BAN BIÊN TẬP DỰ THẢO SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP NĂM 1992 _____________________ MÔ HÌNH TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG HIẾN PHÁP Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI (Sách chuyên khảo) HÀ NỘI, 2013CHỦ BIÊN GS.TS. Phan Trung Lý, Uỷ viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Uỷ ban pháp luật của Quốc hội, Uỷ viên Uỷ ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Trưởng ban biên tập dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 Ths. Nguyễn Văn Phúc, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban kinh tế của Quốc hội, Phó trưởng ban biên tập dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 TS. Nguyễn Sĩ Dũng, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, thành viên Ban biên tập dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 NHÓM TÁC GIẢ 1. GS.TS. Nguyễn Đăng Dung (Chương III (cùng TS. Đặng Minh Tuấn)) 2. TS. Vũ Công Giao (Chương I) 3. TS. Đặng Minh Tuấn (Chương II Các nước Pháp (cùng TS. Võ Trí Hảo), Campuchia, Angiêri, Tuynidi, Chương III (cùng GS.TS. Nguyễn Đăng Dung) và Phụ lục Dịch thuật các quy định của Hiến pháp và pháp luât các nước liên quan) 4. NCS. Bùi Ngọc Sơn (Chương II Các nước Môritani, Xênêgan và Phụ lục – Dịch thuật các quy định của Hiến pháp và pháp luât các nước liên quan) 5. TS. Võ Trí Hảo (Chương II Các nước Pháp (cùng TS. Đặng Minh Tuấn), Cadắcxtan (cùng TS. Lê Hưng Long), Libăng, Ethiopia và Phụ lục – Dịch thuật các quy định của Hiến pháp và pháp luât các nước liên quan) 6. NCS. Trần Kiên (Chương II Các nước Chad, Marốc và Phụ lục Dịch thuật các quy định của Hiến pháp và pháp luât các nước liên quan) 7. TS. Lê Hưng Long (Chương II – Các nước Cadắcxtan (cùng TS Võ Trí Hảo), Libăng và Phụ lục Dịch thuật các quy định của Hiến pháp và pháp luât các nước liên quan) 8. Nguyễn Thu Trang (Phụ lục Dịch Luật về Hội đồng Hiến pháp của Cadắcxtan)BIÊN TẬP Nguyễn Văn Phúc Phó trưởng Ban biên tập dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 Hoàng Minh Hiếu Trung tâm Thông tin, Thư viện và Nghiên cứu khoa học, Văn phòng Quốc hội Nguyễn Đức Lam Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử, Văn phòng Quốc hội Dương Thuỳ Dung Vụ Kinh tế, Văn phòng Quốc hội Đặng Minh Tuấn Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội THAM GIA BÌNH LUẬN: GS.TSKH Đào Trí Úc Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội GS.TS. Thái Vĩnh Thắng Trưởng khoa Luật Hành chính – Nhà nước, Đại học Luật Hà NộiLỜI NÓI ĐẦU Hiến pháp là văn bản chính trịpháp lý, là đạo luật cơ bản, luật gốc của đất nước, phản ánh ý chí của toàn dân, có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị và trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia. Việc bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp, bảo đảm để tất cả các chủ thể trong xã hội tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của Hiến pháp luôn là vấn đề được các quốc gia trên thế giới quan tâm. Ở Việt Nam, vấn đề tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp, bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp cũng đã được đề cập trong quá trình xây dựng và thực thi các bản Hiến pháp. Trong thời gian gần đây, cùng với việc thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, việc xây dựng cơ chế bảo vệ Hiến pháp đã được đặt ra trong văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, theo đó cần nghiên cứu “xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền” và “xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp”1. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục yêu cầu “xây dựng từng bước hoàn thiện cơ chế, kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền”2. Thực hiện chủ trương này của Đảng, Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 một mặt đề nghị tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp hiện hành, tăng cường vai trò của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội và các cơ quan có thẩm quyền khác của Nhà nước trong việc giám sát, kiểm tra việc thi hành Hiến pháp, đồng thời đã tiến hành nghiên cứu, đề xuất quy định về thiết chế bảo vệ Hiến pháp chuyên trách theo mô hình Hội đồng Hiến pháp. Đây là một trong những mô hình cơ quan bảo hiến được một số nước trên thế giới áp dụng và được cho là phù hợp với nguyên tắc và mô hình tổng thể tổ chức bộ máy Nhà nước ở nước ta. Nhằm cung 1 Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới, (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2010), trang 333 396. 2 Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu tòan toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011), trang 247.cấp thêm thông tin tham khảo, phục vụ cho quá trình sửa đổi Hiến pháp năm 1992, tiếp theo việc cho xuất bản và phát hành cuốn “Một số vấn đề cơ bản của Hiến pháp các nước trên thế giới”, Ban biên tập dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 tổ chức biên soạn cuốn sách chuyên khảo về Hội đồng Hiến pháp của một số nước. Mục đích chủ yếu của cuốn sách là giới thiệu về cơ cấu tổ chức, thẩm quyền, cách thức và thực tiễn hoạt động của Hội đồng Hiến pháp, từ đó có thể rút ra những kinh nghiệm phục vụ cho việc nghiên cứu, xây dựng thiết chế bảo vệ Hiến pháp ở nước ta. Ban biên tập xin trân trọng cảm ơn các vị đại biểu Quốc hội, các đồng chí lãnh đạo, các nhà quản lý, các chuyên gia đã dành thời gian đọc và góp ý để hoàn thiện cuốn sách; cảm ơn các giáo sư, giảng viên của Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Đại học Luật Hà Nội đã tham gia nghiên cứu, biên soạn, bình luận về nội dung của cuốn sách; các cán bộ, chuyên viên thuộc Văn phòng Quốc hội đã dành nhiều thời gian để hỗ trợ về công tác hành chính và biên tập. Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng việc biên soạn không tránh khỏi sai sót, hạn chế, Ban biên tập dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 kính mong tiếp tục nhận được các đóng góp ý kiến để nội dung của cuốn sách tiếp tục được hoàn thiện hơn trong lần xuất bản sau. GS.TS. PHAN TRUNG LÝ Uỷ viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội Chủ nhiệm Uỷ ban pháp luật của Quốc hội Uỷ viên Uỷ ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 Trưởng Ban biên tập dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992i MỤC LỤC CHƯƠNG I: CÁC MÔ HÌNH CƠ QUAN BẢO VỆ HIẾN PHÁP ..........................1 I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC CƠ QUAN BẢO VỆ HIẾN PHÁP..................................................................................................................................1 1.1. Khái niệm bảo vệ Hiến pháp ........................................................... 1 1.2. Quá trình hình thành cơ chế bảo vệ Hiến pháp ............................... 2 II. CÁC MÔ HÌNH CƠ QUAN BẢO VỆ HIẾN PHÁP ...............................................6 2.1. Khái quát.......................................................................................... 6 2.2. Nghị viện........................................................................................ 10 2.3. Hội đồng Hiến pháp....................................................................... 11 2.4. Tòa án Hiến pháp........................................................................... 12 2.5. Tòa án thường ................................................................................ 14 CHƯƠNG II MÔ HÌNH TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG HIẾN PHÁP Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI .......................................................................... 16 I. HỘI ĐỒNG HIẾN PHÁP CỘNG HÒA PHÁP ....................................................... 16 1.1. Quá trình hình thành và phát triển ................................................. 16 1.2. Khuôn khổ pháp lý......................................................................... 20 1.3. Cơ cấu tổ chức ............................................................................... 20 2.4. Nhiệm vụ, quyền hạn ..................................................................... 23 2.5. Thực tiễn hoạt động ....................................................................... 29 II. HỘI ĐỒNG HIẾN PHÁP CAMPUCHIA............................................................... 32 2.1. Quá trình hình thành và phát triển ................................................. 32 2.2. Khuôn khổ pháp lý......................................................................... 33 2.3. Cơ cấu tổ chức và quy trình, thủ tục.............................................. 33 2.4. Nhiệm vụ, quyền hạn ..................................................................... 36 2.5. Thực tiễn hoạt động ....................................................................... 43 III. HỘI ĐỒNG HIẾN PHÁP CADẮCXTAN............................................................. 44 3.1. Quá trình hình thành và phát triển ................................................. 44 3.2. Khuôn khổ pháp lý......................................................................... 44 3.3. Cơ cấu tổ chức ............................................................................... 45 3.4. Thẩm quyền ................................................................................... 46 3.5. Thực tiễn hoạt động ....................................................................... 48 IV. HỘI ĐỒNG HIẾN PHÁP ANGIÊRI...................................................................... 51 4.1. Quá trình hình thành và phát triển ................................................. 51 4.2. Khuôn khổ pháp lý......................................................................... 52 4.3. Cơ cấu tổ chức và quy trình, thủ tục hoạt động............................. 52ii 4.4. Nhiệm vụ, quyền hạn ..................................................................... 56 4.5. Thực tiễn hoạt động ....................................................................... 58 V. HỘI ĐỒNG HIẾN PHÁP MÔRITANI ................................................................... 59 5.1. Quá trình hình thành và phát triển ................................................. 59 5.2. Khuôn khổ pháp lý......................................................................... 61 5.3. Cơ cấu tổ chức ............................................................................... 61 5.4. Nhiệm vụ, quyền hạn ..................................................................... 62 5.5. Thực tiễn hoạt động ....................................................................... 64 VI. HỘI ĐỒNG HIẾN PHÁP CỘNG HOÀ CHAD................................................... 67 6.1. Quá trình hình thành và phát triển ................................................. 67 6.2. Khuôn khổ pháp lý......................................................................... 69 6.3. Cơ cấu tổ chức ............................................................................... 70 6.4. Nhiệm vụ, quyền hạn ..................................................................... 72 6.5. Thực tiễn hoạt động ....................................................................... 75 VII. HỘI ĐỒNG HIẾN PHÁP TUYNIDI .................................................................... 77 7.1. Quá trình hình thành và phát triển ................................................. 77 7.2. Khuôn khổ pháp lý......................................................................... 77 7.3. Cơ cấu tổ chức ............................................................................... 78 7.4. Nhiệm vụ, quyền hạn ..................................................................... 80 7.5. Thực tiễn hoạt động ....................................................................... 84 VIII. HỘI ĐỒNG HIẾN PHÁP XÊNÊGAN................................................................ 86 8.1. Quá trình hình thành và phát triển ................................................. 86 8.2. Khuôn khổ pháp lý......................................................................... 87 8.3. Cơ cấu tổ chức ............................................................................... 88 8.4. Nhiệm vụ, quyền hạn ..................................................................... 88 8.5. Thực tiễn hoạt động ....................................................................... 90 IX. HỘI ĐỒNG ĐIỀU TRA HIẾN PHÁP ETHIOPIA............................................. 92 9.1. Quá trình hình thành và phát triển ................................................. 92 9.2. Khuôn khổ pháp lý, cơ cấu tổ chức, thẩm quyền .......................... 94 9.3. Thực tiễn hoạt động ....................................................................... 97 X. HỘI ĐỒNG HIẾN PHÁP MARỐC........................................................................100 10.1. Quá trình hình thành và phát triển ............................................. 100 10.2. Khuôn khổ pháp lý..................................................................... 102 10.3. Cơ cấu tổ chức ........................................................................... 103 10.4. Nhiệm vụ, quyền hạn ................................................................. 104 10.5. Thực tiễn hoạt động ................................................................... 106iii XI. HỘI ĐỒNG HIẾN PHÁP LIBĂNG......................................................................109 11.1. Quá trình hình thành, phát triển................................................. 109 11.2. Khuôn khổ pháp lý..................................................................... 111 11.3. Cơ cấu tổ chức ........................................................................... 111 11.4. Nhiệm vụ, quyền hạn ................................................................. 113 11.5. Thực tiễn hoạt động ................................................................... 114 CHƯƠNG III NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ ............................................................116 I. Cơ sở hình thành Hội đồng Hiến pháp....................................................................116 II. Khuôn khổ pháp lý của Hội đồng Hiến pháp.......................................................120 III. Cơ cấu tổ chức của Hội đồng Hiến pháp .............................................................120 IV. Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng Hiến pháp .............................................122 V. Thực tiễn hoạt động của Hội đồng Hiến pháp......................................................123 VI. Việc thành lập Hội đồng Hiến pháp ở Việt Nam................................................125 PHỤ LỤC: Tuyển chọn quy định của Hiến pháp và pháp luật về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Hiến pháp ở một số nước .........................................................................129 1. Cộng hoà Pháp..............................................................................................................129 2. Campuchia.....................................................................................................................134 3. Cadắcxtan ......................................................................................................................136 4. Angiêri ............................................................................................................................160 5. Môritani..........................................................................................................................163 6. Chad ................................................................................................................................165 7. Tuynidi............................................................................................................................167 8. Xênêgan ..........................................................................................................................170 9. Ethiopia ..........................................................................................................................172 10. Marốc............................................................................................................................174 11. Libăng...........................................................................................................................175iv CÁC MINH HOẠ Các bảng Bảng 1: Tỷ lệ các hình thức cơ quan bảo hiến trên toàn thế giới ........................6 Bảng 2: Tỷ lệ các hình thức cơ quan bảo hiến ở khu vực Châu Âu ....................6 Bảng 3: Tỷ lệ các hình thức cơ quan bảo hiến ở khu vực Châu Phi....................7 Bảng 4: Tỷ lệ các hình thức cơ quan bảo hiến ở khu vực Trung Đông...............7 Bảng 5: Tỷ lệ các hình thức cơ quan bảo hiến ở khu vực Châu Á và Châu Đại dương....................................................................................................................7 Bảng 6: Tỷ lệ các hình thức cơ quan bảo hiến ở khu vực Bắc Mỹ......................8 Bảng 7: Tỷ lệ các hình thức cơ quan bảo hiến ở khu vực Trung và Nam Mỹ ....8 Bảng 8: Bảng phân tích so sánh thẩm quyền của hai mô hình ........................104 Bảng 9: Bảng thống kê các thành viên Hội đồng Hiến pháp được bầu từ Nghị viện năm 2008 ..................................................................................................112 Các hình: Hình 1: Quy định về cơ chế bảo hiến trong Hiến pháp các nước trên thế giới (từ 1803 đến sau năm 2000).......................................................................................5 Hình 2: Các nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Hiến pháp Campuchia..........36 Hình 3: Quyền đề nghị lên Hội đồng Hiến pháp ở Campuchia.........................39 Hình 4: Thẩm quyền và thủ tục giải quyết của Hội đồng Hiến pháp Campuchia..........................................................................................................42 Hình 5: Quy trình kiểm hiến trước ....................................................................83 Các hộp Hộp 1: Vụ Marbury kiện Madison.......................................................................31 CHƯƠNG I: CÁC MÔ HÌNH CƠ QUAN BẢO VỆ HIẾN PHÁP I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC CƠ QUAN BẢO VỆ HIẾN PHÁP 1.1. Khái niệm bảo vệ Hiến pháp Bảo vệ Hiến pháp (hay “bảo hiến”) có ý nghĩa cốt lõi là kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật do Nghị viện (hay Quốc Hội) ban hành, cụ thể là đánh giá xem những đạo luật được đưa ra có phù hợp với tinh thần và nội dung của Hiến pháp hay không1. Theo nghĩa rộng hơn, bảo hiến được hiểu là kiểm tra tính hợp hiến trong hành vi của tất cả các thiết chế quyền lực được Hiến pháp quy định, chứ không chỉ giới hạn ở việc làm luật của Nghị viện. Cơ chế bảo hiến là khái niệm dùng để chỉ cách thức tổ chức việc bảo vệ Hiến pháp của một quốc gia, được thể hiện cụ thể thông qua các mô hình cơ quan bảo hiến. Cơ chế bảo hiến của các nước không hoàn toàn giống nhau, tuy chúng thường tuân thủ những đặc điểm chung của các mô hình cơ quan bảo vệ Hiến pháp phổ biến (nêu ở Mục II dưới đây). Ở nhiều quốc gia, bảo hiến đồng nghĩa với kiểm hiến của tòa án (judicial review), là thẩm quyền của các tòa án xem xét và đánh giá tính hợp hiến của các đạo luật hoặc quyết định của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp2. Quan niệm này xuất phát từ thực tế là phần lớn quốc gia trên thế giới trao cho các tòa án (Tòa án thường hoặc Tòa án Hiến pháp) nhiệm vụ bảo hiến. Mặc dù vậy, cần thấy rằng tài phán Hiến pháp (bảo vệ Hiến pháp bằng tòa án) chỉ là một trong các mô hình bảo hiến. 1 Xem: Ban biên tập Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Một số vấn đề cơ bản của Hiến pháp các nước trên thế giới, (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012) tr.120. 2 Xem: http:www.britannica.comEBcheckedtopic307542judicialreview, http:legaldictionary.thefreedictionary.comjudicial+review2 1.2. Quá trình hình thành cơ chế bảo vệ Hiến pháp Cũng như bất kỳ văn bản pháp luật nào khác của các quốc gia, Hiến pháp cũng đứng trước nguy cơ bị vi phạm. Điều này làm phát sinh nhu cầu cần có một cơ chế bảo hiến. Trong thực tế, chính các cơ quan nắm giữ quyền lực công (Nghị viện, Chính phủ, Tòa án..) là những chủ thể chính của các hành vi vi hiến. Do Hiến pháp là bản khế ước do nhân dân lập ra để tổ chức, kiểm soát quyền lực nhà nước và ràng buộc chính quyền nên mọi hành vi vi hiến đều phải bị xử lý để bảo đảm ý chí, chủ quyền của nhân dân được tôn trọng và thực hiện. Trong bối cảnh đó, ở các xã hội có Hiến pháp nhân dân, luôn đòi hỏi thành lập các thiết chế bảo hiến. Nhu cầu về bảo hiến trước hết và chủ yếu xuất phát từ xã hội, từ nhân dân. Nói cách khác, bảo hiến là yêu cầu chung ở mọi quốc gia chứ không phải là cơ chế dành riêng cho các nước áp dụng mô hình chính trị đa đảng hay một đảng. Lịch sử bảo hiến được một học giả chia thành các giai đoạn như sau:1 +Trước Chiến tranh thế giới thứ I Những yếu tố ban đầu của bảo hiến được cho là xuất hiện vào thời cổ Hy Lạp, khi pháp luật nước này phân biệt giữa một nomos (văn bản pháp luật có hiệu lực tối cao như Hiến pháp) và một psephisma (văn bản pháp luật có hiệu lực thấp hơn). Một psephisma, bất kể nội dung quy định về vấn đề gì, cũng không được trái với nomos, nếu trái sẽ bị coi là vô hiệu. Một số khía cạnh của bảo hiến sau đó được áp dụng trong hệ thống pháp luật của Đức từ năm1180 (về sau được đề cập trong Hiến pháp Weimar 1919). Ngoài ra, các hình thức sơ khai của bảo hiến cũng xuất hiện ở một số nước Châu Âu khác như ở Pháp (từ giữa thế kỷ XIII), Bồ Đào Nha (từ thế kỷ XVII), Na Uy, Đan Mạch, Hy Lạp, Áo, Romania (thế kỷ XIX). Mặc dù không có Hiến pháp thành văn, nước Anh cũng được coi là có đóng góp quan trọng vào sự phát triển của thể chế bảo hiến, vì từ thời Trung cổ, người Anh đã khởi xướng ra thủ tục impeachment (luận tội để bãi miễn quan chức nhà nước), đồng thời từ năm 1610 đã đề xướng nguyên tắc về tính tối thượng (supremacy) của luật (bao gồm các quy phạm luật Hiến pháp) và quyền của tòa án được xem xét tính hợp pháp các hoạt động của Chính phủ những điều mà sau đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc thiết lập cơ chế bảo hiến ở Hoa Kỳ. 1 Xem: Arne Mavčič, Historical Steps in the Development of Systems of Constitutional Review and Particularities of Their Basic Models, tại http:www.concourts.netintroen.php.3 Ở Hoa Kỳ, vào cuối thế kỷ 18, tòa án đã ra một phán quyết tuyên bố các luật của đế chế Anh không có hiệu lực trên lãnh thổ các bang Bắc Mỹ. Tuy nhiên, phải đến năm 1803, trong vụ án nổi tiếng Marbury kiện Madison, quyền bảo hiến của tòa án mới được xác lập chính thức và tạo ra mô hình bảo hiến kiểu Hoa Kỳ do các tòa án thường thực hiện. Hộp 1: Vụ Marbury kiện Madison1 Bối cảnh vụ kiện: Vào đầu năm 1801, những ngày chót trước khi hết nhiệm kỳ, Tổng thống John Adams đã bổ nhiệm 16 thẩm phán liên bang và 42 thẩm phán hòa bình ở tòa án hạt (Justice of the peace). Để nhậm chức chính thức, các quyết định bổ nhiệm phải được Thư ký Nhà nước (Secretary of State) gửi đến những người được bổ nhiệm. Tuy nhiên, vì thời gian quá gấp, một số thẩm phán do John Adams cất nhắc đã không kịp nhận quyết định bổ nhiệm trước khi Tổng thống mới là Thomas Jefferson lên nắm quyền. Ngay sau khi nhậm chức, Thomas Jefferson ra lệnh ngừng cấp quyết định bổ nhiệm đối với các trường hợp chưa nhận quyết định, trong đó có Marbury. Căn cứ vào quy định của Luật về tòa án năm 1789, Marbury kiện James Madison, tân Thư ký Nhà nước, lên Tòa án tối cao Liên bang, yêu cầu Tòa ra lệnh (writ) buộc Madison phải ra quyết định bổ nhiệm Marbury. Phán quyết của Tòa án tối cao: Tòa tuyên Marbury có quyền được nhận quyết định bổ nhiệm, vì việc bổ nhiệm diễn ra đúng luật. Sự chậm trễ trong việc gửi các quyết định bổ nhiệm đã vi phạm quyền luật định của Marbury. Tuy nhiên, Tòa lại từ chối đơn của Marbury yêu cầu Tòa ra lệnh buộc Madison phải gửi quyết định bổ nhiệm. Tòa cho rằng mình không có thẩm quyền như vậy. Quy định của Luật năm 1789 trao cho Tòa án thẩm quyền đó là trái với Điều III của Hiến pháp Hoa Kỳ, do đó không có hiệu lực. Ý nghĩa của phán quyết đối với bảo hiến: Trong lập luận cho phán quyết của Tòa án tối cao về vụ việc trên, Chánh án John Marshall đã nhấn mạnh: “Thẩm quyền và bổn phận của nhánh tư pháp là xác định luật nào được áp dụng. Toà án có quyền áp dụng luật đối với từng trường hợp cụ thể nên cần thiết phải có thẩm quyền dẫn giải và giải thích luật được áp dụng. Nếu có hai đạo luật xung đột nhau, Toà án phải quyết định việc áp dụng của từng đạo luật”. Trong trường hợp luật trái với Hiến pháp, và được áp dụng trong một vụ việc, tòa án phải coi Hiến pháp cao hơn bất kỳ đạo luật nào của lập pháp; Hiến pháp, chứ không phải các đạo luật, có hiệu lực đối với vụ việc như vậy. Như vậy, Tòa án tối cao Hoa Kỳ bằng phát quyết trong vụ kiện nói trên đã tạo ra tiền lệ mở đầu cho mô hình tài phán hiến pháp bằng tòa án thường sau đó được nhiều nước tiếp nhận và áp dụng. Theo đó, tòa án có thể tuyên về sự vi hiến của một đạo luật do nghị viện ban hành, từ chối không áp dụng nó trong vụ việc được đưa ra trước tòa. + Giữa Chiến tranh thế giới thứ I và thứ II 1 Nguồn tham khảo: Marbury v. Madison–Case Brief Summary, tạihttp:www.lawnix.comcasesmarburymadison.html, Marbury V. Madison, Sự đấu tranh lý tưởng của ngành Tư pháp, tại http:www.trenews.netArticle.aspx?Id=60224 Giai đoạn này được gọi là “thời kỳ của nước Áo” (the Austrian Period). Chịu ảnh hưởng từ tư tưởng của hai nhà luật học Hans Kelsen và Adolf Merkl, Hiến pháp năm 1920 của Áo đã xác lập nền tảng của Tòa án Hiến pháp nước này, với độc quyền xem xét tính hợp hiến của các đạo luật. Mô hình Tòa án Hiến pháp chịu trách nhiệm về bảo hiến sau đó được áp dụng ở nhiều quốc gia khác, đặc biệt là ở Châu Âu, trở thành một trong các mô hình bảo hiến chính hiện nay trên thế giới. + Sau Chiến tranh thế giới thứ II Từ sau chiến tranh thế giới thứ II, cơ chế bảo hiến tiếp tục được thiết lập ở nhiều quốc gia trên thế giới. Trong thời kỳ này, ngoài tòa án (tòa án thường và Tòa án Hiến pháp), ở một số nước, Hiến pháp còn giao quyền bảo hiến cho một số cơ quan khác, như Hội đồng Hiến pháp, các tòa đặc biệt thuộc Tòa án tối cao, hoặc cho bản thân Nghị viện. Như vậy, kể từ vụ Marbury kiện Madison năm 1803 mà dẫn đến việc xác lập quyền bảo hiến của hệ thống tòa án ở Hoa Kỳ, cơ chế bảo hiến đã không ngừng phát triển trên thế giới. Trong thời điểm giữa hai cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai, một loạt quốc gia Châu Âu đã thiết lập cơ quan bảo hiến (hầu hết theo mô hình Tòa án Hiến pháp kiểu Áo, bao gồm Áo (1920), Czechoslovakia (1920), Liechtenstein (1925), Hy Lạp (1927), Ai Cập (1941), Tây Ban Nha (1931), Ireland (1937)1… Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, có thêm nhiều quốc gia cả ở Châu Âu và ở các khu vực khác thành lập cơ quan bảo vệ Hiến pháp theo mô hình Châu Âu, Hoa Kỳ hoặc hỗn hợp như Braxin (1946), Nhật Bản (1947), Miến Điện (1947), Ý (1948), Thái Lan (1949), CHLB Đức (1949), Ấn Độ (1949), Pháp (1958), Luxembourg (1950), Syria (1950), Uruguay (1952)2… Thập kỷ 19601970 đánh dấu bằng việc xây dựng hoặc cải tổ lớn thiết chế bảo hiến ở một số quốc gia Nam Âu (do kết quả của sự sụp đổ của nhiều chế độ độc tài) và một số khu vực khác của châu lục này, bao gồm tại Síp (1960), Thổ Nhĩ Kỳ (1961), Angiêri (1963), Nam Tư cũ (1963), Slovenia và một số nước 1 Arne Mavčič, tài liệu đã dẫn. 2 Arne Mavčič, tài liệu đã dẫn.5 cộng hoà khác thuộc Nam Tư cũ (1963), Hy Lạp (1968), Tây Ban Nha (1978), Bồ Đào Nha (1976), Áo, CHLB Đức, Thuỵ Điển, Pháp, Bỉ1… Sự sụp đổ của hệ thống XHCN ở Liên XôĐông Âu vào cuối thập kỷ 1980 đầu thập kỷ 1990 đã dẫn đến sự ra đời của một loạt quốc gia dân chủ mới (new democracy countries). Hầu hết các quốc gia này đã nhanh chóng thành lập cơ quan bảo hiến, đồng thời với việc chuyển đổi từ phương thức tổ chức quyền lực tập quyền sang tam quyền phân lập. Xét chung, kể từ khi chính thức hình thành vào đầu thế kỷ 19 đến nay, cơ chế bảo hiến đã phát triển liên tục trên thế giới, dưới nhiều dạng thức khác nhau dựa trên hai mô hình cơ bản (mô hình Châu Âu và Hoa Kỳ), trong đó những thập kỷ cuối của thế kỷ 20 có tốc độ phát triển nhanh nhất (xem hình dưới đây): Hình 1: Quy định về cơ chế bảo hiến trong Hiến pháp các nước trên thế giới (từ 1803 đến sau năm 2000)2 Theo biểu đồ trên, tính đến sau năm 2000, hơn 80% Hiến pháp của các quốc gia trên thế giới đã quy định về vấn đề bảo hiến dưới những dạng thức khác nhau. Trong các hình thức bảo hiến, Tòa án Hiến pháp thuộc về những định chế chiếm ưu thế nhất. Được xác lập lần đầu tiên ở Áo vào năm 1920 trên cơ sở lý thuyết của Hans Kelsen, Tòa án Hiến pháp đã sớm trở thành mô hình bảo hiến 1 Arne Mavčič, tài liệu đã dẫn. 2 Nguồn: Tom Ginsburg, Why do countries adopt constitutional review, tại http:www.utexas.edulawcolloquiumpaperspublic201220130924 12_Why%20Do%20Countries%20Adopt%20Constitutional%20Reviews.pdf, truy cập ngày 532013.6 chủ yếu ở Châu Âu1 và là một “hiện tượng” ở các nền dân chủ mới vào cuối thế kỷ 20. Một loạt quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi dân chủ ở Đông Âu, Châu Phi và Châu Á đã chọn mô hình bảo hiến này2. Theo một khảo sát vào năm 2003, Tòa án Hiến pháp chiếm 75% mô hình bảo hiến ở các nước dân chủ mới3. Như thể hiện trong mục II dưới đây, cùng với mô hình tòa án thường, mô hình Tòa án Hiến pháp chiếm ưu thế vượt trội so với mô hình Hội đồng Hiến pháp. II. CÁC MÔ HÌNH CƠ QUAN BẢO VỆ HIẾN PHÁP 2.1. Khái quát Dựa trên các tiêu chí về tổ chức, thầm quyền và thủ tục, Arne Mavčič4 chia các thiết chế bảo hiến hiện hành trên thế giới thành các mô hình và thống kê sự phân bố của các mô hình đó trên thế giới như sau: Bảng 1: Tỷ lệ các hình thức cơ quan bảo hiến trên toàn thế giới STT Mô hình Tỷ lệ 1. Hội đồng Hiến pháp kiểu Pháp 3.91% 2. Hội đồng Hiến pháp kiểu Châu Âu 2.79% 3. Toà án Hiến pháp kiểu Châu Âu 29.61% 4. Toà án Hiến pháp kiểu hỗn hợp 2.79% 5. Toà án Tối cao kiểu Châu Âu 11.17% 6. Toà án kiểu hỗn hợp 5.04% 7. Toà án kiểu Hoa Kỳ 29.05% 8. Khối thịnh vượng chung mới 0.56% 9. Mô hình khác 12.29% 10. Chưa có cơ chế bảo vệ Hiến pháp 2.79% Bảng 2: Tỷ lệ các hình thức cơ quan bảo hiến ở khu vực Châu Âu STT Mô hình Tỷ lệ 1. Hội đồng Hiến pháp kiểu Pháp 2.38% 2. Hội đồng Hiến pháp kiểu Châu Âu 0.00% 3. Toà án Hiến pháp kiểu Châu Âu 61.90% 1 Như trên, pp 5253. 2 JiunnRong Yeh WenChen Chang, “The Changing Landscape of Modern Constitutionalism: Transitional Perspective” 4 (1) National Taiwan University Law Review (2009) 153 3 Nguồn: Tom Ginsburg, Judicial Review in New Democracies: Constitutional Courts in Asian Cases (New York: Cambridge University Press, 2003), pp 78. 4 Arne Mavčič, Historical Steps in the Development of Systems of Constitutional Review and Particularities of Their Basic Models, tại http:www.concourts.netintroen.php, truy cập ngày 712013.7 4. Toà án Hiến pháp kiểu hỗn hợp 4.76% 5. Toà án Tối cao kiểu Châu Âu 9.52% 6. Toà án kiểu hỗn hợp 5.03% 7. Toà án kiểu Hoa Kỳ 11.90% 8. Khối thịnh vượng chung mới 0.00% 9. Mô hình khác 2.38% 10. Chưa có cơ chế bảo vệ Hiến pháp 4.76% Bảng 3: Tỷ lệ các hình thức cơ quan bảo hiến ở khu vực Châu Phi STT Mô hình Tỷ lệ 1. Hội đồng Hiến pháp kiểu Pháp 11.54% 2. Hội đồng Hiến pháp kiểu Châu Âu 3.85% 3. Toà án Hiến pháp kiểu Châu Âu 23.08% 4. Toà án Hiến pháp kiểu hỗn hợp 0.00% 5. Toà án Tối cao kiểu Châu Âu 17.31% 6. Toà án kiểu hỗn hợp 1.92% 7. Toà án kiểu Hoa Kỳ 23.08% 8. Khối thịnh vượng chung mới 1.92% 9. Mô hình khác 11.54% 10. Chưa có cơ chế bảo vệ Hiến pháp 5.77% Bảng 4: Tỷ lệ các hình thức cơ quan bảo hiến ở khu vực Trung Đông STT Mô hình Tỷ lệ 1. Hội đồng Hiến pháp kiểu Pháp 0.00% 2. Hội đồng Hiến pháp kiểu Châu Âu 10.00% 3. Toà án Hiến pháp kiểu Châu Âu 30.00% 4. Toà án Hiến pháp kiểu hỗn hợp 0.00% 5. Toà án Tối cao kiểu Châu Âu 10.00% 6. Toà án kiểu hỗn hợp 0.00% 7. Toà án kiểu Hoa Kỳ 20.00% 8. Khối thịnh vượng chung mới 0.00% 9. Mô hình khác 30.00% 10. Chưa có cơ chế bảo vệ hiến pháp 0.00% Bảng 5: Tỷ lệ các hình thức cơ quan bảo hiến ở khu vực Châu Á và Châu Đại dương STT Mô hình Tỷ lệ 1. Hội đồng Hiến pháp kiểu Pháp 0.00% 2. Hội đồng Hiến pháp kiểu Châu Âu 4.55% 3. Toà án Hiến pháp kiểu Châu Âu 22.73% 4. Toà án Hiến pháp kiểu hỗn hợp 0.00% 5. Toà án Tối cao kiểu Châu Âu 2.27% 6. Toà án kiểu hỗn hợp 4.55%8 7. Toà án kiểu Hoa Kỳ 40.91% 8. Khối thịnh vượng chung mới 0.00% 9. Mô hình khác 25.00% 10. Chưa có cơ chế bảo vệ hiến pháp 0.00% Bảng 6: Tỷ lệ các hình thức cơ quan bảo hiến ở khu vực Bắc Mỹ STT Mô hình Tỷ lệ 1. Hội đồng Hiến pháp kiểu Pháp 0.00% 2. Hội đồng Hiến pháp kiểu Châu Âu 0.00% 3. Toà án Hiến pháp kiểu Châu Âu 0.00% 4. Toà án Hiến pháp kiểu hỗn hợp 0.00% 5. Toà án Tối cao kiểu Châu Âu 0.00% 6. Toà án kiểu hỗn hợp 0.00% 7. Toà án kiểu Hoa Kỳ 100% 8. Khối thịnh vượng chung mới 0.00% 9. Mô hình khác 0.00% 10. Chưa có cơ chế bảo vệ Hiến pháp 0.00% Bảng 7: Tỷ lệ các hình thức cơ quan bảo hiến ở khu vực Trung và Nam Mỹ STT Mô hình Tỷ lệ 1. Hội đồng Hiến pháp kiểu Pháp 0.00% 2. Hội đồng Hiến pháp kiểu Châu Âu 0.00% 3. Toà án Hiến pháp kiểu Châu Âu 6.90% 4. Toà án Hiến pháp kiểu hỗn hợp 13.79% 5. Toà án Tối cao kiểu Châu Âu 17.24% 6. Toà án kiểu hỗn hợp 13.79% 7. Toà án kiểu Hoa Kỳ 44.83% 8. Khối thịnh vượng chung mới 0.00% 9. Mô hình khác 3.45% 10. Chưa có cơ chế bảo vệ hiến pháp 0.00% Chú thích về các hình thức cơ quan bảo hiến trên thế giới: STT Mô hình Tính chất 1. Hội đồng Hiến pháp kiểu Pháp Dựa theo mô hình Hội đồng Hiến pháp của Pháp năm 1958 với đặc điểm cơ bản là chủ yếu thực hiện chức năng kiểm hiến trước (kiểm tra các dự luật) mà không có quyền kiểm sau (kiểm tra các đạo luật có hiệu lực), mặc dù Hội đồng Hiến pháp có thể kiểm soát rất mạnh mẽ các cuộc bầu cử và trưng cầu ý dân. Tuy nhiên, từ năm 2008, sau khi sửa đổi Hiến pháp, Hội đồng Hiến pháp của Pháp đã được trao quyền kiểm hiến các đạo luật có hiệu lực.9 2. Hội đồng Hiến pháp kiểu Châu Âu Là mô hình thiết lập Hội đồng Hiến pháp, nhưng chịu ảnh hưởng ít nhiều các đặc tính của mô hình bảo hiến Châu Âu (Tòa án Hiến pháp), như thiết lập một cơ quan bảo hiến độc lập; có quyền kiểm hiến các đạo luật có hiệu lực; bảo hiến trừu tượng; vụ việc hiến pháp do những người có thẩm quyền hoặc cơ quan công quyền đề xuất. 3. Toà án Hiến pháp kiểu Châu Âu Là mô hình do Kelsen đề xuất năm 1920, được áp dụng phổ biến ở Châu Âu với những đặc điểm như: bảo hiến “tập trung” và theo quy trình bảo hiến đặc biệt của Tòa án Hiến pháp; bảo hiến “trừu tượng”, tức là không xuất phát từ một vụ việc cụ thể, mà được đề xuất bởi những cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền; quyền kiểm tra sau (một số được trao quyền kiểm hiến trước); quyết định có giá trị bắt buộc (xem thêm Mục 2.2 dưới đây). 4. Toà án Hiến pháp kiểu hỗn hợp Tòa án Hiến pháp kết hợp một số đặc điểm của mô hình Hoa Kỳ, theo đó Tòa án Hiến pháp không chỉ thực hiện bảo hiến “trừu tượng”, mà còn “cụ thể”, tức là vụ việc hiến pháp được khởi xướng bởi các cá nhân có các quyền bị vị phạm trong một vụ việc cụ thể (trong hoặc ngoài tòa án). Như vậy, các cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các thẩm phán có quyền đề nghị Tòa án Hiến pháp xem xét bảo vệ quyền hiến định của họ 5. Toà án Tối cao kiểu Châu Âu Tòa án Tối cao là cơ quan duy nhất có quyền kiểm tra các đạo luật đặc điểm bảo hiến “tập trung” theo mô hình Châu Âu (xem thêm Mục 2.4 dưới đây). 6. Toà án kiểu hỗn hợp Tòa án tư pháp vừa có quyền kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật áp dụng cho vụ việc đang giải quyết tại tòa, đồng thời có quyền đề xuất Tòa án Hiến pháp xem xét vấn đề đó. Tòa án Hiến pháp là cơ quan cao nhất có quyền phán quyết về tính hợp hiến của một đạo luật. 7. Toà án kiểu Hoa Kỳ Là hình thức bảo hiến phi tập trung và cụ thể (xem thêm Mục 2.4 ở dưới) 8. Khối thịnh vượng chung mới Tòa án tối cao thực hiện quyền kiểm hiến trước (kiểm tra các dự luật) và chức năng tư vấn (tư vấn cơ quan lập pháp xem xét sửa đổi các dự luật trái hiến pháp). Tòa án tối cao cũng có thể kiểm hiến sau, tuy nhiên các quyết định của Tòa án chỉ có giá trị tham khảo. 9. Mô hình khác Việc kiểm hiến được thực hiện theo các mô hình khác, chẳng hạn việc kiểm hiến bởi Nghị viện vẫn còn tồn tại ở một số nước (xem thêm Mục 2.5 ở dưới).10 Từ các bảng trên, có thể thấy, nếu xét trên phạm vi toàn thế giới, hai mô hình bảo hiến được áp dụng nhiều nhất là mô hình Tòa án Hiến pháp kiểu Châu Âu (chiếm 29,61%) và mô hình tòa án kiểu Hoa Kỳ (chiếm 29,05%). Tiếp theo đó là các mô hình Tòa án Tối cao kiểu Châu Âu (chiếm 11,7%). Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng nếu xét theo khu vực, có sự phân hoá rất lớn về việc áp dụng mỗi mô hình. Ở đây, trong khi các mô hình Tòa án Hiến pháp kiểu Châu Âu và mô hình Toà án kiểu Hoa Kỳ chiếm vị trí áp đảo tại “quê hương” của chúng (Châu Âu và Bắc Mỹ) thì lại phải cạnh tranh quyết liệt ở các khu vực khác của thế giới. Trong đó, hai bên có phần tương đương nhau ở Châu Phi, và trong khi mô hình Tòa án Hiến pháp Châu Âu chiếm ưu thế ở Trung Đông thì mô hình tòa án thường kiểu Hoa Kỳ tỏ ra được ưa chuộng hơn tại các khu vực Châu Á, Châu Đại dương và Trung, Nam Mỹ. Đại đa số các nước XHCN cũ như các nước từng là thành viên của Liên Xô, Đông Âu, Trung Âu đều áp dụng mô hình Tòa án Hiến pháp kiểu Châu Âu. Trong khi đó, ở vùng Châu Á Thái Bình Dương gần Việt Nam, có những nước áp dụng mô hình bảo hiến bằng tòa án thường như Nhật Bản, Philipines, Malaysia, Singapore; có nước thành lập Tòa án Hiến pháp như Hàn Quốc, Đài Loan, Indonesia, Thái Lan; trong khi đó Campuchia và Timor Leste có Hội đồng Hiến pháp; còn Trung Quốc và Lào được coi là các nước có bảo hiến bằng cơ quan lập pháp. Mặc dù rất đa dạng, bốn mô hình cơ bản được áp dụng ở những mức độ khác nhau trên thế giới, bao gồm Tòa án Hiến pháp, Toà án thường, Hội đồng Hiến pháp và Nghị viện. 2.2. Nghị viện1 Theo mô hình này, chỉ có Nghị viện (hay Quốc hội) mới có quyền kiểm tra các văn bản pháp luật do mình thông qua. Như vậy, Nghị viện có chức năng kép, vừa có thẩm quyền ban hành luật, vừa kiểm tra tính hợp hiến của đạo luật do mình ban hành. Điều này bị các học giả trên thế giới phê phán là không đảm bảo tính độc lập, khách quan. Thêm vào đó, do Nghị viện là cơ quan đại biểu, mang tính chất chính trị nên thường không có trình tự, thủ tục phù hợp như các thiết chế bảo hiến chuyên trách để tiến hành xem xét, phán quyết về tính hợp hiến của một văn bản pháp luật. 1 Xem: Ban biên tập sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Một số vấn đề cơ bản của Hiến pháp các nước trên thế giới, (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012) tr. 263.11 Thực tế trên thế giới đã chứng minh là Nghị viện thường không thực hiện chức năng bảo vệ Hiến pháp một cách hiệu quả. Chính vì vậy, bảo hiến bằng Nghị viện (hay cơ quan lập pháp kiêm bảo hiến) hiện chỉ còn được một số ít quốc gia trên thế giới áp dụng. Nghị viện của Pháp, Thái Lan đã từng được giao chức năng bảo vệ Hiến pháp, nhưng sau đó Hiến pháp của hai quốc gia này đã thiết lập cơ quan bảo hiến độc lập (Hội đồng Hiến pháp ở Pháp, Toà án Hiến pháp ở Thái Lan)1. 2.3. Hội đồng Hiến pháp2 Hội đồng Hiến pháp cũng là một mô hình bảo hiến tập trung nhưng mang nhiều yếu tố chính trị hơn là một cơ quan chuyên môn tài phán Hiến pháp như Tòa án Hiến pháp. Cụ thể, trong Hội đồng Hiến pháp của một số quốc gia, các Tổng thống nghỉ hưu thường được coi là thành viên đương nhiên. Với các thành viên khác, tiêu chí tuyển chọn cũng không bắt buộc phải có chuyên môn về pháp luật. Thêm vào đó, quy trình giải quyết vụ việc của các Hội đồng Hiến pháp thường thiếu đặc trưng của thủ tục tố tụng, không mang tính công khai. Hội đồng Hiến pháp, khi ra đời đầu tiên ở Pháp, chỉ có chức năng kiểm hiến trước, tức là kiểm tra tính hợp hiến của các dự án luật trước khi công bố. Mặc dù vậy, gần đây một số quốc gia áp dụng mô hình này, kể cả Pháp, đã trao cho Hội đồng Hiến pháp quyền kiểm hiến sau (kiểm hiến các đạo luật đã có hiệu lực). Như đã đề cập, Hội đồng Hiến pháp không mang tính phổ biến như các mô hình Tòa án Hiến pháp và Tòa án thường. Theo Bảng 1 ở trên, có khoảng 7,9% số nước có thiết chế bảo hiến độc lập theo mô hình Hội đồng Hiến pháp (tính cả hai dạng kiểu Pháp và kiểu Châu Âu)3. Hầu hết các quốc gia đang áp dụng mô hình Hội đồng Hiến pháp là các nước Châu Phi, chỉ có một vài nước ở Trung Đông và Châu Á. Ở Châu Âu – nơi phát xuất của mô hình này hiện chỉ còn nước Pháp đang áp dụng. 1. Xem: Ban biên tập Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Một số vấn đề cơ bản của Hiến pháp các nước trên thế giới, (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012), tr. 260. 2 . Xem: Ban biên tập sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Một số vấn đề cơ bản của Hiến pháp các nước trên thế giới, (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012), tr. 261. 3 . Theo Bảng 1, tổng số nước có mô hình Hội đồng Hiến pháp là 6,7% trên tổng số các nước trên thế giới. Tuy nhiên, tổng số các nước có thiết chế bảo hiến độc lập chiếm 84.92% tổng số các nước trên thế giới. Vì vậy, tỷ lệ các nước có mô hình bảo hiến độc lập trên tổng số các nước có thiết chế bảo hiến độc lập là 7,9%.12 Kết hợp từ hai nguồn tài liệu, có thể xác lập danh sách các quốc gia hiện có Hội đồng Hiến pháp như sau: Angiêri; Bờ Biển Ngà; Cadắcxtan; Campuchia; Chad; Comoros; Dibuti; Ethiopia; Iran; Libăng; Marốc; Môdămbích; Môritani; Pháp; Xênêgan; Timor Leste; Tuynidi1. Do giới hạn của cuốn sách và của nguồn tài liệu tham khảo nên trong Chương II dưới đây, nhóm tác giả chỉ khảo sát cụ thể Hội đồng Hiến pháp của 11 nước trong danh sách trên. 2.4. Tòa án Hiến pháp2 Tòa án Hiến pháp thuộc mô hình bảo hiến tập trung (có nghĩa là quyền bảo vệ Hiến pháp ở quốc gia chỉ được giao cho một cơ quan)3. Ở các quốc gia theo mô hình Tòa án Hiến pháp, các tòa án thường (tòa tư pháp), kể cả tòa tối cao, đều không có quyền bảo hiến, và thông thường Tòa án Hiến pháp có vị thế độc lập với hệ thống tòa án tư pháp (đồng thời độc lập với các cơ quan lập pháp và hành pháp). Thành viên của các Tòa án Hiến pháp là các thẩm phán có năng lực chuyên môn và uy tín cao. Tòa án Hiến pháp cũng thuộc mô hình bảo hiến trừu tượng (có nghĩa là việc xem xét các hành vi vi hiến không cần xuất phát từ một vụ tranh chấp cụ thể nào). Ở các quốc gia theo mô hình này, Tòa án Hiến pháp thường được trao quyền tự động phán quyết xem một đạo luật hay quyết định của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp có vi phạm Hiến pháp hay không, bất kể có hay không có vụ việc được trình lên. Quyền này áp dụng cả với các dự luật trước khi công bố (kiểm hiến trước) và đang có hiệu lực (kiểm hiến sau). Tuy nhiên, khác với mô hình bảo hiến bằng tòa án thường, nơi mà các bên của vụ việc có quyền đề nghị kiểm tra tính hợp hiến, theo mô hình Tòa án Hiến pháp, chỉ có các cơ quan hoặc người có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước (ví dụ, các nhà lãnh đạo hành pháp, nghị sỹ hoặc các cơ quan chính quyền địa phương…) mới có quyền đưa vụ việc kiểm hiến lên Tòa án Hiến pháp. 1 Nguồn:Arne Mavčič, The Constitutional Review, tại http:www.concourts.nettabtab1.php?lng=enstat=1prt=0srt=6 và Một số vấn đề cơ bản của Hiến pháp các nước trên thế giới, sđd, tr.449. Ghi chú về mô hình (kiểu Pháp hoặc kiểu Châu Âu) theo Arne Mavčič (không bao gồm những quốc gia Tuynidi, Sri Lanka, Ethiopia, Chad). 2 Xem: Ban biên tập sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Một số vấn đề cơ bản của Hiến pháp các nước trên thế giới, (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012), tr. 262. 3 Ngoài tòa án Hiến pháp, còn một số mô hình bảo hiến tập trung khác, ví dụ như mô hình tòa án tối cao đóng vai trò là cơ quan bảo hiến, hay mô hình Hội đồng Hiến pháp.13 Tuy nhiên, Tòa án Hiến pháp ở nhiều nước trong thời gian gần đây đã kết hợp giữa bảo hiến trừu tượng với bảo hiến cụ thể. Các tòa án thường trong khi giải quyết một vụ việc cụ, theo đề nghị của các bên trong vụ việc hoặc tự mình đề nghị Tòa án Hiến pháp xem xét tính hợp hiến của các đạo luật áp dụng cho vụ việc đó. Mô hình này hiện giờ được áp dụng ở nhiều nước như Đức, Áo, Ý, Tây Ban Nha, Bỉ và Hàn Quốc. Các tòa án tư pháp ở Ý thường xuyên sử dụng quyền này. Như vậy, thông qua phương thức bảo hiến cụ thể, các cá nhân có thể bảo vệ các quyền tự do hiến định bị xâm phạm bởi các đạo luật (Đức, Áo, Bỉ), hoặc các hành vi hành chính hoặc tư pháp (Đức, Tây Ban Nha, Hàn Quốc). Ở Hàn Quốc, các cá nhận không những có quyền đề nghị Tòa án Hiến pháp bảo vệ các quyền cơ bản một cách gián tiếp thông qua các tòa án, mà còn có quyền đề nghị trực tiếp tới Tòa án Hiến pháp nếu không được tòa án hoặc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết. Tòa án Hiến pháp của các quốc gia thường có thẩm quyền rộng, bao gồm: Kiểm tra tính hợp hiến của các dự luật và các đạo luật đã có hiệu lực (thẩm quyền cơ bản và quan trọng nhất); Giải quyết tranh chấp thẩm quyền giữa các nhánh quyền lực; giữa trung ương và địa phương; Bảo vệ các quyền con người trước sự xâm phạm của các cơ quan nhà nước; Kiểm tra tính hợp hiến của các cuộc bầu cử, trưng cầu ý dân… Ở các nước theo mô hình này, phán quyết của Tòa án Hiến pháp có tính chất chung thẩm và có giá trị bắt buộc với mọi đối tượng. Với những ưu điểm của một thiết chế bảo hiến tập trung và sức mạnh của các phán quyết tư pháp, Tòa án Hiến pháp tỏ ra là một trong những thiết chế bảo hiến hiệu quả nhất. Chính vì vậy nó được nhiều quốc gia trên thế giới lựa chọn. Trong thực tế, số lượng các vụ việc mà một Tòa án Hiến pháp xử lý trong một năm tùy thuộc vào bối cảnh của từng quốc gia. Ví dụ, số phán quyết mà Tòa án Hiến pháp đã đưa ra trong năm 2012 ở Cộng hòa Séc, Hungary và Ý chỉ là 3,1 trong khi ở LB Nga là 272. Đặc biệt, theo số liệu thống kê thực tế từ ngày 1 Nguồn: trang web của tòa án hiến pháp các nước Cộng hòa Séc, Hungary, Ý, tại http:www.concourt.czview726, http:www.mkab.hucaselawtranslations, http:www.cortecostituzionale.itActionPagina_1172.do, truy cập ngày 1542013. 2 Nguồn: trang web của tòa án hiến pháp LB Nga, tại http:www.ksrf.ruenDecisionJudgmentsPages2012.aspx, truy cập ngày 1542013.14 791951 đến ngày 31122007, Tòa án Hiến pháp Liên bang Đức đã thụ lý 169.502 vụ việc, trong số đó có tới 163.374 vụ việc (chiếm tới 96,37%) là các khiếu kiện Hiến pháp của cá nhân1; riêng trong năm 2012, số phán quyết của Toà án Hiến pháp ở CHLB Đức là 10 phán quyết2. 2.5. Tòa án thường3 Mô hình này được chia thành hai nhánh chính: Bảo hiến bằng Tòa án tối cao và bằng tòa án có thẩm quyền chung. Tòa án tối cao cũng là mô hình bảo hiến tập trung vì chỉ có Tòa án này mới được trao thẩm quyền bảo vệ Hiến pháp. Thông thường ở các quốc gia theo mô hình này, Tòa án tối cao sẽ thành lập ra một bộ phận riêng, thậm chí là một tòa riêng, để xem xét, xử lý các vụ việc vi hiến. Quyền bảo hiến cũng có thể được giao cho các Tòa án thường có thẩm quyền chung (mô hình Hoa Kỳ). Trong trường hợp này, khi giải quyết các vụ việc cụ thể, mọi tòa án tư pháp thông thường đều có quyền xem xét tính hợp hiến của một quy định hay một vấn đề liên quan, do đó, mô hình bảo hiến này được gọi là mô hình bảo hiến phi tập trung. Nếu có kháng cáo, Tòa án tối cao là cơ quan xét xử cao nhất và cuối cùng các vụ việc về Hiến pháp và các phán quyết của Tòa án tối cao sẽ trở thành án lệ cho các vụ việc tương tự.Việc xét xử các vụ việc Hiến pháp cũng theo quy trình tố tụng như với các vụ việc hành chính, hình sự, dân sự. Trong một vụ việc được giải quyết (hành chính, hình sự, dân sự…) tại tòa, các bên có quyền đề nghị kiểm tra tính hợp hiến của một đạo luật áp dụng để giải quyết vụ việc đó. Khi được đề nghị như vậy, thẩm phán phải tạm đình chỉ vụ việc đang giải quyết để chuyển sang vụ việc kiểm hiến. Vì vậy, đây vừa mang tính chất là kiểm hiến sau và bảo hiến cụ thể (việc kiểm hiến được thực hiện thông qua một vụ việc cụ thể đang được giải quyết tại tòa án). Khi đã xác định một đạo luật là vi hiến, tòa án sẽ không áp dụng đạo luật đó để giải quyết vụ việc; tuy nhiên, tòa không có thẩm quyền tuyên bố hủy bỏ đạo luật vi hiến, vì đó là thẩm quyền riêng có của Nghị viện. Trong hệ thống 1 . Số liệu thống kê thực tế của Tòa án Hiến pháp liên bang Đức về giải quyết các vụ việc của Tòa án Hiến pháp liên bang Đức từ ngày 791951 đến ngày 31122007 công bố tại website chính thức của Tòa án hiến pháp liên bang Đức tại địa chỉ:http:www.bundesverfassungsgericht.deorganisationgb2007AI1.html truy cập ngày 342012. 2 Nguồn: trang web của Tòa án Hiến pháp CHLB Đức, tại http:www.bverfg.deenindex.html, truy cập ngày 1542013. 3. Xem: Ban biên tập Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, Một số vấn đề cơ bản của Hiến pháp các nước trên thế giới, (NXB CTQG – Sự Thật, Hà Nội., 2012), tr. 263.15 thông luật, việc tòa án không áp dụng một đạo luật sẽ trở thành án lệ nên cho dù đạo luật vẫn còn giá trị về hình thức (chưa bị hủy bỏ) thì nó cũng không còn giá trị trên thực tế vì không được các tòa án áp dụng nữa. Một khía cạnh khác đó là, phán quyết kiểm hiến của tòa án chỉ có giá trị đối với các bên tham gia vụ việc mà không có giá trị với các chủ thể khác. Điều đó có thể dẫn đến sự không thống nhất trong hệ thống pháp luật nếu không có truyền thống án lệ. Nói cách khác, truyền thống án lệ có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật trong trường hợp quyền bảo hiến được giao cho các tòa án thường. Thêm vào đó, mô hình này đòi hỏi quốc gia phải có cơ chế đào tạo và tuyển dụng thẩm phán tiên tiến để có thể bảo đảm rằng đội ngũ thẩm phán có năng lực chuyên môn giỏi, đủ khả năng xử lý các vụ việc kiểm hiến thường rất phức tạp.16 CHƯƠNG II MÔ HÌNH TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG HIẾN PHÁP Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI I. HỘI ĐỒNG HIẾN PHÁP CỘNG HÒA PHÁP 1.1. Quá trình hình thành và phát triển 1.1.1. Truyền thống Nghị viện: Rào cản hình thành cơ chế tài phán Hiến pháp Xuất phát từ truyền thống về tính tối cao của Nghị viện, Pháp đã thiếu vắng cơ chế kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật trong một thời gian rất dài. Các học giả thời kỳ này cho rằng việc cho phép kiểm hiến các đạo luật làm mất đi quyền lực vốn có của Nghị viện – cơ quan đại diện cho ý chí của nhân dân. Nghị viện không thể chấp nhận các đạo luật do họ làm ra bị kiểm tra bởi các thẩm phán1. Mãi cho đến năm 1799, người ta mới bắt đầu bàn về việc kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật nhằm cân bằng quyền lực giữa lập pháp và hành pháp. Trong thời gian này, Hiến pháp trao cho Thượng viện quyền kiểm hiến các đạo luật. Theo Hiến pháp năm 1799, một trong hai viện đã được trao thẩm quyền kiểm hiến. Cụ thể, Thượng viện có thể hủy bỏ tất cả các đạo luật do Hạ viện đệ trình vì sự bất hợp hiến của các đạo luật đó. Thượng viện cũng có kiểm tra tính hợp hiến các đạo luật theo đề nghị của Tòa án hoặc Chính phủ. Trên thực tế, những quy định Hiến pháp này chỉ có giá trị trên giấy tờ. Thượng viện chưa bao giờ xem xét một vụ việc kiểm hiến nào, và cũng chưa có một chủ thể nào từng đệ trình Thượng viện xem xét vấn đề bảo hiến. Tương tự, theo Hiến pháp năm 1852, Thượng viện có chức năng tuyên bố sự bất hợp hiến của các đạo luật đã được Hạ viện thông qua. Thượng viện cũng có quyền đình chỉ các đạo luật bất hợp hiến do Chính phủ hoặc các công dân đệ trình. Ngoài ra, Thượng viện còn có quyền giải thích Hiến pháp. Về cơ bản, Thượng viện theo Hiến pháp năm 1852 có những thẩm quyền giống với Hiến pháp năm 1799, tuy nhiên nó cũng không có vai trò tích cực nào trong việc kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật. 1 Barthelemy Jacques, Duez Paul, Traite de droit constitutionnel, Paris, PantheonAssas Paris II, 2004, tr. 221.17 Trong nền Cộng hòa thứ III, Hiến pháp không có quy định nào về tài phán Hiến pháp. Tuy vậy, nhiều người đã nêu ra sự cần thiết phải có một thiết chế tài phán Hiến pháp để bảo đảm tính hợp hiến của các đạo luật. Nhiều ý kiến đề xuất mô hình tài phán Hiến pháp của Mỹ, song các thẩm phán lúc bấy giờ lại từ chối kiểm tra tính hợp hiến các đạo luật. Tòa án tối cao cho rằng các thẩm phán không thể vi phạm nguyên tắc phân quyền và tòa án không có thẩm quyền kiểm tra một đạo luật có nguồn gốc từ quyền lực cao nhất trong bộ máy nhà nước. Trong khi đó, Hội đồng Nhà nước (Tòa án hành chính tối cao) đã từ chối xem xét tính hợp hiến của một điều khoản trong một đạo luật năm 1934 khi cho rằng vấn đề này không thuộc thẩm quyền của Hội đồng Nhà nước. Sự từ chối của các tòa án phản ánh quan điểm về sự tôn trọng các đạo luật – ý chí chung của nhân dân và truyền thống đề cao tính tối cao của Nghị viện – cơ quan do nhân dân trực tiếp bầu ra. Mặc dù các thẩm phán kiên quyết từ chối chức năng kiểm hiến, nhiều người đã đệ trình các dự luật đề xuất thiết lập tài phán Hiến pháp. Nhiều lần, từ năm 1903 đến 1925, các nghị sĩ như Charles Benoist đã đề nghị sửa đổi Hiến pháp năm 1875 (trong nền Cộng hòa thứ III) để mở đường cho việc chấp nhận mô hình tài phán Hiến pháp của Mỹ. Theo quan điểm của họ, để bảo đảm các quyền và tự do của công dân và chống lại khả năng “sai lầm của đa số trong Ngh
Trang 1(Sách chuyên khảo)
HÀ NỘI, 2013
Trang 3CHỦ BIÊN
- GS.TS Phan Trung Lý, Uỷ viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ
nhiệm Uỷ ban pháp luật của Quốc hội, Uỷ viên Uỷ ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Trưởng ban biên tập dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992
- Ths Nguyễn Văn Phúc, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban kinh tế của Quốc hội,
Phó trưởng ban biên tập dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992
- TS Nguyễn Sĩ Dũng, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, thành viên
Ban biên tập dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992
NHÓM TÁC GIẢ
1 GS.TS Nguyễn Đăng Dung (Chương III (cùng TS Đặng Minh Tuấn))
2 TS Vũ Công Giao (Chương I)
3 TS Đặng Minh Tuấn (Chương II - Các nước Pháp (cùng TS Võ Trí
Hảo), Campuchia, Angiêri, Tuynidi, Chương III (cùng GS.TS Nguyễn Đăng Dung) và Phụ lục - Dịch thuật các quy định của Hiến pháp và pháp luât các nước liên quan)
4 NCS Bùi Ngọc Sơn (Chương II - Các nước Môritani, Xênêgan và Phụ
lục – Dịch thuật các quy định của Hiến pháp và pháp luât các nước liên quan)
5 TS Võ Trí Hảo (Chương II - Các nước Pháp (cùng TS Đặng Minh
Tuấn), Cadắcxtan (cùng TS Lê Hưng Long), Libăng, Ethiopia và Phụ lục – Dịch thuật các quy định của Hiến pháp và pháp luât các nước liên quan)
6 NCS Trần Kiên (Chương II - Các nước Chad, Marốc và Phụ lục -
Dịch thuật các quy định của Hiến pháp và pháp luât các nước liên quan)
7 TS Lê Hưng Long (Chương II – Các nước Cadắcxtan (cùng TS Võ
Trí Hảo), Libăng và Phụ lục - Dịch thuật các quy định của Hiến pháp và pháp luât các nước liên quan)
8 Nguyễn Thu Trang (Phụ lục - Dịch Luật về Hội đồng Hiến pháp của
Cadắcxtan)
Trang 4BIÊN TẬP
- Nguyễn Văn Phúc
Phó trưởng Ban biên tập dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992
- Hoàng Minh Hiếu
Trung tâm Thông tin, Thư viện và Nghiên cứu khoa học, Văn phòng Quốc hội
- Nguyễn Đức Lam
Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử, Văn phòng Quốc hội
- Dương Thuỳ Dung
Vụ Kinh tế, Văn phòng Quốc hội
- Đặng Minh Tuấn
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
THAM GIA BÌNH LUẬN:
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Hiến pháp là văn bản chính trị-pháp lý, là đạo luật cơ bản, luật gốc của đất nước, phản ánh ý chí của toàn dân, có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị và trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia Việc bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp, bảo đảm để tất cả các chủ thể trong xã hội tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của Hiến pháp luôn là vấn đề được các quốc gia trên thế giới quan tâm
Ở Việt Nam, vấn đề tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp, bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp cũng đã được đề cập trong quá trình xây dựng và thực thi các bản Hiến pháp Trong thời gian gần đây, cùng với việc thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, việc xây dựng cơ chế bảo vệ Hiến pháp đã được đặt ra trong văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, theo đó cần nghiên cứu “xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền” và “xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp”1 Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục yêu cầu “xây dựng từng bước hoàn thiện cơ chế, kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền”2
Thực hiện chủ trương này của Đảng, Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 một mặt đề nghị tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp hiện hành, tăng cường vai trò của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội và các cơ quan có thẩm quyền khác của Nhà nước trong việc giám sát, kiểm tra việc thi hành Hiến pháp, đồng thời đã tiến hành nghiên cứu, đề xuất quy định về thiết chế bảo vệ Hiến pháp chuyên trách theo mô hình Hội đồng Hiến pháp Đây là một trong những mô hình cơ quan bảo hiến được một số nước trên thế giới áp dụng và được cho là phù hợp với nguyên tắc và mô hình tổng thể tổ chức bộ máy Nhà nước ở nước ta Nhằm cung
1 Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X của Đảng, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới, (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2010), trang
333 - 396
2
Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu tòan toàn quốc lần
thứ XI của Đảng, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011), trang
247
Trang 6cấp thêm thông tin tham khảo, phục vụ cho quá trình sửa đổi Hiến pháp năm
1992, tiếp theo việc cho xuất bản và phát hành cuốn “Một số vấn đề cơ bản của Hiến pháp các nước trên thế giới”, Ban biên tập dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992
tổ chức biên soạn cuốn sách chuyên khảo về Hội đồng Hiến pháp của một số nước
Mục đích chủ yếu của cuốn sách là giới thiệu về cơ cấu tổ chức, thẩm quyền, cách thức và thực tiễn hoạt động của Hội đồng Hiến pháp, từ đó có thể rút ra những kinh nghiệm phục vụ cho việc nghiên cứu, xây dựng thiết chế bảo
vệ Hiến pháp ở nước ta
Ban biên tập xin trân trọng cảm ơn các vị đại biểu Quốc hội, các đồng chí lãnh đạo, các nhà quản lý, các chuyên gia đã dành thời gian đọc và góp ý để hoàn thiện cuốn sách; cảm ơn các giáo sư, giảng viên của Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Đại học Luật Hà Nội đã tham gia nghiên cứu, biên soạn, bình luận về nội dung của cuốn sách; các cán bộ, chuyên viên thuộc Văn phòng Quốc hội đã dành nhiều thời gian để hỗ trợ về công tác hành chính và biên tập
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng việc biên soạn không tránh khỏi sai sót, hạn chế, Ban biên tập dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 kính mong tiếp tục nhận được các đóng góp ý kiến để nội dung của cuốn sách tiếp tục được hoàn thiện hơn trong lần xuất bản sau
Trang 7MỤC LỤC
CHƯƠNG I: CÁC MÔ HÌNH CƠ QUAN BẢO VỆ HIẾN PHÁP 1
I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC CƠ QUAN BẢO VỆ HIẾN PHÁP 1
1.1 Khái niệm bảo vệ Hiến pháp 1
1.2 Quá trình hình thành cơ chế bảo vệ Hiến pháp 2
II CÁC MÔ HÌNH CƠ QUAN BẢO VỆ HIẾN PHÁP 6
2.1 Khái quát 6
2.2 Nghị viện 10
2.3 Hội đồng Hiến pháp 11
2.4 Tòa án Hiến pháp 12
2.5 Tòa án thường 14
CHƯƠNG II MÔ HÌNH TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG HIẾN PHÁP Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 16
I HỘI ĐỒNG HIẾN PHÁP CỘNG HÒA PHÁP 16
1.1 Quá trình hình thành và phát triển 16
1.2 Khuôn khổ pháp lý 20
1.3 Cơ cấu tổ chức 20
2.4 Nhiệm vụ, quyền hạn 23
2.5 Thực tiễn hoạt động 29
II HỘI ĐỒNG HIẾN PHÁP CAMPUCHIA 32
2.1 Quá trình hình thành và phát triển 32
2.2 Khuôn khổ pháp lý 33
2.3 Cơ cấu tổ chức và quy trình, thủ tục 33
2.4 Nhiệm vụ, quyền hạn 36
2.5 Thực tiễn hoạt động 43
III HỘI ĐỒNG HIẾN PHÁP CADẮCXTAN 44
3.1 Quá trình hình thành và phát triển 44
3.2 Khuôn khổ pháp lý 44
3.3 Cơ cấu tổ chức 45
3.4 Thẩm quyền 46
3.5 Thực tiễn hoạt động 48
IV HỘI ĐỒNG HIẾN PHÁP ANGIÊRI 51
4.1 Quá trình hình thành và phát triển 51
4.2 Khuôn khổ pháp lý 52
4.3 Cơ cấu tổ chức và quy trình, thủ tục hoạt động 52
Trang 84.4 Nhiệm vụ, quyền hạn 56
4.5 Thực tiễn hoạt động 58
V HỘI ĐỒNG HIẾN PHÁP MÔRITANI 59
5.1 Quá trình hình thành và phát triển 59
5.2 Khuôn khổ pháp lý 61
5.3 Cơ cấu tổ chức 61
5.4 Nhiệm vụ, quyền hạn 62
5.5 Thực tiễn hoạt động 64
VI HỘI ĐỒNG HIẾN PHÁP CỘNG HOÀ CHAD 67
6.1 Quá trình hình thành và phát triển 67
6.2 Khuôn khổ pháp lý 69
6.3 Cơ cấu tổ chức 70
6.4 Nhiệm vụ, quyền hạn 72
6.5 Thực tiễn hoạt động 75
VII HỘI ĐỒNG HIẾN PHÁP TUYNIDI 77
7.1 Quá trình hình thành và phát triển 77
7.2 Khuôn khổ pháp lý 77
7.3 Cơ cấu tổ chức 78
7.4 Nhiệm vụ, quyền hạn 80
7.5 Thực tiễn hoạt động 84
VIII HỘI ĐỒNG HIẾN PHÁP XÊNÊGAN 86
8.1 Quá trình hình thành và phát triển 86
8.2 Khuôn khổ pháp lý 87
8.3 Cơ cấu tổ chức 88
8.4 Nhiệm vụ, quyền hạn 88
8.5 Thực tiễn hoạt động 90
IX HỘI ĐỒNG ĐIỀU TRA HIẾN PHÁP ETHIOPIA 92
9.1 Quá trình hình thành và phát triển 92
9.2 Khuôn khổ pháp lý, cơ cấu tổ chức, thẩm quyền 94
9.3 Thực tiễn hoạt động 97
X HỘI ĐỒNG HIẾN PHÁP MARỐC 100
10.1 Quá trình hình thành và phát triển 100
10.2 Khuôn khổ pháp lý 102
10.3 Cơ cấu tổ chức 103
10.4 Nhiệm vụ, quyền hạn 104
10.5 Thực tiễn hoạt động 106
Trang 9XI HỘI ĐỒNG HIẾN PHÁP LIBĂNG 109
11.1 Quá trình hình thành, phát triển 109
11.2 Khuôn khổ pháp lý 111
11.3 Cơ cấu tổ chức 111
11.4 Nhiệm vụ, quyền hạn 113
11.5 Thực tiễn hoạt động 114
CHƯƠNG III NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ 116
I Cơ sở hình thành Hội đồng Hiến pháp 116
II Khuôn khổ pháp lý của Hội đồng Hiến pháp 120
III Cơ cấu tổ chức của Hội đồng Hiến pháp 120
IV Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng Hiến pháp 122
V Thực tiễn hoạt động của Hội đồng Hiến pháp 123
VI Việc thành lập Hội đồng Hiến pháp ở Việt Nam 125
PHỤ LỤC: Tuyển chọn quy định của Hiến pháp và pháp luật về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Hiến pháp ở một số nước 129
1 Cộng hoà Pháp 129
2 Campuchia 134
3 Cadắcxtan 136
4 Angiêri 160
5 Môritani 163
6 Chad 165
7 Tuynidi 167
8 Xênêgan 170
9 Ethiopia 172
10 Marốc 174
11 Libăng 175
Trang 10CÁC MINH HOẠ
Các bảng
Bảng 1: Tỷ lệ các hình thức cơ quan bảo hiến trên toàn thế giới 6
Bảng 2: Tỷ lệ các hình thức cơ quan bảo hiến ở khu vực Châu Âu 6
Bảng 3: Tỷ lệ các hình thức cơ quan bảo hiến ở khu vực Châu Phi 7
Bảng 4: Tỷ lệ các hình thức cơ quan bảo hiến ở khu vực Trung Đông 7
Bảng 5: Tỷ lệ các hình thức cơ quan bảo hiến ở khu vực Châu Á và Châu Đại dương 7
Bảng 6: Tỷ lệ các hình thức cơ quan bảo hiến ở khu vực Bắc Mỹ 8
Bảng 7: Tỷ lệ các hình thức cơ quan bảo hiến ở khu vực Trung và Nam Mỹ 8
Bảng 8: Bảng phân tích so sánh thẩm quyền của hai mô hình 104
Bảng 9: Bảng thống kê các thành viên Hội đồng Hiến pháp được bầu từ Nghị viện năm 2008 112
Các hình: Hình 1: Quy định về cơ chế bảo hiến trong Hiến pháp các nước trên thế giới (từ 1803 đến sau năm 2000) 5
Hình 2: Các nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Hiến pháp Campuchia 36
Hình 3: Quyền đề nghị lên Hội đồng Hiến pháp ở Campuchia 39
Hình 4: Thẩm quyền và thủ tục giải quyết của Hội đồng Hiến pháp Campuchia 42
Hình 5: Quy trình kiểm hiến trước 83
Các hộp Hộp 1: Vụ Marbury kiện Madison 3
Trang 11CHƯƠNG I:
CÁC MÔ HÌNH CƠ QUAN BẢO VỆ HIẾN PHÁP
I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC CƠ QUAN BẢO VỆ HIẾN PHÁP
1.1 Khái niệm bảo vệ Hiến pháp
Bảo vệ Hiến pháp (hay “bảo hiến”) có ý nghĩa cốt lõi là kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật do Nghị viện (hay Quốc Hội) ban hành, cụ thể là đánh giá xem những đạo luật được đưa ra có phù hợp với tinh thần và nội dung của Hiến pháp hay không1
Theo nghĩa rộng hơn, bảo hiến được hiểu là kiểm tra tính hợp hiến trong hành vi của tất cả các thiết chế quyền lực được Hiến pháp quy định, chứ không chỉ giới hạn ở việc làm luật của Nghị viện
Cơ chế bảo hiến là khái niệm dùng để chỉ cách thức tổ chức việc bảo vệ Hiến pháp của một quốc gia, được thể hiện cụ thể thông qua các mô hình cơ quan bảo hiến Cơ chế bảo hiến của các nước không hoàn toàn giống nhau, tuy chúng thường tuân thủ những đặc điểm chung của các mô hình cơ quan bảo vệ Hiến pháp phổ biến (nêu ở Mục II dưới đây)
Ở nhiều quốc gia, bảo hiến đồng nghĩa với kiểm hiến của tòa án (judicial review), là thẩm quyền của các tòa án xem xét và đánh giá tính hợp hiến của các đạo luật hoặc quyết định của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp2
Quan niệm này xuất phát từ thực tế là phần lớn quốc gia trên thế giới trao cho các tòa
án (Tòa án thường hoặc Tòa án Hiến pháp) nhiệm vụ bảo hiến Mặc dù vậy, cần thấy rằng tài phán Hiến pháp (bảo vệ Hiến pháp bằng tòa án) chỉ là một trong các mô hình bảo hiến
Trang 121.2 Quá trình hình thành cơ chế bảo vệ Hiến pháp
Cũng như bất kỳ văn bản pháp luật nào khác của các quốc gia, Hiến pháp cũng đứng trước nguy cơ bị vi phạm Điều này làm phát sinh nhu cầu cần có một cơ chế bảo hiến
Trong thực tế, chính các cơ quan nắm giữ quyền lực công (Nghị viện, Chính phủ, Tòa án ) là những chủ thể chính của các hành vi vi hiến Do Hiến pháp là bản khế ước do nhân dân lập ra để tổ chức, kiểm soát quyền lực nhà nước và ràng buộc chính quyền nên mọi hành vi vi hiến đều phải bị xử lý để bảo đảm ý chí, chủ quyền của nhân dân được tôn trọng và thực hiện Trong bối cảnh
đó, ở các xã hội có Hiến pháp nhân dân, luôn đòi hỏi thành lập các thiết chế bảo hiến Nhu cầu về bảo hiến trước hết và chủ yếu xuất phát từ xã hội, từ nhân dân Nói cách khác, bảo hiến là yêu cầu chung ở mọi quốc gia chứ không phải là cơ chế dành riêng cho các nước áp dụng mô hình chính trị đa đảng hay một đảng
Lịch sử bảo hiến được một học giả chia thành các giai đoạn như sau:1
+Trước Chiến tranh thế giới thứ I
Những yếu tố ban đầu của bảo hiến được cho là xuất hiện vào thời cổ Hy
Lạp, khi pháp luật nước này phân biệt giữa một nomos (văn bản pháp luật có hiệu lực tối cao như Hiến pháp) và một psephisma (văn bản pháp luật có hiệu lực thấp hơn) Một psephisma, bất kể nội dung quy định về vấn đề gì, cũng không được trái với nomos, nếu trái sẽ bị coi là vô hiệu
Một số khía cạnh của bảo hiến sau đó được áp dụng trong hệ thống pháp luật của Đức từ năm1180 (về sau được đề cập trong Hiến pháp Weimar 1919) Ngoài ra, các hình thức sơ khai của bảo hiến cũng xuất hiện ở một số nước Châu
Âu khác như ở Pháp (từ giữa thế kỷ XIII), Bồ Đào Nha (từ thế kỷ XVII), Na Uy, Đan Mạch, Hy Lạp, Áo, Romania (thế kỷ XIX) Mặc dù không có Hiến pháp thành văn, nước Anh cũng được coi là có đóng góp quan trọng vào sự phát triển của thể chế bảo hiến, vì từ thời Trung cổ, người Anh đã khởi xướng ra thủ tục
impeachment (luận tội để bãi miễn quan chức nhà nước), đồng thời từ năm 1610
đã đề xướng nguyên tắc về tính tối thượng (supremacy) của luật (bao gồm các
quy phạm luật Hiến pháp) và quyền của tòa án được xem xét tính hợp pháp các hoạt động của Chính phủ - những điều mà sau đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc thiết lập cơ chế bảo hiến ở Hoa Kỳ
1
Xem: Arne Mavčič, Historical Steps in the Development of Systems of Constitutional Review and Particularities
of Their Basic Models, tại http://www.concourts.net/introen.php.
Trang 13Ở Hoa Kỳ, vào cuối thế kỷ 18, tòa án đã ra một phán quyết tuyên bố các luật của đế chế Anh không có hiệu lực trên lãnh thổ các bang Bắc Mỹ Tuy
nhiên, phải đến năm 1803, trong vụ án nổi tiếng Marbury kiện Madison, quyền
bảo hiến của tòa án mới được xác lập chính thức và tạo ra mô hình bảo hiến kiểu Hoa Kỳ do các tòa án thường thực hiện
Hộp 1: Vụ Marbury kiện Madison 1
Bối cảnh vụ kiện: Vào đầu năm 1801, những ngày chót trước khi hết nhiệm kỳ, Tổng
thống John Adams đã bổ nhiệm 16 thẩm phán liên bang và 42 thẩm phán hòa bình ở tòa án hạt (Justice of the peace) Để nhậm chức chính thức, các quyết định bổ nhiệm phải được Thư
ký Nhà nước (Secretary of State) gửi đến những người được bổ nhiệm Tuy nhiên, vì thời gian quá gấp, một số thẩm phán do John Adams cất nhắc đã không kịp nhận quyết định bổ nhiệm trước khi Tổng thống mới là Thomas Jefferson lên nắm quyền Ngay sau khi nhậm chức, Thomas Jefferson ra lệnh ngừng cấp quyết định bổ nhiệm đối với các trường hợp chưa nhận quyết định, trong đó có Marbury Căn cứ vào quy định của Luật về tòa án năm 1789, Marbury kiện James Madison, tân Thư ký Nhà nước, lên Tòa án tối cao Liên bang, yêu cầu Tòa ra lệnh (writ) buộc Madison phải ra quyết định bổ nhiệm Marbury
Phán quyết của Tòa án tối cao: Tòa tuyên Marbury có quyền được nhận quyết định
bổ nhiệm, vì việc bổ nhiệm diễn ra đúng luật Sự chậm trễ trong việc gửi các quyết định bổ nhiệm đã vi phạm quyền luật định của Marbury Tuy nhiên, Tòa lại từ chối đơn của Marbury yêu cầu Tòa ra lệnh buộc Madison phải gửi quyết định bổ nhiệm Tòa cho rằng mình không
có thẩm quyền như vậy Quy định của Luật năm 1789 trao cho Tòa án thẩm quyền đó là trái với Điều III của Hiến pháp Hoa Kỳ, do đó không có hiệu lực
Ý nghĩa của phán quyết đối với bảo hiến: Trong lập luận cho phán quyết của Tòa án
tối cao về vụ việc trên, Chánh án John Marshall đã nhấn mạnh: “Thẩm quyền và bổn phận của nhánh tư pháp là xác định luật nào được áp dụng Toà án có quyền áp dụng luật đối với từng trường hợp cụ thể nên cần thiết phải có thẩm quyền dẫn giải và giải thích luật được áp dụng Nếu có hai đạo luật xung đột nhau, Toà án phải quyết định việc áp dụng của từng đạo luật” Trong trường hợp luật trái với Hiến pháp, và được áp dụng trong một vụ việc, tòa án phải coi Hiến pháp cao hơn bất kỳ đạo luật nào của lập pháp; Hiến pháp, chứ không phải các đạo luật,
có hiệu lực đối với vụ việc như vậy Như vậy, Tòa án tối cao Hoa Kỳ bằng phát quyết trong
vụ kiện nói trên đã tạo ra tiền lệ mở đầu cho mô hình tài phán hiến pháp bằng tòa án thường sau đó được nhiều nước tiếp nhận và áp dụng Theo đó, tòa án có thể tuyên về sự vi hiến của một đạo luật do nghị viện ban hành, từ chối không áp dụng nó trong vụ việc được đưa ra trước tòa
+ Giữa Chiến tranh thế giới thứ I và thứ II
1
Nguồn tham khảo: Marbury v Madison – Case Brief Summary, tại http://www.lawnix.com/cases/marbury-madison.html, Marbury V Madison, Sự đấu tranh lý tưởng của ngành Tư pháp, tại http://www.trenews.net/Article.aspx?Id=6022
Trang 14Giai đoạn này được gọi là “thời kỳ của nước Áo” (the Austrian Period)
Chịu ảnh hưởng từ tư tưởng của hai nhà luật học Hans Kelsen và Adolf Merkl, Hiến pháp năm 1920 của Áo đã xác lập nền tảng của Tòa án Hiến pháp nước này, với độc quyền xem xét tính hợp hiến của các đạo luật Mô hình Tòa án Hiến pháp chịu trách nhiệm về bảo hiến sau đó được áp dụng ở nhiều quốc gia khác, đặc biệt là ở Châu Âu, trở thành một trong các mô hình bảo hiến chính hiện nay trên thế giới
+ Sau Chiến tranh thế giới thứ II
Từ sau chiến tranh thế giới thứ II, cơ chế bảo hiến tiếp tục được thiết lập ở nhiều quốc gia trên thế giới Trong thời kỳ này, ngoài tòa án (tòa án thường và Tòa án Hiến pháp), ở một số nước, Hiến pháp còn giao quyền bảo hiến cho một
số cơ quan khác, như Hội đồng Hiến pháp, các tòa đặc biệt thuộc Tòa án tối cao, hoặc cho bản thân Nghị viện
Như vậy, kể từ vụ Marbury kiện Madison năm 1803 mà dẫn đến việc xác lập quyền bảo hiến của hệ thống tòa án ở Hoa Kỳ, cơ chế bảo hiến đã không ngừng phát triển trên thế giới
Trong thời điểm giữa hai cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai, một loạt quốc gia Châu Âu đã thiết lập cơ quan bảo hiến (hầu hết theo mô hình Tòa án Hiến pháp kiểu Áo, bao gồm Áo (1920), Czechoslovakia (1920), Liechtenstein (1925), Hy Lạp (1927), Ai Cập (1941), Tây Ban Nha (1931), Ireland (1937)1…
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, có thêm nhiều quốc gia cả ở Châu Âu và
ở các khu vực khác thành lập cơ quan bảo vệ Hiến pháp theo mô hình Châu Âu, Hoa Kỳ hoặc hỗn hợp như Braxin (1946), Nhật Bản (1947), Miến Điện (1947),
Ý (1948), Thái Lan (1949), CHLB Đức (1949), Ấn Độ (1949), Pháp (1958), Luxembourg (1950), Syria (1950), Uruguay (1952)2…
Thập kỷ 1960-1970 đánh dấu bằng việc xây dựng hoặc cải tổ lớn thiết chế bảo hiến ở một số quốc gia Nam Âu (do kết quả của sự sụp đổ của nhiều chế độ độc tài) và một số khu vực khác của châu lục này, bao gồm tại Síp (1960), Thổ Nhĩ Kỳ (1961), An-giê-ri (1963), Nam Tư cũ (1963), Slovenia và một số nước
Trang 15cộng hoà khác thuộc Nam Tư cũ (1963), Hy Lạp (1968), Tây Ban Nha (1978),
Bồ Đào Nha (1976), Áo, CHLB Đức, Thuỵ Điển, Pháp, Bỉ1…
Sự sụp đổ của hệ thống XHCN ở Liên Xô-Đông Âu vào cuối thập kỷ
1980 đầu thập kỷ 1990 đã dẫn đến sự ra đời của một loạt quốc gia dân chủ mới
(new democracy countries) Hầu hết các quốc gia này đã nhanh chóng thành lập
cơ quan bảo hiến, đồng thời với việc chuyển đổi từ phương thức tổ chức quyền lực tập quyền sang tam quyền phân lập
Xét chung, kể từ khi chính thức hình thành vào đầu thế kỷ 19 đến nay, cơ chế bảo hiến đã phát triển liên tục trên thế giới, dưới nhiều dạng thức khác nhau dựa trên hai mô hình cơ bản (mô hình Châu Âu và Hoa Kỳ), trong đó những thập kỷ cuối của thế kỷ 20 có tốc độ phát triển nhanh nhất (xem hình dưới đây):
Hình 1: Quy định về cơ chế bảo hiến trong Hiến pháp các nước trên thế giới (từ 1803 đến sau năm 2000) 2
Theo biểu đồ trên, tính đến sau năm 2000, hơn 80% Hiến pháp của các quốc gia trên thế giới đã quy định về vấn đề bảo hiến dưới những dạng thức khác nhau
Trong các hình thức bảo hiến, Tòa án Hiến pháp thuộc về những định chế chiếm ưu thế nhất Được xác lập lần đầu tiên ở Áo vào năm 1920 trên cơ sở lý thuyết của Hans Kelsen, Tòa án Hiến pháp đã sớm trở thành mô hình bảo hiến
Trang 16chủ yếu ở Châu Âu1
và là một “hiện tượng” ở các nền dân chủ mới vào cuối thế
kỷ 20 Một loạt quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi dân chủ ở Đông Âu, Châu Phi và Châu Á đã chọn mô hình bảo hiến này2 Theo một khảo sát vào năm 2003, Tòa án Hiến pháp chiếm 75% mô hình bảo hiến ở các nước dân chủ mới3
Như thể hiện trong mục II dưới đây, cùng với mô hình tòa án thường, mô hình Tòa án Hiến pháp chiếm ưu thế vượt trội so với mô hình Hội đồng Hiến pháp
II CÁC MÔ HÌNH CƠ QUAN BẢO VỆ HIẾN PHÁP
2.1 Khái quát
Dựa trên các tiêu chí về tổ chức, thầm quyền và thủ tục, Arne Mavčič4
chia các thiết chế bảo hiến hiện hành trên thế giới thành các mô hình và thống kê
sự phân bố của các mô hình đó trên thế giới như sau:
Bảng 1: Tỷ lệ các hình thức cơ quan bảo hiến trên toàn thế giới
1 Hội đồng Hiến pháp kiểu Pháp 3.91%
2 Hội đồng Hiến pháp kiểu Châu Âu 2.79%
3 Toà án Hiến pháp kiểu Châu Âu 29.61%
4 Toà án Hiến pháp kiểu hỗn hợp 2.79%
5 Toà án Tối cao kiểu Châu Âu 11.17%
8 Khối thịnh vượng chung mới 0.56%
10 Chưa có cơ chế bảo vệ Hiến pháp 2.79%
Bảng 2: Tỷ lệ các hình thức cơ quan bảo hiến ở khu vực Châu Âu
1 Hội đồng Hiến pháp kiểu Pháp 2.38%
2 Hội đồng Hiến pháp kiểu Châu Âu 0.00%
3 Toà án Hiến pháp kiểu Châu Âu 61.90%
1
Như trên, pp 52-53
2
Jiunn-Rong Yeh & Wen-Chen Chang, “The Changing Landscape of Modern Constitutionalism: Transitional
Perspective” 4 (1) National Taiwan University Law Review (2009) 153
3
Nguồn: Tom Ginsburg, Judicial Review in New Democracies: Constitutional Courts in Asian Cases (New York:
Cambridge University Press, 2003), pp 7-8
4
Arne Mavčič, Historical Steps in the Development of Systems of Constitutional Review and Particularities of Their Basic Models, tại http://www.concourts.net/introen.php, truy cập ngày 7/1/2013
Trang 174 Toà án Hiến pháp kiểu hỗn hợp 4.76%
5 Toà án Tối cao kiểu Châu Âu 9.52%
8 Khối thịnh vượng chung mới 0.00%
10 Chưa có cơ chế bảo vệ Hiến pháp 4.76%
Bảng 3: Tỷ lệ các hình thức cơ quan bảo hiến ở khu vực Châu Phi
1 Hội đồng Hiến pháp kiểu Pháp 11.54%
2 Hội đồng Hiến pháp kiểu Châu Âu 3.85%
3 Toà án Hiến pháp kiểu Châu Âu 23.08%
4 Toà án Hiến pháp kiểu hỗn hợp 0.00%
5 Toà án Tối cao kiểu Châu Âu 17.31%
8 Khối thịnh vượng chung mới 1.92%
10 Chưa có cơ chế bảo vệ Hiến pháp 5.77%
Bảng 4: Tỷ lệ các hình thức cơ quan bảo hiến ở khu vực Trung Đông
1 Hội đồng Hiến pháp kiểu Pháp 0.00%
2 Hội đồng Hiến pháp kiểu Châu Âu 10.00%
3 Toà án Hiến pháp kiểu Châu Âu 30.00%
4 Toà án Hiến pháp kiểu hỗn hợp 0.00%
5 Toà án Tối cao kiểu Châu Âu 10.00%
8 Khối thịnh vượng chung mới 0.00%
10 Chưa có cơ chế bảo vệ hiến pháp 0.00%
Bảng 5: Tỷ lệ các hình thức cơ quan bảo hiến ở khu vực Châu Á và Châu Đại dương
1 Hội đồng Hiến pháp kiểu Pháp 0.00%
2 Hội đồng Hiến pháp kiểu Châu Âu 4.55%
3 Toà án Hiến pháp kiểu Châu Âu 22.73%
4 Toà án Hiến pháp kiểu hỗn hợp 0.00%
5 Toà án Tối cao kiểu Châu Âu 2.27%
Trang 187 Toà án kiểu Hoa Kỳ 40.91%
8 Khối thịnh vượng chung mới 0.00%
10 Chưa có cơ chế bảo vệ hiến pháp 0.00%
Bảng 6: Tỷ lệ các hình thức cơ quan bảo hiến ở khu vực Bắc Mỹ
1 Hội đồng Hiến pháp kiểu Pháp 0.00%
2 Hội đồng Hiến pháp kiểu Châu Âu 0.00%
3 Toà án Hiến pháp kiểu Châu Âu 0.00%
4 Toà án Hiến pháp kiểu hỗn hợp 0.00%
5 Toà án Tối cao kiểu Châu Âu 0.00%
8 Khối thịnh vượng chung mới 0.00%
10 Chưa có cơ chế bảo vệ Hiến pháp 0.00%
Bảng 7: Tỷ lệ các hình thức cơ quan bảo hiến ở khu vực Trung và Nam Mỹ
1 Hội đồng Hiến pháp kiểu Pháp 0.00%
2 Hội đồng Hiến pháp kiểu Châu Âu 0.00%
3 Toà án Hiến pháp kiểu Châu Âu 6.90%
4 Toà án Hiến pháp kiểu hỗn hợp 13.79%
5 Toà án Tối cao kiểu Châu Âu 17.24%
8 Khối thịnh vượng chung mới 0.00%
10 Chưa có cơ chế bảo vệ hiến pháp 0.00%
Chú thích về các hình thức cơ quan bảo hiến trên thế giới:
1 Hội đồng
Hiến pháp
kiểu Pháp
Dựa theo mô hình Hội đồng Hiến pháp của Pháp năm
1958 với đặc điểm cơ bản là chủ yếu thực hiện chức năng kiểm hiến trước (kiểm tra các dự luật) mà không
có quyền kiểm sau (kiểm tra các đạo luật có hiệu lực), mặc dù Hội đồng Hiến pháp có thể kiểm soát rất mạnh
mẽ các cuộc bầu cử và trưng cầu ý dân Tuy nhiên, từ năm 2008, sau khi sửa đổi Hiến pháp, Hội đồng Hiến pháp của Pháp đã được trao quyền kiểm hiến các đạo luật có hiệu lực
Trang 19có hiệu lực; bảo hiến trừu tượng; vụ việc hiến pháp do những người có thẩm quyền hoặc cơ quan công quyền
6 Toà án kiểu
hỗn hợp
Tòa án tư pháp vừa có quyền kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật áp dụng cho vụ việc đang giải quyết tại tòa, đồng thời có quyền đề xuất Tòa án Hiến pháp xem xét vấn đề đó Tòa án Hiến pháp là cơ quan cao nhất có quyền phán quyết về tính hợp hiến của một đạo luật
Trang 20Từ các bảng trên, có thể thấy, nếu xét trên phạm vi toàn thế giới, hai mô hình bảo hiến được áp dụng nhiều nhất là mô hình Tòa án Hiến pháp kiểu Châu
Âu (chiếm 29,61%) và mô hình tòa án kiểu Hoa Kỳ (chiếm 29,05%) Tiếp theo
đó là các mô hình Tòa án Tối cao kiểu Châu Âu (chiếm 11,7%)
Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng nếu xét theo khu vực, có sự phân hoá rất lớn về việc áp dụng mỗi mô hình Ở đây, trong khi các mô hình Tòa án Hiến pháp kiểu Châu Âu và mô hình Toà án kiểu Hoa Kỳ chiếm vị trí áp đảo tại “quê hương” của chúng (Châu Âu và Bắc Mỹ) thì lại phải cạnh tranh quyết liệt ở các khu vực khác của thế giới Trong đó, hai bên có phần tương đương nhau ở Châu Phi, và trong khi mô hình Tòa án Hiến pháp Châu Âu chiếm ưu thế ở Trung Đông thì mô hình tòa án thường kiểu Hoa Kỳ tỏ ra được ưa chuộng hơn tại các khu vực Châu Á, Châu Đại dương và Trung, Nam Mỹ Đại đa số các nước XHCN cũ như các nước từng là thành viên của Liên Xô, Đông Âu, Trung Âu đều áp dụng mô hình Tòa án Hiến pháp kiểu Châu Âu Trong khi đó, ở vùng Châu Á- Thái Bình Dương gần Việt Nam, có những nước áp dụng mô hình bảo hiến bằng tòa án thường như Nhật Bản, Philipines, Malaysia, Singapore; có nước thành lập Tòa án Hiến pháp như Hàn Quốc, Đài Loan, Indonesia, Thái Lan; trong khi đó Campuchia và Timor Leste có Hội đồng Hiến pháp; còn Trung Quốc và Lào được coi là các nước có bảo hiến bằng cơ quan lập pháp
Mặc dù rất đa dạng, bốn mô hình cơ bản được áp dụng ở những mức độ khác nhau trên thế giới, bao gồm Tòa án Hiến pháp, Toà án thường, Hội đồng Hiến pháp và Nghị viện
2.2 Nghị viện 1
Theo mô hình này, chỉ có Nghị viện (hay Quốc hội) mới có quyền kiểm tra các văn bản pháp luật do mình thông qua Như vậy, Nghị viện có chức năng kép, vừa có thẩm quyền ban hành luật, vừa kiểm tra tính hợp hiến của đạo luật
do mình ban hành Điều này bị các học giả trên thế giới phê phán là không đảm bảo tính độc lập, khách quan Thêm vào đó, do Nghị viện là cơ quan đại biểu, mang tính chất chính trị nên thường không có trình tự, thủ tục phù hợp như các thiết chế bảo hiến chuyên trách để tiến hành xem xét, phán quyết về tính hợp hiến của một văn bản pháp luật
1
Xem: Ban biên tập sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Một số vấn đề cơ bản của Hiến pháp các nước trên thế giới,
(NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012) tr 263.
Trang 21Thực tế trên thế giới đã chứng minh là Nghị viện thường không thực hiện chức năng bảo vệ Hiến pháp một cách hiệu quả Chính vì vậy, bảo hiến bằng Nghị viện (hay cơ quan lập pháp kiêm bảo hiến) hiện chỉ còn được một số ít quốc gia trên thế giới áp dụng Nghị viện của Pháp, Thái Lan đã từng được giao chức năng bảo vệ Hiến pháp, nhưng sau đó Hiến pháp của hai quốc gia này đã thiết lập cơ quan bảo hiến độc lập (Hội đồng Hiến pháp ở Pháp, Toà án Hiến pháp ở Thái Lan)1
2.3 Hội đồng Hiến pháp 2
Hội đồng Hiến pháp cũng là một mô hình bảo hiến tập trung nhưng mang nhiều yếu tố chính trị hơn là một cơ quan chuyên môn tài phán Hiến pháp như Tòa án Hiến pháp Cụ thể, trong Hội đồng Hiến pháp của một số quốc gia, các Tổng thống nghỉ hưu thường được coi là thành viên đương nhiên Với các thành viên khác, tiêu chí tuyển chọn cũng không bắt buộc phải có chuyên môn về pháp luật Thêm vào đó, quy trình giải quyết vụ việc của các Hội đồng Hiến pháp thường thiếu đặc trưng của thủ tục tố tụng, không mang tính công khai
Hội đồng Hiến pháp, khi ra đời đầu tiên ở Pháp, chỉ có chức năng kiểm hiến trước, tức là kiểm tra tính hợp hiến của các dự án luật trước khi công bố Mặc dù vậy, gần đây một số quốc gia áp dụng mô hình này, kể cả Pháp, đã trao cho Hội đồng Hiến pháp quyền kiểm hiến sau (kiểm hiến các đạo luật đã có hiệu lực)
Như đã đề cập, Hội đồng Hiến pháp không mang tính phổ biến như các
mô hình Tòa án Hiến pháp và Tòa án thường Theo Bảng 1 ở trên, có khoảng 7,9% số nước có thiết chế bảo hiến độc lập theo mô hình Hội đồng Hiến pháp (tính cả hai dạng kiểu Pháp và kiểu Châu Âu)3 Hầu hết các quốc gia đang áp dụng mô hình Hội đồng Hiến pháp là các nước Châu Phi, chỉ có một vài nước ở Trung Đông và Châu Á Ở Châu Âu – nơi phát xuất của mô hình này - hiện chỉ còn nước Pháp đang áp dụng
1 Xem: Ban biên tập Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Một số vấn đề cơ bản của Hiến pháp các
nước trên thế giới, (NXB Chính trị - Quốc gia, Hà Nội, 2012), tr 260
2
Xem: Ban biên tập sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Một số vấn đề cơ bản của Hiến pháp các nước trên thế giới,
(NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012), tr 261.
3
Theo Bảng 1, tổng số nước có mô hình Hội đồng Hiến pháp là 6,7% trên tổng số các nước trên thế giới Tuy nhiên, tổng số các nước có thiết chế bảo hiến độc lập chiếm 84.92% tổng số các nước trên thế giới Vì vậy, tỷ lệ các nước có mô hình bảo hiến độc lập trên tổng số các nước có thiết chế bảo hiến độc lập là 7,9%
Trang 22Kết hợp từ hai nguồn tài liệu, có thể xác lập danh sách các quốc gia hiện
có Hội đồng Hiến pháp như sau: Angiêri; Bờ Biển Ngà; Cadắcxtan; Campuchia; Chad; Comoros; Dibuti; Ethiopia; Iran; Libăng; Marốc; Môdămbích; Môritani; Pháp; Xênêgan; Timor Leste; Tuynidi1
Tòa án Hiến pháp thuộc mô hình bảo hiến tập trung (có nghĩa là quyền
bảo vệ Hiến pháp ở quốc gia chỉ được giao cho một cơ quan)3 Ở các quốc gia theo mô hình Tòa án Hiến pháp, các tòa án thường (tòa tư pháp), kể cả tòa tối cao, đều không có quyền bảo hiến, và thông thường Tòa án Hiến pháp có vị thế độc lập với hệ thống tòa án tư pháp (đồng thời độc lập với các cơ quan lập pháp
và hành pháp) Thành viên của các Tòa án Hiến pháp là các thẩm phán có năng lực chuyên môn và uy tín cao
Tòa án Hiến pháp cũng thuộc mô hình bảo hiến trừu tượng (có nghĩa là
việc xem xét các hành vi vi hiến không cần xuất phát từ một vụ tranh chấp cụ thể nào) Ở các quốc gia theo mô hình này, Tòa án Hiến pháp thường được trao quyền tự động phán quyết xem một đạo luật hay quyết định của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp có vi phạm Hiến pháp hay không, bất kể có hay không
có vụ việc được trình lên Quyền này áp dụng cả với các dự luật trước khi công
bố (kiểm hiến trước) và đang có hiệu lực (kiểm hiến sau) Tuy nhiên, khác với
mô hình bảo hiến bằng tòa án thường, nơi mà các bên của vụ việc có quyền đề nghị kiểm tra tính hợp hiến, theo mô hình Tòa án Hiến pháp, chỉ có các cơ quan hoặc người có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước (ví dụ, các nhà lãnh đạo hành pháp, nghị sỹ hoặc các cơ quan chính quyền địa phương…) mới có quyền đưa
vụ việc kiểm hiến lên Tòa án Hiến pháp
1
Nguồn:Arne Mavčič, The Constitutional Review, tại
http://www.concourts.net/tab/tab1.php?lng=en&stat=1&prt=0&srt=6 và Một số vấn đề cơ bản của Hiến pháp các nước trên thế giới, sđd, tr.449 Ghi chú về mô hình (kiểu Pháp hoặc kiểu Châu Âu) theo Arne Mavčič (không bao gồm những quốc gia
Tuynidi, Sri Lanka, Ethiopia, Chad).
2
Xem: Ban biên tập sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Một số vấn đề cơ bản của Hiến pháp các nước trên thế giới,
(NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012), tr 262.
3
Ngoài tòa án Hiến pháp, còn một số mô hình bảo hiến tập trung khác, ví dụ như mô hình tòa án tối cao đóng vai trò là cơ quan bảo hiến, hay mô hình Hội đồng Hiến pháp.
Trang 23Tuy nhiên, Tòa án Hiến pháp ở nhiều nước trong thời gian gần đây đã kết hợp giữa bảo hiến trừu tượng với bảo hiến cụ thể Các tòa án thường trong khi giải quyết một vụ việc cụ, theo đề nghị của các bên trong vụ việc hoặc tự mình
đề nghị Tòa án Hiến pháp xem xét tính hợp hiến của các đạo luật áp dụng cho
vụ việc đó Mô hình này hiện giờ được áp dụng ở nhiều nước như Đức, Áo, Ý, Tây Ban Nha, Bỉ và Hàn Quốc Các tòa án tư pháp ở Ý thường xuyên sử dụng quyền này Như vậy, thông qua phương thức bảo hiến cụ thể, các cá nhân có thể bảo vệ các quyền tự do hiến định bị xâm phạm bởi các đạo luật (Đức, Áo, Bỉ), hoặc các hành vi hành chính hoặc tư pháp (Đức, Tây Ban Nha, Hàn Quốc) Ở Hàn Quốc, các cá nhận không những có quyền đề nghị Tòa án Hiến pháp bảo vệ các quyền cơ bản một cách gián tiếp thông qua các tòa án, mà còn có quyền đề nghị trực tiếp tới Tòa án Hiến pháp nếu không được tòa án hoặc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết
Tòa án Hiến pháp của các quốc gia thường có thẩm quyền rộng, bao gồm:
Kiểm tra tính hợp hiến của các dự luật và các đạo luật đã có hiệu lực (thẩm quyền cơ bản và quan trọng nhất);
Giải quyết tranh chấp thẩm quyền giữa các nhánh quyền lực; giữa trung ương và địa phương;
Bảo vệ các quyền con người trước sự xâm phạm của các cơ quan nhà nước;
Kiểm tra tính hợp hiến của các cuộc bầu cử, trưng cầu ý dân…
Ở các nước theo mô hình này, phán quyết của Tòa án Hiến pháp có tính chất chung thẩm và có giá trị bắt buộc với mọi đối tượng
Với những ưu điểm của một thiết chế bảo hiến tập trung và sức mạnh của các phán quyết tư pháp, Tòa án Hiến pháp tỏ ra là một trong những thiết chế bảo hiến hiệu quả nhất Chính vì vậy nó được nhiều quốc gia trên thế giới lựa chọn
Trong thực tế, số lượng các vụ việc mà một Tòa án Hiến pháp xử lý trong một năm tùy thuộc vào bối cảnh của từng quốc gia Ví dụ, số phán quyết mà Tòa
án Hiến pháp đã đưa ra trong năm 2012 ở Cộng hòa Séc, Hungary và Ý chỉ là 3,1
trong khi ở LB Nga là 272 Đặc biệt, theo số liệu thống kê thực tế từ ngày
1 Nguồn: trang web của tòa án hiến pháp các nước Cộng hòa Séc, Hungary, Ý, tại
http://www.concourt.cz/view/726, http://www.mkab.hu/case-law/translations,
http://www.cortecostituzionale.it/ActionPagina_1172.do, truy cập ngày 15/4/2013.
2 Nguồn: trang web của tòa án hiến pháp LB Nga, tại http://www.ksrf.ru/en/Decision/Judgments/Pages/2012.aspx, truy cập ngày 15/4/2013
Trang 247/9/1951 đến ngày 31/12/2007, Tòa án Hiến pháp Liên bang Đức đã thụ lý 169.502 vụ việc, trong số đó có tới 163.374 vụ việc (chiếm tới 96,37%) là các khiếu kiện Hiến pháp của cá nhân1; riêng trong năm 2012, số phán quyết của Toà án Hiến pháp ở CHLB Đức là 10 phán quyết2
cơ quan xét xử cao nhất và cuối cùng các vụ việc về Hiến pháp và các phán quyết của Tòa án tối cao sẽ trở thành án lệ cho các vụ việc tương tự.Việc xét xử các vụ việc Hiến pháp cũng theo quy trình tố tụng như với các vụ việc hành chính, hình sự, dân sự Trong một vụ việc được giải quyết (hành chính, hình sự, dân sự…) tại tòa, các bên có quyền đề nghị kiểm tra tính hợp hiến của một đạo luật áp dụng để giải quyết vụ việc đó Khi được đề nghị như vậy, thẩm phán phải tạm đình chỉ vụ việc đang giải quyết để chuyển sang vụ việc kiểm hiến Vì
vậy, đây vừa mang tính chất là kiểm hiến sau và bảo hiến cụ thể (việc kiểm hiến
được thực hiện thông qua một vụ việc cụ thể đang được giải quyết tại tòa án)
Khi đã xác định một đạo luật là vi hiến, tòa án sẽ không áp dụng đạo luật
đó để giải quyết vụ việc; tuy nhiên, tòa không có thẩm quyền tuyên bố hủy bỏ đạo luật vi hiến, vì đó là thẩm quyền riêng có của Nghị viện Trong hệ thống
1
Số liệu thống kê thực tế của Tòa án Hiến pháp liên bang Đức về giải quyết các vụ việc của Tòa án Hiến pháp liên bang Đức từ ngày 7/9/1951 đến ngày 31/12/2007 công bố tại website chính thức của Tòa án hiến pháp liên bang Đức tại địa chỉ:http://www.bundesverfassungsgericht.de/organisation/gb2007/A-I-1.html truy cập ngày 3/4/2012.
2 Nguồn: trang web của Tòa án Hiến pháp CHLB Đức, tại http://www.bverfg.de/en/index.html, truy cập ngày 15/4/2013.
3 Xem: Ban biên tập Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, Một số vấn đề cơ bản của Hiến pháp các nước trên thế giới,
(NXB CTQG – Sự Thật, Hà Nội., 2012), tr 263.
Trang 25thông luật, việc tòa án không áp dụng một đạo luật sẽ trở thành án lệ nên cho dù đạo luật vẫn còn giá trị về hình thức (chưa bị hủy bỏ) thì nó cũng không còn giá trị trên thực tế vì không được các tòa án áp dụng nữa
Một khía cạnh khác đó là, phán quyết kiểm hiến của tòa án chỉ có giá trị đối với các bên tham gia vụ việc mà không có giá trị với các chủ thể khác Điều
đó có thể dẫn đến sự không thống nhất trong hệ thống pháp luật nếu không có truyền thống án lệ Nói cách khác, truyền thống án lệ có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật trong trường hợp quyền bảo hiến được giao cho các tòa án thường Thêm vào đó, mô hình này đòi hỏi quốc gia phải có cơ chế đào tạo và tuyển dụng thẩm phán tiên tiến
để có thể bảo đảm rằng đội ngũ thẩm phán có năng lực chuyên môn giỏi, đủ khả năng xử lý các vụ việc kiểm hiến thường rất phức tạp
Trang 26đi quyền lực vốn có của Nghị viện – cơ quan đại diện cho ý chí của nhân dân Nghị viện không thể chấp nhận các đạo luật do họ làm ra bị kiểm tra bởi các thẩm phán1
Mãi cho đến năm 1799, người ta mới bắt đầu bàn về việc kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật nhằm cân bằng quyền lực giữa lập pháp và hành pháp Trong thời gian này, Hiến pháp trao cho Thượng viện quyền kiểm hiến các đạo luật Theo Hiến pháp năm 1799, một trong hai viện đã được trao thẩm quyền kiểm hiến Cụ thể, Thượng viện có thể hủy bỏ tất cả các đạo luật do Hạ viện đệ trình vì sự bất hợp hiến của các đạo luật đó Thượng viện cũng có kiểm tra tính hợp hiến các đạo luật theo đề nghị của Tòa án hoặc Chính phủ Trên thực tế, những quy định Hiến pháp này chỉ có giá trị trên giấy tờ Thượng viện chưa bao giờ xem xét một vụ việc kiểm hiến nào, và cũng chưa có một chủ thể nào từng
đệ trình Thượng viện xem xét vấn đề bảo hiến Tương tự, theo Hiến pháp năm
1852, Thượng viện có chức năng tuyên bố sự bất hợp hiến của các đạo luật đã được Hạ viện thông qua Thượng viện cũng có quyền đình chỉ các đạo luật bất hợp hiến do Chính phủ hoặc các công dân đệ trình Ngoài ra, Thượng viện còn
có quyền giải thích Hiến pháp Về cơ bản, Thượng viện theo Hiến pháp năm
1852 có những thẩm quyền giống với Hiến pháp năm 1799, tuy nhiên nó cũng không có vai trò tích cực nào trong việc kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật
1
Barthelemy Jacques, Duez Paul, Traite de droit constitutionnel, Paris, Pantheon-Assas Paris II, 2004, tr 221.
Trang 27Trong nền Cộng hòa thứ III, Hiến pháp không có quy định nào về tài phán Hiến pháp Tuy vậy, nhiều người đã nêu ra sự cần thiết phải có một thiết chế tài phán Hiến pháp để bảo đảm tính hợp hiến của các đạo luật Nhiều ý kiến đề xuất
mô hình tài phán Hiến pháp của Mỹ, song các thẩm phán lúc bấy giờ lại từ chối kiểm tra tính hợp hiến các đạo luật Tòa án tối cao cho rằng các thẩm phán không thể vi phạm nguyên tắc phân quyền và tòa án không có thẩm quyền kiểm tra một đạo luật có nguồn gốc từ quyền lực cao nhất trong bộ máy nhà nước Trong khi đó, Hội đồng Nhà nước (Tòa án hành chính tối cao) đã từ chối xem xét tính hợp hiến của một điều khoản trong một đạo luật năm 1934 khi cho rằng vấn đề này không thuộc thẩm quyền của Hội đồng Nhà nước Sự từ chối của các tòa án phản ánh quan điểm về sự tôn trọng các đạo luật – ý chí chung của nhân dân và truyền thống đề cao tính tối cao của Nghị viện – cơ quan do nhân dân trực tiếp bầu ra
Mặc dù các thẩm phán kiên quyết từ chối chức năng kiểm hiến, nhiều người đã đệ trình các dự luật đề xuất thiết lập tài phán Hiến pháp Nhiều lần, từ năm 1903 đến 1925, các nghị sĩ như Charles Benoist đã đề nghị sửa đổi Hiến pháp năm 1875 (trong nền Cộng hòa thứ III) để mở đường cho việc chấp nhận
mô hình tài phán Hiến pháp của Mỹ Theo quan điểm của họ, để bảo đảm các quyền và tự do của công dân và chống lại khả năng “sai lầm của đa số trong Nghị viện”, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1798 phải được đưa vào Hiến pháp và Tòa án tối cao có quyền kiểm tra tính hợp hiến của một đạo luật khi có đề nghị trong một vụ việc xét xử cụ thể1 Tuy nhiên, những đề xuất này thậm chí không được thảo luận bởi Nghị viện Thực tế đó thể hiện quan điểm chống đối rõ ràng của các thành viên Nghị viện
Trong thời gian này, một số học giả cũng như chính trị gia cũng đề nghị thành lập một Tòa án Hiến pháp có thẩm quyền kiểm hiến các đạo luật trên cơ
sở đệ trình của các tòa án tư pháp Theo họ, một Tòa án Hiến pháp-một tòa án đặc biệt sẽcó khả năng đảm bảo tính hợp hiến của các đạo luật, và do đó có thể bảo vệ các quyền cơ bản của công dân
Trước tình trạng vi phạm nghiêm trọng các quyền con người, các nhà lập hiến đã thảo luận một cách nghiêm túc về việc xây dựng một cơ chế tài phán Hiến pháp Theo Hiến pháp năm 1946, một Ủy ban Hiến pháp được thành lập
Ủy ban Hiến pháp do Tổng thống đứng đầu, bao gồm Chủ tịch của Thượng viện
1
Barthelemy Jacques, Duez Paul, tài liệu đã dẫn.
Trang 28và Hạ viện cùng 7 thành viên do Hạ viện bầu hàng năm từ những người không phải là nghị sĩ, đại diện tỷ lệ các đảng phái và 3 thành viên được bầu tương tự bởi Thượng viện Ủy ban Hiến pháp có quyền kiểm tra tính hợp hiến của các dự luật do Hạ viện thông qua nhưng chưa được công bố theo đề nghị chung của Tổng thống và Chủ tịch Thượng viện Trước khi xem xét tính hợp hiến, Ủy ban Hiến pháp phải đề xuất một sự đồng thuận của hai viện, và nếu không đạt được
sự đồng thuận đó, Ủy ban chuyển dự luật cho Hạ viện xem xét lại Nếu Ủy ban Hiến pháp tuyên bố dự luật vi hiến, dự luật đó sẽ không được công bố trước khi Hiến pháp được sửa đổi cho phù hợp
Những quy định Hiến pháp trên không có giá trị thực tế để kiểm soát các đạo luật, bởi vì trong trường hợp mâu thuẫn giữa luật và Hiến pháp, luật không phải sửa đổi mà thay vào đó là Hiến pháp, do Hạ viện có quyền sửa đổi Hiến pháp theo một quy trình lập pháp thông thường Hơn nữa, Ủy ban Hiến pháp không có quyền hủy bỏ dự luật, mà chỉ có quyền chuyển dự luật đó trở lại cho Nghị viện xem xét lại
1.1.2 Sự ra đời của Hội đồng Hiến pháp
Vào đầu năm 1958, Pháp kiều sống ở thuộc địa Angiêri của Pháp bất mãn với chính sách chiến tranh của mẫu quốc và lo lắng cho số phận của họ, nên đã nổi loạn chống lại Chính phủ Pháp Chính phủ của Pfilmlin mặc dầu được sự ủng hộ của Nghị viện nhưng không có khả năng chấm dứt cuộc nổi loạn và tuyên bố từ chức Thời kỳ này, nước Pháp cũng chứng kiến sự bất ổn của hệ thống chính trị khi chỉ trong một thời gian chưa tròn 10 năm sau chiến tranh thế giới thứ II, nước này đã phải thay đến gần mười Chính phủ Dân chúng chán ngán với các cuộc cãi cọ triền miền giữa các đảng phái, mặt khác cục diện thất bại trong chiến tranh Angiêri đang đến gần, thúc đẩy Tổng thống của nền Cộng hòa đệ tứ kêu gọi tướng De Gaulle1
đứng ra thành lập một Chính phủ hoàn toàn mới.Tướng De Gaulle tiếp nhận lời đề nghị bằng việc soạn thảo ra một bản Hiến pháp mới Ngày 28 tháng 9 năm 1958 bản Hiến pháp do De Gaulle soạn thảo được nhân dân nồng nhiệt tiếp nhận thông qua cuộc trưng cầu ý dân với 80% số phiếu ủng hộ Bản Hiến pháp này thiết lập nên một nền Cộng hòa mới – nền Cộng hòa Đệ ngũ gắn liền với tên tuổi của Tướng De Gaulle
Lo lắng trước sự lộng quyền của Nghị viện và sự hỗn độn của hệ thống chính trị quá nhiều đảng của nền cộng hòa đệ tứ đã để lại dấu ấn trong Hiến
1 Sau này là Tổng thống đầu tiên của nền Cộng hòa Đệ ngũ của nước Pháp.
Trang 29pháp năm 1958 của nước Pháp, tướng De Gaulle đã có hai phát kiến khắc phục hiện tượng này, đồng thời cũng nhằm mục đích tăng quyền cho mình với tư cách
là vị Tổng thống đầu tiên của nền Cộng hòa Đệ ngũ:
- Tăng quyền cho Tổng thống Pháp, có nhiệm kỳ độc lập với Nghị viện và không bị Nghị viện bỏ phiếu bất tín nhiệm
- Thành lập Hội đồng Hiến pháp để kiểm soát các nhà lập pháp trong khuôn khổ Hiến pháp
Mặc dù vậy, sự đời của Hội đồng Hiến pháp không được ủng hộ trong giới luật gia cũng như các tầng lớp chính trị Khi đó, rất nhiều người chỉ trích về một thiết chế bảo hiến “dị thường”, có nhiều đặc điểm của một cơ quan chính trị hơn là một cơ quan tài phán hiến pháp thông thường, cụ thể là:
- Trong số các thành viên của Hội đồng Hiến pháp, các Tổng thống nghỉ hưu là thành viên đương nhiên;
- Tiêu chí tuyển chọn các thành viên Hội đồng Hiến pháp không bắt buộc phải có chuyên môn về pháp luật;
- Quy trình giải quyết tại Hội đồng Hiến pháp không công khai và thiếu đặc trưng của thủ tục tố tụng;
- Hội đồng Hiến pháp chỉ kiểm tra các dự án luật trước khi công bố
Mặc dù vậy, sự ra đời của Hội đồng Hiến pháp đánh dấu một bước quan trọng trong lịch sử bảo hiến của nước Pháp
1.1.3 Sự phát triển của Hội đồng Hiến pháp
Trong quá trình hoạt động, Hội đồng Hiến pháp dần dần tiến hóa theo chiều hướng tích cực Năm 1971, Hội đồng Hiến pháp công nhận Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789 và Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1946 là những phần không thể tách rời của Hiến pháp năm 1958 Quyết định này cho phép Hội đồng Hiến pháp có thể bảo vệ các quyền và tự do của con người được quy định trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền cũng như trong Lời nói đầu Tiếp theo, sửa đổi Hiến pháp năm 1974 cho phép 60 đại biểu Hạ viện hoặc
60 đại biểu Thượng viện có quyền đệ trình việc kiểm hiến lên Hội đồng Hiến pháp Cải cách Hiến pháp quan trọng này mở đường cho các đại biểu thiểu số trong Nghị viện có khả năng yêu cầu Hội đồng Hiến pháp xem xét các vấn đề Hiến pháp
Trước năm 2008, Hội đồng Hiến pháp là mô hình bảo hiến hạn chế, bởi
nó chỉ được thực hiện quyền kiểm hiến các dự luật trước khi Tổng thống công
Trang 30bố, chứ không có quyền kiểm tra tính hợp hiến các đạo luật đã có hiệu lực Do
đó, Hội đồng Hiến pháp cũng không thể bảo vệ các quyền con người, quyền
công dân khi bị một đạo luật trái Hiến pháp xâm phạm Tuy vậy, với sửa đổi
Hiến pháp năm 2008, Hội đồng Hiến pháp được trao quyền kiểm hiến sau đối với các đạo luật xuất phát từ một vụ việc cụ thể của tòa án thông qua đề nghị của Hội đồng Nhà nước (Tòa án hành chính tối cao) và Tòa án tối cao Đây có
thể nói là cải cách Hiến pháp quan trọng nhất về Hội đồng Hiến pháp, bởi vì Hội đồng Hiến pháp được chuyển dịch từ một thiết chế mang nhiều yếu tố chính trị-hạn chế sang một thiết chế tài phán Hiến pháp Hay nói cách khác, nước Pháp cuối cùng cũng phải tiến tới tài phán Hiến pháp thực thụ, mặc dầu còn một vài hạn chế để có thể được coi là tài phán Hiến pháp đầy đủ
1995 và 2008 Luật này bao gồm 56 điều, chia thành 3 phần chính: Tổchức Hội đồng Hiến pháp; Hoạt động của Hội đồng Hiến pháp; Kiểm tra các văn bản luật Ngoài ra, Hội đồng Hiến pháp cũng ban hành các quy chế hoạt động của Hội đồng, bao gồm Quy chế nghĩa vụ các thành viên của Hội đồng; Tổ chức Bộ phận giúp việc Hội đồng; Nguyên tắc nội bộ về dữ liệu của Hội đồng
đó, Tổng thống Pháp khi hết nhiệm kỳ thì đương nhiên trở thành thành viên suốt đời của Hội đồng, trừ khi ông ta làm đơn từ chối Điều này dẫn đến khả năng tổng số lượng thành viên của Hội đồng không cố định, do số thành viên được bổ nhiệm thì cố định, nhưng số thành viên kế thừa thì phụ thuộc vào ý chí hay khả năng (sức khỏe, tuổi tác) của các nguyên Tổng thống
Trang 31Đặc điểm kế thừa chức vụ mang đậm tính chất phong kiến này hình thành
do bối cảnh văn hóa và chính trị của nước Pháp tại thời điểm ra đời Hiến pháp năm 1958 Có người phân tích từ góc độ tinh thần hào hiệp của tướng De Gaulle thì Khoản 2 Điều 56 của Hiến pháp 1958 là sự bày tỏ lòng biết ơn của ông đối với hai người Tổng thống tiền bối của nền Cộng hòa đệ tứ là René Coty và Vincent Auriol, những người đã tìm cách chuyển giao quyền lực một cách hòa bình cho ông, và làm cho việc xây dựng nền cộng hòa đệ ngũ được nhẹ nhàng hơn1 Xét bối cảnh chính trị đương thời và sự khôn ngoan của tướng De Gaulle thì điều khoản này giúp ông có thể sử dụng các vị Tổng thống tiền bối, những người mà ảnh hưởng chính trị vẫn còn rất lớn trong lúc quyền lực chính trị của ông chưa vững vàng2
Cũng có người phân tích từ lợi ích của Tổng thống khi về hưu, thì điều khoản này bảo đảm một vị trí về hưu danh giá sau khi Tổng thống mãn nhiệm Ở
vị trí này, cựu Tổng thống vẫn dễ dàng tham dự vào chính trường, bởi ông ta có quyền bỏ phiếu hoàn toàn bình đẳng với các thành viên do bổ nhiệm và có thể giữ chức Chủ tịch Hội đồng Hiến pháp3
-Thẩm quyền và quy trình bổ nhiệm
Chín thành viên của Hội đồng Hiến pháp được chia đều bổ nhiệm bởi 3 chủ thể, bao gồm Tổng thống, Chủ tịch Thượng viện và Chủ tịch Quốc hội (Hạ viện) với nhiệm kỳ 9 năm Cứ 3 năm một lần, một thành viên được bổ nhiệm lại bởi mỗi chủ thể Để bảo đảm sự tiếp nối Hội đồng, trong nhiệm kỳ đầu tiên, mỗi chủ thể bổ nhiệm một thành viên với nhiệm kỳ 9 năm, một thành viên với nhiệm
kỳ 6 năm và một thành viên với nhiệm kỳ 3 năm Từ năm 1962 (sau 3 năm đầu tiên), các thành viên mới được bổ nhiệm với nhiệm kỳ 9 năm
- Điều kiện bổ nhiệm
1
Philipp Mels, Bundesverfassungsgericht und Conseil de Constitution: ein Vergleich der Verfassungsgerichtsbarkeit in Deutschland und Frankreich im Spannungsfeld zwischen der Euphorie für die Krönung des Rechtsstaats und der Furcht vor einem „gouvernement de judges“, Verlag Franz Vahlen München, 2003, trang 130.
2
Avril/Gicquel, Le Conseil constitutionnel, trang 83; Rousseau, Droit du contentieux constitutionnel, trang 38;
Rousillon, Le Conseil constitutionnel, trang 10, theo Philipp Mels, Bundesverfassungsgericht und Conseil de Constitution: ein Vergleich der Verfassungsgerichtsbarkeit in Deutschland und Frankreich im Spannungsfeld zwischen der Euphorie für die Krönung des Rechtsstaats und der Furcht vor einem „gouvernement de judges“, Verlag Franz Vahlen München, 2003,
trang 133.
3
Philipp Mels, Bundesverfassungsgericht und Conseil de Constitution: ein Vergleich der Verfassungsgerichtsbarkeit in Deutschland und Frankreich im Spannungsfeld zwischen der Euphorie für die Krönung des Rechtsstaats und der Furcht vor einem „gouvernement de judges“, Verlag Franz Vahlen München, 2003, trang 132.
Trang 32Khác với những yêu cầu về bằng cấp hoặc nghề nghiệp đối với các Tòa án Hiến pháp ở nhiều nước, Hiến pháp Pháp không đòi hỏi bất kỳ điều kiện nào như tuổi tác, kinh nghiệm, đào tạo chuyên môn, cũng như bằng cấp để được bổ nhiệm vào Hội đồng Hiến pháp Trên thực tế, các ứng viên thành viên Hội đồng Hiến pháp thường là những thành phần có quan điểm và lợi ích chính trị gần gũi với người bổ nhiệm1 Mặc dù không đòi hỏi điều kiện về bằng cấp hay kinh nghiệp pháp luật, phần lớn các thành viên đều có bằng cấp về luật hoặc liên quan đến pháp luật; ngày càng có nhiều các thẩm phán; thông thường có kinh nghiệm chính trị, tham gia và hiểu rõ các vấn đề chính trị-pháp lý
- Chủ tịch Hội đồng Hiến pháp
Chủ tịch Hội đồng Hiến pháp do Tổng thống bổ nhiệm trong số các thành viên được bổ nhiệm và thành viên đương nhiên Trên thực tế, Chủ tịch Hội đồng Hiến pháp luôn là thành viên được bổ nhiệm
- Quản lý hành chính của Hội đồng Hiến pháp
Hội đồng Hiến pháp có tính tự chủ tương đối trên 3 phương diện:
Tự chủ ban hành quy chế nội bộ: Mặc dù Hiến pháp và Luật về Hội đồng Hiến pháp đặt ra một quy tắc cơ bản về hoạt động của Hội đồng, cơ quan này vẫn có khả năng tự chủ trong việc ban hành các quy chế nội bộ
Tự chủ về quản lý hành chính nội bộ: Hội đồng Hiến pháp có bộ máy hành chính đặt dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hội đồng
Tự chủ tài chính: Sự tự chủ về tài chính thể hiện qua quy định cho phép Hội đồng Hiến pháp được tự quyết định ngân sách, và quyết định này được Nghị viện thông mà không bất kỳ sửa đổi hay thảo luận nào
- Vị trí thành viên của Hội đồng Hiến pháp
Các quy định về thành viên của Hội đồng Hiến pháp đều nhằm củng cố tính độc lập của họ trong hoạt động
Nhiệm kỳ của các thành viên Hội đồng là 9 năm, không bổ nhiệm lại
1 Về mặt luật pháp, hoàn tòan không có gì cản trở khi Tổng thống Pháp bổ nhiệm bất kỳ người thành niên nào vào Hội đồng Hiến pháp Tuy nhiên trên thực tế, để giữ uy tín riêng của mình, cũng như uy tín của đảng phái mà ông ta thuộc về, thì Tổng thống pháp, cũng như Chủ tịch thượng viện, Chủ tịch hạ viện thường lựa chọn những người có uy tín khoa học, có cùng quan điểm chính trị để bổ nhiệm vào Hội đồng Hiến pháp Trong số này các nhà luật học chiếm tỷ lệ khá cao.
Trang 33Tất cả các thành viên Hội đồng Hiến pháp không được kiêm nhiệm các chức danh của Chính phủ, Nghị viện, Hội đồng kinh tế - xã hội, lãnh đạo đảng phái hoặc của các nhóm chính trị và các thành viên cơ quan dân cử
Thành viên Hội đồng Hiến pháp không được thực hiện các công việc trên cương vị một vị trí công quyền có liên quan đến các vấn đề mà Hội đồng đang xem xét Ngoài ra, các thành viên Hội đồng còn có các nghĩa vụ hoàn thành tốt
và trung thành các chức năng của mình, bảo đảm sự công tâm trong việc tôn trọng Hiến pháp, giữ kín các thảo luận và phiếu của Hội đồng, không thực hiện hoạt động tư vấn về các vấn đề liên quan đến thẩm quyền của Hội đồng…
2.4 Nhiệm vụ, quyền hạn
Hội đồng Hiến pháp thực hiện quyền kiểm hiến theo 2 nhóm chính: Kiểm tra tính hợp hiến các quy phạm pháp luật; Kiểm soát hoạt động của các thể chế Ngoài ra, Hội đồng Hiến pháp còn thực hiện một số quyền hạn đặc biệt hoặc mang tính chất tư vấn khác
2.4.1 Kiểm tra hợp hiến các quy phạm pháp luật
a) Phân định lập pháp và lập quy
Điều 41 Hiến pháp quy định:
“Nếu trong quá trình xây dựng và ban hành luật, một quy định hoặc sửa đổi không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật hoặc trái với các quy định về lập pháp uỷ quyền tại Điều 38, Chính phủ hoặc Chủ tịch Viện liên quan có thể phản đối sự không phù hợp đó
Trong trường hợp có ý kiến khác nhau giữa Chính phủ và Chủ tịch Viện liên quan, Hội đồng Hiến pháp, theo đề nghị của một trong hai Viện, sẽ quyết định trong thời hạn 8 ngày”
Theo quy định này, trong suốt quá trình lập pháp, Chính phủ có quyền phản đối việc làm luật của hai Viện nếu Chính phủ cho rằng việc làm luật đó không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật hoặc trái với các quy định về ủy quyền lập pháp Chủ tịch Hạ viện hoặc Thượng viện sẽ quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận sự phản đối của Chính phủ Nếu chấp nhận thì quy định hoặc sửa đổi luật bị hủy bỏ; còn nếu không chấp nhận, Chủ tịch Hạ viện hoặc Thượng viện có thể đệ trình Hội đồng Hiến pháp xem xét trong thời hạn 8 ngày
Trên thực tế, có tổng cộng 11 lần tranh chấp giữa Chính phủ và Chủ tịch Viện liên quan về vấn đề này được đệ trình lên Hội đồng Hiến pháp theo đề nghị
Trang 34của Chủ tịch Hạ viện (6 lần) và Chủ tịch Thượng viện (5 lần) Từ năm 1979 đến nay, không một đề xuất nào được đưa lên Hội đồng Hiến pháp
Điều 37 của Hiến pháp quy định:
“Các vấn đề khác không nằm trong phạm vi điều chỉnh của luật sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của các quy định lập quy
Đối với các văn bản được ban hành dưới hình thức lập pháp điều chỉnh các vấn đề này, thì có thể bị sửa đổi bởi các sắc lệnh sau khi có ý kiến thuận của Tòa án hành chính tối cao Đối với các văn bản dạng này mà được ban hành sau khi Hiến pháp này có hiệu lực, thì chỉ có thể bị sửa đổi bởi sắc lệnh khi có quyết định của Hội đồng Hiến pháp xác nhận các văn bản đó có tính chất là văn bản dưới luật theo quy định tại khoản trên”
Theo quy định tại Điều này, các văn bản lập pháp được ban hành trước khi Hiến pháp năm 1958 quy định các vấn đề thuộc quyền lập quy thì có thể bị sửa đổi bởi các sắc lệnh; còn các văn bản lập pháp được ban hành sau khi Hiến pháp năm 1958 có hiệu lực chỉ có thể bị sửa đổi bởi sắc lệnh khi Hội đồng Hiến pháp xác nhận rằng văn bản đó có tính chất là văn bản lập quy
b) Kiểm tra các luật tổ chức và luật thường
Đối với việc kiểm tra tính hợp hiến của luật, Hội đồng Hiến pháp có thể kiểm hiến trước cũng như sau khi đạo luật có hiệu lực
- Kiểm hiến các đạo luật trước khi công bố
Điều 61 của Hiến pháp quy định:
“Các luật về tổ chức, trước khi được công bố, và các quy tắc của Hạ viện
và Thượng viện, trước khi được áp dụng, phải trình lên Hội đồng Hiến pháp để xem xét tính hợp hiến của các văn bản đó
Cùng như vậy, các luật khác, trước khi được công bố, cũng có thể được trình lên Hội đồng Hiến pháp để xem xét tính hợp hiến khi có yêu cầu của Tổng thống, Thủ tướng, Chủ tịch Hạ viện, Chủ tịch Thượng viện hoặc 60 Hạ nghị sỹ hoặc 60 Thượng nghị sỹ
Trong các trường hợp quy định tại hai khoản nêu trên, Hội đồng Hiến pháp phải xem xét và cho ý kiến trong thời hạn một tháng Tuy nhiên, trong trường hợp khẩn cấp, theo yêu cầu của Chính phủ, thời hạn này có thể rút lại còn 8 ngày
Trang 35Cũng trong những trường hợp trên, việc xem xét tính hợp hiến của Hội đồng Hiến pháp sẽ tạm đình chỉ thời hạn ban hành các văn bản đó”
Vai trò cơ bản và truyền thống của Hội đồng Hiến pháp Pháp là kiểm hiến các dự án luật trước khi công bố (kiểm hiến trước) Có hai trường hợp khác nhau: Thứ nhất, các luật về tổ chức trước khi được công bố bắt buộc phải chuyển sang cho Hội đồng Hiến pháp xem xét tính hợp hiến; Thứ hai, các dự luật thông thường trước khi công bố có thể được xem xét bởi Hội đồng khi có đề nghị của một trong các chủ thể, bao gồm Tổng thống, Thủ tướng, Chủ tịch Hạ viện, Chủ tịch Thượng viện và 60 Hạ nghị sỹ hoặc 60 Thượng nghị sỹ
Các đạo luật chỉ được ban hành sau khi có tuyên bố của Hội đồng Hiến pháp về tính phù hợp với Hiến pháp của các đạo luật đó
- Kiếm hiến sau khi đạo luật có hiệu lực
Điều 61-1 của Hiến pháp quy định:
“Trong quá trình tố tụng, nếu có các khiếu nại cho rằng các đạo luật đã
vi phạm các quyền và tự do được Hiến pháp bảo đảm thì vụ việc có thể được Tòa án Hành chính Tối cao hoặc Tòa án tối cao đệ trình lên Hội đồng Hiến pháp và Hội đồng Hiến pháp phải ra phán quyết trong thời hạn luật định
Các điều kiện để áp dụng điều khoản này sẽ được một đạo luật tổ chức quy định”
Theo quy định cải cách này của Hiến pháp, các bên trong một vụ việc giải quyết tại tòa án có thể đặt vấn đề đối với tòa án đó về sự bất hợp hiến của một đạo luật nào đó đang áp dung cho vụ việc đó Các tòa án này nếu xét thấy có vấn
đề bất hợp hiến sẽ đưa vụ việc lên Tòa án Hành chính tối cao hoặc Tòa án tối cao để các Tòa này xem xét đệ trình Hội đồng Hiến pháp Hội đồng Hiến pháp
có quyền ra phán quyết về tính hợp hiến của đạo luật
Điều 61-1 được bổ sung trong sửa đổi Hiến pháp năm 2008 lần đầu tiên cho phép Hội đồng Hiến pháp có thể kiểm hiến các đạo luật đã có hiệu lực mà xâm phạm các quyền và tự do hiến định trong một vụ việc cụ thể Đây là một cuộc cách mạng cải cách Hội đồng Hiến pháp, thể hiện ở những đặc điểm sau đây:
- Hội đồng Hiến pháp có thể kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật đã có hiệu lực (kiểm hiến sau)
- Vụ việc Hiến pháp xuất phát từ một trường hợp cụ thể đang được giải quyết tại tòa án (tài phán Hiến pháp cụ thể)
Trang 36- Vụ việc Hiến pháp dựa theo yêu cầu của các cá nhân và nhằm bảo vệ các quyền tự do khi bị đạo luật xâm phạm
Mặc dù vậy, quy định trên vẫn có những hạn chế so với mô hình Tòa án Hiến pháp khi chỉ trao quyền cho Tòa án hành chính tối cao và Tòa án tối cao có quyền đệ trình vụ việc Hiến pháp lên Hội đồng Hiến pháp, bởi vì ở nhiều nước theo mô hình Tòa án Hiến pháp hiện nay, các cá nhân hoặc các tòa án tư pháp giải quyết vụ việc có quyền đề nghị trực tiếp Tòa án Hiến pháp xem xét sự bất hợp hiến của một đạo luật Có quan điểm cho rằng các nhà lập hiến của Pháp đã
lo lắng về sự quá tải của Hội đồng Hiến pháp với số nhân lực hạn chế (Hiện nay, Hội đồng Hiến pháp có tổng số nhân sự là 64 người, kể cả 9 thành viên Hội đồng Hiến pháp, các luật gia, nhân viên…), nên đã sử dụng “bộ lọc” ở Tòa án hành chính tối cao (Hội đồng Nhà nước) và Tòa án tối cao Các Tòa án này chỉ chuyển vụ việc lên Hội đồng Hiến pháp nếu đáp ứng đủ 3 điều kiện:
- Quy định được xem xét phải đang áp dụng cho vụ việc;
- Quy định này chưa bao giờ được tuyên bố phù hợp với Hiến pháp;
- Vấn đề phải tính chất nghiêm trọng1.
Phán quyết của Hội đồng Hiến pháp có giá trị áp dụng bắt buộc với các cơ quan nhà nước và cá nhân Nếu Hội đồng Hiến pháp phán quyết một đạo luật bất hợp hiến, đạo luật đó sẽ phải được bãi bỏ trong một thời hạn do Hội đồng đặt ra Trong khoảng thời gian cho đến thời điểm bãi bỏ, đạo luật cũng không thể được
áp dụng Hội đồng Hiến pháp cũng có quyền quyết định hiệu lực hồi tố đối với các phán quyết của mình2
c) Kiểm hiến các cam kết quốc tế
Hội đồng Hiến pháp có quyền kiểm tra tính hợp hiến của các cam kết quốc tế của Cộng hòa Pháp Trên cơ sở đề nghị của Tổng thống, Thủ tướng, Chủ tịch Hạ viện hoặc Chủ tịch Thượng viện hoặc của 60 Hạ nghị sỹ hoặc 60 Thượng nghị sỹ, khi Hội đồng Hiến pháp tuyên bố một cam kết quốc tế có điều khoản trái với Hiến pháp, thì cam kết quốc tế đó chỉ được phê chuẩn hoặc phê duyệt sau khi đã tiến hành sửa đổi Hiến pháp (Điều 54)
Trang 372.4.2 Kiểm tra hoạt động của các thể chế
a) Kiểm tra các cuộc bầu cử
Hội đồng Hiến pháp kiểm tra bầu cử Tổng thống cũng như bầu cử Nghị viện
Đối với cuộc bầu cử Tổng thống, Hội đồng Hiến pháp bảo đảm cho cuộc bầu cử được tiến hành hợp lệ và xem xét, giải quyết các khiếu nại và công bố kết quả bầu cử (Điều 58) Trong cuộc bầu cử Nghị viện, khi có khiếu nại, Hội đồng Hiến pháp có quyền xem xét về tính hợp pháp của cuộc bầu cử Hạ viện và Thượng viện (Điều 59)
b) Kiểm tra việc tổ chức trưng cầu ý dân
Hội đồng Hiến pháp bảo đảm cho các hoạt động trưng cầu ý dân được tiến hành hợp pháp và tuyên bố kết quả trưng cầu ý dân (Điều 60)
Trong lĩnh vực kiểm tra các cuộc bầu cử cũng như trưng cầu ý dân, Hội đồng Hiến pháp thực hiện cả quyền tài phán và tư vấn Hội đồng có thẩm quyền quyết định về tính hợp pháp của các hoạt động này Ngoài ra, Chính phủ xin ý kiến tư vấn của Hội đồng về các văn bản liên quan đến việc tổ chức bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử Tổng thống và trưng cầu ý dân1
c) Kiểm tra tiêu chuẩn nghị sỹ
Hội đồng Hiến pháp sẽ kiểm tra sự không kiêm nhiệm của các nghị sỹ theo quy định của Hiến pháp Ngoài ra, Hội đồng còn có quyền kiểm tra các tiêu chuẩn của các nghị sỹ đang trong nhiệm kỳ Nếu Hội đồng ra quyết định tuyên
bố một nghị sỹ kiêm nhiệm hoặc không đủ tiêu chuẩn khi ứng cử thì nghị sỹ đó
sẽ bị bãi nhiệm
d) Kiểm tra quy chế Nghị viện
Hội đồng Hiến pháp kiểm tra tính hợp hiến các quy chế Nghị viện theo
quy định tại khoản 1 Điều 61 của Hiến pháp: “Các luật về tổ chức, trước khi
được công bố, và các quy tắc của Hạ viện và Thượng viện, trước khi được áp dụng, phải trình lên Hội đồng Hiến pháp để xem xét tính hợp hiến của các văn bản đó” Chủ tịch Hạ viện hoặc Thượng viện có nghĩa vụ trình việc ban hành
hoặc sửa đổi các quy tắc (quy chế) của các viện đó để Hội đồng Hiến pháp xem xét
1 Ngoài quyền tư vấn trong lĩnh vực này, Hội đồng Hiến pháp còn được Tổng thống xin ý kiến tư vấn khi ban hành các biện pháp đặc biệt, tình trạng khẩn cấp.
Trang 382.4.3 Một số quyền hạn đặc biệt hoặc mang tính chất tư vấn
Hội đồng Hiến pháp có một số quyền hạn đặc biệt như vấn đề khuyết, tình trạng bất khả kháng của Tổng thống, ứng viên Tổng thống:
“Trong trường hợp Tổng thống khuyết vì bất cứ lý do gì hoặc không thể
thực hiện được chức năng của mình, thì các nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng thống, trừ các nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại các điều 11 và 12 dưới đây, sẽ tạm thời do Chủ tịch Thượng viện thực hiện; nếu Chủ tịch thượng viện cũng không thể thực hiện được, thì các nhiệm vụ, quyền hạn đó sẽ do Chính phủ thực hiện Việc xác nhận tình trạng Tổng thống không thể thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình thuộc thẩm quyền của Hội đồng Hiến pháp quyết định theo đa số tuyệt đối và trên cơ sở có đề nghị của Chính phủ
Trong trường hợp khuyết Tổng thống hoặc trong trường hợp có quyết định xác nhận của Hội đồng Hiến pháp về việc Tổng thống vĩnh viễn không thể thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình, thì việc bỏ phiếu để bầu Tổng thống mới phải được tổ chức, trừ trường hợp bất khả kháng theo sự xác nhận của Hội đồng Hiến pháp, trong thời hạn sớm nhất là 20 ngày, chậm nhất là 35 ngày kể
từ ngày bắt đầu khuyết Tổng thống hoặc kể từ ngày có quyết định xác nhận của Hội đồng Hiến pháp về việc Tổng thống vĩnh viễn không thể thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình
Trong trường hợp có ứng cử viên đã tuyên bố công khai ra tranh cử Tổng thống trong thời hạn dưới 30 ngày trước ngày hết hạn giới thiệu ứng cử viên mà lại chết hoặc rơi vào tình trạng không thể tham gia tranh cử được nữa trong khoảng thời gian 7 ngày trước ngày hết hạn giới thiệu ứng cử viên, Hội đồng Hiến pháp có quyền quyết định hoãn cuộc bầu cử
Hội đồng Hiến pháp cũng quyết định hoãn cuộc bầu cử trong trường hợp trước khi diễn ra vòng bỏ phiếu thứ nhất mà có ứng cử viên chết hoặc không thể tham gia tranh cử được nữa” (Điều 7 Hiến pháp)
Trong các tính trạng nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, Tổng thống thực hiện quyền tư vấn:
“Khi có sự đe doạ nghiêm trọng và trực tiếp đến sự tồn tại của các thiết
chế của nền Cộng hoà, độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ hay đến việc thực hiện các cam kết quốc tế của nước Cộng hoà Pháp và có sự đứt quãng trong hoạt động bình thường của các cơ quan hiến định của Nhà nước, Tổng thống có quyền áp dụng mọi biện pháp cần thiết để khắc phục, sau khi tham khảo ý kiến chính thức của Thủ tướng, Chủ tịch của hai Viện và Chủ tịch Hội đồng Hiến Pháp
Trang 39Tổng thống ra thông điệp thông báo với Quốc dân về việc áp dụng các biện pháp đó
Các biện pháp được áp dụng đều phải nhằm mục đích đảm bảo cho các cơ quan hiến định của Nhà nước có được trong thời hạn sớm nhất các phương tiện cần thiết để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Hội đồng Hiến pháp được tham khảo ý kiến về những vấn đề liên quan đến các cơ quan hiến định của Nhà nước
Trong những trường hợp này, Nghị viện sẽ đương nhiên tiến hành phiên họp
Hạ viện không thể bị giải tán trong thời gian Tổng thống thực hiện các quyền hạn đặc biệt
Ba mươi ngày sau khi Tổng thống thực hiện các quyền hạn đặc biệt, Hội đồng Hiến pháp có thể kết thúc việc xem xét theo đề nghị của Chủ tịch Hạ viện, Chủ tịch thượng viện, sáu mươi hạ nghị sĩ hoặc thượng nghị sĩ, nếu hội đủ các điều kiện nêu tại đoạn 1 Điều này Hội đồng Hiến pháp tiến hành thông báo công khai ý kiến trong những thời hạn ngắn nhất Trong những điều kiện tương
tự, kết thúc sáu mươi ngày kể từ khi Tổng thống thực hiện các quyền đặc biệt và ngoài thời hạn này, Hội đồng Hiến pháp tiến hành đầy đủ việc xem xét và công
bố về vấn đề này” (Điều 16)
2.5 Thực tiễn hoạt động
Khi mới ra đời dưới thời Tổng thống Charles De Gaulles (1958-1970), các hoạt động Hội đồng Hiến pháp Pháp phản ánh nhiều tính chính trị của cơ quan này khi Hội đồng Hiến pháp được cho là một phương tiện của hành pháp để chống lại Nghị viện Hầu như tất cả các đề xuất lên Hội đồng Hiến pháp đều xuất phát từ Thủ tướng nhằm chống lại các dự luật của Nghị viện, và khi đó Hội đồng Hiến pháp đã đình chỉ một phần tất cả các dự luật được xem xét Trong một lần duy nhất, Chủ tịch Thượng Viện, Gaston Monnerville, đã đề nghị Hội đồng Hiến pháp xem xét tính hợp hiến của cuộc trưng cầu dân ý quyết định bầu
cử trực tiếp Tổng thống năm 1962 do Tổng thống Charles de Gaulle khởi xướng Tuy nhiên, Hội đồng Hiến pháp đã ra phán quyết “không có thẩm quyền” để đình chỉ ý chí trực tiếp của người dân Pháp1
1 Alec Stone, The Birth of Judicial Politics in France: The Constitutional Council in Comparative
Perspective, Oxford University Press, ISBN 0-19-507034-8, chapter III
Trang 40Năm 1971, Hội đồng Hiến pháp lần đầu tiên ra phán quyết bất hợp hiến của một số quy định của một dự luật xuất phát từ sự vi phạm các quyền và tự do của con người, mà không phải từ các lý do mang tính kỹ thuật1
Bên cạnh yếu tố chính trị, Hội đồng Hiến pháp với thẩm quyền hạn chế hầu như không thể kiểm tra tính hợp hiến các đạo luật đã có hiệu lực, do đó đã gặp trở ngại trong việc bảo vệ Hiến pháp cũng như bảo vệ các quyền tự do hiến định bị xâm phạm Hội đồng Hiến pháp ban hành nhiều quyết định trên tất cả nội dung thuộc thẩm quyền, nhưng chủ yếu mang tính tư vấn, khuyến nghị
Tuy nhiên, Hiến pháp Pháp đã có những cải cách quan trọng về Hội đồng Hiến pháp, góp phần thúc đẩy vai trò của cơ quan này trong việc bảo vệ Hiến pháp và các quyền tự do cá nhân Đầu tiên, phải kể đến tầm quan trọng của những cải cách Hiến pháp trong các năm 1971 và 1974 Sau cải cách hiến pháp năm 1974 cho phép 60 đại biểu Hạ viện hoặc Thượng viện có thể thực hiện một
đề xuất lên Hội đồng Hiến pháp, các đảng đối lập đã rất tích cực trong việc đề nghị xem xét các đạo luật gây tranh cãi2
Tiếp theo, sửa đổi đặc biệt quan trọng vào năm 2008 (bắt đầu có hiệu lực
từ ngày 1/3/2010) đã chuyển đổi Hội đồng Hiến pháp trở thành cơ quan tài phán
có khả năng kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật đã có hiệu lực, bảo vệ các quyền tự do hiến định bị xâm phạm Số lượng các vụ việc Hội đồng Hiến pháp thụ lý từ sau các cải cách Hiến pháp này tăng rất lớn so với trước Chỉ trong khoảng thời gian 6 tháng, từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2010, Hội đồng Hiến pháp
đã ban hành số quyết định liên quan đến việc kiểm tra tính hợp hiến của các luật thường tương đương với tổng số quyết định được ban hành trong khoảng thời gian 17 năm, từ 1958 đến 19743
Trong khoảng thời gian 3 năm đầu kể từ khi sửa đổi Hiến pháp có hiệu lực, các tòa án tư pháp đã chuyển 1520 vụ việc lên cho các Tòa án hành chính tối cao (Hội đồng Nhà nước) và Tòa án tối cao, trong khi hai cơ quan này đã quyết định chuyển 314 vụ (Hội đồng Nhà nước chuyển
137 vụ; Tòa án tối cao chuyển 177 vụ) và không chuyển 1206 vụ khác (Hội đồng Nhà nước không chuyển 412 vụ; Tòa án Tối cao không chuyển 794 vụ)
1 Jérôme Favre, La décision du Conseil constitutionnel du 16 juillet 1971 L’invention d’un nouveau
pouvoir juridictionnel., Revue d'étude politique des assistants parlementaires, nr 2; M Letourneur, R Drago,
The Rule of Law as Understood in France, The American Journal of Comparative Law, Vol 7, No 2 (Spring,
1958), pp 147–177
2
Tony Prosser, Constitutions and Political Economy: The Privatisation of Public Enterprises in France
and Great Britain, The Modern Law Review, Vol 53, No 3 (May 1990), pp 304–320
3 Xem số liệu của Hội đồng Hiến pháp Cộng hòa Pháp, http://www.conseil-constitutionnel.fr.