Luận văn được nghiên cứu có ý nghĩa trong việc góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và có thể sử dụng để tiếp tục nghiên cứu, tham khảo bởicác giảng viên, học viên, sinh viên chuyên ngành luật trong việc giảng dạy và học tập. Luận văn đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm nhằm nâng cao chất lượng sử lý các vụ án trên thực tế tại địa bàn thành phố Hải Phòng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN PHƯƠNG NAM
Mối quan hệ giữa tội phạm với vi phạm trật tự quản lý kinh tế
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN PHƯƠNG NAM
Mối quan hệ giữa tội phạm với vi phạm trật tự quản lý kinh tế
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)
Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự
Mó số: 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cỏn bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRỊNH QUỐC TOẢN
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài: “Mối quan hệ giữa tội phạm với
vi phạm trật tự quản lý kinh tế (trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng
dẫn của PGS.TS Trịnh Quốc Toản Các kết quả nêu trong luận văn chưa
được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã hoàn thành tất cả các nghĩa
vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Trường Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy, tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét để tôi có thể bảo vệ luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người cam đoan
NGUYỄN PHƯƠNG NAM
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục bảng
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TỘI PHẠM VÀ VI PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ KINH TẾ 7
1.1 Khái niệm trật tự quản lý kinh tế và trách nhiệm của Nhà nước bảo đảm trật tự quản lý kinh tế 7
1.1.1 Khái niệm trật tự quản lý kinh tế 7
1.1.2 Trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm trật tự quản lý kinh tế bằng pháp luật 9
1.2 Tội phạm và vi phạm trật tự quản lý kinh tế 15
1.2.1 Tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế 15
1.2.2 Vi phạm pháp luật về trật tự quản lý kinh tế 18
1.3 Nội dung và hình thức của mối quan hệ giữa tội phạm và vi phạm trật tự quản lý kinh tế 20
1.3.1 Những đặc điểm chung giữa tội phạm và vi phạm trật tự quản lý kinh tế 20
1.3.2 Những đặc điểm riêng giữa tội phạm và vi phạm trật tự quản lý kinh tế 23
1.3.3 Hình thức thể hiện của quan hệ giữa giữa tội phạm với vi phạm trật tự quản lý kinh tế 28
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33
Trang 5CHƯƠNG 2: SỰ THỂ HIỆN MỐI QUAN HỆ GIỮA TỘI PHẠM VỚI
VI PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ KINH TẾ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015; THỰC TIỄN XỬ LÝ CÁC VI PHẠM
VÀ XÉT XỬ CÁC TỘI PHẠM XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN
LÝ KINH KẾ 34
2.1 Tội phạm hóa, phi tội phạm hóa các vi phạm trật tự quản lý kinh tế trong Bộ luật hình sự năm 2015 34
2.1.1 Thực trạng tội phạm hóa (các tội xâm phạm trật tự quản ý kinh tế) 34
2.1.2 Thực trạng phi tội phạm hóa (các vi phạm không được quy định là tội phạm hoặc không còn là tội phạm trong BLHS hiện hành) 43
2.2 Thực tiễn xử lý các hành vi vi phạm trật tự quản lý kinh tế và các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trên địa bàn thành phố Hải Phòng 46
2.2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng 46
2.2.2 Tình hình vi phạm trật tự quản lý kinh tế và thực tiễn xử lý phi hình sự các vi phạm trật tự quản lý kinh tế 48
2.2.3 Tình hình các tội XPTTQLKT và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật hình sự về các tội XPTTQLKT 48
2.3 Những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn xử lý vi phạm và tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trên địa bàn thành phố Hải Phòng và nguyên nhân của chúng 53
2.3.1 Những tồn tại, hạn chế 53
2.3.2 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 55
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 63
CHƯƠNG 3: YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ MỐI QUAN HỆ GIỮA TỘI PHẠM VỚI VI PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ KINH TẾ 64
Trang 63.1 Các yêu cầu nâng cao hiệu quả xử lý mối quan hệ giữa tội
phạm với vi phạm trật tự quản lý kinh tế 64
3.1.1 Yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN 64
3.1.2 Yêu cầu bảo vệ quyền con người, trong đó có quyền tự do kinh doanh 68
3.1.3 Yêu cầu quy định về tội phạm, vi phạm trật tự quản lý kinh tế đồng thời tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động kinh tế năng động, sáng tạo 70
3.1.4 Yêu cầu xử lý hợp lý tội phạm, vi phạm trật tự quản lý kinh tế 71
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý mối quan hệ giữa tội phạm với vi phạm trật tự quản lý kinh tế 71
3.2.1 Giải pháp lập pháp 71
3.2.2 Giải pháp áp dụng pháp luật 74
3.2.3 Giải pháp khác 75
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 76
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 7LHS : Luật Hình sự PHSH : Phi hình sự hóa PLHS : Pháp luật hình sự PTPH : Phi tội phạm hóa TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao TNHS : Trách nhiệm hình sự
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 So sánh số vụ án các tội xâm phạm TTQLKT đã đƣợc
khởi tố điều tra với tổng số vụ án hình sự đƣợc khởi tố
Bảng 2.2 Số liệu truy tố, xét xử các vụ án các tội xâm phạm
Trang 91
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến
mạnh mẽ để trở thành một “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” (khoản 1 Điều 51 Hiến pháp năm 2013) Trong đó, Nhà
nước có sự quản lý vĩ mô về kinh tế và tạo môi trường lành mạnh cho các quan hệ kinh tế phát triển theo đúng định hướng và mục tiêu Cùng với những phát triển vượt bậc, nền kinh tế nước nhà cũng phải đối mặt với những mặt trái như: các hành vi vi phạm trật tự quản lý diễn ra ngày càng nhiều, đặc biệt
là các tội phạm trong lĩnh vực này ngày càng đa dạng, phức tạp và tinh vi Để bảo đảm duy trì trật tự quản lý kinh tế, Nhà nước sử dụng nhiều công cụ, phương thức, trong đó có pháp luật hình sự Bảo vệ sự tồn tại, phát triển của các quan hệ xã hội trong lĩnh vực kinh tế bằng pháp luật hình sự có ý nghĩa to lớn đến sự vững mạnh của toàn bộ nền kinh tế đất nước
Về mặt lý luận, pháp luật hình sự của Nhà nước ta vừa trải qua quá trình sửa đổi, bổ sung mạnh mẽ và sâu rộng nhằm tiếp tục hoàn thiện để kịp thời điều chỉnh những quan hệ mới, phát sinh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng như những biến đổi khách quan của kinh tế - xã hội Trong quá trình đó có hai hoạt động của các nhà xây dựng pháp luật luôn diễn ra song hành, thể hiện mối quan hệ giữa hành vi vi phạm pháp luật với tội phạm XPTTQLKT đó là: cân nhắc đánh giá những hành vi vi phạm trật tự quản lý kinh tế nào đến mức độ nguy hiểm đáng kể để trở thành tội phạm và quy định vào trong BLHS và xác định những hành vi nào tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng mức độ nguy hiểm cho xã hội không đáng kể nên chỉ bị xử lý bằng các pháp luật khác Tuy nhiên, hoạt động này còn chưa thực sự đạt hiệu quả khi
có nhiều hành vi thể hiện tính nguy hiểm rất lớn cho xã hội, gây hậu quả
Trang 102
nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng nhưng chưa được kịp thời quy định trong BLHS là tội phạm để làm căn cứ pháp lý xử lý Ngược lại, một số hành vi không còn mang tính nguy hiểm cho xã hội đến mức đáng kể, không còn phù hợp trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, rất ít xảy ra nhưng lại chưa được nghiên cứu để phi tội phạm hóa
Về mặt thực tiễn, hàng năm của Cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa
án đều nhận định các tội phạm XPTTQLKT xảy ra phổ biến, nghiêm trọng trên các lĩnh vực, các ngành, nhất là những ngành và lĩnh vực trọng điểm nhưng số vụ án bị khởi tố cũng như số lượng bị can, bị cáo mà các cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, truy tố, xét xử chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ Một số hành vi xảy ra phổ biến, chiếm tỷ lệ ngày càng cao với phương thức thủ đoạn thực hiện ngày càng tinh vi, phức tạp, thể hiện tính nguy hiểm cao cho xã hội nhưng lại chưa có chế tài hình sự để xử lý Những biểu hiện này cũng diễn ra
rõ nét trên địa bàn thành phố Hải Phòng, nơi có vị trí địa lý - kinh tế trọng yếu
và nhiều lĩnh vực kinh tế đặc trưng Xuất phát từ thực tiễn xử lý tội phạm trên địa bàn, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa vi phạm pháp luật và tội phạm XPTTQLKT, từ đó góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả đấu tranh, phòng chống tội phạm trên thực tiễn có ý nghĩa cấp thiết về mặt lý luận cũng như thực tiễn
Từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Mối quan hệ giữa tội
phạm với vi phạm trật tự quản lý kinh tế (trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)” làm nội dung nghiên cứu của luận văn
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm vừa qua, đã có không ít các công trình nghiên cứu có liên quan đến nội dung luận văn với nhiều hình thức khác nhau Tiêu biểu có
thể kể đến: Sách chuyên khảo“Các tội XPTTQLKT trong Bộ luật hình sự”
của đồng tác giả Mai Bộ và Nguyễn Văn Duyên, Nxb Thống kê, năm 2002;
Trang 113
Sách chuyên khảo “Tìm hiểu các tội XPTTQLKT” của tác giả Nguyễn Quốc Nhật, Nxb Lao động, năm 2003; Chuyên đề “Các tội XPTTQLKT - Một số
vướng mắc và hướng hoàn thiện” của Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp,
số 9+10, năm 2004; “Pháp luật hình sự về các tội XPTTQLKT” của tác giả
Nguyễn Mai Bộ, Nxb Tư pháp, năm 2006,… Sách tham khảo của Trường Đại học Luật Hà Nội (Nxb Công an nhân dân, năm 1997), trong đó, tác giả Trần
Văn Độ có bài viết “Hoàn thiện các quy định của luật hình sự về các tội
phạm kinh tế trong điều kiện hiện nay” Ngoài ra còn có Đề tài khoa học cấp
cơ sở “Thực tiễn xét xử các vụ án về các tội XPTTQLKT tại Tòa án nhân dân
và một số kiến nghị” do TAND tối cao thực hiện năm 2003
Một số bài viết trên các tạp chí có thể kể đến như: “Một số điểm mới
trong Chương các tội XPTTQLKT của Bộ luật hình sự năm 1999” (Tạp chí
luật học số 2/2000) và “Những nội dung cơ bản trong Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Bộ luật hình sự” (Tạp chí luật học, số 5/2010), đều của tác
giả Đỗ Đức Hồng Hà; tác giả Lê Thị Sơn có các bài viết như: “Một số điểm
mới trong Chương các tội XPTTQLKT của Bộ luật hình sự năm 1999” (Tạp
chí luật học số 2/2000) và “Những nội dung cơ bản trong Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật hình sự” (Tạp chí luật học, số 5/2010); hoặc bài
viết “Các tội XPTTQLKT trong Bộ luật hình sự Việt Nam” (Tạp chí dân chủ
và pháp luật số 6/2000), của tác giả Trần Văn Độ…
Ngoài các công trình nghiên cứu chung về nhóm tội XPTTQLKT như
đã nêu trên thì có những công trình nghiên cứu chuyên sâu về một nhóm hoặc
một tội phạm cụ thể trong nhóm tội phạm này Có thể kể đến như: “Thực
trạng xét xử các vụ án về các tội XPTTQLKT” (Tạp chí TAND số 24/2004)
và “Cần sửa đổi, bổ sung các tội XPTTQLKT cho phù hợp với thực tiễn xét
xử” (Tạp chí TAND, số 02/2009), đều của tác giả Đinh Văn Quế; “Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và vấn đề truy tố đối với các hành vi xâm
Trang 124
phạm quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam” (Tạp chí TAND, số 23/2006), của tác
giả Trần Đại Thắng; “Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về tội
sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm và những vấn đề cần hoàn thiện” (Tạp chí TAND, số 20/2008) của tác giả Nguyễn Văn Trượng;“Mấy ý kiến về vấn đề hình sự hóa các vi phạm liên quan tới hoạt động ngân hàng”
(Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 8/2004), của tác giả Phạm Hồng Hải;“Tội
phạm trong lĩnh vực chứng khoán” (Tạp chí kiểm sát số 20/2006), của tác giả
Hoàng Thị Quỳnh Chi…
Bên cạnh đó còn có một số các công trình có đề cập đến mối quan hệ giữa hành vi vi phạm và tội phạm XPTTQLKT như: Luận án tiến sĩ luật học
“Tội phạm hóa - phi tội phạm hóa, hình sự hóa - phi hình sự hóa những hành
vi XPTTQLKT trong giai đoạn hiện nay tại Việt Nam”, được nghiên cứu sinh
Nguyễn Thị Thu Hương bảo vệ năm 2011, tại trường Đại học Luật Tp Hồ
Chí Minh; Luận án tiến sĩ luật học “Tội phạm hóa các hành vi XPTTQLKT
trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán Việt Nam”, được
nghiên cứu sinh Phan Anh Tuấn thực hiện năm 2013, tại Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
Tuy nhiên các công trình trên mới chỉ dừng lại ở mức phân tích, bình luận về các quy định của BLHS mà chưa làm sâu sắc các đặc điểm và nội dung của mối quan hệ giữa hành vi vi phạm và tội phạm XPTTQLKT
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có mục tiêu nghiên cứu là lý luận về các hành vi vi phạm và tội phạm XPTTQLKT để làm rõ đặc điểm, nội dung mối quan hệ giữa chúng Luận văn cũng nghiên cứu thực tiễn xử lý các tội phạm XPTTQLKT trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu làm rõ những tồn tại, hạn chế và đề xuất, kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật hình
Trang 135
sự bảo vệ trật tự quản lý của Nhà nước ta về kinh tế; đồng thời, luận văn cũng đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết nhóm tội phạm này trên thực tế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn có đối tượng nghiên cứu là:
- Các quan điểm khoa học luật hình sự về tội phạm XPTTQLKT, vấn
đề tội phạm hóa và phi tội phạm hóa trong nhóm tội phạm này;
- Các quy định của BLHS 2015 (SĐ, BS năm 2017) thể hiện hoạt động tội phạm hóa và phi tội phạm hóa các tội phạm XPTTQLKT
- Các vấn đề thực tiễn có liên quan đến việc xử lý nhóm tội phạm này trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Luận văn nghiên cứu các hành vi XPTTQLKT trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong 05 năm trở lại đây (từ năm 2014 đến 2018)
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta thể hiện trong Chính sách hình sự
về đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, tội phạm XPTTQLKT nói riêng; sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, lịch sử, thống kê, so sánh…
6 Ý nghĩa của việc nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu có ý nghĩa trong việc góp phần hoàn thiện cơ
sở lý luận về TNHS đối với các tội XPTTQLKT ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và có thể sử dụng để tiếp tục nghiên cứu, tham khảo bởi các giảng viên, học viên, sinh viên chuyên ngành luật trong việc giảng dạy và học tập
Luận án đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm nhằm nâng cao chất lượng sử lý các vụ án trên thực tế tại địa bàn thành phố Hải Phòng
Trang 146
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa tội phạm và vi
phạm trật tự quản lý kinh tế
Chương 2: Sự thể hiện mối quan hệ giữa tội phạm và vi phạm trật tự
quản lý kinh tế trong Bộ luật hình sự năm 2015; THực tiễn xử lý các vi phạm
và xét xử các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
Chương 3: Yêu cầu, quan điểm và các giải pháp nâng cao hiệu quả xử
lý mối quan hệ giữa tội phạm và vi phạm trật tự quản lý kinh tế
Trang 157
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TỘI PHẠM
VÀ VI PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ KINH TẾ
1.1 Khái niệm trật tự quản lý kinh tế và trách nhiệm của Nhà nước bảo đảm trật tự quản lý kinh tế
1.1.1 Khái niệm trật tự quản lý kinh tế
Theo Từ điển Bách khoa Toàn thư thì “trật tự là tình trạng ổn định, có
thứ bậc trên dưới, trước sau [18] và “trật tự xã hội là trạng thái xã hội có trật tự, kỉ cương trong đó mọi người được sống yên ổn trên cơ sở các quy phạm pháp luật và chuẩn mực đạo đức, pháp lí xác định” [18] Từ hai định
nghĩa trên có thể thấy trật tự là tình trạng có thể được thiết lập bởi nhiều phương thức và trật tự quản lý của Nhà nước được thiết lập thông qua các quy phạm pháp luật nhất định Và như vậy, hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước cũng là một trong những hoạt động nhằm bảo đảm trật tự xã hội
Trật tự quản lý kinh tế là khái niệm thể hiện các đặc điểm sau:
Một là, trật tự quản lý kinh tế được thiết lập bởi chủ thể là Nhà nước
Hoạt động này chủ yếu nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đã đặt ra, trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc
tế Quản lý kinh tế là nội dung cốt lõi của quản lý xã hội nói chung và nó phải gắn chặt với các hoạt động quản lý khác của xã hội Quản lý nhà nước về kinh
tế được thể hiện thông qua các chức năng kinh tế và quản lý kinh tế của Nhà nước [13, tr.21] Theo nghĩa rộng, quản lý Nhà nước về kinh tế được thực hiện qua ba cơ quan hành pháp, lập pháp và tư pháp của Nhà nước Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước về kinh tế được hiểu như hoạt động quản lý kinh
tế có tính chất nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, được điều hành bởi cơ quan hành hành pháp là Chính phủ [9, tr.51]
Trang 168
Hai là, bản chất của trật tự quản lý kinh tế là sự ổn định và hoạt động
theo quy luật của các quan hệ kinh tế nhằm bảo đảm cho các quan hệ này phát triển ổn định và bền vững theo quy luật thị trường Trật tự quản lý kinh
tế không phải chỉ là sự sắp xếp theo thứ tự một cách cơ học mà nó thể hiện các mối quan hệ hài hòa theo quy luật của các chủ thể khi tham gia và quan
hệ kinh tế nhất định Về bản chất, Nhà nước cũng sẽ là một chủ thể tham gia vào các quan hệ này nhưng lại giữ vai trò đặc biệt khi Nhà nước tạo ra những cơ chế nhất định buộc các chủ thể khác phải tuân thủ Tuy nhiên, trật
tự quản lý kinh tế không mang tính chất đóng khung, gò bó bởi các áp đặt của Nhà nước mà những đường lối, chính sách của Nhà nước phải phản ánh được nhu cầu và quy luật kinh tế Nhà nước quản lý điều hành nền kinh tế bằng pháp luật, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ điều tiết trên cơ sở tôn trọng các quy luật thị trường
Ba là, trật tự quản lý kinh tế được Nhà nước thiết lập thông qua việc sử
dụng các quyền lực pháp luật tác động tới các cá nhân, tổ chức tham gia vào các mối quan hệ kinh tế Một trong những công cụ hữu hiệu được Nhà nước
sử dụng để quản lý kinh tế đó là pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng Điều này cũng xuất phát từ tính giai cấp của Nhà nước và đặc trưng thể chế chính trị của mỗi quốc gia Đồng thời, nhận thức này cũng phù hợp với nguyên lý của V.I Lê-nin rút ra khi nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa
kinh tế và chính trị: “Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế Chính trị
không thể không chiếm địa vị hàng đầu so với kinh tế” [17, tr.122, 311-312]
Nhà nước thiết lập trật tự quản lý kinh tế trên cơ sở “tăng cường công tác giám sát, nhất là giám sát thị trường tài chính, chủ động điều tiết, giảm các tác động tiêu cực của thị trường, không phó mặc cho thị trường hoặc can thiệp làm sai lệch các quan hệ thị trường” [6] Như vậy, Nhà nước chỉ quản lý về kinh tế trên tầm vĩ mô, giải quyết những quan hệ vĩ mô liên quan đến toàn bộ
Trang 179
nền kinh tế, mà không can thiệp vào công việc nội bộ của doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm trật tự quản lý kinh tế
như sau: Trật tự quản lý kinh tế là trạng thái ổn định và phát triển của các
quan hệ xã hội trong lĩnh lực kinh tế do Nhà nước định hướng bằng pháp luật trên cơ sở tuân theo các quy luật thị trường
1.1.2 Trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm trật tự quản lý kinh
Thứ nhất, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định, không gặp phải
những biến động xấu, tốc độ tăng trưởng nhanh, tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm từ 9 - 10% Đưa đất nước cơ bản thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu tạo đà mạnh mẽ cho bước phát triển mới vào những năm đầu thế kỷ XXI Tránh những cuộc khủng hoảng thiếu hoặc thừa, lạm phát, duy trì mức lạm phát ở mức một con số Đồng thời tạo việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành phố xuống 5% Để đạt được những điều đó, Nhà nước phải chú trọng: thúc đẩy nhanh chóng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý và năng động Ổn định kinh tế vĩ mô, tích luỹ từ nội bộ kinh tế kìm hãm lạm phát, tích cực huy động các nguồn vốn và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn Tăng nhanh xuất khẩu, giảm nhập siêu và đảm bảo các quan hệ kinh tế quốc tế Tạo lập những điều kiện vững chắc về nhân lực, tài chính và cơ sở vật chất kỹ thuật
Trang 1810
Thứ hai, Nhà nước phải đảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội Nhà nước sữa
chữa những khiếm khuyết của thị trường để thị trường hoạt động có hiệu quả như: hạn chế ảnh hưởng của độc quyền, tình trạng vô chính phủ dẫn đến khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp, ô nhiễm môi trường Cụ thể đối với các tổ chức độc quyền, lợi dụng ưu thế của mình có thể quy định giá cả để thu lợi nhuận và do đó phá vỡ ưu thế cạnh tranh hoàn hảo Vì vậy cần có sự can thiệp của Nhà nước để hạn chế độc quyền, đảm bảo tình trạng hiệu quả của cạnh tranh thị trường Còn đối với những hoạt động tiêu cực bên ngoài cũng dẫn đến không hiệu quả của hoạt động thị trường như ô nhiễm nguồn nước và không khí, khai thác đến cạn kiệt tài nguyên khoáng sản và đòi hỏi Nhà nước phải can thiệp Vì vậy Nhà nước phải sử dụng đến luật pháp để ngăn chặn những tác động tiêu cực đó
Thứ ba, cùng với các mục tiêu trên thì Nhà còn có mục tiêu quan trọng
khác để giúp cho nền kinh tế phát triển lành mạnh đó là giải quyết những vấn
đề nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế Như đã nói cơ chế thị trường là
cơ chế tốt nhất để điều tiết một nền kinh tế có hiệu quả, tuy nhiên cơ chế thị trường có một loạt những khuyết tật vì vậy ở nước ta nền kinh tế do cơ chế thị trường điều tiết phải có sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế nhằm sửa chữa những thất bại của thị trường đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định, hiệu quả và đạt được công bằng xã hội
Để đạt được những mục tiêu nêu trên, Nhà nước ta cần thực hiện đúng
các chức năng, nhiệm vụ chủ yếu trong lĩnh vực quản lý về kinh tế như sau:
Một là, Định ra khuôn khổ pháp luật, đề ra hệ thống pháp lý, trên cơ
sở đó đặt ra những nguyên tắc cơ bản mà các doanh nghiệp và người tiêu dùng trong mọi thành phần kinh tế phải tuân theo Các khung pháp luật đó phải đảm bảo được tính dân chủ sự bình đẳng các cơ may để mọi công dân
có thể tham gia các hoạt động thị trường mà không ai bị ngăn cản Ngoài ra,
Trang 1911
Chính phủ cũng như chính quyền các cấp còn lập nên một hệ thống các quy định chi tiết nhằm tạo nên một môi trường thuận lợi, lành mạnh và tạo nên hành lang an toàn cho sự phát triển có hiệu quả các hoạt động kinh tế xã hội Đối với Việt Nam, do hệ thống hoạt động kinh tế còn đơn sơ, chưa tạo được môi trường kinh doanh lành mạnh nên chức năng này chưa được thực hiện đầy đủ Do đó, chúng ta cần đổi mới việc xây dựng, ban hành và thực thi luật pháp đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế xã hội Đối với Việt Nam, do hệ thống hoạt động kinh tế còn đơn sơ, chưa tạo được môi trường kinh doanh lành mạnh nên chức năng này chưa được thực hiện đầy đủ Do đó, chúng ta cần đổi mới việc xây dựng, ban hành và thực thi luật pháp đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế xã hội theo cơ chế thị trường, bảo đảm tính hệ thống của luật
và các văn bản dưới luật, chú ý đến luật pháp và các thông lệ quốc tế, khẩn trương xây dựng và ban hành hệ thống luật kinh tế, luật bảo vệ môi trường
và phổ cập cho toàn dân
Hai là, ổn định và cải thiện các hoạt động kinh tế Cơ chế thị trường có
thể tạo ra nhiều yếu tố cho nền kinh tế nhưng nó cũng không tránh khỏi chu
kỳ kinh doanh dẫn tới lạm phát, thất nghiệp Nếu Nhà nước buông lỏng cho thị trường vận động thì biến động đó rất rõ, chẳng hạn thời kỳ siêu lạm phát ở Đức năm 20 hay thời đại suy thoái của Mỹ những năm 30 của thế kỷ XX Những kinh nghiệm đó đã giúp chúng ta nhận ra một điều bổ ích rằng Nhà nước XHCN cần phải tìm ra mọi cách để kiểm soát và ngăn chặn những thăng trầm của chu kỳ kinh doanh thông qua các chính sách kinh tế như chính sách tài chính và chính sách tiền tệ để giảm biên độ dao động của chu kỳ kinh doanh, hạn chế thất nghiệp lạm phát Ở nước ta Chính phủ cần hoạt động có hiệu quả, sử dụng chính sách tài chính và chính sách tiền tệ tác động có lợi đến sản lượng, việc làm, thu nhập và giá cả, tạo nên sự phát triển nhịp nhàng, năng động của nền kinh tế
Trang 2012
Ba là, bảo đảm hiệu quả kinh tế Cơ chế thị trường có thể dẫn tới một
số thất bại, làm giảm hiệu quả của sản xuất và tiêu dùng Do đó Nhà nước cần phân bổ tài nguyên và nguồn lực sao cho đảm bảo hiệu quả kinh tế, ngăn chặn những hành động bất chấp luật lệ, những tư tưởng cạnh tranh không lành mạnh, đồng thời có các chính sách và kết hoạch dẫn dắt nền kinh tế để giúp nhà doanh nghiệp lựa chọn sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và phân phối cho ai để sản xuất có hiệu quả cao nhất
Bốn là, bảo đảm công bằng xã hội Phân phối là một khâu không thể
thiếu được của quá trình tái sản xuất Nó nối liền sản xuất với tiêu dùng, phục
vụ và thúc đẩy sản xuất, nó phản ánh quan hệ giữa lợi ích của mỗi thành viên
và lợi ích của toàn xã hội Cơ chế thị trường có thể giúp chúng ta sử dụng có hiệu quả nguồn vốn, vật tư, sức lao động giúp các nhà doanh nghiệp sản xuất những hàng hoá phù hợp với yêu cầu thị trường Nhưng ngay cả trong trường hợp hoàn hảo như người ta mô tả thì nó còn có những hạn chế bởi vì hàng hoá được sản xuất và tiêu thụ theo tiếng gọi của lợi nhuận chứ không phải theo ước nguyện của mọi tầng lớp Do đó trong xã hội sẽ nảy sinh rất nhiều những
sự bất bình đẳng lớn trong nền kinh tế về thu nhập, cơ may…, nhiều nghịch cảnh còn tồn tại Trong những trường hợp này, thị trường vẫn làm đúng chức năng của nó là đặt hàng vào tay người có thể trả tiền nhiều nhất Vì vậy Nhà nước cần có những biện pháp điều tiết để đạt được công bằng xã hội thông qua những chính sách những công cụ pháp luật
Tóm lại, sự quản lý của Nhà nước về kinh tế đóng vai trò quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của một quốc gia Trong mỗi giai đoạn lịch
sử nhất định thì Nhà nước luôn có sự điều chỉnh, thay đổi về chính sách, đường lối trong hoạt động quản lý về kinh tế nhằm đảm bảo phù hợp với khả năng, điều kiện của đất nước và xu thế chung của thế giới Bên cạnh đó để đảm đảm bảo sự ổn định, có trật tự của nền kinh tế thì Nhà nước cũng đặt ra
Trang 2113
những chế tài nghiêm khắc để trừng trị, răn đe những hành vi xâm phạm trật
tự quản lý về kinh tế Tùy theo mức độ của hành vi xâm phạm thì sẽ có những chế tài khác nhau Đối với những hành vi XPTTQLKT có mức độ nguy hiểm
cao thì pháp luật hình sự sẽ điều chỉnh và sẽ bị cho là tội phạm XPTTQLKT
1.1.2.2 Các phương thức để Nhà nước dùng pháp luật để bảo đảm trật
tự quản lý kinh tế
Đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước
ta, trong suốt quá trình hơn 30 năm đổi mới đã sử dụng 5 hệ thống công cụ chủ yếu để quản lý nền kinh tế: (i) Hệ thống pháp luật nhằm tạo ra “luật chơi” cho các chủ thể tham gia vào các quan hệ kinh tế; (ii) Công tác kế hoạch và quy hoạch; (iii) Các chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô; (iv) Sử dụng lực lượng vật chất của Nhà nước để bổ khuyết thị trường; (v) Cung cấp dịch vụ và hàng hoá công cộng; hành chính công; sử dụng các công cụ hỗ trợ [8] Như vậy, việc sử dụng pháp luật để bảo đảm trật tự quản lý kinh tế là một trong những phương thức quan trọng hàng đầu của Nhà nước Pháp luật là công cụ chủ yếu
để nhà nước quản lý về kinh tế Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền, thực hiện sự quản lý của mình đối với xã hội nói chung và nền kinh tế quốc dân nói riêng, chủ yếu bằng pháp luật và theo pháp luật Điều 8 Hiến pháp nước
CHXHCN Việt Nam năm 2013 khẳng định: "Nhà nước được tổ chức và hoạt
động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ"
Xuất phát từ khái niệm pháp luật và khái niệm trật tự quản lý kinh tế,
có thể phát biểu khái niệm pháp luật về bảo đảm trật tự quản lý kinh tế là: Hệ thống các quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và cộng đồng xã hội, do Nhà nước đặt ra, thực thi và bảo vệ nhằm mục tiêu bảo đảm trật tự quản lý kinh tế
Xét về mặt hình thức, pháp luật về bảo đảm trật tự quản lý kinh tế được
Trang 2214
thể hiện dưới dạng các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản áp dụng quy phạm pháp luật Văn bản quy phạm pháp luật gồm: (1) Văn bản do Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành: Hiến pháp, luật, nghị quyết, pháp lệnh, (2) Văn bản do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác ở Trung ương ban hành để thi hành Việt Nam quy phạm pháp luật của Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành: Lệnh, quyết định, chỉ thị, nghị quyết, thông tư, (3) Văn bản do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp ban hành để thi hành các quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và của cơ quan Nhà nước cấp trên Văn bản áp dụng quy phạm pháp luật trong quản lý Nhà nước về kinh tế là những quy phạm pháp luật được ban hành để giải quyết các nhiệm vụ cụ thể đối với đối tượng cụ thể như các quyết định bổ, miễn nhiệm, đề bạt, nâng lương, khen thưởng, kỷ luật, điều động công tác đối với cán bộ công chức Nhà nước
Xét về mặt phạm vi và phương pháp điều chỉnh, pháp luật về bảo đảm trật tự quản lý kinh tế bao gồm pháp luật hình sự, pháp luật hành chính và pháp luật kinh tế với những phương thức và tính chất, mức độ điều chỉnh khác nhau Vai trò bảo vệ trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước bằng các chế tài hình sự được thể hiện qua cách qui định tội phạm và hình phạt áp dụng đối với người có hành vi xâm hại đến trật tự quản lý kinh tế
Đó cũng là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với bất kỳ Nhà nước nào bởi chính sự tồn tại, phát triển của hệ thống những quan hệ
xã hội trong lĩnh vực này có ý nghĩa góp phần quyết định đến sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế đất nước
Do tính chất và đặc điểm của các hành vi XPTTQLKT luôn bị chi phối bởi, biến động bởi chính sách kinh tế theo từng thời kỳ lịch sử của Nhà nước, nên trong giai đoạn đất nước mở cửa nền kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì, tình hình vi phạm trong lĩnh vực kinh tế nói chung, và
Trang 2315
các hành vi XPTTQLKT nói riêng đang tiếp tục diễn biến phức tạp, thủ đoạn ngày càng tinh vi Các hành vi này xảy ra phổ biến, nghiêm trọng trên các lĩnh vực, các ngành, nhất là những ngành và lĩnh vực kinh tế trọng điểm như Ngân hàng, tài chính, quản lý đất đai, chứng khoán Thực tế đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến trật tự quản lý kinh tế của đất nước, là rào cản tới sự ổn định, phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Chế tài hình sự là công cụ sắc bén của Nhà nước trong việc quản lý xã hội, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, giữ vững an ninh chính trị, trật
tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của các tổ chức và của công dân, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Ngoài chế tài hình sự, Nhà nước có xây dựng các chế tài về hành chính
để bảo đảm trật tự quản lý kinh tế Vai trò bảo vệ trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước bằng các chế tài hành chính được thể hiện qua cách qui định các hành vi vi phạm hành chính và các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính áp dụng đối với người có hành vi xâm hại đến trật tự quản lý kinh tế Như vậy, pháp luật hành chính trong bảo đảm trật tự quản lý kinh tế có mức độ ít nghiêm khắc hơn so với pháp luật hình sự Đồng thời, giữa tội phạm và vi phạm trật tự quản lý kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau trong cả quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật với vai trò là công cụ của nhà nước để bảo đảm trật tự quản lý kinh tế
1.2 Tội phạm và vi phạm trật tự quản lý kinh tế
1.2.1 Tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
1.2.1.1 Khái niệm tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
Trong khoa học Luật Hình sự Việt Nam, tội phạm XPTTQLKT được
đề cập dưới góc độ là những hành vi nguy hiểm cho xã hội XPTTQLKT của Nhà nước Còn các tội phạm khác xâm phạm sở hữu, tội phạm về môi trường
Trang 2416
mặc dù cũng gây nguy hiểm đáng kể cho Nhà nước trong các lĩnh vực quản lý kinh tế nói chung nhưng được quy định ở các chương riêng khác Từ đó, đa số các quan điểm đều xác định khách thể loại của tội phạm này chỉ là các quan
hệ xã hội thể hiện trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước ta[1, tr.178-179]
Trong các giáo trình luật hình sự và tội phạm học hiện nay, khái niệm các tội xâm phạm TTQLKT được đề cập đến một cách khá đơn giản và khá thống nhất Các thuật ngữ “trật tự quản lý kinh tế”, “cơ chế quản lý kinh tế”,
“quan hệ quản lý kinh tế” đều gắn với chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước
Một số quan điểm khoa học về khái niệm tội phạm XPTTQLKT có thể tìm thấy như:
Các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế là những hành
vi nguy hiểm cho xã hội xâm hại nền kinh tế quốc dân, gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho lợi ích của nhà nước, của các tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân thông qua hành vi vi phạm các quy định của nhà nước về quản lý nền kinh tế [4, tr.275]
Hoặc cũng có quan điểm cho rằng,
Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế được hiểu là hành
vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình
sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm hại trật tự quản lý kinh
tế của Nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân [5, tr.77]
Như vậy, các khái niệm nêu trên đều thống nhất bản chất của tội phạm XPTTQLKT là các hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến cơ chế của Nhà nước về hoạt động quản lý, vận hành nền kinh tế, gây thiệt hại đáng kể cho nền kinh tế, lợi ích của Nhà nước, các chủ thể kinh tế và nhân dân
Ngoài ra, trong quá trình sửa đổi, bổ sung BLHS 2015 (SĐ, BS 2017)
Trang 2517
thì nhận thức mới về chủ thể của tội phạm đã ghi nhận thêm pháp nhân thương mại cũng có thể thực hiện các hành vi nêu trên Từ những phân tích
trên, có thể phát biểu khái niệm các tội xâm phạm TTQLKT như sau: Các tội
xâm phạm trật tự quản lý kinh tế là các hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện với lỗi cố ý xâm phạm các quy định của Nhà nước trong quản lý kinh tế, xâm phạm cơ chế Nhà nước quản lý, vận hành nền kinh tế, gây thiệt hại đáng kể cho nền kinh tế, lợi ích của Nhà nước, các chủ thể kinh tế và người tiêu dùng
1.2.1.2 Các dấu hiệu pháp lý
- Khách thể củ a tô ̣i pha ̣m
Khách thể của tội phạm trong nhóm tội này này xâm phạm là trâ ̣t tự quản lý kinh tế của nhà nước , được thể hiê ̣n trên nhiều lĩnh vực khác nhau như sản xuất , kinh doanh, lưu thông, quản lý tài chính , tiền tê ̣, … gây ảnh hưởng đến sự ổn đi ̣nh và phát triển kinh tế đất nước
- Mặt khách quan của tội phạm
Hầu hết các tô ̣i pha ̣m xâm pha ̣m trâ ̣t tự quản lý kinh tế có cấu thành
vâ ̣t chất, tức là các tô ̣i được coi là hoàn thành kể từ khi thực hiê ̣n mô ̣t hành vi quy đi ̣nh trong điều luâ ̣t với mô ̣t số lượng , giá trị vật chất cụ thể Tuy nhiên, cũng có những tội cấu thành hình thức , tức là tô ̣i này không cần có hâ ̣u quả xảy ra thì tội phạm đã được coi là hoàn thành
Mô ̣t số tô ̣i có quy đi ̣nh là đã bi ̣ xử pha ̣t hành chính , đã bi ̣ kết án về tô ̣i quy đi ̣nh trong nhóm các tô ̣i xâm pha ̣m trâ ̣t tự quản lý kinh tế chưa được xoá
án tính mà còn vi pha ̣m Mô ̣t trong những d ấu hiê ̣u nêu trê n là dấu hiê ̣u bắt buô ̣c trong cấu thành tô ̣i pha ̣m
Hầu hết các tô ̣i xâm pha ̣m trâ ̣t tự quản lý kinh tế được biểu hiê ̣n
bằng những hành đô ̣ng cu ̣ thể, thể hiê ̣n bằng các thủ đoa ̣n khác n hau khi thực hiê ̣n tô ̣i phạm
Trang 2618
Công cu ̣, phương tiê ̣n, thời gian, đi ̣a điểm… thực hiê ̣n tô ̣i pha ̣m không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm về trật tự quản lý kinh tế , trừ trường hợp luâ ̣t đi ̣nh
- Mặt chủ quan của tô ̣i pha ̣m
Các tội xâm phạm trật tự quả n lý kinh tế được thực hiê ̣n với lỗi cố ý ,
đô ̣ng cơ mu ̣c đích của tô ̣i pha ̣m mang tính vu ̣ lợi Tuy nhiên, đô ̣ng cơ, mục đích tô ̣i phạm không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm , trừ trường hợp điều luâ ̣t quy đi ̣nh cu ̣ thể
- Chủ thể của tội pha ̣m
Nhận thức về chủ thể của các tội phạm nói chung và chủ thể của các tội XPTTQLKT nói riêng đã có sự thay đổi căn bản kể từ lần sửa đổi, bổ sung BLHS 1999 (SĐ, BS 2009) Với quan niệm truyền thống, chủ thể của tội phạm chỉ có thể là cá nhân phạm tội khi họ có đủ năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu điều chỉnh những mối quan hệ phát sinh trong xã hội, chấn chỉnh các hành vi XPTTQLKT được thực hiện bởi các pháp nhân, BLHS 2015 (SĐ, BS 2017) đã quy định pháp nhân thương mại cũng là chủ thể của các tội XPTTQLKT Các điều kiện chịu TNHS của pháp nhân thương mại phạm tội được quy định tại Điều 75 BLHS Những nội dung này sẽ được tác giả phân tích cụ thể tại Chương 2 của luận văn
Dù vậy, với bất cứ dạng chủ thể nào thì cũng đều phải thỏa mãn dấu hiệu về năng lực (điều kiện) chịu TNHS
1.2.2 Vi phạm pháp luật về trật tự quản lý kinh tế
1.2.2.1 Khái niệm vi phạm trật tự quản lý kinh tế
Vi phạm pháp luật về trật tự quản lý kinh tế là một trong những dạng của hành vi vi phạm pháp luật nói chung Dưới góc độ khoa học về lý luận
Nhà nước và pháp luật, “vi phạm pháp luật là hành vi (hành động hoặc không
Trang 2719
hành động) có tính trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại hoặc đe dọa xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ” [15]
Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2 Điều 8 BLHS 2015 (SĐ, BS năm
2017) thì: “Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy
hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác”
Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm
2012 thì: Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện,
vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”
Về bản chất, quy định trên cùng với khái niệm tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS 2015 (SĐ, BS 2017) là cơ sở để xác định hành vi bị coi là vi phạm pháp luật về trật tự quản lý kinh tế Về mặt nội dung, vi phạm pháp luật về trật tự quản lý kinh tế có tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, không nguy hiểm bằng các tội phạm về trật tự quản lý kinh tế được quy định tại Chương XVIII Của BLHS 2015 (SĐ, BS 2017) Về mặt hình thức, vì các hành vi vi phạm pháp luật về trật tự quản lý kinh tế không bị coi
là tội phạm nên không phải chịu TNHS mà chỉ bị xử lý bằng các biện pháp khác, phải chịu những trách nhiệm pháp lý khác Những nội dung này sẽ được tác giả làm rõ hơn tại mục 1.3 của luận văn
Từ những phân tích nêu trên có thể đưa ra khái niệm vi phạm pháp luật
về trật tự quản lý kinh tế như sau: Vi phạm pháp luật về trật tự quản lý kinh tế
là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý kinh tế nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”
Trang 28Hậu quả khách quan của những hành vi này là gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho khách thể được bảo vệ là trật tự quản lý kinh tế được Nhà nước thiết lập Những thiệt hại này có thể biểu hiện bằng mặt vật chất là những mất mát về tài chính, cơ sở vật chất… của Nhà nước hoặc cũng có thể là những thiệt hại về mặt phi vật chất như sự mất ổn định an ninh, trật tự kinh tế,
Ngoài ra, còn có một số dấu hiệu khác thuộc mặt khách quan nhưng công
cụ, phương tiện, thời gian, địa điểm thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về trật
tự quản lý kinh tế Tuy nhiên, đây không phải là những dấu hiệu bắt buộc
- Về mặt chủ quan
Chủ thể thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật về trật tự quản lý kinh
tế phải có lỗi cố ý hoặc vô ý
- Về chủ thể:
Chủ thể thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật về trật tự quản lý kinh
tế phải có năng lực trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật
1.3 Nội dung và hình thức của mối quan hệ giữa tội phạm và vi phạm trật tự quản lý kinh tế
1.3.1 Những đặc điểm chung giữa tội phạm và vi phạm trật tự quản
lý kinh tế
Những đặc điểm chung thuộc mặt khách quan của tội phạm và vi phạm trật tự quản lý kinh tế được thể hiện qua:
Trang 2921
Tính nguy hiểm cho xã hội: Về mặt nội hàm, giữa tội phạm và vi
phạm pháp luật về trật tự quản lý kinh tế có mối quan hệ biện chứng, mật thiết
và không thể tách rời Việc quy định thế nào là tội phạm XPTTQLKT phải dựa trên sự đánh giá về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm trật tự quản lý kinh tế có đến mức nguy hiểm đáng kể cho xã hội và phải quy định trong BLHS không
Theo quy định tại khoản 2 Điều 8 BLHS 2015 (SĐ, BS 2017), các nhà
làm luật sử dụng các khái niệm như “tuy có dấu hiệu của tội phạm”, “tính
chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể” Điều này thể hiện rằng, dấu hiệu
(đặc điểm) đặc trưng nhất thể hiện nội dung mối quan hệ giữa tội phạm và vi phạm trật tự quản lý kinh tế chính là tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi
Mỗi hành vi vi phạm pháp luật nói chung đều gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho xã hội và được thể hiện ra ngoài thế giới khách quan dưới nhiều dạng khác nhau Thước đo để xác định chính xác một hành vi khi nào bị coi là tội phạm và khi nào chỉ bị coi là vi phạm trật tự quản lý kinh tế chính là sự
“đáng kể” hay “không đáng kể” của những thiệt hại mà hành vi đó gây ra
Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm có tính khách quan, không phải là do
ý muốn chủ quan áp đặt của người làm luật Điều đó có nghĩa là khi khẳng định hành vi là hành vi nguy hiểm cho xã hội thì đây chỉ là sự xác nhận thực
tế khách quan đã được nhận thức qua việc đánh giá những tình tiết khác nhau của hành vi hoặc có liên quan đến hành vi Để đánh giá tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, chúng ta cần xem xét những tình tiết như: tính chất, mức độ nguy hiểm, mức độ lỗi, mức độ thiệt hại và một số tình tiết khác có liên quan
Tính chất và mức độ là những tiêu chuẩn (thước đo) để đánh giá sự nguy hiểm nhiều hay ít của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được thể hiện trước tiên bằng việc xác định đối tượng xâm hại của tội phạm - khách thể của tội phạm (quan hệ xã hội
Trang 3022
được luật hình sự bảo vệ) Tội phạm được hệ thống hóa trong Phần các tội phạm của luật hình sự, được chia theo từng chương, mục, theo từng nhóm riêng có cùng đặc điểm về khách thể bị xâm hại Ví dụ: Các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, các tội phạm xâm phạm quyền sở hữu, các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp… Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm có tính chất nghiêm trọng hơn khi tội phạm xâm phạm đến khách thể quan trọng hơn được quy định trong Phần các tội phạm, chẳng hạn tội phạm giết người gây thiệt hại về tính mạng con người có tính chất nguy hiểm (nghiêm trọng) hơn tội phạm trộm cắp tài sản, gây thiệt hại về tài sản
Tính có lỗi: Tiếp theo, lỗi cũng là yếu tố để đánh giá tính chất nguy
hiểm của tội phạm Hình thức lỗi vô ý thể hiện sự thiếu vắng ở người phạm tội nhận thức về tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Lỗi vô ý rõ ràng có tính chất nguy hiểm ít hơn, do vậy tại Phần chung và Phần các tội phạm cũng có những quy định về TNHS (hình phạt) thấp hơn đối với tội
phạm do lỗi vô ý Hình phạt
Mức độ nguy hiểm cho xã hội là tiêu chuẩn (thước đo) tiếp theo của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, được thể hiện bằng lượng (số lượng, khối lượng) của sự thiệt hại Tội phạm gây ra số lượng, khối lượng nguy hại càng lớn thì chứng tỏ mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm càng lớn Ví dụ: Tội phạm có hành vi cố ý gây thương tích cho người khác với tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% có mức độ nguy hiểm ít hơn tội phạm cố ý gây thương tích cho người khác với tỷ lệ thương tật trên 30% hoặc dẫn đến chết người (Điều 134 BLHS)
Ngoài ra, khi đánh giá tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, chúng
ta cần đánh giá các tình tiết khác nhau của hành vi hoặc liên quan đến hành vi phạm tội như: tính có tổ chức, tính côn đồ, tính chất của phương pháp, thủ
Trang 3123
đoạn, công cụ và phương tiện phạm tội, động cơ, mục đích của người có hành
vi phạm tội, nhân thân của người phạm tội và hoàn cảnh chính trị - xã hội tại thời điểm xảy ra hành vi phạm tội
Riêng đối với nhóm tội XPTTQLKT, những tình tiết được sử dụng để làm ranh giới phân biệt với vi phạm trật tự quản lý kinh tế, hay nói cách khác, những tình tiết thể hiện mối quan hệ giữa tội phạm và vi phạm trật tự quản lý kinh tế về mặt nội dung bao gồm:
1.3.2 Những đặc điểm riêng giữa tội phạm và vi phạm trật tự quản lý kinh tế
1.3.2.1 Tính chất của đối tượng tác động thuộc khách thể của tội phạm
Nghiên cứu chương các tội XPTTQLKT trong các BLHS qua các thời
kỳ có thể nhận thấy một số nét nổi bật trong đối tượng tác động của các tội phạm này như sau:
- Thứ nhất, đối tượng tác động của các tội XPTTQLKT chủ yếu và
cơ bản ở dạng các đối tượng vật chất như hàng hóa, tiền, vé, séc, giấy tờ có giá, hóa đơn, chứng từ, chứng khoán, Những đối tượng tác động này thường gắn liền với các hoạt động sản xuất, kinh doanh, tài chính, ngân hàng…, thông qua các dạng hành vi như sản xuất, mua bán, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành…
- Thứ hai, việc mô tả đặc điểm của đối tượng tác động của tội phạm tại
cấu thành tội phạm cơ bản là cách thức được sử dụng nhiều nhất trong chương các tội XPTTQLKT Việc sử dụng biện pháp mô tả đối tượng tác động của tội phạm này nhằm trả lời hai câu hỏi chính là: (1) xác định một hành vi có phải
là tội phạm XPTTQLKT không?; (2) xác định một hành vi nếu thỏa mãn cá dấu hiệu của các tội XPTTQLKT thì là tội gì? Nói cách khác, việc xác định mối quan hệ giữa tội phạm XPTTQLKT và vi phạm trật tự quản lý kinh tế gắn liền với làm rõ hành vi được thực hiện có thỏa mãn các đặc điểm của đối
tượng tác động trong CTTP hay không
Trang 32b Định lượng đối tượng vật chất về giá trị hoặc về số lượng: trong BLHS năm 1999 (SĐ, BS 2009) và BLHS 2015 (SĐ, BS 2017), các nhà làm luật đều đã sử dụng phương pháp định lượng các đối tượng vật chất của các tội XPTTQLKT, làm cơ sở để phân biệt ranh giới xử lý hành chính và xử lý hình sự, cũng như để cá thể hóa hình phạt được chính xác Cách thức này
được nhiều nhà nghiên cứu cho là “một bước tiến đáng kể trong kỹ thuật lập
pháp của chúng ta, đồng thời thể hiện được nhận thức chuyên sâu trong vấn
đề tội phạm hóa [11, tr.76] Tuy nhiên, cũng có nhiều quan điểm cho rằng:
Cân nhắc sự cần thiết phải tội phạm hóa một hành vi, nhà làm luật không chỉ dựa trên yếu tố cơ bản là hành vi đó có tính nguy hiểm cho xã hội hay không mà còn tính đến các yếu tố khác như ý thức pháp luật của số đông người dân có thừa nhận hành vi đó phải
bị trừng trị bằng PLHS không (?) và đặc biệt là mức độ phổ biến của hành vi trong xã hội đã đến mức “tất yếu” chưa (?) [16, tr.128-130] Với những đặc điểm phi vật chất như trên thì việc xác định định lượng của tối tượng tác động đôi khi chưa thực sự thỏa mãn Nhưng cũng không thể phủ nhận rằng về mặt thực tế, việc xác định định lượng vật chất đối với đối tượng tác động của tội phạm thuộc nhóm tội XPTTQLKT đã góp phần quan trọng để đạt được đầy đủ yêu cầu và ý nghĩa của tội phạm hóa, nhất là đối với những hành vi được xem là XPTTQLKT trong nền KTTT hiện nay
Trang 3325
1.3.2.2 Sự thể hiện hậu quả của tội phạm
Hậu quả của tội phạm là những thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Bất kỳ một tội phạm nào cũng gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Tuy nhiên, mức độ gây thiệt hại của mỗi hành vi lại khác nhau Mức độ gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại là một trong những căn cứ xác định tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, nhưng khác với dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội không phải là dấu hiệu bắt buộc trong mọi CTTP Đối với các tội phạm có CTTP vật chất, dấu hiệu hậu quả được mô tả ngay trong mặt khách quan của CTTP với ý nghĩa định tội, còn đối với các tội phạm có CTTP hình thức, dấu hiệu hậu quả của tội phạm thường được xác định là những tình tiết định khung tăng nặng Điều này có nghĩa là đối với từng loại CTTP, yếu tố hậu quả thiệt hại có ảnh hưởng khác nhau đến việc xác định mối quan hệ về mặt nội dung giữa tội phạm và vi phạm pháp luật nói chung, cũng như giữa các tội XPTTQLKT với vi phạm trật tự quản lý kinh tế nói riêng
Nghiên cứu nhóm tội XPTTQLKT của BLHS qua các năm có thể thấy: hầu hết các tội phạm đều có CTTP vật chất, nên dấu hiệu hậu quả là dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của tội phạm Hậu quả của các tội XPTTQLKT dưới góc độ lý luận được thể hiện ở mức độ thiệt hại cho các quan hệ xã hội đảm bảo tính ổn định của TTQLKT Dưới góc độ pháp lý, hậu quả của các tội XPTTQLKT thường ở dạng “hậu quả nghiêm trọng” hoặc “thu lợi bất chính lớn” Đây là những thiệt hại về vật chất có thể xác định được, hoặc cũng có thể là thiệt hại phi vật chất không thể xác định được Mức độ nghiêm trọng của hậu quả do hành vi XPTTQLKT gây ra có thể ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế, hoặc chỉ ảnh hưởng đến một ngành, một lĩnh vực kinh tế, nhưng cũng
có thể chỉ ảnh hưởng đến một số cá nhân, tổ chức nhất định (ví dụ: hành vi
Trang 3426
lừa dối khách hàng gây thiệt hại nghiêm trọng cho khách hàng là người tiêu dùng; hành vi cho vay lãi nặng vi phạm các quy định của Nhà nước về tín dụng, gây thiệt hại cho lợi ích của người đi vay; hành vi trốn thuế gây thất thu thuế, ảnh hưởng đến ngân sách Nhà nước; hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng, gây ảnh hưởng đến môi sinh
1.3.2.3 Đặc điểm chủ thể của tội phạm
Đặc điểm của chủ thể của tội phạm cũng là một biểu hiện để xác định mối quan hệ giữa tội phạm XPTTQLKT và vi phạm trật tự quản lý kinh tế Những đặc điểm này bao gồm:
a Năng lực chịu TNHS của chủ thể
Năng lực chịu TNHS của chủ thể của tội phạm được xác định tùy theo chủ thể đó là cá nhân phạm tội hay pháp nhân thương mại phạm tội
Quan điểm truyền thống trong chính sách hình sự của nước ta chỉ thừa nhận cá nhân là chủ thể của tội phạm khi thỏa mãn hai điều kiện: có năng lực nhận thức, năng lực điều khiển hành vi (năng lực TNHS) và đạt tuổi chịu TNHS theo quy định của pháp luật
Theo Điều 12 BLHS năm 1999, Điều 12 BLHS 2015 (SĐ, BS 2017) thì người từ đủ 14 tuổi bắt đầu phải chịu TNHS nhưng trong phạm vi nhất định
và người đủ từ 16 tuổi phải chịu TNHS đầy đủ về mọi hành vi phạm tội mà
họ thực hiện Căn cứ pháp lý của việc quy định độ tuổi chịu TNHS là tính chất của loại tội phạm và hình thức lỗi Tiêu chuẩn của sự phân hóa độ tuổi chịu TNHS là khả năng tiếp nhận và đánh giá khác nhau các quy định về tội phạm của người chưa thành niên
Đối với nhóm tội trong chương các tội XPTTQLKT, dấu hiệu chủ thể của tội phạm đối với cá nhân được phân định như sau: Đa số các điều luật thuộc loại tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng nên chủ thể của các tội này
Trang 35Đối với chủ thể là pháp nhân thương mại phạm tội thì điều kiện để chịu TNSH lần đầu tiên được ghi nhận tại Điều 75 BLHS 2015 (SĐ, BS 2017) bao gồm đầy đủ các dấu hiệu sau:
a) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;
b) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;
c) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;
d) Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật này
Trong đó, ba điều kiện đầu được coi là các đặc điểm cơ bản để xác định ranh giới giữa việc xử lý một hành vi như là một tội phạm XPTTQLKT hay chỉ là một vi phạm trật tự quản lý kinh tế
Bên cạnh đó, xét về góc độ nhu cầu điều chỉnh của pháp luật thì việc ghi nhận pháp nhân thương mại trở thành một chủ thể của tội phạm XPTTQLKT là một bước tiến mới, thay đổi căn bản về nhận thức, kỹ thuật lập pháp cũng như thực tiễn áp dụng đối với những hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội
b Dấu hiệu nhân thân của người phạm tội
Ngoài dấu hiệu năng lực chịu TNHS, đối với chủ thể là cá nhân, nhà làm luật còn chú trọng đến dấu hiệu về nhân thân người phạm tội Đây cũng được coi là những dấu hiệu cơ bản thể hiện nội dung của mối quan hệ giữa tội phạm XPTTQLKT và vi phạm trật tự quản lý kinh tế
Trang 3628
Trường hợp hành vi XPTTQLKT chưa gây hậu quả nghiêm trọng thì nhà làm luật sử dụng thêm một tình tiết nữa đó là “nhân thân xấu” của chủ
thể, như “đã bị xử lý hành chính về hành vi quy định tại điều này hoặc tại một
trong các điều của Bộ luật này mà còn vi phạm”; hoặc “đã bị kết án về tội này hoặc một trong số các tội quy định tại các điều của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”; hoặc “đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này
mà còn vi phạm Đây là quy định mang tính chất kết hợp giữa xác định định
lượng thiệt hại và nhân thân người phạm tội Một hành vi nếu chưa đạt đủ yêu cầu về định lượng thiệt hại thì cần thêm một số dấu hiệu thể hiện thái độ của người đó sau khi đã bị kết án hoặc bị xử lý vi phạm hành chính về những
hành vi này thì mới thỏa mãn dấu hiệu khách quan của nhóm tội phạm này
1.3.3 Hình thức thể hiện của quan hệ giữa giữa tội phạm với vi phạm trật tự quản lý kinh tế
Với tư cách là một ngành luật độc lập và quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam, luật hình sự quy định tội phạm và hình phạt đối với người phạm tội làm căn cứ để xác định một hành vi có hay không có dấu hiệu của tội phạm Về thực tiễn, hiệu quả của công tác đấu tranh phòng ngừa
và chống tội phạm phụ thuộc lớn vào việc đánh giá đúng đắn tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Quá trình đánh giá để sửa đổi, bổ sung vào BLHS thường được thực hiện theo hai xu hướng trái ngược nhau: một mặt, quy định bổ sung những hành vi mới được coi là tội phạm hoặc gia tăng mức độ nghiêm khắc của hình phạt đối với một số loại hành vi nguy hiểm cho xã hội nào đó Ngược lại, trên một phương diện khác, loại bỏ khỏi BLHS những hành vi đã được coi là tội phạm hoặc giảm thiểu các biện pháp và mức độ nghiêm khắc của hình phạt đối với hành vi nào đó Hai xu hướng này thể hiện sự thống nhất chặt chẽ, biện chứng trong một quá trình mà khoa học LHS gọi là: xu hướng TPH, HSH và xu hướng PTPH, PHSH Cả hai xu
Trang 37là tội phạm nữa
Cũng cần khẳng định thêm rằng, hoạt động tội phạm hóa, phi tội phạm hóa là những vấn đề thuộc thẩm quyền của nhà lập pháp Việc đánh giá một hành vi nào đó là nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, đáng bị trừng phạt và cần đƣợc quy định trong BLHS, cũng nhƣ việc quyết định đƣa ra khỏi các đạo luật hình sự hành vi nào đó từng đƣợc coi là tội phạm; quy định tăng nặng TNHS và hình phạt hoặc giảm nhẹ TNHS và hình phạt chỉ thuộc thẩm quyền của nhà lập pháp
1.3.2.1 Tội phạm hóa các hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm trật
tự quản lý kinh tế
Tội phạm hóa là việc thông qua một hình thức văn bản pháp lý hình sự, nhà làm luật qui định hành vi nào đó là tội phạm “Tội phạm hoá - là quá trình công nhận một hành vi là tội phạm và quy định các dấu hiệu của nó trong luật hình sự, xác định trách nhiệm hình sự đối với hành vi đó” [10, tr.161] Theo Từ điển Luật học thì “TPH là xác định trong luật hành vi nhất định là tội phạm TPH là hoạt động thuộc thẩm quyền của cơ quan lập pháp Cơ quan này có trách nhiệm xác định những hành vi bị coi là có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội và quy định những hành vi đó trong LHS là tội phạm” [3, tr.789] Quy định tội có nghĩa là coi một loại hành vi này hay hành vi khác là tội phạm hay không phải là tội phạm, tức xác định sự cần thiết phải xử lý bằng các biện pháp hình sự
Trang 38- Mở rộng phạm vi xử lý bằng biện pháp TNHS của một loại hành vi hoặc một nhóm hành vi đã được quy định là tội phạm qua việc giảm bớt dấu hiệu hoặc hạ thấp yêu cầu của dấu hiệu CTTP, hoặc mở rộng phạm vi chủ thể của tội phạm…
Tội phạm hóa được thực hiện ở các mức độ khác nhau Đó có thể là việc nhà làm luật quy định một tội phạm mới hoàn toàn trong BLHS hoặc chỉ
bổ sung một hành vi, một số hành vi trong tội danh đã được quy định từ trước Chẳng hạn, trong nhóm tội XPTTQLKT của BLHS Việt Nam 2015 (SĐ, BS 2017), nhà làm luật đã bổ sung 01 tội danh trong lĩnh vực chứng khoán: tội làm giả tài liệu trong hồ sơ chào bán, niêm yết chứng khoán (Điều 212) nhằm đảm bảo BLHS bao quát được hết những hành vi nguy hiểm cho xã hội trong lĩnh vực chứng khoán; bổ sung 4 tội danh trong lĩnh vực bảo hiểm: tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm (Điều 213); tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp (Điều 214); tội gian lận bảo hiểm y tế (Điều 215) và tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động (Điều 216)
Bên cạnh đó, quá trình TPH còn thể hiện qua việc nhà làm luật quy định theo hướng mở rộng khả năng có thể xử lý bằng biện pháp PLHS bằng cách sửa đổi các yếu tố CTTP, mở rộng diện chủ thể có khả năng phải chịu TNHS, giảm bớt dấu hiệu hoặc hạ thấp yêu cầu của dấu hiệu CTTP Chẳng hạn, trong BLHS 2015 (SĐ, BS 2017) đã quy định xử lý hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội đối với 22 tội/ 47 tội danh của chương
Trang 3931
1.3.2.2 Phi tội phạm hóa các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
Phi tội phạm hóa là quá trình ngược lại của quá trình TPH Phi tội phạm hoá là quá trình “xác định một hành vi không phải là tội phạm và loại trừ các dấu hiệu của tội phạm ra khỏi pháp luật hình sự, bãi bỏ trách nhiệm hình sự đối với việc thực hiện hành vi đó (có thể đi kèm với việc xác định các loại trách nhiệm pháp lí khác như trách nhiệm hành chính)” [10, tr.161]; Từ điển Luật học cũng có cách giải thích tương tự, theo đó:
PTPH là việc xóa bỏ tội phạm nhất định đã được quy định trong luật PTPH thuộc thẩm quyền của cơ quan lập pháp, quá trình này bao gồm: (1) Xóa bỏ loại hành vi cụ thể đã được quy định là tội phạm do không còn xảy ra hoặc do thực tiễn không còn đòi hỏi cần phải xử lý hành vi này bằng biện pháp TNHS; (2) Thu hẹp phạm vi
xử lý bằng biện pháp TNHS của một loại hành vi hoặc nhóm hành
vi qua việc thêm dấu hiệu hoặc nâng cao yêu cầu dấu hiệu của CTTP hoặc thu hẹp phạm vi chủ thể của tội phạm [3, tr.789]
Bản chất của quá trình PTPH là việc nhà lập pháp xác định một hành vi
vi phạm không còn mức nguy hiểm cho xã hội cần thiết phải sử dụng biện pháp hình sự, tức là hành vi đó xâm phạm đến những quan hệ xã hội mà chỉ cần điều chỉnh bằng qui phạm của các ngành luật khác hay bằng các biện pháp giáo dục Nói cách khác, PTPH là loại trừ khỏi PLHS hiện hành một hành
vi nào đó (mà trước đây đã bị coi là tội phạm) và hủy bỏ TNHS đối với người thực hiện nó; hoặc thu hẹp phạm vi xử lý bằng biện pháp TNHS của một loại hành vi hay nhóm hành vi Theo quan điểm của tác giả Nhe-đốt-kô IU.V thì:
“Phi tội phạm hoá được tiến hành với điều kiện giảm đáng kể mức độ nguy hiểm của hành vi trước đây bị coi là tội phạm, cũng như đi kèm với khả năng đấu tranh có hiệu quả với những hành vi đã bị phi tội phạm hoá thông qua các biện pháp khác nhẹ hơn các biện pháp mang tính chất hình sự” [12, tr.9] Như
Trang 4032
vậy, bằng việc PTPH chứng tỏ trong giai đoạn phát triển tương ứng của xã hội
có những hành vi mặc dù trước đây đã bị coi là tội phạm nhưng nay do sự thay đổi của các yếu tố khách quan (như các điều kiện cụ thể của đất nước về kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa, hoặc pháp luật v.v…), hành vi đó tuy vẫn còn nguy hiểm, nhưng tính nguy hiểm không đáng kể nên chỉ cần áp dụng chế tài pháp lý của ngành luật tương ứng khác ít nghiêm khắc hơn LHS là đủ sức ngăn chặn Cũng có những hành vi mặc dù trước đây bị coi là tội phạm nhưng nay đã hoàn toàn mất đi tính nguy hiểm cho xã hội nên cần được loại ra khỏi lĩnh vực điều chỉnh của PLHS Chẳng hạn, trong quá trình sửa đổi, bổ sung BLHS 2015 (SĐ, BS 2017), nhà làm luật đã PTPH đối với một số hành vi thuộc chương các tội XPTTQLKT mà trước đây BLHS năm 1999 (SĐ, BS 2009) quy định là tội phạm như: Tội kinh doanh trái phép; Tội báo cáo sai trong quản lý kinh tế; Tội vi phạm quy định về cấp bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; Tội sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng;
Phi tội phạm hóa không chỉ được thực hiện bằng việc loại bỏ tội phạm
ra khỏi BLHS mà trong những trường hợp nhất định, nhà làm luật có thể tiến hành PTPH từng phần Chẳng hạn, trong BLHS 2015 (SĐ, BS 2017) các nhà làm luật đã loại bỏ bớt những hành vi không còn nguy hiểm cho xã hội tại chương các tội XPTTQLKT Ví dụ: Điều 207 BLHS năm 2015 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả) đã loại bỏ đối tượng tác động là "ngân phiếu giả, công trái giả" như quy định tại Điều 180 BLHS năm 1999;