1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam theo Luật hình sự Việt Nam

99 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ nhất, luận văn làm sáng tỏ được những vấn đề lý luận về tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam, với các nội dung sau đây: Khái niệm chất thải, khái niệm lãnh thổ Việt Nam, khái niệm tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam; các dấu hiệu pháp lý của tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam. Thứ hai, luận văn phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật về tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam, liên hệ với thực tiễn Hải Phòng để từ đó chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành về tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam. Thứ ba, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam góp phần nâng cao hiệu quả xử lý hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐOÀN NGỌC QUẢNG

TéI §¦A CHÊT TH¶I VµO L·NH THæ VIÖT NAM

THEO LUËT H×NH Sù VIÖT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐOÀN NGỌC QUẢNG

TéI §¦A CHÊT TH¶I VµO L·NH THæ VIÖT NAM

THEO LUËT H×NH Sù VIÖT NAM

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 8380101.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐẶNG QUANG PHƯƠNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Đoàn Ngọc Quảng

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục từ viết tắt

Danh mục bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỘI ĐƯA CHẤT THẢI VÀO LÃNH THỔ VIỆT NAM 7

1.1 Nhận thức chung về tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam 7

1.1.1 Khái niệm chất thải 7

1.1.2 Khái niệm lãnh thổ Việt nam 12

1.1.3 Khái niệm Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam 16

1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam 20

1.2.1 Khách thể của tội phạm 20

1.2.2 Mặt khách quan của tội phạm 23

1.2.3 Chủ thể của tội phạm 25

1.2.4 Mặt chủ quan của tội phạm 28

1.3 Pháp luật hình sự của một số nước về tội đưa chất thải vào lãnh thổ 28

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI ĐƯA CHẤT THẢI VÀO LÃNH THỔ VIỆT NAM 32

2.1 Quy định của pháp luật hình sự về Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1999 32

2.2 Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam 36

Trang 5

2.2.1 Quy định về cấu thành cơ bản 36

2.2.2 Quy định về cấu thành tăng nặng 42

2.2.3 Quy định về chế tài 42

2.3 Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam 43

2.3.1 Quy định về cấu thành cơ bản 43

2.3.2 Quy định về định khung tăng nặng 46

2.3.3 Quy định về hình phạt 48

2.4 Thực tiễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam 51

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 58

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO ĐẢM TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI ĐƯA CHẤT THẢI VÀO LÃNH THỔ VIỆT NAM 60

3.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật bảo đảm truy cứu TNHS đối với tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam 60

3.2 Các giải pháp bảo đảm truy cứu TNHS đối với tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam 66

3.2.1 Một số giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam 66

3.2.2 Tăng cường năng lực của của cán bộ và cơ sở vật chất kỹ thuật 78

3.2.3 Tăng cường quan hệ quốc tế trong quản lý xuất, nhập khẩu, quá cảnh chất thải 80

3.2.4 Nâng cao nhận thức của các doanh nhân, tổ chức kinh tế trong việc quản lý chất thải, tầm quan trọng của bảo vệ môi trường 82

3.2.5 Nâng cao nhận thức của quần chúng nhân dân 84

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 85

KẾT LUẬN 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ luật hình sự

TNHS: Trách nhiệm hình sự

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Danh mục phế liệu được phép nhập khẩu từ nước ngoài

làm nguyên liệu sản xuất ban hành kèm theo Quyết định số 73/2014/QĐ-TTg

39

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, đất nước ta đã chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Sự đổi mới này đã làm cho đất nước ta thay da đổi thịt Nền kinh tế thị trường đã làm cho đa số người dân năng động hơn, cố gắng làm ăn, vươn lên làm giàu mà còn không phụ thuộc sự hỗ trợ của ngân sách nhà nước Vì vậy, cuộc sống của người dân ngày càng ấm no, hạnh phúc hơn Tuy nhiên, bên cạnh những doanh nhân, doanh nghiệp làm ăn chân chính, làm giàu cho đất nước, thì vẫn tồn tại một số người vì lợi ích cá nhân và ngắn hạn, mà xâm phạm đến lợi ích lâu dài của đất nước Trong đó, có nhiều người đang dùng nhiều thủ đoạn khác nhau hủy hoại môi trường sống của con người Việt Nam vẫn là nước đang phát triển, chúng ta vẫn có nhu cầu nhập khẩu thiết bị, công nghệ rất lớn từ nước ngoài để phục vụ sản xuất, kinh doanh Có nhiều doanh nghiệp đã nhập khẩu các công nghệ, thiết bị đã qua sử dụng từ nước ngoài về

sử dụng để sản xuất nhằm tiết kiệm chi phí Nếu các công nghệ, thiết bị đó vẫn còn có giá trị sử dụng và an toàn cho môi trường thì hoạt động nhập khẩu

đó là chính đáng Tuy nhiên, nhiều cá nhân, doanh nghiệp đã lợi dụng điều này để nhập khẩu chất thải vào Việt Nam để làm lợi cho bản thân nhưng gây nguy hại nghiêm trọng cho môi trường ở Việt Nam

Nhận thức được thực tế trên, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm quản lý chặt chẽ hoạt động nhập khẩu chất thải vào lãnh thổ Việt Nam Trong đó, Nhà nước đã tội phạm hóa hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam Tuy nhiên, cho đến nay, hoạt động nhập khẩu chất thải vào Việt Nam vẫn diễn ra phổ biến và phức tạp Trong khi đó, hoạt động xử lý các hành vi này, đặc biệt là xử lý hình sự đối với các chủ thể thực hiện hành vi

tỏ ra không hiệu quả Do các nguyên nhân sau:

Trang 9

Thứ nhất, cho đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể quy định của Bộ luật hình sự về tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam Trong khi đó, các quy định của pháp luật về môi trường vẫn còn nhiều điểm chưa thống nhất Ví dụ, hiện nay vẫn tồn tại song song hai khái niệm “chất thải” và “phế liệu” Các doanh nghiệp vẫn núp bóng nhập khẩu phế liệu để đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam Điều này gây không ít khó khăn cho cơ quan chức năng trong việc xử lý

Thứ hai, trước khi Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành thì pháp nhân không được thừa nhận là chủ thể của tội phạm Đến nay, pháp nhân thương mại đã được thừa nhận là chủ thể của các tội phạm kinh tế và môi trường, trong đó có tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn thi hành các quy định liên quan đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân

Thứ ba, các đối tượng thường lợi dụng sơ hở của các quy định pháp luật liên quan đến số lượng chất thải nhập khẩu để chia nhỏ lượng chất thải nhập khẩu, che giấu chúng trong các container hàng khác nhằm qua mặt cơ quan chức năng Khi bị phát hiện, thì các đối tượng này chối bỏ với lý do là đối tác gian lận đưa chất thải vào container hàng hoặc nếu có xử lý thì cơ quan chức năng chỉ có thể xử lý bằng hành chính mà khó xử lý bằng hình sự

vì không đủ yếu tố cấu thành tội phạm

Những vướng mắc trên đòi hỏi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương cần phối hợp ban hành một văn bản liên tịch hướng dẫn cụ thể các quy định của Bộ luật hình sự về tội phạm về môi trường trong đó có tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam

Vì lẽ trên, học viên lựa chọn đề tài “Tội đưa chất thải vào lãnh thổ

Việt Nam theo Luật Hình sự Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học

với mong muốn có những đóng góp nhỏ bé trong việc hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam

Trang 10

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Cho đến nay đã có một số công trình khoa học nghiên cứu chung về các tội phạm về môi trường Khi nghiên cứu về các tội phạm về môi trường, các tác giả cũng đã nghiên cứu một cách cơ bản tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam

Trong cuốn sách Nguyễn Đức Mai (2014), “Tìm hiểu các tội xâm phạm

trật tự quản lý kinh tế và các tội phạm về môi trường”, Nhà xuất bản Chính

trị quốc gia – Sự thật, tác giả đã trình bày những vấn đề cơ bản của tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam được quy định tại Điều 185 Bộ luật hình sự năm 1999 Tác giả đã bình luận và diễn giải một số nội dung của Điều 185 Bộ luật hình sự năm 1999, như khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm này Tác giả Nguyễn Đức Mai cũng đề cập đến một số nội dung liên quan đến tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam trong bài viết Nguyễn Đức Mai (2010), Về nhận thức và áp dụng một số quy định tại các Điều 182, 182A, 182B và 185 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều Bộ Luật hình sự năm 1999, Tạp chí Kiểm sát số 04 (tháng 02/2010) Trong đó, tác giả

có nêu quan điểm cần lượng hóa các tình tiết như “số lượng lớn”, “số lượng rất lớn”, “hậu quả nghiêm trọng” và “hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”

Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Trí Chinh (2010), Những vấn đề

lý luận và thực tiễn về các tội phạm về môi trường theo luật hình sự Việt Nam, Đại học quốc gia Hà Nội, cũng nghiên cứu chung về các tội phạm về

môi trường trong đó có tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam Những vấn

đề như dấu hiệu pháp lý của tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam cũng được tác giả phân tích một cách cơ bản

Trong luận văn thạc sĩ luật học của Ngô Ngọc Diễm (2014), Các tội

phạm môi trường theo luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử trên địa bàn

Hà Nội, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học quốc gia Hà Nội, tác giả có đề cập

Trang 11

một số nội dung cơ bản về tội phạm đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam được quy định tại Điều 185 Bộ luật hình sự năm 1999 Tác giả cũng chỉ ra ra rằng trên thực tế đến năm 2013 tòa án chưa thụ lý xét xử đối với tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam Tác giả cũng đã chỉ ra nguyên nhân là do Điều luật này chưa được hướng dẫn cụ thể nên khó thi hành trên thực tiễn Tiếp theo tác giả Ngô Ngọc Diễm lại tiếp tục công bố một bài viết về tội đưa chất thải vào

lãnh thổ Việt Nam Trong Ngô Ngọc Diễm (2014), Bàn về tội đưa chất thải

vào lãnh thổ Việt Nam quy định trong Bộ luật hình sự, Tạp chí Kiểm sát, số

17 (tháng 9/2014), tác giả cũng trình bày những nội dung cơ bản về tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam được quy định tại Điều 185 Bộ luật hình sự năm 1999 Trong bài viết của mình, tác giả cũng đã nêu ra một số bất cập định của Điều 185 Bộ luật hình sự năm 1999

Nói tóm lại, cho đến nay, số lượng các công trình khoa học nghiên cứu

về tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam chưa nhiều Hơn nữa, các công trình đã công bố có đề cập đến tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam chưa nhiều cũng mới nghiên cứu những nét cơ bản mà chưa đi sâu vào nghiên cứu một cách cụ thể và chi tiết về tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam Vì vậy, luận văn sẽ kế thừa những kết quả nghiên cứu đã đạt được của các tác giả đi trước, để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam để từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam góp phần nâng cao hiệu quả xử lý hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam

Trang 12

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn phải giải quyết được các nhiệm vụ sau đây

Thứ nhất, luận văn phải làm sáng tỏ được những vấn đề lý luận về tội đưa

chất thải vào lãnh thổ Việt Nam, với các nội dung sau đây: Khái niệm chất thải, khái niệm lãnh thổ Việt Nam, khái niệm tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam; các dấu hiệu pháp lý của tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam

Thứ hai, luận văn sẽ phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của

pháp luật về tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam, liên hệ với thực tiễn Hải Phòng để từ đó chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành về tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam

Thứ ba, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định

của pháp luật về tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam góp phần nâng cao hiệu quả xử lý hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam

4 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu

Luận văn có đối tượng nghiên cứu là các quy định của pháp luật về tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam và thực tiễn áp dụng các quy định này ở Hải Phòng

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu trên nền tảng học thuyết Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Để hoàn thành các nội dung của luận văn, học viên sử dụng các phương pháp sau: phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp điều tra xã hội học và phương pháp so sánh

6 Những điểm mới và đóng góp của luận văn

Luận văn có một số điểm mới sau đây:

Thứ nhất, luận văn làm sáng tỏ được khái niệm chất thải, khái niệm lãnh thổ Việt Nam, khái niệm tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam và các dấu hiệu pháp lý của tội này

Trang 13

Thứ hai, luận văn đánh giá, phân tích một cách có thệ thống những tồn tại trong các quy định hiện hành về tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam

Thứ ba, luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn

có kết cấu gồm ba chương như sau:

Chương 1: Lý luận chung về tội đưa chất thải vào Lãnh thổ Việt nam

Chương 2: Quy định của pháp luật hình sự về Tội đưa chất thải vào

lãnh thổ Việt Nam

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm truy cứu trách nhiệm

hình sự đối với tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam

Trang 14

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỘI ĐƯA CHẤT THẢI

VÀO LÃNH THỔ VIỆT NAM

1.1 Nhận thức chung về tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam

1.1.1 Khái niệm chất thải

Theo từ điển tiếng Việt, chất thải là rác và các đồ vật bỏ đi sau một quá trình sử dụng [38, tr.144] Rác là những thứ vụn vặt bị vứt bỏ vương vãi và làm bẩn [38, tr.818, 819] Trong khi đó đồ vật bỏ đi sau quá trình sử dụng là những vật không còn giá trị sử dụng nên không được giữ lại Khái niệm chất thải được đưa ra trong từ điển tiếng Việt chỉ mang tính thường thức, không thể sử dụng như là một khái niệm pháp lý

Khái niệm này mới chỉ dừng lại việc liệt kê và xác định chất thải sinh ra trong sinh hoạt mà chưa khái quát tất cả các loại chất thải sản sinh ra trong những hoạt động khác nhau của con người Khái niệm cũng không đưa ra đối tượng quyết định về giá trị, tác dụng của đồ vật và quyết định không chiếm hữu, không sử dụng nữa [29, tr.8]

Như vậy, khái niệm “chất thải” trong từ điển tiếng Việt chưa khái quát hóa được các đặc điểm mang tính bản chất của chất thải để phân biệt chất thải với các chất khác

Trong cuộc sống hàng ngày, có những vật chất sau khi được sử dụng một thời gian bị thải loại vì quá thời hạn sử dụng hoặc không còn công dụng thông thường Trong kinh doanh - thương mại, thuật ngữ hàng hóa đã qua sử dụng rất quen thuộc đối với các thương nhân Hàng hóa đã qua sử dụng là hàng hóa đã được đưa vào sử dụng trong sản xuất, kinh doanh hoặc tiêu dùng

và tại thời điểm mua bán, chuyển giao, hàng hóa này chưa quá thời hạn sử

Trang 15

dụng và vẫn còn có khả năng được khai thác công dụng một cách thông thường mà không gây nguy hại cho môi trường, không nguy hiểm cho con người và vẫn bảo đảm tiết kiệm năng lượng Như vậy, nếu hàng hóa đã quá thời hạn sử dụng hoặc không còn khả năng khai thác công dụng như vừa nêu trên thì buộc phải thải loại theo quy định của pháp luật Hàng hóa mặc dù chưa quá thời hạn sử dụng hoặc vẫn còn khả năng khai thác công dụng như vừa nêu trên nhưng vẫn có thể bị chủ sở hữu từ bỏ hoặc có ý định từ bỏ

Trong cuộc sống, cũng có những dạng vật chất được thải ra theo quy luật tự nhiên từ quá trình sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt Ví dụ, nước thải của các nhà máy, xỉ than, tro của nhà máy nhiệt điện, chất thải sinh hoạt…

Vấn đề đặt ra là những dạng vật chất trên có phải là chất thải hay không? Điều 2.1 Công ước Basel về kiểm soát dịch chuyển qua biên giới và xử

lý chất thải năm 1989 (Sau đây gọi là “Công ước Basel”) định nghĩa chất thải

là chất hoặc vật mà con người từ bỏ, có ý định từ bỏ hoặc phải từ bỏ theo quy định của pháp luật quốc gia.”

EU cũng có cách tiếp cận tượng tự Công ước Basel khi định nghĩa chất thải Theo đó, chất thải là chất hoặc vật mà chủ sở hữu từ bỏ, có ý định từ bỏ hoặc buộc phải từ bỏ (Điều 3(1) Chỉ thị số 2008/98/EC ngày 19/11/2008 của Nghị viện và Hộ đồng Châu Âu về chất thải và hủy bỏ một số Chỉ thị)

Từ các định nghĩa trên có thể thấy chất thải được xác định dựa trên các tiêu chí sau:

Thứ nhất, chất thải phải tồn tại dưới dạng vật chất Như vậy, những

yếu tố phi vật chất không thể là chất thải [29, tr.15] Ví dụ, các phần mềm, chương trình máy tính, các files, các tài liệu tồn tại ở dạng dữ liệu điện tử bị thải loại không phải là chất thải

Thứ hai, vật chất bị chủ sở hữu từ bỏ, có ý định từ bỏ hoặc có nghĩa vụ

từ bỏ theo quy định của pháp luật Hành vi từ bỏ có thể được thể hiện ở nhiều

Trang 16

hành vi khác nhau, như xả nước thải ra sông, thải ra bãi rác, chuyển giao chất hoặc vật cho bên thu gom chất thải, chuyển giao chất thải để sử dụng lại, tái chế hoặc sử dụng vì mục đích khác…

Phụ lục IV của Công ước Basel mô tả hành vi từ bỏ theo nghĩa rộng bao gồm cả hành vi từ bỏ không có mục đích tận dụng lại, tái chế, sử dụng lại,

sử dụng vì mục đích khác và hành vi từ bỏ có mục đích tận dụng lại, tái chế,

sử dụng lại, sử dụng vì mục đích khác Theo Mục A Phụ lục IV của Công ước Basel, hành vi từ bỏ không có mục đích tận dụng lại, tái chế, sử dụng lại, sử dụng vì mục đích khác bao gồm: Thải vào trong lòng đất hoặc trên mặt đất;

xử lý đất (ví dụ khử trùng đối với nước thải); bơm sâu (bơm nước thải vào trong giếng, cát,…); lấp (đưa chất thải vào các hố, bể chứa,…); đưa chất thải vào các bãi rác tách biệt; thải vào trong nước trừ biển/đại dương; thải vào trong biển/đại dương kể cả mặt biển; xử lý sinh học (chưa được mô tả trong phụ lục IV) tạo ra hợp chất hoặc vật trộn lẫn được thải bằng bất kỳ hành vi nào được mô tả tại Mục A; xử lý hóa lý chưa được mô tả trong phụ lục IV) tạo ra hợp chất hoặc vật trộn lẫn được thải bằng bất kỳ hành vi nào được mô tả tại Mục A; đốt cháy trên đất; đốt cháy trên biển Chỉ thị số 2008/98/EC của Nghị viện và Hội đồng Châu Âu cũng liệt kê các hành vi từ bỏ tương tự như công ước Basel Ngoài ra, Chỉ thị số 2008/98/EC còn quy định thêm hành vi cất giữ lâu dài (ví dụ để các thùng chứa trong hầm mỏ…), hành vi đóng gói và tạm thời cất giữ chất, vật để thực hiện một trong các hành vi nêu trên cũng được coi là từ bỏ

Một cách khái quát, hành vi từ bỏ bao gồm hành vi loại bỏ hoàn toàn nghĩa là đưa vật chất vào xử lý mà không đưa vào tận dụng lại, sử dụng lại, tái chế hoặc sử dụng vì mục đích khác và đưa chất thải vào tận dụng lại, sử dụng lại, tái chế hoặc sử dụng vì mục đích khác

Ý chí của con người là những suy nghĩ chủ quan bên trong của một con

Trang 17

người Như vậy, thông thường, rất khó có thể xác định được suy nghĩ của một con người nếu như người này không bộc lộ suy nghĩ của mình ra bên ngoài thông qua lời nói hoặc hành vi Vì vậy, “ý định từ bỏ” cần được xác định trên

cơ sở lời nói hoặc hành vi của một người Ví dụ, chủ sở hữu tuyên bố từ bỏ vật, tập kết vật tại khu vực xử lý chất thải Nghĩa vụ từ bỏ chất hoặc vật nhất định được xác định theo pháp luật Ví dụ, theo quy định của Chỉ thị 96/59/EC của Nghị viện và Hội đồng Châu Âu về xử lý polychlorinated biphenyls (PCBs) and polychlorinated terphenyls (PCTs), thì dầu có chứa trên 50 ppm PCBs phải được thải loại và trở thành chất thải

Từ phân tích trên, có thể thấy, cộng đồng quốc tế hiểu chất thải theo nghĩa rộng, là vật chất mà chủ sở hữu từ bỏ, có ý định từ bỏ hoặc bắt buộc phải từ bỏ theo quy định của pháp luật

Chất thải được phân chia thành chất thải nguy hại và chất thải khác Theo Điều 1.1 của Công ước Basel, chất thải nguy hại là:

a) Chất thải thuộc danh mục của Phụ lục I, trừ khi chúng không có bất kỳ đặc điểm nào được mô tả tại phụ lục III;

b) Chất thải không thuộc phạm vi của đoạn (a) nhưng được định nghĩa là chất thải nguy hại theo pháp luật của thành viên xuất khẩu, nhập khẩu hoặc quá cảnh

Phụ lục III của Công ước Basel mô tả các đặc tính của chất thải nguy hại, bao gồm: gây nổ, gây cháy, dễ cháy trong điều kiện thông thường, gây cháy khi tiếp xúc với nước, ô-xi hóa, các chất hữu cơ dễ phân hủy và tạo nhiệt, chất cực độc, chất gây bệnh truyền nhiễm, ăn mòn, thải ra khí độc, chứa độc tố, độc tính sinh thái

Chỉ thị số 2008/98/EC của Nghị viện và Hội đồng Châu Âu cũng mô tả các đặc tính của chất thải nguy hại tương tự như Công ước Basel Điều 15 mục XII của Luật chung về ngăn ngừa và quản lý thống nhất chất thải của

Trang 18

Mexico năm 2003 định nghĩa chất thải nguy hại có một số đặc tính là ăn mòn, phản ứng, chất nổ, chất độc, chất cháy hoặc có chứa thành phần truyền bệnh tạo ra tính nguy hại, cũng như gói, bao bì và đất đã bị nhiễm bẩn khi chuyển sang khu vực khác

Các chất có đặc tính nêu trên có nguy cơ gây hại cho môi trường sống, như gây nhiễm độc không khí, nước, gây cháy, nổ và/hoặc gây hại cho sức khỏe con người như gây ngộ độc, gây bỏng, gây bệnh truyền nhiễm, gây phóng xạ, gây mất cân bằng sinh thái và các tác động nguy hại khác Các chất thải được xếp vào chất thải đặc biệt nguy hại hoặc nguy hại tùy theo mức độ nguy hại của chúng Vì vậy, chất thải nguy hại phải được kiểm soát chặt chẽ Một số quốc gia không cho phép nhập khẩu chất thải đặc biệt nguy hại và chất thải nguy hại Chất thải còn lại là những chất thải không có bất kỳ đặc tính nào nêu trên

Theo phân định của Công ước Basel và EU thì chất thải bao gồm chất thải có thể được tận dụng lại, tái sử dụng, tái chế hoặc sử dụng cho mục đích khác (gọi chung là tái sử dụng) và chất thải không có khả năng tái sử dụng, tức là chất thải không có khả năng đưa vào một chu trình sản xuất khác mà phải được chôn, lấp, đổ, thải, tiêu hủy

Với cách hiểu chất thải theo nghĩa rộng, hầu hết các quốc gia khác trên thế giới không cấm hoàn toàn việc đưa chất thải vào lãnh thổ của mình mà áp dụng

cơ chế kiểm soát chặt chẽ và chỉ cấm đưa những chất thải nguy hại vượt tiêu chuẩn quy định, các chất thải còn lại có thể được nhập khẩu theo giấy phép

Những chất thải được phép kinh doanh, nhập khẩu chính là phế liệu Theo quan điểm của Nguyễn Văn Phương thì phế liệu là chất thải có thể được

sử dụng cho một chu trình sản xuất khác [29, tr.20] Vậy, chất thải nào thuộc trường hợp bị cấm đưa vào lãnh thổ một quốc gia? Nguyên tắc đã được thừa nhận trong Công ước Basel và nhiều nước trên thế giới là, không được đưa chất thải vào lãnh thổ của nước đang phát triển để chôn, lấp, đổ, thải, tiêu hủy

Trang 19

Như vậy, các quốc gia chỉ cho phép đưa chất thải vào lãnh thổ của mình để đưa vào quá trình tái sử dụng với điều kiện chất thải đó không gây nguy hại cho môi trường và/hoặc sức khỏe của con người Nói tóm lại, chất thải thuộc một trong các trường hợp sau bị cấm đưa vào lãnh thổ quốc gia:

- Chất thải đặc biệt nguy hại hoặc nguy hại trong danh mục của các điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên hoặc công nhận hoặc trong danh mục mà quốc gia công bố;

- Chất thải cần phải loại trừ, tiêu hủy trong danh mục của các điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên hoặc công nhận hoặc trong danh mục mà quốc gia công bố;

- Chất thải khác không có khả năng đưa vào một chu trình sản xuất khác mà phải được loại trừ, chôn, lấp, đổ, thải, tiêu hủy

Nói cách khác, chất thải với tư cách là đối tượng của tội đưa chất thải vào lãnh thổ là vật chất được thải ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc sinh hoạt hoặc bị chủ sở hữu từ bỏ, có ý định từ bỏ hoặc bắt buộc phải từ bỏ theo quy định của pháp luật và không có khả năng đưa vào một chu trình sản xuất khác mà phải được loại trừ, chôn, lấp, đổ, thải, tiêu hủy Vì vậy, trong phạm vi của luận văn này, chất thải được hiểu theo nghĩa hẹp này

1.1.2 Khái niệm lãnh thổ Việt nam

Điều 2.3 Công ước Basel định nghĩa “dịch chuyển xuyên biên giới” là việc dịch chuyển chất thải nguy hại hoặc chất thải khác từ một khu vực thuộc quyền tài phán của một quốc gia đến hoặc qua một khu vực thuộc quyền tài phán của quốc gia khác hoặc đến hoặc qua một khu vực không thuộc quyền tài phán của bất kỳ quốc gia nào, miễn rằng có ít nhất hai quốc gia liên quan đến sự dịch chuyển

Lãnh thổ quốc gia là một phần của trái đất bao gồm đất liền, hải đảo, vùng nước nội địa, vùng nội thủy, lãnh hải và vùng trời trên chúng cũng như vùng lòng đất dưới chúng thuộc về chủ quyền của một quốc gia nhất định [4, tr.1]

Trang 20

Từ định nghĩa trên có thể thấy lãnh thổ quốc gia có bốn bộ phận cấu thành bao gồm vùng đất, vùng nước, vùng trời và lòng đất Điều 1 Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam cũng khẳng định lãnh thổ Việt Nam là thống nhất, toàn vẹn bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời Vùng đất của Việt Nam bao gồm toàn bộ dài đất hình chữ S và toàn bộ các đảo bao gồm các đảo như đảo Thổ Chu, đảo Bạch Long Vĩ, đảo Phú Quốc, Côn Đảo, đảo Cồn Cỏ

và nhiều đảo khác cùng với hai quần đảo là Hoàng Sa và Trường Sa

Về vùng nước, Việt Nam có đầy đủ vùng nước nội địa (ví dụ sông, ngòi, ao, hồ bên trong đất liền), vùng nước biên giới, vùng nước lịch sử, vùng nước nội thủy và vùng nước lãnh hải Việt Nam có chủ quyền tuyệt đối đối với vùng trời phía trên vùng đất và vùng nước thuộc chủ quyền, cũng như có chủ quyền tuyệt đối đối vùng lòng đất dưới các các vùng đất và vùng nước nêu trên

Điều 210 (5) của Công ước về luật biển năm 1982 quy định quốc gia ven biển có quyền cho phép, quản lý và kiểm soát hành vi xử lý chất thải tại vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Tuy nhiên, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa không phải là lãnh thổ của quốc gia Như vậy, quốc gia khó có căn cứ để xử lý tàu nước ngoài đưa chất thải vào vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa mà chỉ có quyền ngăn chặn tàu nước ngoài đưa chất thải vào vùng lãnh hải hoặc nước nội thủy của quốc gia Chỉ trong trường hợp, tàu nước ngoài chôn, lấp, đổ, thải chất thải ra vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa, quốc gia mới có quyền xử lý Như vậy, liên quan đến tội đưa chất thải vào lãnh thổ, khái niệm lãnh thổ chỉ bao gồm vùng đất liền, đảo, quần đảo, vùng nước nội địa, nước nội thủy, vùng nước lịch sử, vùng lãnh hải, vùng trời trên và vùng mặt đất dưới chúng

Dưới góc độ thuế, việc hàng hóa từ thị trường trong nước vào khu phi

Trang 21

thuế quan và ngược lại được gọi là xuất nhập khẩu hoặc quá cảnh Điều 4(1)

Luật thuế xuất, nhập khẩu năm 2016 định nghĩa “Khu phi thuế quan là khu

vực kinh tế nằm trong lãnh thổ Việt Nam, được thành lập theo quy định của pháp luật, có ranh giới địa lý xác định, ngăn cách với khu vực bên ngoài bằng hàng rào cứng, bảo đảm Điều kiện cho hoạt động kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan của cơ quan hải quan và các cơ quan có liên quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và phương tiện, hành khách xuất cảnh, nhập cảnh; quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa giữa khu phi thuế quan với bên ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu.” Như vậy, việc coi quan hệ mua bán giữa khu vực phi thuế quan với bên ngoài bao gồm cả thị trường trong nước là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu nhằm mục đích quản lý thuế Trong khi đó, khu vực này vẫn nằm trên lãnh thổ của Việt Nam vẫn phải thuộc chủ quyền tuyệt đối và quyền tài phán của Việt Nam Vì vậy, khu phi thuế quan vẫn thuộc lãnh thổ của Việt Nam

Trụ sở của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước ngoài tại nước sở tại được hưởng quy chế đặc biệt, đó là quyền bất khả xâm phạm Điều 22 Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao có quy định như sau:

1 Trụ sở của cơ quan đại diện là bất khả xâm phạm Chính quyền Nước tiếp nhận không được vào nơi đó nếu không có sự đồng ý của người đứng đầu cơ quan đại diện

2 Nước tiếp nhận có nghĩa vụ đặc biệt thi hành mọi biện pháp thích đáng để ngăn chặn việc xâm nhập hoặc làm hư hại trụ sở của cơ quan đại diện, việc phá rối sự yên tĩnh hoặc làm tổn hại đến phẩm cách của cơ quan đại diện

3 Trụ sở của cơ quan đại diện, đồ đạc và tài sản khác ở trong

đó cũng như các phương tiện đi lại của cơ quan đại diện không thể

bị lục soát, trưng dụng, tịch thu hoặc đem xử lý

Trang 22

Điều 31 Công ước Viên năm 1963 về quan hệ lãnh sự quy định:

1 Trụ sở cơ quan lãnh sự là bất khả xâm phạm trong phạm vi quy định của Điều này

2 Nhà chức trách Nước tiếp nhận không được vào phần trụ

sở chỉ dùng làm việc của cơ quan lãnh sự trừ khi có sự đồng ý của người đứng đầu cơ quan lãnh sự hoặc của người do người đứng đầu

cơ quan đó chỉ định hoặc của người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao của Nước cử Tuy nhiên, trong trường hợp xảy ra hoả hoạn hoặc thiên tai khác cần có biện pháp bảo vệ gấp rút thì có thể giả định là người đứng đầu cơ quan lãnh sự đồng ý

3 Trừ các quy định ở khoản 2 Điều này, Nước tiếp nhận có nghĩa vụ đặc biệt thi hành mọi biện pháp thích đáng để bảo vệ trụ

sở cơ quan lãnh sự chống lại mọi sự xâm nhập hoặc phá hoại và ngăn ngừa mọi sự phá rối sự yên tĩnh hoặc làm tổn hại đến sự tôn nghiêm của cơ quan lãnh sự

4 Trụ sở, đồ đạc, tài sản và các phương tiện giao thông của

cơ quan lãnh sự sẽ không bị trưng dụng dưới bất kỳ hình thức nào vào các mục đích quốc phòng hoặc lợi ích công cộng, nếu vì những mục đích đó việc trưng mua là cần thiết, thì phải áp dụng mọi biện pháp có thể để tránh cản trở việc thực hiện chức năng lãnh sự và phải bồi thường một cách nhanh chóng, thích đáng và có hiệu quả cho Nước cử

Tuy nhiên, không vì quy chế pháp lý đặc biệt này mà khẳng định trụ sở

cơ quan đại diện ngoại giao, trụ sở cơ quan lãnh sự là phần lãnh thổ của nước

cử mà chúng vẫn là bộ phận lãnh thổ của nước tiếp nhận

Nói tóm lại, liên quan đến tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam, lãnh thổ Việt Nam được hiểu là toàn bộ phần đất liền, các đảo, quần đảo Hoàng Sa,

Trang 23

quần đảo Trường Sa, vùng nước nội địa, vùng nước nội thủy, vùng nước lịch

sử, vùng lãnh hải, vùng trời phía trên và vùng lòng đất phía dưới chúng Khái niệm này cũng đồng nhất với khái niệm của luật quốc tế về lãnh thổ quốc gia

1.1.3 Khái niệm Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam

Điều 8 Bộ luật hình sự năm 2015 định nghĩa tội phạm như sau:

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng,

an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa

mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự

Từ định nghĩa trên có thể thấy tội phạm có các đặc điểm sau: (1) tính nguy hiểm cho xã hội; (2) tính có lỗi; (3) tính trái pháp luật hình sự; và (4) tính chịu hình phạt

Liệu rằng hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam có tính nguy hiểm cho xã hội và phải cần thiết tội phạm hóa hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam?

Một hành vi nào đó bị pháp luật hình sự quy định là tội phạm và quy định hình phạt đối với nó trước hết là hành vi đó nguy hiểm cho xã hội [40, tr.109] Tính nguy hiểm cho xã hội là tính gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã hội [13, tr.21] Tính gây thiệt hại được hiểu là gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Đó là những quan hệ xã hội gắn liền với lợi ích của Nhà nước, công dân và xã hội có tính quan trọng và một

Trang 24

khi có sự xâm hại có thể gây ra thiệt hại hoặc ảnh hưởng đáng kể cho điều kiện tồn tại và phát triển của chế độ xã hội [13, tr 24] Ngày nay, bảo vệ an toàn sinh thái suy cho cùng chính là sự thể thiện các lợi ích cơ bản của con người trong một môi trường trong sạch, lành mạnh và thuận lợi đối với đời sống [5, tr 25]

Như vậy, hành vi gây thiệt hại cho môi trường, được thể hiện ở đặc điểm hành vi có hậu quả gây ô nhiễm không khí, nguồn nước, đất và/hoặc các yếu tố vật chất khác cấu thành môi trường Hành vi gây thiệt hại cho môi trường cũng được thể hiện ở hành vi có hậu quả gây ra mất cân bằng sinh thái, làm cạn kiệt tài nguyên Hành vi gây thiệt hại cho môi trường có thể là hành

vi làm lây lan dịch bệnh, gây nhiễm độc, ngộ độc làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người Trong nhiều trường hợp, hành vi gây thiệt hại cho môi trường không nhất thiết phải đã gây ra những thiệt hại trên mà còn bao gồm

cả hành vi đe dọa gây ra những thiệt hại trên

Hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam gây thiệt hại hoặc có nguy

cơ gây thiệt hại cho môi trường Bởi lẽ, phần lớn các chất thải (hiểu theo nghĩa hẹp) đều có chứa những yếu tố gây nguy hại cho môi trường Sự nguy hại cho môi trường có thể xảy ra ngay lập tức, trong một thời gian ngắn, hoặc sau một thời gian dài khi chất thải đã tích lũy đủ lượng nhất định Theo một nghiên cứu:

Chất thải điện tử có chứa các chất độc sau: Chì ở ống tia cực

âm (CTRs) và mối hàn; asen ở trong các ống tia cực âm; chất chống cháy antimony trioxide; chất chống cháy được polybromin hóa trong vỏ nhựa, dây cáp và bảng mạch; selenium trong các bảng mạch với vai trò là bộ lưu chỉnh điện; cadmium trong các bảng mạch và bộ bán dẫn; chromium trong thép nhằm chống bào mòn; cobalt trong thép để tạo kết cấu và từ tính; mercury trong các công tắc điện và hộp

Trang 25

Sự kết hợp của các chất này, cùng với sự phân hủy và đốt cháy của chất thải, gây ra ô nhiễm không khí và làm nhiễm bẩn bề mặt và lòng đất Các chất này còn có nguy cơ gây ra các vấn đề về sức khỏe như bệnh phổ, nhiễm độc chì và ung thư [42, tr.14]

Trên thực tế, chất thải điện tử được chuyển đến các nước Châu Á, Châu Phi, Mỹ La tinh, ở đó, người dân và công nhân sẽ tách rời chúng ra để bán cho một quy trình sản xuất mới hoặc đơn giả là xử lý, tiêu hủy chúng [42, tr 7]

Trong các hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ, có những hành vi có mục đích đưa chất thải vào lãnh thổ quốc gia để xử lý, tiêu hủy, biến quốc gia thành bãi rác của thế giới Tất cả các quốc gia và dân tộc trên thế giới đều có quyền sống bình đẳng trong môi trường trong lành và an toàn Không có lý do nào để biện minh cho hành vi man rợ, đưa chất thải vào các quốc gia đang phát triển, để biến các quốc gia đang phát triển thành bãi rác và khiến cho cư dân của quốc gia đó phải sống trong môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng đe dọa đến sự phát triển của giống nòi Trong những điều kiện như vậy, thiệt hại gây ra cho môi trường có những thuộc tính (tính chất) mới thể hiện ở chỗ: thiệt hại đó mang nhiều khía cạnh hơn, tức là làm thương tổn đến những yếu

tố khác nhau của môi trường và làm rối loạn các chức năng khác nhau của môi trường trong đời sống xã hội; thiệt hại đó không thể phục hồi được bằng lực lượng thiên nhiên hoặc bằng hoạt động của con người; và cuối cùng thiệt hại đó có thể đe dọa các giá trị xã hội quan trọng nhất, cả chính sự phồn vinh

và sự tồn tại của thế hệ hôm nay và của các thế hệ trong tương lai [39, tr 4]

Từ các phân tích trên có thể thấy, hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam là hành vi có khả năng gây thiệt hại cho môi trường của Việt Nam rất cao Vì vậy, hành vi này cần phải bị cấm đoán và cần phải có các biện pháp chế tài thích đáng nhằm giáo dục, răn đe và ngăn ngừa vi phạm Vấn đề đặt là có cần thiết phải tội phạm hóa hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam hay không? Nếu tội phạm hóa thì tội phạm hóa ở mức độ nào?

Trang 26

Tội phạm hóa hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam cũng cần phải xem xét đến tính hiệu quả Trước hết, nếu tội phạm hóa bất kỳ hành vi nào đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam sẽ dẫn đến số lượng người bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này sẽ tăng, có thể gây quá tải cho các cơ quan bảo vệ pháp luật, cũng như gây quá tải cho các nhà tù trong bối cảnh hình phạt tiền vẫn chưa phát huy được hiệu quả Tiếp theo, việc khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử được thực hiện theo một quy trình chặt chẽ, tốn nhiều thời gian Trong khi đó xử lý vi phạm hành chính, trong đó có cả phạt tiền và buộc khắc phục hậu quả của hành vi vi phạm và các biện pháp cưỡng chế hành chính khác lại được thực hiện nhanh chóng hơn Ngoài ra, nếu chủ thể đưa một lượng chất thải không lớn vào lãnh thổ Việt Nam mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự liệu có hợp lý không? Khi mà với một lượng chất thải không lớn hậu quả có thể gây ra cho môi trường không lớn

Vì lẽ đó, không nhất thiết phải tội phạm hóa tất cả các hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam Các nhà làm luật, cần dựa trên những luận cứ khoa học, lượng hóa số chất thải đưa vào lãnh thổ Việt Nam Hành vi đưa một lượng chất thải lớn vào lãnh thổ Việt Nam sẽ gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt hại lớn cho môi trường Việt Nam và hành vi này được coi là có tính nguy hiểm cho xã hội và cần được tội phạm hóa Các hành vi đưa lượng chất thải không lớn vào lãnh thổ Việt Nam không cần thiết phải tội phạm hóa mà được coi là vi phạm hành chính và bị xử lý vi phạm hành chính Cũng khó có thể đưa ra một con số chung để chỉ số lượng lớn của các chất thải Bởi vì, có thể chỉ một vài kg chất thải có chứa chất phóng xạ đã gây nguy hại lớn cho môi trường và sức khỏe con người Nhưng có thể phải có vài nghìn kg chất thải có chứa các chất khác mới gây nguy hại lớn cho môi trường Hơn nữa, có chất thải là hợp chất có chứa nhiều loại chất độc khác nhau Việc xác định

“một lượng” như thế nào thì được coi là gây nguy hại lớn cho môi trường không phải là một công việc dễ dàng

Trang 27

Một vấn đề đặt ra là nếu lượng hóa lượng chất thải đưa vào lãnh thổ Việt Nam sẽ dẫn đến hiện tượng lách luật bằng cách chia nhỏ khối lượng chất thải để đưa nhiều lần vào lãnh thổ Việt Nam và chấp nhận bị xử lý vi phạm hành chính nhưng tránh bị truy cứu trách nhiệm hình sự Đối với trường hợp này, cần coi là một hành vi với tính chất kéo dài và lặp lại nhiều lần Do đó,

số lượng chất thải của các lần đưa vào lãnh thổ Việt Nam được cộng dồn để xác định tổng lượng chất thải mà chủ thể đã đưa vào lãnh thổ Việt Nam Nếu tổng lượng chất thải mà chủ thể đã đưa vào Việt Nam là lớn thì hành vi này

có thể cấu thành tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam

Từ các phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam như sau:

Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam là hành vi cố ý hoặc vô ý của người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại đưa một

số lượng lớn vật chất được thải ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc sinh hoạt hoặc bị chủ sở hữu từ bỏ, có ý định từ bỏ hoặc bắt buộc phải từ bỏ theo quy định của pháp luật và không có khả năng đưa vào một chu trình sản xuất khác mà phải được loại trừ, chôn, lấp, đổ, thải, tiêu hủy từ khu vực không thuộc chủ quyền của Việt Nam vào các khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam bao gồm lãnh hải, vùng nước lịch sử, vùng nước nội thủy, vùng nước nội địa, đảo, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, đất liền, vùng trời hoặc vùng lòng đất trên chúng mà theo quy định của pháp luật hình sự phải bị xử lý hình sự

1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam

Từ khái niệm tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam, có thể đưa ra các dấu hiệu pháp lý của tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam như sau:

1.2.1 Khách thể của tội phạm

Nói chung, các tội phạm về môi trường xâm hại sự bền vững và ổn

Trang 28

định của môi trường; xâm hại các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ môi trường, gây ra những hậu quả nghiêm trọng, hậu quả rất nghiêm trọng hoặc hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cho môi trường sinh thái, cũng như cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của con người [21, tr.179]

Việt Nam và các nước đang phát triển có nhu cầu rất lớn về các máy móc, thiết bị, dây chuyền đã qua sử dụng nhưng vẫn còn giá trị sử dụng lớn Việc nhập khẩu các máy móc, thiết bị, dây chuyền đã qua sử dụng trên về để phục vụ sản xuất, kinh doanh vừa tận dụng được công dụng của chúng, vừa tiết kiệm chi phí Bởi lẽ, chi phí mua sắm các máy móc, thiết bị, dây chuyền

đã qua sử dụng sẽ rẻ hơn rất nhiều việc mua sắm các máy móc, thiết bị, dây chuyền mới Điều này phù hợp với năng lực tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa Ngoài ra, phế liệu là chất thải (theo nghĩa rộng) có khả năng sử dụng làm nguyên liệu cho một chu trình sản xuất khác, cũng là nguyên liệu sản xuất có giá trị Vì vậy, việc nhập khẩu phế liệu an toàn với môi trường và sức khỏe con người về làm nguyên liệu sản xuất là việc làm bình thường của các doanh nghiệp

Tuy nhiên, bên cạnh máy móc, thiết bị, dây chuyền đã qua sử dụng còn giá trị sử dụng lớn và phế liệu an toàn với môi trường và sức khỏe con người, vẫn tồn tại những chất thải nguy hại, không có khả năng khai thác công dụng

và cần phải loại bỏ, tiêu hủy Những chất này nếu được tích tụ nhiều sẽ gây nguy hại nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe của con người Vì vậy, Nhà nước ban hành các quy định cấm đưa các chất thải này nhằm bảo vệ môi trường Như vậy, khách thể trực tiếp của tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam chính là các quan hệ xã hội về bảo vệ môi trường thông qua việc cấm đưa chất thải (theo nghĩa hẹp) vào lãnh thổ Việt Nam

Đối tượng tác động của tội phạm này là chất thải được đưa từ khu vực không thuộc chủ quyền của Việt Nam vào khu vực thuộc chủ quyền

Trang 29

của Việt Nam Theo Nguyễn Đức Mai, các chất thải là đối tượng của tội phạm này bao gồm:

- Máy móc, thiết bị, phương tiện nhiễm chất phóng xạ, vi trùng gây bệnh, chất độc khác chưa được tẩy rửa hoặc không có khả năng làm sạch;

- Nguyên liệu, nhiên liệu, hóa chất, hàng hóa trong danh mục Nhà nước cấm nhập khẩu gây ô nhiễm môi trường;

- Máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông vận tải đã qua sử dụng để phá dỡ;

- Hợp chất làm suy giảm tầng ozon [21, tr.199]

Đối tượng của tội phạm này là bất kỳ vật chất nào được thải ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc sinh hoạt hoặc bị chủ sở hữu từ bỏ, có ý định từ bỏ hoặc bắt buộc phải từ bỏ theo quy định của pháp luật và không có khả năng đưa vào một chu trình sản xuất khác mà phải được loại trừ, chôn, lấp, đổ, thải, tiêu hủy từ khu vực không thuộc chủ quyền của Việt Nam vào các khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam Các chất thải này bao gồm:

- Chất thải đặc biệt nguy hại có trong danh mục các chất thải đặc biệt nguy hại do Nhà nước công bố hoặc trong danh mục chất thải đặc biệt nguy hại trong các điều ước quốc tế mà Nhà nước công nhận

- Chất thải nguy hại có trong danh mục các chất thải đặc biệt nguy hại

do Nhà nước công bố hoặc trong danh mục chất thải đặc biệt nguy hại trong các điều ước quốc tế mà Nhà nước công nhận;

- Các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy trong Công ước Stockholm;

- Chất thải khác không có khả năng đưa vào chu trình sản xuất khác và phải thải, loại, chôn, lấp, tiêu hủy

Tuy nhiên, không thể phủ nhận một khó khăn cả về mặt lý luận và thực tiễn trong việc phân định giữa chất thải (theo nghĩa hẹp) với phế liệu và hàng

Trang 30

hóa đã qua sử dụng Đồng thời, việc phân biệt giữa chất thải đặc biệt nguy hại, chất thải nguy hại và chất thải khác cũng không phải là nhiệm vụ dễ dàng Tuy nhiên, công việc này sẽ trở lên dễ dàng hơn, nếu quốc gia ban hành ra luật và các quy chế rõ ràng, cụ thể và phù hợp với thông lệ quốc tế

1.2.2 Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm bao gồm các dấu hiệu biểu hiện tội phạm diễn ra trong thế giới khách quan [16, tr.145] Các biểu hiện đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả; các dấu hiệu khách quan gắn liền với hành vi phạm tội, như công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, địa điểm và hoàn cảnh phạm tội [40, tr.158]

Hành vi khách quan của tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam bao gồm:

- Hành vi nhập khẩu chất thải vào lãnh thổ Việt Nam: Hành vi này được thực hiện thông qua các hợp đồng mua bán, trao đổi giữa cá nhân, pháp nhân thương mại trong nước với cá nhân, pháp nhân nước ngoài nhằm đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam Thông thường, hành vi nhập khẩu chất thải thường được ngụy trang bằng các hành vi nhập khẩu phế liệu được phép nhập khẩu, nhập khẩu hàng hóa đã qua sử dụng được phép nhập khẩu Hành vi nhập khẩu có thể là hành vi nhập khẩu trực tiếp hoặc ủy thác nhập khẩu

- Hành vi vận chuyển chất thải vào lãnh thổ Việt Nam: Đây là hành vi của các nhà vận tải chở chất thải vào lãnh thổ Việt Nam không quan trọng là

có hợp đồng thuê vận tải hay không

- Hành vi quá cảnh, tạm nhập tái xuất chất thải vào lãnh thổ Việt Nam: Hành vi này không có mục đích đưa chất thải vĩnh viễn vào lãnh thổ Việt Nam Tuy nhiên, hành vi này cũng có khả năng gây thiệt hại lớn cho môi trường Việt Nam Vì vậy, hành vi này cũng được coi là hành vi khách quan của tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam

Trang 31

- Hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam bằng con đường tiểu ngạch như hàng xách tay, quà biếu, du lịch,… Ngày nay, du lịch là một con đường tương đối phổ biến đưa chất thải điện tử vào lãnh thổ các quốc gia đang phát triển

- Hành vi khác đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam như thải, đổ, bỏ mặc hoặc các hành vi khác để chuyển chất thải từ khu vực không thuộc chủ quyền Việt Nam vào vùng lãnh hải hoặc khu vực khác thuộc chủ quyền của Việt Nam Một số hành vi như đổ, thải chất thải vào lãnh thổ Việt Nam là hành vi khách quan của tội gây ô nhiễm môi trường

- Hành vi của người có thẩm quyền cho phép thực hiện một, một số hoặc tất cả các hành vi khách quan nêu trên

Nói tóm lại, hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam là bất kỳ hành vi nào dịch chuyển hoặc cho phép dịch chuyển chất thải từ khu vực không thuộc chủ quyền của Việt Nam vào khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam Tuy nhiên, có một số ngoại lệ, mặc dù về mặt biểu hiện khách quan là “đưa chất thải vào Việt Nam” nhưng thực chất không phải là “hành vi đưa chất thải vào Việt Nam” với tư cách là hành vi khách quan của tội đưa chất thải vào Việt Nam Những trường hợp này bao gồm các chất thải sản sinh trên các phương tiện vận tải như máy bay, tàu thủy hoặc chất thải sản sinh tại trụ sở cơ quan ngoại giao nước ngoài tại Việt Nam được chuyển giao cho pháp nhân trong nước theo hợp đồng dịch vụ xử lý chất thải hoặc để tái chế, tái sử dụng [29, tr.23]

Bên cạnh biểu hiện bên ngoài như nêu trên, hành vi dịch chuyển hoặc cho phép dịch chuyển chất thải từ khu vực không thuộc chủ quyền của Việt Nam vào khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam là dấu hiệu khách quan của tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam, nếu như lượng chất thải được dịch chuyển vào có số lượng lớn Có nhà khoa học cho rằng số lượng chất thải nguy hại từ 1000 kg trở lên và số lượng chất thải khác từ 10.000 kg trở lên được coi là lớn [20, tr.17]

Trang 32

Hành vi đưa số lượng lớn chất thải vào lãnh thổ Việt Nam có thể gây ra hậu quả ngay lập tức, như gây ô nhiễm môi trường, làm chết các loài sinh vật, gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người,… Nhưng hành vi đưa số lượng lớn chất thải vào lãnh thổ Việt Nam chưa nhất thiết phải gây hậu quả ngay lập tức Vì vậy, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam

1.2.3 Chủ thể của tội phạm

Trước đây, theo quan điểm truyền thống, chủ thể của tội phạm chỉ có thể là cá nhân có đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, theo quan niệm mới, pháp nhân cũng có thể

là chủ thể của tội phạm Hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam có thể được chỉ đạo hoặc thực hiện bởi pháp nhân Trên thực tiễn, các doanh nghiệp nhập khẩu chất thải là rất phổ biến Vì vậy, việc thừa nhận pháp nhân là chủ thể của tội phạm này là rất cần thiết Pháp nhân là chủ thể của tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam khi hành vi phạm tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam được thực hiện nhân danh pháp nhân và vì lợi ích của pháp nhân

Pháp nhân là một thực thể vô hình, hành vi của nó được thực hiện thông qua hành vi của người đại diện bao gồm người đại diện theo pháp luật

và người đại diện theo ủy quyền Vì vậy, trong trường hợp, người đại diện nhân danh pháp nhân đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam thì pháp nhân chính là chủ thể của hành vi này Vấn đề đặt ra là liệu có trường hợp nào một người nhân danh pháp nhân thực hiện hành vi nhưng hành vi này không vì lợi ích của pháp nhân không? Trên thực tế vẫn có trường hợp như vậy Đó chính

là những trường hợp, cá nhân lợi dụng “danh nghĩa” pháp nhân để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hoặc hành vi trục lợi Tuy nhiên, cơ quan điều tra, viện kiểm sát và tòa án rất khó để chứng minh được trường hợp nào thì một người thực hiện một hành vi nhân danh vì lợi ích pháp nhân, trường hợp nào

Trang 33

thì một người thực hiện một hành vi nhân danh pháp nhân không vì lợi ích pháp nhân Vì vậy, pháp luật cần thừa nhận nguyên tắc hành vi của người đại diện thực hiện nhân danh pháp nhân được coi là hành vi vì lợi ích của pháp nhân trừ trường hợp pháp nhân có chứng cứ chứng minh người đại diện lợi dụng danh nghĩa pháp nhân để thực hiện hành vi vì lợi ích riêng hoặc lợi ích của chủ thể khác

Nếu người đại diện theo pháp luật nhân danh pháp nhân thực hiện hành

vi thì hành vi này đương nhiên là hành vi của pháp nhân Tuy nhiên, nếu người khác thực hiện hành vi nhân danh pháp nhân thì cần phải có căn cứ chứng minh rằng người này được người đại diện theo pháp luật hoặc cơ quan quản lý hoặc người có thẩm quyền của pháp nhân ủy quyền, giao nhiệm vụ, ra lệnh, chỉ đạo người này thực hiện hành vi Tuy nhiên, trong thực tiễn không phải lúc nào cũng có thể chứng minh có sự ủy quyền, giao nhiệm vụ, ra lệnh, chỉ đạo từ người đại diện, cơ quan quản lý, người có thẩm quyền của pháp nhân Bởi vì, đôi khi sự ủy quyền, giao nhiệm vụ, ra lệnh, chỉ đạo được thực hiện bằng lời nói hoặc hành vi Trong khi đó, trong thực tiễn, vẫn có những thành viên của pháp nhân thực hiện một số hành vi nhất định và biểu hiện của hành vi đó làm cho người thứ ba hiểu rằng người này đang thực hiện hành vi nhân danh pháp nhân, đồng thời pháp nhân biết hoặc buộc phải biết nhưng vẫn để mặc cho thành viên thực hiện hành vi Trong trường hợp này, người thứ ba được mặc nhiên suy đoán là thành viên của pháp nhân thực hiện hành vi nhân danh pháp nhân và vì lợi ích của pháp nhân Ví dụ, một nhóm thủy thủ của một tàu chở chất thải (tàu này thuộc sở hữu của một công ty nước ngoài) đang neo đậu ở vùng biển quốc tế đã đưa một lượng chất thải lớn lên các canoe nhỏ (có các dấu hiệu đặc định của công ty nước ngoài này) để di chuyển vào vũng lãnh hải của Việt Nam Trong trường hợp này, rõ ràng thuyền trưởng là người có thẩm quyền biết hoặc buộc phải biết hành vi này nhưng không ngăn chặn Vì vậy, hành vi này được coi là hành vi của pháp nhân

Trang 34

Trong trường hợp, pháp nhân phạm tội thì người của pháp nhân bao gồm người quản lý trực tiếp chỉ đạo, ra lệnh thực hiện hành vi phạm tội và người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này

Về mặt lý thuyết bất kỳ chủ thể nào tham gia vào quá trình di chuyển chất thải xuyên biên giới trái pháp luật đều có thể bị truy cứu trách nhiệm về hành vi này, họ có thể bao gồm: người tạo ra chất thải, người xuất khẩu, người nhập khẩu, cá nhân thực hiện các công việc giấy tờ liên quan (như người cung cấp dịch vụ logistic, người môi giới, người vận tải hoặc người điều phối) và người xử lý chất thải [43, Đoạn 8] Chủ thể của tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam được chia thành các nhóm sau:

- Người chủ mưu: Đây là những cá nhân, pháp nhân không trực tiếp đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam nhưng chỉ đạo, ra lệnh, ủy thác, ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác thực hiện hành vi Người chủ mưu cũng bao gồm cả những người chỉ đạo, ra lệnh cho người có thẩm quyền của nhà nước cho phép đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam

- Người hỗ trợ, giúp sức: Đây là những cá nhân, pháp nhân thực hiện các hành vi hỗ trợ để đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam, như những cá nhân, pháp nhân tham gia chuẩn bị hợp đồng, giấy tờ,…

- Người thực hiện: Người thực hiện là cá nhân, pháp nhân trực tiếp di chuyển chất thải vào lãnh thổ Việt Nam bao gồm người xuất khẩu, người nhập khẩu, người vận chuyển,…

- Người tạo ra chất thải như các công ty sản xuất thải ra chất thải, các công ty thu gom chất thải,… cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam nếu chủ thể này đóng vai trò là một trong những người nêu trên hoặc biết rõ chất thải sẽ được đưa vào lãnh thổ Việt Nam nhưng vẫn chuyển giao chất thải cho người xuất khẩu

Ngày nay, xuất hiện một chủ thể được che đậy bởi tư cách là người du lịch

Trang 35

đến các nước phát triển nhưng thực chất là mua hoặc dàn xếp các thương vụ xuất khẩu chất thải từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển [42, tr 30]

1.2.4 Mặt chủ quan của tội phạm

Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm, là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội do họ thực hiện và với hậu quả do hành vi đó gây ra cho xã hội hoặc đối với khả năng gây ra hậu quả đó [40, tr.197] Mặt chủ quan của tội phạm được biểu hiện thông qua các yếu tố lỗi, động cơ và mục đích phạm tội

Người thực hiện hành vi gây thiệt hại bị coi là có lỗi nếu khi thực hiện nhận thức được hoặc có đủ điều kiện để nhận thức được tính gây thiệt hại của hành vi và có đủ điều kiện lựa chọn, thực hiện hành vi khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội [13, tr.122] Lỗi bao gồm lỗi cố ý và lỗi vô ý Rõ ràng, chất thải (theo nghĩa hẹp) có khả năng gây ô nhiễm cho môi trường và bị cấm đưa vào lãnh thổ Việt Nam Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận các danh mục chất thải cấm đưa vào lãnh thổ Việt Nam và các danh mục này được ban hành và đăng công báo Như vậy, bất kỳ cá nhân, pháp nhân nào cũng biết hoặc buộc phải biết chất thải bị cấm đưa vào lãnh thổ Việt Nam Các cá nhân, pháp nhân đều nhận thức một cách rõ ràng rằng hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam gây nguy hại hoặc có nguy cơ gây nguy hại cho môi trường ở Việt Nam

và cũng nhận thức được rằng việc đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam bị cấm nhưng vẫn lựa chọn đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam Có thể thấy rằng, tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam có hình thức lỗi cố ý

Động cơ và mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam [21, tr.202]

1.3 Pháp luật hình sự của một số nước về tội đưa chất thải vào lãnh thổ

Trong phần này, học viên khảo cứu pháp luật hình sự về tội đưa chất thải vào lãnh thổ của một số nước như Trung Quốc và Singapore

Trang 36

Tội đưa chất thải vào lãnh thổ được quy định tại Điều 339 Bộ luật hình

sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1997 Đối tượng của tội phạm là chất thải rắn Hành vi phạm tội bao gồm:

- Hành vi chôn, lấp, tiêu hủy, xử lý, lưu trữ hoặc chế biến chất thải rắn từ nước ngoài trên lãnh thổ Trung Quốc;

- Hành vi nhập khẩu chất thải rắn làm nguyên liệu sản xuất (phế liệu) không có giấy phép;

- Hành vi nhập khẩu chất thải rắn dưới tên gọi là nguyên liệu nhưng chất thải này không thể làm nguyên liệu

Đối với hành vi chôn, lấp, tiêu hủy, xử lý, lưu trữ hoặc chế biến chất thải rắn từ nước ngoài trên lãnh thổ Trung Quốc thì chủ thể phạm tội bị phạt

tù đến 05 năm và bị phạt tiền Như vậy, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của hành vi này Trong trường hợp gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, hoặc gây thiệt hại lớn cho tài sản công hoặc tài sản tư hoặc gây nguy hại nghiêm trọng cho sức khỏe con người thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm

và bị phạt tiền Nếu gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù trên 10 năm và bị phạt tiền

Đối với hành vi nhập khẩu phế liệu không giấy phép thì hậu quả là dấu hiệu bắt buộc Hành vi này chỉ cấu thành tội phạm nếu gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, hoặc gây thiệt hại lớn cho tài sản công hoặc tài sản tư hoặc gây nguy hại nghiêm trọng cho sức khỏe con người

Hành vi nhập khẩu chất thải dưới dạng nguyên liệu nhưng chất thải không thể làm nguyên liệu có cấu thành hình thức và được xử lý hình sự như tội buôn lậu được quy định tại Điều 155 của Bộ luật hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Có thể thấy rằng, các nhà làm luật Trung Quốc không chủ trương định lượng hóa các dấu hiệu “gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng”, “gây thiệt

Trang 37

hại lớn cho tài sản công hoặc tài sản tư”, “gây nguy hại nghiêm trọng cho sức khỏe con người” và “hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” trong Bộ luật hình sự

Ở Singapore, tội đưa chất thải vào lãnh thổ được quy định trong Luật kiểm soát xuất khẩu, nhập khẩu và quá cảnh chất thải nguy hại năm 1998 Khái niệm chất thải trong Luật kiểm soát xuất khẩu, nhập khẩu và quá cảnh chất thải nguy hại năm 1998 khá tương đồng với khái niệm chất thải trong Công ước Basel Theo đó, chất thải là vật chất hoặc vật mà người sở hữu đã có ý định từ

bỏ, đã từ bỏ hoặc buộc phải từ bỏ theo luật thành văn (Điều 2 Luật kiểm soát xuất khẩu, nhập khẩu và quá cảnh chất thải nguy hại năm 1998)

Pháp luật Singapore cũng phân định rõ ràng giữa chất thải nguy hại và chất thải sinh hoạt Theo Điều 4(a) của Luật kiểm soát xuất khẩu, nhập khẩu

và quá cảnh chất thải nguy hại năm 1998, chất thải nguy hại là chất thải có một trong các đặc tính được mô tả tại phụ lục III của Công ước Basel hoặc chất thải có trong danh mục tại phụ lục I của Công ước Basel trừ chất thải không có bất kỳ đặc tính nào được mô tả tại phụ lục III của Công ước Basel Chất thải khác là chất thải sinh hoạt hoặc chất phát sinh từ việc tiêu hủy chất thải sinh hoạt

Singapore áp dụng cơ chế kiểm soát hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và quá cảnh chất thải Hành vi nhập hoặc quá cảnh chất thải vào Singapore mà không có giấy phép hoặc không phù hợp với giấy phép được coi là tội phạm

và bị xử lý hình sự Cá nhân nhập khẩu hoặc quá cảnh trái phép chất thải vào Singapore sẽ bị phạt tiền đến 100.000 đô la hoặc bị phạt tù đến 2 năm hoặc bị

áp dụng cả hai hình phạt Pháp nhân phạm tội thì bị phạt tiền đến 300.000 đô

la Các điều luật không đề cập đến các tình tiết tăng nặng

Trang 38

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chất thải bao gồm: vật chất được thải ra trong trong quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc sinh hoạt; vật chất bị chủ sở hữu từ bỏ, có ý định từ bỏ hoặc pháp luật bắt buộc phải từ bỏ mà không có khả năng đưa vào chu trình sản xuất khác mà phải được loại trừ, chon, lấp, đổ, thải, tiêu huỷ

Từ khái niệm chất thải và những vấn đề lý luận chung về tội phạm, học viên đưa ra được khái niệm và đặc điểm của tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam như sau: Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam là hành vi cố ý hoặc vô ý của người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại đưa một số lượng lớn chất thải từ khu vực không thuộc chủ quyền của Việt Nam vào các khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam bao gồm lãnh hải, vùng nước lịch sử, vùng nước nội thủy, vùng nước nội địa, đảo, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, đất liền, vùng trời hoặc vùng lòng đất trên chúng mà theo quy định của pháp luật hình sự phải bị xử lý hình sự

Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam có đầy đủ các dấu hiệu về mặt khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm Tội đưa chất thải vào lãnh thổ cũng được quy định trong pháp luật hình sự của Singapore và Trung Quốc

Trang 39

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI ĐƯA CHẤT THẢI

VÀO LÃNH THỔ VIỆT NAM

2.1 Quy định của pháp luật hình sự về Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1999

Công tác bảo vệ môi trường đã được Đảng, Nhà nước và Quốc hội rất quan tâm, nhiều chủ trương, chính sách đã đề ra và được thực hiện như: Chỉ thị số 7/TTg ngày 16/01/1964 về việc thu tiền bán khoáng lâm sản và chi tiền nuôi rừng; Nghị quyết số 183/CP ngày 25/9/1966 về công tác trồng cây gây rừng và đặc biệt là Pháp lệnh qui định bảo vệ rừng ngày 11/9/1972 [6, tr.27] Nhận thực được vai trò quan trọng của việc bảo vệ môi trường, Điều 36 Hiến

pháp năm 1980 của Nhà nước ta đã khẳng định: “Các cơ quan Nhà nước, xí

nghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải thiện môi trường sống” Mặc dù vậy, trong giai đoạn

này, Nhà nước ta chú trọng việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể hoá nguyên tắc hiến định này Bộ luật hình sự năm 1985 đã có một số điều luật quy định về các tội phạm xâm hại môi trường trong đó có Điều 195 quy định về tội vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường gây hậu quả nghiêm trọng Điều 195 Bộ luật hình sự năm 1985 quy định:

1- Người nào vi phạm các quy định về giữ gìn vệ sinh công cộng, về phòng ngừa và chống dịch bệnh, về bảo vệ môi trường gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm

2- Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù

từ một năm đến năm năm

Trang 40

Tuy nhiên, quy định này còn rất chung chung, khó áp dụng trong thực tiễn Hơn nữa, Điều luật này chưa thể là cơ sở pháp lý để xử lý hình sự đối với hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam Điều này phản ánh một phần thực tế nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn đó là quan hệ ngoại thương do Nhà nước độc quyền Các hoạt động xuất, nhập khẩu hầu như không phát triển Vì vậy, hiện tượng nhập khẩu chất thải vào Việt Nam đã bị ngăn chặn bởi các quy định liên quan đến quản lý hoạt động ngoại thương, vì vậy hầu như không phổ biến trên thực tiễn

Đại hội Đảng toàn quốc lần VI của Đảng ta đã chủ trương đổi mới nền kinh tế từ kế hoạch tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có

sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Hiến pháp năm

1992 cũng thể hiện rõ nguyên tắc hiến định về nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Điều 15 Hiến pháp năm 1992 quy định:

Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng

xã hội chủ nghĩa Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức

tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng

Trên cơ sở đường lối đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước ta, nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành tạo cơ sở pháp lý cho nền kinh tế hàng hoá hoá nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước theo định hướng

xã hội chủ nghĩa ra đời và phát triển Độc quyền Nhà nước về ngoại thương cũng dần được bãi bỏ Các doanh nghiệp khối dân doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư được thực hiện hoạt động xuất, nhập khẩu Người dân và doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội được tiếp cận với công nghệ mới và hàng hoá từ

Ngày đăng: 16/11/2019, 17:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w