1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập tự luận môn Mô hình chính quyền địa phương

12 235 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 33,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lãnh thổ hành chính nhân tạo: - Nhà nước chia các đơn vị hành chính trực thuộc theo nhu cầu quản lý của trung ương; - Việc tổ chức các cơ quan nhà nước chỉ cần những cơ quan hành chính

Trang 1

Anh (chị) hãy phân tích các nguyên tắc phân định thẩm quyền giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương trên thế giới? Phân tích thực tiễn phân định thẩm quyền giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay?

Trả lời

I Các nguyên tắc cơ bản phân định thẩm quyền giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương trên thế giới.

1 Quan điểm về vai trò của chính quyền địa phương

- Chính quyền địa phương được xem xét “như một cành quyền lực thứ tư, chỉ phụ thuộc vào pháp luật và chịu sự xét xử của tòa án, không trực thuộc chính phủ và các cơ quan của chính phủ, kể cả từ trung ương lẫn địa phương”

- Các cơ quan tự quản của địa phương ngày càng trở thành một bộ phận của chính quyền hành pháp “Nhà nước thịnh vượng chung” đòi hỏi sự can thiệp ngày càng sâu rộng vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội của các cơ quan nhà nước ở trung ương

2 Nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương

Lãnh thổ hành chính tự nhiên:

- Nhà nước công nhận các ranh giới hành chính một cách tự nhiên theo các đặc điểm dân cư, địa lý, phong tục

- Ngoài các cơ quan quản lý còn có các cơ quan do cư dân hợp thành trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra;

- Việc tổ chức chính quyền mang nhiều tính chất tự quản, tự trị

Lãnh thổ hành chính nhân tạo:

- Nhà nước chia các đơn vị hành chính trực thuộc theo nhu cầu quản lý của trung ương;

- Việc tổ chức các cơ quan nhà nước chỉ cần những cơ quan hành chính để đảm nhiệm những chức năng quản lý hành chính như mục tiêu nó đặt ra;

- Nhân viên đảm nhiệm các công việc hành chính được trên bổ nhiệm mà không cần sự lựa chon bằng phương pháp bầu cử từ địa phương

3 Nguyên tắc phân định thẩm quyền

- Nguyên tắc tập quyền

Áp dụng trong mô hình của các nước xã hội chủ nghĩa trước đây và ở Việt Nam hiện nay;

Mỗi cấp hành chính- lãnh thổ, cả ở đô thị lẫn nông thôn đều thành lập cơ quan chính quyền địa phương, vừa đại diện cho địa phương, vừa đại diện cho Nhà nước trung ương, tạo thành hệ thống thứ bậc trên- dưới

Trang 2

- Nguyên tắc tản quyền

Mô hình này có đặc điểm là chính quyền địa phương do trung ương đặt ra, trực tiếp bổ nhiệm nhân sự để thực hiện quyền lực nhà nước tại địa phương đó;

Trung ương vừa giám sát vừa trực tiếp thực hiện quyền lực NN tại địa phương thông qua các nhân viên trên;

Chỉ thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn do chính phủ giao, không có quyền can thiệp sâu vào Chính quyền địa phương

VD: Pháp

- Nguyên tắc phi tập trung hóa (phân quyền)

Chính quyền địa phương theo mô hình này chính là chính quyền tự quản địa phương;

Các cấp Chính quyền địa phương độc lập, không có sự trực thuộc lẫn nhau Họạt động chỉ phụ thuộc vào pháp luật, không phụ thuộc vào sự chỉ đạo của cấp trên;

VD: Anh, Mỹ

4 Nội dung phân định thẩm quyền

Các lĩnh vực cơ bản: quản lý ngân sách; quản lý tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức; quản lý đầu tư công; quản lý một số dịch vụ công;

Các yếu tố quy định nội dung phân định thẩm quyền;

Một số mô hình phân định thẩm quyền về nội dung

5 Xu hướng tự quản địa phương ở các nước trên thế giới hiện nay

Tính phổ biến của tự quản địa phương;

Các dấu hiệu cơ bản của tự quản địa phương;

Tiêu chí đo lường mức độ tự quản địa phương ( mức độ tự quản/ tự chủ về pháp lý; mức độ tự quản/ tự chủ về tài chính);

Hai mô hình cơ bản về tự quản địa phương trong xã hội hiện đại (1/ Phát huy tối đa quyền tự quản của địa phương - phân quyền đầy đủ; 2/ Kết hợp tự quản địa phương với sự giám sát của chính quyền trung ương);

Hiến chương châu Âu về chính quyền tự quản địa phương;

Tiến tới Hiến chương quốc tế về tự quản địa phương;

Những dấu hiệu đáng chú ý trong tổ chức chính quyền địa phương trên thế giới

II Thực tiễn phân định thẩm quyền giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay

Phân quyền là chế độ quản lý hành chính phân cho một tập thể hay một đơn

vị hành chính, lãnh thổ tự quản lý, có tư cách pháp nhân có những quyền hạn và có những nguồn lực nhất định, dưới sự kiểm tra của nhà nước

Trang 3

1.Chính sách của Đảng về phân cấp quản lý hành chính nhà nước giữa chính quyền trung ương và địa phương ở Việt Nam hiện nay

Chính sách về phân cấp quản lý hành chính nhà nước giữa

trung ương và chính quyền địa phương ở nước ta trước hết đươc

các văn kiên của Đảng ở các nhiệm kỳ gần đây Nghị quyết Hội

ương 8 (khóa VII) đã khẳng đinh: ̣ “ Chính phủ và cơ quan hành

tâp trung quản lý vĩ mô… ”; “Xác đinh rành mạch cụ thể trách

quyền quản lý của Bộ và chính quyền địa phương phù hơp với tính

điểm của từng ngành, từng lĩnh vưc̣ …” Hôi nghi ̣Trung ương 3

tiếp tục khẳng đinh: ̣ “Chính phủ và bộ máy hành chính nhà nước

quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa xã

phòng an ninh và đối ngoại theo đúng chức năng phù hơp với cơ

“phân đinh trách nhiệm, thẩm quyền giữa các cấp chính quyền

phân cấp rõ hơn cho đia phương, kết hợp chăt chẽ quản lý ngành

lãnh thổ” Quan điểm về phân cấp thẩm quyền lại tiếp tục khẳng

Nghi ̣ quyết của các Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X, XI và trong

Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn

Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa

VIII (năm 1997) về phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, tiếp

nhà nước Việt Nam trong sạch, vững mạnh đã khẳng định: “Phân

Trang 4

nhiệm, thẩm quyền giữa các cấp chính quyền theo hướng phân

địa phương nhằm tạo điều kiện và thúc đẩy chính quyền địa

tính chủ động, khai thác mọi tiềm năng tại chỗ để phát triển kinh

địa phương và đóng góp ngày càng nhiều cho sự phát triển chung

nước Giữa các cấp chính quyền địa phương cũng cần cụ thể việc

theo hướng cấp nào giải quyết sát với thực tế hơn thì giao nhiệm

quyền cho cấp đó Nghiên cứu phân biệt sự khác nhau giữa hoạt

HĐND và nhiệm vụ quản lý hành chính ở đô thị với hoạt động của

nhiệm vụ quản lý hành chính của nông thôn”

Văn kiện Đại hội X của Đảng (năm 2006) đề ra chủ trương:

mạnh, giao quyền chủ động hơn nữa cho chính quyền địa phương,

trong việc quyết định về ngân sách, tài chính, đầu tư, nguồn nhân

hiện nghĩa vụ tài chính đối với Trung ương bảo đảm quyền tự

trách nhiệm của chính quyền địa phương trong phạm vi được

chức hợp lý chính quyền địa phương, phân định lại thẩm quyền

quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo”.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương

17 – NQ/TW ngày 01-08-2007) về đẩy mạnh cải cách hành chính,

hiệu lực, hiệu quả quản lý bộ máy nhà nước: “Tiếp tục phân cấp

quyền chủ động hơn nữa cho chính quyền địa phương, nhất là

Trang 5

trong quyết định về ngân sách, tài chính, đầu tư, nguồn nhân lực, thực hiện nghĩa

đối với Trung ương; đồng thời hoàn thiện thể chế, pháp luật, chiến

hoạch, kế hoạch phát triển để bảo đảm sự quản lý tập trung,

Trung ương Chính quyền địa phương được xây dựng, tổ chức và

theo nguyên tắc nhà nước đơn nhất, quyền lực của nhà nước là

cơ chế bảo đảm nguyên tắc xây dựng chính quyền Nhân dân,

tác giám sát của cấp ủy, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đối với

của chính quyền địa phương ”.

Văn kiện Đại hội XI của Đảng (2011) đề ra chủ trương: “Tiếp

mới tổ chức hoạt động của chính quyền địa phương Nâng cao

động của HĐND và UBND các cấp, bảo đảm quyền tự chủ và tự

nhiệm trong việc quyết định và tổ chức thực hiện những chính

vi được phân cấp Nghiên cứu tổ chức, thẩm quyền của chính

đô thị, hải đảo Tiếp tục thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND

quận, phường”.

Các kết luận, Nghị quyết Hội nghị Trung ương II, Trung

ươngVII khóa XI về việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992: (1) Nghị

quyết số 05-NQ/TW ngày 12-7-2011 của Hội nghị lần thứ hai Ban

Trung ương Đảng khóa XI về việc triển khai thực hiện chủ trương

Trang 6

sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992: “Sửa đổi, bổ sung các quy

chức, hoạt động của chính quyền địa phương, xác định rõ hơn địa

mô hình tổ chức, thẩm quyền của các cấp chính quyền địa

phân cấp, phân quyền giữa Trung ương và địa phương” (2) Kết

20-KL/TW ngày 25-5-2012 của Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành

Đảng khóa XI về tổng kết thi hành Hiến pháp năm 1992 và những

bản về sửa đổi Hiến pháp năm 1992 nêu rõ: “Tiếp tục nghiên cứu,

phương án quy định về đơn vị hành chính lãnh thổ, cấp hành

chính quyền địa phương; quy định những vấn đề có tính nguyên

công, phân cấp giữa Trung ương và địa phương, đồng thời phát

trách nhiệm của địa phương”.

Văn kiện Đại hội XII của Đảng (tháng 1 năm 2016) đã định

thiện cơ chế phân cấp, bảo đảm thống nhất, thông suốt trong

lý, điều hành từ Trung ương đến cơ sở Phân định rõ quyền hạn

nhiệm trong quản lý kinh tế, xã hội giữa Trung ương và địa

sự tập trung thống nhất quản lý của Trung ương và phát huy tính

chịu trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương Hoàn thiện

phân cấp đầu tư, ngân sách, bảo đảm quản lý thống nhất về quy

triển và cân đối nguồn lực Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của

địa phương bảo đảm phục vụ tốt nhất người dân, doanh nghiệp

Trang 7

Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước về kinh tế, xã hội đối

quyền các cấp Tập trung vào cung cấp dịch vụ công, bảo đảm an

an toàn xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và cải thiện đời sống cho

Hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy phù hợp với

đô thị, Hải đảo”

2 Pháp luật về phân cấp quản lý hành chính nhà nước giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay.

Thứ nhất, Hiến pháp và các đạo luật tổ chức bộ máy nhà

cấp quản lý hành chính Nhà nước giữa chính quyền trung ương và

địa phương Ở Việt Nam hiện nay, phân cấp quản lý hành chính

chính quyền trung ương với chính quyền địa phương được quy

pháp 2013, Luật tổ chức Quốc hội năm 2015, Luật tổ chức Chính

2015, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 Đây là hệ

văn bản pháp lý cao nhất xác lập thẩm quyền quản lý hành chính

chính quyền trung ương và địa phương Nếu như trước đây chúng

chức HĐND và UBND thì hiện nay được thay thế bởi Luật tổ chức chính

quyền địa phương là một minh chứng quan trọng cho tư duy,

của Đảng và Nhà nước về vấn đề phân cấp và địa vị pháp lý của

địa phương

Tuy nhiên, cần phải nhận thức đầy đủ rằng thông qua Luật

Trang 8

thẩm quyền của các cấp chính quyền mà xác định vấn đề phân

thể có một đạo luật hay hệ thống văn bản pháp quy chuyên biệt

vấn đề phân cấp thẩm quyền Hơn nữa bản thân chính quyền địa

không thể tự đặt ra luật để ấn định thẩm quyền, chức năng quản

Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND chủ yếu là để cụ thể

của Trung ương

Trong quá trình thực hiện các chủ trương của Đảng và chính

luật Nhà nước, trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, với mức độ khác

sự phân cấp quản lý hành chính giữa Chính phủ và các cấp chính

phương Mức độ và phạm vi phân cấp quản lý của mỗi lĩnh vực

nguyên tắc rất cơ bản là: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước

lĩnh vực trên phạm vi toàn quốc bằng hệ thống văn bản quy phạm

chính sách nhất quán, đồng bộ; hướng dẫn và kiểm tra việc thực

định thẩm quyền là để định rõ thẩm quyền và trách nhiệm, đồng

tính chủ đông, sáng tạo, phát huy lợi thế và vị trí của mỗi cấp

hành chính nhà nước theo sự quản lý thống nhất của Chính phủ

Thứ hai, phân cấp quản lý hành chính nhà nước giữa chính

ương và chính quyền địa phương trong các văn bản pháp quy khác

Đi sâu hơn vào hệ thống các văn bản pháp luật có liên quan, có

thấy mức độ chi tiết, cụ thể của các quy định về phân cấp quản lý

Trang 9

hành chính nhà nước giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương

lĩnh vực khác nhau được các đạo luật quy định rất khác nhau Có

luật chuyên ngành chỉ quy định rất chung chung, nhưng cũng có

quyền của chính quyền địa phương được quy định tương đối chi

này một phần nguyên nhân do hiện nay chủ thể tiến hành công

tắc phân cấp quản lý giữa chính quyền trung ương với chính

hiện nay không chỉ là Quốc hội mà bao gồm cả Chính phủ và các

ngành thông qua hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Chẳng hạn, một số đạo luật chuyên ngành, như Luật giáo dục

sửa đổi, bổ sung năm 2009, Luật giáo dục đại học năm 2012, Luật

phẩm năm 2010, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm

định thẩm quyền của chính quyền địa phương rất chung chung Ví

Điều 100 Luật giáo dục năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy

các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện

nước về giáo dục theo phân cấp của Chính phủ, trong đó có việc

mạng lưới cơ sở giáo dục; kiểm tra việc chấp hành pháp luật về

các cơ sở giáo dục trên địa bàn; có trách nhiệm bảo đảm các điều

ngũ nhà giáo, tài chính, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của các

thuộc phạm vi quản lý; phát triển các loại hình nhà trường, thực

Trang 10

hiện xã hội hóa – giáo dục; bảo đảm đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô, nâng

lượng và hiệu quả giáo dục tại địa phương Tương tự, Điều 49 Luật

quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 cũng chỉ quy định rất khái

quyền của UBND các cấp

Trong khi đó, một số đạo luật chuyên ngành lại quy định khá

thẩm quyền của chính quyền địa phương trong hoạt động quản lý

trong chuyên ngành đó Ví dụ: Luật ngân sách nhà nước năm

tương đối chi tiết thẩm quyền của UBND các cấp trong lĩnh vực

Đặc biệt, Luật đã quy định rõ nguồn thu của ngân sách trung

thu của ngân sách địa phương Điều 42 và 45 Luật đất đai năm

khá rõ thẩm quyền của từng cấp về quy hoạch đất đai…

3 Mục đích về phân cấp quản lý hành chính nhà nước giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay

Để có những căn cứ thực tiễn cho việc đề xuất giải pháp bảo đảm phân cấp ở nước ta, cần thiết phải làm rõ thực trạng mục đích quá trình này ở nước

ta hiện nay

Thứ nhất, thay đổi trong nhận thức về bản chất, chức năng của Nhà

nước Những thay đổi này hiện nay chủ yếu mới được thể hiện trong kết quả

nghiên cứu khoa học của các nhà tư tưởng và ở quan điểm lãnh đạo của Trung ương Đảng, của chính quyền trung ương Ở các cấp chính quyền địa phương

mà đặc biệt là trong cơ quan hành chính địa phương không có nhiều chuyển biến trong nhận thức về bản chất, chức năng, vai trò của Nhà nước Nếu có thì mức độ chuyển biến cũng rất chậm, không đáng kể Chúng ta thấy rất rõ các động thái mạnh mẽ của Trung ương Đảng về phòng chống tham nhũng, về xây dựng Nhà nước pháp quyền hay động thái của Chính phủ về xây dựng một chính phủ kiến tạo thực sự chưa tạo ra được sự lan toả rộng rãi trong toàn bộ

Trang 11

nền hành chính các cấp Đa số cán bộ, công chức hành chính ở nước ta vẫn trì trệ, bảo thủ, chậm thay đổi về tư duy, nhận thức trong nguyên tắc hoạt động, trong hành xử với người dân Biểu hiện của một nền hành chính quan liệu vẫn rất rõ ở một số địa phương, vùng miền hiện nay của nước ta

Trong việc thực hiện nhiệm vụ, công tác tiếp xúc, tiếp nhận hồ sơ giải quyết công việc cho nhân dân, một số cán bộ, công chức, viên chức tỏ rõ thái

độ hách dịch, nhũng nhiễu khi giải quyết công việc, gợi ý, vòi vĩnh trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình.Còn hiện tượng đùn đẩy, né tránh trách công việc, chưa thường xuyên học tập bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn năng lực công tác hạn chế; một số đơn vị, tình trạng mất đoàn kết nội bộ vẫn còn xảy ra, có biểu hiện cục bộ, kèn cựa địa vị, ganh tị, bè phái, lợi ích nhóm, trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn không phối hợp với nhau, làm việc theo

kiểu “mạnh ai nấy làm” dẫn đến hiệu quả công việc không cao.Trong khi đó

việc nhận xét đánh giá cán bộ, công chức, viên chức cuối năm các cơ quan, đơn vị thực hiện chưa nghiêm túc, vẫn còn mang tính hình thức, đánh giá chung chung và cả nể; công tác thực hiện chế độ báo cáo không trung thực, bao che cho những cán bộ, công chức, viên chức vi phạm

Thực trạng này có nguyên nhân chủ yếu từ nhận thức, thái độ không có nhiều chuyển biến về bản chất, chức năng của Nhà nước trước yêu cầu, tình hình mới

Thứ hai, về hiệu quả hoạt động của các cấp chính quyền trong quản lý

hành chính Nhà nước.Thực trạng này được nhận thấy rất rõ thống qua các trị

số khảo sát, các báo cáo về hiệu quả, hiệu lực hoạt động của chính quyền Nhà nước ở nước ta trong thời gian vừa qua Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) 2016 cho thấy phần lớn chính quyền các địa phương có cải thiện trong cung ứng dịch vụ công qua thời gian Thực tế

35 tỉnh, thành đã có những bước cải thiện đáng kể khi so sánh kết quả năm

2016 với năm 2011, những địa phương khác không có nhiều chuyển biến Nhìn chung ở chính quyền cấp tỉnh, hiệu quả công khai, minh bạch ở ba vấn đề PAPI đo lường có dấu hiệu được cải thiện trong năm 2016 khi so sánh với năm

2015 Đóng góp lớn nhất là sự cải thiện về mức độ công khai, minh bạch kế hoạch sử dụng đất và khung giá bồi thường thu hồi đất Tuy nhiên, kết quả khảo sát cho thấy quản lý nhà nước về đất đai đang bộc lộ nhiều hạn chế, khoảng trống pháp lý dẫn đến thực trạng tham nhũng, lãng phí, vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức Nhà nước còn khá phổ biến Kết quả tổng hợp ở chỉ

số nội dung này cho thấy cải cách thủ tục hành chính và dịch vụ hành chính đang có những bước tiến triển tốt

Ngày đăng: 17/11/2019, 09:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w