Tóm tắt các kết quả mới của luận án:Kết quả công trình nghiên cứu sẽđược thể hiện ở 3 phần cơ bản sau: •Nhóm tài liệu: bao gồm tập hợp các tài liệu liên quan đến nội dung của luận án, bao gồm các công trình nghiên cứu, bài viết, đề tài… liên quan đến thu hồi tài sản tham nhũng trên thế giới và ở Việt Nam.•Nhóm bài viết: một số bài viết được đăng trên các tạp chí chuyên ngành luật hoặc báo cáo tổng thuật, kỷ yếu hội thảo…•Nhóm báo cáo luận án: Bản luận án theo hướng dẫn và bảo vệ thành công trước hội đồng chấm luận án.Với các kết quảđạt được, Luận án có thểđược sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nước hữu quan trong việc hoạch định và thực thi chính sách, pháp luật thu hồi tài sản tham nhũng. Bên cạnh đó, Luận án cũng có thểđược coi như một tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy về phòng, chống tham nhũng tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội và các cơ sởđào tạo khác ở Việt Nam.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THU HUYỀN
PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI TÀI SẢN
THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THU HUYỀN
PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI TÀI SẢN
THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Mã số: 9380101.01
Nghiên cứu sinh: Đỗ Thu Huyền
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Công Giao
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu được nêu trong luận án là trung thực và đã được trích dẫn đầy đủ theo quy định
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Đỗ Thu Huyền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS.TS Vũ Công Giao, người Thầy tâm huyết đã tận tình chỉ bảo và đồng hành với tôi trong suốt chặng đường nghiên cứu, đã dành thời gian quý báu của mình để định hướng, giúp đỡ, động viên và luôn tạo tất cả những điều kiện
có thể để tôi hoàn thành luận án này
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô giáo khác của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội đã luôn sẵn lòng cho tôi những lời khuyên quý báu trong suốt quá trình nghiên cứu
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban Chủ nhiệm Khoa Luật, Phòng Đào tạo
và Công tác học sinh, sinh viên, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội đã luôn chủ động giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu, học tập tại đây
Cuối cùng, tôi trân trọng cảm ơn lãnh đạo nơi công tác, các đồng nghiệp và đặc biệt là Gia đình đã luôn ở bên cạnh và là nguồn cổ vũ tinh thần quý giá để tôi
có thể duy trì quyết tâm, nghị lực trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án này./
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Đỗ Thu Huyền
Trang 51
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ
SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN
12
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong, ngoài nước liên quan đến đề tài luận án
12
CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI TÀI SẢN THAM NHŨNG
41
2.1 Khái niệm, triết lý và các hình thức thu hồi tài sản tham nhũng 41 2.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của pháp luật về thu hồi tài sản tham nhũng
51
2.3 Nội dung của pháp luật về thu hồi tài sản tham nhũng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về thu hồi tài sản tham nhũng
2.4 Những yếu tố tác động đến việc thực hiện và hoàn thiện pháp luật về thu hồi tài sản tham nhũng
Trang 7FATF Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền
(Financial Action Task Force) HĐND Hội đồng nhân dân
ICAR Trung tâm quốc tế về thu hồi tài sản
(International Centrel for Asset Recovery) NCB Thu hồi tài sản không dựa trên phán quyết của toà án
(Non-conviction based forfeiture) OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
(Organization for Economic Cooperation and Development) PCTN Phòng, chống tham nhũng
StAR Sáng kiến thu hồi tài sản bị đánh cắp (Stolen Asset Recovery
Initiative) TANDTC Toà án Nhân dân Tối cao
TNCN Thu nhập cá nhân
THTS Thu hồi tài sản
THTSTN Thu hồi tài sản tham nhũng
TSTN Tài sản tham nhũng
UBND Uỷ ban nhân dân
UNCAC Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng
(United Nations Convention Against Corruption) UNODC Cơ quan Liên hợp quốc về chống buôn bán ma tuý và tội
phạm (United Nations Office Against Drugs and Crimes) VKSNDTC Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao
WB Ngân hàng Thế giới (World Bank)
XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 84
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Biểu 1 Các đối tượng phải kê khai, công khai tài sản, thu nhập (phân theo
nhóm quốc gia có thu nhập khác nhau 82
Biểu 2 Tần xuất kê khai, công khai tài sản, thu nhập 83
Biểu 3 Quy định về các chế tài áp dụng với hành vi không kê khai tài sản,
thu nhập (phân theo nhóm nước cùng mức thu nhập) 84
Biểu 4 Tỷ lệ người có thu nhập ngoài lương và các khoản phụ cấp theo
lương 122
Trang 95
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Kể từ đầu thế kỷ 20, xu hướng toàn cầu hoá mạnh mẽ cùng tiến trình xóa bỏ các rào cản ngăn cách trong hoạt động kinh tế của các quốc gia, sự bùng nổ thương mại quốc tế với các giao dịch xuyên quốc gia đã tạo ra sự tăng trưởng vượt bậc của
nhiều nền kinh tế trên thế giới Tuy nhiên, mặt trái của một “thế giới phẳng” cũng
đem lại nhiều hệ lụy, trong đó phải kể đến hiện tượng tham nhũng xuyên biên giới Các rào cản thương mại được xóa bỏ vô hình trung đã tạo cơ hội cho các quan chức tham nhũng nhanh chóng tẩu tán những tài sản bất hợp pháp ra nước ngoài để tẩy rửa, khiến cho công tác phòng, chống tham nhũng (sau đây viết tắt là PCTN) nói chung, việc thu hồi những tài sản do tham nhũng mà có (sau đây viết tắt là tài sản tham nhũng - TSTN) nói riêng, trở thành những thách thức lớn đối với nhiều quốc gia, đặc biệt là những nước đang phát triển
Tham nhũng có thể diễn ra dưới nhiều hình thức, song về bản chất đều là việc những người có quyền lực hoặc thẩm quyền đã lạm dụng quyền lực hoặc thẩm quyền đó để thu vén lợi ích, vơ vét tài sản công hoặc của người khác cho bản thân, gia đình hoặc một nhóm thiểu số nhất định mà không quan tâm đến lợi ích quốc gia, dân tộc và sự phát triển của xã hội Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới và Liên Hợp Quốc, hằng năm, nạn tham nhũng lấy đi của mỗi quốc gia đang phát triển từ 20-40 tỷ đô-la [136,18]; riêng các nước Châu Phi mất 150 tỷ đô-la/năm, tương đương 25% GDP vì tham nhũng [134, 9] Nghiên cứu của Tổ chức Minh bạch Quốc
tế năm 2005 cũng cho biết, chỉ riêng 10 quan chức cấp cao tham nhũng nhất thế giới đã ăn cắp khoảng 25-60 tỷ đô-la của đất nước họ [117,14] Tuy nhiên, cần thấy rằng, thiệt hại của tham nhũng không chỉ nằm trong giá trị của khối tài sản bị thất thoát mà còn thể hiện ở sự xuống cấp của các thể chế, sự suy giảm nghiêm trọng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của nhà nước, sự sụt giảm niềm tin của các nhà đầu tư và nguy hại hơn cả, tham nhũng còn tước đoạt những quyền con người
cơ bản nhất của những người dân nghèo, những đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội
Trang 106
Thu hồi tài sản tham nhũng (sau đây viết tắt là THTSTN) là cách khắc phục thiết thực nhất những hậu quả của tham nhũng, đặc biệt là hậu quả về vật chất Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, chỉ cần thu hồi được 1% số tiền tham nhũng trên thế giới cũng đủ để tiêm chủng cho 04 triệu trẻ em hay cung cấp nước sạch cho nửa triệu người nghèo dùng trong một năm, hoặc chữa chạy cho 1,2 triệu người nhiễm HIV [134,11] Bên cạnh đó, THTSTN không chỉ giúp trả lại nguồn lực cho nhà nước để phục vụ các dịch vụ công cơ bản mà còn là kết quả của những nỗ lực cải cách thể chế, khuôn khổ pháp lý, năng lực thực thi pháp luật, đảm bảo công lý ở mỗi quốc gia [134, 8]
Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy, việc chú trọng THTSTN là cách tiếp cận phù hợp và hiệu quả trong PCTN, vì nó giúp triệt tiêu động cơ và động lực tham
nhũng, đó là thu lợi bất chính Chính vì vậy, ở cấp độ quốc tế, THTSTN đã được
quy định trong một chương riêng (Chương V) của Công ước Liên hợp quốc về
chống tham nhũng (tên viết tắt tiếng Anh là UNCAC), trong đó nêu rõ: “Việc thu
hồi tài sản [tham nhũng] là nguyên tắc căn bản của Công ước này, và các quốc gia thành viên sẽ dành cho nhau sự hợp tác và trợ giúp tối đa trong vấn đề này”
(Điều 51)
Ở Việt Nam, vấn đề THTSTN là một trong những biện pháp chống tham nhũng đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm từ cách đây hơn 20 năm, tại Quyết định số 240/HĐBT ngày 26/6/1990 của Hội đồng Bộ trưởng về đấu tranh chống tham nhũng và Chỉ thị số 416/CT ngày 3/12/1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
về việc tăng cường công tác thanh tra, điều tra, xử lý các việc tham nhũng và buôn lậu Vấn đề này sau đó tiếp tục được tái quy định trong Pháp lệnh chống tham nhũng 1998, Luật PCTN năm 2005 (và những lần sửa đổi, bổ sung sau đó vào năm
2010, 2012) và Chiến lược quốc gia PCTN đến năm 2020 của Chính phủ Tuy nhiên, các quy định về THTSTN ở nước ta hiện mới chỉ mang tính nguyên tắc và chưa được chú trọng áp dụng trong thực tế Ở khía cạnh pháp luật về nội dung, ngoài một số ít quy phạm trực tiếp đề cập đến thu hồi TSTN trong Bộ luật Hình sự
và Luật Phòng, chống tham nhũng, các quy phạm pháp luật về THTSTN ở Việt
Trang 117
Nam hiện nằm tản mạn, rải rác và chủ yếu được quy định gián tiếp trong các văn bản pháp luật khác nhau như Bộ luật Dân sự, Luật Thanh tra, Luật các tổ chức tín
dụng, Luật phòng, chống rửa tiền, Luật Kiểm toán Nhà nước Ở khía cạnh pháp luật
về tố tụng, THTSTN được đề cập gián tiếp trong Bộ luật Tố tụng Hình sự, Luật Thi hành án dân sự và Luật Tương trợ tư pháp Theo Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng của Thanh tra Chính phủ, hiệu quả THTSTN từ trước tới nay rất thấp Cụ thể, trong giai đoạn 2005-2015, thiệt hại do các vụ án tham nhũng gây ra được phát hiện là 59.759 tỷ đồng và trên 400 ha đất, trong khi
đó, số tiền đã thu hồi cho nhà nước là 4.676,6 tỷ đồng và trên 219 ha đất, tương đương tỷ lệ THTSTN chưa đến 10% [47]
Tình trạng trên do nhiều nguyên nhân, trong đó trước tiên là nhận thức chưa thực sự đầy đủ về tầm quan trọng của THTSTN, dẫn đến sự thiếu vắng một khuôn khổ pháp lý toàn diện và hiệu quả cho vấn đề này Điều đó đòi hỏi cần có những nghiên cứu chuyên sâu để hoàn thiện pháp luật về THTSTN ở Việt Nam
Nhận thức được thực trạng, tính chất cấp thiết của vấn đề trên, tác giả đã chọn
đề tài: “Pháp luật về thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam” để thực hiện luận án
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án cần giải quyết các nhiệm
vụ sau:
án, xác định những vấn đề mà luận án có thể kế thừa và chỉ ra những vấn đề mà luận án cần tiếp tục giải quyết
Trang 128
khái niệm, đặc điểm, nội dung, các tiêu chí đánh giá, các yếu tố tác động và kinh nghiệm quốc tế mà Việt Nam có thể tham khảo để hoàn thiện pháp luật về THTSTN
giành độc lập (1945) đến nay, đặc biệt là khuôn khổ pháp luật hiện hành về vấn đề này, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân
điểm định hướng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về THTSTN ở Việt Nam trong thời gian tới
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là cơ sở lý luận, thực tiễn của pháp luật
về thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian, luận án tập trung nghiên cứu khuôn khổ pháp luật của Việt
Nam về THTSTN; tuy nhiên, do đây là vấn đề mới nên luận án dành một chương riêng để khảo sát những vấn đề lý luận, pháp luật và kinh nghiệm quốc tế để từ đó phân tích, so sánh, tìm ra những giá trị hợp lý, các phương hướng, giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật hiện hành của Việt Nam về THTSTN
- Về thời gian, luận án nghiên cứu khuôn khổ pháp luật về THTSTN kể từ khi
Việt Nam giành độc lập (năm 1945), nhưng để bảo đảm giá trị tham khảo thực tiễn, luận án tập trung vào giai đoạn từ khi Việt Nam ban hành Luật PCTN (năm 2005) cho đến nay Đây cũng là giai đoạn mà vấn đề THTSTN bắt đầu được quy định đầy
đủ và cụ thể hơn trong pháp luật Việt Nam
- Về nội dung, do thu hồi tài sản tham nhũng là một vấn đề có tính chất rộng
lớn và phức tạp, đặc biệt khi có liên quan đến yếu tố nước ngoài vì đòi hỏi quá trình hợp tác quốc tế, tương trợ tư pháp giữa các quốc gia vốn là một thách thức ngay cả đối với những nước đã phát triển có hệ thống pháp luật hoàn thiện; trong khi đó các
Trang 139
cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chưa có các số liệu thống kê về các vụ án có liên quan đến THTSTN có yếu tố nước ngoài để làm cơ sở nghiên cứu Vì vậy, để đảm bảo tính khả thi của kết quả nghiên cứu, luận án chỉ tập trung nghiên cứu sâu khuôn khổ pháp luật về THTSTN không có yếu tố nước ngoài của Việt Nam - cụ thể là việc thu hồi những tài sản do tham nhũng mà có nhưng chưa được tẩu tán ra khỏi lãnh thổ Việt Nam Mặc dù vậy, những vấn đề lý luận chung về THTSTN được phân tích trong luận án này cũng có liên quan và sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc thực hiện các công trình nghiên cứu khác về THTSTN có yếu tố nước ngoài (nghĩa là thu hồi những tài sản của Việt Nam đã bị tẩy rửa, tẩu tán ra khỏi lãnh thổ và việc Việt Nam hỗ trợ các quốc gia khác thu hồi những tài sản của nước ngoài do tham nhũng mà có đã được tẩy rửa và tẩu tán ở Việt Nam)
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng của chủ
nghĩa Mác-Lênin Bên cạnh đó, luận án dựa trên nền tảng của Lý thuyết về sự lựa
chọn duy lý, một trong ba nội dung chính của Thuyết Cơ hội phạm tội - một học
thuyết được giới học giả thế giới đánh giá là đã có ảnh hưởng sâu sắc làm thay đổi
tư duy pháp lý về phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm tham nhũng nói riêng [78,14]
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Việc thực hiện luận án chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến của khoa học xã hội như tổng hợp, thống kê, so sánh, phân tích những nguồn tài
liệu thứ cấp (desk study), bao gồm các văn bản pháp luật, báo cáo, công trình
nghiên cứu trong và ngoài nước đã được công bố có liên quan đến đề tài
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận án này như sau:
- Những phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích và so sánh được sử dụng
để đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và cơ sở lý thuyết của luận án tại Chương 1 và và phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về pháp luật
về THTSTN tại Chương 2, bao gồm khái niệm, triết lý và các hình thức thu hồi tài
Trang 1410
sản tham nhũng; khái niệm, đặc điểm và vai trò của pháp luật về THTSTN; nội dung của pháp luật về THTSTN và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật về THSTTN; những yếu tố tác động đến việc thực hiện pháp luật về THTSTN
và pháp luật quốc tế và pháp luật của một số quốc gia về THTSTN
- Phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích và so sánh được sử dụng để làm
rõ quá trình hình thành, phát triển của pháp luật về THTSTN; đánh giá thực trạng
và đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về THTSTN của Việt
5 Những điểm mới của Luận án
Đây là công trình đầu tiên ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống và chuyên sâu về một vấn đề còn nhiều nội dung bất cập và chưa hoàn thiện cả về lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, đó là pháp luật về THTSTN Vì vậy, luận án có nhiều điểm mới, thể hiện cụ thể ở việc lần đầu tiên làm rõ các vấn
đề sau:
Một là, khái quát hóa các lý thuyết, khuôn khổ pháp luật quốc tế và kinh
nghiệm về THTSTN của một số quốc gia trên thế giới và chỉ ra những giá trị mà Việt Nam có thể tham khảo, áp dụng trong vấn đề này
Hai là, phân tích quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về THTSTN ở
Việt Nam qua các giai đoạn; phân tích toàn diện khuôn khổ pháp luật hiện hành về THTSTN của Việt Nam, chỉ ra những bất cập, hạn chế với thực tế trong nước, quốc
tế và nguyên nhân của những bất cập, hạn chế đó
Ba là, trình bày các quan điểm và đề xuất những giải pháp hoàn thiện khuôn
khổ pháp luật hiện hành về THTSTN của Việt Nam gắn với việc thay đổi nhận thức chiến lược trong PCTN, đó là xem THTSTN là biện pháp then chốt
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa khoa học của luận án được thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Phân tích và khái quát hoá cơ sở lý luận, đặc biệt là nền tảng triết lý của pháp luật về THTSTN trên thế giới và ở Việt Nam
Trang 1511
- Hệ thống hoá khuôn khổ pháp luật quốc tế cùng những thực tiễn tốt về THTSTN không chỉ ở những quốc gia có đặc thù kinh tế, chính trị và văn hoá có nhiều nét tương đồng với Việt Nam mà còn ở những nước có hệ thống pháp luật khác biệt nhưng có giá trị tham khảo cho Việt Nam; xác định các tiêu chí cần có của hệ thống pháp luật về THTSTN
- Kiến giải nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong pháp luật và thực hiện pháp luật về THTSTN ở Việt Nam thông qua những phân tích, so sánh về nhận thức
lý luận và pháp luật thực định của Việt Nam với nhận thức và pháp luật quốc tế, pháp luật của những quốc gia khác về THTSTN
- Đề xuất một cách tiếp cận mới mang tính chiến lược cùng một hệ thống giải pháp cụ thể để hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, qua đó nâng cao hiệu quả THTSTN ở Việt Nam
Ý nghĩa thực tiễn của luận án là thông qua việc chỉ ra những bất cập, hạn chế
cả về nhận thức lý luận và pháp luật thực định của Việt Nam về THTSTN để cung cấp cơ sở khoa học cho các cơ quan nhà nước trong việc hoàn thiện pháp luật về THTSTN phù hợp với xu hướng phổ biến trên thế giới và điều kiện thực tiễn của nước ta Bên cạnh đó, luận án còn là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho việc giảng dạy, nghiên cứu về PCTN nói chung, THTSTN nói riêng ở Việt Nam
7 Bố cục của luận án
Luận án bao gồm phần Mở đầu, Kết luận và 04 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của luận án Chương 2: Những vấn đề lý luận về pháp luật về thu hồi tài sản tham nhũng Chương 3: Lịch sử hình thành, phát triển và thực trạng pháp luật về thu hồi tài
sản tham nhũng ở Việt Nam hiện nay
Chương 4: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu hồi tài sản tham
nhũng ở Việt Nam
Trang 1612
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong, ngoài nước liên quan đến đề tài luận án
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Như đã đề cập, THTSTN ở Việt Nam hiện vẫn là một vấn đề mới, chưa thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong nước Điều đó thể hiện ở việc cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào ở các cấp độ thạc sĩ và tiến
sĩ luật học đề cập một cách toàn diện và chuyên sâu đến pháp luật về THTSTN ở Việt Nam Mặc dù đã có một số đề tài và bài viết về vấn đề này song số lượng còn ít
và mức độ chuyên sâu còn hạn chế, có thể khái quát thành các nhóm như sau:
1.1.1.1 Nhóm những bài viết, công trình nghiên cứu đề cập trực diện đến vấn đề thu hồi tài sản tham nhũng
Bài viết Chế định thu hồi tài sản tham nhũng trong Công ước Liên hợp quốc
về chống tham nhũng và khả năng đáp ứng của Việt Nam [73,42] của TS Nguyễn
Quốc Văn (Thanh tra Chính phủ): Trong khuôn khổ một bài viết gồm 06 trang trên tạp chí khoa học, tác giả đã khái quát nội dung cơ bản của chế định THTSTN trong UNCAC (Chương V); đánh giá mức độ tương thích của pháp luật Việt Nam với chế định này của Công ước; kiến nghị không nên đặt vấn đề bảo lưu chế định THTSTN khi Việt Nam phê chuẩn Công ước và dự báo những khó khăn của Việt Nam trong việc thực hiện chế định THTSTN sau khi phê chuẩn Công ước Tuy nhiên, do bài viết được thực hiện trước khi Việt Nam phê chuẩn UNCAC (30/6/2009), nên so với thời điểm hiện tại, khuôn khổ pháp luật của Việt Nam về THTSTN đã có nhiều thay đổi, ví dụ như việc ban hành Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2012; Luật PCTN
2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2012; Nghị định quy định trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao của Chính phủ năm 2013; Nghị định về minh bạch tài sản, thu nhập của Chính phủ năm
Trang 1713
2013… Vì vậy, những thông tin về thực trạng THTSTN, những bất cập cùng một số
đề xuất được nêu trong bài viết không còn phù hợp với thực tiễn
Bài viết về Thu hồi tài sản dân sự trong pháp luật các nước và yêu cầu của
thực tiễn nước ta [39,10] của tác giả Đinh Trương Anh Phương (Đại học Luật Tp
Hồ Chí Minh): Bài viết gồm 4 trang, tập trung đề cập đến một trong những biện pháp THTSTN được nhiều quốc gia phát triển áp dụng thành công, đó là THTSTN không dựa trên phán quyết hình sự của toà án Bài viết nêu ra khái niệm, phân tích đặc điểm cơ bản của THTSTN không dựa trên kết án, nhấn mạnh những ưu điểm nổi bật của biện pháp này so với biện pháp THTSTN bằng biện pháp hình sự Tác giả cũng đã viện dẫn một số vụ án THTSTN ở Mỹ để chứng minh cho những luận điểm chính được nêu trong bài viết Khẳng định việc ban hành các quy định về THTSTN không dựa trên kết án là thực sự cần thiết, tác giả khuyến nghị cần áp dụng biện pháp này trong THTSTN ở Việt Nam
Giáo trình Lý luận và Pháp luật về phòng, chống tham nhũng [9] của Khoa
Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội được biên soạn bởi các giáo sư, giảng viên và cộng
tác viên Bộ môn Luật Hành chính - Luật Hiến pháp của Khoa Luật (GS Nguyễn
Đăng Dung, GS Phạm Hồng Thái, PGS.TS Chu Hồng Thanh, PGS TS Vũ Công Giao đồng chủ biên) Là giáo trình đầu tiên của Việt Nam về lý luận và pháp luật về
PCTN, với một chương riêng về THTSTN (Chương X), trên cơ sở bám sát các các yêu cầu của UNCAC, giáo trình đã chỉ ra các nguyên tắc và yêu cầu chung đối với công tác THTSTN; nêu khái quát các biện pháp THTSTN và các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này, từ đó nêu ra những phương hướng hoàn thiện Tuy nhiên, vấn đề THTSTN trong giáo trình mới chỉ được các tác giả đề cập ở mức độ khái quát, chưa phân tích sâu về từng biện pháp, chưa đề cập đến thực trạng, chưa nêu ra những bất cập, hạn chế và nguyên nhân
Kỷ yếu hội thảo khoa học về Thu hồi tài sản tham nhũng: Thực trạng và giải
pháp [3] là tài liệu bao gồm 07 tham luận của đại diện các cơ quan: Ban Nội chính
Trung ương (02 tham luận: Cơ sở chính trị, pháp lý trong hoạt động THTSTN ở Việt
Nam; Kinh nghiệm quốc tế về THTSTN có yếu tố nước ngoài); Thanh tra Chính phủ
Trang 1814
(Tham luận về Thực trạng phát hiện, xác định và THTSTN qua công tác thanh tra
của ngành thanh tra), Bộ Công an (Tham luận về Thực trạng và giải pháp về phát hiện, xác định và THTSTN qua công tác điều tra của lực lượng công an), Bộ Tư
pháp (Tham luận về Thực trạng và giải pháp về phát hiện, xác định và THTSTN
qua công tác thi hành án của ngành tư pháp), VKSNDTC (Tham luận về Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả việc phát hiện, xác định và THTSTN qua công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, xét xử án tham nhũng);
Nguyên Chánh toà Hình sự TANDTC TS Đinh Văn Quế (Tham luận về THTSTN:
Thực trạng và giải pháp) Nhìn chung, các tham luận đã cung cấp nhiều thông tin,
số liệu chính thống được cập nhật cùng việc trình bày sơ bộ các quan điểm, nhận
định về thực trạng THTSTN dưới góc độ ngành (sectoral-based approach); bước
đầu chỉ ra nguyên nhân của những bất cập, hạn chế trong THTSTN và đề xuất một
số giải pháp khắc phục Tuy nhiên, do các tham luận đều được xây dựng dựa trên
phương pháp tiếp cận dựa theo ngành nên kỷ yếu hội thảo chưa cung cấp được cái
nhìn tổng quan mang tính hệ thống về thực trạng THTSTN ở Việt Nam cũng như đưa ra những giải pháp cụ thể, toàn diện để hoàn thiện pháp luật hiện hành về vấn
đề này
Báo cáo nghiên cứu về Thu hồi tài sản tham nhũng: Thực tiễn Việt Nam và
kinh nghiệm quốc tế của Ban Nội chính Trung ương [4] với sự hỗ trợ của Chính phủ
Úc (năm 2016) nêu những khái niệm và cung cấp nhiều thông tin, dữ liệu pháp luật
và thực thi pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền trong THTSTN như cơ quan thanh tra, điều tra, kiểm sát, tòa án và thi hành án ở Việt Nam trong những năm gần đây Nhìn chung, nghiên cứu này đã bước đầu phản ánh được nhận thức của các CBCC làm việc trong các cơ quan có liên quan đến THTSTN; và trong một chừng mực nhất định đã phác hoạ những khó khăn, thách thức của công tác này hiện nay;
từ đó đề xuất được một số giải pháp để nâng cao năng lực, nhận thức, hoàn thiện thể chế, xây dựng bộ máy để nâng cao hiệu quả THTSTN Tuy nhiên, báo cáo này mới chỉ dừng lại ở mức tạo cơ hội thảo luận cho chuyên gia các bộ, ngành và chuyên gia
tư vấn độc lập về một vấn đề còn rất mới nên chưa đưa ra những thông điệp lập
Trang 1915
pháp rõ ràng, cụ thể phù hợp với bối cảnh Việt Nam Quá trình xây dựng và hoàn thiện báo cáo này cũng gặp phải nhiều quan điểm trái chiều và chưa thống nhất ngay trong đội ngũ chuyên gia trực tiếp thực hiện nghiên cứu và các chuyên gia phản biện về những khái niệm rất cơ bản về THTSTN
Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài về Phát hiện và thu hồi tiền và tài
sản do tham nhũng mà có - Thực trạng và Giải pháp của Uỷ ban Kiểm tra Trung
ương (2017) [71] Báo cáo khẳng định tầm quan trọng và xác định THTSTN hiện
là khâu yếu nhất và khó nhất trong công tác PCTN ở Việt Nam So với báo cáo năm
2016 về THTSTN của Ban Nội chính, báo cáo này tập trung nhấn mạnh hơn vai trò của Đảng trong công tác THTSTN nói riêng và PCTN nói chung Báo cáo cho rằng, việc coi nhẹ sự lãnh đạo của Đảng, coi THTSTN là trách nhiệm của riêng cơ quan thi hành án hoặc của các cơ quan thực thi pháp luật… là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến công tác này chưa đạt yêu cầu Báo cáo quy nạp những giải pháp để cải thiện thực trạng THTSTN thành 02 nhóm, bao gồm: (i) Giải pháp về phát hiện tiền và tài sản do tham nhũng mà có; (ii) Giải pháp về thu hồi tiền và tài sản do tham nhũng mà có Tuy nhiên, ngoài giải pháp nhằm tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng đối với vấn đề THTSTN, báo cáo vẫn chưa đưa ra những giải pháp lập pháp rõ ràng, thấu đáo để trực tiếp khắc phục những hạn chế trong công tác THTSTN hiện nay
1.1.1.2 Nhóm những bài viết gián tiếp đề cập đến vấn đề thu hồi tài sản tham nhũng thông qua việc phân tích một khía cạnh, nội dung quan trọng của thu hồi tài sản tham nhũng
a Những bài viết đề cập đến quá trình hình thành, phát triển của chế định thu hồi tài sản tham nhũng và cơ sở lý luận về vấn đề này ở Việt Nam
Bài viết Hình phạt tịch thu tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam của ThS
Trịnh Quốc Toản [56,20] trình bày cô đọng sự hình thành và phát triển của hình phạt tịch thu tài sản do phạm tội mà có trong pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn từ 1945 đến 2006; vai trò, nội dung, phạm vi áp dụng của hình phạt này theo
Bộ luật Hình sự (BLHS) 1999 và tình hình áp dụng hình phạt này của Tòa án Nhân
Trang 2016
dân (TAND) ở một số địa phương Tác giả nhận định, thực tiễn áp dụng hình phạt tịch thu tài sản còn rất hạn chế và đề xuất biện pháp tăng cường hiệu quả của hình phạt này Mặc dù bài viết không đề cập đến việc tịch thu tài sản do tham nhũng mà
có nhưng đã cung cấp những thông tin giá trị về quá trình hình thành và phát triển của chế định THTSTN nói chung và thực tiễn áp dụng chế định này từ khi Việt Nam giành độc lập đến năm 2006
Đề tài khoa học cấp bộ về Tham nhũng và phòng, chống tham nhũng trong
khu vực tư của Việt Nam của Viện Khoa học Thanh tra (Thanh tra Chính phủ) năm
2015 [30] do TS Đinh Văn Minh chủ trì Đề tài đã xác định các biểu hiện của hành
vi tham nhũng trong khu vực tư trên thực tế bao gồm: (i) nhóm hành vi tham nhũng nảy sinh trong mối quan hệ giữa khu vực tư và với khu vực công; (ii) nhóm hành vi tham nhũng nảy sinh trong mối quan hệ giữa các doanh nghiệp, tổ chức thuộc khu vực tư và (iii) nhóm hành vi tham nhũng nảy sinh trong mối quan hệ giữa nội bộ doanh nghiệp, tổ chức thuộc khu vực tư Như vậy, mặc dù không đề cập trực tiếp đến việc THTSTN nhưng đề tài đã gợi mở phạm vi các TSTN cần phải được xác định và tịch thu trong khu vực tư - là vấn đề mà hiện còn nhiều tranh luận ở Việt Nam
Các bài viết: Chế độ sở hữu ở Việt Nam (PGS.TS Nguyễn Minh Đoan, Đại học Luật Hà Nội) [16]; Bảo vệ quyền sở hữu bằng phương thức kiện đòi tài sản
trong pháp luật dân sự Việt Nam và pháp luật dân sự của một số nước của tác giả
Nguyễn Minh Tuấn [59]; Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài Bảo vệ quyền sở hữu
theo pháp luật dân sự Việt Nam của tác giả Tống Thị Hương [25]; và bài viết Bàn
về nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự của tác giả Nguyễn Ngọc
Chí [6] đã cung cấp những kiến thức, thông tin hữu ích về cơ chế bảo vệ quyền sở hữu
ở Việt Nam, qua đó là cơ sở để tìm hiểu và phân tích các quy định pháp luật cho phép THTSTN bằng các biện pháp dân sự và nguyên nhân dẫn đến những vướng mắc trong việc THTSTN theo thủ tục dân sự ở Việt Nam hiện nay
Trang 2117
b Những bài viết về thực trạng thực thi các quy định về thu hồi tài sản tham nhũng thông qua việc phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án tham nhũng
Nhóm này bao gồm các bài viết về Hoạt động phát hiện tham nhũng của cơ
quan thanh tra và những vấn đề đặt ra của TS Đinh Văn Minh (Thanh tra Chính
phủ) [31]; Cơ chế phát hiện tham nhũng ở Việt Nam hiện nay của TS Nguyễn Quốc Hiệp (Uỷ ban Kiểm tra trung ương) [22]; Công tác thực hành quyền công tố và
kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND trong tình hình mới và một số vấn đề
về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm của TS Trần Công Phàn (Viện kiểm sát nhân dân tối cao) [36]; Thực trạng khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm tham nhũng của tác giả Lưu Thanh
Hùng (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, 2017) [23]; Giám định tư pháp trong lĩnh vực
tiền tệ, ngân hàng: Một số kiến nghị, đề xuất của tác giả Nguyễn Văn Lợi, (Tạp chí
Dân chủ và Pháp luật, 2017) [29]; Một số vướng mắc khi áp dụng các biện pháp
cưỡng chế thi hành án dân sự của tác giả Nguyễn Doãn Phương (Tạp chí Nghiên
cứu lập pháp, 2017) [40], Hoàn thiện quy định pháp luật về xác minh điều kiện thi
hành án dân sự của tác giả Hoàng Thu Trang (Cục Thi hành án dân sự Nghệ An)
[58]; Trách nhiệm, quyền hạn của toà án trong thi hành án dân sự của tác giả
Nguyễn Thị Phíp, Cao Thị Kim Trinh (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, 2015)
[37,15]; Thực trạng công tác giám định tư pháp và giải pháp bảo đảm yêu cầu của
hoạt động tố tụng và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của tác giả Nguyễn Thị
Thuỵ [54] Những bài viết này đã phân tích, làm rõ ở mức độ nhất định kết quả cùng những thuận lợi, khó khăn trong việc phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án tham nhũng Mặc dù không đề cập trực tiếp song những kiến thức, thông tin trong các bài viết kể trên rất hữu ích cho việc làm rõ những vấn đề có liên quan và
là bối cảnh của việc THTSTN ở Việt Nam
c Những bài viết có giá trị tham khảo trong việc đề xuất các giải pháp
nhằm hoàn thiện pháp luật về thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam
Trang 2218
Chuyên đề trình bày tại Hội thảo của Văn phòng Quốc hội (2015) về Kiểm
soát các giao dịch có giá trị lớn, hạn chế việc giao dịch bằng tiền mặt nhằm kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, người có chức vụ, quyền hạn của tác
giả Đoàn Thái Sơn [43] đề cập đến về vai trò của việc kiểm soát giao dịch có giá trị lớn, giao địch đáng ngờ và hạn chế các giao dịch bằng tiền mặt trong kiểm soát tài sản, thu nhập của CBCC Tác giả mô tả tổng quan khuôn khổ pháp luật hiện hành
về những vấn đề này, đề xuất cần hạn chế giao dịch bằng tiền mặt trong nền kinh tế, góp phần minh bạch hoá tài sản, thu nhập của CBCC nói riêng và của xã hội nói chung
Báo cáo nghiên cứu về Kinh nghiệm quốc tế về kiểm soát tài sản, thu nhập của
người có chức vụ, quyền hạn và khả năng áp dụng cho Việt Nam của PGS.TS Vũ
Công Giao (2016) [18] trong khuôn khổ Dự án Quản trị Nhà nước nhằm Tăng trưởng Toàn diện (USAID GIG) Đây là một công trình nghiên cứu công phu ở cả khía cạnh lý luận và thực tiễn về vấn đề kê khai, công khai tài sản, thu nhập Trên
cơ sở khái quát khuôn khổ pháp lý quốc tế về kiểm soát tài sản, thu nhập cũng như
sự hình thành và phát triển của chế định này trên thế giới; phân tích các mô hình chính về kê khai, công khai tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, chắt lọc những kinh nghiệm quốc tế tốt nhất về những vấn đề cụ thể trong cơ chế kê khai, công khai tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; khái quát khuôn khổ pháp luật hiện hành về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam, tác giả đưa ra các khuyến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế này
Bài viết về Xử lý hành vi làm giàu bất chính theo quy định của Công ước Liên
hợp quốc về chống tham nhũng và phương án nào cho Việt Nam? của ThS Nguyễn
Tuấn Anh (Thanh tra Chính phủ) [2] đi sâu phân tích những yếu tố cấu thành tội làm giàu bất chính theo quy định của UNCAC; chia sẻ kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia về việc xử lý hành vi làm giàu bất chính và tài sản bất minh Từ đó, tác giả đề xuất định hướng chung cũng như một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam nhằm xử lý hành vi làm giàu bất chính và tài sản bất minh
theo tinh thần của Công ước Tác giả cũng có bài viết về Kinh nghiệm quốc tế về tố
Trang 23Liên quan đến mối quan hệ giữa THTSTN và bảo đảm quyền con người, có
các bài viết về Hiến pháp hoá nguyên tắc giới hạn quyền con người [13,3] của tác giả Bùi Tiến Đạt; Thương lượng nhận tội trong tố tụng hình sự: Kinh nghiệm quốc
tế và gợi mở cho pháp luật Việt Nam của tác giả Nguyễn Tiến Đạt [15,43] Những
bài viết này đã gởi mở một số giải pháp cho công tác THTSTN ở Việt Nam trong khi vẫn bảo đảm tôn trọng các quyền con người cơ bản
Những quốc gia có nền quản trị tốt thường cũng là những quốc gia có thành tích cao trong công tác PCTN nói chung và THTSTN nói riêng Và về cơ bản, những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về THTSTN không thể tách rời các giải pháp chung để PCTN, trong đó có nội dung quản trị nhà nước Vì vậy, các bài viết
về quản trị công trong cuốn sách chuyên khảo Quản trị tốt: Lý luận và Thực tiễn
(PGS.TS Vũ Công Giao, PGS.TS Nguyễn Hoàng Anh, PGS.TS Đặng Minh Tuấn,
TS Nguyễn Minh Tuấn đồng chủ biên) [19] có nhiều giá trị tham khảo cho luận án
Cuối cùng, luận án có tham khảo một số báo cáo, số liệu thống kê chính thức của các cơ quan có liên quan, bao gồm: (i) Một số báo cáo sơ kết, tổng kết công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và PCTN; nghiên cứu, khảo sát của Thanh tra Chính phủ; (ii) Chiến lược quốc gia PCTN đến năm 2020; (iii) Báo cáo kết quả kiểm tra, giám sát việc thanh tra vụ việc, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN; (iv) Một số báo cáo về công tác thi hành án dân sự của Bộ Tư pháp; (v) Một số báo cáo thẩm tra của Uỷ ban Tư pháp Quốc hội, Bộ Công an, Viện KSNDTC; (vi) Một số báo cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trong đó có báo cáo về kết quả thực hiện Đề án đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2011-2015; (vii) Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011- 2020 của Thủ tướng Chính phủ
Trang 2420
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
“Sẽ không bao giờ có nơi nương náu cho những kẻ ăn cắp của người nghèo”
(There should be no safe haven for those who steal from the poor - Robert
B.Zoellick, Nguyên Chủ tịch Ngân hàng Thế giới) [148,11] là tuyên bố mạnh mẽ
trong cuộc chiến chống tham nhũng của Ngân hàng Thế giới, một trong những tổ chức quốc tế đi tiên phong trong nghiên cứu và cung cấp các hỗ trợ kỹ thuật về THTSTN cho cộng đồng quốc tế Sáng kiến Thu hồi tài sản bị đánh cắp (StAR) là kết quả của quá trình hợp tác giữa Ngân hàng Thế giới (WB) và Cơ quan Liên hợp quốc về chống buôn bán ma túy và tội phạm (UNODC) nhằm khuyến khích và thúc đẩy việc THTSTN một cách nhanh chóng, có hệ thống và hiệu quả Trong khuôn khổ hợp tác này, StAR đã xuất bản 15 ấn phẩm được biên soạn công phu về THTSTN, trong đó bao gồm nhiều công trình, báo cáo, nghiên cứu chính sách và hướng dẫn thực thi cho những nhà hoạt động thực tiễn ở các quốc gia [115]
Bên cạnh Ngân hàng Thế giới, vấn đề PCTN còn có sự đóng góp của một số
tổ chức quốc tế và viện nghiên cứu với những thế mạnh riêng, điển hình như Trung tâm quốc tế về Thu hồi tài sản (ICAR) thuộc Học viện Quản trị công Basel đã có một số nghiên cứu chuyên sâu về các biện pháp tăng cường năng lực điều tra tài chính và kỹ thuật truy tìm TSTN Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) có các nghiên cứu chuyên sâu về các chuẩn mực quốc tế về chống rửa tiền và các nguyên tắc quản trị tốt, qua đó gián tiếp cung cấp những khuyến nghị chính sách và thực thi pháp luật về THTSTN
Do tính chất rộng lớn của vấn đề, có thể chia các ấn phẩm, công trình nghiên cứu trực tiếp liên quan đến đề tài của các tổ chức quốc tế nêu trên thành 03 nhóm như sau:
Nhóm 1: Các nghiên cứu đề cập đến vấn đề THTSTN một cách tổng quan
(guide/manual), bao gồm các cẩm nang hướng dẫn về THTSTN hoặc đề cập sâu
đến một biện pháp THTSTN cụ thể (ví dụ, thu hồi theo thủ tục dân sự hoặc thu hồi
không dựa trên kết án…), hay phân tích một số bước quan trọng trong quá trình
THTSTN (ví dụ như truy nguyên, phong tỏa, trả lại tài sản…)
Trang 2521
Nhóm 2: Các nghiên cứu về một biện pháp, công cụ cụ thể (tools) góp phần
tăng cường hiệu quả công tác THTSTN, ví dụ như biện pháp phòng, chống rửa tiền;
kê khai, công khai tài sản, thu nhập; hình sự hoá hành vi làm giàu bất chính…
Nhóm 3: Các báo cáo chung về kết quả THTSTN của một nhóm các quốc gia
hoặc các nghiên cứu về hệ thống pháp luật THTSTN của một quốc gia cụ thể
(case study)
1.1.2.1 Các công trình nghiên cứu thuộc Nhóm 1 bao gồm:
Asset Recovery Handbook: A Guide for Practioners (2011) (Cẩm nang thu hồi
tài sản thất thoát: Hướng dẫn thực hành) [136] là cuốn tài liệu được biên soạn công
phu bởi các chuyên gia đến từ cả khu vực công và khu vực tư ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó bao gồm cả những nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn về THTSTN Được xây dựng theo hình thức cẩm nang hướng dẫn nhưng với cách tiếp cận chung mang tính lý thuyết, đây nên là tài liệu đầu tiên cần được tiếp cận khi nghiên cứu về THTSTN Chương 1 của tài liệu cung cấp một bức tranh toàn cảnh
về lộ trình pháp lý để THTSTN cùng một số ví dụ thực tiễn Chương 2 đưa ra
những khuyến nghị chính sách để THTSTN và hướng dẫn phương thức quản lý một
vụ việc THTSTN từ giai đoạn thu thập thông tin, dữ liệu ban đầu về vụ việc, thành lập nhóm công tác và thiết lập mối quan hệ với các cơ quan đối tác ở nước ngoài trong khuôn khổ hợp tác quốc tế Những kỹ thuật mà các nhà hoạt động thực tiễn cần có để truy tìm dấu vết tài sản, kỹ năng phân tích dữ liệu tài chính được trình bày chi tiết tại Chương 3 nhằm đảm bảo tính chính xác và giá trị pháp lý của chứng cứ trong quá trình THTSTN Chương 4 thảo luận về các biện pháp tạm thời đảm bảo
an toàn cho tài sản trước khi bị thu hồi Chương 5 phân tích một số vấn đề cần cân nhắc trong quá trình quản lý TSTN trước thu hồi Trên cơ sở giới thiệu, đánh giá tổng quan về các hệ thống pháp luật và phương pháp tiến hành cũng như cải tiến quy trình tại một số nền tư pháp trong công tác THTSTN tại Chương 6, Chương 7
đề cập đến việc áp dụng hình thức yêu cầu hỗ trợ không chính thức và yêu cầu tương trợ tư pháp trong khuôn khổ hợp tác quốc tế nhằm THTSTN Cuối cùng, Chương 8 và Chương 9 thảo luận về hai biện pháp THTSTN bổ sung, đó là
Trang 2622
THTSTN theo thủ tục tố tụng dân sự và thủ tục THTSTN được thực hiện theo pháp luật quốc gia nhưng thực thi thông qua quyền tài phán nước ngoài
Stolen Asset Recovery: A Good Practice Guide for Non-Conviction Based
Asset Forfeiture (2009) (Thu hồi tài sản thất thoát: Hướng dẫn thực hành về thu hồi
tài sản không dựa trên phán quyết của toà án) [148] là công trình ra đời trong bối
cảnh cộng đồng quốc tế đang gặp nhiều khó khăn trong THTSTN do những thiếu hụt về năng lực và hạn chế về nguồn lực, sự yếu kém trong quản lý, hệ thống pháp luật và thiếu quyết tâm chính trị Điều này khiến đa số các vụ án về THTSTN thường kéo dài hàng thập niên mà không mang lại kết quả đáng kể Mặt khác, trong nhiều trường hợp, các quốc gia được lựa chọn là điểm đến an toàn của khối tài sản bất hợp pháp không thể tương trợ tư pháp cho các quốc gia nạn nhân của tham nhũng do hệ thống pháp luật của họ không có quy định về THTSTN không dựa trên
phán quyết của toà án (Non-conviction based forfeiture, viết tắt là NCB) Cấu trúc
của nghiên cứu bao gồm 03 phần, theo đó: Phần đầu tiên của nghiên cứu trình bày tổng quan thực trạng THTSTN có yếu tố nước ngoài, phân biệt và chứng minh tính
ưu việt của NCB với phương pháp THTSTN truyền thống, đồng thời khẳng định, NCB là một công cụ THTSTN rất hiệu quả Phần thứ hai của nghiên cứu đưa ra 36 khuyến nghị được sắp xếp theo các nhóm chủ đề: xác định những vấn đề ưu tiên; tài sản và tội phạm là đối tượng của NCB; biện pháp điều tra và bảo đảm tài sản; vấn
đề tố tụng và chứng cứ; xác định các bên liên quan và đảm bảo nguyên tắc tố tụng; các vấn đề về tổ chức và quản lý tài sản; hợp tác quốc tế về THTSTN Cuối cùng, báo cáo giới thiệu pháp luật về THTSTN tại các quốc gia: Colombia, Guernesy,
Ireland, Kuwwait, Thụy Sĩ, Thái Lan và Vương quốc Anh
Khi THTSTN bằng biện pháp hình sự rơi vào bế tắc vì tội phạm đã chết, chạy trốn hoặc được hưởng quyền miễn trừ, bên cạnh phương án mang tính đột phá là THTSTN không dựa trên kết án, StAR cũng khuyến khích các quốc gia cân nhắc sử
dụng các biện pháp dân sự để THTSTN Nghiên cứu có tiêu đề Public Wrongs,
Private Actions: Civil Lawsuits to Recover Stolen Asset (Sai lầm công, Khởi kiện
tư: Các vụ kiện dân sự để thu hồi tài sản tham nhũng) năm 2015 [147] của StAR đề
Trang 2723
cập đến việc THTSTN bằng các biện pháp dân sự như một cách thức để thay thế hoặc tiến hành đồng thời với các biện pháp hình sự Để làm rõ vấn đề này, nghiên cứu đã phân tích phương thức để các chủ thể có thể đứng tên nguyên đơn hoặc bị đơn trong các vụ kiện dân sự về THTSTN và hướng dẫn lựa chọn luật sư tham gia vào vụ kiện (Chương I và II) Theo đó, bất cứ quốc gia nào là nạn nhân của hành vi tham nhũng đều có quyền khởi kiện tại toà án dân sự ở quốc gia khác nơi có tài sản cần thu hồi để yêu cầu THTSTN hoặc khởi kiện dân sự tại quốc gia của mình và sau
đó yêu cầu quốc gia nước ngoài thực thi quyết định đó Vấn đề về địa điểm khởi kiện (Chương III), căn cứ khởi kiện (Chương IV) và các bước cần thực hiện trong quá trình điều tra và phong toả tài sản, các biện pháp để thu thập chứng cứ trong và ngoài nước (Chương VI); bảo đảm tài sản trong suốt quá trình tố tụng cũng như phương thức tính toán và xác định số tài sản cần thu hồi cũng được làm rõ trong nghiên cứu với một số ví dụ minh hoạ Cuối cùng, nghiên cứu đánh giá các phương pháp tiếp cận khác nhau để thực thi các quyết định của tòa dân sự (Chương VIII) và đưa ra cái nhìn tổng quan về cách thức tận dụng thủ tục phá sản trong các vụ kiện
về THTSTN (Chương IX)
Cũng trong năm 2011, nghiên cứu của StAR có tiêu đề Barriers to Asset
Recovery: An analysis of the key barriers and recommendations for action (2011) (Những trở ngại trong thu hồi tài sản thất thoát: Phân tích những trở ngại chính và
đề xuất giải pháp) [137] tập trung chỉ ra những trở ngại chính trong quá trình
THTSTN và gợi ý những biện pháp tháo gỡ nhằm tăng cường hiệu quả của công tác này 29 trở ngại trong THTSTN nêu trong báo cáo được chia thành 03 nhóm nội
dung với các giải pháp được đề xuất cụ thể, bao gồm: (i) Nhóm những trở ngại
chung và những vấn đề về thể chế chủ yếu liên quan đến quyết tâm chính trị của
mỗi quốc gia và hiệu quả của các biện pháp phòng, chống rửa tiền Biểu hiện của những trở ngại này thể hiện ở chiến lược THTSTN không toàn diện và nhất quán, trong đó THTSTN không được coi là vấn đề ưu tiên trong công tác PCTN Cũng vì vậy, công tác THTSTN không được cung cấp đầy đủ những nguồn lực cần thiết để
có thể triển khai hiệu quả Để vượt qua trở ngại này, các quốc gia cần xây dựng
Trang 2824
chính sách và chiến lược THTSTN toàn diện với những mục tiêu rõ ràng, nhất quán cùng lộ trình thực hiện cụ thể và sự đảm bảo về nguồn nhân lực và tài chính Chính quyền cần đưa ra những biện pháp chống rửa tiền mạnh mẽ trong đó đề cao vấn đề tăng cường năng lực cho các định chế tài chính nhằm chủ động và giám sát hành vi
của những người có vị thế chính trị; (ii) Nhóm trở ngại về mặt pháp lý chủ yếu liên
quan đến những yêu cầu về cung cấp tương trợ tư pháp như yêu cầu về cùng hình sự hóa; bí mật ngân hàng; khó khăn trong xác định chứng cứ Những khuyến nghị được báo cáo đưa ra để giải quyết những thách thức này là áp dụng linh hoạt và chủ động nguyên tắc cùng hình sự hóa và nguyên tắc có đi có lại; đảm bảo tính bảo mật của các cuộc điều tra bằng cách không thông báo cho người nắm giữ tài sản biết về cuộc điều tra nếu có căn cứ cho rằng, các biện pháp điều tra và bảo vệ tài sản đã được thực hiện và quá trình tố tụng đã đảm bảo các thủ tục pháp lý cần thiết; hạn chế quy định những căn cứ cho phép từ chối cung cấp tương trợ pháp lý: gia hạn thời hiệu khởi kiện, không cho phép quốc gia từ chối cung cấp tương trợ tư pháp một cách máy móc vì lý do kinh tế Báo cáo đặc biệt khuyến nghị việc xóa bỏ những quy định liên quan đến bí mật ngân hàng trong những vụ kiện quốc tế về
những tội phạm được quy định trong UNCAC và UNTOC; (iii) Nhóm trở ngại phải
đối mặt trong quá trình thực thi bao gồm những khó khăn thường phát sinh trong
quá trình hợp tác giữa các quốc gia trong quá trình THTSTN như xác định đầu mối
để gửi yêu cầu tương trợ tư pháp; cơ chế trao đổi thông tin và phối hợp; chậm trễ trong xử lý và phản hồi về các yêu cầu tương trợ tư pháp và những thiếu sót thường gặp khi xây dựng văn bản yêu cầu tương trợ tư pháp Ngoài ra là những khó khăn trong việc xác định chủ tài khoản ngân hàng khi một quốc gia không có hệ thống đăng ký tài khoản ngân hàng; quản lý và bảo toàn tài sản được tạm giữ trong suốt quá trình THTSTN trước khi tiến hành thu hồi chính thức Giải pháp được báo cáo khuyến nghị bao gồm: thiết lập cơ sở dữ liệu quốc gia về chủ tài khoản; quy định các biện pháp quản lý tài sản hiệu quả và đáng tin cậy; tăng cường năng lực cho đội ngũ điều tra viên, thẩm phán, công tố viên về các tiêu chuẩn và công cụ quốc tế về THTSTN; hoàn thiện quy định tố tụng cho phép hợp tác quốc tế trước khi có yêu
Trang 2925
cầu tương trợ tư pháp nhằm tạo điều kiện cho quá trình trao đổi thông tin và tăng cường chất lượng hỗ trợ tư pháp
Trong số các công trình nghiên cứu thuộc nhóm 1, nghiên cứu của ICAR có
tiêu đề Tracing Stolen Assets: A Practioner’s Handbook (Truy tìm dấu vết tài sản bị
đánh cắp: Cẩm nang hướng dẫn thực thi) [92] ra đời năm 2009 đi theo hướng tiếp
cận khác khi tập trung giới thiệu và phân tích những kỹ năng cần thiết để truy tìm dấu vết TSTN Theo đó, quá trình truy nguyên tài sản bao gồm bốn giai đoạn: giai đoạn tiền điều tra, giai đoạn điều tra, giai đoạn xét xử để thu hồi và giai đoạn định đoạt tài sản Thông qua việc phân tích một số vụ án THTSTN đã thành công, ấn phẩm này cung cấp những hỗ trợ thiết thực cho các nhà điều tra, đặc biệt ở những quốc gia đang phát triển kỹ năng truy tìm dấu vết TSTN được cất giấu trong những định chế tài chính
1.1.2.2 Các công trình nghiên cứu thuộc Nhóm 2 bao gồm:
Income and Asset Declarations: Tools and Trade-offs (Công khai thu nhập và
tài sản: Công cụ và sự thoả hiệp) (2009) [141] là tài liệu được xây dựng nhằm phục
vụ Hội nghị lần thứ 3 của các quốc gia thành viên UNCAC Dựa trên khảo sát về khuôn khổ pháp luật về công khai tài sản, thu nhập tại hơn 74 quốc gia thành viên của UNCAC và thực tiễn triển khai tại 08 quốc gia khác, tài liệu nêu ra những nguyên tắc, công cụ cơ bản và một số khuyến nghị nhằm xây dựng thành công hệ thống công khai tài sản, thu nhập Tài liệu khẳng định, để tìm ra phương pháp tiếp cận tối ưu cho hệ thống công khai tài sản, thu nhập của mình, các quốc gia đôi khi phải cân đối giữa các lợi ích khác nhau, thậm chí phải có sự đánh đổi, thoả hiệp nhất định Sự thoả hiệp này có thể dẫn đến việc phải giới hạn phạm vi kê khai tài sản, thu nhập để tập trung vào một số vị trí công việc có rủi ro tham nhũng cao hơn hoặc để không gây quá tải cho cơ quan quản lý; số lượng thông tin và mức độ chi tiết của các bản kê khai; tần suất kê khai và các tiêu chí thẩm định nội dung kê khai Đặc biệt, nghiên cứu chỉ ra rằng, song song với việc đề ra những quy định về công khai tài sản, thu nhập, các quốc gia cần cân nhắc thiết lập những chế tài phù hợp và tương xứng cho những hành vi vi phạm
Trang 3026
Kế thừa và phát huy kết quả nghiên cứu của tài liệu này, năm 2012, StAR tiếp
tục công bố nghiên cứu có tựa đề Public Office, Private Interests: Accountability
through Income and Asset Disclosure (Việc công, Lợi ích Tư: Bảo đảm trách nhiệm giải trình thông qua công khai tài sản, thu nhập) [146] Dựa trên những phân tích
về khuôn khổ pháp lý về công khai tài sản, thu nhập của 88 quốc gia và 11 mô hình điển hình về hệ thống công khai tài sản, thu nhập, nghiên cứu chỉ ra những thành tố
cơ bản của hệ thống công khai tài sản, thu nhập và những yếu tố chính tác động và đảm bảo sự thành công của một hệ thống công khai tài sản, thu nhập; trình bày những kinh nghiệm thực tiễn để giải quyết những thách thức trong quá trình thực thi pháp luật về công khai tài sản, thu nhập tại các quốc gia Một số bài học quan trọng được nhấn mạnh trong nghiên cứu xây dựng hệ thống công khai tài sản, thu nhập bao gồm: bảo đảm nguồn lực và đội ngũ cán bộ có trình độ khi triển khai hệ thống công khai tài sản, thu nhập; xác định phạm vi, đối tượng vừa đủ rộng để đảm bảo hiệu quả và độ tin cậy của hệ thống với sự lưu tâm thích đáng tới những khó khăn trong quản lý thông tin kê khai; kiểm tra chặt chẽ nội dung kê khai nhờ các phương pháp thẩm định dựa trên các nguồn lực hiện có và các chế tài áp dụng trong trường hợp kê khai gian dối cần đảm bảo tính răn đe và cưỡng chế hiệu quả
Getting the Full Picture on Public Officials: A How-to Guide for Effective
Financial Disclosure (Bức tranh toàn cảnh dành cho công chức: Hướng dẫn Công
khai Tài chính hiệu quả) [139] là công trình nghiên cứu gần đây nhất trong khuôn
khổ Sáng kiến StAR tiếp tục nghiên cứu về vấn đề công khai tài chính (2017) Được ghi nhận trong nhiều công ước quốc tế trong đó có UNCAC, các hệ thống kê khai tài chính đã được quy định và thực hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới và là một công cụ hiệu quả trong đấu tranh chống tham nhũng và tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình, sự liêm chính và đạo đức công vụ trong hoạt động quản lý nhà nước Báo cáo bao gồm 07 chương, trong đó tập trung lý giải về sự cần thiết của việc xây dựng các hệ thống kê khai tài chính (Chương 1); đối tượng phải
kê khai tài chính và tần suất kê khai (Chương 2); nội dung kê khai (Chương 3); cách thức, phương thức gửi bản kê khai và nơi tiếp nhận bản kê khai (Chương 4); cách
Trang 3127
thức kiểm tra tính trung thực của thông tin kê khai (Chương 5); cơ chế tiếp cận thông tin của công chúng đối với các bản kê khai và cơ chế chia sẻ thông tin (Chương 6) và các biện pháp chế tài đối với các vi phạm trong kê khai tài chính (Chương 7)
Liên quan đến các nghiên cứu thuộc nhóm 2, OECD có ấn phẩm Asset
Declarations for Public Officials: A tool to prevent corruption (2011) (Kê khai tài sản của công chức: Một công cụ phòng ngừa tham nhũng) [101], trong đó tập cung
cấp những phân tích về khuôn khổ pháp luật và thể chế về kê khai tài sản, thu nhập
ở khu vực Tây Âu, Trung Á và một số quốc gia thuộc OECD ở Tây Âu và Nam
Mỹ Những khuyến nghị chính sách được tài liệu đưa ra nhằm cung cấp cho các quốc gia và tổ chức quốc tế những yếu tố cơ bản cần xây dựng để đảm bảo tính hiệu quả của một hệ thống kê khai tài sản, thu nhập
Trong năm 2012, StAR công bố ấn phẩm có tựa đề On the take -
Criminalizing Illicit Enrichment to Fight Corruption (Xu thế chung - Hình sự hóa
hành vi làm giàu bất chính để chống tham nhũng) [143] trong bối cảnh quá trình
tương trợ tư pháp giữa các quốc gia thường gặp nhiều khó khăn do không thể đáp
ứng yêu cầu về cùng hình sự hóa tội phạm (dual criminality), trong đó có tội làm
giàu bất chính Mục đích của nghiên cứu này là (i) tăng cường hiểu biết về khái niệm làm giàu bất chính, thực tiễn hình sự hoá hành vi này ở một số quốc gia; những kết quả và thách thức trong quá trình thực hiện; (ii) dựa trên những bài học kinh nghiệm của nhiều quốc gia, báo cáo xác định những vấn đề trọng yếu mà mỗi quốc gia cần xem xét khi hình sự hoá hành vi này; đặc biệt là những quan ngại liên quan đến việc vi phạm một số quyền con người cơ bản (quyền được xét xử công bằng, nguyên tắc suy đoán vô tội…); biện pháp mà các quốc gia thường sử dụng
để dung hoà giữa mục đích điều tra, truy tố với việc đảm bảo quyền con người
Nghiên cứu về Identification and Quantification of the Proceeds of Bribery
(Xác định và lượng hoá tài sản hối lộ) [140] ra đời khi cộng đồng quốc tế bắt đầu
trở nên quan ngại về những ảnh hưởng tiêu cực của hành vi hối lộ công chức nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế và môi trường cạnh tranh lành mạnh ở các quốc
Trang 3228
gia Thực tiễn cho thấy, để có thể THTSTN, các cơ quan chức năng cần xác định và lượng hoá được những lợi ích, lợi nhuận mà người hối lộ (chủ yếu là các pháp nhân) thu được từ hành vi hối lộ, từ đó xác định chế tài tương xứng, hiệu quả và đủ sức răn đe đối với người hối lộ Đặc biệt, nghiên cứu này đã đề cập và phân tích 05 loại tài sản chính có nguồn gốc từ hành vi hối lộ, bao gồm: (i) tài sản có nguồn gốc
từ các hợp đồng được ký kết nhờ hối lộ; (ii) tài sản có được từ việc cấp phép kinh doanh có được nhờ hối lộ; (iii) những chi phí hoặc tổn thất đã tránh được nhờ hối lộ; (iv) sự trì hoãn có lợi nhờ hối lộ và (v) lợi ích có được từ hệ thống quản lý nội
bộ và quản lý hồ sơ lỏng lẻo; từ đó nghiên cứu phân tích các phương pháp lượng hóa từng loại tài sản Mỗi biện pháp lượng hóa được minh hoạ bởi các vụ việc có thật ở các quốc gia cùng những nhận định về thách thức trong quá trình lượng hóa tài sản
Đến năm 2014, StAR tiếp tục đề cập đến vấn đề THTSTN có được do hối lộ công chức nước ngoài nhưng tiếp cận dưới góc độ giới thiệu một công cụ mới hiệu quả hơn để giải quyết và xử lý dứt điểm nhiều vụ án THTSTN phức tạp, kéo dài mà
không có kết quả, thông qua nghiên cứu có tiêu đề Left out of the Bargain:
Settlements in Foreign Bribery Cases and implications for Asset Recovery (Phần
còn lại của món hời: Thoả hiệp dàn xếp trong những vụ án hối lộ có yếu tố nước ngoài và câu chuyện về thu hồi tài sản tham nhũng) [142] Nghiên cứu này dựa trên
các thông tin được tổng hợp và phân tích từ 395 vụ việc về hình sự, dân sự và hành chính liên quan đến hối lộ công chức nước ngoài và các tội phạm liên quan khác từ năm 1992 đến giữa năm 2012 Mặc dù ghi nhận và khuyến nghị các quốc gia nội luật hoá các quy định về thoả hiệp dàn xếp trong các vụ án tham nhũng để tăng cường hiệu quả THTSTN, báo cáo cũng thừa nhận thực trạng: Trong phần lớn các
vụ dàn xếp, các quốc gia có công chức được cho là đã nhận hối lộ không hề được tham gia vào những dàn xếp này Cùng với việc công bố số liệu thống kê: trong tổng số 6,9 tỷ đô-la tiền phạt có được từ các vụ dàn xếp, chỉ có khoảng 197 triệu đô-
la (tức 3,3%) được trả lại hoặc yêu cầu trả lại cho những quốc gia có công chức đã nhận hối lộ hoặc được cho là đã nhận hối lộ Thực tế trên đã dẫn đến những quan
Trang 3329
ngại về tính minh bạch của các thỏa thuận dàn xếp và vai trò giám sát của các cơ quan tư pháp trong quá trình này Bên cạnh đó là các băn khoăn về khả năng những thoả thuận dàn xếp có thể cản trở các cuộc điều tra độc lập của một quốc gia có liên quan; ảnh hưởng đến việc xác định trách nhiệm pháp lý của các công ty xuyên quốc
gia tại các nước thứ ba (để không vi phạm nguyên tắc một người không phải gánh
chịu trách nhiệm hình sự hai lần đối với cùng một hành vi phạm tội); ảnh hưởng
của những thỏa hiệp dàn xếp tới việc yêu cầu và đáp ứng yêu cầu tương trợ tư pháp
và các hình thức hợp tác quốc tế khác trong lĩnh vực hình sự trong bối cảnh các
công ước quốc tế hiện nay chưa có quy định trực tiếp điều chỉnh vấn đề thỏa hiệp
dàn xếp Để tăng cường tính minh bạch trong quá trình dàn xếp, báo cáo khuyến
nghị các quốc gia thực hiện nghĩa vụ thông báo cho các quốc gia có liên quan về
tiến trình dàn xếp, hình thức dàn xếp được sử dụng (thỏa thuận không truy tố, thỏa
thuận trì hoãn truy tố, thông báo hình phạt, thỏa thuận nhận tội) và công khai kết
quả của các thỏa thuận này
Trong những thập kỷ gần đây, khi việc chuyển tiền quốc tế ngày càng thuận
tiện và nhanh chóng, những người có vị thế chính trị (Politically Exposed
Persons-PEPs) có thể di chuyển nguồn tiền bất hợp pháp ra nước ngoài để tẩy rửa thông qua
hệ thống ngân hàng toàn cầu Vì vậy, báo cáo với tựa đề Politically Exposed
Persons: Preventive measures for the banking sector (Những người có vị thế chính
trị: Những biện pháp phòng ngừa của ngành ngân hàng) của StAR (2010) [144] là
lời cảnh tỉnh cộng đồng quốc tế tăng cường hợp tác để chống lại hoạt động rửa tiền thông qua các ngân hàng Báo cáo khuyến nghị các quốc gia cần tuân thủ các tiêu chuẩn áp dụng cho hệ thống ngân hàng để theo dõi và thẩm tra thông tin khách hàng, phòng ngừa rửa tiền và phát hiện TSTN Để làm được điều này, báo cáo đã đưa ra 05 khuyến nghị quan trọng cùng những điển hình tốt nhằm hỗ trợ ngành ngân hàng đưa ra những biện pháp ngăn ngừa hành vi rửa tiền của PEPs: (i) Áp dụng biện pháp thẩm tra pháp lý đối với tất cả các PEPS ở trong và ngoài nước; (ii) Yêu cầu công khai chủ sở hữu hưởng lợi dưới hình thức văn bản khi mở tài khoản ngân hàng và khi được yêu cầu; (iii) Yêu cầu cung cấp bản kê khai tài sản, thu nhập
Trang 3430
được cập nhật định kỳ như một điều kiện để thiết lập mối quan hệ giữa ngân hàng
và khách hàng; (iv) Tiến hành rà soát định kỳ các thông tin liên quan đến khách hàng là PEPs (tối thiểu là hằng năm); (v) Không giới hạn khoảng thời gian một cá nhân được coi là PEPs (kể cả khi người đó không còn tại nhiệm)
Một báo cáo sau đó của StAR có tiêu đề Puppet Masters: How the Corrupt
Use Legal Structures to Hide Stolen Assets and What to Do About It (Những kẻ giật
dây: Kẻ tham nhũng sử dụng các thể chế pháp luật để che dấu tài sản biển thủ như thế nào và đối sách của chúng ta) [145] tập trung đề cập rõ hơn các khái niệm về
chủ sở hữu hưởng lợi và phương pháp nhận dạng đối tượng này; các phương pháp, thủ đoạn rửa tiền của họ thông qua những định chế tài chính vốn được coi là lựa chọn lý tưởng để những kẻ tham nhũng dễ dàng che dấu và tẩy rửa những đồng tiền bất chính Cuối cùng, báo cáo đưa ra một số khuyến nghị chính sách nhằm: (i) Tăng cường tính minh bạch trong hoạt động của các pháp nhân, góp phần vô hiệu hoá những công cụ rửa tiền chủ yếu của kẻ tham nhũng; (ii) Vượt qua những thách thức lớn trong phòng, chống các tội phạm về kinh tế, bao gồm tội phạm tham nhũng quy
mô lớn, tội rửa tiền và tài trợ khủng bố; (iii) Đáp ứng việc tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế trong phòng, chống tội phạm kinh tế, bao gồm các quy định liên quan trong UNCAC và các khuyến nghị của Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF) Các phân tích, nhận định và khuyến nghị trong báo cáo là kết quả của quá trình sử dụng và phân tích những số liệu, dữ liệu từ nhiều nguồn thông tin chính thống như các tài liệu của tòa án về hơn 150 cuộc điều tra tham nhũng lớn có liên quan đến việc lạm dụng pháp nhân tại nhiều quốc gia khác nhau; các cuộc phỏng vấn sâu dành cho các nhà hoạt động thực tiễn, 25 định chế tài chính, nhiều nhà cung cấp dịch vụ công ty, văn phòng đăng ký công ty tại 40 quốc gia trên thế giới
1.1.2.3 Các công trình nghiên cứu thuộc Nhóm 3 bao gồm:
Tracking Anti-Corruption and Asset Recovery Commitments: A Progress
Report and Recommendations for Action (2011) (Đánh giá tiến bộ đạt được sau các
cam kết về chống tham nhũng và thu hồi tài sản: Báo cáo tiến độ và khuyến nghị hành động) [132] là nghiên cứu được xây dựng nhằm điểm lại những kết quả đạt
Trang 3531
được của 30 quốc gia thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) trong việc thực hiện những cam kết được nhất trí trong Tuyên bố Accra nhằm thúc đẩy và tăng cường việc thực hiện Tuyên bố Paris về hiệu quả viện trợ (2005) Báo cáo chỉ ra rằng, thực trạng cơ sở dữ liệu về tham nhũng quốc tế và các vụ án về THTSTN còn rất hạn chế Ở khía cạnh xây dựng thể chế, rất nhiều quốc gia hiện chưa hình sự hoá hành vi hối lộ công chức nước ngoài Ở khía cạnh thực thi pháp luật, có rất ít các quốc gia đã thực sự nỗ lực truy tìm, phong toả và trả lại tài sản có nguồn gốc tham nhũng cho quốc gia nước ngoài Báo cáo còn khẳng định, quyết tâm chính trị được hẫu thuẫn bởi một khuôn khổ pháp lý toàn diện mới có thể mang đến những bước tiến lớn trong THTSTN Vì thế, báo cáo đưa ra một số khuyến nghị
để hỗ trợ các quốc gia thực hiện tốt hơn các cam kết đã đưa ra: (i) Thông qua và thực thi những chính sách mang tính chiến lược và toàn diện về chống tham nhũng
và THTSTN, trong đó quyết tâm chính trị là điều kiện tiên quyết để đấu tranh chống tham nhũng và THTSTN có yếu tố nước ngoài; (ii) Đảm bảo xây dựng cơ chế thực thi pháp luật đủ quyền lực để có thể nhanh chóng truy tìm, phong toả tài sản; (iii) Tiến hành những cải cách về thể chế để khuyến khích việc chủ động khởi kiện; tăng cường năng lực, củng cố niềm tin và cơ chế hợp tác với các cơ quan nước ngoài; (iv) Đảm bảo cung cấp đủ nguồn lực tài chính cho các cơ quan thực thi pháp luật trong nước và tăng cường hợp tác quốc tế trong những vụ án có liên quan đến những người có vị thế chính trị; (v) Thu thập số liệu để đo lường tác động và hiệu quả của các quốc gia trong việc thực hiện các cam kết quốc tế, từ đó xây dựng định hướng chính sách, chiến lược và phân bổ nguồn lực phù hợp
Hai năm sau, StAR tiếp tục phối hợp với OECD xây dựng báo cáo với tiêu đề
Measuring OECD Responses to Illicit Financial Flows from Developing Countries
(2013) (Đo lường nỗ lực của OECD nhằm ngăn chặn dòng tiền bất hợp pháp từ các
nước đang phát triển) [133] để tổng hợp và phân tích thực trạng công tác ngăn chặn
sự lưu chuyển của các luồng tiền bất hợp pháp tại các quốc gia thuộc OECD thông qua việc phân tích chính sách về chống rửa tiền, trốn thuế, hối lộ công chức nước ngoài, THTSTN và vai trò của các nhà tài trợ Trong đó, điểm đáng lưu ý là, đối với
Trang 3632
công tác THTSTN, báo cáo khẳng định rằng, kết quả THTSTN ở các quốc gia thuộc OECD đến nay vẫn rất hạn chế; việc phong tỏa và trả lại tài sản mới chỉ được thực hiện tại một số ít quốc gia đã xác định ưu tiên rõ ràng trong chính sách về THTSTN
và cung cấp đầy đủ nguồn nhân lực và tài chính cho công tác này Đó cũng là những quốc gia có khuôn khổ pháp lý đầy đủ, toàn diện tạo điều kiện cho việc đẩy nhanh tiến độ xử lý các vụ án về THTSTN, ví dụ cho phép thu hồi không dựa trên phán quyết hoặc thu hồi theo thủ tục dân sự
Đến năm 2014, StAR công bố báo cáo độc lập về công tác THTSTN với tựa
đề Few and Far: The Hard Facts on Stolen Asset Recovery (2014) (Ít ỏi và Rải rác:
Những sự thật khắc nghiệt về THTS bị đánh cắp) [138] để trình bày kết quả thực
hiện những cam kết của 34 quốc gia thành viên của OECD (trong giai đoạn từ 2010 đến tháng 6/2012), trong đó khẳng định các biện pháp THTSTN phi truyền thống như thu hồi theo thủ tục hành chính, thu hồi không dựa trên phán quyết của toà án được cho là đem lại hiệu quả hơn so với biện pháp thu hồi theo thủ tục hình sự, đồng thời nêu ra 07 khuyến nghị chính sách bao gồm: (i) Các quốc gia cần tiếp tục cam kết ban hành và thực hiện các chính sách toàn diện để chống tham nhũng và THTSTN; (ii) Các nguồn lực cần tiếp tục được phân bổ hợp lý cho THTSTN, bao gồm việc cung ứng nguồn lực tài chính cho các cuộc điều tra, truy tố, hợp tác quốc tế; đào tạo, tăng cường năng lực cho các nhà hoạt động thực tiễn trong nước và quốc tế; (iii) Cần đảm bảo rằng các công cụ THTSTN quan trọng được quy định và
áp dụng triệt để; (iv) Các quốc gia cần chủ động nhận diện và phong toả TSTN và tạo điều kiện cho các nhà hoạt động thực tiễn trong nước chủ động khởi kiện THTSTN; (v) Các cơ quan phát triển quốc tế cần tiếp tục hỗ trợ kỹ thuật để tăng cường năng lực điều tra cho các quốc gia đang phát triển; (vi) Thu thập và xây dựng
cơ sở dữ liệu để đo lường và công khai các kết quả THTSTN, đảm nguyên tắc minh
bạch và trách nhiệm giải trình
Các nghiên cứu thuộc nhóm này còn bao gồm 14 cẩm nang chuyên biệt về THTSTN hoặc cẩm nang về hợp tác quốc tế trong các vấn đề về hình sự [113], trong đó có nội dung THTSTN của một số quốc gia và vùng lãnh thổ, bao gồm:
Trang 3733
Cẩm nang THTSTN của Áo năm 2014 (hiện chưa có phiên bản tiếng Anh); Cẩm nang về Hợp tác quốc tế và trao đổi thông tin của Quần đảo Virgin thuộc Anh năm 2013; Bộ công cụ THTSTN của Canada: Hướng dẫn dành cho người thực hiện; Hướng dẫn về THTSTN của Pháp; Hướng dẫn về THTSTN của Đức; Hướng dẫn THTSTN của Khu Đặc trị Hành chính Hồng Kông; Bộ công cụ và Quy trình THTSTN của Ý: Cẩm nang thực tiễn cho Hợp tác quốc tế; Hướng dẫn thực tiễn về THTSTN của Nhật Bản: Làm thế nào để trả lại tài sản; Cẩm nang THTSTN của Jersey; Cẩm nang THTSTN theo từng bước của Liên bang Nga; Hướng dẫn về Tương trợ tư pháp quốc tế trong vấn đề hình sự của Thuỵ Sĩ; Tìm kiếm hỗ trợ trong THTSTN ở Anh: Cẩm nang dành cho các đối tác quốc tế; Cẩm nang THTSTN ở Mỹ: Công cụ và quy trình; Cẩm nang THTSTN ở Singapore: Hướng dẫn dành cho người thực hiện Có thể nhận thấy, số lượng các quốc gia đã tự xây dựng cẩm nang riêng về THTSTN còn hạn chế, trong đó tất cả đều là các quốc gia phát triển và đặt vấn đề THTSTN ở vị trí ưu tiên trong PCTN
1.1.3 Đánh giá chung tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trong nước về THTSTN còn rất hạn
chế, cả về số lượng và mức độ chuyên sâu Hiện tại, những nghiên cứu trong nước mới chỉ dừng lại ở những nỗ lực ban đầu nhằm tìm hiểu và mô tả những khái niệm
và nội dung cơ bản của THTSTN Một số nghiên cứu bước đầu xác định và có sự phân tích so sánh giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế về THTSTN song chỉ dừng ở mức độ khái quát Các đề xuất, khuyến nghị có liên quan còn rất ít, chủ yếu là những đề xuất, khuyến nghị khái quát về sửa đổi pháp luật để tăng cường hiệu quả THTSTN nhưng chưa nêu được những chiến lược hay giải pháp toàn diện,
cụ thể
Ngược lại, cho đến nay, các nghiên cứu của nước ngoài về THTSTN tương đối phong phú, mang tính chuyên sâu và có giá trị tham khảo cao, đặc biệt về phương diện lý luận và khuôn khổ pháp luật, kinh nghiệm quốc tế Những nguồn tài liệu này có thể giúp các quốc gia đang phát triển bước đầu định hình được những cách tiếp cận phù hợp và những bước đi cụ thể trong xây dựng và thực thi pháp luật
Trang 3834
về THTSTN Mặc dù vậy, hiện vẫn chưa có những nghiên cứu ở nước ngoài đưa ra cách tiếp cận dành riêng cho các nước có nền kinh tế chuyển đổi từ kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường, với những đặc thù về kinh tế, chính trị, xã hội, truyền thống pháp luật và năng lực thi pháp luật như Việt Nam Đánh giá chi tiết hơn về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, tác giả đưa
áp dụng lý thuyết này trong công tác THTSTN là cơ sở lý luận quan trọng cho việc hoàn thiện pháp luật về THTSTN ở Việt Nam
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong THTSTN ở cả các quốc gia có truyền thống pháp luật tương tự hay khác biệt với Việt Nam, đặc biệt là những nội dung liên quan đến việc kiểm soát tài sản, thu nhập; điều tra, truy tố và xét xử án tham nhũng hay các giải pháp cụ thể trong THTSTN đã giúp tác giả luận án có được những quan sát đa chiều, toàn diện và thấu đáo khi xây dựng định hướng chiến lược mới cho công tác THTSTN ở Việt Nam
Mặc dù còn ở mức độ sơ sài, song có nhiều thông tin, số liệu và nhận định về khuôn khổ pháp luật và thực tiễn THTSTN đưa ra trong một số bài viết của các cơ quan, cá nhân làm công tác nghiên cứu và quản lý trong nước cũng rất hữu ích và sẽ được tác giả tham khảo, kế thừa khi phân tích thực trạng và đề xuất những quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật THTSTN ở Việt Nam
Những vấn đề liên quan đến đề tài đã được các nghiên cứu khác đề cập nhưng chưa được giải quyết thấu đáo mà luận án sẽ tiếp tục phân tích làm rõ
Trang 3935
Mặc dù rất đồ sộ và chi tiết song các công trình nghiên cứu ở nước ngoài chủ
yếu tập trung vào việc THTSTN có yếu tố nước ngoài, có nghĩa là, những tài sản đã
được tẩy rửa và chuyển đổi thành công ra khỏi biên giới quốc gia Nguyên nhân có thể là, những nghiên cứu này chủ yếu được thực hiện bởi các chuyên gia và nhà hoạt động thực tiễn ở các nước phát triển, có nền quản trị tiên tiến, nên mặc dù quá trình THTSTN của họ cũng gặp những khó khăn nhất định, nhưng đó không phải là những khó khăn hiện hữu, trước mắt và mang tính đặc thù như của Việt Nam hiện nay - một quốc gia có hệ thống pháp luật chưa toàn diện, năng lực thực thi còn hạn
chế nên việc THTSTN ở trong nước đã là cả một thách thức lớn
Cũng vì vậy, xuất phát điểm của các nghiên cứu quốc tế là tập trung nhận diện
và giải quyết những khó khăn, bất cập trong pháp luật và thực thi pháp luật về
THTSTN có yếu tố nước ngoài thông qua hoạt động tương trợ tư pháp và các kênh
hợp tác không chính thức khác giữa các quốc gia Cụ thể là, những khó khăn thường gặp trong thực tiễn tương trợ tư pháp, cách thức đáp ứng những yêu cầu khắt khe
trong tương trợ tư pháp (yêu cầu cùng hình sự hóa, nguyên tắc có đi có lại, các tiêu
chuẩn về chứng cứ, tố tụng ) hoặc phương thức giúp các quốc gia yêu cầu tương
trợ thúc đẩy quá trình tương trợ bằng các hình thức hợp tác không chính thức khác; những khó khăn và cách thức vượt qua những rào cản do xung đột pháp luật giữa các quốc gia, những khác biệt trong thể chế và thực thi pháp luật về THTSTN Ngoài ra, kinh nghiệm trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử án tham nhũng có yếu
tố nước ngoài nhằm THTSTN mặc dù rất hữu ích về mặt thông tin nhưng chưa thực
sự có giá trị tham khảo trực tiếp cho luận án vì đây chủ yếu là kinh nghiệm của các quốc gia có truyền thống pháp luật khác biệt với Việt Nam Bên cạnh đó, có những
giải pháp đột phá trong THTSTN như thu hồi tài sản không dựa trên kết án mặc dù
là một thực tiễn tốt, đã được nghiên cứu công phu nhưng để có thể áp dụng phù hợp
và khả thi với điều kiện của Việt Nam vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu sâu và thấu đáo hơn nữa
Vấn đề THTSTN đối với những tài sản chưa được tẩu tán ra khỏi biên giới
quốc gia - là trọng tâm nghiên cứu của luận án này - mới chỉ được các nghiên cứu
Trang 4036
nước ngoài đề cập ở mức độ khái quát Đây cũng là hạn chế của những nghiên cứu
có liên quan đến đề tài đã được công bố trong nước
Cũng theo đó, các công trình nghiên cứu cả trong và ngoài nước đều chưa nhận diện và đánh giá đầy đủ bối cảnh, những thách thức và yêu cầu đặc thù của các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi từ kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền kinh
tế thị trường như ở Việt Nam, vì thế đều chưa nêu ra được những giải pháp cụ thể thích hợp cho việc cải cách pháp luật về THTSTN một cách toàn diện ở những nước này
Luận án sẽ khoả lấp những khoảng trống nêu trên bằng cách phân tích làm rõ những khía cạnh lý luận, pháp lý và những yêu cầu đặc trưng của việc THTSTN
không có yếu tố nước ngoài (trong mối quan hệ so sánh với việc THTSTN có yếu tố
nước ngoài) ở những nước có nền kinh tế chuyển đổi từ kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường, qua đó giải quyết các câu hỏi nghiên cứu đặt ra và
có những đóng góp mới cả về lý luận, thực tiễn trong lĩnh vực này
Những vấn đề liên quan đến đề tài nhưng chưa được các nghiên cứu khác
đề cập mà sẽ được luận án giải quyết
Mặc dù đã đề cập đến những vấn đề/nội dung có liên quan, song chưa có công trình nghiên cứu nào ở trong và ngoài nước trực tiếp phân tích, làm rõ và đề xuất những vấn đề/nội dung quan trọng sau đây:
- Những giá trị cụ thể về mặt lý luận, pháp luật và mô hình thực tiễn trên thế giới mà Việt Nam cần và có thể tham khảo, áp dụng để hoàn thiện pháp luật về thu hồi tài sản tham nhũng
- Các tiêu chí cụ thể để đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về thu hồi tài sản tham nhũng của Việt Nam
- Nguyên nhân của những bất cập/hạn chế của pháp luật Việt Nam về thu hồi tài sản tham nhũng
- Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thu hồi tài sản tham nhũng