân cư, Cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia; đã cung cấp một số
Trang 38dịch vụ công trực tuyến thiết yếu cho doanh nghiệp và người dân như: đăng
ký doanh nghiệp, kê khai thuế, nộp thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội…; một số
bộ, ngành đã xử lý hồ sơ công việc trên môi trường mạng; tại một số địaphương, hệ thống thông tin một cửa điện tử được đưa vào vận hành, nâng caotính minh bạch và trách nhiệm của đội ngũ công chức; chất lượng nhân lực vềcông nghệ thông tin của Việt Nam cũng được nâng cao Theo Báo cáo đánhgiá về CPĐT của Liên hợp quốc, năm 2016, Chỉ số phát triển CPĐT (EGDI)của Việt Nam xếp hạng thứ 89/193 quốc gia, tăng 10 bậc, trong đó chỉ sốthành phần về dịch vụ công trực tuyến (OSI) tăng 8 bậc, lên thứ hạng 74/193quốc gia (so với năm 2014); đến năm 2018, Chỉ số phát triển CPĐT của ViệtNam xếp hạng thứ 88/193 quốc gia, tăng 01 bậc, trong đó chỉ số thành phần
về dịch vụ công trực tuyến tăng 15 bậc, lên thứ hạng 59/193 quốc gia, riêngchỉ số hạ tầng viễn thông (TII) giảm 10 bậc, xuống thứ hạng thứ 100/193 quốcgia (so với năm 2016)
Bên cạnh đó, nhiều nội dung triển khai CPĐT chưa được như mongđợi, như: còn rào cản trong cơ chế đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin; việctriển khai ở một số nơi còn mang tính hình thức; việc xây dựng các cơ sở dữliệu quốc gia, hạ tầng công nghệ thông tin nền tảng phục vụ phát triển CPĐTcòn chậm; chưa có kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống thông tin; nhiều
hệ thống thông tin chưa bảo đảm an toàn, an ninh thông tin; việc giải quyếtthủ tục hành chính và xử lý hồ sơ công việc còn mang nặng tính thủ công,giấy tờ; tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến còn rất thấp; chỉ số tuân thủ thủtục hành chính (APCI) ở một số thủ tục hành chính như đất đai, đầu tư, môitrường và xây dựng còn thấp
Nguyên nhân chủ yếu của vấn đề trên là do nhiều ngành, nhiều cấpchưa xác định rõ lộ trình và các nhiệm vụ cụ thể trong triển khai; còn thiếugắn kết, đồng bộ giữa ứng dụng công nghệ thông tin với cải cách hành chính
Trang 39và đổi mới lề lối, phương thức làm việc, nhất là trong quan hệ với người dân,doanh nghiệp; chưa phát huy vai trò của người đứng đầu trong chỉ đạo thựchiện; chi phí tuân thủ thủ tục hành chính của một số nhóm thủ tục hành chínhcòn cao gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp; nền tảng tích hợp, chia sẻ
dữ liệu giữa các hệ thống thông tin của cơ quan hành chính nhà nước chậmđược triển khai; tình trạng cát cứ thông tin, dữ liệu còn phổ biến dẫn đếnnhiều số liệu trùng lặp, không thống nhất; việc bảo đảm an toàn, an ninh chocác hệ thống thông tin của các CQNN còn chưa được quan tâm đúng mức;còn thiếu khung pháp lý đồng bộ về xây dựng CPĐT; thiếu cơ chế tài chính
và đầu tư phù hợp với đặc thù dự án công nghệ thông tin; thiếu quy định cụthể về định danh cá nhân, tổ chức trong các giao dịch điện tử; thiếu các quyđịnh pháp lý về văn thư, lưu trữ điện tử; cơ chế bảo đảm thực thi nhiệm vụxây dựng CPĐT chưa đủ mạnh; chưa huy động tối đa nguồn lực xã hội trongxây dựng và phát triển CPĐT
2.2.2 Mục tiêu chính sách
Từ những thực trạng kể trên, Nghị quyết số 17/NQ-CP của Chính phủ
đã xác định rõ quan điểm: Xây dựng, phát triển CPĐT, hướng tới Chính phủ
số, nền kinh tế số và xã hội số trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới thốngnhất trên cơ sở các quan điểm chỉ đạo sau:
- Kế thừa, phát triển các chương trình ứng dụng công nghệ thông tin,xây dựng CPĐT theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phù hợp với bối cảnh hiện nay và xu hướng phát triển của thế giới
- Phát huy vai trò, trách nhiệm của từng thành viên Chính phủ, ngườiđứng đầu cơ quan hành chính nhà nước, thành viên Ủy ban Quốc gia về CPĐT, tậptrung chỉ đạo xây dựng và phát triển thành công CPĐT Việt Nam Ủy ban Quốcgia về CPĐT không làm thay nhiệm vụ của các bộ, ngành, địa phương Bộ trưởng,Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân