1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận về nông nghiệp chất lượng cao và áp dụng cho việt nam

44 158 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 160,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Việt Nam hiện cũng đang thúc đẩy phát triểnnông sản sản xuất theo qui trình GAP với các tiêu chuẩn Viet GAP và Global GAPnhằm đáp ứng yêu cầu về chất lượng sản phẩm an toàn, sạch ngà

Trang 1

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

I Khái quát về nền nông nghiệp chất lượng cao 1

1) Định nghĩa về nền nông nghiệp chất lượng cao 1

2) Đặc điểm của nền nông nghiệp chất lượng cao 2

3) Vai trò của nền nông nghiệp chất lượng cao 3

3.1) Đảm bảo an ninh lương thực 3

3.2) Tăng sức cạnh tranh cho hàng nông sản trên thị trường 4

3.3) Nông nghiệp chất lượng cao gắn với phát triển bền vững 6

4) Một số nền nông nghiệp chất lượng cao trên thế giới 6

4.1) Nền nông nghiệp Israel 7

4.2) Nền nông nghiệp Mỹ …… .9

4.3) Nền nông nghiệp Nhật Bản 10

II Nền nông nghiệp VIỆT NAM 12

1) Vai trò nông nghiệp với nền kinh tế Việt Nam 12

1.1) Nông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hàng năm của Việt Nam 12

1.2) Nông nghiệp cung cấp nguyên liệu đầu vào cho công nghiệp chế biến 14

1.3) Nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm cho nhu cầu trong nước, đảm bảo an ninh lương thực 15

1.4) Nông nghiệp tạo việc làm cho bộ phận lớn lực lượng lao động Việt Nam 15

1.5) Xuất khẩu lao động làm tăng ngoại tệ và tăng thu ngân sách nhà nước … 16

2) Thực trạng nền nông nghiệp Việt Nam 16

2.1) Thực trạng nền nông nghiệp Việt Nam trước khi gia nhập WTO17 2.2) Thực trạng nông nghiệp Việt Nam sau khi gia nhập WTO 17

3) Tiềm năng phát triển nền nông nghiệp chất lượng cao ở Việt Nam: 18

3.1) Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý 18

3.2) Điều kiện chính trị … 19

3.3) Nguồn lao động trong nông nghiệp: 19

3.4) Tiến bộ khoa học kĩ thuật áp dụng trong những năm gần đây 20

4) Điểm yếu của nông nghiệp Việt Nam- thách thức khi phát triển nền nông nghiệp chất lượng cao: 21

4.1) Cơ cấu cây trồng bất cân đối: 21

Trang 2

4.2) Mặt xấu của nguồn nhân lực ở nông thôn : 21

4.3) Các khó khăn thách thức khác: 22

III Giải pháp phát triển nông nghiệp chất lượng cao ở Việt Nam 22

1) Nhu cầu tất yếu phát triển nền nông nghiệp chất lượng cao 22

2) Bài học từ các quốc gia khác trên thế giới 27

2.1) Tích cực ……… 27

2.2) Tiêu cực ……… .30

3) Định hướng của nền nông nghiệp Việt Nam 31

3.1) Mục tiêu ……… 31

3.2) Định hướng ……… .32

KẾT LUẬN 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO 40

Trang 3

MỞ ĐẦU

Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đang hướng tới việc phát triểnnông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại hóa Bên cạnh các quốc gia vẫngiữ hướng phát triển nông nghiệp truyền thống, đã có không ít quốc gia bắt đầutiếp cận với nền nông nghiệp chất lượng cao để nâng cao hiệu quả nông nghiệp

“ Nông nghiệp chất lượng cao” không còn là một khái niệm mới me với nhiềunước trên thế giới như Mỹ, Israel, Nhật Bản Tuy nhiên đới với Việt Nam việcphát triển nền nông nghiệp theo hướng này vẫn chỉ đang ở những bước đầu Nước

ta vẫn khá quen với những nền nông nghiệp thâm canh với quy mô nhỏ lẻ, thiếutập trung Đó cũng là lý do nền nông nghiệp Việt Nam vẫn còn chiếm tỉ trọng nhỏtrong cơ cấu kinh tế (Về cơ cấu nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sảnchiếm tỷ trọng 18,12%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,50%; khu vựcdịch vụ chiếm 43,38% - năm 2014) Hơn nữa, chất lượng nông sản của nước ta vẫnchưa được đánh giá cao trên thị trường thế giới Số lượng nông sản xuất khẩu của ViệtNam vẫn chưa nhiều Đặc biệt, nông sản nước ta vẫn chỉ thâm nhập thị trường nướcngoài với chất lượng sản phẩm chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu khắt khe củanhiều nước trên thế giới Đây là một trong những nguyên nhân chính khiến cho ViệtNam nên áp dụng nền nông nghiệp chất lượng cao vào sản xuất Việc áp dụng nôngnghiệp chất lượng cao là phương pháp hiệu quả giúp nâng cao chất lượng nông sản cảtrong nước và xuất khẩu Phát triển nông nghiệp theo hướng chất lượng cao là mộtvấn đề cần thiết đối với nền nông nghiệp Việt Nam nói riêng và cả nền kinh tế nóichung

Muốn vậy trước hết chúng ta cần có cái nhìn cụ thể, chính xác về “nông nghiệp chấtlượng cao” Đồng thời phải thấy được những tiềm năng để phát triển nông nghiệp.Nâng cao chất lượng nông nghiệp cần được thực hiện một cách có hệ thống, tổ chức.Bài tiểu luận sẽ góp phần đưa ra cái khái niệm cụ thể hơn về nền nông nghiệp chấtlượng cao Sau đó đưa ra bức tranh về nền nông nghiệp chất lượng cao của một sốquốc gia tiêu biểu trên thế giới như Mỹ, Israel, Nhật Bản Bên cạnh đó còn chỉ ranhững tiềm năng cũng như hạn chế của Việt Nam trong việc phát triển nông nghiệpchất lượng cao Quan trọng hơn sẽ đưa ra một số giải pháp để giải quyết cũng nhưthúc đẩy nông nghiệp phát triển

Nông nghiệp chất lượng cao có vai trò rất lớn trong việc chuyển dịch cơ cấu nôngnghiệp cũng như nâng cao chất lượng nông nghiệp Đây chính là bước thúc đẩy ViệtNam trở thành một quốc gia có nền nông nghiệp phát triển trên thế giới

NỘI DUNG

I Khái quát về nền nông nghiệp chất lượng cao

1) Định nghĩa về nền nông nghiệp chất lượng cao

Nông nghiệp chất lượng cao là nền nông nghiệp phát triển với những phương thức

tổ chức sản xuất tiến bộ đáp ứng với yêu cầu về quy mô sản xuất mang tính hànghoá, tập trung, chuyên canh cao Các phương thức tổ chức sản xuất thích hợp làtrangj trại, gia trại… có quy mô lớn; hoặc có thể các nông hộ được tổ chức liên kếtsản xuất (các hợp tác xã kiểu mới)… nhằm hình thành các vùng chuyên canh, tậptrung

Trang 4

2) Đặc điểm của nền nông nghiệp chất lượng cao

-Sản phẩm chất lượng cao phải có ưu thế nổi trội về phẩm chất (như hương vị,mẫu mã, độ đồng đều, thành phần dinh dưỡng…)

- Sản phẩm mang tính độc đáo cao, giàu lợi thế so sánh trong cạnh tranh nhờnhững yếu tố giới hạn về phạm vi và qui mô phát triển như điều kiện sinh thái, kỹthuật thâm canh, phẩm chất giống… Những sản phẩm này được coi như những

“đặc sản” và luôn được ưa chuộng cao trên thị trường tiêu thụ

- Sản phẩm chất lượng cao đòi hỏi đáp ứng các chỉ tiêu về an toàn thực phẩm nhờđược sản xuất theo các qui trình kỹ thuật và công nghệ tiến bộ, hiện đại được quản

lý và xác nhận chất lượng ở phạm vi quốc gia và quốc tế

- Nhiều nước trên thế giới hiện áp dụng các chỉ tiêu của qui trình “Sản xuất nôngnghiệp tốt (GAP)” để xác nhận chất lượng nông sản đảm bảo an toàn vệ sinh thựcphẩm và xuất xứ của sản phẩm Tại Việt Nam hiện cũng đang thúc đẩy phát triểnnông sản sản xuất theo qui trình GAP với các tiêu chuẩn Viet GAP và Global GAPnhằm đáp ứng yêu cầu về chất lượng sản phẩm an toàn, sạch ngày càng cao của thịtrường nội tiêu cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia vào thị trưòngxuất khấu một cách hiệu quả, đặc biệt với những thị trưòng khó tính nhưng giàutiềm năng kim ngạch như các quốc gia Bắc Mỹ, EU, Úc v.v…

Như vậy, sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao cần hội đủ các yếu tố cả về phẩmchất lẫn về tiêu chuẩn sạch, an toàn cho người tiêu dùng Đây là những yếu tốmang lại lợi thế cạnh tranh cao cho nông sản chất lượng cao trên thị trường tiêuthụ thông thường cũng như những thị trường khắt khe, khó tính

Nông nghiệp chất lượng cao phát triển cơ bản dựa trên kỹ thuật sản xuất thâmcanh, ứng dụng hiệu quả các tiến bộ khoa học - công nghệ, trong đó nông nghiệpcông nghệ cao ngày càng khẳng định vai trò động lực thúc đẩy quá trính phát triểnnông nghiệp cả về lượng lẫn về chất

Ứng dụng công nghệ cao trong nông - lâm - ngư nghiệp là áp dụng một cách hợp

lý các kỹ thuật tiên tiến nhất trong chọn tạo giống mới, chăm sóc nuôi dưỡng cây,con bằng hệ thống thiết bị tự động, điều khiển từ xa, chế biến phân bón vi sinh chocây trồng, thức ăn chăn nuôi (gồm cả thuỷ sản), thuốc thú y, bảo vệ thực vật, côngnghệ tự động trong thuỷ lợi, công nghệ sau thu hoạch và chế biến nông - thuỷ sản,công nghệ xử lý chất thải bảo vệ môi trường… Trong đó, công nghệ sinh học giữvai trò chủ đạo trong việc phát triển nông nghiệp công nghệ cao

Việc ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp đã đem lại những bước phát triểnđột phá với những ưu thế trong sản xuất Cụ thể như hàng loạt giống mới được tạo

ra với những ưu thế về năng suất, chất lượng kháng sâu bệnh, chịu hạn, chịumặn… mang lại hiệu quả cao trong sản xuất , phương pháp canh tác hữu cơ saubệnh, an toàn vệ sinh thực phẩm, kỹ thuật canh tác trong nhà kính (có hệ thốngđiều khiển tự động hoặc bán tự động đối với các yếu tố nhiệt, ẩm, ánh sáng, phânbón, nước tưới…) giảm bớt sự lệ thuộc vào điều kiện tự nhiên Đồng thời, việc sửdụng các vật liệu mới như nilon che phủ để chống cỏ dại, giữ ẩm đất, có thể tựphân huỷ khi cây lớn, sử dụng các phế liệu nông nghiệp như trấu, mùn cưa… làmgiá thể trồng cây đảm bảo vô trùng, thoáng khí, giữ ẩm tốt, tự động hoá, cơ giới

Trang 5

hoá trong quá trình sản xuất, vận chuyển sản phẩm, chăm sóc, thu hoạch, bảoquản, chế biến nông sản…

Nông nghiệp chất lượng cao là nền nông nghiệp phát triển với những phương thức

tổ chức sản xuất tiến bộ đáp ứng với yêu cầu về qui mô sản xuất mang tính hànghoá, tập trung, chuyên canh cao

Các phương thức tổ chức sản xuất thích hợp là trang trại, gia trại… có qui mô lớn;hoặc có thể các nông hộ được tổ chức liên kết sản xuất ( các hợp tác xã kiểu mới)

… nhằm hình thành các vùng chuyên canh, tập trung Như vậy, nền nông nghiệphàng hoá chất lượng cao cần được phát triển có định hướng và được tổ chức sảnxuất với những phưong thức phù hợp, đảm bảo tính hợp lý và hiệu quả của qui môsản xuất, năng lực đầu tư đồng thời phát huy tính năng động trong quá trình pháttriển

3) Vai trò của nền nông nghiệp chất lượng cao

3.1) Đảm bảo an ninh lương thực

Nền nông nghiệp chất lượngcao giúp đảm bảo an ninh lương thực cho các quốc gia Vấn đề

an ninh lương thực luôn là một vấn đề đáng quan tâm của hầu hết các nước trên thế giới Đểđảm bảo điều này cần đến sự phối hợp của nhiều biện pháp, bao gồm: chính sách, cán cânxuất nhập khẩu và đặc biệt là việc phát triển nông nghiệp lương thực ở quốc gia Ngày nay,các nước đang dần tiến đến việc sản xuất lương thực nhằm mục đích xuất khâu Trước hết cầnđảm bảo nguồn lương thực dự trữ trong nước Phát triển nông nghiệp chất lượng cao sẽ là mộtbước tiến quan trọng trong ván đề đảm bảo an ninh lương thực

Nghiên cứu của các nhà khoa học 13 nước hàng đầu thế giới vừa được công bố ở London(Anh) cũng khẳng định vai trò và trách nhiệm của khoa học trong việc ngăn chặn khủnghoảng môi trường, đảm bảo cung cấp lương thực chất lượng và giảm tác động của biến đổikhí hậu Trong khi 12 triệu hécta đất nông nghiệp bị suy thoái hàng năm, các sự kiện thời tiếtcực đoan đã gây tổn thất nông nghiệp toàn cầu tới 11,4 tỷ USD trong năm 2011 Khoảng 1,3

tỷ tấn lương thực hàng năm, chiếm 1/3 sản lượng lương thực để nuôi sống con người trên toàncầu, đang bị tổn thất hoặc bị lãng phí

Thách thức trong vài thập kỷ tới là hòa nhập khoa học vào cuộc chiến tăng sản xuất lươngthực mà không gây tổn hại môi trường; đồng thời giảm tổn thất lương thực sau thu hoạch, gópphần tăng cường an ninh lương thực toàn cầu

Các chuyên gia Liên hợp quốc và các nhà khoa học quốc tế cũng nhấn mạnh trách nhiệm củakhoa học trong bối cảnh 1,4 tỷ người trên thế giới đang sống dưới mức nghèo khổ và 2 tỷngười đang sống ở các khu vực khô hạn Trong 4,9 tỷ hécta đất nông nghiệp trên thế giới, cótới 3,7 tỷ hécta đang được sử dụng để chăn thả và trồng các loại cây làm thức ăn cho gia súc.Chính vì thế vấn đề nông nghiệp chất lượng cao có vai trò thúc đẩy sản lượng lương thực, từ

đó đảm bảo cân bằng lương thực quốc gia Hiệun nay vấn đề biến đổi khí hậu đang trở thànhvấn đề nóng của toàn cầu Một nghiên cứu mới bao gồm các nhà nghiên cứu đến từ MIT(Viện công nghệ Massachusetts - Massachusetts Institute of Technology) đã chứng minhnhững mối tương tác nói trên có thể khá quan trọng, cho thấy những người làm chính sáchcần đưa cả hai yếu tố: ấm lên toàn cầu và ô nhiễm không khí vào để tính toán khi tìm cáchgiải quyết vấn đề an ninh lương thực

Nghiên cứu này đã xem xét chi tiết sản lượng toàn cầu của 4 loại cây lương thực hàng đầugồm: lúa gạo, lúa mì, ngô và đậu tương – chiếm hơn một nửa lượng calo tiêu thụ của conngười trên toàn cầu Nghiên cứu dự đoán các ảnh hưởng sẽ thay đổi rất đáng kể giữa các vùng

Trang 6

khác nhau, và một số loại cây lương thực bị tác động mạnh hơn so với loại cây lương thựckhác hoặc bị tác động mạnh hơn bởi các yếu tố khác: Ví dụ, lúa mì rất nhạy cảm với tiếp xúcozone, trong khi đó ngô lại bị tác động bất lợi nhiều hơn do nhiệt độ.

Nông nghiệp chất lượng cao sẽ giúp tăng năng suất đồng thời với các chính sách phát triểnxanh sẽ giúp giảm thiểu ảnh hưởng của môi trường đối với nông nghiệp

Theo ước tính của Liên Hiệp Quốc, dân số thế giới sẽ đạt 9 tỉ người vào năm 2050 Cùng với

sự gia tăng dân số, thế giới còn phải đối mặt với vấn đề biến đổi khí hậu, nhiên liệu hóa thạchtăng giá, hệ sinh thái suy thoái cũng như tình trạng khan hiếm đất và nước – tất cả đang khiếncác phương thức sản xuất lương thực hiện hành không còn bền vững Trước những thách thứcnày, sự cải tiến về công nghệ sản xuất nông nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng

Trang công nghệ TechNewsWorld của Mỹ có bài giới thiệu về nông nghiệp đô thị Nôngnghiệp đô thị là mô hình trồng trọt và chăn nuôi bên trong và xung quanh thành phố Nó đồngnghĩa với việc sản xuất lương thực ngay tại các khu vực dân cư đông đúc, với nhiều loại hìnhkhác nhau như vườn rau tự nhiên, vườn rau trong nhà lưới (ngăn sâu hại xâm nhập) và canhtác nông nghiệp trong môi trường có kiểm soát (CEA)

CEA là một công nghệ trồng trọt tiên tiến, kết hợp giữa kỹ thuật, khoa học cây trồng vànhững công nghệ quản lý dựa trên máy tính nhằm tối ưu hóa các hệ thống canh tác, chấtlượng cây trồng cũng như hiệu quả sản xuất Theo đó, nó cho phép nhà nông điều chỉnh cácyếu tố môi trường theo ý muốn, bao gồm nhiệt độ, ẩm độ, độ pH và hàm lượng dinh dưỡngtrong đất Mô hình trồng trọt này cho phép chuyển đổi các nhà máy, nhà kho, tòa nhà bị bỏhoang thành các trang trại hữu dụng

Với CEA, nhà nông kết hợp mô hình nuôi thủy sản với mô hình thủy canh (trồng cây trongnước) nhằm tạo ra hệ thống thủy canh tích hợp sinh học Đây là một hệ thống sản xuất lươngthực bền vững, kết hợp hài hòa giữa trồng các loại rau quả với nuôi thủy sản trong một môitrường cộng sinh, tuần hoàn và khép kín Không chỉ ứng dụng vào trồng trọt trong nhà, CEAcòn được các trường đại học hoặc công ty sử dụng vào việc nghiên cứu những thay đổi củamôi trường đối với cây trồng, chẳng hạn như nghiên cứu sự quang hợp khi so sánh một câyđược trồng dưới ánh sáng cảm ứng và một cây được trồng với ánh đèn LED

Như vậy nông nghiệp chất lượng cao có một vị trí quan trọng trong việc đảm bảo an ninhlương thực trước những thách thức về môi trường và dân số thế giới Nông nghiệp chất lượngcao sẽ là bước đệm đảm bảo nguồn lương thực dự trữ cũng như cung ứng cho xuất khẩu củaquốc gia Vì thế cần phải chú trọng phát triển nông nghiệp chất lượng cao để đảm bảo an ninhlương thực thế giới cả ở hiện tại và tương lai

3.2) Tăng sức cạnh tranh cho hàng nông sản trên thị trường

Sản phẩm nông nghiệp ngày càng gặp phải nhiều rào cản thương mại do các nướcnhập khẩu dựng lên dưới hình thức chống bán phá giá, chống trợ cấp, nhằm khốngchế thị phần, bảo hộ cho sản xuất trong nước Những rào cản kể trên đã trực tiếptác động làm giảm tính cạnh tranh công bằng của hàng nông sản các nước trên thịtrường thế giới

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc nâng cao sức cạnh tranh hàng nôngsản, đặc biệt là ở các nước nông nghiệp là việc làm vừa cấp bách, vừa lâu dài phảigắn liền trong tổng thể chiến lược xây dựng nền nông nghiệp chất lượng cao, đẩymạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nôngnghiệp và nông thôn

Có thể thấy rõ vai trò quan trọng của nền nông nghiệp chất lượng cao trong lộtrình nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản:

Trang 7

Xây dựng nền nông nghiệp chất lượng cao đi liền với cải tạo, phát triển các loạigiống có năng suất cao và áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, tổ chức lại sản xuất

sẽ tạo sức mạnh cung cấp cho thị trường những lô hàng nông sản lớn Thực hiện

cơ giới hóa, hiện đại hóa, xây dựng vùng nguyên liệu gắn với nhà máy chế biến vàthực hiện đa dạng hóa sản phẩm, phát triển các doanh nghiệp, hợp tác xã cổ phầnnông nghiệp, qua đó hình thành vùng sản xuất hàng hóa lớn trong nông nghiệp Cóchính sách thu hút đầu tư trong và ngoài nước, đặc biệt là đầu tư nước ngoài vàonông nghiệp, nhất là nông nghiệp công nghệ cao Đầu tư mạnh cho nghiên cứukhoa học (giống cây trồng và vật nuôi, kể cả những giống có gien chuyển đổi thíchnghi với điều kiện canh tác khắc nghiệt của nông dân vùng sâu, vùng xa); côngnghệ sau thu hoạch Những biện pháp này được thực hiện sẽ giúp tăng năng suất

và nâng cao chất lượng sản phẩm, là yếu tố quan trọng trước hết để hàng nông sản

có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới

Xây dựng nền nông nghiệp chất lượng cao đòi hỏi thực hiện đánh giá cụ thể, chọnlọc các mặt hàng nông sản có khả năng cạnh tranh để chú trọng phát triển cũngnhư có biện pháp khắc phục những yếu kém của những mặt hàng còn hạn chế vềkhả năng cạnh tranh trên thị trường Trong đó, chú trọng các giải pháp đồng bộ về

kỹ thuật và kinh tế làm cho sản phẩm thích ứng với thị trường Xác định rõ chủngloại và thị trường xuất khẩu chủ yếu, bảo đảm giống tốt cho cây trồng xuất khẩu.Xây dựng một danh mục hàng hóa nông sản cho xuất khẩu Lựa chọn những loạiđặc sản thị trường thế giới đang có nhu cầu lớn, dễ trồng mà các nước trong khuvực không có hoặc chưa chú ý sản xuất nhằm giảm bớt áp lực cạnh tranh, áp dụngkhoa học - kỹ thuật để tăng tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm Ðối với các sản phẩmchế biến cần lựa chọn loại sản phẩm xuất khẩu vào thị trường nào tương đối rộngrãi và chế biến thành nhiều loại sản phẩm khác nhau

Nền nông nghiệp chất lượng cao gắn liền với việc xây dựng và phát triển thươnghiệu cho các mặt hàng nông sản Việc xây dựng thương hiệu không khó, cái khó làlàm sao phát triển và giữ vững được thương hiệu sau khi đã xây dựng Muốn vậy,điều quan trọng nhất là phải bảo đảm chất lượng của nông sản đúng theo yêu cầucủa người tiêu dùng và của thị trường Việc hình thành các doanh nghiệp sản xuất,kinh doanh hàng nông sản có quy mô lớn, tăng cường xây dựng các chuỗi cungứng nông sản sẽ là cơ sở ban đầu để hình thành các thương hiệu mạnh của cácdoanh nghiệp và nông sản trên thị trường thế giới

Kiện toàn tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống thông tin thịtrường từ Trung ương đến các địa phương; thành lập các điểm thông tin thị trường

ở các vùng chuyên canh có tỷ suất hàng hóa lớn; phối hợp hoạt động của các điểmthông tin với hoạt động của các tổ chức khuyến nông, các câu lạc bộ, các hiệp hộingành hàng và doanh nghiệp; tăng cường việc theo dõi, nghiên cứu thị trườngquốc tế, thông tin kịp thời cho các doanh nghiệp và nông dân; duy trì và phát triểncác trang điện tử trên mạng Internet về nông sản và các doanh nghiệp sản xuất,kinh doanh hàng nông sản; đặt vấn đề với các tổ chức quốc tế, đề nghị trợ giúp kỹthuật xây dựng thí điểm sàn giao dịch nông sản và nâng cao năng lực xúc tiếnthương mại đối với hàng nông sản; có chính sách khuyến khích các địa phương,các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng nông sản tham gia các hội chợ nôngsản trong nước và quốc tế, xây dựng các trung tâm giao dịch và giới thiệu sảnphẩm nông nghiệp ở nước ngoài… cũng là những nhiệm vụ đặt ra để xây dựng nềnnông nghiệp chất lượng cao và nâng cao sức cạnh tranh cho các mặt hàng nôngsản

Ngoài ra, vai trò của Nhà nước đối với phát triển nền nông nghiệp chất lượng caocũng vô cùng quan trọng trong, thể hiện qua các chính sách hỗ trợ nhằm xóa đóigiảm nghèo và giúp đỡ nông dân trong phát triển sản xuất nông sản có quy mô lớn,sản xuất theo quy hoạch; thực hiện hợp đồng bán sản phẩm cho doanh nghiệp chế

Trang 8

biến và xuất khẩu; chính sách hỗ trợ nông dân mua sắm trang thiết bị phục vụ sảnxuất, sơ chế, chế biến, bảo quản nhằm nâng cao năng suất lao động và chấtlượng sản phẩm.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp nêu trên, với sự hợp tác, nỗ lực từ nhiều phía là

cơ sở để xây dựng nền nông nghiệp chất lượng cao, từ đó nâng cao sức cạnh tranhcủa hàng hóa nông sản góp phần xây dựng nền nông nghiệp ở các nước sớm đi lênsản xuất hàng hóa lớn và có thương hiệu quốc gia mạnh trên thị trường nông sảnthế giới

3.3) Nông nghiệp chất lượng cao gắn với phát triển bền vững

Phát triển bền vững là mối quan tâm trên phạm vi toàn cầu Khái niệm về pháttriển bền vững được đưa ra với sự động thuận cao của các quốc gia trên thế giới là:

“Phát triển bền vững là quá trình có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hai hoà giữa 3mặt của sự phát triển, đó là: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môitrường”

Phát triển nông nghiệp bền vững là một cấu thành quan trọng của phát triển bềnvững Phát triển nông nghiệp bền vững được hiểu một cách khái quát là: nâng caochất lượng môi trường và nguồn lực được dùng trong nông nghiệp nhằm thoả mãnnhu cầu nông sản cho con người và nhu cầu nguyên liệu cho công nghiệp, đảm bảokhả thi về kinh tế đi đôi với nâng cao chất lượng cuộc sống cho nông dân và ngôngthông trong dài hạn

Nền nông nghiệp chất lượng cao gắn với phát triển bền vững là nền nông nghiệpphát triển trên cơ sở thâm canh cao nên nông nghiệp chất lượng cao cũng được xácđịnh như một giải pháp đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững khi đồng thời hướngtới các mục tiêu hiệu quả cao về kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường Một số loạihình sản xuất của nông nghiệp chất lượng cao như: nông nghiệp ứng dụng côngnghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, canh tác sinh học - canh tác sinh thái… đều chútrọng không chỉ nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi mà còn đảmbảo để hệ môi trường sinh thái được cải thiện, bảo vệ một cách tích cực

Tại Việt Nam, trong những giai đoạn vừa qua, quá trình công nghiệp hoá, đô thịhoá đang diễn ra mạnh mẽ, tạo nên áp lực ngày càng cao trong khai thác, sử dungcác nguồn tìa nguyên, đặc biệt tài nguyên đất, nước… Trong bối cảnh đó, nôngnghiệp chất lượng cao là yêu cầu phát triển tất yếu nhằm góp phần nâng cao hiệuquả sản xuất và giảm thiểu các áp lực trong khai thác sử dụng tài nguyên thiênnhiên, bảo vệ môi trường sinh thái

4) Một số nền nông nghiệp chất lượng cao trên thế giới

4.1) Nền nông nghiệp Israel

Nền nông nghiệp Israel phát triển ở trình độ cao Bất chấp điều kiện địa lý khôngthích hợp cho nông nghiệp, Israel là một nhà xuất khẩu lớn của thế giới về nôngsản và đứng hàng đầu về công nghệ trong nông nghiệp Hơn một nửa diện tích đất

là sa mạc, điều kiện khí hậu khắc nghiệt và thiếu nước hoàn toàn không thích hợpcho nông nghiệp Tính đến năm 2014, 24,2% diện tích Israel là đất nông nghiệp.Hiện nay, nông nghiệp chiếm 2,5% tổng GDP và 3,6% giá trị xuất khẩu Mặc dùlao động trong nông nghiệp chỉ chiếm 3,7% tổng lực lượng lao động trong nước,Israel tự sản xuất được 95% nhu cầu thực phẩm, phần còn lại được bổ sung từ việcnhập khẩu ngũ cốc, các loại hạt lấy dầu, thịt, cà phê, ca cao, đường

Trang 9

- Thành tựu của nền nông nghiệp:

kể cả phục vụ thị trường nội địa lẫn xuất khẩu

 Quản lý đất đai

Đất đai ở Israel được nhà nước quản lý rất chặt chẽ và được tận dụng triệt để Nhà

ở của dân thì xây trên các triền núi đá, còn đất đồng bằng tuyệt đối sử dụng chotrồng trọt và canh tác Israel đi tiên phong trên thế giới trong lĩnh vực cải tạo đấthoang mạc, sa mạc thành đất nông nghiệp trù phú Có thể hiểu đơn giản quy trìnhnày như sau: San bằng đất hoang mạc, sỏi đá; Phủ lên đó 1 lớp đất dày, ít nhất là1/2 m; Trồng các loại cỏ hoặc cây dại không cần tưới nước khoảng từ 3-5 năm, đểbiến đất chết thành đất màu Sau quá trình cải tạo này, đất hoang mạc biến thànhđất nông nghiệp và được giao cho các chủ đất (nhà đầu tư) để tiến hành sản xuất

Do vậy, bước vào thế kỷ 21, Israel là nước duy nhất trên thế giới đã mở rộng đượcdiện tích rừng và quỹ đất nông nghiệp

 Đầu tư R&D và ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại trong sản xuất nông nghiệp

Các ứng dụng R&D có định hướng trong nông nghiệp đã được tiến hành tại Israel

từ đầu thế kỷ 20 Lĩnh vực nông nghiệp hiện nay của nước này hầu như gắn chặtvới khoa học và công nghệ, với các tổ chức Chính phủ, các viện nghiên cứu, côngnghiệp và hợp tác xã Tất cả phối hợp với nhau nhằm tìm kiếm các giải pháp đểgiải quyết các vấn đề trong nông nghiệp mà nước này gặp phải Đối mặt với hàngloạt các vấn đề, từ giống di truyền, kiểm soát bệnh dịch tới canh tác trên đất cằn,R&D trong nông nghiệp của Israel đã phát triển các công nghệ để tạo ra sự biếnchuyển ngoạn mục không chỉ trong số lượng mà cả chất lượng các sản phẩm nôngnghiệp của đất nước Các phát kiến nổi tiếng của Isreal được ứng dụng rộng rãitrong hoạt động nông nghiệp có thể kể đến như: công nghệ tưới nhỏ giọt, kén tồntrữ lương thực, kiểm soát côn trùng theo phương pháp sinh học, công nghệ chănnuôi bò sữa công nghiệp, sản xuất thực phẩm từ khí nhà kính… Chìa khóa củathành công này là nhờ các thông tin hai chiều giữa bản thân các nhà khoa học vàcác nhà nông Thông qua mạng lưới dịch vụ mở rộng nông nghiệp (và sự tích cựctham gia của nhà nông vào toàn bộ tiến trình R&D), các vấn đề trong nông nghiệpđược chuyển trực tiếp tới các nhà nghiên cứu để kiếm tìm giải pháp Từ đó, các kếtquả nghiên cứu khoa học cũng được nhanh chóng chuyển tới đồng ruộng để thửnghiệm, thích nghi và điều chỉnh

Trang 10

Israel là nước hàng đầu về xuất khẩu các thực phẩm được trồng trong nhà kính.Israel xuất khẩu hơn 1,3 tỷ USD sản phẩm nông nghiệp mỗi năm, ngoài ra cònxuất khẩu 1,2 tỷ USD các sản phẩm và công nghệ đầu vào cho nông nghiệp.

Nhằm hạ giá thành sản phẩm, tăng sản lượng, cải thiện chất lượng và tiết kiệmnhân công, các sáng chế về máy móc nông nghiệp cũng như thiết bị điện tử phụ trợ

đã được ra đời và áp dụng nhanh chóng và rộng rãi vào đời sống Đặc biệt là cácmáy móc, thiết bị phục vụ đất trồng trọt, chống xói mòn, các máy gieo hạt, thuhoạch và các thiết bị phù hợp cho thâm canh tăng vụ, tưới tiêu (tự động hóa)…Nhiều thiết bị tự động khác cũng được sử dụng trong chăn nuôi như máy vắt sữa,máy thu hoạch trứng, các hệ thống cho ăn tự động… và các máy móc phục vụ sauthu hoạch như máy phân loại sản phẩm, máy đóng gói, hệ thống kho trữ và đặcbiệt là hệ thống vận tải chuyên biệt Những công nghệ phát triển trong nước cũngchú trọng tới việc kiểm soát bón phân tự động hóa (thông qua hệ thống máy tính),

có thể bón phân qua nước tưới tiêu, các biện pháp kiểm soát độ ẩm, tạo môi trườngtrong lành cho trồng hoa, các thực phẩm trái mùa…

 Quản lý nhà nước về nông nghiệp

Bộ Nông nghiệp Israel hỗ trợ và kiểm soát toàn bộ các hoạt động nông nghiệp củađất nước, gồm cả việc duy trì các tiêu chuẩn cao đối với các sản phẩm cây trồng vàvật nuôi, đề ra các kế hoạch thúc đẩy, phát triển nông nghiệp thông qua các hoạtđộng nghiên cứu và thị trường (kể cả marketing) Từ nhiều năm nay, nông nghiệpIsrael được Chính phủ nước này kiểm soát chặt chẽ thông qua hệ thống trợ cấp sảnxuất và định mức nước tiêu thụ cho mỗi mùa vụ Hiện nay, nước này cũng kiểmsoát định mức sản xuất và chất lượng của một số sản phẩm nông nghiệp như sữa,trứng, gà con và khoai tây

Các chương trình nghiên cứu nhằm gia tăng lượng nước để tưới tiêu cũng đangđược tiến hành, chủ yếu thông qua tăng lượng nước mưa (tạo mưa nhân tạo), khửmặn trong nước và sử dụng các hệ thống lọc nước để tái sử dụng Các nghiên cứumới đã dẫn tới việc khai thác nước mặn ở các bể chứa nước khổng lồ tại sa mạcNegrev, dùng cho một số giống cây phù hợp

Cũng như nhiều nước khác, nông nghiệp Israel cũng phải chịu áp lực bởi lượngnhân công phục vụ trong lĩnh vực này ngày càng ít đi (giảm 40% từ năm 1960 tớinăm 1996) Mặc dù vậy, lượng nhân công ít ỏi trong nông nghiệp ngày nay lại đemlại sản lượng lớn hơn so với trước kia Trong đầu những năm 1950, một nông dân

có thể cung cấp đủ lương thực cho 17 người thì vào năm 1994, mỗi người trong số

họ đã có thể nuôi được 90 người

Trang 11

khoảng 0,7% Đất đai Mỹ có diện tích 9,161,923 km2, trong đó, đất khả canh chiếm 18,1% Theo thống kê nông nghiệp, công bố trong tháng 2 năm 2014 , thìnăm 2012, tổng số nông trại ở Mỹ có 2,109,363 cái, trung bình mỗi trại có diệntích 434 acres, ( 1 acre = 0.4015 ha ) Năm 2012, tổng giá trị nông phẩm đạt

$394.6 tỷ, tăng 33% so với năm 2007, trong đó thu về các sản phẩm trồng trọt

$219.6 tỷ, sản phẩm chăn nuôi đạt $171.7 tỷ

Mỹ là nước dẫn đầu thế giới về xuất cảng nông phẩm, xuất cảng đậu nành đạt

$24.7 tỷ, chiếm 50.5%, bắp, đạt kim ngạch $9.3 %, luá mi $8.2 tỷ, chiếm 18% thịphần xuất cảng nông phẩm của toàn thế giới.Từ năm 1960 đến năm 2014, Mỹluôn luôn có thặng dư về mậu dịch nông nghiệp, xuất khẩu nông nghiêp năm 2012đạt $141.3 tỷ, và ước tính năm 2014 đạt $149.5 tỷ, chiếm hơn 10% tổng số kimngạch xuất khẩu của toàn ngành và thặng dư mậu dịch nông nghiệp lên đến trên $38.5 tỷ

- Thành tựu của nền nông nghiệp:

 Cơ giới hóa nền nông nghiệp

Vào đầu thế kỷ 20, phải có 4 nông dân mới sản xuất nông phẩm đủ nuôi cho 10người, ngày nay, một nông dâm Mỹ có thể cung cấp đủ lương thực nuôi 100 người

Mỹ và 32 người đang sống tại các nước trên thế giới

Cơ giới hoá nông nghiệp được thực hiện rất sớm tại Hoa kỳ, nhưng phát triểnmanh nhất là vào những thập niên 1940 đến thập niên 1970, thời kỳ kết hợp cơgiới với việc sử dụng phân hoá học, cải tiến hạt giông và là giai đoạn thực hiệncách mạng xanh Năm 1907, cả nước chỉ có 600 máy kéo, đến năm 1950 , số máykéo lên đến 3,400,000 cái Chi phí máy móc chiếm một tỷ lệ rất lớn trong tồng chiphí đầu tư vào sản xuất nông nghiệp Có những máy liên hoàn , kết hợp máy kéovới máy cày, máy gieo trồng, máy gặt, rất hiện đại giá mỗi cái giá $100,000 Cơgiới hoá gần như thay thế sức người, sức vật tại Mỹ Sự kết hợp cơ giới với cải tiếntrong kỹ thuật canh tác và chế biến nông sản đang làm thay đổi phương pháp sảnxuất và phân phối lương thực tại Mỹ và tại các nước trên toàn thế giới

Nhờ cơ giới hoá và cải thiện kỹ thuật trồng trọt, kỹ thuật chăn nuôi gia súc, sảnlượng nông nghiệp tăng lên đến 75% mỗi năm, giải quyết được nạn thiếu hụt thựcphẩm trên thế giới Cơ giới hoá là một bước tiến rất lớn trong ngành nông nghiêp

Mỹ và các nước trên toàn thế giới

 Ứng dụng khoa học kĩ thuật trong sản xuất nông nghiệp

Trên thế giới, kỹ thuật trông cây GMC đã áp dụng từ năm 1996 trên diện tích 17triêu ha, đến năm 2013 diện tích trông cây GMC tăng lên 100 lần với diện tích 175triêu ha Năm 2012 , nước Mỹ có 69.5 triệu ha cây trồng biến đổi gen, bao gồmđâu nành, bắp, bông vài, củ cải đường, đu đù và vài loại hoa màu khác Hiện nay,

tỷ lệ đất trồng cây biến đổi gen chiếm một tỷ lệ rất lớn, 98% với củ cải đường,91% với đậu nành, 88% với bông vải, và 85% đối với bắp

Nhờ tạo được cây trồng chuyển đổi gen, có đặc tính mới, như chiu được khí hậulạnh hoặc nóng, trồng đưọc trên đất mặn, có đặc tính chống được sâu bệnh, chống

cỏ dại, kéo dài thời gian bảo quản, nông sản thu hoạch nhiều và lâu hư thối Điểmnổi bật là loại cây trông GMC cải thiện được môi trường vì ít dùng thuốc trừ sâu,

Trang 12

ít dùng thuốc diệt cỏ, khí hậu bớt ô nhiễm, giảm bớt lượng CO2 Nông dân ít tiếpxúc hoá chất, người tiêu thụ được hưởng thức ăn bổ dưỡng hơn, thực phảm ít chứachất độc hại.

Theo ước tính từ giai đoạn 1996 đến 2012 , nhờ áp dụng trồng cây GMC, thu nhâp

đã gia tăng $117 tỷ, trong đó 58% do giảm chi phí sản xuất, 42% do tăng năngsuất

Việc áp dụng kỹ thuật sinh học trong nông nghiệp có nhiểu mặt tích cực, tuy nhiêncũng có một số tiêu cực đang bàn cãi như làm thay đổi đặc tính thiên nhiên, làmgia tăng dị ứng do cây trồng mới mang lại, một số vi trùng gây bệnh sẽ kháng lạithuốc chữa trị Mặt khác, kỹ thuật trồng cây GMC theo diện đại trà, đã làm chocác công ty chuyên cung cấp giống, như Monsanto, Syngenta, thu được một sốtiền lời quá lớn, lợi tức phân bổ không cân đối giữa các công ty cung cấp hạt giống

và nông dân sản xuất

Nước Mỹ sẽ là vựa lương thực, cung cấp, nuôi sống dân sô của toàn thế giới Vớisức mạnh của nông nghiệp Mỹ, trong tương lai, ngành nông nghiệp Mỹ sẽ là mộtkhí giới bảo vệ nước Mỹ Sức mạnh của nông nghiệp Mỹ, một ngày nào, có thể làkhí giới mạnh hơn bất kỳ loại khí giới nào hiện có trên thế giới

4.3) Nền nông nghiệp Nhật Bản

Trước khi trở thành một trong vài nước công nghiệp hàng đầu thế giới, Nhật Bảncũng là một nước nông nghiệp với tỉ lệ nông dân trong tổng dân số tương đươngvới Việt Nam Trước Minh Trị Duy Tân vào năm 1868, tới 80% dân số Nhật Bảnlàm nghề nông và lúa là nông sản chính Các phương pháp thâm canh cần nhiềulao động được phát triển vì mỗi hộ gia đình chỉ có một diên tích ruộng hạn chế.Những đặc điểm nông nghiệp này đã làm gia tăng các thông lệ trong canh tác cũngnhư những tập tục ảnh hưởng đến toàn bộ nền văn hóa Nhật Bản

- Thành tựu của nền nông nghiệp:

 Phát triển khoa học-kỹ thuật nông nghiệp

Để phát triển nông nghiệp, Nhật Bản coi phát triển khoa học-kỹ thuật nông nghiệp

là biện pháp hàng đầu Nhật Bản tập trung vào các công nghệ tiết kiệm đất như:tăng cường sử dụng phân hoa học; hoàn thiện công tác quản lý và kỹ thuật tướitiêu nước cho ruộng lúa; lai tạo và đưa vào sử dụng đại trà những giống khángbệnh, sâu rầy và chịu rét; nhanh chóng đưa sản xuất nông nghiệp sang kỹ thuậtthâm canh, tăng năng suất

Để phát triển khoa học-kỹ thuật nông nghiệp, Nhật Bản chủ yếu dựa vào các việnnghiên cứu nông nghiệp của Nhà nước và chính quyền các địa phương Viện quốcgia về khoa học nông nghiệp được thành lập ở cấp Nhà nước là cơ quan có tráchnhiệm tổng hợp gắn kết toàn bộ các viện nghiên cứu cấp ngành thành một khối.Bên cạnh đó, các viện nghiên cứu nông nghiệp cũng tăng cường liên kết nghiêncứu vối các trường đại học, các xí nghiệp tư nhân và các hội khuyến nông; liên kếtvối các tổ chức này và các tổ chức của nông dân để giúp nông dân tiếp cận côngnghệ, trang thiết bị tiên tiến, giúp tăng năng suất, chất lượng, đảm bảo nông nghiệptăng trưởng ổn định

Trang 13

Từng hộ sản xuất riêng lẻ, vối quy mô quá nhỏ thì không thể có đủ điều kiện kinh

tế và kỹ thuật để HĐH quá trình sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn Năm 1995 sốlượng nông trại giảm 791 nghìn cái (giảm 18,7%) so vối năm 1985 Quy mô ruộngđất bình quân của một nông trại có sự thay đổi theo hướng tích tụ ruộng đất vàocác trang trại lớn để tăng hiệu quả sản xuất Xu hướng này thể hiện rõ nhất tronggiai đoạn 1990-1995, qui mô đất lúa bình quân/hộ tăng từ 7180m2 lên 8120m2

 Phát triển sản xuất có chọn lọc, nâng cao chất lượng nông sản

Bước ngoặt của chính sách nông nghiệp của Nhật Bản thực sự bắt đầu khi LuậtNông nghiệp cơ bản được ban hành vào năm 1961, với hai phương hướng chínhsách chủ yếu: Phát triển sản xuất có chọn lọc, cụ thể là đẩy mạnh sản xuất nhữngsản phẩm có nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng và giảm sản xuất những nông phẩm

có sức tiêu thụ kém; Hoàn thiện cơ cấu nông nghiệp, kể cả việc phát triển nhữngnông hộ và HTX có năng lực về quản lý kinh doanh và canh tác

Trong những năm 1960 và 1970, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Nhật đãđẩy thu nhập của nhân dân tăng đáng kể Cũng trong thời gian này, lao động trongnông nghiệp giảm xuống khoảng 50%, song năng suất lao động lại tăng bình quânhàng năm 5-8% nhờ tăng cường cơ giới hoa và cải tiến quy trình kỹ thuật Đây là

tỷ lệ tăng bình quân cao nhất ở những nước phát triển

Các ngành thực phẩm chế biến phát triển, giúp cho người dân sống ở nông thôn cóthêm nhiều việc làm, thu nhập được cải thiện, do đó Nhật Bản đã tạo cho mìnhmột thị trường nội địa đủ lốn cho hàng hoa công nghiệp tích lũy lấy đà chuyểnsang xuất khẩu Khi sản xuất hàng hóa lớn phát triển, Nhật Bản tập trung đất đai,

mở rộng quy mô sản xuất, phát triển nông hộ lớn hoặc trang trại để tạo điều kiện

cơ giới hóa, tăng năng suất lao động, tăng khả năng cạnh tranh

 Phát triển các hợp tác xã và các tổ chức kinh tế hợp tác xã dịch vụ

Hợp tác xã có vị trí rất quan trọng trong phát triển nông nghiệp ở Nhật Bản Hầuhết những người nông dân đều là xã viên của HTX nông nghiệp Chính phủ rất coitrọng thể chế vận hành các HTX nông nghiệp và đã ban hành, thực hiện nhiềuchính sách giúp đỡ phát triển, không ngừng mở rộng quy mô sản xuất nhằm giúp

Trang 14

người nông dân thoát khỏi cảnh đói nghèo và cùng hội nhập vào nền kinh tế thếgiới Theo Luật Hợp tác xã nông nghiệp, năm 1972 Liên hiệp các HTX nôngnghiệp quốc gia Nhật Bản chính thức được thành lập và được Chính phủ giao thựchiện các mục tiêu về phát triển nông nghiệp và nông thôn Hệ thống HTX nôngnghiệp Nhật Bản được phân làm 3 cấp, hoạt động vối tôn chỉ dựa vào sự nỗ lựchợp tác giữa các HTX nông nghiệp cấp cơ sở, các liên đoàn cấp tỉnh và cấp trungương tạo thành một bộ máy thống nhất hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương.Vai trò của các HTX và tổ chức kinh tế HTX dịch vụ đã thúc đẩy quá trình tích tụ,tập trung ruộng đất và chuyên môn hóa sâu theo hướng thương mại hóa trong nôngnghiệp nước này.

II Nền nông nghiệp VIỆT NAM

1) Vai trò nông nghiệp với nền kinh tế Việt Nam

4.4) Nông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hàng năm của Việt Nam

Để nghiên cứu vai trò của SX nông nghiệp đối với tăng trưởng GDP ở Việt Nam ta quansát số liệu từ năm 2000 đến 2014 và sử dụng mô hình định lượng như sau:

a) Số liệu năm 2000 – 2014

Bảng 1 ghi lại giá trị Tổng sản phẩm quốc nội GDP, ước tính theo giá hiện hành của quý

I năm 2015 và Tổng giá trị SX nông nghiệp theo các năm 2000 – 2015

Năm

GDP ước tính theo giá hiện hành (quý I 2015) (tỷ đồng)

Giá trị SX nông nghiệp (tỷ đồng)

Cơ cấu của giá trị

SX nông nghiệp/ GDP (%)

Trang 15

Theo bảng trên, giá trị SX nông nghiệp luôn chiếm tỉ trọng lớn trong tổng sảnphẩm quốc nội, từ 18 – 20% Có thể nhận xét rằng theo lộ trình công nghiệp hóacủa đất nước, cơ cấu SX nông nghiệp với tổng sản phẩm SX trong nước giảm nhẹ,nhưng vẫn ở tỉ lệ cao (18,2% năm 2014)

b) Phân tích vai trò của SX nông nghiệp đến GDP hàng năm và tăng trưởng GDP –

mô hình kinh tế lượng giản đơn

Sử dụng phân tích kinh tế lượng ta ước lượng sự phụ thuộc GDP của VN hàng năm vào 2

- Biến Giá trị SX nông nghiệp (NN)

- Biến Giá trị GDP bị giảm trong những năm Việt Nam chịu ảnh hưởng từ khủng hoảngkinh tế (từ năm 2008) (KH) Biến KH là biến giả , nhận giá trị “0” khi Việt Nam chưachịu khủng hoảng kinh tế, giá trị “-1” trong những năm khủng hoảng

Mô hình hồi quy lý thuyết:

0

Trang 17

Sử dụng phần mềm phân tích Kinh tế lượng Gretl cho ta kết quả:Model 1: OLS, using observations 1-15

Dependent variable: GDP

Heteroskedasticity-robust standard errors, variant HC1

coefficient std error t-ratio p-value

const -223263 42677.3 -5.231 0.0002 ***

NN 6.04241 0.270263 22.36 3.78e-011 ***

KH 287398 74919.7 3.836 0.0024 ***

Trang 18

Mean dependent var 1593111 S.D dependent var 1162649

Sum squared resid 1.51e+11 S.E of regression 112256.4

R-squared 0.992009 Adjusted R-squared 0.990678

F(2, 12) 463.3911 P-value(F) 4.36e-12

Kết quả cho ta hệ số α NN=6.04

Vậy, SX nông nghiệp đóng góp một phần lớn trong tăng trưởng GDP của VN, khi giátrị SX nông nghiệp tăng 1 tỷ đồng thì trung bình tổng sản phẩm quốc nội tăng 6.04 tỷđồng Trong những năm Việt Nam chịu ảnh hưởng của khủng khoảng kinh tế (từ năm2008) trung bình tổng sản phẩm quốc nội bị giảm do chịu ảnh hưởng khủng hoảng là

287398 tỷ đồng

4.5) Nông nghiệp cung cấp nguyên liệu đầu vào cho công nghiệp chế biến

Chế biến nông sản, thực phẩm là chế biến sản phẩm của ngành trồng trọt và chăn nuôi.Muốn có nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến phải phát triển nông nghiệp Ta xét

số liệu sản lượng cây công nghiệp của nước ta năm 2014:

nghiệp

Sản lượng(nghìn tấn)

Cà phê (nhân) 1055.8Cao su (Mủ

Nông nghiệp có vai trò chủ đạo trong việc cung cấp đầu vào cho các ngành công nghiệpchế biến

Đảm bảo nguyên liệu cho sản xuất thực chất là đảm bảo một trong các yếu tố chủ yếu củasản xuất, nghiên cứu ưu nhược điểm trong công tác cung cấp nguyên liệu đồng thời cóbiện pháp đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời, đúng chủng loại và quy cách phẩm chất

4.6) Nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm cho nhu cầu trong nước, đảm bảo an ninh lương thực

Nhu cầu về lương thực thực phẩm là nhu cầu cơ bản, cần thiết nhất trong phát triển kinh tế

Do đó, việc phát triển nền nông nghiệp Việt Nam thoả mãn các nhu cầu về lương thực,thực phẩm trở thành điều kiện quan trọng để ổn định xã hội, ổn định kinh tế Bảo đảm nhucầu về lương thực, thực phẩm không chỉ là yêu cầu duy nhất của nông nghiệp, mà còn là

cơ sở phát triển các mặt khác của đời sống kinh tế - xã hội

Trang 19

Trong phạm vi ví dụ, ta sẽ phân tích sản lượng của lương thực chính ở Việt Nam: lúa gạo.Theo ước tính của bộ nông nghiệp Mỹ USDA, sản lượng lúa của Viêt Nam năm 2014 đạt44,8 triệu tấn, sản lượng gạo 28 triệu tấn Việt Nam nhập khẩu phần lớn gạo từ Căm-pu-chia và một lượng nhỏ gạo nếp từ Lào được dùng để đáp ứng nhu cầu trong nước, do phầnlớn gạo được trồng ở đồng bằng sông Cửu Long hoàn toàn phục vụ cho hoạt động xuấtkhẩu Kim ngạch nhập khẩu gạo của Việt Nam từ Căm-pu-chia mùa vụ 2013/14 vẫn duytrì ở mức 100.000 tấn Tuy không có số liệu chính thức về lượng gạo nhập khẩu, vì lúa từCăm-pu-chia được chuyển vào Việt Nam phần lớn qua đường tiểu ngạch thông qua nhữngchiếc thuyền nhỏ, khiến cho việc theo dõi rất khó khăn, nhưng để đáp ứng nhu cầu trongnước năm 2014 Việt Nam sản xuất được 28 triệu tấn gạo, so với kim ngạch nhập khẩu gạo

từ Campuchia chỉ 100.000 tấn, nông nghiệp SX lúa gạo của Việt Nam đáp ứng hầu hết

nhu cầu trong nước, tạo nền tảng vững cahwcs cho phát triển an ninh lương thực.

4.7) Nông nghiệp tạo việc làm cho bộ phận lớn lực lượng lao động Việt Nam

Bảng sau gồm các số liệu về cơ cấu lao động theo ngành nông nghiệp, công nghiệp vàdịch vụ giai đoạn 2000 – 2012:

Cơ cấulao độngtheongành(%)

Nôngnghiệp

Côngnghiệp

Dịchvụ

Trang 20

Lực lượng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp là lực lượng lao động đông đảo nhất, cóvai trò quan trọng trong phát triển kinh tế đất nước.

4.8) Xuất khẩu lao động làm tăng ngoại tệ và tăng thu ngân sách nhà nước

Việt Nam tập trung xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp có sức cạnh tranh cao như lúagạo, cà phê, thủy sản… Năm 2014, giá trị xuất khẩu mặt hàng nông nghiệp của Việt Namđạt 30,8 tỷ USD, tăng 11,2 % so với năm 2013 (theo Tổng cục thống kê).Trong 3 thángđầu năm 2015, tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp là 6,13 tỷ USD

Việt Nam là một trong những quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới, với nhiềuloại sản phẩm đạt kim ngạch hàng tỷ USD mỗi năm Xuất khẩu nông nghiệp không chỉmang lại nguồn ngoại tệ lớn, tham gia thị trường trao đổi và là công cụ điều hành nền kinh

tế, tăng thu ngân sách nhà nước mà còn thúc đẩy cơ hội kí kết nhiều hiệp định như TPP,VCUFTA, RCEP…

5) Thực trạng nền nông nghiệp Việt Nam

5.1) Thực trạng nền nông nghiệp Việt Nam trước khi gia nhập WTO

a) Cơ sở hạ tầng và khoa học kĩ thuật áp dụng vào SX nông nghiệp kém chất lượng

Việt Nam là quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới, với nhiều mặt hàng đạt giá trịkim ngạch hơn một tỷ USD mỗi năm Tuy vậy hiện tượng mất giá kém cạnh tranh của sảnphẩm nông nghiệp liên tục xảy ra trong những năm trước 2007

Việc phần lớn phụ thuộc vào nguồn vốn trong nước làm cơ sở hạ tầng và khoa học kĩthuật của Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp nghèo nàn và yếu kém Năng suất sản xuấtthấp, giá thành sản phẩm cao, chất lượng thấp và mẫu mà không hấp dẫn làm giảm nănglực cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu Sản phẩm nông nghiệp chất lượngcao của nước ngoài có chất lượng cao, sản lượng lớn, giá thành cạnh tranh có sức cạnhtranh rất lớn Tiềm lực về tài chính của các doanh nghiệp cũng như cơ sở hạ tầng và nềntảng khoa học kĩ thuật thể hiện năng lực và tiềm lực của cả nền sản xuất, khi các mặt kểtrên chưa tốt thì nền sản xuất có nhiều bất lợi và rủi ro Trong thời gian này, “Cú hích bênngoài” – dòng vốn đầu tư và chuyển giao công nghệ từ các quốc gia lớn là rất cần thiết,đồng thời có thêm nhiều sự cạnh tranh cũng là động lực cho nền sản xuất trong nước nóichung

b) Xuất khẩu nông nghiệp gặp nhiều khó khăn khi tìm kiếm thị trường và cạnh tranhtrên trường quốc tế

Như phân tích ở trên, sản phẩm nông nghiệp Việt Nam trước năm 2007 có giá thànhcao, số lượng chưa nhiều, chất lượng thấp, mẫu mã chưa hấp dẫn Đây là những tháchthức cho nông sản Việt Nam khi xuất khẩu ra thị trường ngoài nước Vì vậy xuất khẩunông sản Việt Nam vẫn chủ yếu ở dạng thô và nhằm vào những thị trường dễ tính Việcthâm nhập những thị trường lớn như Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc vẫn cònrất khó khăn với các doanh nghiệp Việt Nam

Bên cạnh đó việc chưa gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới mang lại ít cơ hội mởrộng thị trường và đàm phán, cùng với việc “thông tin thị trường” không đầy đủ tiềm ẩnnhiều rủi roc ho nhiều mặt hàng xuất khẩu Nhiều năm, Trung Quốc là thị trường nhậpkhẩu nông sản chiếm tỷ trọng lớn của Việt Nam, bởi đây là thị trường "dễ tính", tiêuchuẩn thấp, không có hàng rào kỹ thuật… Tuy nhiên, sự "dễ tính" này cũng tiềm ẩn nhiềurủi ro và ngày càng làm giảm giá trị của hàng nông sản Việt Nam

Trang 21

5.2) Thực trạng nông nghiệp Việt Nam sau khi gia nhập WTO

2 Thuận lợi thứ 2 đó là Việt Nam đã được tăng vốn đầu tư và chuyển giao côngnghệ cao từ các quốc gia khác Tuân thủ các quy định luật lệ của WTO, VIệt Nam đãxây dựng và củng cố niềm tin của các quốc gia khác trong cơ chế chính sách của mình,

do đó đã thu hút được đầu tư nước ngoài vào nước nhà

3 Đồng thời Việt Nam có cơ hội thuận lợi để tiếp cận nguồn vốn vay, các hìnhthức tín dụng và các tổ chức tài chính quốc tế như WB, IMF… Quá trình hội nhậpWTO cũng góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam Hơn thế nữatrong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy giảm thì nông nghiệp vẫn đứng vững

4 Khi gia nhập WTO, ngành trồng trọt Việt Nam còn được những cơ hội lớn đểphát triển, do các loại thuế phải được cắt giảm theo đúng lộ trình: Khi thuế nhập khẩuvật tư nông nghiệp được cắt giảm dần thì người nông dân có cơ hội được mua các loạivật tư nông nghiệp với giá rẻ hơn trước đây Không những giá vật tư nông nghiệpnước ngoài nhập vào giảm mà bản thân các nhà cung cấp dịch vụ này trong nước cũngphải điều chỉnh giá để cạnh tranh (Vật tư nông nghiệp bao gồm: phân bón, thuốc bảo

vệ thực vật, giống cây trồng, máy móc nông nghiệp, )

Trong số đó, giống cây trồng là loại hàng hoá được cắt giảm thuế suất thuế nhập khẩuxuống còn rất thấp, thậm chí tới mức 0% Đây là một trong những thuận lợi rất lớn đốivới sản xuất nông nghiệp

b)Khó khăn

1 Những ngành ít có lợi thế so sánh sẽ bị sức ép nhiều hơn như: mía đường, sữa,bong, chăn nuôi,

2 Nông sản chế biến chịu nhiều sức ép hơn so với nông sản thô

3 Giá thành cao, sản xuất manh mún là những yếu tố khiến ngành nông nghiệpkhông thể có được những đơn hàng lớn Các giống cây con mới nhập vào nước tađược bán với giá rất đắt, bà con lại không thể nhân giống vì vấn đề bản quyền là trởngại rất lớn Nhiều mặt hàng nông nghiệp của ta giá cao hơn nước ngoài chất lượng lạikhông đảm bảo Khả năng chuyển từ xuất khẩu thô lên chế biến với thương hiệu riêngcòn đòi hỏi một quá trình dài

4 Ngành chăn nuôi cơ bản vần là phân tán, trình độ thấp Giá thành cao, chấtlượng thấp không đáp ứng yêu cầu hội nhập Sản phẩm chăn nuôi trong nước còn phảiđối mặt với việc trợ cấp từ các nước giàu

5 Sau hội nhập, xuất khẩu tiếp tục đối mặt với các rào cản kỹ thuật và áp lực sảnxuất nước ngoài Đã từng có một xu thế ảo tưởng cho rằng việc gia nhập WTO, cơ hội

để hàng VN thâm nhập thị trường thế giới sẽ dễ dàng nhưng điều này chỉ đúng trênbình diện xu thế, nhưng hoàn toàn không đúng trong ngắn hạn, đặc biệt trong bối cảnhthị trường thế giới bị suy thoái

6 Chưa chuẩn bị tốt về năng lực bảo vệ người tiêu dung nội địa Sau những nămđầu hội nhập WTO, những hạn chế về chế tài, về phân định chức năng nhiệm vụ của

bộ máy triển khai, và năng lực con người đã làm cho VN gặp phải thách thức rất lớnđối với các vấn đề an toàn thực phẩm Ở thị trường nội địa vấn đề vệ sinh an toàn thực

Trang 22

phẩm gặp nhiều vấn đề với cả sản phẩm sản xuất trong nước và sản phẩm nhập khẩu.Thực tế hiện nay cho thấy tình trạng tồn dư các chất có hại cho sức khỏe con ngườitrong nông sản đang còn khá cao.

7 VN đã thực hiện cắt giảm thuế suất nhập khẩu cao hơn cả mức cam kết vànhanh hơn mức cam kết theo lộ trình cho dù trước đó khi đàm phán VN đã nỗ lực đểnâng được mức thueest suất lên cao hơn cho nhóm mặt hàng thịt để bảo hộ ngành chănnuôi trong nước

6) Tiềm năng phát triển nền nông nghiệp chất lượng cao ở Việt Nam:

6.1) Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý

Sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Trong đó có nhữngyếu tố tác động trực tiếp đến kết quả sản xuất nông nghiệp như: đất đai, lao động,vốn , công nghệ, thời tiết khí hậu… Điều này thể hiện rõ qua hàm sản xuất: Q = f( x1, x2…xn) trong đó: Q là sản lượng, x1 x2 các yếu tố sản xuất có ảnh hưởngtrực tiếp đến sản xuất nông nghiệp Việt Nam nằm hoàn toàn trong vành đai nhiệtđới của bán cầu Bắc, thiên về chí tuyến hơn là xích đạo Vị trí đó đã tạo cho ViệtNam một nền nhiệt độ cao Nhiệt độ trung bình năm từ 22- 26 độ Hàng năm cókhoảng 100 ngày mưa với lượng mưa trung bình từ 1500 đến 2000mm Độ ẩmkhông khí trên dưới 80% Số giờ nắng khoảng 1500- 2000 giờ, nhiệt bức xạ trungbình năm 100kcal/cm2 Chế độ gió mùa cũng làm cho tính chất nhiệt đới ẩm củakhí hậu nước tat hay đồi Nhìn chung Việt Nam có một mùa nóng mưa nhiều vàmột mùa tương đối lạnh, ít mưa Những đặc điểm này đem lại cho nông nghiệpnhiều thuận lợi cơ bản Với lượng mưa tương đối lớn, đảm bảo nguồn nước ngọtphong phú cho sản xuất và đời sống, có nguồn năng lượng mặt trời tương đối dồidào, tập đoàn cây trồng và vật nuôi phong phú, có giá trị kinh tế cao Tính chấtnhiệt đới ẩm gió mùa cùng với vị trí địa lý thuận lợi gần biển là một điều kiệntuyệt vời cho sự phát triển của nông nghiệp Việt Nam Chúng ta có 2 đồng bằngphù sa lớn đó là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long- 2 vựa lúaquan trọng của cả nước- chính nhờ vị trí gần biền và thời tiết thuận lợi của nướcnhà Bên cạnh đó, mạng lưới sông ngòi dày đặc, bao gồm hạ lưu, chi lưu của cáccon sông lớn như sông Hồng, sông Thái Bình và sông Cửu Long, cùng với cácsông nhỏ chảy trong các ô nội địa khác cũng góp phần bồi đắp, tạo nên nhữngđồng bằng phù sa màu mỡ thuận lợi cho sự phát triển của nông nghiệp

6.2) Điều kiện chính trị:

Không giống như một số nước khác, Việt Nam có một nền chính trị khá ổn định, tình hình

xã hội bình yên tạo điều kiện cho sự phát triển của kinh tế nói chung và cho nông nghiệpnói riêng Chính vì điều kiện chính trị của Việt Nam ổn định nên các nhà đầu tư nướcngoài vào nước ta có niềm tin để rót vốn vào, FDI tăng lên rất nhanh

6.3) Nguồn lao động trong nông nghiệp:

Cơ cấu dân số Việt Nam thuộc nhóm “cơ cấu dân số trẻ”- là một điều kiện thuận lợi cho

sự phát triển không chỉ nông nghiệp mà còn các ngành kinh tế khác Dưới đây là bảng cơcấu dân số chia theo số tuổi:

Ngày đăng: 16/11/2019, 20:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w