1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khảo sát việc cung cấp kiến thức ngữ pháp trong các sách tiếng Việt cho người nước ngoài và việc giảng dạy ngữ pháp tiếng Việt cho sinh viên Lào tại trường Hữu Nghị T78

111 88 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 844,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ví dụ: Tiếng Việt cơ sở Vũ Văn Thi chủ biên, Tiếng Việt cơ sở Nguyễn Việt Hương chủ biên, Thực Hành tiếng Việt Đoàn Thiện Thuật chủ biên, Tiếng Việt nâng cao Nguyễn Thiện Nam chủ biên,

Trang 1

TRẦN QUANG LỤC

KHẢO SÁT VIỆC CUNG CẤP KIẾN THỨC NGỮ PHÁP

TRONG CÁC SÁCH DẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

VÀ VIỆC GIẢNG DẠY NGỮ PHÁP TIẾNG VIỆT CHO SINH VIÊN

LÀO TẠI TRƯỜNG HỮU NGHỊ T78

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

TRẦN QUANG LỤC

KHẢO SÁT VIỆC CUNG CẤP KIẾN THỨC NGỮ PHÁP

TRONG CÁC SÁCH DẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

VÀ VIỆC GIẢNG DẠY NGỮ PHÁP TIẾNG VIỆT CHO SINH VIÊN

LÀO TẠI TRƯỜNG HỮU NGHỊ T78

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Học viên

Trần Quang Lục

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN VĂN 8

1.1 Một số cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài 8

1.2 Lý thuyết về câu 12

1.3 Khung năng lực tiếng Việt cho người nước ngoài 16

Chương 2 VIỆC CUNG CẤP HƯ TỪ, CÂU HỎI VÀ CÂU PHỦ ĐỊNH TRONG CÁC GIÁO TRÌNH AT, BT, CT 21

2.1 Khảo sát hư từ, câu hỏi, câu phủ định trong giáo trình thực hành tiếng Việt trình độ A ( GTAT) 21

2.2 So sánh giáo trình AT với khung năng lực tiếng Việt cho người nước ngoài 27

2.3 Về hư từ, câu hỏi, câu phủ định trong giáo trình thực hành tiếng Việt trình độ B (GTBT) 29

2.4 So sánh giáo trình thực hành tiếng Việt trình độ B với khung năng lực tiếng Việt 39

2.5 Việc cung cấp hư từ, câu hỏi, câu phủ định trong giáo trình thực hành tiếng Việt trình độ C (GTCT) 41

Chương 3 VIỆC CUNG CẤP HƯ TỪ, CÂU HỎI , CÂU PHỦ ĐỊNH TRONG GIÁO TRÌNH TIẾNG VIỆT CỦA TRƯỜNG HỮU NGHỊ T78 54

3.1 Về hư từ, câu hỏi, câu phủ định trong giáo trình A78 54

3.2 So sánh việc cung cấp hư từ, câu hỏi, câu phủ định của giáo trình A78 với giáo trình AT 59

3.3 So sánh giáo trình A78 với khung năng lực tiếng việt cho người nước ngoài 63

3.4 Hư từ, câu hỏi , câu phủ định trong giáo trình B78 64

3.5 So sánh giáo trình B78 với giáo trình BT 70

3.6 So sánh giáo trình B78 với khung năng lực tiếng Việt cho người nước ngoài 72

KẾT LUẬN 74

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

PHỤ LỤC 82

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

GTAT Giáo trình thực hành tiếng Việt trình độ A-Đoàn Thiện Thuật GTA78 Giáo trình tiếng Việt cơ sở -trường Hữu nghị T78

GTB78 Giáo trình tiếng Việt nâng cao- trường Hữu nghị T78

GTBT Giáo trình thực hành tiếng Việt trình độ B-Đoàn Thiện Thuật GTCT Giáo trình thực hành tiếng Việt trình độ C-Đoàn Thiện Thuật TTTT Tiểu từ tình thái

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Hư từ trong GTAT 82

Bảng 2.2 Hư từ trong mỗi bài khóa(GTAT) 82

Bảng 2.3 Hư từ mới trong mỗi bài khóa (GTAT) 83

Bảng 2.4 Câu hỏi tổng quát trong giáo trình AT 83

Bảng 2.5.Câu hỏi nghi vấn trong GTAT 84

Bảng 2.6 Câu hỏi có chứa TTTT trong GTAT 85

Bảng 2.7 Câu hỏi lựa chọn trong GTAT 86

Bảng 2.8 Câu phủ định trong quyển I(GTAT) 87

Bảng 2.9 Câu phủ định trong quyển II(GTAT) 87

Bảng 2.9 Hư từ trong GTBT 87

Bảng 2.10 Hư từ trong mỗi bài khóa(GTBT) 88

Bảng 2.11 Hư từ lặp lại của GTAT 88

Bảng 2.11 Hư từ không lặp lại của GTAT 88

Bảng 2.12 Câu hỏi tổng quát trong GTBT 89

Bảng 2.13.Câu hỏi chứa các từ ngữ nghi vấn trong GTBT 89

Bảng 2.14 Câu hỏi có chứa các TTTT (GTBT) 90

Bảng 2.15 Câu hỏi lựa chọn trong GTBT 90

Bảng2.16 Tần số xuất hiện câu phủ định trong GTBT 90

Bảng 2.17 Hư từ trong GTCT 91

Bảng 2.18 Hư từ trong mỗi bài khóa(GTCT) 92

Bảng 2.19 Hư từ lặp lại của GTAT và GTBT 92

Bảng 2.20 Hư từ mới trong GTCT 93

Bảng 2.21 câu hỏi tổng quát trong GTCT 93

Bảng 2.22 Câu hỏi có từ nghi vấn(GTCT) 93

Bảng 2 23 Câu hỏi có chứa TTTT trong GTCT 94

Bảng 2.24.Câu hỏi lựa chọn trong GTCT 94

Trang 7

Bảng 2.25 Câu phủ định GTCT 95

Bảng 3.1 Hư từ trong GTA78 96

Bảng 3.2 Hư từ trong mỗi bài khóa 96

Bảng 3.3 Hư từ mới trong mỗi bài khóa 96

Bảng 3.4 Câu hỏi tổng quát trong GTA78 97

Bảng 3.5.Câu hỏi nghi vấn trong GTA78 97

Bảng 3.6 câu hỏi có chứa TTTT trong giáo trình A78 98

Bảng 3.7.câu hỏi lựa chọn trong giáo trìnhA78 99

Bảng 3.8 Câu phủ định trong GTA78 100

Bảng 3.9 Hư từ trong GTB78 100

Bảng 3.10 Hư từ trong mỗi bài khóa(GTB78) 101

Bảng 3.11 Hư từ lặp lại của GTA78 101

Bảng 3.12 Hư từ không lặp lại của GTA78 101

Bảng 3.13 câu hỏi tổng quát trong GTB78 102

Bảng 3.14 câu hỏi nghi vấn trong GTB78 102

Bảng 3.15 câu hỏi chứa các TTTT trong GTB78 103

Bảng 3.16 Câu hỏi lựa chọn trong GTB78 103

Bảng 3.17 Câu phủ định trong GTB78 104

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công việc dạy và học tiếng Việt cho người nước ngoài đã được bắt đầu từ những năm đầu của thế kỷ XX Việc dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ trong suốt thế kỷ XX phát triển không chỉ ở trong nước mà còn ở cả nước ngoài Cho đến hiện nay, đất nước Việt Nam đang trong thời kỳ hội nhập và phát triển, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, văn hóa Việt Nam đa dạng, phong phú và giàu bản sắc là những lợi thế để Việt Nam trở thành nơi đầu tư, và là địa điểm khám phá du lịch, tìm hiểu của nhiều người trên thế giới Đi cùng với điều

đó, dĩ nhiên tiếng Việt trở thành phương tiện quan trọng để bạn bè quốc tế tiếp cận với mọi mặt đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội Việt Nam, cũng là phương tiện tốt nhất để bà con Việt Kiều hiểu về đất nước, dân tộc, nguồn gốc quê hương của mình Nhu cầu học và dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ ngày càng phát triển mạnh mẽ

Để đáp ứng nhu cầu đó nhiều trung tâm dạy tiếng, nhiều khoa dạy tiếng Việt cho người nước ngoài được mở ra cùng với sự phát triển của các cơ sở sẵn có từ trước Hàng loạt bộ giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài được biên soạn với chất lượng ngày càng nâng cao, phù hợp với nhu cầu thực tế Từ thế kỷ XX và đặc biệt là thời gian gần đây, các bộ giáo trình dạy tiếng Việt được biên soạn ngày càng nhiều cả ở trong và ngoài nước như Pháp, Mỹ, Nhật, Hàn, Trung, Thái, Lào Ví

dụ: Tiếng Việt cơ sở (Vũ Văn Thi chủ biên), Tiếng Việt cơ sở ( Nguyễn Việt Hương chủ biên), Thực Hành tiếng Việt ( Đoàn Thiện Thuật chủ biên), Tiếng Việt nâng cao( Nguyễn Thiện Nam chủ biên), Tiếng Việt cho người Lào Trường Đại học

khoa học Xã hội và Nhân văn đã có khoa dạy tiếng Việt cho người nước ngoài từ rất

sớm và cũng lưu hành nhiều bộ giáo trình khác nhau như: Tiếng Việt trình độ A tập

I, tập II, Thực hành tiếng Việt trình độ B và C ( Đoàn Thiện Thuật chủ biên), Tiếng Việt cơ sở( Nguyễn Văn Phúc chủ biên).Thực hành tiếng Việt ( Nguyễn Việt Hương chủ biên).Tuy nhiên một vấn đề đặt ra là những bộ giáo trình ấy có đảm bảo được

tính khoa học, tính sư phạm hay tính hệ thống không? Không thể phủ nhận những

Trang 9

Để làm được nhiệm vụ đó, chúng tôi thực hiện luận văn: khảo sát việc cung cấp kiến thức ngữ pháp trong các sách tiếng Việt cho người nước ngoài và việc giảng dạy ngữ pháp tiếng Việt cho sinh viên Lào tại trường Hữu Nghị T78

Trong luận văn này, chúng tôi sẽ nghiên cứu về hư từ, câu hỏi, và câu phủ định Vì sao chúng tôi lại nghiên cứu hư từ và câu hỏi, câu phủ định? Bởi vì hư

từ là bộ công cụ ngữ pháp quan trọng đối với tiếng Việt Hư từ có tầm quan trong rất lớn đối với những ngôn ngữ thuộc loại hình phân tích tính như tiếng Việt Phần lớn các quan hệ ngữ pháp đều được thể hiện bằng hư từ Còn câu hỏi

và câu phủ định là hai loại câu phổ biến và được sử dụng nhiều trong các giáo trình tiếng Việt Vì thế trong luận văn này chúng tôi đã chọn hư từ, câu hỏi, câu phủ định làm đối tượng của mình để khảo sát, phân tích và hy vọng sẽ đưa ra được những giải pháp giúp biên soạn được những bộ giáo trình tốt

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Khoa học dạy tiếng nghiên cứu nhiều lĩnh vực như: nghiên cứu về phương pháp giảng dạy, nghiên cứu về mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi nghiên cứu việc cung cấp kiến thức ngữ pháp trong các sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài nhằm góp phần đáp ứng chuẩn đầu ra của khung năng lực tiếng Việt cho người nước ngoài

Trang 10

3

Việc nghiên cứu, cung cấp kiến thức ngữ pháp trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài đã được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước Tuy nhiên vấn đề nghiên cứu ngữ pháp trong các sách dạy tiếng Việt cho đến nay vẫn chưa phải là một vấn đề đã khép kín Dưới đây chúng tôi tóm tắt tình hình nghiên cứu việc cung cấp kiến thức ngữ pháp tiếng Việt dưới các khía cạnh khác nhau

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài báo, nhiều bài viết trong các tạp chí đã bàn luận về vấn đề cung cấp kiến thức ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp trong các giáo trình giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Có thể nói chưa bao giờ vấn đề giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài lại được quan tâm bàn luận nhiều như hiện nay Vấn đề này cần phải có những công trình nghiên cứu khoa học có tầm

vĩ mô

Đã có những nghiên cứu về hư từ rất hữu ích để ứng dụng vào việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Đối với người nước học tiếng Việt, muốn hiểu và sử dụng được ngữ pháp tiếng Việt thì cần phải nắm bắt được hệ thống hư từ trong

tiếng Việt Có thể kể một vài công trình như: Tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt và việc dạy tiểu từ tính thái cuối câu tiếng Việt cho người nước ngoài (Lê Thị Hoài Dương, 2003); Kết từ tiếng Việt trong một số sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài và vấn đề giảng dạy kết từ cho người nước ngoài (Nguyễn Thị Thanh Ngọc, 2004); Bước đầu nhận xét việc thể hiện cách dùng phụ từ trong các sách giáo khoa dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ ( Trần Thị Ánh Tuyết, 2007)

Lại có những công trình đi nghiên cứu về các loại câu trong các giáo trình

tiếng Việt cho người nước ngoài Những công trình tiểu biểu như “ bước đầu khảo sát các cặp thoại hỏi- đáp trong sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài” ( Lê Thu Lan, 2012): “ Khảo sát các biến thể đồng nghĩa câu đơn trần thuật tiếng Việt

và ứng dụng vào giảng dạy cho người nước ngoài”(Vũ Lan Hương,2010) “ khảo sát việc phân bổ và xử lý các cấu trúc cơ bản trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài” ( Bùi Bội Thu, 2011)

Trang 11

2006)

Như ở phần tên đề tài, chúng tôi sẽ đi khảo sát việc cung cấp kiến thức ngữ pháp trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài và việc giảng dạy ngữ pháp tiếng Việt cho sinh viên Lào tại trường hữu nghị T78, nhưng trong phạm

vi một luận văn chúng tôi không thể đi khảo sát tất cả các bộ giáo trình được mà chúng tôi tập trung nghiên cứu và khảo sát việc cung cấp kiến thức ngữ pháp trong hai bộ sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài học tiếng Việt đang hiện hành, đó

là bộ sách của trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn và bộ sách của trường Hữu Nghị T78 Việc xác định nội dung kiến thức ngữ pháp cơ bản dành cho người nước ngoài học tiếng Việt ở mỗi trình độ là một việc rất quan trọng phục vụ cho đối tượng nghiên cứu trên

Bên cạnh đó, việc nghiên cứu và khảo sát việc cung cấp kiến thức ngữ pháp trong các giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài giúp chúng tôi rút ra được những nhận xét và đưa ra những đề xuất cho việc thiết kế việc giảng dạy ngữ pháp trong các giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn này là nghiên cứu, đánh giá việc cung cấp kiến thức ngữ pháp tiếng Việt trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, ở đây chúng tôi sẽ khảo sát đánh giá hư từ, câu hỏi, câu phủ định Từ đó so sánh việc cung cấp kiến thức ngữ pháp giữa một số giáo trình và đối chiếu với khung năng lực xem việc cung cấp đó đã thích hợp chưa và có phù hợp với chuẩn đầu

ra của khung năng lực chưa Qua khảo sát giúp chúng tôi nhận ra được những thiếu sót, bất cập trong việc cung cấp các kiến thức ngữ pháp Và chúng tôi cũng

Trang 12

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

*Những nhiệm vụ chính cần thực hiện trong luận văn này bao gồm:

Khảo sát việc cung cấp kiến thức ngữ pháp trong các giáo trình để xét xem những kiến thức ngữ pháp trong các giáo trình được cung cấp như thế nào? Nhưng kiến thức ngữ pháp thì vô cùng rộng lớn, mà trong khuôn khổ luận văn này chúng tôi không thể làm hết được Trong luận văn này,chúng tôi sẽ khảo sát một số lĩnh vực ngữ pháp nổi bật nhất, trực tiếp nhất, thường xuyên sử dụng nhất trong các giáo trình đó là khảo sát các hư từ, câu hỏi và câu phủ định Sở dĩ chúng tôi chọn khảo sát các lĩnh vực này là vì trong tiếng Việt hư từ là bộ công cụ ngữ pháp quan trọng nhất đối và cùng với trật tự từ để thể hiện quan hệ ngữ pháp trong câu Bên cạnh đó chúng tôi chọn khảo sát hai loại câu là câu nghi vấn và câu phủ định để khảo sát là

vì xét theo mục đích phát ngôn đây là hai loại câu thường xuyên sử dụng nhất

Trên cơ sở tư liệu khảo sát được, chúng tôi sẽ phân tích đánh giá toàn bộ giáo trình xem bộ giáo trình này có đáp ứng với các trình độ theo khung năng lực tiếng Việt cho người nước ngoài chưa

Dựa vào kết quả đã khảo sát để đưa ra những nhận xét về việc xây dựng kiến thức ngữ pháp trong hai bộ giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Đồng thời cũng đưa ra những đề xuất cho việc xậy dựng hệ thống ngữ pháp đáp ứng nhu cầu thực tế của công tác giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Trang 13

6

*Giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài trình độ cơ sở

Thực hành tiếng Việt ( Trình độ A, quyển I,II ) – Đoàn Thiện Thuật (chủ biên), Nxb Thế giới Hà Nội, 2006.(GTAT)

Tiếng Việt cơ sở-sách dành cho lưu học sinh Lào – Đỗ Việt Hùng ( chủ biên), Nxb Lao động Hà Nội, 2010( GTA78)

*Giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài trình độ nâng cao

Thực hành tiếng Việt trình độ B, Đoàn Thiện Thuật ( chủ biên),Nxb Thế giới Hà Nội, tái bản 2005(GTBT)

Tiếng Việt Nâng cao – sách dành cho lưu học sinh Lào học tiếng Việt- Đỗ Việt Hùng ( chủ biên), Nxb Lao Động, 2010 (GTB.78)

Thực hành tiếng Vịêt Trình độ C, Đoàn Thiện Thuật ( chủ biên)

Nxb Thế giới Hà Nội, tái bản 2005(GTCT)

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Một số phương pháp nghiên cứu sử dụng chủ yếu trong luận văn là các thao tác ngôn ngữ học thường gặp như thống kê, nghiên cứu tài liệu, phân tích định tính, phân tích định lượng Cụ thể hơn là chúng tôi sẽ khảo sát trực tiếp trên từng bài khóa của 5 cuốn giáo trình Nhận diện, lập danh sách các hư từ, các câu hỏi, các câu phủ định, sau đó đưa ra các đánh giá định lượng, phân tích định tính Khảo sát hư từ, câu hỏi, câu phủ định mà các giáo trình cung cấp về số lượng, nội dung, chức năng, kiểu loại để phân tích xem có phù hợp với trình độ của giáo trình và của khung năng lực tiếng Việt cho người nước ngoài hay không

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Với việc nghiên cứu việc cung cấp kiến thức ngữ pháp trong các giáo trình tiếng Việt cho người nước, luận văn sẽ cung cấp những lý luận và cơ sở khoa học để các nhà biên soạn giáo trình tiếng Việt có thể dựa vào đây để làm cơ sở biên soạn các giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài Nghiên cứu này cũng

sẽ giúp ích cho công tác giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài ở trong và ngoài nước hiện nay

Trang 14

7

7 Kết cấu của Luận văn

Để phục vụ cho việc nghiên cứu trên, luận văn sẽ được tiến hành như sau: Ngoài phần mở đầu, phụ lục và tài liệu tham khảo luận văn gồm có 3 chương như sau:

Chương 1 Cơ sở lý thuyết của luận văn

Chương 2 Việc cung cấp hư từ, câu hỏi, câu phủ định trong giáo trình

AT, giáo trình BT, giáo trình CT

Chương 3 Việc cung cấp hư từ, câu hỏi, câu phủ định trong giáo trình của trường Hữu Nghị T78

Trang 15

1.1.1 Hư từ trong tiếng Việt

Đối với các ngôn ngữ thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập không biến hình như tiếng Việt, hư từ luôn được nhìn nhận dưới mối quan hệ đối lập với hệ thống thực từ

Hư từ là bộ công cụ ngữ pháp cực kỳ quan trọng trong tiếng Việt Vì thế hư từ là một vấn đề được các nhà nghiên cứu tiếng Việt quan tâm, nhất là những nhà ngữ pháp học Thế nhưng từ trước tới nay có rất nhiều quan niệm về hư từ được thể hiện qua các công trình nghiên cứu đã công bố Tuy nhiên , nhìn chung hầu như các quan điểm đó cũng đều có sự thống nhất về ý nghĩa và chức năng của hư từ

Về ý nghĩa, hư từ được coi là những từ trống về nghĩa từ vựng Còn về chức năng thì hư từ là công cụ thể hiện các quan hệ ngữ pháp, phạm trù ngữ pháp Cụ thể hơn:

Theo Nguyễn Kim Thản trong cuốn Cơ sở ngữ pháp tiếng Việt(1963) cũng cho rằng “hư từ là những từ không có ý nghĩa chân thực, mà chỉ có tác dụng làm công cụ ngữ pháp để chỉ các ý nghĩa ngữ pháp khác nhau của các từ”[31,tr.35]

Quan niệm của Đinh Văn Đức “hư từ là một tập hợp không lớn về số lượng của các từ,hư từ ít tham gia biểu niệm, nó là phương tiện dùng để phân xuất các hình thức tri nhận thành khái niệm và biểu đạt mối quan hệ giữa khái niệm với khái niệm trong tư duy.”[11,tr 23]

“Hư từ trong tiếng Việt hiện đại” là công trình nghiên cứu sâu sắc về hư từ tiếng Việt Qua đây Nguyễn Anh Quế đã chỉ ra và phân tích chi tiết về hư từ Ông cho rằng:

“ Một từ dù theo quan điểm nào cũng là có nghĩa.Khi đứng riêng rẽ, từ có ý nghĩa từ

Trang 16

9

vựng và ý nghĩa ngữ pháp của một từ, là hai mặt không thể thiếu, không thể tách rời ”

[tr.39,45] Tác giả đã đi đến kết luận rằng hư từ cũng có ý nghĩa từ vựng, tuy mờ nhạt hơn thực từ…Nói một cách khác hư từ không mang ý nghĩa tất yếu hay ý nghĩa tự thân

mà chỉ mang ý nghĩa tổ hợp Hư từ không bao giờ làm yếu tố chính, yếu tố trung tâm

mà chỉ làm yếu tố phụ trong đoản ngữ hoặc chỉ dùng nối kết các câu

Có thể thấy rằng, nguyên chỉ về vấn đề định nghĩa hư từ là gì cũng là cả một sự tranh cãi giữa các quan điểm Ở phạm vị luận văn này chúng tôi không di sâu phân tích chứng minh các quan điểm của các tác giả đi trước mà chỉ xem đó là cơ sở để có cái nhìn chung nhất, khách quan nhất về hư từ trong tiếng Việt Như vậy điểm chung nhất ,

cơ bản nhất, trừ những nét tiểu dị thì hư từ là những từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực, dùng để diễn đạt các ý nghĩa ngữ pháp hoặc quan hệ ngữ pháp giữa các thực từ hoặc giữa các bộ phận của câu, hoặc giữa các câu với nhau

1.1.2 Tiêu chí nhận diện hư từ

Tiêu chí nhận diện hư từ được hầu hết được các tác giả đề nghị là dựa vào tổ chức đoản ngữ và dựa vào chức năng của từ để vạch ra sự đối lập thực từ- hư từ Những từ có thể làm thành tố trung tâm của đoản ngữ và có thể làm thành phần câu là thực từ; những từ không có thể làm trung tâm đoản ngữ ,không thể làm thành phần câu

là hư từ Sở dĩ chúng tôi dựa vào quan điểm này vì hướng phân loại này khắc phục được khó khăn trong quan niệm truyền thống về cách xác định ý nghĩa của từ( có ý nghĩa chân thực và không có ý nghĩa chân thực) Ý nghĩa từ vựng của từ- chân thực hay không chân thực- đều bao hàm cả trong phạm vi thực từ và hư từ Điều đó giải thích cho hiện tượng một số hư từ có nguồn gốc từ thực từ mà chúng chưa hoàn toàn mất nghĩa từ vựng-nghĩa là chỉ có ý nghĩa ngữ pháp thuần túy, hoặc hiện tượng “ trống

nghĩa” trong một số thực từ ( như các danh từ sự, cuộc, nỗi, niềm của tiếng Việt ).Về

chức năng thì hư từ được xác định là những từ chuyên dùng kèm với thực từ để bổ sung ý nghĩa cho thực từ , và là những từ chuyên dùng biểu thị các quan hệ tình thái

Như vậy hư từ được nhận diện trong tương quan đối lập với thực từ Những tiêu chí phổ biến có thể tóm tắt lại để coi một từ là hư từ bao gồm:

Không có ý nghĩa từ vựng chân thực, hoặc chỉ có ý nghĩa từ vựng mờ nhạt

Trang 17

10

Không có chức năng định danh

Làm công cụ để biểu đạt những ý nghĩa, phạm trù ngữ pháp nào đó của thực từ ( nói tóm lại là những từ có liên quan đến việc diễn đạt, biểu thị những loại ý nghĩa ngữ pháp)

Ví dụ: Từ “ chẳng” ta không xác định được nó phản ánh sự vật, sự việc hay tính chất gì trong thế giới khách quan, tức là “ chẳng” không có ý nghĩa từ vựng chân thực

“ chẳng” chỉ là công cụ biểu đạt ý nghĩa ngữ pháp, phạm trù ngữ pháp hay ý nghĩa ngữ dụng sau

Dùng để phủ định với nghĩa dứt khoát hơn từ không

+ Em chẳng thích ăn món này đâu

Khi làm kết từ, chẳng tương đương với kẻo/chẳng kẻo

+ Chúng ta đi thôi chẳng muộn

( tr 43, bài 12) 1.1.1.2 Phân loại hư từ

Hư từ đã được nhiều người bàn đến, nhưng nói đến sự phân loại hư từ một cách

có hệ thống thì không phải nhiều tác giả đi sâu vào nghiên cứu tới vấn đề đó Có lẽ do mức độ đòi hỏi của những công trình mà họ nghiên cứu thì họ chỉ nói đến hư từ ở một mức độ nào đó mà thôi Chúng ta có thể dựa vào chức năng hoặc dựa vào vị trí của hư

từ trong câu để phân loại hư từ

Trong các công trình nghiên cứu về hư từ chúng tôi thấy nổi bật lên là quan điểm phân loại hư từ của Nguyễn Anh Quế trong “ hư từ trong tiếng Việt hiện đại” (xem thêm 29) Ở đây tác giả đã phân loại hư từ thành ba nhóm lớn theo tiêu chí về vị trí là: các hư từ chuyên dùng làm thành tố phụ đoản ngữ, các hư từ không làm thành tố phụ đoản ngữ, các hư từ nằm ngoài đoản ngữ- cac hư từ phụ trợ

Bên cạnh đó là quan niệm của Diệp Quang Ban Khác với Nguyễn Anh Quế, Diệp Quang Ban lại dựa vào chức năng của hư từ để phân loại chúng Tuy nhiên các đơn vị từ được Diệp Quang Ban liệt vào danh sách các hư từ cũng giống Nguyễn Anh Quế, chỉ có điều khác về tên gọi Tên gọi cũng quan trọng nhưng điều quan trong làm

Trang 18

Phụ từ: bao gồm định từ và phó từ

Định từ: là những từ biểu thị quan hệ giữa số lượng và sự vật được nêu ở danh

từ, chuyên dùng kèm với danh từ, với chức năng làm thành tố phụ trong kết hợp có trung tâm ngữ nghĩa- ngữ pháp là danh từ ( cụm danh từ) Số lượng định từ tuy không nhiều nhưng chúng có tác dụng dạng thức hóa một số ý nghĩa ngữ pháp quan trọng của

từ loại danh từ Các định từ trong tiếng Việt như: mỗi , một, những ,các, từng , mọi , cái, mấy

Phó từ: là những từ thường dùng kèm với thực từ ( động từ, tính từ) Chúng

biểu thị ý nghĩa về quan niệm giữa quá trình và đặc trưng với thực tại, đồng thời cũng biểu hiện ý nghĩa về cách thức nhận thức và phản ánh các quá trình và đặc trưng thực tại, đồng thời cũng biểu hiện ý nghĩa về cách thức nhận thức và phản ánh các quá trình

và đặc trưng hiện thực Một số phó từ thường gặp như: đã , đang, mới , vừa mới , sắp, luôn , luôn luôn, vẫn, cứ , thột , bỗng nhiên, bất thình lình, thoạt thoắt, nhất định, ắt hẳn, chắc, chắc là, quả là

Kết từ: Về ý nghĩa khái quát, kết từ biểu hiện ý nghĩa về quan hệ giữa các khái

niệm và đối tượng được phản ánh Kết từ là dấu hiệu biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa các thực từ với hư từ một cách tường minh Dựa vào các kiểu ý nghĩa quan hệ ( quan

hệ cú pháp) được thể hiện bằng kết từ Có thể phân chia làm hai loại là kết từ chính phụ

và kết từ đẳng lập

Trang 19

12

Kết từ chính phụ: dùng để kết nối thành tố phụ vào thành tố chính Do đó kết từ

chính phụ thường có xu hướng gắn vào thành tố phụ Chúng ta có thể kể ra một số kết

từ chính phụ phổ biến như : của, bằng , do, vì, tại, bởi, vì, nên, từ, đến, tuy, nhưng, như , tuy/mặc dù/ dù nhưng, nếu/hễ/giá thì, thì/ là/ mà , do/vì/tại/bởi nên/cho nên/mà

Kết từ đẳng lập: dùng để nối kết các từ, các kết hợp từ ( ở bậc cụm từ hay gắn

bó với bất cứ thành tố nào trong một kết hợp có quan hệ đẳng lập Đây là một số kết từ

đẳng lập thương gặp như; và, với , cùng , hay, hoặc, rồi, còn, là, rằng, hình như, thì, cũng, vẫn, cứ thà/thà rằng(không) chứ (không), thà/thà rằng còn hơn

Tiểu từ: là những từ biểu thị ý nghĩa quan hệ giữa chủ thể phát ngôn với nội

dung phản ánh hoặc biểu thị quan hệ giữa phát ngôn với nội dung phản ánh Ý nghĩa quan hệ của tiểu từ là ý nghĩa quan hệ có tính tình thái Tiểu từ gồm:

Trợ từ: dùng trong câu biểu thi ý nghĩa tình thái, bằng cách nhấn mạnh vào từ,

kết hợp từ có nội dung phản ánh liên quan với thực tại mà người nói muốn lưu ý

người nghe Số lượng trợ từ không lớn, điển hình là các trợ từ như: thì , ngay , cả, đúng, đúng là, là , chính đích, chỉ , chỉ là, thực ra, thật ra, thực ra, đến, đên cả, đến nỗi, tự

Tình thái từ: là tiểu từ chuyên dùng biểu thị ý nghĩa tình thái trong quan hệ của

chủ thể phát ngôn với người nghe hay với nội dung phản ánh hoặc ý nghĩa tình thái gắn

với mục đích phát ngôn các tình thái từ tiêu biểu thường gặp như: à, ư , hả , hử , nhé , nhỉ, ô, à, ơi, ối giời ơi, chết thật , bỏ mẹ, ái , chà, chao ôi, ôi dào vâng, dạ, ừ

Qua thống kê trên chúng ta có thể thấy được môt thực tế là trong hư từ tiếng

Việt thì phụ từ và kết từ là hai loại hư từ chiếm một số lượng nhiều hơn tiêủ từ Sở dĩ như vậy là vì phụ từ và kết từ là loại chiếm số lượng rất lớn trong từ loại tiếng Việt

Chức năng và nhiệm vụ của chúng cũng lớn hơn tiểu từ nên chúng luôn chiếm số lượng lớn hơn nhiều so với tiểu từ

1.2 Lý thuyết về câu

Trong quá trình nghiên cứu cú pháp, các tác giả đã đưa ra hàng loạt định nghĩa

về câu và những định nghĩa này đã ít nhiều khái quát được những đặc điểm cơ bản của câu Cụ thể như sau:

Trang 20

13

Từ thế kỷ thứ III, thứ II trước công nguyên, học phái ngữ học Pháp A Lêc Xăng

Dria đã nêu định nghĩa về câu như sau “ câu là sự tổng hợp của các từ biểu thị một tư tưởng trọn vẹn” Benveneste định nghĩa “ câu là đơn vị nhỏ nhất có thể sử dụng vào giao tế”

Quan niệm của Nguyễn Kim Thản “câu là đơn vị ngắn nhất và độc lập của lời nói có chức năng thông báo một sự kiện gì đó, có một tổ chức ngữ pháp nhất định Tính độc lập của câu thể hiện trước hết ở mặt ngữ pháp;nó không phụ thuộc về mặt ngữ pháp vào một yếu tố nào khác trong lời nói; về mặt ngữ điệu, nó có ngữ điệu độc lập, trước

và sau nó có một quãng im lặng( trên chữ viết quãng im lặng ấy thể hiện bằng một trong những dấu mạnh: chấm, chấm than, chấm hỏi)”[ 32,tr15]

Theo tác giả Nguyễn tài cẩn “ câu là một đơn vị ngôn ngữ biểu thị một tư tưởng tương đối trọn vẹn; câu không chỉ phản ánh hiện thực mà còn chứa đựng sự đánh giá hiện thực về phía người nói, câu có những đặc trưng bên ngoài là các tiểu từ tình thái dứt câu và chỗ ngắt câu, câu có đặc trưng bên trong là cấu trúc của nó”[4, tr 40] Theo Trần Trọng Kim “ câu lập thành do một mệnh đề có nghĩa hoàn chỉnh hoặc do hai hay nhiều mệnh đề”

Quan niệm của Hoàng Trọng Phiến “câu là đơn vị ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp bên trong và bên ngoài tự lập và có ngữ điệu kết thúc, mang một tư tưởng tương đối trọn vẹn có kèm thái độ của người nói hoăc chỉ biểu thị thái độ của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm với tư cách là đơn vị thông báo nhỏ nhất”[28,tr 285]

Tác giả đã phân loại câu thành những kiểu câu khác nhau như sau:

Câu phân chia theo cấu tạo ngữ pháp có 2 kiểu loại câu lớn là câu đơn và câu ghép Câu phân loại theo mục đích phát ngôn có những kiểu câu như: câu nghi vấn( câu hỏi),, câu tường thuật( câu kể), câu mệnh lệnh( câu cầu khiến), câu cảm thán ( câu cảm)

Như vậy chúng ta có thể thấy quan niệm của hầu hết các nhà ngữ pháp về câu như sau: câu là đơn vị ngôn ngữ, có cấu tạo ngữ pháp nhất định và dùng để truyền đạt tư tưởng hay để thông báo

Trang 21

14

1.2.1 Câu phủ định

Câu phủ định là một hiện tượng bản thể phổ quát của tất cả các ngôn ngữ trên thế giới Mỗi ngôn ngữ đều có một hệ thống phương thức và phương tiện phong phú để tạo nên câu phủ định Để khảo sát các phương thức cấu tạo và các phương tiện biểu hiện câu phủ định trong các sách giáo trình dạy tiếng cho người nước ngoài, chúng tôi điểm qua một vài ý kiến về câu phủ định tiếng Việt

Trong cuốn “ Ngữ pháp tiếng Việt “ của Uy Ban Khoa học Xã hôi Việt Nam các tác giả đã đưa ra các vấn đề về câu phủ định như: đối với câu tả hay câu luận khi phủ định đều có dùng từ phủ định cấu tạo trong phần thuyết

Tác giả Diệp Quang Ban trong cuốn ngữ pháp tiếng Việt tập 2 đã dành cả một chương để bàn về vấn đề câu phủ định, ông đặc biệt chú ý đến hình thức phủ định đích thực Cũng qua đây tác giả đã phân loại theo hiện tượng ngữ pháp Bên cạnh đó tác giả cũng đưa ra vấn đề về câu phủ định bác bỏ và câu phủ định miêu

Câu phủ định bác bỏ: cho rằng ý kiến của người tham gia giao tiếp khẳng

định, trực tiếp hoặc gián tiếp về một thuộc tính A của sự vật là không đúng và

người nói bác bỏ ý kiến đó [10, trang 28]

Trang 22

chưa biết trong mệnh đề Mỗi câu hỏi lại có giá trị tai lời phát sinh, và đây chính

là công cụ, mục đích của người hỏi

Quan niệm của Hoàng Trọng Phiến “ câu hỏi là một thể câu thuộc phạm trù phân chia câu theo thực tại hóa Nếu câu kể thuộc phạm trù hiện thực thì câu hỏi thuộc phạm trù khả năng cho dù dưới dạng nào, trong nội dung câu hỏi đều làm nổi rõ một ‘ cái không rõ” mà câu trả lời cần hướng đến”[28,tr 342]

Quan niệm của Diệp Quang ban về câu nghi vấn “ câu nghi vấn thường dùng

để nêu lên điều chưa biết hoặc còn hoài nghi và chờ đợi sự trả lời, giải thích của người tiếp nhận câu đó và về hình thức câu nghi vấn cũng có dấu hiệu đặng trưng nhất định” [1, trang 226] Dựa vào phương thức cấu tạo nên câu nghi vấn,

ông cho rằng tiếng Việt có các loại câu hỏi sau:

Câu hỏi sử dụng các đại từ nghi vấn

Câu hỏi sử dụng kết từ hay với ý nghĩa lựa chọn

Câu hỏi sử dụng phụ từ nghi vấn

Câu hỏi sử dụng các tiểu từ chuyên dụng

Dựa vào cấu tạo ngữ pháp các tác giả phân chia ra các hình thức hỏi như: câu hỏi tổng quát, câu hỏi chứa các từ ngữ nghi vấn, câu hỏi chứa các TTTT, câu hỏi lựa chọn Còn theo quan niệm của ngữ dụng học, các tác giả thường chia câu hỏi thành hai loại nhỏ là câu hỏi chính danh và câu hỏi không chính danh Câu hỏi chính danh là một câu hỏi yêu cầu một câu trả lời thông báo về một sự tình hay về một tham tố nào đó của một sự tình được tiền giả định là hiện thực.Câu hỏi không chính danh là câu hỏi không thể hiện hành vi hỏi mà để thực hiện một

số hành vi như: cầu khiến, khẳng định, phủ định, phỏng đoán, nghi ngờ

Trong luận văn này chúng tôi sẽ trộn hai cách phân chia câu hỏi để khảo sát các loại câu hỏi trong các giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài

Trang 23

16

1.3 Khung năng lực tiếng Việt cho người nước ngoài

Thông tư 17/2015/TT-BGDĐT ban hành khung năng lực tiếng Việt dùng cho người nước ngoài có hiệu lực ngày 16/10/2015, do Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành với mục đích giúp người học - người nước ngoài học tiếng Việt sẽ hiểu

và nắm được nội dung, yêu cầu đối với từng trình độ năng lực Tiếng Việt và tự đánh giá năng lực của mình

Khung năng lực là chuẩn đầu ra được xây dựng trên cơ sở một quan niệm chung, một chuẩn chung về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Khung năng lực được xây dựng dựa trên sự tham khảo của khung tham chiếu châu Âu để thiết kế sao cho cấu trúc hình thức và cấu trúc nội dụng của khung năng lực tiếng Việt tương thích với cấu trúc của khung tham chiếu đó nhằm đảm bảo cho sự so sánh đánh giá

Khung năng lực tiếng Việt dùng cho người nước ngoài được dùng để làm căn cứ thống nhất đánh giá năng lực tiếng Việt của người nước ngoài Làm căn

cứ xây dựng chương trình, kế hoạch giảng dạy; biên soạn hoặc lựa chọn học liệu; xây dựng tiêu chí kiểm tra, đánh giá ở từng cấp học và trình độ đào tạo.Làm căn

cứ cho giáo viên, giảng viên lựa chọn và triển khai nội dung, cách thức giảng dạy, kiểm tra, đánh giá nhằm hỗ trợ người học đạt được các yêu cầu của chương trình đào tạo Giúp người học hiểu được nội dung, yêu cầu đối với từng trình độ năng lực tiếng Việt và tự đánh giá năng lực của mình

Việc cung cấp kiến thức ngữ pháp theo khung năng lực cho người nước ngoài được chia làm ba trình độ ( A, B, C) 6 bậc Ngữ liệu cung cấp kiến thức ngữ pháp cho người học theo một chu trình từ dễ đến khó

Trang 24

17

Cung cấp các loại từ cơ bản trong tiếng Việt như: cái , con , tờ, bức , quyển cách kết hợp các số đếm, số thứ tự trong tiếng Việt

Bậc 2

Trình độ cơ sở yêu cầu phải cung cấp các cấu trúc cơ bản để người học

sử dụng được các cấu trúc ngôn ngữ quen thuộc như; cách hỏi và chỉ dẫn đường một cách đơn giản, các mẫu câu hỏi và trả lời về thời gian, thời tiết, các mùa trong năm, các cách nói so sánh, nói về cơ thể , sức khỏe, bệnh tật, biết sử dụng các từ ngữ cơ bản đáp ứng được nhu cầu giao tiếp cụ thể.Hiểu được những đoạn văn bản rất ngắn và đơn giản về các chủ đề đã học như bản thân, gia đình, trường lớp, bạn bè tự giới thiệu bản thân và người khác; trình bày được những thông tin

về bản thân như: nơi sinh sống, người thân/bạn bè và những người khác Có khả năng giao tiếp đơn giản nếu người đối thoại nói chậm, rõ ràng và sẵn sàng hợp tác giúp đỡ

Cung cấp cho người học các câu và cấu trúc ngôn ngữ được sử dụng thường xuyên, liên quan đến nhu cầu giao tiếp cơ bản như: thông tin về gia đình, bản thân, đi mua hàng, hỏi đường, việc làm Có khả năng trao đổi thông tin về những chủ đề đơn giản, quen thuộc hằng ngày, mô tả đơn giản về bản thân, môi trường xung quanh và những vấn đề thuộc nhu cầu thiết yếu

Hiểu được các ý chính của một đoạn văn hay bài phát biểu chuẩn mực, rõ ràng về những chủ đề quen thuộc trong công việc, trường học, giải trí Có khả năng xử lý được hầu hết các tình huống xảy ra khi đến nơi có sử dụng tiếng Việt; viết được đoạn văn đơn giản liên quan đến những chủ đề quen thuộc hoặc cá

Trang 25

18

nhân mình quan tâm; mô tả được những kinh nghiệm, sự kiện, mong muốn, và trình bày ngắn gọn được lý do, giải thích ý kiến và kế hoạch của mình

Bậc 4

Cung cấp các phương tiện liên kết câu, các câu ghép liên hợp, các yếu tố

để danh từ hóa: nỗi , niềm, sự , việc, cuộc và yếu tố động từ hóa Cung cấp các

hệ xã hội, mục đích học thuật và chuyên môn; viết rõ ràng, chặt chẽ, chi tiết về các chủ đề phức tạp, thể hiện khả năng tổ chức văn bản, sử dụng tốt từ ngữ nối câu và các công cụ liên kết trong văn bản

Bậc 6

Dễ dàng hiểu hầu hết các văn bản nói và viết Có khả năng tóm tắt được các nguồn thông tin nói hoặc viết, sắp xếp lại và trình bày lại một cách logic;

Trang 26

có nhiều hư từ đã hình thành từ thực từ , bởi những lý do khác nhau, trong đó , đáng kể và quan trọng nhất là quá trình ngữ pháp hóa; và ngay cả khi đã hình thành hư từ rồi, thì giữa những hư từ này và các thực từ tương ứng thường cũng vẫn còn bảo tồn những mối quan hệ khá rõ nét Dù là như thế nhưng việc lập danh sách vẫn cứ phải làm vì đó như là một thủ tục làm việc

Về lý thuyết của câu tiếng Việt, hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau, cách định nghĩa khác nhau Dựa vào ngữ pháp các nhà nghiên cứu về cú pháp chia câu tiếng Việt ra các loại câu như: câu đơn, câu phức, câu ghép, câu nghi vấn, câu cảm thán, câu tường thuật, câu cầu khiến Dựa vào ngữ dụng câu được các chia ra làm hai loại lớn là: câu hỏi chính danh và câu hỏi không chính danh Để thuận tiện cho quá trình khảo sát, chúng tôi lựa chọn cả hai cách phân

Trang 28

21

Chương 2 VIỆC CUNG CẤP HƯ TỪ, CÂU HỎI VÀ CÂU PHỦ ĐỊNH

TRONG CÁC GIÁO TRÌNH AT, BT, CT

Trên cơ sở khung lý thuyết của ngữ pháp đã nêu ở chương một, trong chương hai,chúng tôi sẽ đi vào khảo sát và đánh giá một số vấn đề ngữ pháp như việc cung cấp hư từ trong các giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài, khảo sát câu hỏi và câu nghi vấn Hai loại câu hỏi và câu nghi vấn là hai loại câu phổ biến nhất, thường xuyên sử dụng nhất, hai loại câu này cần được dạy nhiều Những vấn đề ngữ pháp

mà chúng tôi lựa chọn khảo sát sẽ được khảo sát theo các trình độ của sách và đánh giá theo trình độ.Với những vấn đề đặt ra như vậy sau đây chúng tôi đi vào khảo sát thực tế trong các giáo trình

2.1 Khảo sát hư từ, câu hỏi, câu phủ định trong giáo trình thực hành tiếng Việt trình độ A ( GTAT)

2.1.1 Về hư từ

Hư từ là những từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực, hoặc có ý nghĩa từ vựng mờ nhạt, không có chức năng định danh Hư từ là công cụ để biểu đạt những ý nghĩa, phạm trù ngữ pháp nào đó của thực từ.Căn cứ vào những tiêu chí này , chúng

ta sẽ khảo sát hư từ trong GTAT

2.1.1.1 Kết quả khảo sát

a Số lượng hư từ trong GTAT( xem bảng 2.1 phụ lục)

Giáo trình AT có113 hư từ trong đó có 45 phụ từ, 44 kết từ và 24 tiểu từ Số lượng kết từ và phụ từ có thể thấy là nhiều gấp đôi số lượng tiểu từ Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tế phân loại từ vựng trong tiếng Việt.Trong tiếng Việt kết từ

và phụ từ luôn chiếm số lượng lớn hơn tiểu từ

b Số hư từ trong mỗi bài(xem bảng 2.2 phụ lục)

Giáo trình thực hành tiếng Việt trình độ A (GTAT) có 28 bài ( có 4 bài ôn tập đó là bài 7, bài 14, bài 21, bài 28) Số lượng hư từ trong mỗi bài được cung cấp thể hiện qua số liệu sau:

Trang 29

22

Bài có số lượng hư từ cao nhất là bài 21 có 59 hư từ và bài thấp nhất là bài 1

có 10 hư từ.Trung bình mỗi bài khóa có khoảng 25 đến 30 hư từ Số liệu về hư từ

mà chúng tôi thống kê trong mỗi bài cho thấy số lượng hư từ ở bài sau sẽ có cả những hư từ được lặp lại từ những bài trước đó Theo xu thế chung và cũng là một điều tất yếu thì số lượng hư từ được cung cấp qua mỗi bài được tăng lên về số lượng Nếu lấy cái mốc là bài 1 , bài 10, bài 20 và bài 28 thì ta nhìn rõ số lượng hư

từ tăng lên như sau: bài 1 có 10 hư từ, tương ứng với bài 10 là 32, bài 20 là 40 và bài 28 là 57 hư từ Tuy nhiên nếu đi vào chi tiết thì có thể thấy, không những số lượng hư từ tăng lên không đồng đều mà còn giảm ở một số bài và có thể thấy số lượng hư từ nhiều hay ít phụ thuộc vào nội dung ngữ pháp mà bài đó đảm nhiệm

c.Việc cung cấp hư từ mới qua mỗi bài khóa(xem bảng 23 phụ lục)

Hư từ mới trong mỗi bài có thể được hiểu là những hư từ chưa xuất hiện ở các bài trước đó chứ không chỉ ở bài liền kề

Lượng hư từ cung cấp ở mỗi bài là không đồng đều có bài hư từ mới khá nhiều.Ở bài 2, bài 3 và bài 12 mỗi bài có 10 hư từ Tuy nhiên có những bài lại không có hư từ mới nào, ví dụ bài 9 , bài 22 và bài 27 hoặc chỉ có 01 hư từ mới như bài 5 , bài 11, bài 14 và bài 26

Trong tiếng Việt vai trò của hư từ đặc biệt quan trọng hầu hết các phạm trù ngữ pháp đều được thể hiện qua ý nghĩa và chức năng của hư từ Nếu người nước ngoài học tiếng Việt nếu sử dụng hư từ một cách thành thạo sẽ giúp họ nói được một cách tự nhiên

d.Tần số sử dụng hư từ trong bộ giáo trình

Số liệu mà chúng tôi khảo sát ở bảng cho thấy, tần số xuất hiện của các hư từ không đều nhau, những hư từ phổ biến, cơ bản sẽ có tần số xuất hiện cao so với

những hư từ khác, ví dụ như : là, và, còn, nhưng, đã, đang, sẽ, có , không , còn những hư từ ít phổ biến sẽ có tần số xuất hiện thấp , ví dụ như: đều, tới, cùng với,

Trong bộ giáo trình , những hư từ xuất hiện ở hầu hết các bài khóa và có tần

số xuất hiện cao như: kết từ là có 485 lần xuất hiện, kết từ và( 338 lần), kết từ không( 308 lần), ở ( 261 lần) , của ( 256 lần) , ngược lại những hư từ có tần số xuất

Trang 30

23

hiện rất thấp, xuất hiện không đều đặn ở các bài khóa và đây thường là những tiểu

từ như tình thái từ và trợ từ như ừ, nhé, nhỉ , à, ơi, ôi, a, Vì đây là những hư từ có

tính biểu cảm cao, khó sử dụng Những tiểu từ tình thái và trợ từ được cung cấp ở giáo trình tiếng Việt nâng cao

Những bài đầu tiên của sách, hư từ “ là” có tần số xuất hiện cao Trong bài 1

xuất hiện 39 lần, bài 2 xuất hiện 65 lần, bài 3 là 23 lần, bài 4 lên tới 73 lần và bài 5

là 59 lần Đây là điều bình thường vì ở trình độ A những bài đầu là những bài giới

thiệu về bản thân, tên, tuổi, gia đình nên cấu trúc chủ yếu có dạng Danh từ là Danh

từ Nhưng càng về những bài sau là những hư từ có mức độ khó càng ngày càng tăng với tần số xuất hiện ít Điển hình như các hư từ: cùng với, tới, đúng suốt, vừa mới, mỗi, xong, thậm chí Điều này cũng phù hợp với việc cung cấp từ vựng nói

chung và hư từ nói riêng là những hư từ cơ bản , phổ biến thì được cung cấp trước

và tăng dần độ khó về các bài sau

2.1.2 Về câu hỏi

2.1.2.1 Khái quát về câu hỏi

Câu hỏi hay còn gọi là câu nghi vấn dùng để nêu lên những điều chưa biết hoặc còn nghi ngờ và chờ đợi sự trả lời, giải thích của người tiếp nhận câu đó, dùng

để hỏi về sự tồn tại của một sự vật hoặc đưa ra một giả thiết đã ít nhiều có tính chất khẳng định hoặc nhằm hỏi về một chi tiết trong sự việc hoặc đưa ra những khả năng khác nhau cho người trả lời lựa chọn mà trả lời Câu nghi vấn còn còn được dùng

để khẳng định, để cầu xin, mời mọc hoặc để chào hỏi Ơ giáo trình này câu hỏi xuất hiện 749 lần

2.1.2.2 Kết quả khảo sát

Theo số liệu chúng tôi khảo sát về câu hỏi thì giáo trình thực hành tiếng Việt trình độ A, câu hỏi xuất hiện 749 lần Câu hỏi trong giáo trình này xuất hiện nhiều, cấu trúc hỏi rất phong phú đa dạng Dưới đây chúng tôi sẽ đi vào khảo sát từng loại cấu trúc câu hỏi

2.1.2.3 Câu hỏi chính danh

a Về câu hỏi tổng quát

Trang 31

24

Đây là loại câu hỏi có tính đúng/ sai, có/không, rồi/ chưa Các loại câu hỏi này có sử dụng các cấu trúc như: có không?, có phải không?, có đúng không? đã chưa?, xong chưa?, phải chăng? đã bao giờ chưa? Đây là những câu hỏi

cơ bản,rất cụ thể và dễ sử dụng Ở giáo trình thực hành tiếng Việt trình độ A(GTAT), những câu hỏi dạng này được đưa vào ngay từ những bài đầu Những

bài đầu của giáo trình này thường có chủ đề như: giới thiệu và làm quen, gia đình, thời gian

Số liệu chúng tôi thống kê được về câu hỏi tổng quát trong giáo trình.(xem

bảng 2.4 phụ lục)

Số liệu chúng tôi thống kê được cho thấy câu hỏi dạng tổng quát có xuất hiện rất khá cao, xuất hiện 303 lần/749 lần trong giáo trình, tuy nhiên phân bố không đồng đều trong các bài Bài nhiều nhất là bài 6 và bài 14 với 46 lần xuất hiện Bên cạnh đó nhiều bài không có câu hỏi dạng tổng quát như bài 28, bài 27, bài 8 Câu hỏi tổng quát xuất hiện nhiều cũng hoàn toàn bình thường vì ở giáo trình cơ sở thì câu hỏi dạng tổng quát nên được dạy nhiều Câu hỏi tổng quát là câu hỏi cơ bản rất

cơ thể , mục đích hỏi rất rõ ràng

Ví dụ:

A:Chị là tiếp viên hàng không phải không?

B:Vâng, tôi là tiếp viên hàng không

( tr 27, bài 2)

b Về câu hỏi có từ ngữ nghi vấn

Câu hỏi nghi vấn là câu hỏi có sử dụng các từ ngữ nghi vấn như: gì, nào, sao, như thế nào, bao nhiêu, mấy Trong GTAT câu hỏi này xuất hiện với tần số cao nhất 440 lần/749, cao hơn cả dạng câu hỏi tổng quát Đây là dạng câu hỏi để tìm kiếm thông tin về người và vật, thời gian hay tính chất Câu hỏi này được sử dụng

rất nhiều ở giáo trình tiếng Việt trình độ A(GTAT), tỷ lệ xuất hiện khá đồng đều giữa các bài Bài có tỷ lệ số phiếu cao nhất là bài 8 có 19 lần xuất hiện, bài 13 có tổng số lần xuất hiện là 33 lần, bài 9 xuất hiện 38 lần

Số liệu chúng tôi thống kê về câu hỏi nghi vấn.( xem bảng 2.5 phụ lục)

Trang 32

25

Câu hỏi có từ ngữ nghi vấn xuất hiện đồng đều trong các bài Bình quân mỗi bài xuất hiện khoảng 16 lần Đây là dạng câu hỏi được sử dụng phổ biến hàng ngày

c.Câu hỏi có chứa các tiểu từ tình thái

Dạng câu hỏi này chứa các tiểu từ tình thái như :à, ư, nhỉ, nhé để biểu thị

những thái độ khác nhau của người hỏi Đây là dạng câu hỏi khó đối với sinh viên nước ngoài Số liệu chúng tôi thống kê được cho thấy câu hỏi dạng này có tỷ lệ thấp so với hai loại câu hỏi tổng quát và câu hỏi có chứa các từ ngữ nghi vấn.( 18 lần/ 749)

Số liệu chúng tôi thống kê trong bảng ( xem bảng 2.6 phụ lục)

Các tiểu từ tình thái thường rất đa chức năng, trong đó có chức năng dùng

để tạo câu hỏi Các từ này biểu đạt tình cảm, thái độ của người nói ( băn khoăn,

lo lắng ) Những mẫu câu hỏi mà trong cuộc sống hàng ngày chúng ta sử dụng rất nhiều như “ à”, “ a” “hả”, “hở”, “nhỉ”, “nhé” Câu hỏi này xuất hiện ít cũng

là điều bình thường vì đây là dạng câu hỏi khó, biểu thị tình cảm thái độ của người nói Câu hỏi này sẽ được cung cấp nhiều ở giáo trình nâng cao

d Câu hỏi lựa chọn

Câu hỏi lựa chọn nêu ra hai khả năng để người nghe chọn lựa Trong cấu trúc của loại câu hỏi này có sử dụng các dạng như: A hay B, B hoặc A Câu hỏi dạng này xuất hiện rất thấp, tổng số lần xuất hiện 12 lần Chỉ xuất hiện trong một số bài như bài 5 chỉ có 1 lần xuất hiện, bài 13 có 1 lần xuất hiện, bài xuất hiện nhiều nhất

là bài 22 có 6 lần/749 xuất hiện ( xem bảng 2.7 phụ lục.)

Loại câu hỏi lựa chọn trong GTAT không phải là loại câu hỏi chiếm tỷ lệ cao Thậm chí loại này chiếm tỷ lệ thấp nhất trong các loại câu hỏi Trong nhiều bài loại câu hỏi này không thấy xuất hiện hoặc có xuất hiện nhưng tỷ lệ quá thấp.Trong các bài thì bài 23 xuất hiện cao nhất, 6 lần, bài 19 xuất hiện 2 lần, bài 18 và bài 20 xuất hiện mỗi bài một lần

2.1.2.4 Về câu hỏi không chính danh

Những câu hỏi mang giá trị ngôn trung gián tiếp, nghĩa là trong giao tiếp, những câu hỏi đó không nhằm mục để hỏi mà để thực hiện một số hành vi như: cầu

Trang 33

26

khiến, khẳng định, phán đoán, nghi ngờ v.v thì những câu hỏi đó gọi là câu hỏi không chính danh Kết quả khảo sát trong các giáo trình cho thấy trong giáo trình

AT không có câu hỏi chính danh

Qua số liệu chúng tôi khảo sát trong giáo trình thực hành tiếng Việt trình độ

A (GTAT) cho thấy dạng câu hỏi nghi vấn xuất hiện nhiều nhất, sau đó đến câu hỏi tổng quát Câu hỏi lựa chọn, câu hỏi có chứa các TTTT xuất hiện rất ít Sự phân bố câu hỏi chính danh như vậy là hợp lý với giáo trình Giáo trình thực hành tiếng Việt trình độ A dùng cho đối tượng là những người mới bắt đầu học thì những câu hỏi cơ bản, mục đích hỏi rõ ràng cần được cung cấp nhiều hơn Những bài đầu của giáo

trình là để giới thiệu tên, tuổi, nghề nghiệp, quê quán nên những câu hỏi chính

danh xuất hiện nhiều

2.1.3 Về câu phủ định

Câu phủ định và câu hỏi là hai câu phổ biến và được sử dụng nhiều trong giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài Ở giai đoạn mới bắt đầu học thì các dạng hỏi và phủ định dễ như “ có không, đã chưa” hay dạng phủ định “ không”, chưa” xuất hiện

nhiều Trong tiếng Việt câu phủ định có nhiều hình thức phủ định như: không , không thể, không phải, không đâu, chưa, chẳng, chẳng thể , chẳng bao giờ nếu người nước

ngoài nắm chăc và hiểu được câu phủ định sẽ giao tiếp được tiếng Việt tự nhiên

2.1.3.1 Kết quả khảo sát ( xem bảng2.8 phụ lục)

Trong bộ GTAT có tổng số 28 bài được chia ra làm hai quyển, Quyển I và Quyển II Chúng tôi sẽ thống kê câu phủ định làm hai bảng, mỗi bảng tương ứng với một quyển

Giáo trình thực hành tiếng Việt trình độ A(GTAT) có tổng số 28 bài học, số lượng hội thoai, bài luyện, bài tập trong mỗi bài rất ít Vì vậy sự xuất hiện của các kiểu câu phủ định cũng rất thấp Ở GTAT hình thức phủ định chưa đa dạng , phong

phú, chỉ xuất hiện các hình thức phủ định như: “ không”, “chưa”, “ chẳng”, “ không thể”, “ không phải” Theo số liệu thống kê được tần số xuất hiện câu phủ

định ở các bài là không đồng đều Các bài có tần số xuất hiện cao như bài 24, bài 26 , bài 4, bài 6, bài 19

Trang 34

27

Ở giáo trình AT có tất cả 28 bài trong đó có 4 bài ôn tập là bài 7 , bài 14, bài

21 và bài 28 Hình thức phủ định “ không”, “ chưa” “chẳng” chiếm tỷ lệ cao nhất trong các hình thức phủ định, còn các hình thức phủ định khác như “không phải”, “ không đâu” “ không thể”, “ đừng”, “ chẳng thể” xuất hiện với tỷ lệ rất thấp.Bài có tần số xuất hiện cao nhất là bài 24 với 21 lần tiếp theo là bài 6 với 18 lần xuất hiện, bài 19 với tần số xuất hiện là 15 lần, bài 18 với 14 lần Bài 1 không xuất hiện câu phủ định Bình quân mỗi bài có tần số xuất hiện khoảng 6,9 lần.Qua bảng thống kê

cho thấy hình thức phủ định “ không” xuất hiện cao nhất( xuất hiện 90 lần trong

GTAT)

Giáo trình thực hành tiếng Việt trình độ A các chủ đề phong phú đa dạng, cung cấp lượng từ vựng hơi ít ( khoảng 500 từ), cần bổ sung thêm các chủ đề khó hơi Câu hỏi, câu phủ định của giáo trình phong phú đa dạng tuy nhiên dung lượng câu hỏi hơi ngắn, cần tăng dung lượng câu hỏi

2.2 So sánh giáo trình AT với khung năng lực tiếng Việt cho người nước ngoài

Giáo trình AT có 28 bài, cấu trúc một giáo trình khá đặc biệt, không giống như các giáo trình khác, cấu trúc giáo trình khá đơn giản:

Một phần nhỏ ghi các vấn đề ngữ pháp chính trong bài khóa mà không giải thích

Các bài tập, bài luyện về cả bốn kỹ năng nghe , nói , đọc , viết

Chủ đề bài học rất đa dạng, phong phú về các lĩnh vực đời sống hàng ngày

như chào hỏi, làm quen, hỏi tên, hỏi tuổi, quốc tịch ngôn ngữ tuổi tác v.v .Giáo

trình cung cấp khoảng 500 từ vựng cơ bản về nhiều lĩnh vực của cuộc sống Các chủ đề phù hợp với giáo trình và phủ hợp với khung năng lực tiếng Việt cho người nước ngoài ( trình độ A của khung năng lực tiếng Việt cho người nước ngoài).Tuy nhiên mức cung cấp từ vựng như vậy là hơi ít

Các hiện tượng ngữ pháp phân bố rất đồng đều Tổng cộng có 52 hiện tượng ngữ pháp trong 28 bài, mỗi bài có khoảng 2 đến 3 hiện tượng ngữ pháp

Trang 35

28

Giáo trình cung cấp các hiện tượng ngữ pháp cơ bản nhất giúp người học có

thể giao tiếp bước đầu Đó là các câu hỏi về tên, tuổi, quốc tịch, nghề nghiệp, thời gian và các từ để cấu tạo các mẫu câu quen thuộc , thiết yếu nhất như : xin , nhờ, làm ơn, đây là, kia là, đó là Độ phức tạp của các hiện tượng ngữ pháp này được tăng dần theo từng bài Các câu hỏi khó dần lên như mẫu câu hỏi: đã bao giờ chưa? đã lâu chưa? bao lâu? bao lâu nữa? để cấu tạo câu hỏi về thời gian trong quá khứ, hiện tại và tương lai, cách dùng các từ ngữ chỉ vị trí như: trên /dưới/trong ngoài Câu hỏi nhiều ( 749 lần xuất hiện) chủ yếu là những câu hỏi dễ sử dụng phù

hợp cho người bắt đầu hoc Giáo trình phân biệt cho học viên cách hỏi về thời gian khác nhau

Ví dụ

Chị chờ tôi đã lâu chưa?

Chưa, tôi chờ chị chưa lâu

Rồi, tôi chờ chị lâu rồi

(tr 78, Bài 10 ) Anh sống ở Việt Nam bao lâu rồi?

Tôi sống ở đây 2 năm rồi ( tr 79, bài 10)

Chị sống ở Việt Nam bao lâu nữa?

Tôi sống ở đây khoảng 2 tháng nữa ( tr 79, bài 10)

Các mẫu câu “ nếu thì” “ vì nên” để chỉ điều kiện kết quả hay về

nguyên nhân, kết quả

Ví dụ

Nếu tôi đi du lịch thì tôi sẽ đi ô tô ( tr 25, bài 16)

Vì sao chị không đi du lịch?

Vì tôi đã đi nhiều lần rồi nên tôi không muốn đi nữa

( tr 39, bài 17)

Trang 36

29

Ở những bài cuối có những mẫu câu hỏi có cấu trúc hỏi khó “ khi thì” “ khi vừa mới thì” hay cấu trúc hỏi “ mặc dù .nhưng .vẫn”, “ càng ngày càng” , “ thế nào cũng” đây là những mẫu câu hỏi khó được dạy ở cuối giáo

trình

Ví dụ

Khi Nam tập thể dục thì chị Mai nấu cơm

Khi họ vừa mới ra khỏi nhà thì trời mưa to

Mặc dù trời mưa to, nhưng họ vẫn đi làm

(tr108, bài 25)

Trời càng ngày càng nóng

Bà ấy ngày càng béo

( tr 119, 120, bài 26) Các hiện tượng ngữ pháp sắp xếp như vậy là hợp lý tuy nhiên cần phải bổ sung những chủ đề khó hơn để người học có thể giao tiếp về mọi lĩnh vực của cuộc sống cho phù hợp với trình độ A của khung năng lực

Giáo trình thực hành tiếng Việt trình độ A là giáo trình cho người mới bắt đầu học, về cơ bản giáo trình đã đáp ứng yêu cầu về kiến thức ngữ pháp của bậc học Học viên sau khi học xong biết cách dùng các mẫu câu hỏi và các đại từ nghi

vấn quen thuộc như ai, gì, nào, bao giờ, ở đâu, thế nào, biết cách hỏi và trả lời về

thời gian, thời tiết, các mùa.Biết được cách thức so sánh, cách nói về cơ thể, sức khỏe Biết cách hỏi và trả lời về địa điểm, thời gian, thời tiết , các mùa Giáo trình chú ý luyện cho người học cả bốn kỹ năng nghe, nói , đọc , viết

2.3 Về hư từ, câu hỏi, câu phủ định trong giáo trình thực hành tiếng Việt trình độ B (GTBT)

Giáo trình thực hành tiếng Việt trình độ B có 16 bài, không có bài ôn Đây là giáo trình tiếng Việt nâng cao dành cho các đối tượng người học đã hoàn thành bậc học cơ sở

2.3.1 Hư từ

a Số lượng hư từ trong bộ giáo trình( xem bảng 2.9 phụ lục)

Trang 37

30

Giáo trình Thực hành tiếng Việt trình độ B (GTBT) có 16 bài học, không

có bài ôn tập chúng tôi đã khảo sát và lập thành nhóm trong bảng dưới đây

Theo số liệu chúng tôi khảo sát được trong GTBT có 146 hư từ, trong đó có

66 phụ từ ( chiếm 42,6%), 44 kết từ( chiếm 34%), và 36 tiểu từ ( chiếm 23,4%) Bộ sách tiếng Việt trình độ B có tổng số 16 bài Qua thống kê bộ GTBT cho thấy số lượng phụ từ và kết từ có số lượng nhiều hơn cả, tiểu từ chiếm một phần nhỏ Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với sự phân chia từ vựng trong tiếng Việt Trong tiếng

Việt phụ từ và kết từ luôn nhiều hơn tiểu từ

Ở giáo trình tiếng Việt thực hành B có 59 hư từ được giải thích trong phần ghi chú ngữ pháp trên tổng số 76 hiện tượng ngữ pháp được giải thích ( chiếm 77,6%) Hư từ khó, các khuôn cấu trúc ngữ pháp với hư từ cũng khó hơn như “ tuy nhưng” “ không chỉ mà còn” “càng ngày càng hơn” Các hiện tượng ngữ pháp được phân bố đều trong các bài học ( mỗi bài có từ 4 đến 5 hiện tượng ngữ pháp), tuy nhiên cần đưa thêm các hiện tượng ngữ pháp khó hơn vào trong giáo trình

b Hư từ trong mỗi bài khóa ( xêm bảng 2.10 phụ lục)

Hư từ không đồng đều trong các bài khóa Bài có số lượng hư từ nhiều nhất

là bài 14 với 68 hư từ, thấp nhất là bài 5 với 37 hư từ Những bài có số hư từ cao là các bài 1 ( 51 hư từ), bài 13( 52 hư từ), bài 15 (là 53 hư từ), bài 8 là( 58 hư từ), bài

14 là ( 68 hư từ) Các bài có số lượng hư từ tương đương nhau là các bài 3, bài 6, bai7, bài 9, bài 10, bài 11, bài 12 Bình quân mỗi bài có khoảng 48 đến 50 hư từ

GTBT số lượng hư từ tăng lên như vậy là bình thường bởi lẽ sang bậc nâng cao thì ngữ liệu đưa vào mỗi bài tăng.Nhìn vào bảng ta thấy hư từ tăng lên theo bài.Các hiện tượng ngữ pháp được cung cấp nhiều hơn, độ khó cũng tăng lên

c Tần số xuất hiện hư từ trong bộ GTBT

Tần số xuất hiện của các hư từ trong GTBT không đều nhau, những hư từ

phổ biến có tần số xuất hiện cao, ví dụ hư từ ở, không , là, các, mà, được, của , những hư từ có tần số xuất hiện thấp như: ơ, nổi, chừng, độ, đỡ, ô, tương đối, khá, thôi Những hư từ xuất hiện cao trong giáo trình như hư từ “ ở” xuất hiện 101 lần,

Trang 38

31

hư từ“ không” xuất hiện 93 lần, hư từ“ các” xuất hiện 68 lần, hư từ “mà” xuất hiện

61 lần, hư từ “ sẽ” xuất hiện 57 lần Những hư từ xuất hiện với tần số thấp như hư

từ “nổi” xuất hiện một lần, hư từ “ơ” xuất hiện một lần, hư từ “ khoảng” xuất hiện một lần , hư từ “ ô”, “dạ”, “vâng” mỗi hư từ xuất hiện một lần

Những hư tư có tần số xuất hiện cao trong giáo trình vẫn là các phụ từ và kết

từ Ở trình độ nâng cao thì những hư từ ít phổ biến, khó hơn, tần số xuất hiện ít đi

Việc cung cấp từ vựng nói chung và hư từ nói riêng đều theo nguyên tắc là hư từ dễ phổ biến sẽ cung cấp trước, các hư từ khó sẽ dạy sau

d Hư từ cung cấp lặp lại của GTAT

Hư từ lặp lại của giáo trình AT có nghĩa là những hư từ này đã xuất hiện trong GTAT Chúng tôi thống kê hư từ của GTBT trong bảng dưới đây.( bảng 2.11 phụ lục)

Số lượng hư từ trong giáo trình BT là 150 hư từ Số hư từ lặp lại của GTAT

là 88 hư từ, trong đó có 42 phụ từ bị lặp lại( chiếm 47,7% ), 24 kết từ bị lặp lại ( chiếm 27,3%) và 22 tiểu từ bị lặp lại( chiếm 25% ) Nhìn vào bảng thống kê cho

thấy số hư từ bị lặp lại khá cao.Các hư từ có tần số xuất hiện cao như : kết từ có xuất hiện 102 lần trong bộ giáo trình B, phó từ không xuất hiện 93 lần trong bộ giáo trình B, phó từ các xuất hiện 73 lần, kết từ mà xuất hiện 62 lần trong bộ giáo trình B kết từ của xuất hiện 57 lần, phó từ rất xuất hiện 53 lần,kết từ là có tần số xuất hiện

50 lần, tiểu từ ạ xuất hiện 44 lần kết từ và xuất hiện 30 lần, phó từ đã xuất hiện 32 lần, kết từ mà xuất hiện 30 lần Nhóm hư từ có tần số xuất hiện thấp trong sách trình độ B như :phó từ cũng xuất hiện chỉ có 1 lần duy nhất , tiểu từ nhất là xuất hiện 1 lần, phó từ hơn xuất hiện 4 lần, phó từ sắp xuất hiện 4 lần, kết từ hoặc xuất

hiện 4 lần,kết từ tại xuất hiện 3 lần, phó từ ra xuất hiện 3 lần, phó từ hình như xuất hiện 3 lần trong bộ giáo trình B, phó từ còn xuất hiện 3 lần Qua số liệu thống kê

cũng cho thấy trong số hư từ bị lặp lại của giáo trình AT thì phụ từ và kết từ có 66, tiểu từ chiếm một phần nhỏ 22 từ Giáo trình này hư từ bị lặp lại của giáo trình AT

tương đối nhiều

d Hư từ cung cấp không lặp lại của giáo trình AT

Trang 39

bị lặp lại của GTAT thì phụ từ có 33 từ chiếm 48% số hư từ không bị lặp lại, kết từ

có 12 từ chiếm 16,4% số hư từ không bị lặp lại, tiểu từ có 26 từ chiếm 36% số hư từ không bị lặp lại

Hư từ không lặp lại của giáo trình AT, trung bình mỗi bài khoảng 3,5 hư từ Bài 1 có số hư từ cao nhất là 23 hư từ, bài 13 là 20 hư từ, bài 2 là 18 hư từ, bài 4, bài 15 là 17 hư từ.Bài có số hư từ ít nhất là bài 11 với 10 hư từ

Tần số xuất hiện của các hư từ mới không cao, hư từ xuất hiện cao nhất là hư

từ “ạ” với 37 lần xuất hiện trong giáo trình, “chẳng” xuất hiện 9 lần, “nên” xuất hiện 8 lần, còn lại các hư từ khác xuất hiện khoảng 1 đến 2 lần Điều này hoàn toàn thích hợp vì theo nguyên tắc cung cấp từ vựng trong các giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài thì những hư từ phổ biến thì được dạy trước những hư từ ít phổ biến, khó sẽ dạy sau

2.2.2 Về câu hỏi

Ở GTBT câu hỏi xuất hiện 314 lần, câu hỏi tổng quát xuất hiện cao nhất, 91 lần tuy nhiên các dạng câu hỏi này phân bố không đều trong các bài khóa Câu hỏi tổng quát ở bài 6 xuất hiện 5 lần, bài 12 là 7 lần, bài 13 là 12 lần Nhưng ở bài 2 câu hỏi tổng quát chỉ xuất hiện 2 lần Tiếp đến là câu hỏi nghi vấn xuất hiện 66 lần Câu hỏi nghi vấn xuất hiện không đồng đều ở các bài Bài xuất hiện cao nhất là bài 11 (23 lần), bài ít nhất là bài 12 (3 lần)

Ở giáo trình BT, câu hỏi có chứa các tiểu từ tình thái cũng đã xuất hiện cao ở một số bài như bài 11 xuất hiện 5 lần, bài 7 xuất hiện 16 lần, bài 8 xuất hiện 8 lần, bài 5 xuất hiện 7 lần

Trang 40

33

2.2.2.1 Câu hỏi chính danh

Đây là mẫu câu hỏi cơ bản, mục đích hỏi rõ ràng, dễ sử dụng Dạng câu hỏi này được sử dụng phổ biến trong các giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài từ trình

độ cơ sở đến trình độ nâng cao

a Câu hỏi tổng quát( xem bảng 2.12)

Câu hỏi tổng quát xuất hiện cao 91 lần/ 314 lần, hình thức hỏi phong phú đa dạng Câu hỏi xuất hiện trong tất cả các bài khoá Các hình thức hỏi, phong phú, đa dạng Ngoài các mẫu hỏi thông thường, thì đã xuất hiện những mẫu câu hỏi khó hơn như “ đã bao giờ chưa; đã từng chưa? ”

b Câu hỏi có chứa các từ ngữ nghi vấn ( xem bảng 2.13)

Giáo trình BT xuất hiện nhiều: ( 66 lần/ 314 lần) Số liệu chúng tôi thống kê

được cho thấy câu hỏi có chứa các từ ngữ nghi vấn xuất hiện trong tất cả các bài trong giáo trình và chiếm một tỷ lệ cao Tuy nhiên còn chưa đồng đều giữa các bài

Có bài có tỷ lệ cao như bài bài 11 có 23 phiếu / tổng số 32 phiếu, bài 2 và bài 10, bài 13, bài 15, bài 16 mỗi bài xuất hiện 10 lần Bên cạnh những bài có tỷ lệ rất cao thì có một số bài chiếm tỷ lệ rát nhỏ như bài 6 chỉ xuất hiện 2 lần, bài 12 chỉ chiếm xuất hiện 4 lần

c.Câu hỏi có dùng các TTTT

Câu hỏi chứa các tiểu từ tình thái thường dùng để biểu thị thái độ khác nhau

của người hỏi Trong giao tiếp các câu hỏi này hay được sử dụng xuất hiện 79 lần /

314 lần Chúng tôi đã thống kê ở bảng dưới đây( xem bảng 2.14 phụ lục)

Số liệu thống kê chúng tôi thống kê ở trong bảng cho thấy xuất hiện không đồng đều giữa các giáo trình Các bài có xuất hiện cao như bài 15 xuất hiện 7 lần, bài 7 xuất 16 lần, bài 8 xuất hiện 8 lần, bài 16 xuất hiện 1 lần Ở giáo trình này, câu

hỏi chứa các TTTT rất phong phú đa dạng, có nhiều dạng khác nhau như “ hả, à, nhỉ , nhé ”

d Câu hỏi lựa chọn (xem bảng 2.15 phụ lục)

Số liệu chúng tôi thống kê trong bảng dưới đây( cho thấy loại câu hỏi lựa chọn có xuất hiện rất thấp (5 lần/ 314 lần) và chỉ xuất hiện trong một số bài như

Ngày đăng: 16/11/2019, 11:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Ngữ pháp tiếng Việt.Tiếng -Từ ghép-Đoản ngữ, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt.Tiếng -Từ ghép-Đoản ngữ
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1975
6. Nguyễn Văn Chính (2001), Đôi điều suy nghĩ về các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, Ngữ học trẻ 2001, Tr.200-203 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điều suy nghĩ về các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài
Tác giả: Nguyễn Văn Chính
Năm: 2001
7. Mai Ngọc Chừ (2002), Dạy tiếng Việt với tư cách một ngoại ngữ, Tạp chí Ngôn ngữ số 5, TR.65-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy tiếng Việt với tư cách một ngoại ngữ
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Năm: 2002
8. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu , Hoàng Trọng Phiếu ( 2003), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt,Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
9. Nguyễn Đức Dân (1983), Phủ định và bác bỏ, Tạp chí Ngôn ngữ, số 1, 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phủ định và bác bỏ
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 1983
11. Lê Đông(1985), Ngữ nghĩa ngữ dụng của câu hỏi đáp chính danh, luận án PTS Ngôn ngữ,ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa ngữ dụng của câu hỏi đáp chính danh
Tác giả: Lê Đông
Năm: 1985
13. Phạm Thị Thu Giang ( 2006), Khảo sát một số hiện tượng ngữ pháp thực hành trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài ở bậc cơ sở- khoá luận tốt nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Thị Thu Giang ( 2006), "Khảo sát một số hiện tượng ngữ pháp thực hành trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài ở bậc cơ sở
14. Nguyễn Thiện Giáp (2013), Phân biệt nghĩa của câu và nghĩa của phát ngôn trong dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, Kỉ yếu hội thảo khoa học, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân biệt nghĩa của câu và nghĩa của phát ngôn trong dạy tiếng Việt cho người nước ngoài
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2013
15. Cao Xuân Hạo (1991),Tiếng Việt-Sơ thảo ngữ pháp chức năng, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt-Sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1991
16. Nguyến Thị Lệ Hằng (2011), Khảo sát việc cung cấp vốn từ vựng trong các giáo trình tiếng Việt trình độ A, B- Luận văn thạc sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát việc cung cấp vốn từ vựng trong các giáo trình tiếng Việt trình độ A, B
Tác giả: Nguyến Thị Lệ Hằng
Năm: 2011
17. Lê Thị Hoa (2008), Khảo sát hệ thống bài luyện và bài tập trong một số giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài ở Việt Nam từ năm 1980 đến nay- Luận văn Thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát hệ thống bài luyện và bài tập trong một số giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài ở Việt Nam từ năm 1980 đến nay-
Tác giả: Lê Thị Hoa
Năm: 2008
18. Nguyến Chí Hòa (2013), Giảng dạy tiếng Việt theo cách tiếp cận giao tiếp, Kỉ yếu hội thảo khoa học, Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảng dạy tiếng Việt theo cách tiếp cận giao tiếp
Tác giả: Nguyến Chí Hòa
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 2013
19. Vũ Thị Hòa (2012), Thiết kế bài kiểm tra và đánh giá trình độ TV cho học viên nước ngoài học tiếng Việt trình độ sơ cấp- Luận văn thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài kiểm tra và đánh giá trình độ TV cho học viên nước ngoài học tiếng Việt trình độ sơ cấp
Tác giả: Vũ Thị Hòa
Năm: 2012
20. Nguyễn Văn Huệ (2007) , Vấn đề dạy ngữ pháp tiếng Việt cho người nước ngoài , Kỷ yếu hội thảo khoa học “ Nghiên cứu và giảng dạy Việt Nam học cho người nước ngoài, Nxb đại học Quốc gia, Tr .191-195 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dạy ngữ pháp tiếng Việt cho người nước ngoài , Kỷ yếu hội thảo khoa học “ Nghiên cứu và giảng dạy Việt Nam học cho người nước ngoài
Nhà XB: Nxb đại học Quốc gia
22. Trần Thị Lan (2005), Dạy tiếng Việt cho người nước ngoài theo phương pháp giao tiếp, Ngữ học trẻ, Tr.158-164 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy tiếng Việt cho người nước ngoài theo phương pháp giao tiếp
Tác giả: Trần Thị Lan
Năm: 2005
23. Đào Thanh Lan (1997), Phương pháp dạy và giải thích ý nghĩa các từ ngữ của tiếng Việt cho người nước ngoài, tiếng Việt và việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy và giải thích ý nghĩa các từ ngữ của tiếng Việt cho người nước ngoài, tiếng Việt và việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài
Tác giả: Đào Thanh Lan
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
25. Nguyễn Thiện Nam (2001), Một vài suy nghĩ về khái niệm ngữ pháp trong giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài, Kỷ yêu hội thảo khoa học “ Tiếng Việt và văn hoá Việt Nam”, Tr.148-158 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài suy nghĩ về khái niệm ngữ pháp trong giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài, Kỷ yêu hội thảo khoa học “ Tiếng Việt và văn hoá Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Thiện Nam
Năm: 2001
26. Nguyễn Thiện Nam (1997), Một số vấn đề của phương pháp dạy tiếng Việt và việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội,Tr.173-180 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề của phương pháp dạy tiếng Việt và việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài
Tác giả: Nguyễn Thiện Nam
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
1. Diệp Quang Ban (2004), Ngữ Pháp tiếng Việt, tập 1, Nxb Giáo dục Khác
2. Diệp Quang Ban (2004), Ngữ Pháp tiếng Việt, tập 2, Nxb Giáo dục Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w