1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện chính sách đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh hà nam

90 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 161,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực hiện trên, em chọn đề tài luận văn: Thực hiện chính sách đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Hà Nam, với hy vọng góp một

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VIẾT TIẾN HOÀN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ NÔNG NGHIỆP CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VIẾT TIẾN HOÀN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ NÔNG NGHIỆP CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan

Tác giả luận văn

Nguyễn Viết Tiến Hoàn

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 7

1.1 Cơ sở lý luận 7

1.2 Cơ cở thực tiễn 11

1.3 Khái quát tình hình đào tạo nghề tại Việt Nam 13

1.4 Kinh nghiệm thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở một số địa phương 19

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ NÔNG NGHIỆP CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA 35

2.1 Khái quát đặc điểm tỉnh Hà Nam. 35

2.2 Hệ thống đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn tỉnh Hà Nam 37

2.3 Thực trạng đào tạo và thực hiện chính sách đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn tỉnh Hà Nam 40

2.4 Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn tỉnh Hà Nam. 52

Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ NÔNG NGHIỆP CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM 57

3.1 Một số vấn đề đặt ra 58

3.2 Định hướng và giải pháp 59

3.3 Một số kiến nghị 67

KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

4

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Số lượng cơ sở dạy nghề theo loại hình đào tạo 13

Bảng 1.2 Số lượng và cơ cấu tuyển sinh học nghề theo cấp trình độ (giai đoạn 2012-2017) 15

Bảng 2.1 Phân bổ số lớp, học viên và kinh phí các lớp đào tạo nghề cho lao động nông thôn 41

Bảng 2.2 Phân loại đối tượng học viên (2012-2018) 42

Bảng 2.3 Kết quả học tập giai đoạn 2012-2018 44

Bảng 2.4 Tổ chức việc làm sau khóa học (2012-2018) 45

Bảng 2.5 Tổng hợp kết quả đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn (giai đoạn 2010-2018) 46

3

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau hơn 30 năm thực hiện đường đối đổi mới, dưới sự lãnh đạo củaĐảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt được thành tựu khátoàn diện và to lớn Nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ khá cao theohướng sản xuất hàng hoá, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả; đảmbảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia; một số mặt hàng xuất khẩu chiếm

vị thế cao trên thị trường thế giới Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướngtăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề; các hình thức tổ chức sản xuất tiếp tụcđổi mới Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường; bộ mặt nhiều vùngnông thôn thay đổi Đời sống vật chất và tinh thần của dân cư ở hầu hết cácvùng nông thôn ngày càng được cải thiện Xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả tolớn Hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và tăng cường Dân chủ cơ

sở được phát huy An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững Vịthế chính trị của giai cấp nông dân ngày càng được nâng cao

Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng,lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng Nông nghiệp phát triển còn kém bềnvững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưaphát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất; nghiên cứu, chuyển giao khoahọc - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế Việc chuyển dịch cơcấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phổbiến vẫn là sản xuất nhỏ phân tán; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiềumặt hàng thấp Công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề phát triển chậm, chưathúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn Cáchình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu phát triểnmạnh sản xuất hàng hoá Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu quy

Trang 8

hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn yếu kém, môi trường ngày càng ônhiễm; năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế Đời sốngvật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn thấp, tỉ lệ hộ nghèo cao,nhất là vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa; chênh lệch giàu, nghèogiữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xãhội bức xúc.

Những hạn chế, yếu kém trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan.Nhận thức về vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn bất cập

so với thực tiễn; chưa hình thành một cách có hệ thống các quan điểm lý luận

về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn; cơ chế, chính sách phát triểncác lĩnh vực này thiếu đồng bộ, thiếu tính đột phá; một số chủ trương, chínhsách không hợp lý, thiếu tính khả thi nhưng chậm được điều chỉnh, bổ sungkịp thời Đầu tư từ ngân sách nhà nước và các thành phần kinh tế vào nôngnghiệp, nông dân, nông thôn còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển Tổchức chỉ đạo thực hiện và công tác quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, yếukém; vai trò của các cấp uỷ, chính quyền và các đoàn thể quần chúng trongviệc triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về nôngnghiệp, nông dân, nông thôn ở nhiều nơi còn hạn chế

Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực hiện trên, em chọn đề tài luận văn:

Thực hiện chính sách đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Hà Nam, với hy vọng góp một phần giải quyết những bất

cập, hạn chế trong xây dựng chính sách đào tạo nghề nông nghiệp cho laođộng nông thôn để từ đó nâng cao thu nhập và ổn định đời sống của ngườinông dân, góp phần xây dựng nông thôn mới phát triển bền vững

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đề tài

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là một lĩnh vực còn mới, nhất làđào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn, tuy vậy lĩnh vực đào tạo

2

Trang 9

nghề cũng được một số cơ quan, đơn vị và cá nhân quan tâm nghiên cứu và triển khai như:

- Báo cáo công tác dạy nghề Việt Nam năm 2011 của Viện Nghiên cứukhoa học dạy nghề (thuộc Tổng cục dạy nghề - Bộ LĐTB-XH) đã nêu khái quátđược hiện trạng và đưa ra các giải pháp chung cho công tác đào tạo nghề

tại Việt Nam, tuy nhiên về lĩnh vực đào tạo nghề nông nghiệp thì mới sơ bộ

đề cập đến kết quả mà chưa đề cập đến nguyên nhân cũng như phân tích cácnghiên cứu có liên quan

- Báo cáo tổng quan về đào tạo nghề Việt Nam năm 2012 của Tổng cụcdạy nghề - Bộ LĐTBXH được trình bày tại hội nghề khu vực về đào tạo nghềtại Việt Nam cũng chỉ nêu tổng quát của đào tạo nghề nói chung và các giảipháp xây dựng đội ngũ giáo viên dạy nghề, cơ sở dạy nghề và cơ chế tài chínhcho công tác đào tạo nghề mà chưa đề cập đến phương thức thức đào tạo nghềcho lao động nông thôn

- Tác giả Nguyễn Tiến Dũng, nguyên Tổng Cục trưởng Tổng cục dạynghề, Bộ LĐTBXH, với bài viết: “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong thời

kỳ hôi nhập quốc tế” đăng trên website của Bộ LĐTBXH Tác giả đã nêu

ra một số kết quả bước đầu trong công tác đào tạo nghề cho lao động ở nước

ta và đề cập đến một số hướng giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạonghề cho lao động Những giải pháp mà tác giả đưa ra còn mang tính kháiquát và chung chung Bài viết có tính tham khảo cho những nghiên cứu vềđào tạo nghề cho lao động nông thôn của từng địa phương cụ thể

- Nghiên cứu của tác giả Lã Thanh Tùng về đề tài "Những giải pháp cơbản về phát triển đào tạo nghề ở tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2012-2020" tậptrung nghiên cứu về đào tạo nghề cho lao động ở tỉnh Ninh Bình và cũng có

đề cập đến đào tạo nghề cho lao động nông thôn và nghề nông nghiệp, tuynhiên nội dung đề cập đến đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn

Trang 10

còn nhiều hạn chế, chỉ nêu kết quả triển khai chứ chưa nghiên cứu và đề xuất được giải pháp cho đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn.

- Tác giả Trần Thành Nam cứu về đề tài "Đào tạo nghề cho lao độngnông thôn tỉnh Hà Tĩnh" tập trung đào tạo các nghề phù hợp với các đối tượngchính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo, người tàn tật, người bịthu hồi đất canh tác; lao động thuộc diện hộ cận nghèo và các đối tượng lao độngnông thôn khác ở khu vực nông thôn Hà Tĩnh, chưa chú trọng

đến đào tạo nghề nông nghiệp cho toàn bộ các hộ nông dân trong toàn tỉnh

- Một trong những nghiên cứu mới gần đây nhất là của tác giả VõThanh Tùng (năm 2018) nghiên cứu đề tài về "Thực hiện chính sách đào tạonghệ cho lao động nông thôn từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam" Đề tài đánh giáthực trạng việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tạitỉnh Quảng Nam một cách toàn diện, đề xuất các giải pháp hợp lý, sát thực đểhoàn thiện chính sách, nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đào tạo nghềcho lao động nông thôn trong thời gian tới Tuy nhiên đề tài cũng chỉ nghiên

cứ về đào tạo nghề cho lao động nông thôn nói chung, chưa nghiên cứuchuyên sâu về đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn nói riêng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Phân tích, đánh giá thực trạng công tác đào tạo nghề nông nghiệp cholao động nông thôn tại tỉnh Hà Nam Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp hiệu quảcho công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh Hà Nam trong thờigian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về thực hiện đào tạo nghề nông nghiệp cholao động nông thôn

4

Trang 11

- Nghiên cứu thực trạng công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn tại tỉnh Hà Nam.

- Trình bày những mặt được và hạn chế trong công tác đào tạo nghềnông nghiệp cho lao động nông thôn tại tỉnh Hà Nam

- Đề xuất giải pháp tăng cường hiệu quả công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn tại tỉnh Hà Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu việc thực hiện chính sách đào tạo nghề nông nghiệp cho laođộng nông thôn do tỉnh Hà Nam thực hiện

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Địa bàn nghiên cứu: nghiên cứu này được thực hiện tại TTKN tỉnh HàNam và một số đơn vị liên quan của tỉnh Hà Nam thực hiện công tác đào tạo nghềcho lao động nông thôn

- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2012 đến 2018

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được triển khai dựa trên phương pháp luận duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luậtcủa Nhà nước về chính sách đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nôngthôn

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập, tổng hợp và xử lý thông tin: Phương pháp nàyđược thực hiện bằng cách tổng hợp số liệu qua báo cáo tình hình thực hiện

chính sách đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn tại Hà Nam

Trang 12

- Phương pháp phân tích: Áp dụng phương pháp này để phân tích cácyếu tố ảnh hưởng trong việc thực hiện chính sách đào tạo nghề nông nghiệp

cho lao động nông thôn tại tỉnh Hà Nam

- Phương pháp chuyên gia: Phương pháp này được thực hiện bằng việcxin ý kiến các chuyên gia là các lãnh đạo, nguyên lãnh đạo các đơn vị, cơ

quan quản lý nhà nước ngành NN&PTNT tại tỉnh Hà Nam trong việc thực hiện chính sách đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Làm rõ hơn những vấn đề lý luận cơ bản về thực hiện chính sách đàotạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Hà Nam

6.2 Ý nghĩa thực hiện

Kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo cho các đơn vị,

cá nhân liên quan trong quá trình hoàn thiện và thực hiện chính sách đào tạonghề cho lao động nông thôn, nhất là các cơ sở đào tạo nghề nông nghiệp cholao động nông thôn

Luận văn cũng có thể sử dụng như một tài liệu tham khảo trong côngtác giảng dạy và nghiên cứu chính sách về đào tạo nghề và đào tạo nghề nôngnghiệp cho lao động nông thôn

7 Kết cấu của luận văn

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách đào tạonghề cho lao động nông thôn

Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách đào tạo nghề nông nghiệpcho lao động nông thôn tại tỉnh Hà Nam trong những năm qua

Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đào tạonghề nông nghiệp cho lao động nông thôn tại tỉnh Hà Nam

6

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH

ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm chính sách

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam “Chính sách là những chuẩn tắc cụthể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong mộtthời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung vàphương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm

vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”

Theo tác giải Vũ Cao Đàm thì “chính sách là một tập hợp biện phápđược thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra,trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơhoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiếnlược phát triển của một hệ thống xã hội”

1.1.2 Khái niệm chính sách công

Theo một số học giả trong và ngoài nước, chính sách công được hiểunhư sau:

- Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do Chính phủ tiếnhành (Peter Aucoin, 1971) Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liênquan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền vớiviệc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó

- Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do Nhà nước tiếnhành (Peter Aucoin, 1971) mà vấn đề mà chính sách hướng vào giải quyết là vấn

đề công

Trang 14

- Chính sách công là cái mà chính phủ lựa chọn làm hay không làm(Thomas R Dye, 1984) Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự

lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, docác cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đề ra (William N Dunn,1922)

- Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành độngcủa chính quyền để đáp lại một vấn đề công Nó được kết hợp với các cách thức vàmục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức, cũng như các quyđịnh và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những

chương trình (Kraft and Furlong, 2004)

- Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiệnbằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó địnhhướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội (PGS.TS.Nguyễn Hữu Hải)

- Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan để lựachọn mục tiêu và những giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đềchính sách theo mục tiêu tổng thể đã xác định của đảng chính trị cầm quyền(PGS.TS Đỗ Phú Hải)

- PGS.TS Lê Chi Mai cho rằng "Chính sách công có những đặc trưng

cơ bản nhất như: chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước; chính sách công

không chỉ là các quyết định (thể hiện trên văn bản) mà còn là những

hành động, hành vi thực tiễn (thực hiện chính sách); chính sách công tập trunggiải quyết những vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mụctiêu xác định; chính sách công gồm nhiều quyết định chính sách có liên quanlẫn nhau"

1.1.3 Khái niệm thực hiện chính sách công

- Khái niệm: Tổ chức thực hiện chính sách là toàn bộ quá trình chuyển

8

Trang 15

hóa các ứng xử của chủ thể thành hiện thực lên đối tượng quản lý nhằm đặtđược mục tiêu định hướng.

- Ý nghĩa thực hiện chính sách công:

+ Là khâu biến ý đồ chính sách thành hiện thực: Từ chủ ý của chủ thểquản lý được chuyển sang thành hành động cụ thể, tác động đến đối tượng,nhóm đối tượng được điều chỉnh theo mục tiêu định sẵn

+ Tổ chức thực hiện chính sách để thực hiện các mục tiêu chính sách,thực hiện mục tiêu chung: Có nghĩa là tổ chức thi chính sách tác động vào đờisống xã hội nhằm điều chỉnh, giải quyết một hay nhiều vấn đề nhưng vẫn

không đi ngược lại mục tiêu chung của toàn hệ thống các chính sách khác.+ Khẳng định tính đúng đắn của chính sách: Một khi chính sách đượctriển khai rộng rãi điều đó có nghĩa là chính sách đó là đúng đắn, được cộng

đồng xã hội chấp nhận và ủng hộ

+ Qua thực hiện chính sách ngày càng làm hoàn thiện hơn hệ thống chínhsách, pháp luật của Nhà nước bởi vì nó cho thấy trong quá trình tổ chức thực hiện gặpphải những vướng mắc gì, đối tượng nào chưa bao quát đến để có cơ sở điều chỉnhphù hợp, thậm chí có thể xây dựng, ban hành chính sách mới

1.1.4 Khái niệm về đào tạo nghề

- Theo Các-Mác công tác dạy nghề phải bao gồm các thành phần sau:

Một là, giáo dục trí tuệ; Hai là, giáo dục thể lực như trong các trường Thể dục

Thể thao hoặc bằng cách huấn luyện quân sự; Ba là, dạy kỹ thuật nhằm giúp

học sinh nắm được vững những nguyên lí cơ bản của tất cả các quá trình sảnxuất, đồng thời biết sử dụng các công cụ sản xuất đơn giản nhất (Các- MácPh.Ăng-ghen Tuyển tập xuất bản lần 2, tập 16 trang 198)

- Theo tài liệu của Bộ Lao động thương binh và Xã hội xuất bản năm

2002 thì khái niệm đào tạo nghề được hiểu như sau: "Đào tạo nghề là hoạt động nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức, kỹ năng và thái độ

Trang 16

lao động cần thiết để người lao động sau khi hoàn thành khoá học hành được một nghề trong xã hội".

- Trong Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, Đào tạo nghề nghiệp làhoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề

nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việclàm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp

1.1.5 Khái niệm về đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là chủ trương và hành động củaChính phủ nhằm thay đổi cơ cấu ngành lao động theo hướng giảm lao độngnông nghiệp tăng lao động ngành nghề và phi nông nghiệp góp phần giảiquyết công ăn việc làm, thúc đẩy nền kinh thế phát triển

1.1.6 Lao động nông thôn và đặc điểm lao động nông thôn

1.1.6.1 Lao động nông thôn

Nguồn lao động nông thôn là một bộ phận của nguồn lao động xã hội,bao gồm toàn bộ những người lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốcdân và những người có khả năng lao động nhưng chưa tham gia hoạt độngtrong nền kinh tế quốc dân thuộc khu vực nông thôn Cụ thể, nguồn lao độngnông thôn bao gồm những người đủ tuổi lưo động sống ở nông thôn đang làmviệc trong các ngành, lĩnh vực nhƣ nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp, xâydựng, dịch vụ hoặc các ngành phi nông nghiệp khác và những người trong độtuổi có khả năng lao động nhưng hiện tại chưa tham gia hoạt động kinh tế

1.1.6.2 Đặc điểm của lao động nông thôn

Đặc điểm của người nông dân và lao động nông thôn là cần cù, chịukhó, sẵn sàng tiếp thu kiến thức mới để cải tạo vườn, ao, chuồng, cải tạo thiênnhiên, giúp ích cho cuộc sống của mình Tuy nhiên, một trong những đặcđiểm của LĐNT trong giai đoạn hiện nay là làm việc manh mún, do tập quán

10

Trang 17

làm việc theo cảm tính, người nông dân không có sự tư vấn chi tiết của các cơ

quan chuyên môn, của những người có kinh nghiệm; thiếu việc làm, không

tìm được việc làm, thời gian nhàn rỗi nhiều; phần lớn chưa có nghề và chưa

được đào tạo nghề một cách bài bản là những đặc trưng cơ bản của lao động

nông thôn Chính đặc điểm của người nông dân như vậy làm cho vai trò đào

tạo nghề càng trở nên quan trọng, quyết định sự thành công của việc hiện đại

hóa nông nghiệp, nông thôn nói chung và thành công của phong trào xây

dựng nông thôn mới nói riêng

1.2 Cơ cở thực tiễn

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của sản xuất, trong những năm qua Đảng

và Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách về nông nghiệp, nông dân, nông

thôn, trong đó được cụ thể hóa bằng Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày

27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án "Đào tạo nghề

cho lao động nông thôn đến năm 2020" Mục tiêu của đề án này là:

- Bình quân hàng năm đào tạo nghề cho khoảng 1 triệu lao động nông thôn, trong đó đào ạto, bồi dưỡng 100.000 lượt cán bộ, công chức xã;

- Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạoề,nghằm tạo việc làm, tăng thu nhập củaaol động nông thôn; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ

sự nghiệp côngệp nghihoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn;

* Giai đoạn 2009-2010:

- Tiếp tục dạy nghề cho khoảng 800.000 lao động nông thôn theo mục tiêu của

Dự án “Tăng cường năng lực dạy nghề” thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giáo đào tạo đến năm 2010 bằng các chính sách của Đề án này

dục Thí điểm các mô hình dạy nghề cho lao động nông thôn với khoảng

18.000 người, 50 nghề đào tạo và đặt hàng dạy nghề cho khoảng 12.000

người thuộc diện hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, lao động nông thôn bị thu

Trang 18

hồi đất canh tác có khó khăn về kinh tế Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghềtheo các mô hình này tối thiểu đạt 80%.

* Giai đoạn 2011-2015:

Đào tạo nghề cho 5.200.000 lao động nông thôn, trong đó: khoảng4.700.000 lao động nông thôn được học nghề (1.600.000 người học nghềnông nghiệp; 3.100.000 người học nghề phi nông nghiệp), trong đó đặt hàngdạy nghề khoảng 120.000 người thuộc diện hộ nghèo, người dân tộc thiểu số,lao động nông thôn bị thu hồi đất canh tác có khó khăn về kinh tế Tỷ lệ cóviệc làm sau khi học nghề trong giai đoạn này tối thiểu đạt 70%

* Giai đoạn 2016-2020:

Đào tạo nghề cho 6.000.000 laoộngđ nông thôn, trong đó: Khoảng

5.500.000 lao động nông thôn được học nghề (1.400.000 người học nghề

nông nghiệp; 4.100.000 người học nghề phi nông nghiệp), trong đó đặt hàng

dạy nghề khoảng 380.000 người thuộc diện hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, laođộng nông thôn bị thu hồi đất canh tác có khó khăn về kinh tế Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề trong giai đoạn này tối thiểu đạt 80%

Thực hiện quyết định của Chính phủ, Bộ NN&PTNT, UBND tỉnh HàNam cũng như các Sở, ban, ngành đã ban hành nhiều văn bản để triển khaicông tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn:

- Quyết định 584/QĐ-UBND ngày 20/5/2011 về việc phê duyệt Đề án

“Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Hà Nam đến năm 2020”

- Kế hoạch số 1590/KH-UBND ngày 11/11/2011 về việc Triển khai thựchiện Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Hà Nam đến năm 2020” giaiđoạn 2011-2015

- Kế hoạch số 973/KH-UBND ngày 16 tháng 6 năm 2014 của UBND tỉnh HàNam về dạy nghề cho lao động nông thôn năm 2014

12

Trang 19

- Quyết định số 451/QĐ-UBND ngày 6/5/2015 về việc ban hành danh mục nghề đào tạo ngắn hạn cho lao động nông thôn giai đoạn 2015-2020.

- Quyết định số 898/QĐ-UBND ngày 19/6/2017 về việc phân bổ chi tiết vốn sự nghiệp Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới

- Kế hoạch số 1750/KH-UBND ngày 30/6/2017 của UBND tỉnh Hà Nam về Đào tạo nghề cho lao động nông thôn năm 2017

Các văn bản này là cơ sở thực tiễn để Hà Nam triển khai tốt công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn trong những năm qua

1.3 Khái quát tình hình đào tạo nghề tại Việt Nam

1.3.1 Hệ thống đào tạo nghề

Hệ thống đào tạo nghề tại Việt Nam hiện có ba cấp dạy nghề:

- Dạy nghề trình độ sơ cấp: nhằm trang bị cho người học nghề năng lựcthực hành của một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc củamột nghề

- Dạy nghề trình độ trung cấp: nhằm trang bị cho người học kiến thứcchuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khả năng làm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công việc vào một nghề

- Dạy nghề trình độ cao đẳng: nhằm trang bị cho người học nghề kiếnthức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khả nănglàm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm; có khả năng sáng tạo,

ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; giải quyết các tình huống phứctạp trong thực tế

Hệ thống dạy nghề theo ba cấp độ có ưu điểm: đào tạo nhiều cấp trình

độ theo yêu cầu của thị trường lao động; liên thông trong hệ thống dạy nghề

và liên thông với các trình độ khác của hệ thống giáo dục quốc gia, tạo điềukiện và cơ hội người lao động động được học tập liên tục để nâng cao trình độnghề nghiệp Hệ thống dạy nghề ba cấp độ này cũng phù hợp với các trình độ

Trang 20

dày nghề của các nước, tạo điều kiện cho việc hội nhập kinh tế quốc tế vàxuất khẩu lao động.

Các cơ sở dạy nghề được phát triển theo quy hoạch rộng khắp trên toànquốc, đa dạng về hình thức sở hữu và loại hình đào tạo Số lượng cơ sở dạynghề nói chung và cơ sở tư thục nói riêng tăng nhanh Năm 2013, cả nước có

1339 cơ sở dạy nghề, nếu tính cả các cơ sở khác có dạy nghề (bao gồm đạihọc, cao đẳng, trung tâm khác có dạy nghề) thì mạng lưới cơ sở dạy nghề cảnước có gần 2.040 cơ sở, trong đó cơ sở dạy nghề công lập chiếm khoảng60% Đặc biệt, thực hiện Quyết định 1956, mạng lưới trung tâm dạy nghề cấphuyện đã được mở rộng Năm 2013 có trên 430 trung tâm dạy nghề cấp huyệnnhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Bảng 1.1 Số lượng cơ sở dạy nghề theo loại hình đào tạo

14

Trang 21

1.3.2 Quy mô và cơ cấu nghề đào tạo

Hệ thống dạy nghề phát triển đã tạo cơ hội cho mọi người có nhu cầuhọc nghề đều được học nghề phù hợp Trong giai đoạn 2012-2017, tổng số đãtuyển sinh học nghề là 11,5 triệu người, trong đó cao đẳng nghề là 640.631người (chiếm 5,57%), trung cấp nghề là 999.567 người (chiếm 8,69%), sơ cấpnghề là 4.904.524 người (chiếm 42,62%) và dạy nghề dưới 3 tháng là4.962.44 người (chiếm 43,12%) Bình quân mỗi năm, hệ thống dạy nghềtuyển mới khoảng 1,91 triệu người

Trong giai đoạn 2012-2017, số lao động nông thôn được hỗ trợ họcnghề là khoảng 1,619 triệu người, trong đó có 35,2 nghìn người được hưởngchính sách ưu đãi người có công với cách mạng, 330,2 nghìn người dân tộcthiểu số, 178,1 nghìn người thuộc hộ nghèo, 36,4 nghìn người thuộc hộ bị thuhồi đất, 9,5 nghìn người là người khuyết tật, 78,5 nghìn người thuộc hộ cậnnghèo và 943,5 nghìn người thuộc đối tượng lao động nông thôn khác Tuynhiên, hiện nay người học nghề đa phần là lao động nông thôn, vùng sâu,vùng xa, vùng khó khăn hoặc thuộc đối tượng nghèo, cận nghèo Do vậy họrất khó khăn khi học nghề, nhiều người không có điều kiện đi học nghề

Quy mô cơ cấu nghề đào tạo được mở dần theo nhu cầu thực tế củadoanh nghiệp với danh mục nghề của gần 400 nghề đào tạo ở trình độ caođằng và khoảng 470 nghề đào tạo ở trình độ trung cấp Các cơ sở dạy nghề đã

mở thêm nhiều ngành nghề đạo tạo mới mà thị trường cần Cùng với việc đàotạo các nghề phục vụ cho các khu công nghiệp, khu chế xuất, các cơ sở dạynghề đã đào tạo các nghề phục vụ cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp, nông thôn và giải quyết việc làm cho người lao động Tuy nhiên, hiệnnay nhiều trường nghề vẫn tập trung tuyển sinh và đào tạo ngắn hạn và ởnhững ngành nghề có chi phí thấp như kế toán, tài chính, lái xe, dịch vụ…

Trang 22

Cơ cấu học sinh học nghề theo trình độ còn hạn chế, mới chỉ tập trung

vào trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng, trong khi tỷ lệ học sinh

học ở trình độ cao đẳng nghề và trung cấp nghề rất thấp Nguyên nhân chủ

yếu ở đây là do nhận thức của người dân không muốn học nghề, học sinh tốt

nghiệp THPT phần lớn có xu hướng đi học đại học hay cao đẳng chuyên

nghiệp, các trường nghề gặp khó khăn trong tuyển sinh ở trình độ cao đẳng

nghề và trung cấp nghề

Bảng 1.2 Số lượng và cơ cấu tuyển sinh học nghề theo cấp trình độ (giai

đoạn 2012-2017) Cao đẳng Trung cấp

Sơ cấp nghề Dạy nghề dưới

% (người) % (người) % (người) % (người)

Nguồn: Tổng cục Dạy nghề

Một vấn đề khác, trong những năm qua, số lượng học sinh tốt nghiệp

THCS và THPT tham gia học nghề còn khiêm tốn Theo thống kê, số học sinh

Trang 23

tốt nghiệp THCS được tuyển mới để tham gia học trung cấp nghề trong năm

2017 khoảng 98 nghìn người, chỉ chiếm khoảng 10% tổng số học sinh tốt

16

Trang 24

nghiệp THCS Điều này, ảnh hưởng đến chính sách phân luồng học sinh tốtnghiệp THCS đi học nghề với mục tiêu đến năm 2020 có ít nhất 30% học sinhtốt nghiệp THCS đi học nghề, gây mất cân đối cơ cấu nhân lực đào tạo nghề.Nguyên nhân chủ yếu ở đây là, phần lớn học sinh tốt nghiệp THCS và THPT

có tâm lý không muốn đi học nghề

1.3.3 Nguồn lực tài chính đầu tư cho dạy nghề tại Việt Nam

Nguồn lực tài chính đầu tư cho dạy nghề tại Việt Nam bao gồm cácnguồn từ ngân sách nhà nước (NSNN) và ngoài NSNN Nguồn NSNN gồm 3nội dung: nguồn kinh phí thường xuyên, vốn đầu tư xây dựng cơ bản và vốnchương trình mục tiêu quốc gia Nguồn tài chính ngoài NSNN gồm: học phí,

lệ phí tuyển sinh, các khoản thu từ dịch vụ, hoạt động sản xuất kinh doanh, tưvấn chuyển giao công nghệ, vốn đầu tư, tài trợ của các tổ chức và cá nhântrong và ngoài nước

Từ năm 2016, kinh phí hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thônđược bố trí trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới,các địa phương phải căn cứ vào việc thực hiện các tiêu chí xây dựng nôngthôn mới để cân đối, bố trí kinh phí cho các hoạt động phù hợp với tổng sốkinh phí được cấp và khả năng hoàn thành các tiêu chí Trong tổng số 5,5triệu lao động nông thôn học nghề, NSNN dự kiến hỗ trợ đào tạo khoảng 3,8triệu người, số còn lại do các địa phương huy động các nguồn kinh phí khác

từ doanh nghiệp (DN), tổ chức cá nhân và người học để tổ chức đào tạo Hiện nay, nguồn lực tài chính cho đào tạo nghề tại Việt Nam được thể hiệnnhư sau:

(1) Nguồn lực tài chính từ NSNN:

Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 đã đượcThủ tướng Chính phủ phê duyệt có kinh phí gần 26.000 tỷ đồng Ngoài ra, laođộng nông thôn và đối tượng yếu thế còn được hưởng hỗ trợ theo Quyết định

17

Trang 25

số 46/2015/QĐ-TTg quy định chính sách hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp, đàotạo dưới 3 tháng NSNN cũng được bố trí đào tạo nghề cho lao động nôngthôn thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình cho vay giảiquyết việc làm, cho vay vốn hộ nghèo…

Theo số liệu của Vụ Tài chính Hành chính sự nghiệp (Bộ Tài chính),chi NSNN cho lĩnh vực giáo dục đào tạo và dạy nghề đảm bảo tăng đều quacác năm: Năm 2015 là 184.070 tỷ đồng, năm 2016 là 195.604 tỷ đồng, năm

2017 là 215.167 tỷ đồng, năm 2018 là 229.074 tỷ đồng Như vậy, nếu so sánhmức tăng năm 2018 với năm 2015 thì số tăng gấp 1,24 lần

Hiện nay, nguồn lực tài chính từ NSNN chiếm khoảng 60% tổng nguồnlực tài chính cho dạy nghề Mức chi cho giáo dục dạy nghề không ngừng tăngqua các năm (từ mức 139.926 tỷ đồng 2014 đến 229.074 tỷ đồng 2018) Nếu

so sánh mức tăng năm 2018 với năm 2015 thì số tăng gấp 1,24 lần Chi chogiáo dục dạy nghề chiếm tỷ lệ từ 13,90% (2015) đến 17,64% (2017) trongtổng chi NSNN, tỷ lệ này sụt giảm còn 16,10% vào năm 2018

Về cơ cấu chi, định mức phân bổ chi sự nghiệp đào tạo và dạy nghềtheo tiêu chí dân số cho vùng miền núi - đồng bào dân tộc ở đồng bằng, vùngsâu cao hơn 1,56 lần so với vùng đô thị; đối với vùng cao - hải đảo cao hơn2,22 lần so với vùng đô thị

Tuy NSNN hiện nay dành cho công tác đào tạo nghề khá cao, song hiệuquả dạy nghề cho lao động nông thôn không đồng đều giữa các vùng trong cảnước, các vùng trung du miền núi phía Bắc, Tây Nguyên có số lao động nôngthôn được hỗ trợ học nghề và tỷ lệ lao động có việc làm sau học nghề thấphơn các vùng khác, trong khi kinh phí trung ương hỗ trợ bình quân luôn bằnghoặc cao hơn mức hỗ trợ bình quân chung của các vùng khác trong cả nước

Trang 26

(2) Nguồn lực tài chính ngoài ngân sách:

- Học phí: Nguồn thu từ học phí hiện nay chiếm khoảng 18% tổngnguồn lực tài chính cho dạy nghề Nguồn thu từ học phí vẫn tăng đều qua cácnăm, nhất là trong giai đoạn 2014-2018 với mức từ 1.523 tỷ đồng năm 2014lên khoảng 4.892 tỷ năm 2018 (tăng xấp xỉ 3,2 lần) nhưng mức học phí họcnghề hiện còn thấp So với chi thường xuyên cho dạy nghề, tỷ trọng học phíthu được năm 2018 bằng khoảng 34%, trong khi năm 2014 chỉ khoảng 30%

- Nguồn viện trợ phát triển ODA: Nguồn vay và đóng góp của các tổchức, cá nhân trong và ngoài nước hiện nay chiếm tỷ trọng khoảng 9% trongtổng nguồn tài chính cho đào tạo nghề Nguồn tài chính ODA đầu tư cho các

dự án dạy nghề còn rất nhỏ; qua khảo sát chưa đầy đủ vốn ODA đầu tư chođào tạo nghề trọng điểm năm 2015 là gần 32 tỷ đồng, năm 2016 gần 38 tỷđồng, năm 2017 là gần 40 tỷ đồng Trong khi đó, các cơ chế, chính sách tàichính đối với nguồn kinh phí này còn nhiều bất cập Nguồn vốn vay trong vàngoài nước cho đào tạo nghề còn hạn chế về số lượng và chất lượng; thủ tụcgiải ngân còn phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều cơ quan

1.4 Kinh nghiệm thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở một số địa phương

1.4.1 Đối với tỉnh Bắc Ninh

1.4.1.1 Đặc điểm tự nhiên và xã hội

Tỉnh Bắc Ninh có diện tích 822,7 km2, nằm ở cửa ngõ phía Bắc của thủ

đô Hà Nội, dân số khoảng 1.247.454 người, trong đó nam giới chiếm 49,2%,

nữ giới 50,8% Lượng mưa trung bình hàng năm dao động trong khoảng1.400-1.600mm nhưng phân bố không đều trong năm Mưa tập trung chủ yếu

từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô từtháng 11 đến tháng 4 năm sau chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa trong năm

19

Trang 27

Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.530-1.776 giờ, trong đó tháng cónhiều giờ nắng trong năm là tháng 7 và tháng có ít giờ nắng là tháng 1.

Dân số nông thôn có 870.682 người trong đó lao động nông thôn trong

độ tuổi lao động là 476.422 người Tính đến hết năm 2018, tỷ lệ hộ nghèo cònkhoảng 1,62%; Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 66,3%; Kinh tế trongnăm 2018 phát triển toàn diện, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm (GRDP)tăng 10,6% so với năm 2017, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 1.136.000 tỷđồng, hoạt động ngoại thương phát triển mạnh, tổng kim ngạch xuất, nhậpkhẩu ước 66,12 tỷ USD, trong đó xuất siêu 3,58 tỷ USD, thu ngân sách nhànước 27.912 tỷ đồng Theo thống kê, thu nhập bình quân 1 nhân khẩu/ thángtính chung cho toàn tỉnh là 4.957.000 đồng

Tổng diện tích gieo trồng vụ mùa năm 2018 ước đạt 35.605,4 ha, giảm 3,2% (-1.164 ha) so với cùng vụ năm trước, năng suất lúa mùa ước đạt 56,2 tạ/

ha, tăng 0,7 tạ/ha; sản lượng thóc ước đạt 183,9 nghìn tấn, giảm 6,2 nghìn tấn Chăn nuôi, giá thịt lợn hơi tăng và tổng đàn đang được phục hồi sau thời gian dài sụt giảm Ước tính đến cuối tháng 9, toàn tỉnh có 2.332 con trâu, giảm 43 con so cùng thời điểm năm trước; đàn bò có 30.314 con, giảm 465 con; đàn lợn

có 393.372 con, tăng 11,8 nghìn con; đàn gia cầm có 5.278 nghìn con, tăng 78 nghìn con Thuỷ sản: Ước tính diện tích nuôi trồng thuỷ sản 9 tháng đầu năm là5.201 ha, giảm 0,6% (Tương ứng giảm 34 ha) so cùng kỳ

1.4.1.2 Một số kết quả đạt được

Thực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủtướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Dạy nghề cho lao động nông thônđến năm 2020” Tỉnh Bắc Ninh đã ban hành một số Văn bản triển khai thựchiện Đề án như: Quyết định số 383/QĐ-UBND ngày 04/4/2011 về việc phêduyệt Đề án ”Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn2011-2015, định hướng đến năm 2020”; Quyết định số 88/QĐ-UBND ngày

Trang 28

29/7/2011 về việc “Quy định mức chi phí đào tạo nghề trình độ sơ cấp và dạynghề dưới 3 tháng cho lao động nông thôn”; Chỉ thị số 11-CT/TU ngày21/11/2011 về việc ”Tăng cường lãnh đạo công tác đào tạo nghề cho lao độngnông thôn đến năm 2015 và những năm tiếp theo”; Quyết định số39/2017/QĐ-UBND ngày 20/12/2017 về việc quy định mức chi phí đào tạo vàmức hỗ trợ chi phí đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng.

Từ 2010 đến 2019 số lao động nông thôn được hỗ trợ học nghề nôngnghiệp theo đề án 1956 là 22.841 người, trong đó: lao động nữ: 13.919 người,lao động là người thuộc diện chính sách người có công với cách mạng 108người, lao động thuộc diện hộ nghèo 762 người, lao động thuộc hộ cận nghèo

443 người, lao động là người khuyết tật 18 người, lao động là người bị thu hồiđất nông nghiệp là 695 người Một số mô hình dạy nghề cho lao động nôngthôn có hiệu quả:

- Mô hình Kỹ thuật trồng nấm: Người học nghề kỹ thuật trồng nấmnắm chắc được kỹ thuật, biết áp dụng kiến thức được học vào quá trình sản xuấtnấm tại gia đình, tận dụng được nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa

phương, tận dụng thời gian nhàn rỗi tổ chức trồng nấm tại gia đình với quy

mô nhỏ, nhằm cải thiện cuộc sống và tăng thêm thu nhập cho gia đình Một số

hộ gia đình tập trung thành tổ sản xuất Mô hình kỹ thuật trồng nấm đượcnhân rộng tại các xã ở huyện Lương Tài, Thuận Thành, Quế Võ, với mức thunhập của các lao động bình quân từ 3.000.000 - 4.000.000đ/người/tháng

- Mô hình kỹ thuật trồng nghệ: Tại xã Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh

và xã Bằng An, huyện Quế Võ sau khi tham gia lớp dạy nghề kỹ thuật trồng nghệ,học viên đã áp dụng những kiến thức vào quá trình sản xuất thực tế của

gia đình và đạt hiệu quả khá cao, bình quân thu nhập trên 1 sào nghệ trên 11 triệu đồng

21

Trang 29

- Về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, người dạy nghề: Đội ngũ giáoviên có đủ điều kiện kiến thức chuyên môn và kỹ năng sư phạm, truyền đạt dễhiểu tạo điều kiện cho học viên tiếp thu một cách nhanh nhất Tuy nhiên bêncạnh đó vẫn còn một số giáo viên năng lực sư phạmvà kinh nghiệm vẫn cònhạn chế nhất định (nghệ nhân, lao động giỏi, người có tay nghề cao).

Tiêu chuẩn giáo viên của một số cơ sở dạy nghề chưa đảm bảo tỷ lệgiáo viên cơ hữu và giáo viên thỉnh giảng, một số giáo viên còn thiếu chứngchỉ sư phạm dạy nghề (thường là các nghệ nhân, thợ bậc cao) Tỉnh đã huyđộng được các nghệ nhân, cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, người lao động có tay nghềcao tại các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh, các trung tâm khuyếnnông - lâm - ngư, nông dân sản xuất giỏi tham gia dạy nghề cho lao độngnông thôn

- Về hoạt động kiểm tra, giám sát các lớp đào tạo nghề nông nghiệp cholao động nông thôn tại các địa phương đã được triển khai thực hiện như sau:

Ở cấp tỉnh, Phòng Cơ Điện- Ngành nghề nông thôn của Chi cục Pháttriển nông thôn thực hiện kế hoạch kiểm tra, giám sát hàng năm của Chi cục, tổchức kiểm tra tại các lớp học và các cơ sở dạy nghề cho lao động nông thôn

do các đơn vị dạy nghề thực hiện

Tại cấp huyện: Phòng Lao động TBXH các huyện kết hợp với các xã tổchức kiểm tra tại các lớp học trên địa bàn huyện, tuy nhiên công tác kiểm tragiám sát của cấp huyện, xã chưa được thường xuyên, liên tục

Hiệu quả của công tác kiểm tra giám sát: kịp thời phát hiện và chấnchỉnh được các sai sót trong hồ sơ học viên, việc duy trì sĩ số trên lớp, quátrình giảng dạy của giáo viên và công tác quản lý của cơ sở dạy nghề cũngnhư của chính quyền địa phương

Các đơn vị sau khi được kiểm tra đều có sự tiến bộ, những tồn tại, hạnchế được khắc phục, rút kinh nghiệm chung cho các đơn vị khác trong tỉnh

Trang 30

Nhìn chung công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn nói chung,đào tạo nghề nông nghiệp nói riêng đã góp phần lớn trong việc chuyển đổi cơcấu lao động nông thôn,qua các lớp đào tạo nghề nông nghiệp cho lao độngnông thôn, người học đã được trang bị những kiến thức cơ bản và kỹ năngthực hành, sau khi kết thúc khóa học hầu hết các học viên nắm bắt được kiếnthức cơ bản về các nghề, bước đầu hình thành một số kỹ năng tổ chức sảnxuất tại các hộ, nhằm phát triển kinh tế gia đình góp phần tích cực trong việcphát triển nguồn nhân lực và giải quyết việc làm (chủ yếu là việc làm tại cácgia đình của học viên) Đây cũng là nhân tố chủ yếu trong việc chuyển đổi cơcấu lao động nông thôn, giúp người nông dân chuyển đổi nghề và tạo thêmnghề mới, phát triển kinh tế và tăng thu nhập cho gia đình, góp phần vào việc

ổn định an ninh chính trị tại địa phương, đặc biệt là địa bàn nông thôn

1.4.1.3 Những tồn tại và giải pháp

- Những khó khăn tồn tại:

Hoạt động của Ban chỉ đạo các cấp chưa được thường xuyên, cấphuyện chưa bố trí cán bộ chuyên trách theo dõi đào tạo nghề Đội ngũ cán bộquản lý dạy nghề ở cấp huyện chất lượng còn ạhn chế vì một số không cóchuyên môn trong lĩnh vực đào tạo nghề và phải kiêm nhiệm nhiều công việckhác nhau

Các Trung tâm dạy nghề cấp huyện xác nhập với Trung tâm Giáo dụcthường xuyên cấp huyện, mảng đào tạo nghề chưa được đầu tư về nhiều về cơ

sở vật chất: các lớp học nghề chủ yếu mở tại các thôn, xã nên một số phònghọc chưa đảm bảo

Đội ngũ giáo viên thiếu và chủ yếu là giáo viên thỉnh giảng, một sốgiáo viên trẻ kinh nghiệm còn hạn chế, đa số giáo viên các nghề truyền thống,thủ công chưa có nghiệp vụ sư phạm, chủ yếu vẫn dựa vào kinh nghiệm đểtruyền nghề

23

Trang 31

Chất lượng đào tạo còn hạn chế, hiệu quả và thu nhập ở một số nghềchưa đáp ứng được theo mong muốn của người tham gia học nghề Do vậy,học viên học qua lớp đào tạo nghề nông nghiệp tìm được việc làm còn khókhăn.

Việc chấp hành quy định về thời gian học tập đối với lao động nôngthôn chưa được nghiêm túc về thời gian học tập, vì ngoài việc học, LĐNT vẫnphải lo cuộc sống hàng ngày của gia đình họ

Ngoài ra, việc tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng còn gặp nhiều khókhăn, ruộng đất sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân còn manh mún,nhỏ lẻ; việc tích tụ ruộng đất tạo cánh đồng lớn còn gặp nhiều khó khăn; việcliên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm còn nhiều hạn chế; hiệu quả sảnxuất nông nghiệp so với các nghành khác thấp, hoen nữa chịu ảnh hưởng củathời tiết, dịch bệnh lớn

Các cơ sở dạy nghề chưa có kết nối giữa tuyển sinh đào tạo và giớithiệu việc làm cho học viên sau khi học xong

- Một số giải pháp:

Phân công trách nhiệm thực hiện các công việc và phối hợp giữa các cơquan, đơn vị liên quan thật rõ ràng Nâng cao nhận thức về vai trò quan trọngcủa công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn cho các cấp uỷ Đảng, chínhquyền, cán bộ cơ sở và chỉ đạo các cấp quân tâm, sát sao trong việc việc xâydựng, thực hiện đề án

Tổ chức việc học nghề và giải quyết việc làm sau học nghề phái gắnvới kế hoạch phát triển sản xuất của địa phương

Tăng cường cơ sở vật chất, chương trình, giáo trình dạy nghề, giáo viêndạy nghề, bảo đảm các điều kiện cho việc dạy học

Thường xuyên thực hiện công tác kiểm tra, giám sát

Trang 32

1.4.2 Đối với tỉnh Hải Dương

1.4.2.1 Đặc điểm tự nhiên và xã hội

Hải Dương có diện tích tự nhiên 1.662 km2, với dân số khoảng 1,8triệu người, trong đó trên 60% trong độ tuổi lao động, tỷ lệ dân số sống ở khuvực nông thôn khoảng 84,5% và chủ yếu là làm nghề nông Vùng đồi núi nằm

ở phía bắc tỉnh của tỉnh, chiếm 11% diện tích tự nhiên, là vùng đồi núi thấpphù hợp với việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày

Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông TháiBình bồi đắp, đất mầu mỡ thích hợp với nhiều loại cây trồng, sản xuất đượcnhiều vụ trong năm Tỉnh Hải Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới giómùa, chia làm 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông) Lượng mưa trung bình hàngnăm 1.300 - 1.700 mm Nhiệt độ trung bình 23,30C; số giờ nắng trong năm1.524 giờ; độ ẩm tương đối trung bình 85 - 87%

Năm 2018, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 157.556 ha,trong đó một số cây chủ lực có diện tích gieo trồng lớn cây lúa, diện tích lúađạt 116.408 ha, chiếm 73,9% tổng diện tích gieo trồng, năng suất lúa bìnhquân đạt 60,3 tạ/ha, ngô 57,82 tạ/ha, rau các loại 231,38 tạ/ha Tổng đàn trâuước đạt 4.045 con, đàn bò là 21.300 con, đàn lợn đạt 572.000 con (trong đó,lợn thịt 508.000 con chiếm 88,8% tổng đàn).DDàn gia cầm (gà, vịt, ngan,ngỗng) của toàn tỉnh đạt 11.300 nghìn con Sản lượng thịt gia cầm gồm (gà,vịt, ngan, ngỗng và gia cầm khác) ước đạt 36.955 tấn, sản lượng trứng giacầm (bao gồm cả trứng chim cút) ước đạt 361.347 nghìn quả Trong tổng đàngia cầm, gà là loại vật nuôi chủ yếu, tổng đàn gà toàn tỉnh 8.700 nghìn con,chiếm 77% tổng đàn, trong đó: đàn gà thịt là 7.700 nghìn con, chiếm 88,7%,tăng 4,6% Tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản đạt 11.173 ha, sản lượng thuỷsản nuôi trồng và khai thác ước đạt 73.799 tấn, trong đó sản lượng thủy sảnnuôi trồng ước đạt 72.066 tấn, chiếm 97,6% tổng sản lượng thủy sản Sản

25

Trang 33

lượng cá đạt 71.992 tấn, chiếm 99,8% tổng sản lượng nuôi trồng Sản xuấtgiống thuỷ sản đạt 1.468 triệu con; trong đó, cá giống các loại 1.466 triệu con;giống thủy sản khác 2,4 triệu con.

1.4.2.2 Một số kết quả đạt được

Sở Nông nghiệp và PTNT đã tích cực tham gia cùng với các cơ quanchuyên môn của tỉnh tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh ban hành đề án, kếhoạch, chỉ thị, quyết định và các văn bản để triển khai công tác đào tạo nghềcho lao động nông thôn đến năm 2020 như: Quyết định số 2424/QĐ-UBNDngày 13/7/2009 về việc phê duyệt Quy hoạch dạy nghề tỉnh Hải Dương giaiđoạn 2009-2015 và định hướng đến năm 2020; Quyết định số 758/QĐ-UBNDngày 22/3/2011 về phê duyệt đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnhHải Dương đến năm 2020; Chỉ thị số 42-CT/TU ngày 05/8/2010 về tăngcường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác đào tạonghề nông nghiệp cho lao động nông thôn đến năm 2020; Công văn số

249/SLĐTBXH-DN ngày 23/2/2017 (Ban chỉ đạo đề án 1956) về việc thực

hiện công tác dạy nghề cho giai đoạn 2017-2020; Chỉ thị số 12/CT-UBNDngày 27/8/2018 về tăng cường nâng cao trách nhiệm và chất lượng trong côngtác giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Tổng số lao động nông thôn trong độ tuổi lao động (từ 15 tuổi đến 60tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với nữ) trên địa bàn tỉnh là: 685.105 lao động.Tổng số lao động thuộc lĩnh vực nông lâm thủy sản là 285.289 lao động, trong

đó lao động đã qua đào tạo nghề nông nghiệp là 20.744 lao động, chiếm 7,3%

- Đào tạo được cấp chứng chỉ

Tổng số lao động nông thôn được hỗ trợ đào tạo nghề nông nghiệp (dạy

nghề thường xuyên dưới 3 tháng) theo chính sách của Đề án 1956 giai đoạn

Trang 34

2010-2018 là 20.744 lao động, đạt 62,9% so với kế hoạch của cả giai đoạn2010-2018 Trong đó hỗ trợ từ ngân sách nhà nước là 20.744 lao động.

Tổng số lao động được hỗ trợ đào tạo phân theo các nhóm đối tượngtheo định hướng chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và PTNT là: 20.744 lao động,trong đó: Lao động là thành viên các hợp tác xã là 20.578 lao động; Lao độngthuộc diện chính sách đào tạo nhằm an sinh xã hội nông thôn là 166 lao động

(11 lao động thuộc đối tượng chính sách người có công với cách mạng, 48

lao động thuộc hộ nghèo, 107 lao động bị thu hồi đất nông nghiệp).

- Đào tạo không cấp chứng chỉ

Đến nay, tỉnh Hải Dương chưa được các Tổ chức phi chính phủ, cácDoanh nghiệp, Hiệp hội, Hiệp hội đào tạo, Tổng công ty, Tổ chức khác ở địaphương tham gia hỗ trợ đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn

- Hiệu quả đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn

Tổng số lao động đã học xong là 20.744 lao động, trong đó số người cóviệc làm sau học nghề là 17.850 lao động đạt 86% Sau khi học nghề xong,lao động tự tạo việc làm và xây dựng một số mô hình tổ chức sản xuất điểnhình: Mô hình chăn nuôi gà lai chọi của hội nông dân xã Gia Lương huyệnGia Lộc, Hội nông dân xã Tân Dân - Thị xã Chí Linh, Hội Nông dân phườngVăn An - Chí Linh, Hội nông dân thị trấn Nam Sách huyện Nam Sách

- Hoạt động tuyên truyền; tư vấn học nghề và việc làm đối với lao động nông thôn

Tuyên truyền và tư vấn về đào tạo nghề, việc làm cho lao động nôngthôn nhằm nâng cao nhận thức của người lao động góp phần nâng cao đờisống, thu nhập cho bản thân và gia đình Phổ biến chủ trương, chính sách củaĐảng và Nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn;

27

Trang 35

Do không có kinh phí cho hoạt động tuyên truyền, tư vấn học nghề vàviệc làm nên công tác tư vấn tuyên truyền thường gắn liền với các buổi khaigiảng, buổi giảng dạy trên lớp

- Về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên

Đội ngũ giáo viên cơ hữu và thỉnh giảng có kiến thức và kinh nghiệmthực tế, có nghiệp vụ sư phạm truyền tải kiến thức phù hợp với đối tượng laođộng nông thôn Trong công tác giảng dạy, nhiệt tình, chịu khó, ngoài giờ lênlớp một số giáo viên còn tận tình đến gia đình học viên chỉ dạy, áp dụng thựchành vào trong sản xuất chăn nuôi, cây trồng sẵn có tại hộ gia đình Tuynhiên, vẫn còn một số giáo viên trẻ, kinh nghiệm thực tế còn hạn chế, phươngpháp giảng dạy còn nặng về lý thuyết, ít ví dụ thực tiễn, chưa tạo hứng thúcho học viên tiếp thu bài giảng

Trang thiết bị dạy nghề của các cơ sở dạy nghề hiện còn thiếu và chưađồng bộ; một số trang thiết bị được trang bị đã hư hỏng do sử dụng và vậnchuyển từ Trung tâm đến các địa điểm mở lớp tại xã và thôn Đa số địa điểm

mở lớp của các cơ sở dạy nghề là nhà văn hóa thôn hoặc hội trường UBND xã

để thuận tiện cho việc đi lại của học viên

- Hoạt động điều tra, khảo sát, dự báo nhu cầu; kiểm tra, giám sát, đánh giá

Công tác kiểm tra, giám sát về đào tạo nghề nông nghiệp được Sở Nông

nghiệp và PTNT (Chi cục Phát triển nông thôn) thực hiện thường xuyên, nắm

bắt và theo dõi tiến độ các lớp học: kiểm tra hồ sơ mở lớp, kiểm tra đối tượnghọc viên, kiểm tra hồ sơ sổ sách, kiểm tra kết thúc khóa học

1.4.2.3 Những tồn tại và giải pháp

- Những khó khăn tồn tại:

Công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách, cơ chế hỗ trợ về dạy nghề cho lao động nông thôn còn hạn chế, lao động chưa thực sự nhận thức

Trang 36

được ý nghĩa, tầm quan trọng, tính thiết thực, hiệu quả của công tác dạy vàhọc nghề Một số cán bộ chính quyền địa phương chưa thực sự vào cuộc vớicông tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn.

Thực hiện dự báo về việc làm, thu nhập của người lao động sau khi họcnghề chưa sát với thực tế, do chưa thực hiện tốt việc điều tra khảo sát về tìnhhình lao động, nhu cầu đào tạo nghề do chưa có nguồn kinh phí, chưa đánhgiá được chính xác tỷ lệ người có việc làm sau khi học nghề, số người họcnghề thuộc hộ nghèo, sau khi học nghề đã thoát được nghèo Việc quy địnhmỗi lao động nông thôn chỉ được tham gia học một nghề là không phù hợpthiếu thực tế vì sản xuất nông nghiệp một lao động thường tham gia làm nhiềunghề cả trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản, việc thay đổi nghề là rấtkhó khăn

Mạng lưới cơ sở dạy nghề phân bố không đều giữa các huyện, thànhphố Cơ sở vật chất, trang thiết bị cho công tác dạy nghề còn hạn chế, chưathực sự đảm bảo cho đào tạo Trình độ văn hóa của lao động nông thôn khôngđồng đều, việc tiếp nhận các kỹ thuật và nội dung học tập khó khăn

Chất lượng đào tạo nghề chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường laođộng và thực tế sản xuất kinh doanh ở các địa phương do đào tào chưa sátđược nhu cầu thực tế

- Một số giải pháp:

Công tác đào tạo nghề nông nghiệp thực hiện trên địa bàn các xã phảigắn với việc thực hiện tiêu chí số 14 của Bộ tiêu chí nông thôn mới của tinhHải Dương Thực hiện đào tạo nghề phải góp phần vào việc nâng cao thunhập, xóa đói giảm nghèo cho khu vực nông thôn

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách phát triển sảnxuất nông nghiệp, đào tạo nghề; các mô hình dạy nghề hiệu quả, các gươngđiển hình sản xuất giỏi, nông dân đã thành công sau học nghề

29

Trang 37

Các cơ quan báo đài thường xuyên có nhiều phóng sự, bài viết đưa tin,giới thiệu về chính sách đào tạo nghề nông nghiệp, về các hoạt động dạy nghềnông nghiệp cho lao động nông thôn ở các địa phương,

Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả dạy nghề

Lựa chọn cơ sở đào tạo nghề nông nghiệp có đủ điều kiện về cơ sở vậtchất và các đội ngũ giáo viên có kinh nghiệm để dạy nghề nông nghiệp ứngdụng công nghệ cao

1.4.3 Đối với tỉnh Ninh Bình

1.4.3.1 Đặc điểm tự nhiên và xã hội

Ninh Bình có diện tích tự nhiên 1.391 km2 km², bao gồm 2 thành phố

và 6 huyện, dân số khoảng 918,5 nghìn người Toàn tỉnh có 67.000 ha đấtnông nghiệp, trong đó đất canh tác 55.000 ha; đất lâm nghiệp 13.000 ha; rừng

tự nhiên 10.400 Địa hình Ninh Bình phân chia thành ba vùng tương đối rõnét, vùng đồi núi ở phía Tây và Tây Bắc; vùng đồng bằng và vùng ven biểnphía Đông và phía Nam Khí hậu tỉnh Ninh Bình nằm trong vùng khí hậunhiệt đới, gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu ven biển Lượng mưa trungbình hàng năm trên 1.800 mm nhưng phân bố không đều, tập trung 70%lượng mưa vào mùa hè Mỗi vùng trong tỉnh có tiềm năng và thế mạnh riêng,song các vùng có thể bổ sung hỗ trợ nhau để phát triển nền kinh tế hàng hoátoàn diện cả cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, nuôi trồng thuỷ, hảisản, công nghiệp vật liệu xây dựng và công nghiệp chế biến nông sản thựcphẩm

Sản xuất nông nghiệp áp dụng nhiều ứng dụng kỹ thuật mới, thực hiện

cơ giới hóa sản xuất, triển khai có hiệu quả nhiều mô hình ứng dụng cộngnghệ cao vào sản xuất, nâng cao giá trị sản xuất trên 1 ha đất canh tác, qua đógiá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản đạt 8.503 tỷ đồng, giá trị sản xuất/

1 ha đất canh tác đạt 120 triệu đồng Tổng diện tích gieo trồng cây hàng

Trang 38

năm toàn tỉnh đạt 99,6 nghìn hà Trong đó diện tích cây lúa đạt 75,6 nghìn ha,diện tích cây ngô đạt 5,1 nghìn ha Tổng đàn trâu, bò đạt 58 nghìn con, đànlợn 420 nghìn con, đàn dê 25 nghìn con, đàn gia cầm 5.550 nghìn con Sảnlượng thịt hơi xuất chuồng đạt 60,1 nghìn tấn, riêng thịt lợn hơi đạt 46 nghìntấn Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 13,1 nghìn ha, trong đó diện tích nuôithủy sản ruộng trũng đạt 4,7 nghìn ha Tổng sản lượng thủy sản ước đạt 51,3nghìn tấn Công tác xây dựng nông thôn mới tiếp tục được đẩy mạnh, đạtnhiều kết quả, diện mạo nông thôn thay đổi tích cực Tổng số xã đạt chuẩnnông thôn mới là 90 xã (đạt 75,6% tổng số xã) và 2 huyện đạt chuẩn nôngthôn mới, 01 thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.

1.4.3.2 Một số kết quả đạt được

Thực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủtuớng Chính phủ về việc phê duyệt đề án “Đào tạo nghề cho lao động nôngthôn đến năm 2020”, UBND tỉnh Ninh Bình đã tập trung chỉ đạo triển khai vàban hành các văn bản: Quyết định số 722/QĐ-UBND ngày 19/9/2012 về việcPhê duyệt danh mục nghề, định mức chi phí hỗ trợ đào tạo nghề từ ngân sáchnhà nước cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2012-2015; Côngvăn số 275/UBND-VP6 ngày 27/11/2013 về việc bổ sung đội ngũ giáo viên,người dạy nghề nông nghiệp; Quyết định số 422/QĐ-UBND ngày12/6/2014

về việc phê duyệt danh mục nghề, định mức chi phí hỗ trợ đào tạo nghề từngân sách nhà nước trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng cho LĐNTtrên địa bàn tỉnh Ninh Bình; Quyết định số 17/2014/QĐ-UBND ngày18/6/2014 về việc ban hành quy định trách nhiệm phối hợp tổ chức quản lýcông tác dạy nghề trên địa bàn tỉnh Ninh Bình; Quyết định số 635/QĐ-UBNDngày 18/5/2016 về việc phê duyệt danh mục nghề, thời gian đào tạo, định mứcchi phí đào tạo và hỗ trợ đào tạo nghề từ ngân sách nhà nước trình độ sơ cấpnghề và đào tạo nghề dưới 03 tháng cho lao động nông thôn

31

Trang 39

Tổng số lao động nông thôn năm 2018 là 483.873, trong đó số lao độngtrong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản trên địa bàn tỉnh là 200.365 người Tổng sốlao động được hỗ trợ học nghề nông nghiệp theo đề án 1956 giai đoạn 2010-

2018 là 3.914 người (100% hỗ tợ từ nguồn ngân sách Trung ương), đào tạonghề nông nghiệp mới chỉ tập trung vào mục đích an sinh xã hội ở nông thôn

Sở Nông nghiệp và PTNT phối hợp với UBND các cấp tích cực tuyêntruyền, triển khai công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, phổ biến cácchính sách của Đảng và Nhà nước có liên quan đến người dân nhằm khuyếnkhích, huy động và tạo điều kiện để toàn dân tham gia công tác đào tạo nghề;

UBND cấp huyện giao UBND cấp xã có trách nhiệmtư vấn cho nôngdân lựa chọn nghề đào tạo phù hợp với đặc điểm và tình hình phát triển kinh

tế - xã hội của địa phương; Chỉ đạo các bộ phận, cán bộ chuyên môn, các hội,đoàn thể phối hợp với cơ sở dạy nghề tập trung tuyên truyền, vận động,hướng dẫn, tư vấn nghề cho người lao động biết để đăng ký học nghề, phốihợp cùng các cơ sở dạy nghề tiến hành tuyển sinh

Hiện nay, trên cơ sở chương trình khung của Bộ NN&PTNT, các cơ sởđào tạo xây dựng giáo trình, chương trình đào tạo phù hợp với điều kiện thực

tế với thời gian đào tạo nghề dưới 3 tháng Tuy nhiên, thời gian đào tạo lýthuyết dài, một số nội dung chương trình đào tạo nghề không còn phù hợp vớithực tiễn, cần được thường xuyên cập nhật, đổi mới, giúp cho người học nắmbắt được nhu cầu và xu hướng phát triển của xã hội, của ngành nghề và củađịa phương; để người lao động nông thôn không chỉ được trang bị kiến thức

về nghề nghiệp mà còn được trang bị kiến thức về thị trường, tiến bộ khoahọc kỹ thuật, vệ sinh an toàn thực phẩm, hội nhập quốc tế

Đội ngũ giáo viên tham gia giảng dạy tại các lớp đào tạo đáp ứng đủyêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ, trình độ sư phạm, nhiệt tình và tâm huyếtvới lớp học Cơ sở vật chất cơ bản đáp ứng yêu cầu học tập

Trang 40

1.4.3.3 Những tồn tại và giải pháp

- Những khó khăn tồn tại:

Về công tác tuyên truyền: Công tác tuyên truyền đào tạo nghề nôngnghiệp cho lao động nông thôn chưa thực sự tốt Các địa phương chưa thực sựchú trọng, quan tâm đến việc tuyên truyền cho người dân được biết chủtrương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tầm quan trọng của việc học nghềnông nghiệp nên người dân còn thụ động, lúng túng trong việc lựa chọn nghề,chưa tích cực tham gia học nghề

Về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất: Chương trình, nội dung đào tạocòn chưa sát với thực tế, còn nặng về lý thuyết; cơ sở vật chất, thiết bị kỹthuật còn nghèo nàn, thiếu đồng bộ

Về định mức kinh phíđào tạo: Còn thấp (đối với 1 số nghề cần mua cây,con giống, nguyên vật liệu phục vụ thực hành với mức kinh phí quy định chưađápứng yêu cầu) ảnh hưởng tới chất lượngđào tạo; mức thù lao giảng viênthấp; mức chi phí hỗ trợ cho người học (hỗ trợ tiềnăn, tiềnđi lại) chưa đảmbảođể thu hút người lao động tham gia học nghề Kinh phí dành cho đào tạonghề nông nghiệp hàng năm còn ít, chưa đáp ứng đủ nhu cầu học nghề củangười dân

Việc dạy nghề nông nghiệp hiện nay chưa gắn với các doanh nghiệphay hợp tác xãđể bao tiêu sản phẩm Phương án giải quyết việc làm cho ngườilao động sau đào tạo, tìm đầu ra cho sản phẩm nông sản còn nhiều khó khăn

Về người lao động tham gia học nghề: Ý thức học tập của một số họcviên chưa cao, học viên có thể nghỉ học vì những lý do như phiên chợ, hiếuhỷ…nên tỷ lệ chuyên cần chưa đảm bảo; còn diễn ra tình trạng học thay, học

hộ (những thành viên trong cùng một gia đình); tâm lý ỷ lại là những nguyênnhân dẫn tới hiệu quả đào tạo nghề chưa cao

33

Ngày đăng: 18/11/2019, 07:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w