Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về Nhân thân người phạm tội với tư cách là căn cứ quyết định hình phạt trên cơ sở thực tiễn ở Hải Phòng qua đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật về nhân thân người phạm tội với tư cách là căn cứ quyết định hình phạt. Luận văn xác định tính cấp thiết và những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện trong các quy định về nhân thân người phạm tội với tư cách là một căn cứ quyết định hình phạt cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: (1) giải pháp hoàn thiện pháp luật; (2) giải pháp nâng cao năng lực của người tiến hành tố tụng bao gồm năng lực chuyên môn và năng lực xã hội của người tiến hành tố tụng; và (3) giải pháp khác: tiếp tục “phần mềm hoá dữ liệu hộ tịch”, nâng cao ý thức và trách nhiệm tham gia đấu tranh phòng và chống tội phạm của cá nhân, tổ chức. Vì vậy, cần thiết phải nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về nhân thân người phạm tội với tư cách là một căn cứ quyết định hình phạt.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN MẠNH CƯỜNG
Nhân thân ng-ời phạm tội với t- cách là một căn cứ quyết định hình phạt
trong Luật hình sự Việt Nam
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN MẠNH CƯỜNG
Nhân thân ng-ời phạm tội với t- cách là một căn cứ quyết định hình phạt
trong Luật hình sự Việt Nam
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)
Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự
Mó số: 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cỏn bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN TUÂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trần Mạnh Cường
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI VỚI TƯ CÁCH LÀ MỘT CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT 7
1.1 Nhân thân người phạm tội 7
1.1.1 Khái niệm nhân thân người phạm tội 7
1.1.2 Đặc điểm của nhân thân người phạm tội 10
1.2 Mối quan hệ giữa nhân thân người phạm tội với quyết định hình phạt 15
1.2.1 Nhân thân người phạm tội với tư cách là căn cứ miễn hình phạt 20
1.2.2 Nhân thân người phạm tội với tư cách là căn cứ giảm nhẹ mức hình phạt 22
1.2.3 Nhân thân người phạm tội với tư cách là căn cứ tăng nặng mức hình phạt 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI VỚI TƯ CÁCH LÀ MỘT CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 28
2.1 Các quy định của pháp luật về nhân thân người phạm tội với tư cách là một căn cứ quyết định hình phạt 28
2.1.1 Các quy định về nhân thân người phạm tội với tư cách là căn cứ miễn hình phạt 28
Trang 52.1.2 Các quy định về nhân thân người phạm tội với tư cách là căn
giảm nhẹ mức hình phạt 32 2.1.3 Các quy định về nhân thân người phạm với tư cách là căn cứ tăng
nặng mức hình phạt 43
2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định về nhân thân người phạm tội
với tư cách là một căn cứ quyết định hình phạt trên địa bàn thành phố Hải Phòng 50
2.2.1 Tình hình áp dụng các quy định về nhân thân người phạm tội
với tư cách là một căn cứ quyết định hình phạt trên địa bàn thành phố Hải Phòng 50 2.2.2 Nguyên nhân của những tồn tại trong việc áp dụng các quy định
về nhân thân người phạm tội với tư cách là một căn cứ quyết định hình phạt trên địa bàn thành phố Hải Phòng 55 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 59
Chương 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP
DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI VỚI TƯ CÁCH LÀ MỘT CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT 61 3.1 Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của
pháp luật về nhân thân người phạm tội với tư cách là một căn
cứ quyết định hình phạt 61
3.1.1 Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về
nhân thân người phạm tội với tư cách là một căn cứ quyết định hình phạt 61 3.1.2 Những yêu cầu cụ thể của việc nâng cao hiệu quả áp dụng quy
định của pháp luật về nhân thân người phạm tội với tư cách là một căn cứ quyết định hình phạt 63
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của pháp
luật về nhân thân người phạm tội với tư cách là một căn cứ
Trang 63.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật 69
3.2.2 Giải pháp nâng cao năng lực người tiến hành tố tụng 78
3.2.3 Giải pháp khác 81
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 83
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nhân thân người phạm tội là một trong những yếu tố mà Tòa án phải xem xét khi quyết định hình phạt Trong nhiều trường hợp, mức hình phạt chính nặng hay nhẹ phụ thuộc vào nhân thân người phạm tội Pháp luật hình
sự Việt Nam quy định dấu hiệu nhân thân người phạm tội có thể là dấu hiệu cấu thành tội phạm, dấu hiệu định khung tăng nặng hoặc giảm nhẹ hoặc các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự Đây là những căn cứ pháp lý để Tòa án xem xét, quyết định mức hình phạt áp dụng cho bị cáo Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy việc xem xét dấu hiệu nhân thân người phạm tội với tư cách là căn cứ quyết định hình phạt còn có một số vướng mắc do những nguyên nhân sau đây:
Thứ nhất, các quy định của pháp luật về nhân thân người phạm tội còn nhiều điểm chưa hợp lý, chưa phù hợp với thực tiễn Vì vậy, áp dụng các quy định này còn tùy tiện và phụ thuộc vào chủ quan của người xét xử Nhiều trường hợp, mức hình phạt được tuyên không công bằng, không bảo đảm đúng nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự, không phản ánh đúng những yếu tố liên quan đến vụ việc phạm tội như động cơ, mục đích phạm tội, hoàn cảnh của người phạm tội
Thứ hai, vẫn còn hiện tượng cán bộ xét xử hoặc do nhận thức chưa đúng về vai trò của các dấu hiệu nhân thân người phạm tội hoặc lợi dụng những điểm chưa hợp lý của các quy định của pháp luật về nhân thân người phạm tội đã quyết định hình phạt không đúng, hoặc là quá nhẹ hoặc là quá nặng làm giảm hiệu quả của chính sách hình sự của Nhà nước ta
Vì vậy, mặc dù đã có nhiều công trình khoa học pháp lý nghiên cứu về nhân thân người phạm tội, tuy nhiên, cho đến nay chưa công trình khoa học nào nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa quyết định hình phạt với nhân
Trang 8thân người phạm tội trên cơ sở thực tiễn Hải Phòng để từ đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật về nhân thân người phạm tội với tư cách là một căn cứ quyết định hình phạt Vì lẽ đó, tôi
chọn đề tài “Nhân thân người phạm tội với tư cách là một căn cứ quyết
định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)” làm luận văn tốt nghiệp cao học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nhân thân người phạm tội và quyết định hình phạt đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu ở các giác độ khác nhau Có thể kể một số công trình khoa học tiêu biểu sau:
TSKH Lê Cảm (2001), Nhân thân người phạm tội một số vấn đề lý
luận cơ bản, Tạp chí Tòa án nhân dân, các số 10, 11/2001 và 01/2002
Trịnh Tiến Việt (2003), Nhân thân người phạm tội một căn cứ cần cân
nhắc khi quyết định hình phạt, Tạp chí Kiểm sát, số 1-2003
Nguyễn Thị Thanh Thủy (2001), Một số vấn đề cơ bản về nhân thân
người phạm tội, Tạp chí Nhà nước & Pháp luật, số 5/2001
Nguyễn Thị Thanh Thủy (2005), Nhân thân người phạm tội với việc
quy định trách nhiệm hình sự, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 8-2005
Nguyễn Thị Thanh Thủy (2005), Vấn đề nhân thân người phạm tội
trong thực tiễn quyết định hình phạt, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 19/2005
Ths Đỗ Đức Hồng Hà (2005), Các tình tiết định khung tăng nặng
trong tội giết người phản ánh mức độ lỗi và các đặc điểm về nhân thân người phạm tội, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 18/2005
Đinh Văn Quế (2009), Các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự liên
quan đến nhân thân người phạm tội, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 13 + 14/2009
Nguyễn Thị Bích Huyền (2015), Nhân thân người phạm tội với việc
quyết định hình phạt từ thực tiễn thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ luật học,
Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 9Chu Thanh Hà (2015), Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
thuộc về nhân thân người phạm tội, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật –
Đại học Quốc gia Hà Nội
Chu Thị Quỳnh (2015), Vai trò nhân thân người phạm tội – Dấu hiệu
quy định trách nhiệm hình sự, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật – Đại học
Quốc gia Hà Nội
đó, tên đề tài “Nhân thân người phạm tội với tư cách là một căn cứ quyết
định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)” vẫn bảo đảm tính mới và cấp thiết
Những kết quả đã đạt đƣợc của các công trình khoa học đã công bố là nền tảng lý luận để học viên tiếp tục phát triển những luận điểm khoa học về mối
Trang 10quan hệ giữa nhân thân người phạm tội với hình phạt trong luận văn này Bên cạnh đó, trên cơ sở những vấn đề lý luận đã được làm rõ, học viên sẽ vận dụng để đánh giá thực tiễn vấn đề “nhân thân người phạm tội với tư cách là một căn cứ quyết định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam” trên địa bàn thành phố Hải Phòng Từ đó, luận văn đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về nhân thân người phạm tội với tư cách là căn cứ quyết định hình phạt trên cơ sở thực tiễn
ở Hải Phòng Từ đó, luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật về nhân thân người phạm tội với tư cách là căn cứ quyết định hình phạt
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài có các nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất, luận văn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về nhân thân người phạm tội với tư cách là căn cứ quyết định hình phạt, trong đó, luận văn làm rõ: nhân thân người phạm tội với tư cách là căn cứ miễn hình phạt, nhân thân người phạm tội với tư cách là căn cứ giảm nhẹ mức hình phạt và nhân thân người phạm tội với tư cách là căn cứ tăng nặng mức hình phạt
Thứ hai, luận văn phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về nhân thân người phạm tội với tư cách là căn cứ quyết định hình phạt trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Thứ ba, luận văn đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật về nhân thân người phạm tội với tư cách là căn cứ quyết định hình phạt
Trang 114 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật về nhân thân người phạm tội với tư cách là căn cứ quyết định hình phạt và thực tiễn áp dụng các quy định này trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về nhân thân người phạm tội với tư cách là căn cứ quyết định hình phạt ở Hải Phòng trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2016
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu và hoàn thành trên cơ sở học thuyết Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh Các phương pháp được sử dụng để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp lịch sử, phương pháp điều tra – xã hội học và một
số phương pháp khác
6 Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Luận văn có những đóng góp mới sau đây:
Một là, trên cơ sở kế thừa, tổng hợp những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố, luận văn giải quyết một số vấn đề lý luận về quyết định hình phạt và nhân thân người phạm tội Từ đó, luận văn làm sáng
tỏ nhân thân người phạm tội với tư cách là căn cứ miễn hình phạt, nhân thân người phạm tội với tư cách là căn cứ giảm nhẹ mức hình phạt và nhân thân người phạm tội với tư cách là căn cứ tăng nặng mức hình phạt
Hai là, luận văn chỉ ra những vướng mắc, tồn tại trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về nhân thân người phạm tội với tư cách là căn cứ quyết định hình phạt từ thực tiễn Hải Phòng
Ba là, luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật về nhân thân người phạm tội với tư cách là căn cứ quyết định hình phạt
Trang 127 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 03 chương sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nhân thân người phạm tội với tư
cách là một căn cứ quyết định hình phạt
Chương 2: Quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng quy định của
pháp luật về nhân thân người phạm tội với tư cách là một căn cứ quyết định hình phạt trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Chương 3: Nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của pháp luật về nhân
thân người phạm tội với tư cách là một căn cứ quyết định hình phạt
Trang 13Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI VỚI TƯ CÁCH LÀ MỘT CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
1.1 Nhân thân người phạm tội
1.1.1 Khái niệm nhân thân người phạm tội
Nhân thân người phạm tội là đối tượng nghiên cứu của nhiều chuyên ngành khoa học như luật hình sự, tội phạm học, xã hội học,… Tội phạm có thể được thực hiện bởi một con người hoặc pháp nhân thương mại Khi tội phạm được thực hiện bởi con người thì những đặc điểm mang tính sinh học
và xã hội của con người đó luôn được xem xét trong mối quan hệ với các yếu
tố khác Triết học Mác – Lê Nin đã thừa nhận con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội Điều đó có nghĩa rằng khi nghiên cứu, đánh giá những đặc điểm riêng biệt của một con người, không thể đánh giá chúng một cách tách biệt, mà phải đánh giá chúng trong mối liên hệ với các yếu tố lịch sử, văn hóa, kinh tế, chính trị và xã hội
Người thực hiện hành vi phạm tội cũng là con người Vì vậy, định nghĩa nhân thân người phạm tội cần xuất phát từ khái niệm nhân thân của con người Nhân thân của con người là những đặc điểm, tính chất nhất định của con người được đúc kết khi con người tồn tại trong một môi trường xã hội cụ thể với tư cách là một thành viên của xã hội, có một vị trí nhất định trong xã hội [15, tr 9] Như vậy nhân thân người phạm tội chính là những đặc điểm, tính chất nhất định của một người phạm tội cụ thể trong một môi trường cụ thể
Một con người sinh ra không phải bẩm sinh đã có xu hướng phạm tội Trên thực tế, mỗi con người sinh đều có những khí chất riêng, có người có khí chất điềm tĩnh, có người có khí chất nóng nảy,… Các khí chất đó có ảnh
Trang 14hưởng nhất định đến sự hình thành nhân cách, xu hướng tâm lý của một con người cụ thể Nhân cách của một con người được hình thành từ quá trình học tập, giáo dục, lao động và tu dưỡng Môi trường gia đình, giáo dục và xã hội
có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành tính cách của con người với những xu hướng tâm lý khác nhau Ví dụ, những người sống trong gia đình có đầy đủ
bố mẹ là những người có học thức, quan tâm đến giáo dục con cái thường là những người được học hành đầy đủ, có nhân cách tốt với xu hướng xử sự đúng mực Ngược lại, có một tỷ lệ không nhỏ những người sinh ra trong môi trường mà cha mẹ, người thân phạm tội chuyên nghiệp có xu hướng phạm tội Tuy nhiên, những yếu tố này không quyết định hành vi ứng xử của con người Hành vi ứng xử của con người còn chịu sự tác động của hoàn cảnh khách quan Ví dụ, một cô gái bị một người tấn công tình dục (có hành vi dùng dao
dí vào cổ đòi giao cấu trái ý muốn), cô gái đã nhanh tay giật được dao và đâm vào người kẻ xấu làm người này chết Trong trường hợp này, xét về nhân cách, cô gái là người có tư cách đạo đức tốt, chưa có “tiền án, tiền sự”, nhút nhát, rụt rè trong giao tiếp xã hội Nhưng trong hoàn cảnh chỉ có một mình đối mặt với kẻ xấu, do bất ngờ trước sự tấn công của kẻ xấu và để bảo vệ danh dự, nhân phẩm của mình, cô gái đã lựa chọn một xử sự vượt quá phòng
vệ chính đáng Ví dụ trên cho thấy các yếu tố thuộc về khí chất, tính cách, nhân cách của con người không quyết định hoàn toàn hành vi ứng xử phạm tội của con người Nhưng các yếu tố này cần được xem xét để đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Như vậy, nhân thân của người phạm tội không được hiểu theo nghĩa tiêu cực theo hướng là những đặc điểm riêng có ảnh hưởng đến xu hướng phạm tội của người phạm tội Nhân thân của người phạm tội cần được hiểu theo nghĩa là những đặc điểm riêng của một người thực hiện hành vi phạm tội Điều đó có nghĩa rằng nhân thân của người phạm tội bao hàm cả những đặc điểm xấu và những đặc điểm tốt của
Trang 15một cá nhân và chúng có ý nghĩa trong việc xác định trách nhiệm hình sự của người phạm tội
Cho đến nay, đã có nhiều nhà khoa học đưa ra khái niệm về nhân thân người phạm tội
Trước hết, Giáo trình Luật hình sự (phần chung) của Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội định nghĩa nhân thân người phạm tội là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt nói lên tính chất của một con người [10, tr 321]
Nguyễn Thị Thanh Thủy cũng định nghĩa nhân thân người phạm tội như sau:
Nhân thân người phạm tội là tổng hợp các đặc điểm, dấu hiệu, các đặc tính thể hiện bản chất xã hội của người khi vi phạm pháp luật hình sự, mà trong sự kết hợp với các điều kiện bên ngoài ảnh hưởng đến việc thực hiện hành vi phạm tội của người
đó [18, tr 31]
Theo GS.TS Võ Khánh Vinh:
Nhân than người phạm tội được hiểu là tổng thể tất cả các đặc điểm có ý nghĩa về mặt xã hội của người thực hiện tội phạm được cân nhắc để giải quyết những vấn đề của trách nhiệm hình
sự (cá thể hoá hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự, miễn và giảm hình phạt) [27, tr 194]
GS.TSKH Lê Cảm định nghĩa về nhân thân người phạm tội như sau:
Nhân thân người phạm tội là tổng hợp các đặc điểm về mặt pháp lý hình sự, xã hội nhân khẩu học, xã hội sinh học và đạo đức tâm lý học của người đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm, mà các đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng để giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự của người đó một cách công minh, có căn cứ, đúng pháp luật, đồng
Trang 16thời góp phần đấu tranh chống tình trạng phạm tội [1, tr 11]
Có thể thấy rằng các định nghĩa nêu trên mặc dù có cách diễn đạt khác nhau nhưng đều chỉ ra bản chất của nhân thân người phạm tội là những đặc điểm phản ánh bản chất xã hội của người phạm tội, có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm hình sự của người phạm tội Dưới khía cạnh quyết định hình phạt, chúng tôi phát triển khái niệm nhân thân người phạm tội
từ khái niệm nhân thân người phạm tội do GS.TSKH Lê Cảm đưa ra như sau:
Nhân thân người phạm tội là tổng hợp các đặc điểm về mặt pháp lý hình sự, xã hội học nhân khẩu, xã hội sinh học và đạo đức tâm lý học của một người khi thực hiện hành vi phạm tội, là căn cứ để xác định trách nhiệm hình
sự của người này, và cũng là căn cứ để lựa chọn loại và mức hình phạt nếu người này phải chịu trách nhiệm hình sự nhằm bảo đảm nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc công bằng và sự hợp lý
1.1.2 Đặc điểm của nhân thân người phạm tội
Cho đến nay, các nhà khoa học pháp lý đều thống nhất với nhau ở đặc điểm của nhân thân người phạm tội như sau: Đặc điểm về mặt pháp lý hình sự; đặc điểm về mặt xã hội – nhân khẩu học; đặc điểm về đạo đức, tâm lý học
Đặc điểm về mặt pháp lý hình sự:
Thứ nhất, khuynh hướng phạm tội: Khuynh hướng phạm tội đề cập
đến động cơ, mục đích phạm tội, đây là những yếu tố thuộc mặt chủ quan của tội phạm Động cơ phạm tội là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện tội phạm [18, tr 62] Động cơ phạm tội được hình thành từ nhu cầu của cá nhân về vật chất, tinh thần hoặc những lợi ích khác, nhu cầu đó có thể
là nhu cầu lệch chuẩn, nhưng cũng có thể là nhu cầu bình thường với xử sự sai lệch Ví dụ, một cá nhân lười lao động nhưng luôn có nhu cầu được hưởng thụ, có nhà sang, xe đẹp,… Vì vậy, sau một quá trình đấu tranh tư tưởng trong
Trang 17bản thân, anh ta đi đến thực hiện hành vi lừa đảo Động cơ phạm tội chỉ có trong trường hợp phạm tội với lỗi cố ý [10, tr 185] Bởi vì, trong trường hợp này, nhu cầu đã thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội để thỏa mãn nhu cầu của mình Ngược lại, người phạm tội với lỗi vô ý thuộc trường hợp hoàn toàn không mong muốn phạm tội, không biết hành vi của mình phạm tội mặc dù buộc phải biết hoặc tự tin cho rằng hành vi của mình không phải là tội phạm, vì vậy hành vi phạm tội không bị thúc đẩy mới nhu cầu Do
đó, động cơ không có trong phạm tội với lỗi vô ý
Mục đích phạm tội là mô hình được hình thành trong ý thức người phạm tội và người phạm tội mong muốn đạt được điều đó trên thực tế bằng cách thực hiện tội phạm [10, tr 186] Mục đích phạm tội không đồng nhất với hậu quả của tội phạm Mục đích phạm tội là kết quả mà người phạm tội mong muốn đạt được bằng việc thực hiện tội phạm nhưng kết quả đó vẫn đang tồn tại trong ý thức của người phạm tội Trong khi đó, hậu quả của tội phạm là kết quả đã có trên hiện thực khách quan Mục đích phạm tội chỉ có ở các hành vi phạm tội với lỗi cố ý
Động cơ và mục đích phạm tội có ý nghĩa sau đây:
- Động cơ, mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc của một số cấu thành tội phạm, ví dụ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác là dấu hiệu bắt buộc của tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ (Điều 356 BLHS năm 2015); mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc trong tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS năm 2015)
- Động cơ, mục đích phạm tội là dấu hiệu định khung tăng nặng, ví dụ
“trả thù người khiếu nại tố cáo” là tình tiết định khung tăng nặng đối với tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 166 BLHS năm 2015)
- Động cơ, mục đích phạm tội cũng có thể là tình tiết giảm nhẹ, tăng
Trang 18Thứ hai, tính ổn định của hành vi chống đối xã hội của người phạm tội: Tính ổn định của hành vi chống đối xã hội có thể được đánh giá căn cứ
vào số lượng hành vi chống đối xã hội do con người thực hiện và căn cứ vào tính chất của hành vi đó [18, tr 63] Những người thường xuyên có hành vi chống đối xã hội là những người có tính nguy hiểm cho xã hội cao, họ có nhiều kinh nghiệm và chuyên nghiệp trong việc thực hiện những thủ đoạn tinh vi nhằm che mắt, xóa bỏ dấu vết, gây khó khăn cho công tác phát giác tội phạm Vì lẽ đó, cần có những biện pháp có tính răn đe cao nhằm xử lý nghiêm khắc những người thường xuyên có hành vi phạm tội Trong BLHS
có chế định tái phạm, tái phạm nguy hiểm được coi là tình tiết tăng nặng định khung của nhiều tội Ví dụ, tái phạm nguy hiểm là tình tiết tặng nặng định khung của tội cưỡng dâm (điểm h khoản 2 Điều 143 BLHS năm 2015) Ngoài ra, tái phạm, tái phạm nguy hiểm cũng được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Bên cạnh đó, phạm tội nhiều lần cũng có thể là tình tiết tăng nặng định khung của một số tội Ví dụ, tội dâm ô với trẻ em, có tình tiết tăng nặng định khung là phạm tội từ hai lần trở lên (điểm b khoản 2 Điều
146 BLHS năm 2015) Phạm tội nhiều lần cũng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Thứ ba, hình thức phạm tội: Trong thực tiễn, có trường hợp chỉ có
một người thực hiện hành vi phạm tội, gọi là phạm tội đơn lẻ Nhưng cũng
có trường hợp, nhiều người cùng phạm tội Nếu nhiều người cùng cố ý thực hiện một tội phạm thì gọi là đồng phạm [18, tr 64] Rõ ràng, so với phạm tội đơn lẻ, đồng phạm có tính nguy hiểm cao hơn Bởi vì “những người cùng tham gia có thể hỗ trợ cho nhau trong việc thực hiện tội phạm và có thể gây
ra hậu quả nặng nề cho xã hội” [18, tr 65] Khi xem xét, đồng phạm, Tòa án cũng phải xem xét hình thức đồng phạm, là đồng phạm đơn giản hay là đồng
Trang 19phạm có tổ chức Đồng phạm có tổ chức có thể là tình tiết tăng nặng định khung Ví dụ, phạm tội có tổ chức là tình tiết tăng nặng định khung đối với tội sử dụng người dưới 16 tuổi với mục đích khiêu dâm (điểm a khoản 2 Điều 147 BLHS năm 2015)
Đặc điểm mặt xã hội – nhân khẩu học: Các đặc điểm về mặt xã hội –
nhân khẩu học của nhân thân người phạm tội là những dấu hiệu cho phép khẳng định thông tin về người phạm tội và là tiêu chí có vai trò quan trọng trong việc xây dựng định hướng, đưa ra các biện pháp tác động mang tính chất giáo dục – cải tạo lao động đối với những người bị kết án, cũng như soạn thảo các biện pháp đấu tranh phòng, chống tình trạng phạm tội [1, tr 8] Việc nghiên cứu các đặc điểm, dấu hiệu nhân khẩu học – xã hội cho phép làm sáng tỏ một số điều kiện góp phần hình thành nên nhân thân người phạm tội [18, tr 51] Xét theo đặc điểm mặt xã hội – nhân khẩu học, những dấu hiệu phổ biến của nhân thân người phạm tội bao gồm:
Thứ nhất, dấu hiệu về độ tuổi: Độ tuổi có ảnh hưởng đáng kể đến xử
sự trái pháp luật hình sự của một con người cụ thể Thông thường, độ tuổi
thanh thiếu niên (từ 14-30), do thiếu kinh nghiệm sống, khả năng kiềm chế cảm xúc còn kém, thiếu kỹ năng xử lý tình huống, nên có tỷ lệ người phạm tội cao hơn so với người ở độ tuổi khác Các tội phạm do nhóm người này thực hiện chủ yếu là tội cướp, tội cướp giật tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội cố ý gây thương tích,… Trong khi những người từ 50 tuổi trở lên thường ít phạm tội hơn vì họ đã tích lũy được kinh nghiệm sống, có khả năng kiềm chế tốt, có
kỹ năng giải quyết những khó khăn của cuộc sống
Thứ hai, dấu hiệu về giới tính: Dấu hiệu về giới tính của người phạm tội
cho phép nói lên tỷ lệ phạm tội lớn hơn của nam giới so với nữ giới [1, tr 9] Tuy nhiên, không nên giải thích các đặc điểm của hành vi phạm tội của nam giới và nữ giới bằng sự khác biệt về sinh lý [18, tr 52] Nhưng rõ ràng, nam
Trang 20giới có những đặc điểm của giới tính có ảnh hưởng đến khuynh hướng phạm tội Nam giới dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường sống xung quanh như gia đình, bạn bè và dễ nhiễm những thói hư, tật xấu Nam giới trẻ tuổi thường thích tụ tập, thích thể hiện bản lĩnh đàn ông bằng những hành vi trái với chuẩn mực xã hội Vì vậy, nam giới thường có xu hướng phạm tội nhiều hơn nữ giới Nắm được trình trạng và nguyên nhân dẫn đến khuynh hướng phạm tội của mỗi giới sẽ giúp cho cơ quan bảo vệ pháp luật có được những giải pháp hiệu quả ngăn ngừa tội phạm
Thứ ba, dấu hiệu về trình độ học vấn: Trình độ học vấn của con
người không chỉ ảnh hưởng đến sự nhận biết thế giới xung quanh, sự phát triển lý trí và hình thành nhân cách, mà còn tạo cho con người còn có thể lựa chọn được cách ứng xử đúng trong các mối quan hệ xã hội [9, tr 15] Về cơ bản, trình độ học vấn cũng có ảnh hưởng nhất định đến xu hướng phạm tội Những người có học vấn cao, thường có khả năng nhận thức về đúng sai tốt hơn, có thể kiềm chế được cảm xúc và có kỹ năng xử lý tình huống tốt Vì vậy, tỷ lệ phạm tội của nhóm người này thường không cao Ngược lại, những người có học vấn thấp thường có nhận thức về đúng sai thấp hơn, thường bị cảm xúc bột phát chi phối và không có kỹ năng xử lý tình huống Do đó, nhóm người này có tỷ lệ phạm tội cao hơn Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là ngày nay, ngày càng nhiều người có trình độ học vấn phạm tội xâm phạm trật
tự quản lý kinh tế và các tội phạm liên quan đến chức vụ
Thứ tư, dấu hiệu về địa vị xã hội: Dấu hiệu về địa vị xã hội cho thấy
tội phạm thường phổ biến hơn cả ở các tầng lớp và nhóm xã hội nào Thông thường, địa vị xã hội có mối liên hệ chặt chẽ với trình độ học vấn Thông thường, đa số những người lười biếng, chỉ thích hưởng thụ, không có việc làm
ổn định và không có địa vị xã hội là những người có trình độ học vấn thấp Những người này có xu hướng phạm tội nhiều hơn so với những người thuộc
Trang 21nhóm khác, như viên chức về hưu Tuy nhiên, một điều không thể phủ nhận là
xu hướng người có địa vị xã hội, đặc biệt là những người có chức vụ phạm tội liên quan đến chức vụ ngày càng gia tăng
Thứ năm, dấu hiệu nơi cư trú: Dấu hiệu nơi cư trú cũng có những
ảnh hưởng nhất định đối với xu hướng phạm tội Những nghiên cứu về xu hướng phạm tội của người sinh sống ở thành thị và người sinh sống ở nông thông sẽ giúp cho các cơ quan bảo vệ có những biện pháp phù hợp để giáo dục công dân, ngăn ngừa tội phạm
Thứ sáu, dấu hiệu về hoàn cảnh gia đình: Môi trường gia đình có ảnh
hưởng không nhỏ đến sự hình thành nhân cách của một con người Người phạm tội thường xuất thân từ gia đình có hoàn cảnh không bình thường [9, tr 17] Đó
là những hoàn cảnh mà các thành viên trong gia đình không hòa thuận với nhau, sống thiếu trách nhiệm với gia đình, với xã hội, có lối sống buông thả, trái với chuẩn mực xã hội chung, gia đình có thành viên phạm tội,… Những người sinh ra và lớn lên trong các gia đình mà thiếu cha hoặc mẹ hoặc cả hai cũng có xu hướng phạm tội nhiều hơn so với những người trưởng thành trong gia đình có đầy đủ cha mẹ
Các đặc điểm về mặt đạo đức – tâm lý học của nhân thân người phạm tội: Các đặc điểm về mặt đạo đức – tâm lý học của nhân thân người
phạm tội là những dấu hiệu nói lên thế giới bên trong (tinh thần) trong quá trình hình thành nhân thân người đã có lỗi trong việc thực hiện tội phạm, là tiêu chí phản ánh lý trí, ý chí, cảm xúc của người đó khi phạm tội [1, tr 10]
1.2 Mối quan hệ giữa nhân thân người phạm tội với quyết định hình phạt
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong luật hình sự do Tòa án nhân danh Nhà nước áp dụng đối với người đã thực hiện tội phạm, tước bỏ hoặc hoặc hạn chế những quyền và
Trang 22lợi ích nhất định của người bị kết nhằm trừng trị, cải tạo, giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm [10, tr 123] Về cơ bản, đây là khái niệm đã làm rõ được bản chất và mục đích của hình phạt Khái niệm này chỉ cần bổ sung thêm đối tượng phải gánh chịu hình phạt là pháp nhân để phù hợp với thực tiễn ngày nay Như vậy, hình phạt có thể được định nghĩa như sau:
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế khiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong luật hình sự do Tòa án áp dụng đối với cá nhân hoặc pháp nhân thương mại đã thực hiện tội phạm, tước bỏ hoặc hạn chế những quyền
và lợi ích nhất định của cá nhân hoặc pháp nhân thương mại bị kết án nhằm trừng trị, cải tạo, giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm
Xuất phát từ nguyên tắc cá thể hóa hình phạt, việc quy định cũng như
áp dụng hình phạt không thể không dựa vào các dấu hiệu nhân thân người phạm tội Dưới góc độ quy định về hình phạt, nhân thân người phạm tội có ảnh hưởng nhất định đến việc xây dựng các quy phạm về hình phạt Trong Bộ luật hình sự, có những quy định mang tính nguyên tắc về việc áp dụng các hình phạt nhẹ như cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đối với người phạm tội lần đầu, ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt Đồng thời, các quy phạm pháp luật hình sự cũng quy định những hình phạt nghiêm khắc cho các trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhân thân xấu (ví dụ, tái phạm nguy hiểm), các hình phạt đó là tù chung thân và tử hình Một số hình phạt không được áp dụng đối với những chủ thể đặc biệt, như không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội, không áp dụng hình phạt tù chung thân,
tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội Một số hình phạt chỉ áp dụng đối với những người phạm tội có đặc điểm nhân thân nhất định, như cải tạo không giam giữ chỉ áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng mà có nơi làm việc ổn định, nơi thường trú rõ ràng [18, tr 124], trục xuất chỉ áp dụng đối với người phạm tội là người nước ngoài,… Nói tóm
Trang 23lại, nhân thân người phạm tội là yếu tố không thể bỏ qua khi quy định về hình phạt trong BLHS
Ngoài ra, nhân thân người phạm tội cũng là căn cứ quan trọng trong quyết định hình phạt Theo tác giả Trịnh Tiến Việt:
Như vậy, xem xét và làm sáng tỏ những đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội khi quyết định hình phạt giúp cho chúng ta hiểu được quá khứ, hiện tại và khả năng giáo dục, cải tạo người phạm tội trong tương lai, đồng thời qua đó xác định được nguyên nhân và điều kiện của việc thực hiện tội phạm, cũng như mức độ lỗi của bị cáo Mặc dù không phải là một trong những yếu tố cấu thành tội phạm, nhưng nhân thân người phạm tội lại là yếu tố (cơ sở) cần được xem xét khi quy trách nhiệm hình sự và đặc biệt nó có vai trò quan trọng trong việc lượng hình và cá thể hoá hình phạt [26, tr 21, 22] Như vậy, nhân thân người phạm tội cũng là những yếu tố mà Toà án cần phải xem xét, đánh giá khi lượng hình Bởi lẽ, trong các yếu tố thuộc về nhân thân người phạm tội có yếu tố thuộc về độ tuổi, giới tính, ý thức pháp luật của người phạm tội, thái độ, ứng xử của người phạm tội sau khi thực hiện tội phạm,… Đây là những yếu tố có ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của tội phạm, khả năng giáo dục, cải tạo người phạm tội,… Vì vậy, Toà án phải xem xét để quyết định mức hình phạt phù hợp Việc căn cứ vào nhân thân người phạm tội cũng thể hiện nguyên tắc cá thể hoá hình phạt Như vậy, việc coi một số yếu tố thuộc về nhân thân người phạm tội là căn cứ quyết định hình phạt góp phần bảo đảm sự phù hợp với quy định của pháp luật, sự công bằng
và sự phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm cụ thể
Khi xem xét, quyết định hình phạt, Tòa án cần phải dựa vào các tiêu chí sau đây:
Trang 24- Những đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội có liên quan trực tiếp đến tội phạm, đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội;
- Những đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội có liên quan đến đạt được mục đích của hình phạt, đến khả năng cải tạo và giáo dục người phạm tội [26, tr 22]
Xem xét nhân thân người phạm tội khi quyết định hình phạt không có nghĩa là xem xét nhân thân nói chung, mà chỉ xem xét những đặc điểm nào của nhân thân người phạm tội cần được ghi nhận, phân tích, đánh giá và cân nhắc khi quyết định hình phạt [17, tr 4] Những đặc điểm của nhân thân người phạm tội thường được xem xét khi quyết định hình phạt bao gồm:
- Đặc điểm về độ tuổi: Độ tuổi của người phạm tội cũng có ảnh hưởng nhất định đối với quyết định hình phạt của Tòa án Người chưa thành niên (người chưa đủ 18 tuổi) có thể được miễn, giảm hình phạt theo quy định của pháp luật, người già (người từ đủ 70 tuổi trở lên) có thể được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Bởi vì, thông thường, người già đã có sức khỏe suy giảm nên khả năng tiếp tục phạm tội không còn nhiều, cũng như không còn đủ sức khỏe
để có thể chấp hành hình phạt tù như người trẻ Tuy nhiên, những người già phạm tội xâm phạm tình dục không được hưởng tình tiết giảm nhẹ “người từ
đủ 70 tuổi trở lên”
- Đặc điểm về giới tính: Việc quy định về đặc điểm giới tính là tình tiết cần xem xét để quyết định hình phạt không có mục đích phân biệt đối xử về giới tính Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh đặc biệt, người phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người phụ nữ đang mang thai cần được hưởng chính sách khoan hồng của Nhà nước Chính sách này không chỉ thể hiện sự nhân đạo của Nhà nước đối với phụ nữ mà còn thể hiện chính sách quan tâm, bảo vệ trẻ em là mầm non của đất nước
Trang 25- Đặc điểm về ý thức pháp luật của người phạm tội: Đặc điểm về ý thức pháp luật của người phạm tội là xem xét đây là trường hợp phạm tội lần đầu hay tái phạm, tái phạm nguy hiểm, người phạm tội có tiền án, tiền sự không Những người tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phạm tội nhiều lần, phạm tội có tính chuyên nghiệp thể hiện ý thức chống đối xã hội cao và cần phải được nghiêm trị bởi mức hình phạt nghiêm khắc đủ sức răn đe Ngược lại, người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng được xem xét giảm nhẹ hình phạt
- Đặc điểm về hình thức phạm tội: Tội phạm được thực hiện đơn lẻ hay
là đồng phạm có tổ chức Rõ ràng, phạm tội có tổ chức có tính nguy hiểm rất cao vì vậy cần phải được áp dụng hình phạt nghiêm khắc
- Đặc điểm về mặt chủ quan của tội phạm: Trong nhiều trường hợp động cơ, mục đích phạm tội, thái độ quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng hay tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội có ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự của người phạm tội và do đó có ảnh hưởng đến loại và mức hình phạt
áp dụng cho người này Phạm tội vì động cơ đê hèn, cố ý quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng là những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hoặc tình tiết tăng nặng định khung
- Đặc điểm về thái độ, ứng xử của người phạm tội sau khi thực hiện tội phạm: Nhà nước khuyến khích người phạm tội có thái độ và hành vi tích cực nhằm khắc phục hậu quả của tội phạm, giúp cơ quan nhà có thẩm quyền điều tra, xử lý tội phạm,… Vì vậy, trường hợp, người phạm tội có thái độ và hành
vi tích cực sau khi thực hiện tội phạm được giảm nhẹ hình phạt Ngược lại, những kẻ có hành động xảo quyệt, hung hãn để trốn tránh hoặc che giấu tội phạm sẽ phải chịu mức hình phạt thích đáng
- Các đặc điểm khác thuộc nhân thân người phạm tội: Ngoài các đặc điểm trên, các đặc điểm khác thuộc về nhân thân người phạm tội có thể được quy định
là tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự hoặc tình tiết định
Trang 26khung Căn cứ vào đó, Tòa án ra lựa chọn loại và mức hình phạt thích hợp
Nói tóm lại, nhân thân người phạm tội với tư cách là căn cứ quyết định hình phạt là những đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội cần được xem xét, đánh giá khi quyết định hình phạt
Như vậy, nhân thân người phạm tội là căn cứ quyết định hình phạt với nội dung cụ thể như sau: (1) nhân thân người phạm tội là căn cứ miễn hình phạt; (2) nhân thân người phạm tội là căn cứ giảm nhẹ hình phạt; và (3) nhân thân người phạm tội là căn cứ tăng nặng hình phạt
1.2.1 Nhân thân người phạm tội với tư cách là căn cứ miễn hình phạt
Mặc dù hình phạt được áp dụng đối với hành vi phạm tội, chứ không phải đối với nhân thân người phạm tội Nhưng nhân thân người phạm tội là một căn cứ cần phải được xem xét, cân nhắc khi lượng hình Bởi vì nhân thân người phạm tội cũng là những yếu tố có ảnh hưởng đến tính nguy hiểm cho
xã hội của hành vi phạm tội và khả năng cải tạo, hoàn lương của người phạm tội Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa đòi hỏi Tòa án khi áp dụng hình phạt cần đặt mục đích cải, tạo giáo dục bên cạnh mục đích trừng trị Điều đó,
có nghĩa là, cần phải xét các đặc điểm của nhân thân người phạm tội để trả lời câu hỏi liệu rằng có cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội không hoặc nếu có thì liệu rằng có phải áp dụng hình phạt không
Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo trong chính sách hình sự của Nhà nước ta nhằm khuyến khích người phạm tội ăn năn, hối cải, lập công chuộc tội, thay đổi nhận thức và thái độ ứng xử theo hướng tích cực,… Trong những trường hợp nhất định, người phạm tội mặc dù đáng lẽ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm đã thực hiện nhưng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào các quy định trong BLHS miễn trách nhiệm hình sự Miễn trách nhiệm hình sự là miễn những hậu quả pháp lý về các tội phạm đối với người đã thực hiện tội
Trang 27phạm [10, tr 97] Trong các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự có những căn
cứ thuộc về đặc điểm nhân thân người phạm tội:
- Người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa do sự chuyển biến của tình hình: Ví dụ, người phạm tội sau khi thực hiện hành vi phạm tội
bị mắc bệnh hiểm nghèo, không còn khả năng phạm tội nữa, nên việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đó không cần thiết và do đó được miễn trách nhiệm hình sự [10, tr 98]
- Người phạm tội có hành vi tích cực: Việc xem xét miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội có hành vi tích cực nhằm khuyến khích người phạm tội có thái độ ăn năn, hối cải, có các biện pháp tích cực ngăn chặn, hạn chế hậu quả của tội phạm, cũng như góp phần tích cực trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm Ví dụ khoản 4 Điều 110 BLHS năm 2015 quy định: “Người đã nhận làm gián điệp, nhưng không thực hiện nhiệm vụ được giao và tự thú, thành khẩn khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì được miễn trách nhiệm hình sự về tội này”
- Người chưa thành niên phạm tội: Người chưa thành niên là những người đang ở giai đoạn đầu của cuộc đời Họ chưa có nhận thức đầy đủ về thế giới xung quanh, chưa thể tự mình đánh giá được tính đúng sai của hành vi xử
sự, khả năng kiềm chế cảm xúc kém,… Vì những yếu tố tâm lý này, người chưa thành niên thường dễ bị lôi kéo, xúi giục, tác động bởi ngoại cảnh, và do
đó dẫn đến phạm tội Người chưa thành niên phạm tội cần được giáo dục để trở thành con người có ích cho xã hội, chứ không phải lúc nào cũng đòi hỏi phải nghiêm trị họ Vì vậy, trong những trường hợp nhất định, như người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng, gây nguy hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình, cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự [18, tr 122]
Miễn trách nhiệm hình sự là không buộc người phạm tội phải gánh chịu
Trang 28phạm tội không phải gánh chịu hình phạt Tuy nhiên, miễn trách nhiệm hình
sự không đồng nhất với miễn hình phạt Miễn hình phạt là không buộc người phạm tội phải chịu hình phạt về tội mà người đó đã thực hiện [10, tr 352] Sự khác nhau giữa miễn hình phạt và miễn trách nhiệm hình sự được thể hiện ở những điểm sau:
- Người phạm tội có thể được miễn hình phạt nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự Như vậy, người phạm tội được miễn hình phạt nhưng vẫn có thể phải chịu các trách nhiệm khác
- Người phạm tội được miễn hình phạt nhưng chưa chắc đã được miễn trách nhiệm hình sự Như vậy, người phạm tội được miễn hình phạt nhưng vẫn có thể phải chịu các trách nhiệm khác
- Chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền miễn hình phạt, trong khi đó cơ quan điều tra, viện kiểm sát và tòa án đều có thẩm quyền miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội
Về căn cứ miễn hình phạt, người phạm tội được miễn hình phạt nếu như có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đáng được hưởng khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự Trong số các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có nhiều tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội Ví dụ, phạm tội do lạc hậu, người phạm tội là phụ nữ có thai, người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng (Khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015)
1.2.2 Nhân thân người phạm tội với tư cách là căn cứ giảm nhẹ mức hình phạt
Việc thừa nhận một số đặc điểm của nhân thân người phạm tội là căn
cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thể hiện tính nhân đạo trong chính sách hình
sự của Nhà nước ta Nhà nước không đặt nặng mục đích trừng trị mà nỗ lực giáo dục, cải tạo người phạm tội để họ là người có ích cho xã hội Vì vậy, Nhà
Trang 29nước khuyến khích người phạm tội tự thú, thật thà khai báo, ăn năn, hối cải, khắc phục hậu của tội phạm, tích cực hỗ trợ cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện và xử lý tội phạm,… Ngoài ra, Nhà nước cũng có chính sách khoan hồng với những người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội do nhận thức lạc hậu hoặc do có những hoàn cảnh khó khăn đặc biệt Do đó, đặc điểm nhân thân người phạm tội cũng là một trong những căn cứ được Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho người phạm tội Các đặc điểm này bao gồm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc về nhân thân người phạm tội được quy định trong phần chung của Bộ luật hình sự và các quy định về áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội Nói cách khác, nhân thân người phạm tội với tư cách là căn cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bao gồm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc về nhân thân người phạm tội được quy định trong phần chung của Bộ luật hình sự và các quy định về áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc về nhân thân người phạm tội: Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc về nhân
thân người phạm tội cần phải được Tòa án xem xét khi quyết định hình phạt Theo Chu Thanh Hà:
Các tình tiết giảm nhe ̣ TNHS thuộc về nhân thân người pha ̣m tội là những trường hợp mà người pha ̣m t ội có các đặc tính thể hiện bản chất xã hội của con người mang ý nghĩa làm giảm mức đ ộ nguy hiểm cho xã h ội cũng như khả năng cải tạo cao của người phạm t ội nên có giá tri ̣ làm giảm nhe ̣ TNHS mà người pha ̣m tội đáng lẽ ra phải chịu nếu không thu ộc các trường hợp đó , được quy đi ̣nh trong BLHS, trong các văn bản liên quan hay trong thực tiễn xét xử vu ̣ án hình sự do Tòa án tự cân nhắc và được ghi rõ trong bản án [6, tr 19] Không phải tất cả các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đều là các
Trang 30tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc về nhân thân người phạm tội Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc về nhân thân người phạm tội phải là những tình tiết thuộc về đặc tính cá nhân phản ánh bản chất xã hội của người phạm tội, mà những đặc tính cá nhân này làm giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội hoặc cho thấy khả năng cải tạo cao của người phạm tội Ví dụ, tình tiết “người phạm tội là phụ nữ có thai”, “người phạm tội
tự thú”, “người phạm tội đã lập công chuộc tội” là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc về nhân thân người phạm tội
Như vậy, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc về nhân thân người phạm tội có ý nghĩa trong việc tòa án xem xét, quyết định một mức hình phạt nhẹ hơn so với người phạm cùng một tội nhưng không có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Các tình tiết giảm nhẹ đã là dấu hiệu định tội hoặc tình tiết định khung hình phạt không được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Bên cạnh các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định trong luật, Tòa án có thể xác định tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để người phạm tội được hưởng mức hình phạt nhẹ hơn Tuy nhiên, Tòa án phải ghi rõ lý giảm nhẹ trong bản án
Các quy định về áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội: Về nguyên tắc, không áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử
hình đối với người chưa thành niên phạm tội Khi quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, Tòa án áp dụng mức hình phạt nhẹ hơn
so với mức hình phạt đối với người đã thành niên phạm cùng một tội có mức
độ nguy hiểm cho xã hội tương ứng
1.2.3 Nhân thân người phạm tội với tư cách là căn cứ tăng nặng mức hình phạt
Có một số đặc điểm của nhân thân người phạm tội có thể thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định trong phần chung của Bộ luật hình sự hoặc tình tiết tăng nặng định khung được quy định tại một điều luật
Trang 31về tội phạm cụ thể Chính sách khoan hồng, bao dung của Nhà nước không đồng nghĩa với việc Nhà nước chấp nhận hoặc “bỏ qua” cho những người phạm tội có nhân thân xấu, có ý thức chống đối xã hội cao, tàn ác, xảo quyệt Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt thuộc nhân thân người phạm tội là công cụ để Nhà nước xử
lý nghiêm minh những người phạm tội có nhân thấu xấu nhằm mục đích giáo dục bản thân họ cũng như những người cần phải có thái độ tích cực để trở thành người có ích cho xã hội Tòa án chỉ có quyền áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định trong BLHS
Theo tác giả Lê Cảm và Trịnh Tiến Việt:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc về nhân thân người phạm tội là tình tiết được quy định trong Phần chung Bộ luật hình sự với tính chất là tình tiết tăng nặng chung có liên quan đến các đặc điểm cá nhân của người phạm tội và là một trong những căn
cứ để cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền (chủ yếu là toà án) tuỳ thuộc vào từng giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng (chủ yếu là giai đoạn xét xử) cá thể hoá trách nhiệm hình sự và hình phạt của người phạm tội theo hướng nghiêm khắc hơn trong phạm vi một khung hình phạt nếu trong vụ án hình sự có tình tiết này [4, tr 16]
Từ định nghĩa trên có thể thấy, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc về nhân thân người phạm tội có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phải là các tình tiết
thuộc về đặc điểm cá nhân phản ánh bản chất xã hội của người phạm tội, mà những đặc điểm này làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, và
do vậy làm tăng nặng trách nhiệm hình sự của người phạm tội Ví dụ các tình tiết “lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội”, “phạm tội có tính chất côn đồ”, “tái phạm, tái phạm nguy hiểm” là các tình tiết tăng nặng trách nhiệm
Trang 32Thứ hai, vì tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tình tiết góp phần
làm tăng nặng trách nhiệm hình sự của người phạm tội, nên các tình tiết này cần phải được quy định trong Bộ luật hình sự Các tình tiết có xu hướng làm tăng nặng trách nhiệm hình sự của người phạm tội không được quy định trong
Bộ luật hình sự không được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và Toà án không được căn cứ vào các tình tiết này để quyết định hình phạt
Thứ ba, các tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội là yếu tố định
tội thì không được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Thứ tư, các tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội là yếu tố tăng
nặng định khung hình phạt đối với một tội phạm cụ thể thì không được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc về nhân thân người phạm tội là các tình tiết thuộc về đặc điểm cá nhân của một người phạm tội cụ thể Vì vậy, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc về nhân thân người phạm chỉ được áp dụng riêng đối với người này, chứ nhất thiết không được áp dụng đối với người đồng phạm khác [4, tr 17]
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc về nhân thân người phạm tội, nếu có trong vụ án hình sự, sẽ là căn cứ để Toà án quyết định tăng mức hình phạt đối với người phạm tội có tình tiết này trong phạm vi khung hình phạt nhất định được quy định trong một điều luật cụ thể về một tội phạm cụ thể trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự
Các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt phải được quy định trong các điều luật về các tội phạm cụ thể trong phần các tội phạm của Bộ luật hình
sự Toà án không được áp dụng một tình tiết không được quy định trong điều luật về tội phạm cụ thể làm tình tiết tăng nặng định khung hình phạt Khác với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định trong phần chung của
Bộ luật hình sự, tình tiết tăng nặng định khung hình phạt là căn cứ để Toà án xác định khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội
Trang 33KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Quyết định hình phạt việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt (hình phạt chính hoặc hình phạt chính và hình phạt bổ sung) và mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội
cụ thể trên cơ sở tình tiết khách quan của vụ việc phạm tội Quyết định hình phạt phải bảo đảm các nguyên tắc sau: nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa; nguyên tắc cá thể hoá hình phạt; và nguyên tắc công bằng Các căn cứ quyết định hình phạt bao gồm: các quy định của Bộ luật hình sự; tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành
vi phạm tội; nhân thân người phạm tội; và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự
Nhân thân của một con người là những đặc điểm mang tính sinh học, tâm lý, xã hội, nhân khẩu của một con người Tuy nhiên, không phải tất cả những đặc điểm thuộc về nhân thân của con người đều được coi là nhân thân người phạm tội Chỉ những đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội có ý nghĩa trong việc xác định trách nhiệm hình sự, hình phạt đối với người phạm tội mới là nhân thân người phạm tội
Như vậy, nhân thân người phạm tội được pháp luật và thực tiễn thừa nhận là một trong những căn cứ quyết định hình phạt Khi quyết định hình phạt, cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét toàn diện các vấn đề liên quan trong đó có nhân thân người phạm tội Nhân thân người phạm tội là căn cứ quyết định hình phạt được thể hiện ở những nội dung sau: (1) nhân thân người phạm tội là căn cứ miễn hình phạt; (2) nhân thân người phạm tội là căn cứ giảm nhẹ hình phạt; và (3) nhân thân người phạm tội là căn cứ tăng nặng hình phạt
Trang 34Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI VỚI
54 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định:
Người phạm tội có thể được miễn hình phạt trong trường hợp phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự
Theo nghiên cứu của PGS.TS Trịnh Quốc Toản thì thực tiễn áp dụng
Bộ luật hình sự năm 1999, các trường hợp được miễn hình phạt bao gồm:
Những trường hợp được miễn hình phạt trong thực tiễn xét
xử thường là những trường hợp bao gồm tổng hợp nhiều tình tiết làm cho tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội là rất thấp, đến ranh giới mà Toà án đánh giá rằng không đến mức phải áp dụng hình phạt đối với người phạm tội mà vẫn có tác dụng đạt được hiệu quả phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung,
đó là, những trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng nhưng thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, không có
Trang 35tình tiết tăng nặng đáng kể, có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự hiện hành (phạm tội chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn, tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, tự thú, thật thà khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội
do bị cưỡng ép, đe doạ, phạm tội do nhận thức lạc hậu, hoàn cảnh đặc biệt khó khăn không do mình gây ra )
Như vậy, theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999, để được miễn hình phạt cần thoả mãn các điều kiện sau:
Thứ nhất, có từ hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên
Thứ hai, thuộc trường hợp đáng khoan hồng đặc biệt
Điều 59 Bộ luật hình sự năm 2015 cũng tiếp tục khẳng định: “Người
phạm tội có thể được miễn hình phạt nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản
1 và khoản 2 Điều 54 của Bộ luật này mà đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự” Khoản 1 và 2 Điều 54
Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về trường hợp quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt Như vậy, Điều 59 của Bộ luật hình sự năm 2015 viện dẫn đến khoản 1, 2 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 dẫn đến hai cách hiểu:
Cách hiểu thứ nhất: để được miễn hình phạt, người phạm tội phải thoả mãn các điều kiện sau:
(1) Có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể; và
(2) Đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự
Nếu theo cách hiểu thứ nhất thì quy định của Điều 59 Bộ luật hình sự
Trang 36năm 2015 không khác biệt đáng kể so với quy định tại Điều 54 Bộ luật hình
có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể chỉ là căn cứ để Toà án xem xét, quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt Về mặt lý thuyết, mặc dù, người phạm tội thuộc trường hợp nêu trên, toà án không bắt buộc phải quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt Vì vậy, nếu người phạm tội không thuộc trường hợp được quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhưng lại được miễn hình phạt là không hợp lý Vì vậy, chúng tôi ủng hộ cách hiểu thứ hai Như vậy, việc chuyển hoá từ “phải chịu hình phạt” đến “được miễn hình phạt” phải qua nấc trung gian “quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt” Nói cách khác, người phạm tội phải thuộc trường hợp được quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự Cụ thể hơn, theo quy định mới để được miễn hình phạt, người phạm tội phải thoả mãn đầy đủ các điều kiện sau đây:
Trang 371) Có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng
vi của mình; Người phạm tội tự thú; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm; Người phạm tội đã lập công chuộc tội; Người phạm tội
là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được liệt kê tại Điều 51 của
Bộ luật hình sự năm 2015 có nhiều tình tiết liên quan đến nhân thân người phạm tội như: Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm; Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra; Phạm tội do lạc hậu; Người phạm tội là phụ nữ có thai; Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên; Người phạm tội là người khuyết tật nặng
Trang 38nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; Người phạm tội tự thú; Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải; Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm; Người phạm tội đã lập công chuộc tội; Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác; Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng
Về cơ bản, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 kế thừa nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc về nhân thân người phạm tội đã được quy định tại Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 Ví dụ, các tình tiết như: Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm; Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả; Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;
So với Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định một số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc về nhân thân người phạm tội theo hướng cụ thể hơn Ví dụ, Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định “người phạm tội là người già”, trong khi đó Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định rõ “Người phạm tội
là người đủ 70 tuổi trở lên”
Ngoài ra, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định thêm một số tình tiết mới là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc về nhân thân người phạm tội, như “Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng”
2.1.2 Các quy định về nhân thân người phạm tội với tư cách là căn giảm nhẹ mức hình phạt
Trước hết, các tình tiết làm căn cứ giảm nhẹ mức hình phạt bao gồm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại phần chung của
Bộ luật hình sự
Trang 39Bảng 2.1: So sánh các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc về nhân thân người phạm tội theo Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 và Điều
51 Bộ luật hình sự năm 2015
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự thuộc về nhân thân người
phạm tội theo Điều 46 Bộ luật hình sự
năm 1999
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc về nhân thân người phạm tội theo Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015
Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm
bớt tác hại của tội phạm;
Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi
thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;
Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít
nghiêm trọng;
Phạm tội do lạc hậu;
Người phạm tội là phụ nữ có thai;
Người phạm tội là người già;
Người phạm tội là người có bệnh bị hạn
chế khả năng nhận thức hoặc khả năng
điều khiển hành vi của mình;
Người phạm tội tự thú;
Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn
năn hối cải;
Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ
quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra
tội phạm;
Người phạm tội đã lập công chuộc tội;
Người phạm tội là người có thành tích
xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học
Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;
Phạm tội do lạc hậu;
Người phạm tội là phụ nữ có thai;
Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;
Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng;
Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;
Trang 40quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm;
Người phạm tội đã lập công chuộc tội; Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;
Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng
Về cơ bản, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc về nhân thân người phạm tội trong Bộ luật hình sự năm 1999 và Bộ luật hình sự năm
2015 không có nhiều khác biệt Bộ luật hình sự năm 2015 có bổ sung thêm hai tình tiết đó là “phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức
mà không phải do lỗi của mình gây ra” Ngoài ra, thay vì sử dụng thuật ngữ
“người già” như Bộ luật hình sự năm 1999, Bộ luật hình sự quy định rõ luôn
độ tuổi thuộc trường hợp được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là từ 70 tuổi trở lên Về nguyên tắc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc nhân thân người phạm tội, Bộ luật hình sự năm 2015 không có thay đổi so với
Bộ luật hình sự năm 1999 Theo đó, toà án được quyền coi các tình tiết khác (ví dụ đầu thú) là tình tiết giảm nhẹ nhưng phải ghi lý do giảm nhẹ trong bản
án Ngoài ra, tình tiết giảm nhẹ đã được quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt Thực ra, trong cấu trúc của Bộ luật hình sự năm 1999 và Bộ luật hình sự năm 2015, rất hiếm trường hợp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc nhân thân người phạm tội là dấu hiệu định tội và định khung Ví dụ, trường hợp người mẹ do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết con mới đẻ (trong phạm vi 07 ngày tuổi) thì phạm tội giết con mới đẻ theo Khoản 1 Điều 124 Bộ luật hình sự năm 2015