Mục tiêu chính của luận văn là: Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường Quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Bắc Á Những đóng góp của luận văn: Phân tích được thực trạng công tác quản trị rủi ro thanh khoản của Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á giai đoạn 20152017, ảnh hưởng của nó đến trạng thái thanh khoản hiện tại của Ngân hàng. Đồng thời Đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung của luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực xuất phát từ tĩnh hình thực tiễn hiện nay và nguồn gốc rõ ràng
Học viên
Trịnh Ngọc Dũng
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ iii
MỞ ĐẦU iii
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước 4
1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước 5
1.1.3 Khoảng trống nghiên cứu 6
1.2 Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động của Ngân hàng thương mại 7
1.2.1 Thanh khoản và rủi ro thanh khoản của Ngân hàng thương mại 7
1.2.2 Quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thương mại 21
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
2.1 Thiết kế nghiên cứu 40
2.2 Các phương pháp nghiên cứu 41
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tổng quan tài liệu 41
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 42
2.2.3 Phương pháp tổng hợp- hệ thống hóa số liệu 42
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 43
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẮC Á 44
Trang 53.1 Khái quát về NH TMCP Bắc Á 44
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 44
3.1.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức 45
3.1.3 Kết quả kinh doanh gần đây 48
3.2 Hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản của NH TMCP Bắc Á 49
3.2.1 Cơ sở Pháp lý của hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản của NH TMCP Bắc Á 49
3.2.2 Bộ máy tổ chức quản trị rủi ro thanh khoản của NH TMCP Bắc Á 53
3.2.3 Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của NH TMCP Bắc Á 55
3.2.4 Thực trạng tổ chức hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản của NH TMCP Bắc Á 58
3.2.5 Đánh giá hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại NH TMCP Bắc Á 83 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 90
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẮC Á 91
4.1 Định hướng và mục tiêu tăng cường quản trị rủi ro thanh khoản của NH TMCP Bắc Á trong thời gian tới 91
4.1.1 Các mục tiêu chủ yếu 91
4.1.2 Định hướng tăng cường quản trị rủi ro thanh khoản của NH TMCP Bắc Á 92
4.2 Giải pháp tăng cường hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại NH TMCP Bắc Á 93
4.2.1 Xác định mục tiêu, chiến lược quản trị thanh khoản phù hợp 93
4.2.2 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị rủi ro thanh khoản 94
4.2.3 Xây dựng và hoàn thiện chính sách quản trị rủi ro thanh khoản 95
Trang 64.2.4 Hoàn thiện công tác thông tin, báo cáo 95
4.2.5 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý thanh khoản 95
4.2.6 Tăng cường công tác chăm sóc khách hàng 96
4.3 Kiến nghị nhằm tăng cường hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại NH TMCP Bắc Á 96
4.3.1 Kiến nghị đối với Chính phủ 96
4.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 97
KÊT LUẬN CHƯƠNG 4 104
KẾT LUẬN 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 ALCO Asset-Liability Committee (Ủy ban Quản lý tài sản nợ-có)
2 AML Anti-money Laundering
3 BCTC Báo cáo tài chính
4 CAR Capital Adequacy Ratio (Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu)
5 HĐQT Hội đồng quản trị
6 LDR Loan deposit ratio
7 LNST Lợi nhuận sau thuế
8 MCO Maximum Cumulative Outflow (Dòng tiền cộng dồn tối đa)
10 NHNN Ngân hàng Nhà nước
11 NHTM Ngân hàng thương mại
12 NHTW Ngân hàng Trung ương
13 NLP Net liquidity position (Trạng thái thanh khoản ròng)
14 NPL Non-performing loan (Nợ xấu)
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 1.1 Thang đáo hạn dựa trên kỳ hạn hợp đồng 21
2 Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản BacABank năm 2017 49
3 Bảng 3.2 Chỉ số lạm phát Việt Nam giai đoạn 2010-2017 56
4 Bảng 3.3 Tốc độ tăng trưởng tín dụng và huy động vốn BacABank
5 Bảng 3.4 Tỷ trọng đầu tư vào giấy tờ có giá BacABank 2015-2017 57
6 Bảng 3.5 Báo cáo GAP tóm tắt BacABank 2017 63
7 Bảng 3.6 Hạn mức từng kỳ hạn quy định cho dòng tiền ra tối đa
10 Bảng 3.9 Tỷ lệ khả năng chi trả trong 30 ngày 68
11 Bảng 3.10 Tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn 69
13 Bảng 3.12 Chỉ số trạng thái tiền mặt 71
14 Bảng 3.13 Chỉ số giới hạn huy động vốn 73
15 Bảng 3.14 Chỉ số chứng khoán thanh khoản 74
16 Bảng 3.15 Chỉ số vị thế ròng của BacABank trên thị trường 2 75
17 Bảng 3.16 Các loại báo cáo thanh khoản của BacABank 79
18 Bảng 3.17 Hệ thống thông tin quản lý thanh khoản 80
Trang 9DANH MỤC ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ
1 Hình 3.1 Mô hình cơ cấu tổ chức của BacABank 46
2 Hình 3.2 Hệ số an toàn vốn CAR BacABank 2014-2017 67
3 Hình 3.3 Tỷ lệ dự trữ thanh khoản BacABank 2015-2017 68
4 Hình 3.4 Tỷ lệ khả năng chi trả BacABank 2015-2017 69
5 Hình 3.5 Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn BacABank
7 Hình 3.7 Chỉ số trạng thái tiền mặt BacABank 2015-2017 72
8 Hình 3.8 Chỉ số giới hạn huy động vốn BacABank 2015-2017 74
9 Hình 3.9 Chỉ số chứng khoán thanh khoản BacABank 2015-2017 75
10 Hình 3.10 Chỉ số vị thế ròng của BacABank trên thị trường 2 2015-2017 76
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định và phát triển nền kinh tế Trong những năm qua, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
đã có những đổi mới sâu sắc đóng góp vào việc ổn định tiền tệ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở rộng quan hệ kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới Những lợi ích mà hệ thống ngân hàng mang lại cho nền kinh tế nói chung và mức lợi nhuận mang lại cho chủ sở hữu nói riêng là vô cùng lớn Tuy nhiên, các hoạt động của ngân hàng đồng thời cũng là một trong những hoạt động mang lại nhiều rủi ro nhất Trong số đó, rủi ro thanh khoản là một trong những rủi ro đặc thù của hoạt động kinh doanh ngân hàng, bên cạnh những loại rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thị trường, rủi
ro hoạt động Xuất phát từ tính liên kết hệ thống một cách chặt chẽ, một ngân hàng gặp rủi ro thanh khoản sẽ ảnh hưởng tới hoạt động bình thường của các ngân hàng khác, và rộng hơn là đe dọa đến sự an toàn trong hoạt động của toàn bộ hệ thống ngân hàng
Trong thời gian vừa qua, trước những tác động tiêu cực của sự bất ổn định nền kinh tế vĩ mô và các chính sách của Nhà nước, thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng, cá biệt có một số ngân hàng rơi vào tình trạng thiếu thanh khoản Điều này không chỉ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của bản thân ngân hàng mà còn tác động đến thị trường tiền tệ và toàn bộ nền kinh tế nói chung Đứng trước những vấn đề đó, các ngân hàng đã nhận thức được tầm quan trọng cũng như dành sự quan tâm đặc biệt, áp dụng các biện pháp khác nhau để quản trị rủi ro thanh khoản
Đối với Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) Bắc Á thì quản trị rủi ro thanh khoản càng quan trọng và cần thiết bởi BacABank là một NHTM nhỏ và có ít thế mạnh trên thị trường tiền tệ, cũng như có ít kinh nghiệm trong quản trị rủi ro nói chung và quản trị RRTK nói riêng
Xuất phát từ thực tế nêu trên, việc tìm hiểu cách tiếp cận hiện đại trong quản trị rủi ro thanh khoản, ứng dụng nó để phân tích hoạt động quản trị rủi ro thanh
Trang 11khoản trong hệ thống NHTM Việt Nam nói chung và Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á nói riêng là rất cần thiết, nhằm tìm ra các giải pháp tăng cường và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản của BacABank trong giai đoạn hiện nay
Đề tài “Quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á”
được lựa chọn để đáp ứng nhu cầu trên
2 Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn sẽ tập trung làm rõ các vấn đề sau:
Câu hỏi 1: Thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân Hàng TMCP Bắc Á như thế nào?
Câu hỏi 2: Những hạn chế trong việc quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Bắc Á?
Câu hỏi 3: Những giải pháp nào để có thể tăng cường hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Bắc Á?
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, làm rõ thực trạng rủi ro thanh khoản, công tác quản trị rủi ro thanh khoản tại NH TMCP Bắc Á, luận văn đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường quản trị rủi ro thanh khoản tại NH này trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết cơ bản về rủi ro thanh khoản và hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản của Ngân hàng thương mại
- Phân tích thực trạng công tác quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Bắc Á, ảnh hưởng của nó đến trạng thái thanh khoản hiện tại của ngân hàng
- Đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Bắc Á
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu rủi ro thanh khoản và công tác quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thương mại
Trang 124.2 Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tập trung phân tích công tác quản trị rủi ro thanh khoản tại một NHTM cụ thể (Ngân hàng TMCP Bắc Á), những mặt đạt được và những vấn đề còn hạn chế, đặt trong mối tương quan so sánh với các NHTM khác tại Việt Nam
- Các số liệu, thông tin chỉ tập trung nghiên cứu cho giai đoạn 2015 - 2017
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp nghiên cứu tổng quan tài liệu để xây dựng cơ sở lý thuyết về thanh khoản, rủi ro thanh khoản và quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động kinh doanh của các NHTM hiện nay
- Phương pháp phân tích số liệu để thấy được rủi ro thanh khoản tại BacABank Phương pháp tiếp cận lịch sử - logic; Phương pháp phân tích – tổng hợp – hệ thống hóa để đánh giá thực trạng khả năng phòng ngừa rủi ro thanh khoản tại BacAbank
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, luận văn được trình bày trong 4 chương
Cụ thể như sau :
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận chung về quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động của Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thiết kế và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á
Chương 4: Giải pháp tăng cường hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN
TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới đã có một số tác giả nghiên cứu về vấn đề quản lý rủi ro thanh khoản, có thể kể đến một số tác giả sau:
- Guglielmo Michael R (2007) trong bài nghiên cứu “Managing Liquidity Risk” đã đề cập 06 bước để tăng cường thanh khoản và quản trị RRTK mà Ủy ban ALCO cũng như các nhà quản lý phải quan tâm bao gồm: xác định mức thanh khoản mà NH đang có; dự đoán mức thanh khoản mà NH cần; thiết lập một hệ thống cảnh báo sớm; thử kiểm tra sức chịu đựng nhu cầu và tính sẵn có của vốn; vạch ra các phản ứng của nhà quản lý; lên kế hoạch cho cả quá trình và kiểm tra nguồn thanh khoản định kỳ Trong đó Guglielmo đặc biệt nhấn mạnh đến việc các nhà quản lý phải xác định được mức thanh khoản mà NH đang nắm giữ là bao nhiêu, trên cơ sở đó mới có thể định hướng cho việc quản trị RRTK cho NH mình
- Gianfranco A Vento (2009) với nghiên cứu về “Bank Liquidity Risk Management and Supervision: Which Lessons from recent Market Turmoil?” đã phân tích các kỹ thuật đo lường RRTK và phương pháp giám sát thanh khoản Theo
đó tác giả đưa ra khung định lượng để đo lường RRTK gồm các phương pháp tiếp cận chứng khoán, phương pháp tiếp cận dựa trên dòng tiền và phương pháp hỗn hợp Trong phần giám sát thanh khoản, tác giả chỉ ra một vài phương pháp tiếp cận giám sát thanh khoản của một số nước Châu Âu như Anh, Đức, Pháp và Italia để minh chứng cho nghiên cứu của mình
- Rudofl Duttweiler (2009) với công trình nghiên cứu “Quản lý thanh khoản trong ngân hàng” đã mở rộng phạm vi xem xét đến quá trình thiết lập các yếu tố thuộc về cấu trúc cho một khuôn khổ giám sát đối với công tác quản lý thanh khoản nhằm đánh giá tính hợp lý của những khái niệm và quy trình được giới thiệu khi chúng vượt qua các quy định về giám sát và pháp lý
Trang 14- Meile Jasiene, Jonas Martinavicius, Filomena Jaseviciene, Grazina Krivkiene (2012) với nội dung nghiên cứu về “Bank liquidity risk: Analysis and estimates” đã phân tích RRTK của NHTM cũng như khả năng quản lý RRTK và xây dựng một mô hình quản lý RRTK cho các NHTM Dựa trên số liệu của NH Lithuanian các tác giả
đã gợi ý mô hình quản lý RRTK thành 2 phần: kế hoạch thanh khoản theo ngắn hạn
và dài hạn Theo đó tác giả đã chỉ ra trong khi quản lý thanh khoản ngắn hạn chỉ tập trung vào việc phân tích chỉ số thanh khoản thì quản lý RRTK trong dài hạn lại dựa vào việc dự báo và đáp ứng nhu cầu thanh khoản; và phân tích khe hở thanh khoản
1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước
- “Giải pháp quản lý rủi ro lãi suất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam” Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Đỗ Thị Kim Hảo ( 2005) Luận án đã nghiên cứu khá toàn diện những lí luận cơ bản về rủi ro lãi suất cũng như công tác quản trị rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM, từ việc
sử dụng mô hình để lượng hóa rủi ro lãi suất đến các biện pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro lãi suất
Luận án đã làm rõ thực trạng rủi ro lãi suất và thực tế công tác quản lý rủi ro lãi suất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thông Việt nam, trên cơ sở
đó đánh giá thực trạng rủi ro lãi suất tại NH này bằng việc sử dụng mô hình định giá lại để lượng hóa rủi ro dựa trên những giả định phù hợp với thực tế Tác giả cũng sử dụng phương pháp phân tích định lượng để khắc phục một số hạn chế về mô hình nhằm tăng mức độ chính xác của việc xác định mức độ thiệt hại của NH do rủi ro lãi suất gây ra
- “Tăng cường năng lực quản trị rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành của Tiến sĩ Tô Ngọc Hưng (2007)
Trong nghiên cứu này tác giả chỉ đi vào tìm hiểu một số chỉ số thanh khoản của NH để đánh giá xem liệu NH có chống đỡ được khi RRTK xảy ra hay không, trên cơ sở đó tác giả đưa ra những giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường năng lực quản lý RRTK tại NHTM Việt Nam, đảm bảo tính khoa học, khả thi và phù hợp của công tác quản lý rủi ro, góp phần nâng cao hiệu quả và đảm bảo an toàn hoạt động kinh doanh của NHTM
Trang 15- “Quản lý rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Việt Nam” Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Tạ Ngọc Sơn ( 2011)
Luận án đã hệ thống hóa các vấn đề lí luận về rủi ro lãi suất và quản lý rủi ro lãi suất tại NHTM, đồng thời phân tích kinh nghiệm quản lý rủi ro lãi suất tại hai
NH nước ngoài tại Việt Nam là HSBC và Calyon- chi nhánh TP HCM Luận án đã chỉ ra rằng để quản lý rủi ro lãi suất tốt, ngoài việc hiểu thấu đáo các nội dung quản
lý rủi ro lãi suất, các NHTM Việt Nam còn cần sự hỗ trợ của các phần mềm quản lý rủi ro lãi suất của mình
- “Quản trị rủi ro thị trường tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam” Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Hoàng Xuân Phong (2014)
Luận án đã đưa ra được cách thức để xây dựng một hệ thống chuẩn hóa về quản trị rủi ro thị trường tại NHTM từ mô hình, chính sách đến quy trình quản trị rủi ro thị trường Từ đó tác giả đã chỉ ra những thành công cơ bản cũng như các tồn tại yếu kém của công tác quản trị rủi ro thị trường của NH, làm cơ sở đề xuất giải pháp đổi mới, hoàn thiện công tác quản trị rủi ro thị trường cho NH TMCP Công thương Việt Nam
- “Giải pháp nâng cao chất lượng quản trị tài sản Nợ, tài sản Có tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam” Luận án Tiến sĩ kinh tế của tác giả Trịnh Hồng Hạnh (2015)
Luận án đã hệ thống hóa, làm sang tỏ lý luận về quản trị TSN-TSC của NHTM từ việc khái quát lại những đặc trưng của TSN, TSC từ đó xác định rõ những mục tiêu, phạm vi, nội dung của quản trị TSN-TSC Trên cơ sở đó, luận án đưa ra quan điểm về chất lượng quản trị TSN-TSC của NHTM và xây dựng hệ thống các chỉ tiêu đánh giá chất lượng quản trị TSN-TSC của NHTM cũng như chỉ
ra các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng quản trị TSN-TSC
1.1.3 Khoảng trống nghiên cứu
Mặc dù đã có những đóng góp có giá trị khoa học lớn nhưng nhìn chung, hầu hết những công trình nghiên cứu nói trên đều chưa tiếp cận được một cách toàn diện
về quản lý RRTK tại NHTM, bao gồm việc kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để làm
Trang 16rõ mục tiêu và những nội dung cơ bản của quản lý RRTK, làm rõ thực trạng thanh khoản và quản lý rủi ro thanh khoản tại một NHTM cụ thể từ đó đề xuất các giải pháp đồng bộ, phù hợp với thực trạng của bản thân NH Những “khoảng trống” trên đây đã mở ra cho tác giả những hướng nghiên cứu với mong muốn đây là luận văn nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về các nội dung của RRTK và quản lý RRTK tại NH, là cơ sở lý luận để đánh giá thực trạng RRTK và quản lý RRTK tại BacAbank, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động quản trị RRTK tại NH này
1.2 Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Thanh khoản và rủi ro thanh khoản của Ngân hàng thương mại
1.2.1.1.Khái niệm tính thanh khoản của Ngân hàng thương mại
Trong tài chính, thuật ngữ “ thanh khoản” được sử dung trong nhiều pham vi
khác nhau
Dưới góc độ tài sản: thanh khoản được hiểu là khả năng chuyển hóa thành
tiền của tài sản Theo Giáo sư Peter Rose (Quản trị ngân hàng thương mại, 2008), một tài sản có tính thanh khoản cao khi nó thỏa mãn đồng thời ba đặc điểm: có một thị trường sẵn sàng để có thể được chuyển thành tiền nhanh chóng; giá của tài sản phải ổn định, dù tài sản giá trị lớn thế nào hay cần được bán nhanh ra sao, thị trường vẫn đủ “sâu” để chấp nhận với mức giá thay đổi không đáng kể; thị trường của tài sản phải có khả năng đảo chiều để cho người bán có thể mua lại tài sản với mức tổn thất không đáng kể
Như vậy, tính thanh khoản của tài sản được đo lường thông qua thời gian và chi phí để chuyển hóa tài sản thành tiền Một tài sản có tính thanh khoản cao nếu thời gian để chuyển hóa thành tiền ngắn, chi phí về chuyển nhượng thấp bao gồm các chi phí về giao dịch, chênh lệch giữa giá bán tài sản ngay tức thì và giá trị thị trường của tài sản
Dưới góc độ doanh nghiệp nói chung, thanh khoản là lượng tiền và tương
đương tiền mà doanh nghiệp sở hữu Nhưng thuật ngữ này khi được sử dụng dưới
Trang 17góc độ quản trị NH lại được hiểu là khả năng ngân hàng đáp ứng kịp thời và đầy đủ
các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các giao dịch tài chính khác
Theo bộ quy tắc về “Nguyên tắc quản lý và giám sát rủi ro thanh khoản” của
Basel ban hành tháng 9/2008 thì “Thanh khoản là khả năng của ngân hàng vừa có
thể tăng thêm tài sản vừa đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị những thiệt hại quá mức cho phép”
Như vậy, có thể hiểu rằng tính thanh khoản của ngân hàng là trạng thái luôn
có trong tay một lượng vốn khả dụng với chi phí thấp đúng tại thời điểm ngân hàng có nhu cầu hoặc khả năng nhanh chóng huy động được vốn thông qua con đường vay nợ hay bán tài sản Tính thanh khoản của ngân hàng phải được xem xét
ở từng thời điểm cụ thể và ở những thời điểm khác nhau thì tính thanh khoản của ngân hàng có thể là khác nhau
1.2.1.2.Cung, cầu thanh khoản và trạng thái thanh khoản ròng
Theo Peter Rose (Quản trị ngân hàng thương mại, 2008) và Trần Huy Hoàng (Quản trị ngân hàng thương mại, 2011) yêu cầu thanh khoản của một ngân hàng có thể được xem xét qua mô hình cung cấp về thanh khoản Trong đó:
Cung thanh khoản: là các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của
ngân hàng, là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng
Cầu thanh khoản: là nhu cầu vốn cho các mục đích hoạt động của
ngân hàng, các khoản vay làm giảm quỹ của ngân hàng Những hoạt động tạo ra cầu
về thanh khoản trong lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng
Những nghiệp vụ của cung cầu thanh khoản:
-Các khoản tiền gửi đang đến
-Doanh thu từ việc bán các khoản dịch
vụ
-Thu hồi tín dụng đã cấp
-Bán các tài sản đang kinh doanh và sử
dụng
-Vay mượn từ thị trường tiền tệ
- Khách hàng rút các khoản tiền gửi
- Yêu cầu cấp các khoản tín dụng có chất lượng cao
- Hoàn trả các khoản vay mượn phi tiền gửi
- Chi phí phát sinh khi kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ
- Thanh toán cổ tức cho các cổ đông
Trang 18 Trạng thái thanh khoản ròng:
Ở bất cứ thời điểm nào, các nguồn cung và nhu cầu thanh khoản đến cùng lúc và tạo thành trạng thái thanh khoản ròng và có thể được tính như sau:
NLPt = Tổng cung thanh khoản – Tổng cầu thanh khoản
Như vậy trạng thái thanh khoản ròng là chệnh lệch giữa tổng cung và tổng cầu thanh khoản tại một thời điểm
Ở đây xảy ra một trong ba trường hợp:
NLPt > 0: điều này có nghĩa là ngân hàng ở trong tình trạng thặng dư thanh khoản (liquidity surplus) Trạng thái này mang lại những thiệt hại cho NH do NH đang dư thừa tiền dự trữ không sinh lời Do vậy các NH cần phải đưa ra các quyết định để sử dụng hiệu quả các khoản dư thừa vốn khả dụng đó
NLPt < 0: điều này có nghĩa là ngân hàng ở trong tình trạng thâm hụt thanh khoản (liquidity deficit), tức NH đang thiếu hụt tiền để chi trả Để tiếp tục tồn tại,
NH phải xác định bổ sung thanh khoản ngay từ nguồn nào và với chi phí bao nhiêu nhằm giúp NH trở lại trạng thái cân bằng thanh khoản
NPLt=0: NH có được trạng thái thanh khoản cân bằng, đây là trạng thái hoàn hảo nhưng rất khó đạt được trong thực tế hoạt động của NH
1.2.1.3.Rủi ro thanh khoản
a Khái niệm rủi ro thanh khoản
Từ trạng thái thâm hụt thanh khoản của NH, có thể hiểu RRTK xảy ra khi NH rơi vào tình trạng thiếu hoặc không đáp ứng các nghĩa vụ tài chính thường xuyên Như vậy RRTK là loại rủi ro khi NH không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền cho nhu cầu thanh khoản tức thời ; hoặc cung cấp đủ nhưng với chi phí cao
Theo định nghĩa của Ủy ban Basel (2008), “Rủi ro thanh khoản là rủi ro mà
một định chế tài chính không đủ khả năng tìm kiếm đầy đủ nguồn vốn để đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà không làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh hàng ngày và cũng không gây tác động đến tình hình tài chính”
Theo Rudolf Duttweiler (Quản lý thanh khoản trong ngân hàng, 2009),
“Thanh khoản đại diện cho khả năng thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi
Trang 19đến hạn – đến mức tối đa và bằng đơn vị tiền tệ được quy định Do thực hiện bằng tiền mặt, thanh khoản chỉ liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ Việc không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán sẽ dẫn đến tình trạng thiếu khả năng thanh khoản”
Như vậy, rủi ro thanh khoản là loại rủi ro phát sinh khi ngân hàng không
đủ khả năng đáp ứng dòng tiền rút ra khỏi ngân hàng tại một thời điểm nào đó, hoặc phải huy động vốn với chi phí cao để đáp ứng các nhu cầu về vốn khả dụng
Một TCTD gặp rủi ro thanh khoản khi nó bị lâm vào tình trạng thiếu vốn khả dụng, không có khả năng vay mượn để đáp ứng kịp tShời yêu cầu rút tiền gửi, yêu cầu vay vốn, và các yêu cầu về tiền mặt khác Trong hoàn cảnh này, các TCTD hoặc buộc phải vay “nóng” với chi phí quá cao, hoặc phải bán các tài sản với giá thấp hơn để chi trả cho những yêu cầu tiền mặt cấp bách của nó và do đó làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận
b Biểu hiện của rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản xuất hiện khi:
- NH thiếu ngân quỹ để đáp ứng nhu cầu chi trả tiền cho người gửi tiền và thanh toán các khoản nợ ngắn hạn mà NH đã vay
- NH thiếu ngân quỹ để giải ngân cho các hợp đồng tín dụng đã thỏa thuận
- NH thiếu ngân quỹ để đáp ứng nhu cầu của các bên đối tác của NH dẫn đến tổn thất cho NH
Một số dấu hiệu cho thấy NH đang đối mặt với rủi ro thanh khoản:
- Lãi suất huy động vốn của các NH đã có những diễn biến bất thường: Lãi suất huy động vốn các kỳ hạn ngắn lại cao hơn lãi suất huy động các kỳ hạn dài, các
NH chỉ tập trung huy động vốn ngắn hạn Điều này phản ánh việc hệ thống NH đang thiếu hụt thanh khoản, mục đích huy động vốn của các NH lúc này chủ yếu là nhằm đảm bảo khả năng thanh khoản chứ không phải vì mục tiêu sinh lời
- Lãi suất vay trên thị trường liên ngân hàng tăng lên nhanh chóng: Nguyên nhân chính của hiện tượng này là do các NH đều đang có vấn đề về thanh khoản, trong điều kiện tình hình huy động vốn từ dân cư và doanh nghiệp không thuận lợi
Trang 20buộc các NH phải chấp nhận đi vay với lãi suất cao trên thị trường liên ngân hàng
để giải quyết nhu cầu thanh khoản trước mắt của các NH
- Thiếu khả năng đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng: Cho vay là một trong những hoạt động quan trọng nhất của NHTM vì hoạt động này tạo ra nhiều lợi nhuận nhất và kéo theo các nghiệp vụ khác phát triển Do đó, khi NH không đáp ứng đầy đủ và kịp thời các cam kết tín dụng thì chứng tỏ NH đang thiếu nguồn cung thanh khoản
- Sự biến động giá cổ phiếu của NH: Khi giá cổ phiếu của NH có xu hướng giảm, chứng tỏ tính hấp dẫn của chúng đối với nhà đầu tư đã giảm đi, dù ảnh hưởng lớn đến tâm lý của người gửi tiền Người dân có xu hướng rút tiền khỏi NH để gửi tiền sang NH khác hoặc đầu từ vào những kênh có lợi nhuận cao hơn Trong khi đó các khoản vay đến hạn thanh toán không được thanh toán dẫn đến cầu thanh khoản lớn hơn cung thanh khoản khiến cho NH rơi vào tình trạng rủi ro thanh khoản Ngược lại, giá cổ phiếu tăng hoặc ổn định sẽ củng cố lòng tin của công chúng vào khả năng thanh khoản của NH
- Tình trạng khách hàng rút tiền hàng loạt, dẫn đến hiệu ứng lan tỏa dây chuyền làm cho các NH phải tập trung nguồn vốn để phục vụ cho nhu cầu rút tiền của khách hàng
- Lỗ từ việc bán tài sản: Khi NH bán tài sản một cách vội vã và sẵn sàng chịu
lỗ lớn chứng tỏ NH đang gặp phải một vấn đề nào đó trong vấn đề thanh khoản Bán tài sản có nghĩa là NH sẽ phải chấp nhận mất đi những khoản thu nhập tạo ra từ tài sản trong tương lai cũng như các chi phí giao dịch trả cho người môi giới liên quan đến việc bán tài sản
c Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản
Nguyên nhân gây nên rủi ro thanh khoản có nhiều và nó đến từ mọi phía trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng: Từ chủ quan đến khách quan, từ bản thân ngân hàng, từ khách hàng, cơ chế chính sách và từ các loại rủi ro khác đưa lại… Tuy nhiên trên góc độ nghiên cứu để tìm ra giải phảp hiệu quả đối với quản trị rủi ro thanh khoản, luận văn đưa ra những loại nguyên nhân chủ yếu như sau:
Trang 21 Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, sự mất ổn định yếu tố vĩ mô của nền kinh tế: hoạt động kinh doanh
của NHTM luôn gắn liền với những biến động của môi trường kinh doanh Các yếu
tố về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội luôn có tác động trực tiếp và gián tiếp tới các quyết định và phương hướng kinh doanh của Ngân hàng thương mại Khi sự bất ổn của nền kinh tế xảy ra có thể tạo ra khủng hoảng và gây ra rủi ro thanh khoản cho
hệ thống các Ngân hàng thương mại
Thứ hai, thay đổi trong điều hành chính sách tiền tệ của NHTW thông qua
các công cụ như quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất suất chiết khấu và tái chiết khấu các giấy tờ có giá
- Nghiệp vụ thị trường mở (OMO) là hoạt động của NHTW mua hoặc bán cho NHTM trái phiếu chính phủ, trái phiếu kho bạc Nhà nước Khi muốn tăng cung tiền, NHTW mua trái phiếu từ các NHTM, số tiền mà NHTW trả cho NHTM làm tăng cung tiền cho nền kinh tế đồng thời cũng làm tăng cung thanh khoản cho NHTM Ngược lại, khi muốn giảm cung tiền, NHTW bán trái phiếu cho các NHTM, số tiền
mà NHTW thu về làm giảm cung ứng tiền tệ của nền kinh tế đồng thời cũng làm giảm cung thanh khoản của NHTM
- Quy định về tỷ lệ Dự trữ bắt buộc là biện pháp điều chỉnh mà NHTW bắt buộc các NHTM phải duy trì một tỷ lệ dự trữ tiền gửi tối thiểu tại NHTW Nếu tỷ lệ
dự trữ bắt buộc cao thì sẽ làm cho nguồn cung thanh khoản của NHTM giảm và ngược lại
- Lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu là lãi suất NHTW sử dụng trong chiết khấu hoặc tái chiết khấu các giấy tờ có giá của NHTM Nếu lãi suất này thấp, tức chi phí vay tiền từ NHTW rẻ, đây sẽ là nguồn vốn giá rẻ mà các NHTM có thể dễ dàng huy động để đáp ứng cầu thanh khoản
Thứ ba, thay đổi trong việc lựa chọn kênh đầu tư của các nhà đầu tư: việc lựa
chọn hay thay đổi kênh đầu tư không chỉ phụ thuộc vào bối cảnh kinh tế mà còn phụ thuộc vào nguồn vốn, con người hay cơ sở của công cụ đầu tư thay thế Ví dụ như khách hàng chuyển tiền gửi tiết kiệm bằng đồng nội tệ, ngoại tệ sang tích trữ
Trang 22vàng hoặc đầu tư vào chứng khoán để tìm kiếm lợi nhuận cao hơn.Việc thay đổi kênh đầu tư của các nhà đầu tư bên ngoài sẽ dẫn đến rủi ro thanh khoản cho ngân hàng, khi các nhà đầu tư không gửi tiền vào ngân hàng mà sử dụng kênh đầu tư khác
Thứ tư, do chu kỳ kinh doanh của khách hàng: Theo thời vụ ở những tháng
cuối năm các doanh nghiệp thường đẩy mạnh hoạt động kinh doanh, quyết toán công nợ cho những doanh nghiệp khác, chi trả lương thưởng cho cán bộ nhân viên, thực hiện cam kết giải ngân cho các đối tác, giải quyết hàng tồn kho, nhập khẩu hàng hóa tạo nên nhu cầu tiền nhiều vào những tháng cuối năm làm tăng cầu về thanh khoản cho NHTM Bên cạnh đó, sự thay đổi trong tâm lý khách hàng cũng là một nguyên nhân gây rủi ro thanh khoản do sự bất ổn tâm lý sẽ nhanh chóng nhân rộng trong dân cư, khi đó nếu ngân hàng không có những biện pháp xử lý kịp thời
có thể gây ra những hậu quả khó lường
Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, sự mất cân đối về kỳ hạn giữa tài sản nợ và tài sản có: do ngân
hàng huy động các khoản tiền gửi ngắn hạn để cho vay các khoản tín dụng dài hạn Như vậy, kỳ hạn của tài sản có dài hơn tài sản nợ làm cho dòng tiền của tài sản có không cân xứng với dòng tiền cần để đáp ứng việc thanh toán khi đến hạn của tài sản nợ, gây khó khăn cho ngân hàng trong việc tìm nguồn bù đắp
Thứ hai, chiến lược quản trị rủi ro thanh khoản không phù hợp và kém hiệu
quả: Chiến lược quản trị rủi ro thanh khoản là yếu tố hết sức quan trọng, với chiến lược phù hợp và hiệu quả giúp ngân hàng giảm thiểu được các rủi ro xảy ra mà vẫn đảm bảo khả năng sinh lời cần thiết Nhưng nếu chiến lược không phù hợp và kém hiệu quả sẽ không dự báo được các rủi ro về thanh khoản, do đó ngân hàng sẽ không đưa ra được các biện pháp phòng ngừa và xử lý kịp thời khi phát sinh
Thứ ba, do năng lực quản trị yếu kém: ngân hàng không quản trị chặt chẽ
thanh khoản dẫn đến thiếu khả năng chi trả, ngân hàng cho vay hay đầu tư quá liều lĩnh cụ thể ngân hàng tập trung cấp tín dụng vào một số khách hàng lớn, cho vay tập trung ở một số ngành hoặc trong tổng nguồn huy động có một khách hàng chiếm tỷ trọng nên khi khách hàng lớn gặp khó khăn không trả nợ vay hay khách hàng cần rút vốn một cách bất ngờ sẽ dẫn đến rủi ro thanh khoản cho ngân hàng
Trang 23d Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản đến hoạt động kinh doanh của NHTM
Tác động của rủi ro thanh khoản đến hệ thống ngân hàng
Rủi ro thanh khoản xảy ra sẽ bắt buộc các ngân hàng phải cắt giảm nguồn cung tín dụng cũng như tăng lãi suất huy động và/hoặc lãi suất vay vốn để đáp ứng nhu cầu nguồn vốn trong giai đoạn khó khăn Điều này sẽ làm sụt giảm mạnh lợi nhuận cũng như uy tín của ngân hàng, sự tín nhiệm của khách hàng và có thể đánh mất thương hiệu của ngân hàng
Nghiêm trọng hơn, một ngân hàng kinh doanh bị lỗ liên tục hoặc thường xuyên không đủ khả năng thanh khoản có thể dẫn đến một cuộc rút tiền quy mô lớn
và con đường phá sản là tất yếu và lúc này đây ngân hàng sẽ sụp đổ hoàn toàn Như
đã đề cập ở các phần trên, tâm lý khách hàng có hiệu ứng dây chuyền và hoạt động của các ngân hàng cũng mang tính hệ thống Việc phá sản của một ngân hàng sẽ dẫn đến sự hoảng loạn của người gửi tiền, kéo theo sự rút tiền hàng loạt ở các ngân hàng khác và lúc này kéo theo sự sụp đổ của toàn hệ thống chứ không chỉ của một ngân hàng riêng lẻ
Tác động của rủi ro thanh khoản đến nền kinh tế
Rủi ro thanh khoản có thể dẫn đến sự sụp đổ của một ngân hàng, kéo theo sự sụp đổ của toàn hệ thống chứ không chỉ của một ngân hàng riêng lẻ Chính vì điều này nên hầu như không một nước nào để cho một ngân hàng sụp đổ mà sẽ có biện pháp hỗ trợ kịp thời, nhanh chóng nhằm tránh đổ vỡ hệ thống tài chính của quốc gia
Khi nguồn vốn của hệ thống ngân hàng khan hiếm, lãi suất cho vay sẽ tăng lên, đẩy chi phí vốn đầu vào của các doanh nghiệp cũng tăng theo và việc tiếp cận nguồn vốn khó khăn Do đó tăng trưởng của nền kinh tế chắc chắn sẽ bị giảm sút
Như vậy có thể nói rằng tác động của rủi ro thanh khoản đến một ngân hàng
là rất lớn và nó không chỉ nằm ở phạm vi cá thể mà có thể ảnh hưởng lan rộng đến toàn hệ thống tài chính cũng như nền kinh tế của một quốc gia Vì vậy hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản hiện nay càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết
1.2.1.4.Đo lường rủi ro thanh khoản của Ngân hàng thương mại
Theo Peter Rose, tác giả cuốn Commercial Banking Management,trong
những năm gần đây, một số phương pháp đo lường RRTK đã được phát triển bao
Trang 24gồm: Phương pháp tiếp cận cấu trúc nguồn vốn; Phương pháp tiếp cận nguồn vốn
và sử dụng vốn; Phương pháp chỉ số thanh khoản và một số phương pháp khác Mỗi phương pháp nêu trên đều được xây dựng dựa trên một số giả định là NH chỉ có thể ước lượng gần đúng mức cầu thanh khoản thực tế tại một thời điểm nhất định Đó chính là lý do vì sao nhà quản lý thanh khoản phải luôn sẵn sàng điều chỉnh mức dự tính về yêu cầu thanh khoản mỗi khi NH nhận được thông tin mới
Phương pháp tiếp cận cấu trúc vốn
Với phương pháp này, bước đầu tiên là tiền gửi và các nguồn vốn khác nhau của ngân hàng được chia thành nhiều nhóm dựa trên khả năng vốn bị rút ra khỏi ngân hàng, ví dụ như:
(i) Nhóm vốn “nóng” là vốn vay và tiền gửi nhạy cảm với lãi suất được
dự tính sẽ bị rút khỏi ngân hàng trong kỳ kế hoạch
(ii) Nhóm vốn kém ổn định gồm các khoản tiền gửi của khách hàng trong
đó một phần đáng kể (25% - 30%) sẽ có thể bị rút ra khỏi ngân hàng tại một thời điểm nào đó trong kỳ kế hoạch
(iii) Nhóm vốn ổn định (hay còn gọi là tiền gửi cơ sở hay vốn cơ sở) là khoản mục vốn được tin tưởng rằng ít có khả năng bị chuyển khỏi ngân hàng
Tiếp theo, nhà quản lý thanh khoản phải dành riêng một phần vốn thanh khoản tùy theo những nguyên tắc quản lý đối với mỗi nhóm vốn nêu trên Dự trữ thanh khoản này có thể bao gồm tiền gửi có thể sử dụng tức thời tại các ngân hàng khác, đầu tư vào trái phiếu kho bạc và các hợp đồng mua lại,…Do vậy, dự trữ thanh khoản đằng sau vốn tiền gửi và phi tiền gửi của ngân hàng được xác định:
Dự trữ thanh khoản vốn = ∑ tỷ lệ dự trữ thanh khoản xác định của nhóm x (nhóm vốn tiền gửi và phi tiền gửi – dự trữ bắt buộc)
Nhu cầu vay tiền của khách hàng là một phần của nhu cầu về vốn thanh khoản Nếu như ngân hàng không được phép từ chối nhu cầu xuất phát từ phía người gửi tiền, thì nhu cầu vay tiền từ khách hàng lại có thể từ chối (đối với những khách hàng có nhu cầu vay mới) Tuy nhiên, công tác quản trị ngân hàng sẽ là yếu nếu ngân hàng luôn phải từ chối khách hàng vay tiền có chất lượng cao vì lý do
Trang 25thanh khoản, bởi nó đồng nghĩa với việc ngân hàng đánh mất cơ hội đầu tư sinh lời cho ngân hàng Điều này gợi ý rằng, nhà quản trị ngân hàng phải cố gắng dự tính con số vốn vay tối đa tiềm năng và cần có lượng dự trữ thanh khoản hay năng lực vay vốn hợp lý, tương đương với 100% phần chênh lệch giữa tổng dư nợ thực tế và tổng cho vay tối đa tiềm năng Do đó:
Tổng yêu cầu thanh khoản của ngân hàng = ∑ tỷ lệ dự trữ thanh khoản xác định của nhóm x (nhóm vốn tiền gửi và phi tiền gửi – dự trữ bắt buộc) + 100 x (quy
mô cho vay tối đa tiềm năng – tổng dư nợ hiện tại)
Đi sâu vào phương pháp này, bộ phận quản trị thanh khoản sẽ cố gắng làm rõ trạng thái thanh khoản tốt nhất và xấu nhất tiềm năng mà ngân hàng có thể gặp phải
và phân bổ xác suất cho tất cả các trường hợp có thể
Phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sử dụng vốn
Cách đo lường này bắt đầu với thực tế là: Khả năng thanh khoản tăng khi tiền gửi tăng và cho vay giảm; và khả năng thanh khoản giảm khi tiền gửi giảm và cho vay tăng Bất cứ khi nào nguồn thanh khoản và sử dụng thanh khoản không bằng nhau, ngân hàng phải đối mặt với khe hở tài trợ (financing gap) Khe hở này được đo bằng độ chênh lệch giữa tổng nguồn vốn huy động trung bình và tổng dư
đó khe hở tài trợ còn được tính theo công thức:
“Khe hở tài trợ = Tài sản thanh khoản + Nhu cầu tài trợ”
Khe hở tài trợ + Tài sản thanh khoản = Nhu cầu tài trợ
Sau đây là một ví dụ về khe hở tài trợ của Ngân hàng A:
Tài sản (triệu USD) Nợ (triệu USD)
Các khoản cho vay 25 Tiền gửi 20 Tài sản thanh khoản 5 Nhu cầu tài trợ (vay nợ) 10
Financing gap 5
Trang 26Khe hở tài trợ của Ngân hàng A bằng 5, nó được bù đắp bằng việc vay nợ trên thị trường tiền tệ
Phương pháp đo lường bằng các chỉ số thanh khoản
Yêu cầu thanh khoản còn có thể được ước tính dựa trên kinh nghiệm và mức trung bình ngành Điều này có nghĩa yêu cầu thanh khoản được ước tính dựa trên chỉ số thanh khoản và các chỉ báo khác của trạng thái thanh khoản, cụ thể như sau: (i) Chỉ số thanh khoản: đo lường tổn thất mà một ngân hàng gánh chịu khi phải bán tháo (bán ngay lập tức) tài sản để đáp ứng nhu cầu thanh khoản so với mức giá của tài sản đó trên thị trường (ở điều kiện bình thường) Tuy nhiên để bán được tài sản với mức giá chấp nhận được ngân hàng sẽ cần mất nhiều thời gian hơn trong khi ngân hàng lại có nhu cầu bán gấp Do đó luôn luôn tồn tại sự chênh lệch giữa 2 mức giá này (mức giá bán tháo Pi và mức giá thị trường P*i) Sự chênh lệch giữa Pi và P*
i càng lớn thì tính thanh khoản của danh mục tài sản mà ngân hàng nắm giữ càng thấp Công thức đo lường chỉ số thanh khoản được xác định như sau:
I = ∑[wi×(Pi/P*i)]
Trong đó: wi: tỷ trọng của tài sản thứ i trong danh mục tài sản
Pi: Giá bán tháo tài sản của tài sản thứ i
P*i: Giá thị trường của tài sản thứ i
(ii) Các chỉ số trạng thái thanh khoản khác:
Các chỉ số đo lường khả năng thanh khoản được quy định trong Thông tư 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 quy định giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và Thông tư 06/2016/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 36/2014/TT-NHNN:
vốn tự có với tài sản có điều chỉnh rủi ro của NHTM Hệ số CAR là thước đo quan trọng để đo mức độ an toàn hoạt động của NH, được các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực ngân hàng thuộc Ủy ban Basel dày công xây dựng và phát triển
Trang 27Hệ số CAR đến nay được tính toán theo Basel I và Basel II vẫn giữ nguyên
về tử số, thay đổi mẫu số Trong Basel I, tài sản có điều chỉnh rủi ro mới đề cập đến rủi ro hoạt động tín dụng, còn trong Basel II đã tính thêm rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường, cụ thể như sau:
(RWA_rủi ro tín dụng+ RWA_rủi ro hoạt động+ RWA_rủi ro thị trường)
Theo quy định của Basel II, Các NH TMCP phải đạt hệ số an toàn vốn CAR lớn hơn hoặc bằng 8% Song nếu so sánh với cách tính CAR theo Basel II, tức là mẫu số phải cộng thêm cả vốn dành cho rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động thì chắc chắn rất khó để các NHTM đạt được Do đó, NHNN đã lựa chọn 10 NH thí điểm áp dụng Basel II theo lộ trình thực hiện từ 2015 đến hết 2018 Sau giai đoạn này, Basel II sẽ được áp dụng rộng rãi tại các NH TMCP còn lại
≥ 10%): Phản ánh mối quan hệ giữa các loại tài sản có tính thanh khoản cao có khả
năng chuyển nhanh thành tiền để thanh toán nợ và tổng nghĩa vụ nợ phải trả của Ngân hàng Tỷ lệ này càng cao thì khả năng đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán ngắn hạn của Ngân hàng càng cao
cao/Dòng tiền ra ròng trong 30 ngày tiếp theo đối với đồng Việt Nam ≥50%): Tài
sản có tính thanh khoản cao có khả năng chuyển thành tiền ngay lập tức cho phép Ngân hàng đáp ứng nhu cầu thanh toán ngắn hạn đến 30 ngày đối với tiền VND
cao/Dòng tiền ra ròng trong 30 ngày tiếp theo đối với USD và các ngoại tệ khác quy đổi sang USD ≥10%): Tài sản có tính thanh khoản cao có khả năng chuyển
Trang 28thành tiền ngay lập tức cho phép Ngân hàng đáp ứng nhu cầu thanh toán ngắn hạn đến 30 ngày đối với tiền USD và các ngoại tệ khác quy đổi sang USD
giá mức độ sử dụng vốn huy động vào hoạt động tín dụng Trạng thái thanh khoản của Ngân hàng giảm khi tỷ lệ này càng cao (đặc biệt là nếu cơ cấu cho vay chủ yếu
là các khoản vay kỳ hạn dài)
độ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn của Ngân hàng Dưới góc độ thanh khoản, tỷ lệ này càng cao, rủi ro thanh khoản của ngân hàng càng tăng
Bên cạnh đó, các NH còn sử dụng một số chỉ số khác nhằm đo lường phục vụ mục tiêu quản lý thanh khoản:
hạn thanh toán ngay): Chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh khoản của ngân hàng trong
tương lai, phản ánh trạng thái thanh khoản ngắn hạn của ngân hàng bằng việc dùng các TSC có thể thanh toán ngay để đáp ứng các nghĩa vụ trả nợ đến hạn thanh toán Nếu chỉ số khả năng thanh toán càng cao thì ngân hàng được xem là có khả năng thanh khoản ngắn hạn càng cao và ngược lại Theo chuẩn mực quốc tế, các ngân hàng nên duy trì chỉ tiêu này tối thiểu ở mức 25%
Chỉ số giới hạn huy động vốn (Vốn tự có/ Tổng nguồn vốn huy động): Chỉ
số này nhằm giới hạn mức huy động vốn để tránh tình trạng huy động quá nhiều
vượt mức bảo vệ của vốn tự có dẫn đến tăng nguy cơ mất khả năng chi trả
Các chứng khoán thanh khoản bao gồm trái phiếu và tín phiếu kho bạc (gọi chung
là chứng khoán chính phủ), là những chứng khoán có độ thanh khoản cao nhất Chỉ tiêu này càng cao tình trạng thanh khoản càng tốt
vay TCTD/ Tiền gửi và đi vay từ các TCTD): Chỉ số vị thế ròng của Ngân hàng trên
thị trường 2 phản ánh tỷ lệ tiền gửi, cho vay so với tiền gửi và đi vay của Ngân hàng trong từng thời kỳ
Trang 29 Chỉ số trạng thái tiền mặt (Tiền mặt + Tiền gửi tại các TCTD khác/Tổng
TSC): Chỉ tiêu này thể hiện khả năng thanh toán nhanh của ngân hàng tại thời điểm
báo cáo Về lý thuyết, nếu chỉ số trạng thái tiền mặt càng lớn thì ngân hàng càng có khả năng thanh khoản tức thời để xử lý các nhu cầu tiền mặt tức thời Tuy nhiên, các chỉ tiêu này quá cao thì lại làm giảm lợi nhuận của ngân hàng bởi vì đây là các tài sản không sinh lời hoặc hầu như không sinh lời cho ngân hàng
Phương pháp sử dụng thang đáo hạn
Phương pháp “thang đáo hạn” được sử dụng để đo lường và theo dõi thanh khoản NH Thực chất phương pháp này dựa vào việc so sánh các luồng tiền ra và vào trong mỗi ngày hoặc trong một thời kì nhất định để xác định được trạng thái thanh khoản ròng (nhu cầu tài trợ ròng) mỗi ngày hoặc trạng thái thanh khoản tích lũy cho một thời kì Để thực hiện đo lường theo phương pháp này, NH cần sắp xếp các luồng tiền vào theo thứ tự vào thời gian đến hạn của các TSC và các luồng tiền
ra theo thứ tự đến hạn của các TSN Từ đó có thể tính toán được mức chênh lệch luồng tiền vào và luồng tiền ra của NH trong mỗi thời kì, mức chênh lệch này phản ánh nhu cầu thanh khoản của NH tại thời kì đó
Thực chất phương pháp này cuối cùng xác định được các GAP năng động theo các dải thời hạn khác nhau Các NH thường sắp xếp các luồng tiền vào và luồng tiền ra theo các thang đáo hạn là 1 ngày, 1 tuần, 1 tháng, 3 tháng… Luồng tiền vào bao gồm các TSC đến hạn; bán các TSC chưa đến hạn; nhận các khoản tiền gửi mới; đi vay mới và các khoản thu khác (như lãi cho vay, phí dịch vụ…) Luồng tiền ra thường bao gồm: TSN đến hạn; giải ngân các hợp đồng tín dụng và các cam kết ngoại bảng; chi trả tiền lãi, tiền lương và chi nghiệp vụ; ngoài ra còn có các luồng tiền ra khác (không dự tính được)
GAP năng động = Tổng cung thanh khoản – Tổng cầu thanh khoản
= GAP tĩnh +/- Dự báo
GAP năng động này cần được kiểm soát trong một hạn mức nhất định
Trang 30Bảng 1.1 Thang đáo hạn dựa trên kỳ hạn hợp đồng
TRONG 1 NGÀY
Thặng dƣ/ (Thâm hụt)
Tài sản đến hạn 100 Các khoản nợ đến hạn phải trả 50
Lãi nhận được 20 Lãi đến hạn phải trả 10
Tiền thu từ bán tài sản 50 Các khoản nợ bị rút khác 30
Rút vốn từ các khoản
được cam kết 10 Rút vốn của khách hàng theo hợp đồng tín dụng đã ký 10
TRONG 2 NGÀY
Dòng tiền vào Dòng tiền ra (Thâm hụt) Thặng dƣ/
Tài sản đến hạn 100 Các khoản nợ đến hạn phải trả 70
Lãi nhận được 25 Lãi đến hạn phải trả 20
Tiền thu từ bán tài sản 55 Các khoản nợ bị rút khác 40
Rút vốn từ các khoản
được cam kết 10 Rút vốn của khách hàng theo hợp đồng tín dụng đã ký 50
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Ngoài ra, phương pháp này còn có thể sử dụng để dự báo trạng thái thanh khoản cho các kịch bản kinh tế khác nhau như điều kiện bình thường, điều kiện NH gặp khó khăn và điều kiện cả nền kinh tế gặp khó khăn (các NH khác trong nền kinh tế đều gặp khó khăn trong huy động vốn và chất lượng tín dụng toàn hệ thống giảm sút)
Kết hợp phương pháp này với phân tích, dự báo tình hình kinh tế tổng thể giúp NH xây dựng những biện pháp đối phó kịp thời cho từng tình huống Như vậy
có thể thấy rằng quản lý thanh khoản ở đây là quản lý trong sự phân tích trạng thái động chứ không phải theo trạng thái tĩnh mà chúng ta vẫn thường làm khi tính toán các chỉ tiêu đảm bảo khả năng thanh khoản
1.2.2 Quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thương mại
1.2.2.1.Khái niệm quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thương mại
Bản chất hoạt động kinh doanh của các NHTM là dung uy tín để thu hút nguồn vốn và dung năn lực quản trị rủi ro để sử dụng nguồn vốn và phát triển dịch
vụ khác một cách hiệu quả Do đó, hoạt động kinh doanh của ngân hàng bao gồm rất nhiều rủi ro Các ngân hàng cần đánh giá cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan
Trang 31hệ rủi ro - lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được những lợi ích xứng đáng với mức rủi ro có thể chấp nhận đựợc Ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro mà ngân hàng gánh chịu là hợp lý và kiểm soát được chứ không thể chối bỏ rủi ro Quá trình đánh giá và và kiểm soát rủi ro đó được gọi là quản trị rủi ro
“Quản trị rủi ro của các NHTM có thể hiểu là quá trình tác động có tổ chức,
có hướng đích của các nhà quản trị ngân hàng lên các đối tượng quản trị và khách thể kinh doanh nhằm mục tiêu phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh từ đó nâng cao mức độ an toàn, khả năng sinh lời và đạt được các mục tiêu tăng trưởng ngắn hạn và dài hạn của các ngân hàng.” (Nguyễn Thị Quy, 2008)
Quản trị rủi ro thanh khoản được coi là một lĩnh vực quan trọng trong quản trị tài chính đối với tất cả các định chế tài chính Các định chế tài chính trong quá trình hoạt động đều có hình thức đi vay ngắn hạn và cho vay dài hạn, do vậy cần phải có hình thức quản lý để đối phó với tình trạng thiếu thanh khoản tiềm tàng
Như vậy, “Quản lý RRTK là quá trình nhận dạng, đo lường, kiểm soát và tài
trợ những nguy cơ rủi ro về việc NH không thể đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nhu cầu thanh khoản cho khách hàng.” (Nguyễn Thị Mùi, 2006, tr.326)
Việc xây dựng một hệ thống quản trị rủi ro có vai trò sống còn đối với hoạt động ngân hàng Hoạt động quản trị rủi ro giúp xác định và kiểm soát rủi ro ở mức
có thể chấp nhận được Chủ tịch tập đoàn tài chính Citigroup Walter Wriston đã nói
lên vai trò quan trọng của hoạt động quản trị rủi ro như sau “Toàn bộ cuộc sống
trong ngân hàng là quản trị rủi ro” Hoạt động quản trị rủi ro do đó là một bộ phận
cốt lõi trong toàn bộ các hoạt động ngân hàng Hiệu quả kinh doanh của NHTM tùy thuộc vào năng lực quản trị rủi ro và là thước đo năng lực của một NHTM
1.2.2.2.Nội dung quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thương mại
a Tổ chức quản trị rủi ro thanh khoản
Để quản trị rủi ro trong hoạt động NH, các NH cần thiết lập cơ cấu tổ chức
để phân chia trách nhiệm quản trị với từng loại rủi ro Một trong những hệ thống quản trị rủi ro được áp dụng thành công tại các NHTM hiện đại và được các chuyên gia quốc tế khuyến nghị áp dụng rộng rãi tại Việt Nam là mô hình 3 vòng bảo vệ,
Trang 32trong đó: Vòng bảo vệ thứ nhất là các bộ phận kinh doanh; Vòng bảo vệ thứ hai là
bộ phận quản lý rủi ro; Vòng bảo vệ thứ ba là bộ phận kiểm toán nội bộ
Điểm ưu việt của mô hình 3 lớp bảo vệ là tất cả các thành viên trong hệ thống đều phải tham gia vào quá trình quản trị rủi ro Do vậy, mô hình này đảm bảo mọi rủi ro trong mỗi tác vụ của NH được nhận diện, kiểm soát và giảm thiểu ở mức thấp nhất
Quản lý rủi ro thanh khoản nằm trong thể thống nhất của hệ thống quản lý rủi ro và là một trong những hoạt động trọng tâm của quản trị tài sản – nợ (ALM) tại NHTM Một mô hình quản lý thanh khoản của các NHTM thường bao gồm:
Hội đồng quản trị:
o Phê duyệt chiến lược và các chính sách quan trọng liên quan đến quản
lý rủi ro thanh khoản;
o Giám sát tình hình thanh khoản và cơ cấu rủi ro của ngân hàng một cách định kỳ, dễ hiểu và đánh giá rủi ro thanh khoản của ngân hàng
Ủy ban quản lý rủi ro:
o Đảm bảo hoạt động của ngân hàng phù hợp với chiến lược thanh khoản đã đặt ra;
o Đảm bảo các chính sách và thủ tục cần thiết cho quản lý rủi ro thanh khoản được thực hiện;
o Quản lý tình hình thanh khoản và cơ cấu rủi ro của ngân hàng một cách định kỳ, dễ hiểu và đánh giá rủi ro thanh khoản của ngân hàng;
o Giám sát hoạt động của Ủy ban quản lý tài sản/công nợ và việc xử lý các vấn đề quan trọng của Ủy ban này
Ủy ban quản lý tài sản/công nợ (ALCO) ALCO có trách nhiệm quản
lý khả năng thanh khoản nói chung bao gồm các công việc chính sau:
o Xây dựng và thực hiện các thủ tục quy trình quản lý khả năng thanh khoản, đảm bảo rằng các thủ tục quy trình luôn đợc cập nhật để đảm bảo tính đầy
đủ, thận trọng;
o Xây dựng và xem xét các hạn mức đảm bảo khả năng thanh toán đầy
đủ các trường hợp vượt hạn mức được xem xét và phê duyệt;
Trang 33o Quyết định cơ cấu bảng cân đối kế toán - các tài sản và công nợ theo tính thanh khoản và theo thời gian đáo hạn;
o Lập các báo cáo cho Ban giám đốc, Ủy ban quản lý rủi ro về các hoạt động thanh khoản và cơ cấu rủi ro của ngân hàng một cách thường xuyên;
o Lập kế hoạch dự phòng chỉ rõ các hoạt động quản lý trong trường hợp
có khủng hoảng và khả năng thanh khoản
Ban giám đốc chi nhánh: trực tiếp chỉ đạo thực hiện quản lý rủi ro thanh khoản tại các đơn vị mình quản lý
Bộ phận kiểm soát nội bộ hoạt động độc lập so với hệ thống quản lý rủi ro, thực hiện kiểm tra và đánh giá tính hiệu quả của các chính sách, khung quản
lý rủi ro; đảm bảo tính tuân thủ của quy trình quản lý rủi ro và chất lượng, nội dung các phương pháp đo lường
Mô hình tổ chức sẽ quyết định chất lượng quản trị RRTK trong NHTM Điều này được thể hiện trong cách nhận biết, đo lường, tổ chức, kiểm soát và giám sát rủi
ro và được mô tả ở 3 cấp độ: tốt, trung bình và yếu Bảng sau tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng quản trị RRTK ở các mức độ khác nhau
Trang 34Bảng 1.2 Chất lượng quản trị RRTK ở NHTM ở các mức độ khác nhau
Có hướng dẫn hiệu quả trong quản lý, có thể có một vài điểm yếu nhưng không quan trọng
Không hoàn thành hoặc không hợp lý
Có hiệu quả một phần trong nhận biết, đo lường, quản lý và kiểm soát RRTK; Có thể có những yếu kém do sự phức tạp của Rủi ro nhưng dễ dàng sửa lỗi
Không hiệu quả trong Nhận biết, đo lường, quản
kẽ mọi khía cạnh của RRTK và dự đoán cũng như xử
lý kịp thời khi tình hình thị trường thay đổi
Quá trình quản lý cơ bản nắm bắt được các khía cạnh chủ chốt của RRTK và dự đoán, xử
lý kịp thời khi thị trường thay đổi bất lợi
Quá trình quản lý không nắm bắt đẩy đủ hoặc không nhận ra các khía cạnh của RRTK, không thể dự đoán hoặc xử lý kịp thời khi tình hình thị trường thay đổi bất lợi
Kế hoạch
quỹ dự
phòng
Được xây dựng tốt, hiệu quả và hữu ích
Được xây dựng mức độ vừa phải, tạm thời Đề cập tới hầu hết các vấn
đề và bao quát một mức
độ hợp lý
Không tồn tại hoặc được xây dựng không hợp lý, không thực tế, không thích ứng với thị trường
và không được bổ sung kịp thời
Hệ thống
xử lý
thông tin
Tập trung vào các vấn đề quản trị và cung cấp đầy đủ, kịp thời và chính xác nhằm phát huy hiệu quả của quản lý thanh khoản
Tập trung các vấn đề tương đối tốt và cung cấp kịp thời, chính xác
Có một vài khuyến cáo không trong yếu và không ảnh hưởng tới hiệu quả
Không đầy đủ ( Các thông tin sơ khai có thể thiếu hoặc không chính xác) và các báo cáo không có ý nghĩa
và không làm suy giảm tính hiệu quả hoặc sự tin cậy trong quá trình kiểm toán
Không tồn tại hoặc/ và không hiệu quả
Nguồn : Tổng hợp của tác giả
Trang 35b Nhận diện rủi ro thanh khoản
Nhận biết rủi ro thanh khoản là một trong những khâu quan trọng trong quá trình quản trị rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại Để nhận biết rủi ro thanh khoản, các nhà quản trị rủi ro trong ngân hàng phải chú ý những điểm sau:
Yếu tố đầu tiên để nhận biết rủi ro thanh khoản đó là tình hình biến động của nền kinh tế Đây là nhân tố dễ dàng có ảnh hưởng đến tính thanh khoản của NHTM Nếu nền kinh tế phát triển ổn định và lành mạnh, các doanh nghiệp và tổ chức vay tiền của ngân hàng sẽ dễ dàng trả được nợ Do đó, ngân hàng sẽ quản lý tốt được tỷ
lệ nợ xấu của mình Thêm vào đó, nền kinh tế phát triển lành mạnh khiến cho người dân cũng trở nên tin tưởng hơn vào hệ thống ngân hàng và điều tất yếu là lượng tiền gửi vào ngân hàng sẽ tăng lên Ngược lại, khi nền kinh tế có các dấu hiệu bất ổn, suy thoái, lạm phát, ngay lập tức người dân sẽ rút bớt lượng tiền gửi của mình về để đảm bảo an toàn Lượng nợ xấu, nợ khó đòi của ngân hàng cũng tăng lên… Vì vậy, các nhà quản trị rủi ro trong ngân hàng cần luôn theo dõi những biến động của nền kinh tế không chỉ trong nước, trong khu vực mà phải trên toàn thế giới Một ví dụ điển hình về tác động của nền kinh tế đến tình hình thanh khoản trong thời gian qua
đó là cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ sau đó đã lan rộng ra toàn thế giới và các ngân hàng của Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng nặng nề và có nhiều lúc tính thanh khoản của một số ngân hàng ở nước ta đã bị đe dọa nghiêm trọng
Thứ hai, các nhà quản trị rủi ro trong ngân hàng cần liên tục theo dõi các
chính sách quyết định của NHNN Đây là một trong những yếu tố tác động mạnh
mẽ và trực tiếp nhất đến khả năng thanh khoản của ngân hàng Rất nhiều các quyết định chính sách của NHNN có thể ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của NHTM Ví dụ như khi NHNN yêu cầu tăng tỷ lệ dữ trữ bắt buộc, yêu cầu mua một lượng giấy tờ có giá hay sự thay đổi về quy định tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, hệ số rủi ro đối với các khoản phải đòi để kinh doanh bất động sản được sửa đổi trong thông thư 06 thời gian gần đây…Vì vậy, các nhà quản trị rủi ro trong ngân hàng cần phải dự đoán trước được tình hình thị trường, linh hoạt trước các quyết định chính sách của NHNN, đồng thời phải có các biện pháp hợp lý để
Trang 36đảm bảo khả năng thanh khoản của ngân hàng luôn được duy trì ở mức ổn định, không làm ảnh hưởng đến uy tín đồng thời cũng không lưu giữ quá nhiều các tài sản
có độ thanh khoản cao làm ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng
Thứ ba, khi ngân hàng phải đối mặt với những tin đồn xấu Điều này tất yếu
sẽ ảnh hưởng đến niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng Họ sẽ có xu hướng rút tiền ra khỏi ngân hàng để gửi sang ngân hàng khác Trong khi đó, các khoản cho vay hay đầu tư của ngân hàng chưa thu hồi đến cầu thanh khoản lớn hơn cung khiến cho ngân hàng gặp phải rủi ro thanh khoản Một ví dụ điển hình đó là vụ ngân hàng Northern Rock của Anh hay ngân hàng Phương Nam, ngân hàng ACB ở nước ta trong thời gian qua Vì vậy, ngay khi xuất hiện những tin đồn như vậy, các nhà quản trị ngân hàng cần có biện pháp xử lý kịp thời như thông cáo báo chí để trấn an tinh thần của khách hàng, yêu cầu sự giúp đỡ của NHNN và huy động nguồn vốn kịp thời như vốn vay liên ngân hàng hay vay các tổ chức tín dụng khác để đề phòng các khách hàng rút tiền tránh nguy cơ thâm hụt thanh khoản rồi dẫn đến rủi ro thanh khoản
Thứ tư, các nhà quản trị rủi ro trong ngân hàng thường xuyên phải tính toán
lượng cung cầu thanh khoản trong ngân hàng bằng các phương pháp lượng hóa rủi
ro thanh khoản Bất cứ khi nào cầu thanh khoản vượt khỏi lượng cung thanh khoản theo một tỷ lệ nhất định thì có nghĩa là ngân hàng đang phải đối mặt với thâm hụt thanh khoản Nếu hiện tượng này kéo dài thì có nghĩa là ngân hàng đang phải đối mặt với rủi ro thanh khoản Dễ dàng nhận thấy nhất đó là căn cứ vào tốc độ tăng trưởng nguồn vốn và tốc độ tăng trưởng tín dụng Nếu dư nợ tín dụng của ngân hàng tăng quá nhanh so với nguồn vốn huy động được đó là dấu hiệu báo trước ngân hàng có khả năng phải đối mặt với rủi ro thanh khoản Khi đó, ngân hàng cũng cần có biện pháp để giảm thiểu khe hở thanh khoản bằng việc đi vay liên ngân hàng, hay thực hiện nghiệp vụ thị trường mở tại NHNN, có các chính sách để tăng cường nguồn vốn huy động từ dân…
Nếu như xuất hiện bất kỳ vấn đề nào trên đây thì nhà quản trị ngân hàng cần phải xem xét cẩn thận các chính sách và thực tiễn hoạt động kinh doanh của ngân hàng để từ đó tìm ra nguyên nhân và phương pháp giải quyết nhằm cải thiện khả
năng thanh khoản của ngân hàng
Trang 37c Kiểm soát rủi ro thanh khoản
Kiểm soát rủi ro là trọng tâm của quản trị rủi ro Đó chính là việc sử dụng các biện pháp, ký thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, phòng tránh hoặc giảm thiểu các tổn thất, những ảnh hưởng không mong muốn có thể xảy ra đối với ngân hàng Qua nhiều năm, các nhà quản lý ngân hàng
đã phát triển một số chiến lược nhằm giải quyết vấn đề thanh khoản của ngân hàng: quản trị rủi ro thanh khoản tài sản, quản trị rủi ro thanh khoản nợ và quản trị rủi ro thanh khoản kết hợp
Quản trị rủi ro thanh khoản tài sản – chiến lƣợc dự trữ
Đây là phương pháp quản trị thanh khoản truyền thống và cổ điển nhất Trong chiến lược này, “ngân hàng nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao, chủ yếu là tiền mặt và các chứng khoán dễ bán Khi nhu cầu thanh khoản xuất hiện, ngân hàng sẽ sử dụng phần dự trữ tiền mặt vượt quá và tiến hành bán một số tài sản cho tới khi toàn bộ nhu cầu được đáp ứng Trên thực tế, để đảm bảo hiệu quả trong việc sử dụng vốn và tối đa hóa lợi nhuận, các ngân hàng sẽ không để lượng dự trữ tiền mặt vượt quá quá nhiều, thay vào đó họ nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao Vì thế chiến lược này còn được gọi là chiến lược chuyển đổi tài sản bởi vì vốn thanh khoản được tạo ra chủ yếu từ việc chuyển tài sản phi tiền mặt thành tiền mặt
Để quản trị rủi ro thanh khoản theo chiến lược này, ngân hàng có thể lựa chọn những tài sản:
(i) Các khoản dự trữ ngân quỹ, bao gồm:
Dự trữ bắt buộc
Dự trữ thanh toán (dự trữ sơ cấp)
Các ngân hàng luôn phải cân nhắc để làm sao đạt được lượng dự trữ tiền mặt/tiền gửi tối ưu (vừa đảm bảo được nhu cầu thanh khoản, các quy định của NHNN về dự trữ bắt buộc và vừa tối đa hóa hiệu quả sử dụng nguồn vốn) Với những ngân hàng có quy mô nhỏ, lượng dự trữ bắt buộc có thể không đủ đáp ứng nhu cầu thanh khoản và buộc họ phải để thêm phần dự trữ vượt quá Tuy nhiên đối với những ngân hàng lâu đời, có quy mô lớn thì khối lượng tiền gửi tại NHNN để
Trang 38đảm bảo đủ dự trữ bắt buộc theo quy định tương đối cao, nhiều khi còn vượt lên trên nhu cầu thanh khoản hàng ngày của họ Điều này dẫn đến sự lãng phí trong việc sử dụng vốn Vì vậy các ngân hàng này có thể tính toán lượng tiền mặt/tiền gửi tối ưu và an toàn từ đó tính toán chi phí - lợi ích giữa việc không đảm bảo dự trữ bắt buộc theo đúng quy định và chỉ đảm bảo phần dự trữ tối ưu trên để đưa ra phương
án hiệu quả và phù hợp cuối cùng
(ii) Dự trữ ngoài ngân quỹ (dự trữ thứ cấp): các khoản dự trữ này chủ yếu tập trung vào việc đầu tư chứng khoán có tính lỏng cao, dễ chuyển đổi thành tiền để đáp ứng nhu cầu thanh khoản khi cần thiết như: tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ, thương phiếu chấp nhận thanh toán, giấy nợ ngắn hạn,…
Phương pháp này có ưu điểm là các yêu cầu thanh khoản được giải quyết nhanh chóng, kịp thời và ngân hàng chủ động hơn trong việc đối phó với các áp lực
về thanh khoản.Tuy nhiên, chuyển đổi tài sản không phải là một phương pháp quản
lý thanh khoản có chi phí thấp Thứ nhất, bán tài sản có nghĩa là ngân hàng sẽ mất
đi những khoản thu nhập tạo ra từ tài sản trong tương lai Đồng thời, việc bán tài sản đều liên quan tới chi phí giao dịch, hoặc chúng có thể được bán trên những thị trường đang đi xuống với giá thấp gây tổn thất về vốn cho ngân hàng Bên cạnh đó, việc bán tài sản để tăng cường thanh khoản cho ngân hàng sẽ làm cho hình ảnh của ngân hàng thể hiện qua bảng cân đối kế toán yếu đi (giảm phần tài sản) Ngoài ra, với việc đầu tư vào các tài sản thanh khoản, ngân hàng sẽ phải bỏ qua tỷ lệ thu nhập cao mà nó mong muốn đạt được từ những tài sản khác có rủi ro cao hơn nhưng mang lại lợi tức lớn hơn (chi phí cơ hội)
Quản trị rủi ro thanh khoản nợ - chiến lƣợc huy động
Trong phương pháp này, đại bộ phận các thiếu hụt thanh khoản của ngân hàng được đáp ứng bằng cách đi vay mượn dưới các hình thức Do đó, chiến lược này còn được gọi là chiến lược “vay thanh khoản” Một số hình thức được sử dụng trong chiến lược này là:
(i) Tạo thanh khoản từ việc đi vay: các khoản vay từ các TCTD khác trên thị trường liên ngân hàng và/hoặc vay từ cửa sổ chiết khấu của NHNN
Trang 39(ii) Tạo thanh khoản qua tiền gửi: đó là việc ngân hàng nhận tiền gửi của các cá nhân và tổ chức kinh tế dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn
và các loại tiền gửi khác
Ngân hàng có thể quản lý thanh khoản tương đối hiệu quả thông qua việc tạo
ra các gói sản phẩm huy động tiền gửi linh hoạt với các điều khoản có lợi cho ngân hàng và cả khách hàng Ví dụ như chứng chỉ tiền gửi có lãi suất thả nổi và không được quyền rút trước hạn, sản phẩm tiền gửi có quyền được rút vốn trước hạn nhưng khách hàng sẽ phải chịu mức lãi suất thấp hơn… Với công cụ huy động vốn
đa dạng, linh hoạt, ưu đãi về lãi suất cho khách hàng đi kèm với các điều khoản ràng buộc liên quan, ngân hàng có thể giảm bớt một phần lợi nhuận thu được tuy nhiên lại hạn chế khả năng rút tiền từ phía khách hàng
(iii) Tạo thanh khoản qua thị trường tiền tệ/thị trường vốn: các ngân hàng phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi để huy động vốn của các tổ chức,
cá nhân trong nước và ngoài nước
Chiến lược quản lý thanh khoản nợ là một phương pháp quản trị thanh khoản năng động, các trường hợp thiếu hụt thanh khoản được giải quyết khá linh hoạt, chủ yếu thông qua các hình thức vay mượn trên thị trường tiền tệ; đồng thời giảm tới mức thấp nhất tài sản Có dự trữ và do đó tránh được tình trạng ứ đọng vốn, tập trung vốn để đầu tư vào các khoản mục sinh lời, tạo điều kiện để tăng thu nhập cho ngân hàng Ngoài ra, quản lý thanh khoản nợ có khả năng tự điều chỉnh chi phí - mức lãi suất đưa ra để vay vốn.Nếu ngân hàng đi vay cần thêm vốn, nó chỉ cần nâng lãi suất cho tới khi nhận được đủ vốn, ngân hàng cũng có thể giảm lãi suất để hạn chế dòng vốn đổ vào
Quản trị tài sản Nợ không làm thay đổi quy mô bảng cân đối tài sản và kết cấu tài sản Có, nhưng làm thay đổi kết cấu tài sản Nợ Mọi điều chỉnh của ngân hàng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản chỉ diễn ra bên tài sản Nợ Qua đó cho thấy, nếu ngân hàng quản trị tài sản Nợ một cách hiệu quả, thì chiến lược kinh doanh bên tài sản Có sẽ không bị ảnh hưởng bởi những sự rút tiền gửi quá mức thông thường
Do vậy, sử dụng chiến lược quản trị tài sản Nợ ngày nay được phát triển nhanh và nhiều đối với các ngân hàng
Trang 40Tuy nhiên, vay thanh khoản là cách tiếp cận rủi ro trong việc giải quyết vấn
đề thanh khoản của ngân hàng bởi vì lãi suất và quy mô tín dụng sẵn có trên thị trường tiền tệ có thể thay đổi nhanh chóng.Thông thường ngân hàng phải mua thanh khoản trong những trường hợp khó khăn - cả về giá cả và tính sẵn có Chi phí vay vốn của ngân hàng do đó thường khó xác định chắc chắn, làm giảm tính ổn định trong thu nhập Hơn nữa, do phụ thuộc quá lớn vào thị trường tiền tệ nên ngân hàng thường rơi vào trạng thái bị động
Quản trị rủi ro thanh khoản kết hợp
Do những rủi ro cố hữu của việc dựa quá nhiều vào vay thanh khoản và mức chi phí đáng kể của việc dự trữ thanh khoản, một phương pháp đang được rất nhiều ngân hàng hiện đại thực hiện là phối hợp cả quản lý thanh khoản tài sản và quản lý thanh khoản nợ
Theo chiến lược quản lý thanh khoản phối hợp, một phần nhu cầu thanh khoản dự tính sẽ được đáp ứng bằng việc dự trữ tài sản thanh khoản trong khi phần còn lại của nhu cầu thanh khoản sẽ được giải quyết bằng việc vay thanh khoản
Các nhu cầu thanh khoản của NHTM được chia thành 3 bộ phận: nhu cầu thanh khoản thường xuyên, nhu cầu thanh khoản thời vụ và nhu cầu thanh khoản đột xuất
(i) Các nhu cầu thanh khoản thường xuyên phát sinh khá thường xuyên, đều đặn hàng ngày, tương đối ổn định nên ngân hàng có thể dự đoán và kế hoạch hóa được, các nhu cầu này được đáp ứng bằng các tài sản Có dự trữ dưới dạng tiền mặt, tiền gửi, các giấy tờ có giá có tính thanh khoản cao
(ii) Các nhu cầu thanh khoản thời vụ tuy không phát sinh thường xuyên nhưng NHTM có thể dự đoán và kế hoạch hóa được, do đó NHTM thường chủ động
kí các cam kết, các hợp đồng vay vốn trước với các TCTD khác, xác định trước khối lượng, thời hạn, lãi suất phải trả… Do chủ động ký kết hợp đồng vay mượn trước nên phương án này khắc phục được nhược điểm của hai phương án trên
(iii) Các nhu cầu thanh khoản phát sinh đột xuất, bất ngờ không thể dự đoán trước được, buộc NHTM phải vay mượn trên thị trường tiền tệ để đáp ứng