Luận án đi sâu nghiên cứu trường hợp, cụ thể là phong trào đấu tranh của nhân dân khu vực các nước Tây Âu, với những kết quả mới chủ yếu sau đây: Nghiên cứu có tính hệ thống về quá trình đấu tranh phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam (19541975) của phong trào nhân dân một số nước Tây Âu tiêu biểu. Qua đó, làm rõ cuộc vận động của nhân dân các nước Tây Âu trong việc phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam, là nhân tố tích cực góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc. Đánh giá kết quả hoạt động, phân tích mục tiêu đấu tranh và những đặc điểm chủ yếu, nguyên nhân thành công và hạn chế của phong trào nhân dân Tây Âu. Từ kinh nghiệm của lịch sử, bước đầu nghiên cứu vận dụng kinh nghiệm đoàn kết quốc tế, tập hợp lực lượng vào công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ ở nước ta ngày nay.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHONG TRÀO NHÂN DÂN TH Ế GIỚI PHẢN ĐỐI
M Ỹ XÂM LƯỢC VIỆT NAM (1954 - 1975): NGHIÊN
C ỨU TRƯỜNG HỢP MỘT SỐ NƯỚC TÂY ÂU
LU ẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Hà N ội – 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Nguy ễn Thế Hưởng
XÂM LƯỢC VIỆT NAM (1954 - 1975): NGHIÊN CỨU
TRƯỜNG HỢP MỘT SỐ NƯỚC TÂY ÂU
CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN Người hướng dẫn khoa học Chủ tịch Hội đồng đánh giá
Lu ận án tiến sĩ
GS.NGND Vũ Dương Ninh GS.TS Nguyễn Văn Kim
Hà N ội
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng
dẫn khoa học của GS NGND Vũ Dương Ninh và TS Nguyễn Văn Du Tất cả các
số liệu trong luận án có cơ sở rõ ràng, trung thực, chính xác, bảo đảm tính khách quan và khoa học Các tài liệu được tham khảo, trích dẫn trong luận án được ghi rõ nguồn gốc, xuất xứ, không sao chép từ những tài liệu và các công trình nghiên cứu khác Những kết luận khoa học của luận án chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Hà N ội, ngày tháng 5 năm 2018
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu viết luận án, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến của các thầy cô khoa Lịch sử và Bộ môn Lịch sử thế giới, Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy hướng dẫn khoa học: GS.NGND
Vũ Dương Ninh và TS Nguyễn Văn Du đã hết sức tận tình và dành thời gian tâm huyết giúp đỡ, hướng dẫn, gợi mở những ý tưởng và định hướng nghiên cứu để tôi hoàn thành luận án
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử thế
giới GS.TS Nguyễn Văn Kim luôn quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện, động viên và đóng góp ý kiến để tôi hoàn thành khóa học nghiên cứu sinh và luận án của mình Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn đến PGS.TS Trần Thiện Thanh và TS Phạm Văn
Thủy đã quan tâm giúp đỡ, gợi mở và đóng góp những ý tưởng mới trong quá trình nghiên cứu đề tài
Sự giúp đỡ của cán bộ Thư viện thuộc Trung tâm Nghiên cứu Khoa học, Nghiệp vụ và Tư liệu - Ban Tuyên giáo Trung ương, Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Thư viện Khoa Lịch sử - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Viện Nghiên cứu châu Âu, các chuyên gia
Viện Sử học, Bảo tàng Chứng tích chiến tranh tại thành phố Hồ Chí Minh, vv Tôi xin cảm ơn các thầy cô, cán bộ, chuyên gia các cơ quan trên
Để hoàn thành bản luận án, tôi không thể không nhắc đến người bạn đời của tôi với lòng biết ơn chân thành, hàng ngày không chỉ lo toan cuộc sống chu đáo mà còn chia sẻ và hỗ trợ rất tích cực để tôi hoàn thành luận án của mình
Cuối cùng, xin được trân trọng bày tỏ lòng cảm ơn chân thành nhất về sự quan tâm và giúp đỡ quý báu đó
Trang 51.2 Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến phong trào đấu tranh của nhân
dân thế giới và các nước Tây Âu
14
1.3 Nhóm công trình nghiên cứu về phong trào đấu tranh của nhân dân
các nước Tây Âu phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam
21
1.4 Nhận xét chung và những vấn đề mới luận án cần giải quyết 26
Ch ương 2: NHÂN TỐ DẪN TỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
28
28
2.1.2 Bản chất cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam 29 2.1.3 Khái quát các giai đoạn quá trình xâm lược Việt Nam của Mỹ 30
33
2.2.2 Quan hệ giữa một số nước Tây Âu với Mỹ về chiến tranh ở Việt Nam 35
2.2.3 Tính phi nghĩa và tàn bạo của Mỹ trong cuộc “Chiến tranh Việt Nam” 39
2.2.4 Khái quát sự phát triển chung của phong trào nhân dân thế giới phản 42
Trang 6đối Mỹ xâm lược Việt Nam (1954 - 1975)
52
2.3.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế và chủ trương của Đảng
về vận động nhân dân thế giới phản đối Mỹ xâm lược, ủng hộ Việt Nam
52
2.3.2 Tính chất chính nghĩa và nhân đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ 59 2.3.3 Thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ 60
Ch ương 3: QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA PHONG TRÀO NHÂN DÂN
63
3.2.1 Phản đối Mỹ tiến hành “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và chiến
tranh phá hoại ở miền Bắc (1964 - 1968)
69
3.2.2 Hoan nghênh Hội nghị Paris, đòi Mỹ ký hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (1968 - 1973)
91
3.2.3 Phản đối Mỹ vi phạm Hiệp định Paris, đòi chính quyền Mỹ chấm
dứt can thiệp vào miền Nam (1973 - 1975)
98
3.2.4 Phong trào quyên góp và giúp đỡ vật chất cho nhân dân Việt Nam 101
3.3.1 Một số diễn đàn và hội nghị quốc tế nhân dân ở Tây Âu 108 3.3.2 Hoạt động của Tòa án quốc tế Bertrand Russell 109
Ch ương 4: NHẬN XÉT VỀ PHONG TRÀO NHÂN DÂN TÂY ÂU PHẢN ĐỐI MỸ XÂM LƯỢC VIỆT NAM (1954-1975) VÀ SUY NGHĨ VẬN DỤNG
115
Trang 74.1 M ục tiêu đấu tranh của phong trào nhân dân các nước Tây Âu 115 4.1.1 Phản đối chính phủ Mỹ tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam 115 4.1.2 Đấu tranh vì hòa bình, công lý và nhân đạo 118
4.2.1 Về lực lượng và thành phần xã hội tham gia phong trào 119 4.2.2 Về hình thức hoạt động và phương pháp đấu tranh 126 4.2.3 Về quy mô và mức độ đấu tranh của phong trào 131 4.2.4 Ảnh hưởng tích cực và hạn chế của phong trào nhân dân Tây Âu 133
Trang 8DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam CPCMLTCHMNVN
Chủ nghĩa xã hội CNXH
Cộng hòa Liên bang CHLB
Đảng Lao động Việt Nam ĐLĐVN
Đảng Cộng sản ĐCS
Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam MTDTGPMNVN
Miền Nam Việt Nam MNVN
Trang 9M Ở ĐẦU
Trong suốt quá trình lãnh đạo cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của đất nước,
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến mối liên hệ giữa cách mạng Việt Nam với phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ của nhân dân thế giới, Người từng chỉ ra
mối liên hệ tự nhiên và khăng khít đó: “Nước ta là một bộ phận của thế giới Tình hình của nước ta có ảnh hưởng đến thế giới, mà tình hình thế giới cũng có quan hệ đến nước ta” [127, tr 658] Người còn nhấn mạnh: “Ta có nhân dân các nước bạn
và nhân dân thế giới ủng hộ Thắng lợi của ta cũng là thắng lợi chung của phong trào hòa bình dân chủ thế giới” [128, tr 751] Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết
quốc tế đã chỉ đạo hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước và các tổ chức quần chúng; trở thành hiện thực trong hai cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam
Một trong những nguyên nhân góp phần vào thắng lợi cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước là ảnh hưởng to lớn của phong trào nhân dân thế giới phản đối đế
quốc Mỹ tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam Sự hình thành và phát triển của phong trào xuất phát từ tinh thần yêu chuộng hòa bình, công lý và nhân đạo của nhân dân thế giới, nhất là nhân dân các nước ở Tây Âu - nơi đã từng chịu đựng ách
thống trị tàn bạo của chủ nghĩa phát xít trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai Vì
thế, hình ảnh những vụ máy bay Mỹ ném bom, bắn phá các thành phố và làng mạc
ở Việt Nam, những vụ quân lính Mỹ càn quét, tàn sát đẫm máu dân thường đã làm
dấy lên sự bất bình đối với hành động chiến tranh của nhà cầm quyền Mỹ, đồng thời khơi gợi sự thông cảm, chia sẻ với nỗi đau của người dân Việt Nam Xuất phát từ tư tưởng đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã chủ trương vận động nhân dân thế giới phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ Phong trào ủng hộ
Việt Nam đã tạo thành làn sóng đấu tranh trên toàn thế giới, trong đó có nhân dân các nước Tây Âu - những hoạt động trên đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm lớn có giá trị cả về lý luận và thực tiễn
Ngày nay, sau hơn 30 năm tiến hành xây dựng đất nước theo đường lối đổi
mới và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trên các mặt Với phương châm “là bạn và đối tác tin cậy với tất cả các nước phấn đấu vì hòa bình,
Trang 10độc lập và phát triển”, Việt Nam đã có vị trí xứng đáng trên thế giới trong quan hệ ngoại giao với hầu hết các quốc gia, nhiều tổ chức quốc tế và khu vực
Bên cạnh hoạt động hòa bình xây dựng đất nước, Việt Nam vẫn luôn đứng trước thách thức về mặt chủ quyền lãnh thổ Cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ vẫn cần có sự đồng tình ủng hộ của các nước trên thế
giới Vì thế, vấn đề vận động nhân dân thế giới ủng hộ công cuộc bảo vệ chủ quyền
biển đảo chính nghĩa của Việt Nam ngày nay vẫn là một yêu cầu cấp thiết Đương nhiên, tình hình thế giới ngày nay có nhiều điểm khác trước: Trật tự hai cực không còn, quan hệ giữa các quốc gia có nhiều thay đổi, vị thế các cường quốc cũng biến chuyển , và tính chất cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam có nhiều điểm khác với hai cuộc kháng chiến trước đây Nhưng những kinh nghiệm vận động nhân dân thế giới ủng hộ sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của
Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ vẫn luôn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
Để góp phần vào việc tiến hành cuộc vận động nhân dân thế giới, tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, tập hợp lực lượng để hình thành làn sóng dư luận ủng hộ
Việt Nam trong công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo, việc nghiên cứu
lịch sử phong trào nhân dân thế giới phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam (1954 - 1975)
có ý nghĩa thiết thực cả về mặt khoa học và thực tiễn Trong khuôn khổ của luận án, chúng tôi đi sâu nghiên cứu trường hợp một số quốc gia Tây Âu Do vậy, đề tài của
luận án được xác định là “Phong trào nhân dân thế giới phản đối Mỹ xâm lược Việt
Nam (1954 - 1975): nghiên c ứu trường hợp một số nước Tây Âu”
2.1 M ục đích nghiên cứu: Phân tích phong trào đấu tranh của nhân dân Tây
Âu phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam qua nghiên cứu trường
hợp một số nước tiêu biểu Từ đó rút ra những kinh nghiệm lịch sử và vận dụng kinh nghiệm đoàn kết quốc tế, tập hợp lực lượng nhân dân các nước vào đấu tranh
bảo vệ an ninh, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, nền hòa bình và phát triển đất nước
2.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu Luận án tập trung vào một số nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu bối cảnh lịch sử dẫn tới sự hình thành và phát triển của phong trào phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam của nhân dân các nước Tây Âu
Trang 11- Phân tích nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế và chủ trương
của Đảng trong vận động nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam
- Nghiên cứu có tính hệ thống về quá trình hoạt động đấu tranh phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam của nhân dân các nước Tây Âu (qua nghiên cứu trường hợp
một số nước Pháp, Anh, CHLB Đức, Ý, Thụy Điển, Hà Lan)
- Đánh giá kết quả hoạt động trong phong trào đấu tranh phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam của nhân dân một số nước Tây Âu tiêu biểu
- Phân tích mục tiêu, đặc điểm, nguyên nhân phát triển của phong trào
- Rút ra một số kinh nghiệm và suy nghĩ vận dụng vào công cuộc đấu tranh,
bảo vệ an ninh, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Phong trào nhân dân một số nước Tây Âu phản
đối Mỹ xâm lược Việt Nam
3.2 Ph ạm vi nghiên cứu: Đề tài được triển khai theo hướng “Nghiên cứu
trường hợp” (Case study), nên phạm vi nghiên cứu được xác định như sau:
a) Không gian: khu vực Tây Âu được hiểu theo quan điểm địa - chính trị của
bối cảnh lịch sử sau Chiến tranh thế giới thứ hai Về mặt chính trị và xã hội, châu
Âu được chia thành hai khu vực: Đông Âu bao gồm các nước XHCN và Tây Âu bao
gồm các nước TBCN Trong đó tập trung vào một số nước gồm Pháp, Anh, CHLB Đức, Ý, Thụy Điển, Hà Lan là những nơi có phong trào tương đối phát triển Còn
một số nước Tây Âu khác, tuy cũng có phong trào nhân dân phản đối Mỹ xâm lược
Việt Nam, nhưng mức độ có hạn nên không đề cập trong luận án
b) Thời gian: Từ năm 1954 đến năm 1975, cụ thể là từ sau khi Hiệp định
Geneva về Đông Dương được ký kết (20-7-1954) cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam (30-4-1975)
c) Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung phân tích hình thức, phương pháp,
nội dung đấu tranh qua những sự kiện, diễn biến chính về phong trào đấu tranh của nhân dân Tây Âu phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam qua nghiên cứu trường hợp
4.1 Ngu ồn tài liệu
Trang 12- Luận án khái thác tối đa các nguồn tài liệu gốc được lưu trữ tại các trung tâm lưu trữ lớn của Việt Nam, bao gồm một số văn bản, báo cáo, văn kiện về sự chỉ đạo
của Đảng, Chính phủ và tổ chức đoàn thể đối với cuộc vận động nhân dân thế giới
phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ, ủng hộ Việt Nam, trong đó có phong trào nhân dân một số nước Tây Âu, đây được coi là tư liệu gốc
- Báo Nhân Dân và một số sách, báo tài liệu lịch sử đương thời với những tin
tức, bài viết, hình ảnh phản ánh những vấn đề, sự kiện lịch sử diễn ra trong phong trào đấu tranh của nhân dân một số nước Tây Âu (1954 - 1975) phản đối Mỹ xâm lược và ủng hộ nhân dân Việt Nam Đây được coi là nguồn tư liệu có giá trị
- Các tác phẩm viết về sự chỉ đạo của các nhà lãnh đạo Đảng và hồi ký của các
nhà ngoại giao, cùng nhiều tài liệu về sự chỉ đạo cũng như hoạt động đối ngoại thực
tiễn trong cuộc vận động nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ, cứu nước
- Sách chuyên khảo, tham khảo, đề tài khoa học, các bài đăng trên các tạp chí nghiên cứu, luận án tiến sĩ lịch sử có liên quan đến nội dung đề tài luận án Đây được coi là tài liệu thứ cấp, nhưng có nhiều giá trị tham khảo đối với luận án
- Về nguồn tư liệu của nước ngoài, được tiếp cận qua một số cuốn sách, tạp chí đã được dịch sang tiếng Việt; một số sách, tạp chí bằng tiếng Anh có những nội dung đề cập đến phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới nói chung, trong đó có
các nước Tây Âu phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam
- Công trình sách, ảnh tư liệu lịch sử về hoạt động của phong trào nhân dân
một số nước Tây Âu phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam thời kỳ 1954 - 1975
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu được tiếp cận dưới góc độ Lịch sử thế giới với phương pháp lịch sử và phương pháp logic Phương pháp nghiên cứu trường hợp được sử
dụng để làm rõ các sự kiện, nội dung diễn ra ở những nước Tây Âu tiêu biểu
- Phương pháp phân tích, thống kê và tổng hợp thông tin về các vấn đề, sự
kiện được khai thác từ những nguồn tài liệu có liên quan trực tiếp đến luận án
- Phương pháp nghiên cứu khu vực, dựa trên điểm chung của điều kiện chính
trị, xã hội, văn hóa phong trào nhân dân thế giới, để rút ra những nét riêng của khu
vực Tây Âu trong sự so sánh ở hai cấp độ là nội vùng và ngoại vi
Trang 135 Đóng góp của luận án
Luận án đi sâu nghiên cứu trường hợp, cụ thể là phong trào đấu tranh của nhân dân khu vực các nước Tây Âu, với những đóng góp chính sau đây:
- Nghiên cứu có tính hệ thống về quá trình đấu tranh phản đối Mỹ xâm lược
Việt Nam (1954-1975) của phong trào nhân dân một số nước Tây Âu Qua đó, làm
rõ cuộc vận động của nhân dân các nước Tây Âu trong việc phản đối Mỹ xâm lược
Việt Nam, là nhân tố tích cực góp phần vào thắng lợi của dân tộc Việt Nam
- Đánh giá kết quả hoạt động, phân tích mục tiêu đấu tranh và những đặc điểm
chủ yếu, nguyên nhân thành công và hạn chế của phong trào nhân dân Tây Âu
- Từ kinh nghiệm của lịch sử, bước đầu suy nghĩ nghiên cứu vận dụng kinh nghiệm đoàn kết quốc tế, tập hợp lực lượng nhân dân các nước Tây Âu trước đây vào công tác đấu tranh, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ ở nước ta ngày nay
- Góp phần cung cấp thêm nguồn tài liệu tham khảo phục vụ việc nghiên cứu
về phong trào nhân dân các nước thế giới phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam
- Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh ngành lịch sử thế giới, quan hệ quốc tế và người hoạt động ngoại giao nhân dân
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận án gồm
có 4 chương, cụ thể là:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Nhân tố dẫn tới sự hình thành và phát triển phong trào nhân
dân Tây Âu phản đối Mỹ tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam
Chương 3: Quá trình vận động của phong trào nhân dân Tây Âu phản đối
Mỹ xâm lược Việt Nam (1954 - 1975)
Chương 4: Nhận xét về phong trào nhân dân Tây Âu phản đối Mỹ xâm
lược Việt Nam (1954 - 1975) và suy nghĩ vận dụng kinh nghiệm đoàn kết quốc
tế vào cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc ngày nay
Trang 14Chương 1
Đến nay đã có nhiều nhà khoa học trong nước và quốc tế nghiên cứu về
cuộc kháng chiến chống Mỹ, trong đó có phong trào nhân dân thế giới và nhân dân các nước Tây Âu phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam (1954-1975) Có thể chia thành các nhóm công trình nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Một số công trình nghiên cứu lịch sử như: Lịch sử thế giới hiện đại
(Nguyễn Anh Thái chủ biên, 1998) Trong đó các tác giả phân tích mối quan hệ
quốc tế dẫn tới Chiến tranh thế giới thứ hai và diễn biến, kết quả hình thành
Trật tự thế giới hai cực, quan hệ quốc tế từ năm 1945 đến 1995 Ba cuốn Lịch
s ử quan hệ quốc tế (1945-1990) của Trần Văn Đào - Phan Doãn Nam (2001),
L ịch sử quan hệ quốc tế hiện đại (1945-2000) do Trần Nam Tiến chủ biên
(2008), L ịch sử quan hệ quốc tế (Bogaturov Aleksey Demofenovich Averkov
Viktor Viktorovich, 2013) đã phác họa tình hình thế giới sau Thế chiến thứ hai, qua đó phân tích cơ sở hình thành trật tự thế giới hai cực, cuộc chiến tranh lạnh, mâu thuẫn và đối đầu giữa hai khối Đông - Tây; phong trào giải phóng dân tộc
và quan hệ quốc tế ở các nước Á-Phi-Mỹ Latinh; quá trình hòa dịu, Chiến tranh
lạnh kết thúc và sự hình thành trật tự thế giới mới Cuốn Đông Tây Nam Bắc:
Nh ững diễn biến chính trong quan hệ quốc tế từ 1945 (Học viện Ngoại giao,
2009) đi sâu vào Chiến tranh lạnh ở châu Âu và trên thế giới, quan hệ giữa Mỹ
với các nước phương Tây Cuốn Lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam
(1940-2010) của Vũ Dương Ninh (2014) phân tích đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ, diễn tiến quan hệ đối ngoại Việt Nam Những công trình trên giúp cho nghiên cứu bối cảnh lịch sử thế giới trong thời gian diễn ra phong trào nhân dân Tây Âu phản đối chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam
- Một số công trình nghiên cứu lý luận về chính sách đối ngoại: Thế giới
50 năm qua (1945-1995) và thế giới trong 25 năm tới (1996-2020) (Nguyễn Cơ
Trang 15Thạch, 1998) nêu lên tầm nhìn chiến lược trên bình diện quốc tế đã qua và suy nghĩ
về đổi mới tư duy trong đường lối ngoại giao, nhận thức mới về thế giới và sự thích
ứng của Việt Nam Cuốn Chính sách đối ngoại của một số nước lớn trên thế
gi ới do Phạm Minh Sơn chủ biên (2008) phân tích nội dung cơ bản chính sách
đối ngoại của các nước Mỹ, Anh, Pháp, CHLB Đức , quan hệ đối ngoại giữa
Mỹ và các nước Tây Âu với Việt Nam (1954-1975) Cuốn Một số vấn đề quan
h ệ quốc tế, chính sách đối ngoại và ngoại giao Việt Nam của Vũ Dương Huân
(2 tập, 2009) đề cập tư tưởng đối ngoại, phương pháp, phong cách, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh; lý luận quan hệ quốc tế, trật tự và cục diện thế giới; chiến lược đối ngoại của các nước lớn, chính sách đối ngoại của Việt Nam Vũ
Dương Ninh (chủ biên): Việt Nam trong thế giới đang đổi thay (2017) là công
trình tập hợp nhiều bài tiếp cận từ góc độ khoa học lịch sử, nêu lên những suy nghĩ về những ngày đã qua của cách mạng Việt Nam và năm tháng sắp tới
- Những công trình nghiên cứu về đối ngoại nhân dân: tiêu biểu như cuốn
Ho ạt động đối ngoại nhân dân Việt Nam (Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam,
2003) nêu lên một số quan điểm, khái niệm cơ bản và khái quát sự hình thành, phát triển, đóng góp của công tác đối ngoại nhân dân qua các thời kỳ cách mạng Cuốn
Ngo ại giao nhân dân trong quan hệ đối ngoại của Mỹ (Nguyễn Thị Thanh Thủy,
2010) phân tích những khía cạnh chức năng, mục tiêu, cơ sở pháp lý, cơ cấu tổ chức
và các hình thức ngoại giao nhân dân của Mỹ Giáo trình Quan hệ công chúng của
chính ph ủ trong văn hóa đối ngoại (Lê Thanh Bình chủ biên, 2011) nêu một số
khái niệm, vai trò, chức năng, nhiệm vụ quan hệ công chúng của chính phủ và các cơ quan đối ngoại của Việt Nam Vũ Lê Thái Hoàng: “Ngoại giao công chúng trong thế kỷ 21”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 1 (76), 3-2009, trình bày bối cảnh
ra đời, lịch sử, nội hàm “ngoại giao công chúng” và thực tiễn vận dụng ở Việt Nam Nhìn chung, các cuốn sách trên có giá trị nghiên cứu về cơ sở lý luận, thực tiễn
hoạt động và vận dụng kinh nghiệm vào công tác đối ngoại nhân dân
Nhìn chung, những công trình trên giúp cho việc nghiên cứu bối cảnh lịch
sử thế giới trong thời gian diễn ra phong trào nhân dân Tây Âu phản đối cuộc
Trang 16chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam; về chính sách đối ngoại và ngoại giao của Việt Nam, nhất là đối ngoại nhân dân trong thời kỳ lịch sử này
- Những công trình nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đối
ngo ại của Đảng, tổng kết thực tiễn ngoại giao: phải kể đến cuốn Chủ tịch Hồ Chí Minh v ới công tác ngoại giao (Viện Quan hệ quốc tế, 1990) làm rõ tư tưởng, quan
điểm, quá trình hoạt động, kinh nghiệm của Người trong công tác ngoại giao từ năm
1941 đến 1969 Trong đó nêu lên sự chỉ đạo của Người đối với việc hình thành mặt
trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược Cuốn Chiến lược đại
đoàn kết Hồ Chí Minh (Phùng Hữu Phú, Vũ Dương Ninh, Lê Mậu Hãn, Phạm Xanh
- 1995) đề cập đến vấn đề đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh là một chiến lược, có nội dung cụ thể, rộng lớn được vận dụng hiệu quả, sáng tạo trong chiến đấu
giành độc lập tự do, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng xã hội mới Cuốn Tìm hiểu tư
tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề quốc tế (Phan Ngọc Liên chủ biên, 1995) đề
cập kết quả nghiên cứu bước đầu trong tư duy của Hồ Chí Minh về tính chất thời đại, tính nhất quán trong mục tiêu và linh hoạt trong sắp xếp lực lượng, trong chỉ
đạo chiến lược, vv Cuốn Hồ Chí Minh - trí tuệ lớn của nền ngoại giao Việt Nam
hi ện đại (Nguyễn Phúc Luân, 1999) phân tích một số quan điểm của Người về “bạn
và thù”, sách lược tập hợp lực lượng, chính sách đối ngoại, phương pháp và dự báo
thời cơ Cuốn Hồ Chí Minh với chiến lược đoàn kết quốc tế trong cách mạng giải
phóng dân t ộc (Lê Văn Yên, 2010) làm rõ một trong những nhân tố làm nên thắng
lợi của cách mạng Việt Nam là chiến lược đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh Nguyễn
Dy Niên có hai cuốn tiêu biểu: Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh thực hiện đường
l ối đối ngoại của Đảng trong giai đoạn mới (2001) và Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh (2002) đã luận chứng nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao,
phương pháp, nghệ thuật hoạt động; vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh và quá trình hình thành, phát triển, hoàn thiện tư tưởng của Người về ngoại giao; về đường lối
quốc tế, chính sách đối ngoại của Đảng, vv
Cuốn Góp phần tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao (Vũ Dương
Huân chủ biên, 2002) đã khái quát nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao; nêu lên nội dung tư tưởng ngoại giao và phương pháp ngoại giao Cuốn Tư tưởng
Trang 17H ồ Chí Minh về ngoại giao (Vũ Dương Huân, 2005) với bốn nội dung lớn tư tưởng
Hồ Chí Minh về ngoại giao, bối cảnh ra đời, nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển, đặc biệt những quan điểm, tư tưởng của Người trong thời kỳ chống Mỹ (1954-1969) Cuốn Hồ Chí Minh với cuộc đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ của
nhân lo ại (Lê Văn Tích chủ biên, 2010) nêu lên một số vấn đề lý luận và thực tiễn
cống hiến của Hồ Chí Minh đối với cuộc đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ của nhân
loại Công trình Việt Nam - Thế giới và hội nhập (Vũ Dương Ninh, 2007) có nhiều
bài viết về quan điểm đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh
- Một số cuốn sách viết về hoạt động đối ngoại của các nhà lãnh đạo Đảng
và Nhà nước, Mặt trận Giải phóng, tổng kết kinh nghiệm Bên cạnh cung cấp thông tin về những sự kiện thực tiễn, thể hiện rõ chủ trương đối ngoại trong vận động quốc tế của Đảng, còn nêu lên nhiều nhận định quan trọng Các bài viết tiêu biểu như: “Đồng chí Lê Duẩn với công tác ngoại giao” (Đinh Nho Liêm)
trong sách Lê Du ẩn và cách mạng Việt Nam (Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ
của Đảng, 2007); cuốn Phạm Văn Đồng trong lòng nhân dân Việt Nam và bạn
bè qu ốc tế (2002); về Lê Đức Thọ có ba cuốn: Nhớ về anh Lê Đức Thọ (2000),
Lê Đức Thọ: Người cộng sản kiên cường - Nhà lãnh đạo tài năng (2011), Các
cu ộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris (Lưu Văn Lợi - Nguyễn
Anh Vũ, 2002); cuốn Mặt trận ngoại giao thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu
nước (1965-1975) của Nguyễn Duy Trinh (1979); cuốn hồi ký Gia đình, bạn bè
và đất nước (Nguyễn Thị Bình, 2012); cuốn Sức mạnh Việt Nam (1976); cuốn
T ổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước - Thắng lợi và bài học (Ban Chỉ
đạo tổng kết chiến tranh thuộc Bộ Chính trị, 2015) nêu ra một số kinh nghiệm
hoạt động của Đảng, Nhà nước trong đoàn kết quốc tế
- Một số tài liệu hội thảo khoa học như: 50 năm ngoại giao Việt Nam dưới
s ự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (Học viện Quan hệ quốc tế, 1995) đã
phân tích sâu sắc quá trình đấu tranh ngoại giao kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị trong công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc qua các thời kỳ Đặc biệt là sự phối
hợp giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân và những bài
học kinh nghiệm được rút ra Tài liệu Tổng luận 50 năm hoạt động ngoại giao
Trang 18Vi ệt Nam (Bộ Ngoại giao, 1999) tập trung vào 3 nội dung lớn: bối cảnh thế giới
và những đặc trưng quan hệ quốc tế; khái quát những nét lớn trong đấu tranh ngoại giao; rút ra 4 đặc điểm của nền ngoại giao Việt Nam; thành công, hạn chế, thiếu sót và 7 bài học lớn trong đối ngoại Luận án tiến sĩ lịch sử Đảng với cuộc
v ận động quốc tế phản đối đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam (1954-1975) của Trần
Thị Ngọc Thúy (2016) phân tích chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng và triển khai thực
hiện trong thực tiễn Khái quát những nét chính của phong trào nhân dân thế giới
phản đối Mỹ xâm lược và đánh giá ưu điểm, hạn chế, rút ra kinh nghiệm
Nh ững cuốn sách về lịch sử kháng chiến chống Mỹ có đề cập đến phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới, trong đó có các nước Tây Âu
Bộ sách Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại (5 tập, NXB Sự
thật), trong đó nhiều sự kiện hoạt động của nhân dân thế giới phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam (từ 1961 đến 1973) phản ánh trong ba tập Tập II (1961-1964),
phần ba: “Sự ủng hộ quốc tế là một sức mạnh của chúng ta” nêu hoạt động của nhiều tổ chức nhân dân các nước Á-Phi phản đối Mỹ can thiệp vào MNVN, sự ủng hộ và giúp đỡ của các nước XHCN; sự lên án của chính phủ, nhân dân thế
giới và phong trào đấu tranh của một số nước Tây Âu Tập III (1965-1968),
phần ba: “Nhân dân thế giới đồng tình, giúp đỡ và cổ vũ chúng ta” đề cập đến
cuộc vận động nhân dân thế giới của Việt Nam, nguyên nhân dẫn tới sự ủng hộ, giúp đỡ đó; kết quả hoạt động và ý nghĩa qua hai phiên xử của Tòa án quốc tế Bertrand Russell Tập IV (1969-1973), phần ba: “Nhân dân thế giới hết lòng
ủng hộ chúng ta” nêu khái quát kết quả nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam
Bộ sách Miền Nam giữ vững thành đồng của Trần Văn Giàu (gồm 5 tập:
1964, 1966, 1968, 1970, 1978) Trong tập IV (1965-1967) hoạt động của phong trào nhân dân thế giới phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam được trình bày tổng quát các sự kiện cụ thể (bao gồm phong trào nhân dân một số nước Tây Âu) Tác giả nêu ra 6 đặc điểm lớn hoạt động của phong trào nhân dân thế giới, nhấn
mạnh tính chất, kết quả, ý nghĩa của phiên tòa quốc tế Bertrand Russell Nội
Trang 19dung tập V (từ 1968 đến 1970) điểm qua một số mốc hoạt động đối ngoại của
Mặt trận Giải phóng và Chính phủ Cách mạng lâm thời Qua đó, góp phần tố cáo trước dư luận thế giới về hành động dã man của quân đội Mỹ ở miền Nam
Cuốn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam trong sự nghiệp cách mạng Việt
Nam (2010) do NXB Chính trị quốc gia tập hợp các bài nghiên cứu, văn kiện về vai trò và đóng góp của MTDTGPMNVN trong hoạt động đối ngoại
Nhìn chung, qua các nguồn tài liệu trên, các tác giả đã phân tích nguồn
gốc phát sinh và nguyên nhân làm cho phong trào phát triển mạnh mẽ, rộng
khắp; nhấn mạnh đến tác động của đường lối ngoại giao nhân dân của Đảng trong vận động, tập hợp nhân dân các nước ủng hộ Việt Nam chống Mỹ
M ột số công trình có tính tổng luận, phân tích quá trình đấu tranh ngo ại giao, vận động nhân dân thế giới, trong đó có các nước Tây Âu
Công trình Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam (1945-1995) của Lưu Văn
Lợi phân tích các sự kiện đối ngoại quan trọng của đất nước, nhất là trong thời
kỳ kháng chiến chống Mỹ Cuốn Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp giành
độc lập, tự do (1945-1975) Nguyễn Phúc Luân chủ biên (2001), trong đó nêu lên
những nét chính về mặt trận ngoại giao qua các giai đoạn từ 1954 đến 1975, ý nghĩa
lịch sử Công trình Cuộc đàm phán lịch sử (Bộ Ngoại giao, Ban Nghiên cứu Lịch sử
- 2009), có nhiều bài viết của các nhân chứng lịch sử như “Cuộc đấu trí với niềm tin
chắc thắng” (Nguyễn Thị Bình); “Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam giai
đoạn đàm phán Hiệp định Pari” (Trịnh Ngọc Thái), vv Công trình Ngoại giao Việt
Nam 1945-2000 (Nguyễn Đình Bin chủ biên, 2002) chương ba, với tiêu đề:
“Ngoại giao Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975” đề cập nhiều nội dung về công tác vận động nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam, cũng như phong trào phản đối Mỹ xâm lược của nhân dân thế giới (trong đó có nhân dân các
nước Tây Âu) Cuốn Nhớ lại trận Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không (Nhiều
tác giả, 2012) làm rõ dư luận thế giới và các nước phương Tây đánh giá chiến
thắng lịch sử của Việt Nam cuối năm 1972 Cuốn Việt Nam đất nước anh hùng
(1975) với mục: “Cả loài người cổ vũ, ủng hộ Việt Nam” nêu lên một số sự
kiện hoạt động tiêu biểu của nhân dân thế giới phản đối Mỹ xâm lược
Trang 20Nguyễn Phúc Luân với công trình Ngoại giao Việt Nam trong cuộc đụng
đầu lịch sử (2005) đã phân tích cơ sở hình thành chính sách đối ngoại thời kỳ
đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, chỉ ra bối cảnh thế giới và nhiệm vụ đối ngoại
của Việt Nam; những diễn biến, kết quả, đóng góp của mặt trận ngoại giao
Phần kết luận nêu lên ba nội dung lớn: 6 đặc điểm hoạt động ngoại giao chủ
yếu, trong đó có đặc điểm thứ năm, tác giả rút ra vai trò hoạt động trong vận
động nhân dân thế giới của các tổ chức đoàn thể, coi đó là thành quả đóng góp
của “ngoại giao nhân dân”; vị trí quan trọng của mặt trận ngoại giao trong cuộc đấu tranh chung kháng chiến chống Mỹ; nêu ra 9 nhân tố đưa đến thắng lợi của ngoại giao Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
Nguyễn Khắc Huỳnh với ba công trình nghiên cứu tiêu biểu Cuộc kháng chiến
ch ống Mỹ của Việt Nam - Tác động của những nhân tố quốc tế (2010); Ngoại giao
Vi ệt Nam - Góc nhìn và suy ngẫm (2011); Nghệ thuật ngoại giao Việt Nam với cuộc đàm phán Paris (2014) Về cuốn thứ nhất, tác giả tập trung phân tích các nhân tố
chính có tác động trực tiếp tới cách mạng Việt Nam: hệ thống các nước XHCN lớn
mạnh; phong trào giải phóng dân tộc - đồng minh tự nhiên và quan trọng nhất của
Việt Nam; lương tri loài người thức tỉnh - động lực của mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược; về phong trào nhân dân Mỹ chống chiến
tranh, vv V ề cuốn thứ hai, tác động của các nhân tố quốc tế đề cập đến một số nội
dung như: Cuộc đàm phán Paris và chiến lược đánh đàm, Hiệp định Paris về Việt Nam - những bài học ngoại giao, Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam
chống đế quốc Mỹ, vv Về cuốn thứ ba: với bài viết “Mặt trận nhân dân thế giới ủng
hộ Việt Nam”, trong đó nêu ra bối cảnh, chỉ rõ 4 đặc điểm chính của phong trào về quy mô, tầm vóc lịch sử, vai trò to lớn của giới trí thức Cuối cùng, tác giả nêu ra 5 động lực chính coi là nhân tố thức tỉnh lương tri loài người ủng hộ Việt Nam
Nh ững cuốn sách chủ yếu cung cấp nguồn tài liệu về phong trào nhân dân
th ế giới phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam kèm theo nhận xét của tác giả
Cuốn Hành động chiến tranh của đế quốc Mỹ đối với nước Việt Nam Dân
ch ủ Cộng hòa đã bị trừng trị đích đáng (1964) là công trình do NXB Sự thật
tập hợp những ý kiến, phát biểu, thư, điện, hoạt động của nhân dân nhiều nước
Trang 21trên thế giới phản đối hành động gây chiến của Mỹ đối với VNDCCH sau khi
Mỹ gây ra “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” Nhiều nước, các tổ chức ra tuyên bố và hoạt động phản đối hành động của Mỹ trong nhân dân các nước (XHCN, Á-Phi-Mỹ Latinh, các tổ chức quốc tế) Sự phản đối Mỹ gây chiến tranh, ủng hộ quyền tự
vệ chính đáng của Việt Nam trong các đảng cộng sản và phong trào nhân dân các nước TBCN Trong đó, hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể nhân dân với sự tham gia của nhiều nhân sĩ, trí thức, bác học ở các nước Tây
Âu (Anh, Pháp, Ý, CHLB Đức, Áo, Phần Lan, Thụy Điển, ) dưới nhiều hình
thức (mít tinh, biểu tình, ra nghị quyết, lời kêu gọi, gửi thư, điện, )
Cuốn Các nước XHCN ủng hộ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
(1954-1975) của Nguyễn Mai Hoa (2013) với ba chương nội dung chính, phần kết
luận với 5 vấn đề mang tính khái quát cao Qua đó giúp chúng ta có cái nhìn toàn
diện hơn về sự giúp đỡ to lớn của các nước XHCN đối với Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, thấy rõ hơn đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng, gợi mở kinh nghiệm giải quyết các sự kiện và quan hệ quốc tế trong bối cảnh mới
Về hai bài viết: “Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” của Trần Hữu Đính (trong sách: Sức mạnh chiến
th ắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước) Viện Sử học (1985); “Mặt trận
nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ” của Ngô Phương Bá (trong sách:
Th ắng lợi kháng chiến chống Mỹ và hai mươi năm xây dựng đất nước sau chiến tranh) của Viện Sử học (1995) Nội dung điểm qua các nét hoạt động lớn của phong trào nhân dân các nước XHCN, Á-Phi-Mỹ Latinh, các nước TBCN, các ủy ban đoàn kết với Việt Nam và bạn bè trên thế giới, trong đó có phong trào phản đối chiến tranh của nhân dân Mỹ Sự ủng hộ của nhân dân thế giới là nhân tố quan
trọng góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp đánh thắng Mỹ xâm lược
Cuốn Phụ nữ thế giới ủng hộ chúng ta (1973) trích đăng nội dung những
bức thư, tuyển chọn một số bài viết về hoạt động ủng hộ của phụ nữ khắp nơi trên thế giới (về chính trị, tinh thần và vật chất) đối với nhân dân Việt Nam (từ đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ đến năm 1971) Nêu cao vai trò đấu tranh của
phụ nữ các nước, không phân biệt chế độ chính trị, xã hội khác nhau
Trang 22Cuốn Tiếng nói của lương tri và trái tim (1973) được tập hợp từ những bài
viết, lời nói, phát biểu, trả lời phỏng vấn của các nhà hoạt động nước ngoài trên
mặt trận văn hóa, văn nghệ, báo chí, những người bạn đã sang thăm Việt Nam
ở các nước trên khắp thế giới Chính họ đã góp phần tạo ra làn sóng phản đối
cuộc chiến tranh của chính quyền Mỹ, ủng hộ Việt Nam đấu tranh vì chính nghĩa và khơi dậy lương tri nhân loại trên khắp thế giới ủng hộ chúng ta
Tác giả Sĩ Phan với cuốn Việt Nam, cảm ơn! (1978) góp phần đưa chúng
ta tìm gặp lại người Cuba, người Mỹ, người Pháp, người Ý, vv Họ là những người đã lên tiếng phản đối chiến tranh của giới cầm quyền Mỹ, ủng hộ Việt Nam kháng chiến Nguyễn Văn Khoan: Cảm ơn các bạn (2013) là những câu
chuyện cảm động về tấm lòng của bạn bè quốc tế đã ủng hộ Việt Nam Họ là
những chính khách, lãnh đạo quốc gia, nhân sĩ trí thức, nhà bác học, nhà văn, nhà báo Tiêu biểu như Henri Mactanh (chiến sĩ đấu tranh hòa bình người Pháp); cụ Bertrand Russell (nhà bác học người Anh); bà Sara Lidman (nữ nhà văn Thụy Điển) và những người bạn Ý, Hà Lan, đã hết lòng vì Việt Nam
Cuốn Những vụ thảm sát của lĩnh Mỹ ở Việt Nam - Thông tin và dư luận
(2013) Trong đó tập trung làm rõ tội ác của Mỹ trong các vụ thảm sát ở Việt Nam; tội ác tra tấn tù nhân, rải chất độc da cam và ném bom của Mỹ Phần nói
về dư luận thế giới đề cập đến các phong trào phản chiến của các nước; sự lên
tiếng của giới báo chí, truyền thông thế giới và sự ủng hộ của bạn bè quốc tế
Cuốn Việt Nam và những tấm lòng bè bạn (2006) do Liên hiệp các tổ chức hữu nghị
Việt Nam biên soạn, đã tập hợp những tấm gương tiêu biểu “vì Việt Nam” Họ đã
hết lòng ủng hộ Việt Nam những năm tháng gian khổ của hai cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của dân tộc Chính họ đã tích cực tham gia các
cuộc biểu tình, tuần hành với hàng nghìn, hàng vạn người xuống đường theo “mệnh
lệnh của trái tim”, “tiếng gọi của công lý”, “lương tri của thời đại”
Hội thảo quốc tế Hiệp định Paris - 40 năm nhìn lại (Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn Hà Nội, 2013) có một số bài viết có giá trị tham khảo đối với
luận án Đề tài nghiên cứu Sự ủng hộ quốc tế đối với Việt Nam trong cuộc kháng
chi ến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) Mã số: QGTĐ 11.11- 2013 của tập thể tác
Trang 23giả (Trần Kim Đỉnh chủ nhiệm đề tài) trình bày một số quan điểm của Đảng, Nhà nước về vận động sự ủng hộ quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ Phân tích khái quát hoạt động và kết quả ủng hộ Việt Nam của chính phủ và nhân dân các nước trên thế giới Khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước trong vận động quốc tế để hình thành mặt trận nhân dân thế giới chống Mỹ xâm lược, vv
Nh ững bài viết đăng trên tạp chí nghiên cứu tiêu biểu phải kể đến Nguyễn
Thị Bình: “Vai trò của Mặt trận trong cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam thống
nhất đất nước”, Tạp chí Thông tin đối ngoại, số 4-2005, đã khái quát sự ra đời của
Mặt trận và một số nét hoạt động trên mặt trận vận động nhân dân thế giới trong kháng chiến chống Mỹ; Chu Văn Chúc: “Tác động của đòn tiến công ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 49-2003,
đề cập đến phong trào nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam được hình thành, phát triển từ năm 1964 Với nhiều hoạt động phong phú, trong đó có Tòa án quốc tế Bertrand Russell xét xử tội ác chiến tranh của Mỹ; Nguyễn Phúc Luân: “Nhìn lại thành tựu và nhân tố thắng lợi của mặt trận ngoại giao trong công cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 60-2005, nêu lên một số vấn
đề lớn trên mặt trận đấu tranh ngoại giao và sự hình thành, phát triển của mặt trận nhân dân thế giới và rút ra 6 nhân tố thắng lợi; Nguyễn Khắc Huỳnh: “Lương tri loài người thức tỉnh - Động lực của mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam
chống Mỹ”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 3 (74), 9-2008, đã chỉ ra bốn nhân tố
thời đại chủ yếu thúc đẩy lương tri loài người thức tỉnh; Trịnh Ngọc Thái: “Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam giai đoạn đàm phán Hiệp định Pari”, Tạp chí
Nghiên c ứu Quốc tế, số 1 (72), 3-2008, làm rõ hoạt động, nguyên nhân của phong
trào nhân dân nhiều nước trên thế giới phản đối Mỹ xâm lược, ủng hộ Việt Nam
M ột số sách của các nhà nghiên cứu nước ngoài
Công trình S ự nghiệp của một Tổng thống bị đổ vỡ: L.Johnson và Việt Nam (Lydon Johnson and Vietnam: The unmaking a Prerident) của tác giả H
Y Schandler, phản ánh nhiều sự kiện thăng trầm trong sự nghiệp của một Tổng
thống Mỹ, gắn với cuộc chiến tranh tàn bạo ở Việt Nam Cuốn Nước Mỹ và Đông
Dương từ Rudơven đến Níchxơn (The United States and Indochina from FDR to
Trang 24Nixon) của sử gia người Mỹ Peter A Poole, đã vạch ra chính sách của sáu đời Tổng
thống Mỹ nhằm tìm ra nguyên nhân dính líu của Mỹ đối với Việt Nam Cuốn Lời
phán quy ết về Việt Nam: tiếng nói của một công dân của Joseph A Ameter đã
vạch trần những thất bại của nhiều đời Tổng thống Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, những bài học đau xót của chính quyền Mỹ cần được rút ra
Cuốn sách Giải phẫu một cuộc chiến tranh: Việt Nam, Mỹ và kinh nghiệm
l ịch sử hiện đại (Anatomy of a War Vietnam, the United States, and the
Modern Historical Experience) của sử gia người Mỹ Gabriel Kolko (2 tập) Tác
giả chỉ rõ giới hạn sức mạnh của chính quyền Mỹ và những nguyên nhân dẫn đến thắng lợi của đối phương trong cuộc chiến tranh này, những kinh nghiệm được rút ra để không bao giờ được lặp lại đối với nước Mỹ Tác giả Jeffrey Kimbll với cuốn Hồ sơ chiến tranh Việt Nam - tiết lộ lịch sử bí mật của chiến
lược thời kỳ Nixon (The Vietnam War Files: Uncoverin The Secret History
Nixon - era Strategy) cho chúng ta thấy những lời nói, mưu toan của người nắm quyền thế ở Nhà Trắng Nixon đã đưa cuộc chiến tranh ở Việt Nam lên mức độ tàn khốc, để lại hậu quả lâu dài cho hai nước, coi đây là sai lầm của nước Mỹ
Giai đoạn diễn ra cuộc đàm phán Paris được bàn luận nhiều trong công
trình N ền hòa bình mong manh - Washington, Hà Nội và tiến trình của Hiệp
định Paris (A Bitter War, Washington, Hanoi and the Process of Paris
Agreement) của Pierre Asselin đã trình bày quá trình đàm phán Hiệp định Paris
từ năm 1968 đến 1973 giữa Hà Nội và Washington, cũng như sau Hiệp định Paris năm 1973 Quan hệ giữa Mỹ và Liên Xô có liên quan đến Việt Nam phải
kể đến cuốn hồi ký Đặc biệt tin cậy: Vị đại sứ ở Washington qua sáu đời Tổng
th ống Mỹ của đại sứ Liên Xô tại Mỹ Antoliy Dobrusin
Công trình Nước Mỹ nửa thế kỷ - chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong
và sau Chi ến tranh lạnh (Americas Half-Century United States Foreign Policy
in the Cold War and After) của Thomas J McCormick làm rõ quá trình, nguyên nhân khiến người Mỹ dính líu vào Việt Nam (1950-1954); sự leo thang chiến tranh ở Việt Nam; bất đồng trong nước trong kỷ nguyên Việt Nam và từ đó lý
giải, làm rõ nguyên nhân dẫn đến thất bại của Mỹ
Trang 25Một số cuốn sách khác của tác giả người Mỹ như Nigel Cawthorne với
cuốn Chiến tranh Việt Nam được và mất (Vietnam: a War lost and Won) Qua
đó dựng lại nét chính của cuộc chiến tranh có quy mô rất lớn, với tính hủy diệt tàn bạo do Mỹ gây ra ở Việt Nam Cuốn Không thể chuộc lỗi: Hồi ức của một
bác sĩ quân y ở Việt Nam (Failure To Atone: The True Story a jungle Surgeon
in Vietnam) của Allen Hassan, góp phần làm sáng tỏ những tội ác mà nước Mỹ
đã gây ra cho nhân dân Việt Nam, sự thật chưa từng được tiết lộ của một bác sĩ tình nguyện người Mỹ tại Việt Nam, những lời sám hối của những người lính
Mỹ sau khi trở về nước Cuốn Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ (A
Longest War of USA) của tác giả George C Herring phâh tích sự dính líu, can thiệp của Mỹ tiến hành chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương (1950-1973),
cuối cùng là thất bại của Mỹ trong chiến tranh ở Việt Nam
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên, với những nguồn tài liệu khá phong phú từ cả hai phía, các tác giả nước ngoài đã phân tích, làm rõ nhiều vấn
đề, nguyên nhân có liên quan đến cuộc chiến tranh ở Việt Nam, đặc biệt là sự phê phán, vạch ra những sai lầm của giới cầm quyền Mỹ khi quyết định lao vào
cuộc chiến và quá trình đàm phán ở Paris, những hoạt động phản đối chiến tranh của nhân dân nhiều nước trên thế giới, trong đó có nhân dân các nước Tây Âu và đặc biệt là làn sóng phản đối chiến tranh của nhân dân Mỹ
các nước Tây Âu phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam
Cuốn Thế giới lên án và tố cáo tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam (Tập
II, 1974) của NXB Sự thật tập hợp một số bài của những nhân sĩ, trí thức nổi
tiếng ở nhiều nước trên thế giới, trong đó đa phần ở các nước Tây Âu; Về vai trò hoạt động qua hai phiên tòa xét xử tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ ở Việt Nam (1967); hoạt động của nhà bác học nổi tiếng người Anh Bertrand Russell; hai triết gia người Pháp Giăng Pôn Xáctơrơ, Laurent Schwartz, vv
Hai cuốn Tình đoàn kết chiến đấu vô sản Việt - Pháp (Viện Mác-Lênin, 1986) và C ộng hòa Pháp - bức tranh toàn cảnh (Nguyễn Quang Chiến, 1997)
đã làm rõ vai trò, quá trình đấu tranh của đảng cộng sản, phong trào công nhân
Trang 26và nhân dân Pháp Những dẫn chứng về sự đoàn kết, gắn bó giữa ĐCS Pháp và ĐCS Việt Nam qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ Đồng thời, điểm qua chính sách đối ngoại của Pháp đối với Mỹ trong thời kỳ
Mỹ xâm lược Việt Nam và mối quan hệ Pháp - Việt
Bài viết: “Vai trò của Pháp trong việc giải quyết hòa bình cuộc chiến tranh
của Mỹ ở Việt Nam” của Vũ Sơn Thủy (trong công trình Mặt trận ngoại giao với
cu ộc đàm phán Paris về Việt Nam (Bộ Ngoại giao, 2004) đã góp phần làm rõ hơn
sự ủng hộ của nước Pháp đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam rất sâu
sắc, cụ thể và toàn diện Từ vai trò của chính phủ Pháp và cá nhân Tổng thống De Gaulle, các chính giới, đảng phái, đặc biệt là đảng cộng sản cho đến các nhà khoa
học, trí thức, giới tôn giáo, các tổ chức công đoàn, thanh niên, sinh viên, phụ nữ, vv, đều lên tiếng và có hành động thiết thực phản đối chính phủ Mỹ xâm lược Việt Nam
Phạm Tiến Nhiền: “Phong trào nhân dân và các đảng cánh tả châu Âu đoàn
kết với Việt Nam” (trong công trình Mặt trận ngoại giao với cuộc đàm phán Paris
v ề Việt Nam (Bộ Ngoại giao, 2004) đã tập trung làm rõ hơn quá trình hoạt động của
phong trào đoàn kết với Việt Nam ở các nước châu Âu, trong đó các đảng cánh tả, trước hết là các đảng cộng sản đóng vai trò nòng cốt Nhờ phong trào đoàn kết với
Việt Nam, nhiều đảng cánh tả đã tăng cường và phát triển lực lượng, ảnh hưởng của mình trong quá trình đấu tranh phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam
Bài: “Chống cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam - Mặt trận châu Âu”
(trong sách: B ản lĩnh Việt Nam qua cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975)
của Bùi Đình Thanh (2007), đã bước đầu phân tích bản chất cuộc chiến tranh,
bối cảnh lịch sử thế giới; mặt trận châu Âu phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở
Việt Nam; khái quát phong trào chống chiến tranh ở một số nước châu Âu (nhấn mạnh phong trào nhân dân Pháp) và rút ra một số kinh nghiệm
Công trình Chi ến dịch Hồ Chí Minh giữa lòng Paris (Võ Văn Sung, 2015),
với những câu chuyện về người Việt Nam sống xa quê hương nhưng luôn hướng về Tổ quốc, những người bạn quốc tế thủy chung đã hết lòng ủng hộ
cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam, về một “binh chủng” đặc biệt, đó là
hoạt động của người Việt Nam tại Pháp và các nước Tây Âu Cuốn Sư tử và
Trang 27r ồng: Bốn thế kỷ quan hệ Hà Lan - Việt Nam (2008) là công trình nghiên cứu
của các nhà sử học Trong đó, hoạt động của công chúng, giới truyền thông Hà Lan đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ đã được đề cập đến Từ đó góp phần thay đổi nhận thức của các chính trị gia và nhân dân đối với cuộc chiến tranh (từ ủng hộ Mỹ chuyển sang hoài nghi, không ủng hộ và cuối cùng là phản đối
cuộc chiến tranh) đã trở thành “phong trào Việt Nam” ở Hà Lan
Nguyễn Thị Hạnh với hai bài viết: “Sự ủng hộ của Đảng Cộng sản Pháp đối
với Việt Nam ở Hội nghị Paris (1968-1973)”, Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số 5
(128) -2011 và “Phong trào đấu tranh của giới trí thức Pháp ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam (1954-1975)”, Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số 6
(153) - 2013 Về bài viết thứ nhất, tập trung phân tích vai trò đóng góp của ĐCS Pháp đối với Việt Nam không chỉ ở Hội nghị Paris, mà còn trong phong trào hoạt động của nhân dân do ĐCS Pháp khởi xướng và tham gia Cuối cùng, đưa ra một số đánh giá về kết quả hoạt động ủng hộ Việt Nam Về bài viết thứ hai, làm rõ hai vấn
đề lớn: đó là vai trò và đóng góp của “Liên đoàn các trường đại học Pháp” và “Hội
y tế Pháp - Việt” trong phong trào phản đối Mỹ xâm lược (1954-1975) Phạm Hồng Tung: “Phong trào hòa bình, phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam ở CHLB Đức”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 11 (403)-2009, đã điểm qua quá trình
hoạt động của phong trào hòa bình, phản đối chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam ở CHLB Đức (1965 - 1973), cuối cùng rút ra một số nhận xét
Một số bài viết trên báo chí điện tử, tiêu biểu như: “Sự ủng hộ mạnh mẽ của
bạn bè quốc tế đã góp phần làm nên thắng lợi lịch sử của Việt Nam” (Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 27-01-2013 http://www.dangcongsan.vn) điểm qua
hoạt động của phong trào nhân dân Thụy Điển, Pháp và một số nước Tây Âu khác Đồng thời, nêu bật vai trò tiêu biểu trong phong trào của một số nhân vật nổi tiếng như nữ nhà văn người Thụy Điển Sara Lidman, bà Madeleine Riffaud (nữ nhà báo
nổi tiếng, đảng viên Đảng Cộng sản Pháp) Bài “Gặp lại thuyền trưởng tàu hữu nghị Italia đến Việt Nam 40 năm trước” (Trương Ngọc Anh, ngày 29-11-2013
đã vượt qua rất nhiều khó khăn, gian khổ xuất phát từ Ý cuối năm 1973 và đến Việt
Trang 28Nam tháng 1-1974 Con tàu đó đem theo không chỉ sự ủng hộ về biểu tượng của tình hữu nghị đối với Việt Nam, còn là sự giúp đỡ về vật chất với nhiều hàng hóa, thuốc men, đồ dùng cho Việt Nam Về vai trò đóng góp lớn của nhân dân Pháp qua bài viết: “Các bạn Pháp với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam” (Bích
Hà, Báo điện tử Nhân dân, ngày 13/4/2015 http://www.nhandan.com.vn)
M ột số sách của các nhà nghiên cứu nước ngoài
Hai tập sách Sưu tập Chuyên đề thế giới bàn về Việt Nam (Ủy ban Khoa
học xã hội Việt Nam, 1976) trích dịch những bài nghiên cứu về cuộc chiến tranh Việt Nam của những trí thức lớn ở các nước Nhật Bản, Thụy Điển, Anh,
vv Qua đó, làm rõ căn nguyên hình thành, phát triển phong trào đoàn kết với
Việt Nam của nhân dân Nhật Bản, Mỹ, Thụy Điển, vv Bài viết: “Vấn đề Việt Nam và cuộc đấu tranh của các đảng phái ở Thụy Điển từ 1965 đến 1973” phân tích lập trường của đảng cầm quyền, những đảng phái khác trong Quốc hội, phong trào phản đối chiến tranh của nhân dân Hai tác giả người Pháp là Giăng
Pierơ Đêbrai và Ăngđrê Măngrax với cuốn Thoát khỏi ngục tù Sài Gòn chúng
tôi v ạch tội (Rescapés Des Bagues De Saigon Nous Accusons, 1974) đã góp
thêm tiếng nói của người nước ngoài là nhân chứng lịch sử, coi như bản cáo
trạng về tội ác do Mỹ - ngụy gây ra đối với nhân dân Việt Nam Tác giả người
Hà Lan Peter de Goeje với cuốn Gửi lời chào Đoàn kết (2012), trong đó đề cập
đến các hoạt động phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ và những tội ác đã gây ra
ở Việt Nam Đồng thời nêu lên một số hoạt động của phong trào đoàn kết ủng
hộ, giúp đỡ của nhân dân Hà Lan đối với nhân dân Việt Nam trong kháng chiến
chống Mỹ, tiêu biểu như “Ủy ban Y tế Hà Lan - Việt Nam”, vv
Cuốn Vietnam destruction war damage (Sự tổn thất và tàn phá của chiến
tranh Việt Nam) góp phần cung cấp thêm số liệu và hình ảnh tội ác chiến tranh
có tính chất hủy diệt của Mỹ gây ra ở Việt Nam Qua đó giúp cho nhân dân thế
giới thấy rõ tội ác của Mỹ, ủng hộ Việt Nam Công trình Promoting solidarity
at home and abroad: the goals and tactics of the anti-Vietnam War movement
in Britain (Đẩy mạnh tình đoàn kết trong và ngoài nước: mục tiêu và chiến thuật của phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam ở Anh) của tác giả Sylvia
Trang 29A Ellisa (trong European Revuw & History - Tạp chí lịch sử châu Âu) Nội dung góp phần làm rõ bản chất, chiến thuật, hiệu quả của phong trào nhân dân Anh chống chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam; từ Chiến dịch đoàn kết với Việt Nam đến Hội đồng Anh vì hòa bình ở Việt Nam, các phong trào đấu tranh của người lao động Về việc phe chống chiến tranh có thể tác động đến chính sách
của chính phủ và tranh luận công khai, gây áp lực đến phe đối lập ở Quốc hội trong bối cảnh phong trào phản đối chiến tranh của Mỹ lan rộng trên thế giới
Công trình Protests Against the Vietnam War in 1960s Britain: The
Relationship between Protesters and the Press (Những cuộc biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam những năm 1960 ở Anh - Mối quan hệ giữa người biểu tình và giới báo chí của tác giả Nick Thomas, trong Tạp chí: Contemporary
British History - Lịch sử Anh đương đại) N ội dung phân tích sự tương tác
gi ữa những người biểu tình và báo chí, ảnh hưởng của dư luận được minh họa rõ nét qua những hoạt động phản đối của nhân dân Anh đối với cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam (diễn ra mạnh từ năm 1965 đến cuối
nh ững năm 1960 và lắng xuống đầu những năm 1970)
Cuốn Swedish Social Democracy And Vietnam War (Đảng Dân chủ xã hội
Thụy Điển và Chiến tranh Việt Nam) của Carl-Gustaf Scott (2017) làm rõ chính sách đối ngoại của Chính phủ Thụy Điển dưới thời lãnh đạo Đảng Xã hội Dân chủ Thụy Điển gắn với cuộc chiến tranh ở Việt Nam giai đoạn 1964-1975 tác giả nêu rõ sự hỗ trợ nhân đạo, hoạt động phản đối chiến tranh của một số tổ
chức nhân dân, tác động đến chính sách và thái độ của chính phủ đối với cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và đối với cuộc kháng chiến của Việt Nam
Một số công trình tập trung phân tích về những thanh niên và lính Mỹ trốn quân dịch chạy sang Thụy Điển (từ 1967 đến 1973) để phản đối chiến tranh
do chính quyền Mỹ tiến hành ở Việt Nam trong: Sweden Might be A Haven, But Its Not Heaven: American War Resisters in Sweden During the Vietnam War”, Immigrants & Minorities (Những người nhập cư và thiểu số)
của Carl-Gustaf Scott; về phong trào chống chiến tranh của nhân dân Pháp trong những năm 1966-1967: Douglas J Snyder (2012), “Fantastic and Absurd
Trang 30Utterances: the Vietnam Misperceptions War and of anti - Americanism in
US-French Relations, 1966-1967”, The Joumal of Transatlantic Studies (Những phát biểu vô lý và kỳ quái: Chiến tranh Việt Nam và những hiểu biết sai lầm về
chủ nghĩa chống Mỹ trong quan hệ Pháp-Mỹ: 1966-1967 - Tạp chí nghiên cứu Đại Tây Dương) Về phong trào chống chiến tranh ở nước Mỹ những năm 1956-1975 phải kể đến: Essentia Histories: The Vietnam War 1956-1975 của
Andrew Wiest (Chiến tranh Việt Nam 1956-1975)
1.4.1 Nh ận xét chung về kết quả các công trình nghiên cứu
a) Các công trình nghiên cứu đã cung cấp nhiều tài liệu phong phú, phác họa
một bức tranh toàn cảnh về quá trình hoạt động trong phong trào đấu tranh của nhân dân các nước trên thế giới phản đối chiến tranh xâm lược của Mỹ và ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của Việt Nam, trong đó có nhân dân các nước Tây Âu
b) Một số tác phẩm phân tích sâu tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế, đặt cơ sở lý luận để nghiên cứu phong trào nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam c) Các nhà nghiên cứu lịch sử và nghiên cứu về công tác đối ngoại (bao gồm đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân) đã đưa ra nhiều ý
kiến phân tích về tính chất, nội dung, ý nghĩa của phong trào nhân dân thế giới, trong đó có nhân dân các nước Tây Âu phản đối Mỹ xâm lược, ủng hộ Việt Nam d) Những năm gần đây xuất hiện những cuốn sách, bài viết chuyên sâu về phong trào đấu tranh của một vài nước Tây Âu (Pháp, Tây Đức, Thụy Điển, Hà Lan, ) trên các góc độ khác nhau (về vai trò hoạt động của các tổ chức chính trị
xã hội, tổ chức quần chúng nhân dân, lực lượng tham gia phong trào, )
g) Các phân tích, đánh giá của một số tác giả nước ngoài về cuộc đấu tranh
chống Mỹ của Việt Nam và hoạt động phản đối chiến tranh xâm lược Việt Nam của
Mỹ diễn ra ở một số nước Tây Âu, giúp cho nghiên cứu nhận định một cách khách quan, toàn diện về quá trình phát triển và tính chất đấu tranh của phong trào
1.4.2 Nh ững nội dung mới cần giải quyết trong luận án
Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa có chọn lọc những nội dung và kết quả các công trình nghiên cứu trên, luận án tập trung đi sâu vào một số nội dung chính sau:
Trang 31M ột là, đặt trong bối cảnh chung của phong trào nhân dân thế giới, luận án đi
vào nghiên cứu sâu trường hợp của một số nước Tây Âu, đây là khu vực tập trung nhiều quốc gia TBCN có mối liên hệ chặt chẽ với Mỹ, nhưng lại phát triển mạnh phong trào phản đối chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam
Hai là, trên cơ sở làm rõ một số khái niệm cơ bản, luận án phân tích những nhân tố khách quan, nhân tố chủ quan dẫn đến sự hình thành và phát triển của phong trào nhân dân Tây Âu chống cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam
Ba là, luận án trình bày một cách có hệ thống những sự kiện, hoạt động tiêu
biểu của phong trào nhân dân một số nước Tây Âu (Pháp, Anh, Tây Đức, Ý, Thụy Điển, Hà Lan) phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ và ủng hộ Việt Nam
B ốn là, từ thực tiễn trên, luận án nêu lên nhận xét về mục tiêu, đặc điểm và
nguyên nhân phát triển của phong trào nhân dân ở một số nước Tây Âu
Năm là, gợi mở vận dụng kinh nghiệm tập hợp lực lượng, đoàn kết quốc tế
trong vận động nhân dân Tây Âu thời kỳ kháng chiến chống Mỹ vào cuộc đấu tranh
bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ ngày nay ở Việt Nam
Ti ểu kết chương 1
Chương I đã trình bày tổng quan các công trình nghiên cứu về lịch sử, lý luận,
hoạt động của nhân dân thế giới phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam, trong đó có phong trào đấu tranh của nhân dân một số nước Tây Âu Các công trình đã cung cấp nhiều thông tin và gợi mở nhiều nội dung, phương pháp tiếp cận có thể kế thừa, vận
dụng vào trong nghiên cứu về hoạt động của nhân dân một số nước Tây Âu Trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế hiện nay, mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước Tây Âu - ngày nay là Liên minh châu Âu, đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu
một cách toàn diện, có hệ thống cả về lý luận và thực tiễn trên cơ sở kế thừa, khai thác các tài liệu mới, góp phần làm rõ những đóng góp quan trọng trong phong trào đấu tranh của nhân dân các nước Tây Âu phản đối Mỹ xâm lược và ủng hộ cuộc kháng chiến, cứu nước của Việt Nam (1954-1975) Trên cơ sở đó rút ra những kinh nghiệm và ý nghĩa thực tiễn để suy nghĩ vận dụng vào trong vận động, tập hợp lực lượng và đoàn kết quốc tế vào công cuộc đấu tranh, bảo vệ Tổ quốc ngày nay
Trang 32Chương 2
XÂM LƯỢC VIỆT NAM
2.1.1 Khái ni ệm “phong trào nhân dân”
Phong trào: là khái niệm chỉ “Hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội lôi cuốn được đông đảo quần chúng tham gia” [235, tr 772]
Nhân dân: là “toàn thể cư dân của một nước Nhân dân luôn có tính lịch sử cụ
thể Trong cộng đồng nguyên thủy, nhân dân đồng nghĩa với cư dân Trong xã hội
có đối kháng giai cấp, thành phần của nhân dân thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử Nhân dân không bao hàm giai cấp thống trị thi hành chính sách chống nhân dân Quan điểm lịch sử cụ thể về nhân dân có ý nghĩa quan trọng đối với đảng cộng sản trong việc xác định chủ trương, chính sách, nhằm động viên tất cả mọi lực lượng có
thể tập hợp được trong cuộc đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội” [100, tr 232] Như vậy, có thể hiểu nhân dân là những con người sinh
sống trong một quốc gia, là khái niệm chỉ đông đảo người dân, thuộc mọi tầng lớp trong xã hội, đang sinh sống trong một khu vực nhất định, những con người không
có chức quyền trong cơ quan nhà nước sống trong một quốc gia
Qu ần chúng nhân dân: là bộ phận cùng chung lợi ích căn bản bao gồm các
thành phần, tầng lớp và những giai cấp liên kết lại thành tập thể dưới sự lãnh đạo
của một cá nhân, một tổ chức hay một đảng phái nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội của một thời đại nhất định Quần chúng nhân dân là một
phạm trù lịch sử, vận động, biến đổi theo sự phát triển của lịch sử xã hội
Trong lu ận án này “phong trào nhân dân”: là khái niệm nhằm chỉ những cuộc
vận động của các tầng lớp quần chúng trong xã hội không phân biệt giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, địa vị xã hội, xu hướng chính trị, đảng phái, Họ có thể là người lao động bình thường, các nhà khoa học, người buôn bán, nhà hoạt động chính trị ,
Trang 33đương nhiên không kể đến những người tham gia chính quyền, có tiếng nói đại diện cho chính quyền Nhưng có những trường hợp đặc biệt như Tổng thống De Gaulle
của Pháp, Thủ tướng Olof Palme của Thụy Điển , họ lên tiếng phản đối Mỹ gây chiến tranh ở Việt Nam Luận án đề cập đến sự kiện này không phải đặt những nhân
vật đó trong khái niệm “phong trào nhân dân” mà muốn nêu lên trường hợp tiếng nói của chính quyền phù hợp với quan điểm chung của các tầng lớp nhân dân và có tác động thuận lợi đối với phong trào của nhân dân
2.1.2 B ản chất cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam
Nếu đánh bại được Việt Nam, đế quốc Mỹ vừa thử nghiệm thành công các chiến lược, chiến thuật chiến tranh “chống cộng” trên thế giới, vừa có thể xóa bỏ ảnh hưởng của cách mạng Việt Nam, ngọn cờ tiêu biểu cho ý chí độc lập, tự do của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Ngày 8-8-1954, Hội đồng an ninh quốc gia
Mỹ họp dưới sự chủ trì của Tổng thống Eisenhower “quyết định thay Pháp ngăn làn
thủy triều đỏ của CNCS ở Việt Nam” [32, tr 16] Mục đích của Mỹ: “Biến MNVN thành căn cứ quân sự, ngăn chặn và đe dọa tiến công các lực lượng cách mạng XHCN đang phát triển trong khu vực mà Mỹ cho rằng các lực lượng đó đang đe đọa đến các quyền lợi của Mỹ Xây dựng “con đê” ngăn chặn làn sóng đấu tranh giải phóng dân tộc đang dâng cao ở khu vực Đông Nam Á kể từ sau Chiến tranh thế giới
thứ hai” [32, tr 17] coi đây là nơi thử nghiệm chính sách thực dân mới của Mỹ trên
thế giới Để thực hiện mục tiêu trên, đế quốc Mỹ đặt Việt Nam vào vị trí có mục tiêu chiến lược rộng lớn hơn: “Mỹ vào Nam Việt Nam là để bảo vệ thế giới tự do,
chống lại miền Bắc xâm lược MNVN” [24, tr 138] Vì thế, các chính quyền Mỹ kế
tiếp nhau, từ Eisenhower đến Kennedy, Johnson, Nixon và Ford đều đưa ra những
học thuyết và chiến lược khác nhau để biện minh cho hành động xâm lược của Mỹ
ở Việt Nam như “vì mục đích ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản”, “bảo vệ thế giới tự do”, “bảo đảm hòa bình và quyền dân tộc tự quyết ở Đông Nam Á”, “thực hiện lời cam kết với đồng minh” Có thể nói rằng, trên thế giới Hiệp định Geneva 1954 đã công nhận chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia ở Đông Dương, việc chia cắt hai miền ở Việt Nam theo vĩ tuyến 17 chỉ là tạm thời, hai năm sau - 1956 sẽ
hiệp thương thống nhất đất nước Việc Mỹ can thiệp vào miền Nam, ban đầu là lực
Trang 34lượng cố vấn quân sự, sau đưa quân đội vào miền Nam và tiến công phá hoại miền
Bắc bằng không quân và hải quân, thực chất đó là xâm lược vào một quốc gia độc
lập, có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Trong bối cảnh Trật tự thế giới hai cực, Mỹ nêu mục đích chiến tranh là “ngăn chặn làn sóng cộng sản ở Việt Nam và Đông Nam Á”, nhưng về bản chất đó là cuộc chiến tranh xâm lược do một nước lớn tiến hành (Mỹ) đối với một nước nhỏ (Việt Nam) Do đó, đây là một cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa của Mỹ bị nhân dân thế giới lên án và phản đối
2.1.3 Khái quát c ác giai đoạn quá trình xâm lược Việt Nam của Mỹ
Để hiểu rõ quá trình diễn biến của phong trào nhân dân Tây Âu, xin tóm lược các giai đoạn chính cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam Sau cuộc Chiến tranh thế
giới thứ hai, đế quốc Mỹ hậu thuẫn cho thực dân Pháp quay lại xâm lược Việt Nam Ngày 30-12-1949, Tổng thống Truman đã phê chuẩn một văn kiện của Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ, trong đó nhấn mạnh: “sự cần thiết phải ngăn chặn sự bành trướng
của cộng sản ở Đông Dương bằng sự trợ giúp về chính trị, viện trợ kinh tế và quân
sự” [24, tr 108] Sau khi thực dân Pháp thất trận ở Điện Biên Phủ, Hiệp định Geneva 1954 về Đông Dương được ký kết (20-7-1954), Mỹ tuyên bố không bị ràng
buộc bởi Hiệp định này Tháng 8-1955, Mỹ và Ngô Đình Diệm công khai bác bỏ
tổng tuyển cử để thống nhất nước Việt Nam theo quy định Từ ngày 28-4-1956, Mỹ chính thức thay thế thực dân Pháp, dựng lên chế độ Ngô Đình Diệm, áp đặt chế độ
thực dân mới đối với MNVN Với mục tiêu đề ra, Mỹ đã thực hiện nhiều chiến lược chiến tranh, huy động đến mức cao nhất tiềm lực kinh tế, quân sự, ngoại giao và gây
sức ép, lôi kéo các nước đồng minh tham gia vào cuộc chiến tranh Việt Nam, hòng che đậy bản chất xâm lược phi nghĩa của chính quyền Mỹ
Trước hết, Mỹ thực hiện chiến lược “chiến tranh đơn phương” (dùng viện trợ
và cố vấn Mỹ để thống trị nhân dân miền Nam thông qua bộ máy cai trị tay sai do
Mỹ dựng lên) Tháng 9-1954, Tổng thống Eisenhower tuyên bố muốn: “Đặt MNVN dưới sự bảo hộ của khối xâm lược Đông Nam Á (SEATO) là nhằm ngăn chặn CNCS ở vĩ tuyến 17” [203, tr 180] Ngày 1-10-1954: “Eisenhower gửi thư cho
Diệm cam kết “giúp đỡ” xây dựng MNVN thành một quốc gia mạnh đủ sức chống
lại bạo lực của cộng sản” [101, tr 364] Thời gian từ 1954 đến 1960, Mỹ - Diệm ra
Trang 35sức khủng bố, đàn áp tàn bạo phong trào cách mạng miền Nam, lập các khu “trù
mật”, thực hiện chính sách “tố cộng, diệt cộng”, thi hành Luật số 10/59, vv
Hai là, bị thất bại trong cuộc “chiến tranh đơn phương”, Mỹ chuyển sang thực
hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt” (lực lượng quân ngụy với vũ khí, phương tiện chiến tranh, tiền bạc và sự chỉ huy của Mỹ để tiêu diệt lực lượng quân Giải phóng
và cách mạng miền Nam, duy trì chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam) Đầu năm
1961, Tổng thống Kennedy tuyên bố: “Ngày nay tôi không thể cho phép (!) có một
thất bại như năm 1954 ở Việt Nam nữa” [203, tr 180] Ngày 29-4-1961, Hội đồng
an ninh quốc gia Mỹ nhóm họp đề ra chính sách và những bước tiến hành “chiến tranh đặc biệt” ở MNVN Do vậy, Mỹ đề ra kế hoạch “Staley - Taylo” và kế hoạch
“ấp chiến lược” để bình định miền Nam trong 18 tháng Đồng thời, thành lập Bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở Sài Gòn, đưa hàng chục nghìn cố vấn và nhân viên quân sự Mỹ vào miền Nam, cùng các loại vũ khí, kể cả chất độc hóa học; thành lập “lực lượng đặc biệt”, nhằm đàn áp nhân dân miền Nam, tiêu diệt lực lượng vũ trang của quân
Giải phóng Tuy nhiên, sau cuộc đảo chính “thay ngựa giữa dòng” (1-11-1963) không giúp cho Mỹ - ngụy thoát khỏi tình trạng phá sản của “chiến tranh đặc biệt” Đầu năm 1964, Tổng thống Johnson tuyên bố: “Tôi sẽ làm những gì cần phải làm
để bảo vệ lợi ích của Mỹ ở Việt Nam” [203, tr 180] Đối với miền Bắc, Mỹ tung gián điệp, biệt kích và tiến hành các hoạt động phá hoại Ngày 5-8-1964, Mỹ gây ra
“sự kiện Vịnh Bắc Bộ” để ném bom và bắn phá miền Bắc, mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất Đầu năm 1965, khi Mỹ đẩy cuộc “chiến tranh đặc
biệt” lên đến mức cao nhất, cũng là lúc cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam
có bước phát triển nhảy vọt với chiến thắng Bình Giã, Ba Gia, vv
Ba là, từ năm 1965, Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “chiến tranh cục
bộ” Âm mưu của Mỹ nhằm cứu vãn nguy cơ sụp đổ và củng cố chế độ ngụy quyền Sài Gòn, đẩy cách mạng miền Nam vào thế phòng ngự, tiêu diệt quân Giải phóng, làm suy yếu tiềm lực kháng chiến, chặn đứng sự chi viện của miền Bắc Để thực
hiện mục tiêu trên, ở miền Nam, từ năm 1965, Mỹ ồ ạt đưa hàng chục vạn quân viễn chinh và quân đồng minh vào xâm lược trực tiếp miền Nam Tháng 7-1965, Tổng
thống Johnson tuyên bố: “Sức mạnh ở mặt đất và sức mạnh ở trên không, sức mạnh
Trang 36bất cứ khi nào cần thiết” [203, tr 180] Mỹ đã tập trung một lực lượng lớn quân liên
tiếp mở hai cuộc phản công chiến lược trong mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 Đối với miền Bắc, từ đầu năm 1965, Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân trên quy mô lớn Vì đối với Mỹ, miền Bắc được coi là: “đất thánh của cộng sản”, “nguồn gốc của sự xâm lược ở miền Nam” [101, tr 384] Trong khi tăng cường ném bom miền Bắc và mở rộng chiến tranh ở miền Nam,
Tổng thống Mỹ Johnson lại dùng chiêu bài “thương lượng hòa bình”
B ốn là, sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân dân miền Nam (1968),
Tổng thống Nixon chuyển sang chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” (xuống thang chiến tranh ở miền Bắc, rút dần quân chiến đấu Mỹ ra khỏi miền Nam, dùng người Việt đánh người Việt bằng vũ khí và đôla viện trợ của Mỹ) Đồng thời, buộc
phải nhận cuộc đàm phán ở Hội nghị Paris về Việt Nam Qua đó, Mỹ hy vọng sẽ thoát khỏi sa lầy trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam, rút quân về nước, xây dựng quân ngụy thay thế và tiếp tục duy trì chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Tháng 3-1969, Nixon tuyên bố: “Mỹ đang mắc kẹt trong chiến tranh Việt Nam, Nhưng chúng ta sẽ giữ vững mục tiêu cam kết” [203 tr 180] Đầu năm 1970, Mỹ phát động chiến tranh xâm lược Campuchia và mở rộng chiến tranh ở Đông Dương Như
vậy, mục tiêu cơ bản của Mỹ ở Việt Nam vẫn không thay đổi “Học thuyết Nixon”
và chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” là thủ đoạn mới để đạt mục tiêu đó Về ngoại giao, Nixon và Kissinger tuyên bố “tìm giải pháp hòa bình qua thương lượng”; nhưng thực chất để che đậy “Việt Nam hóa chiến tranh”, dùng thủ đoạn
“ngoại giao trên thế mạnh” buộc Việt Nam phải nhận “hòa bình kiểu Mỹ”
Năm là, sau khi Hiệp định Paris 1973 về Việt Nam được ký kết, quân viễn
chinh Mỹ phải ra khỏi MNVN Tuy nhiên, Mỹ vẫn tiếp tục tiến hành “Việt Nam hóa chiến tranh” bằng việc chỉ huy quân đội, chính quyền Sài Gòn thực hiện kế
hoạch “tràn ngập lãnh thổ” Mỹ - ngụy không chịu trao trả cho Việt Nam hàng chục
vạn tù chính trị, chúng còn tiếp tục bắt giam và bắn giết những người yêu nước Ngày 15-5-1974, Tổng thống Ford vẫn tuyên bố: “Lợi ích quốc tế của Mỹ và sự nghiệp ổn định tình hình trên thế giới đòi hỏi chúng ta phải cung cấp viện trợ quân
sự cho chính quyền Thiệu” [203, tr 180]
Trang 37Nhìn chung, trải qua 5 đời Tổng thống Mỹ (Eisenhower, Kennedy, Johnson, Nixon, Ford), Mỹ đã điều hành 4 kế hoạch chiến lược thực dân mới và tiến hành
cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo ở Việt Nam kéo dài 21 năm (1954-1975) Trong
thời gian này, Mỹ đã 8 lần thay đại sứ (thực chất là “toàn quyền”), 4 lần đổi tướng
tổng tư lệnh quân viễn chinh Mỹ ở MNVN, 20 tướng Mỹ chết và bị thương trên chiến trường Việt Nam Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ được tiến hành bằng tất cả sức mạnh có được (trừ vũ khí hạt nhân) Trong mỗi giai đoạn của
cuộc chiến tranh do đế quốc Mỹ tiến hành, mức độ tàn bạo và quy mô lớn hơn trước, nhưng cuối cùng đã bị sụp đổ sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975
2.2.1 S ự phân hóa hai cực trên thế giới
Sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, sự hình thành Trật tự hai cực Yalta
với hai khối Đông - Tây, mâu thuẫn giữa các nước XHCN do Liên Xô đứng đầu và
khối các nước TBCN do Mỹ đứng đầu ngày càng gay gắt Đặc trưng điển hình của Chiến tranh lạnh là gây tình hình căng thẳng, đe dọa dùng bạo lực, bao vây kinh tế, phá hoại chính trị, đẩy mạnh chạy đua vũ trang và chuẩn bị chiến tranh, thành lập các khối và liên minh xâm lược, tiến hành chiến tranh tâm lý chống cộng Trong đó, đối với cực Mỹ và các nước TBCN, để chống lại “sự đe dọa” của CNCS và Liên Xô,
Mỹ tìm cách lôi kéo và khống chế các nước đồng minh qua những tổ chức kinh tế, chính trị và quân sự Về kinh tế, các nước Tây Âu tham gia “Kế hoạch phục hưng châu Âu” (Kế hoạch Marshall) của Mỹ, từ đó đưa ra yêu cầu và điều kiện ràng buộc các nước về chính trị Về quân sự, Mỹ thành lập Khối hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) Đối với cực Liên Xô, tháng 9-1947, tại Varsawa (Ba Lan) thông qua bản Tuyên bố chung “thành lập Cục thông tin quốc tế” Ngày 8-1-1949, Liên Xô và một
số nước Đông Âu thành lập Hội đồng tương trợ kinh tế của các nước XHCN (khối SEV) và tổ chức khối Hiệp ước quân sự Varsawa (1955) Như vậy, trên thế giới đã
xuất hiện hai hệ thống đối lập giữa các nước XHCN và TBCN Trong thời gian này, Liên Xô thử thành công vũ khí hạt nhân (1949) phá vỡ thế độc quyền của Mỹ, khiến cho cuộc chạy đua vũ trang giữa “hai cực” càng thêm quyết liệt và đối đầu
Trang 38Trong bối cảnh cuộc Chiến tranh lạnh, quan hệ tam giác Mỹ - Liên Xô - Trung
Quốc (1954-1975) có tác động rất lớn tới Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ Trong đó, mâu thuẫn gay gắt giữa Liên Xô và Trung Quốc (hai nước đồng minh lớn của Việt Nam) giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam đang bước vào giai đoạn quyết liệt Những hoạt động ngoại giao xảo quyệt và thỏa thuận
giữa Mỹ với Trung Quốc, Mỹ với Liên Xô liên quan đến cuộc chiến tranh ở Việt Nam; sự phức tạp trong mối quan hệ tam giác Việt Nam - Liên Xô - Trung Quốc Trong bối cảnh khó khăn và đầy thử thách cam go của đất nước, Việt Nam đã phân tích, đánh giá đúng tình hình thế giới, tương quan lực lượng và đứng hẳn về phe XHCN “Việt Nam cũng đã xác định đúng thực lực của mình và vị thế của Việt Nam trên bàn cờ chính trị thời kỳ Chiến tranh lạnh” [171, tr 290] Đồng thời, thực
hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ khôn khéo, biết cân bằng các mối quan hệ,
vị trí địa chính trị Từ đó góp phần hạn chế tối đa những nhân tố bất lợi, vừa tranh
thủ được sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của cả Liên Xô và Trung Quốc, góp phần vào
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam đi đến thắng lợi
Tình trạng phân hóa hai cực trên thế giới còn thể hiện ở sự hình thành hai nhà nước đối lập: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và Đại Hàn dân quốc; Cộng hòa Dân chủ Đức và CHLB Đức Ngoài ra, Mỹ còn thành lập các liên minh quân sự
và đóng quân ở nhiều nơi trên thế giới tạo thành vành đai bao vây các nước XHCN như: Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật, Mỹ - Hàn, Khối quân sự Đông Nam Á (SEATO),
Khối quân sự Trung tâm (CENTO), Khối hiệp ước quân sự ANZUS (bao gồm Ôxtrâylia - Niu Dilân và Mỹ) Đồng thời, Mỹ tiến hành xâm lược vũ trang một số nơi trên thế giới như ở Triều Tiên, Việt Nam
Đối với châu Âu, đây là thời kỳ chia thành hai khối quân sự (khối NATO ở Tây Âu do Mỹ đứng đầu và khối Varsawa ở Đông Âu do Liên Xô đứng đầu) Trong
nội bộ mỗi khối lại có những bất đồng giữa Pháp và Mỹ, giữa Liên Xô và Trung
Quốc Trong khi đó, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc lên cao, Pháp bị sa lầy
ở Đông Dương Để đối phó với tình hình trên, Mỹ đề ra 3 mục tiêu chiến lược toàn
cầu: “Một là, ngăn chặn, đẩy lùi tiến tới tiêu diệt hệ thống XHCN thế giới; Hai là, đàn áp phong trào giải phóng dân tộc, phong trào hòa bình dân chủ thế giới; Ba là,
Trang 39nô dịch các nước tư bản, đồng minh, tập hợp các lực lượng phản động quốc tế đặt dưới sự lãnh đạo của Mỹ” [243, tr 12] Để thực hiện, Mỹ ra sức chạy đua vũ trang
và phát triển vũ khí hạt nhân, lập các khối quân sự, can thiệp thô bạo vào nội bộ các nước, dựng lên chính quyền thân Mỹ, trong đó Việt Nam là một trọng tâm Đầu năm 1961, Kennedy thay Eisenhower làm Tổng thống, chính quyền Mỹ đứng trước
vấn đề toàn cầu phức tạp Trong bối cảnh đó, Tổng thống Kennedy điều chỉnh chiến lược, viện trợ để duy trì các đồng minh của Mỹ, hòa hoãn với Liên Xô để tập trung
áp chế phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới
Nhìn chung, cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam diễn ra trong bối cảnh Trật
tự thế giới mới được thiết lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai Về phía Liên Xô đã đạt được những mục tiêu cơ bản như bảo vệ vững chắc sự tồn tại và phát triển của Liên Xô, mở rộng phạm vi ảnh hưởng ở châu Âu và châu Á Trong khi đó, Mỹ
khống chế Tây Âu, Nhật Bản và chi phối cục diện thế giới Đặc biệt là sự đối đầu
giữa hai cực Xô - Mỹ: “phản ánh hai ý thức hệ đối lập được sử dụng làm cơ sở tư tưởng cho hai cực trong Trật tự thế giới mới sau Chiến tranh thế giới thứ hai - trật tự Yalta; cũng là sự khởi đầu cho mối quan hệ quốc tế mang hình thái Chiến tranh lạnh,
một cuộc chiến tuy không nổ súng, không đổ máu nhưng luôn căng thẳng, gay gắt
nhằm loại trừ lẫn nhau, tiêu diệt nhau”[108, tr 103] và có tác động tiêu cực đến nhiều nơi, xảy ra một số cuộc chiến tranh cục bộ (Triều Tiên, Việt Nam, ), nhưng
đã không xảy ra cuộc chiến tranh thế giới mới
2.2.2 Quan h ệ giữa một số nước Tây Âu với Mỹ về chiến tranh Việt Nam
V ề quan hệ của Mỹ với các nước Tây Âu:sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai
kết thúc, Mỹ nhanh chóng vươn lên trở thành siêu cường thế giới: “Mỹ đóng vai trò
rất quan trọng đối với các nước Tây Âu thông qua hai công cụ chính là Kế hoạch Marshall phục hưng kinh tế và Khối hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO)” [184,
tr 153] Các nước Tây Âu những năm đầu sau chiến tranh như Anh, Pháp, CHLB Đức, Ý, Hà Lan, phải dựa vào viện trợ của Mỹ để khôi phục nền kinh tế: “Cũng vì
thế, tình hình kinh tế và chính trị của các nước Tây Âu đã bị đặt dưới sự thống trị
của Mỹ” [208, tr 300]; “Sự khác biệt lớn nhất so với thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới là vai trò mới của nước Mỹ ở Tây Âu và Nhật Bản” [97, tr 236]
Trang 40Về quân sự, sau khi khối NATO được thành lập (1949), hầu hết các nước tán thành việc Hoa Kỳ tham gia trực tiếp vào những nhóm hoạch định kế hoạch của khu
vực sẽ được hình thành trong NATO Từ nửa sau những năm 1950, khi nền kinh tế được phục hồi, các nước Tây Âu bắt đầu có tốc độ phát triển tăng trưởng cao hơn
Mỹ Quan hệ giữa Hoa Kỳ và các nước Tây Âu cũng dần thay đổi Trong bối cảnh
đó “các nước Tây Âu tập hợp lại nhằm giành lấy vị trí bị Mỹ chiếm giữ từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai”[204, tr 144] Trong đó, nổi lên xu hướng “ly tâm”
khỏi Mỹ do Tổng thống Pháp De Gaulle khởi xướng với tham vọng tập hợp các nước Tây Âu về kinh tế và chính trị, xoa dịu những tình cảm chống Đức trong nhân dân Pháp, tiến tới liên minh với CHLB Đức, hạn chế vai trò của Anh Đồng thời,
vạch ra mục tiêu nhất thể hóa kinh tế và chính trị ở Tây Âu làm tăng cường vị thế
của châu Âu trong quan hệ với Mỹ
Để nhằm bảo vệ lợi ích của mình, Mỹ đã lợi dụng những bất đồng trong nội bộ các nước Tây Âu (bất đồng giữa Pháp và Anh) để khuyến khích Anh gia nhập thị trường chung, giảm bớt thế lực của Pháp Để đối phó với Mỹ, từ năm 1965, Tổng
thống De Gaulle đã mở cuộc tiến công vào hệ thống tiền tệ thế giới (đồng đôla) do
Mỹ khống chế Mỹ chi tiêu quá lớn cho chạy đua vũ trang, thiết lập và duy trì nhiều căn cứ quân sự ở nước ngoài, chi phí cho cuộc chiến tranh xâm lược Triều Tiên,
Việt Nam: “Năm 1957, tổng dự trữ vàng của Mỹ là 28 tỷ USD thì năm 1968 chỉ còn 50%, tức 14 tỷ”[69, tr 202].Mỹ bị sa lầy và suy yếu trong chiến tranh xâm lược
Việt Nam từ cuối những năm 1960, tạo điều kiện cho các nước Tây Âu có cơ hội vươn lên và mở rộng đấu tranh chống lại sự khống chế của Mỹ
Nhìn chung, quan hệ giữa các nước Tây Âu với Mỹ sau Chiến tranh thế giới
thứ hai, cơ bản các nước có nhu cầu nhận viện trợ của Mỹ để phục hồi nền kinh tế:
“công chúng hầu hết tán thành các chính sách này”;“thái độ của người Tây Âu phải nói là đã góp phần tăng cường sự dính líu của Mỹ và nhanh chóng xác định rõ mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và châu Âu”[97, tr 239-240].Quan hệ giữa Mỹ và các nước Tây Âu đã đem lại nhiều ảnh hưởng về chính trị, viện trợ kinh tế cũng đem lại nhiều
lợi ích cho Mỹ Chính quyền Mỹ và đa số chính phủ các nước Tây Âu cũng tìm được lợi ích chung trong việc ngăn chặn ảnh hưởng, chia sẻ nhận định mối “đe dọa”