1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh trong bối cảnh thực hiện các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

101 114 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn tập trung nghiên cứu quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ BMKD và cam kết giữa các quốc gia về bảo hộ bí mật kinh doanh trong một số FTA song phương cũng như đa phương mà Việt Nam tham gia ký kết và được đánh giá là có tầm ảnh hưởng sâu sắc tới nền kinh tế Việt Nam khi chính thức gia nhập, cung cấp cho người đọc cái nhìn mới nhất, tổng quan nhất về bảo hộ BMKD trong pháp luật SHTT Việt Nam cũng như trong các FTA mà Việt Nam tham gia ký kết. Qua đó rút ra được những bất cập cần phải hoàn thiện của pháp luật Việt Nam so với Hiệp định quốc tế.

Trang 1

KHOA LUẬT

VŨ THỊ THANH HIỀN

BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI BÍ MẬT KINH DOANH TRONG BỐI CẢNH THỰC HIỆN CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2019

Trang 2

KHOA LUẬT

VŨ THỊ THANH HIỀN

BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI BÍ MẬT KINH DOANH TRONG BỐI CẢNH THỰC HIỆN CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI

Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự

Mã số : 8380101.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Quế Anh

Hà Nội – 2019

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và đƣợc trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả

Vũ Thị Thanh Hiền

Trang 4

SHTT Sở hữu trí tuê ̣

BMKD Bí mâ ̣t kinh doanh

TTBM Thông tin bí mâ ̣t

EU Liên minh châu âu

FTA Hiê ̣p đi ̣nh Thương ma ̣i tự do

EVFTA Hiê ̣p đi ̣nh Thương ma ̣i tự do Viê ̣t Nam – Liên minh châu âu TPP Hiê ̣p đi ̣nh Đối tác xuyên Thái Bình Dương

CPTPP Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương WTO Tổ chức thương ma ̣i thế giới

Trang 5

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN SHCN ĐỐI VỚI BMKD VÀ BẢO HỘ BMKD TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ

MỚI 9

1.1 Khái niệm và đặc điểm của bí mật kinh doanh 9

1.1.1 Khái niệm 9

1.1.2 Đặc điểm: 14

1.2 Những nô ̣i dung cơ bản của pháp luâ ̣t về bảo hô ̣ quyền SHCN đối với BMKD 16

1.2.1 Điều kiện bảo hô ̣ 16

1.2.2 Nội dung bảo hô ̣ quyền SHCN đối với BMKD 20

1.2.3 Chủ thể quyền SHCN đối với BMKD 25

1.2.4 Bảo vệ quyền SHCN đối với BMKD 30

1.3 Khái quát chung về bảo hộ BMKD trong các Hiệp định thương mại tự do thế hê ̣ mới 40

1.3.1 Bảo hộ quyền SHTT trong các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới 40

1.3.2 Các yêu cầu bảo hộ BMKD trong các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới 45

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ SỰ TƯƠNG THÍCH GIỮA CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỚI CÁC CAM KẾT TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI VỀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI BÍ MẬT KINH DOANH 50

2.1 Điều kiện bảo hô ̣ BMKD 50

2.2 Xác định hành vi xâm phạm BMKD 52

2.3 Thực thi quyền SHCN đối với BMKD 55

2.3.1 Nghĩa vụ chung 56

2.3.2 Nghĩa vụ cung cấp thông tin 58

2.3.3 Thủ tục và chế tài dân sự 60

2.3.4.Thủ tục và chế tài hành chính 71

2.3.5 Thủ tục và chế tài xử lý hình sự 72

Trang 6

DOANH TRONG BỐI CẢNH THỰC THI CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI

TỰ DO THẾ HỆ MỚI 76

3.1 Hoàn thiện pháp luật 77

3.1.1 Hoàn thiện các quy định về phạm vi đối tượng bảo hộ và điều kiện để một thông tin được bảo hộ với tư cách là bí mật kinh doanh 77

3.1.2 Hoàn thiện các quy định về việc xác định hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh 78

3.1.3 Hoàn thiện quy định về xử lý hành vi xâm phạm BMKD bằng biện pháp dân sự 79

3.1.4 Bổ sung quy đi ̣nh về xử lý hành vi xâm pha ̣m BMKD bằng biê ̣n pháp hình sự 83

3.1.5 Kết hợp giữa pháp luật bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh với một số lĩnh vực pháp luật khác 85

3.2 Hoàn thiện pháp luật về tổ chức 85

3.3 Nâng cao năng lực của Toà án và tuyên truyền pháp luật bảo vệ quyền SHCN bằng biện pháp dân sự 86

3.4 Một số giải pháp bảo vê ̣ BMKD đối với doanh nghiê ̣p 87

KẾT LUẬN 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 7

MỞ ĐẦU

I Tính cấp thiết và tình hình nghiên cứu đề tài

Kể từ khi bắt đầu tiến hành đổi mới vào cuối những năm 1980, Việt Nam

đã liên tục theo đuổi hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng để hỗ trợ tăng trưởng kinh

tế Nhiều văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của hội nhập quốc tế như một phương tiện để phát triển đất nước Vào tháng 4 năm 2013, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-

NQ/TW về hội nhập quốc tế, khẳng định “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế

là định hướng chiến lược lớn của Đảng nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” Những định hướng như

vậy đã dẫn tới chính sách thương mại quốc tế khá tự do của Việt Nam trong hơn hai thập niên qua Nhiệm vu ̣ đầu tiên và quan tro ̣ng trong quá trình hô ̣i nhâ ̣p quốc tế đó chình là hoàn thiê ̣n hê ̣ thông pháp luâ ̣t nói chung và hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t SHTT nói riêng Bởi SHTT - ngày nay được các nhà kinh tế học hiện đại coi

là động lực cơ bản để phát triển kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Vai trò của SHTT ngày càng đóng vai trò h ết sức quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong xu thế hội nhập sâu và toàn diện như hiện nay

Từ năm 1995, Việt Nam đã xây dựng Chương trình hành động về SHTT nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn của Hiệp định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT (Hiệp định TRIPS) Thực thi đầy đủ các quy định của Hiệp định TRIPS là nghĩa vụ bắt buộc đối với các thành viên WTO, vì vậy, Việt Nam phải đáp ứng các tiêu chuẩn của Hiệp định TRIPS ngay tại thời điểm gia nhập Việc triển khai Chương trình hành động nêu trên đã mang lại những kết quả tích cực Hệ thống bảo hộ SHTT của ta

đã đáp ứng yêu cầu về tính đầy đủ của Hiệp định TRIPS Đối với APEC, Việt Nam đã tham gia Nhóm chuyên gia APEC về sở hữu trí tuệ; tham gia triển khai các hoạt động tập thể về SHTT của APEC và tham gia xây dựng Chương trình

Trang 8

hành động quốc gia về SHTT của Việt Nam trong APEC Trong ASEAN, Việt Nam chính thức là thành viên Nhóm công tác về hợp tác SHTT giữa các nước ASEAN (AWGIPC) từ năm 1995 và luôn chủ động, tích cực cùng các thành viên khác triển khai các hoạt động chung của ASEAN như dự án hợp tác, chia sẻ kết quả thẩm định đơn sáng chế; triển khai các chương trình hợp tác về SHTT giữa ASEAN với các đối tác khác., Quan hệ hợp tác song phương về SHTT không ngừng được mở rộng Bên cạnh các đối tác truyền thống như Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Liên minh châu Âu, Thụy Sỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan…thìMĩ là một cường quốc hùng mạnh , một đối tác lớn có mô ̣t thị trường đầy tiềm năng Vì vậy Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) đã góp phần đáng kể vào sự phát triển của hệ thống sở hữu trí tuệ quốc gia đặc biê ̣t là sự ra đời của Luâ ̣t Sở hữu trí tuê ̣ 2005

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có sự theo đuổi quyết liê ̣t đối với các hiệp định thương mại tự do (FTA) đa phương lẫn song phương với nhiều đối tác khác nhau và vừa rồi ký một loạt hiệp định thương mại tự do song phương với những nước như Nhật Bản, Chile, Hàn Quốc và những hiệp định trong khuôn khổ ASEAN với Ấn Độ, Trung Quốc, Australia, Nhật, v.v Trong số đó

có 2 hiệp định quan trọng, có thể là một bước ngoặt lớn cho công cuộc hội nhập

đó là Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), Hiệp định đối tác Thương mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP - Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement) và gần đây nhất ngày 12/11 vừ a qua Viê ̣t Nam đã chí nh thức phê chuẩn Hiê ̣p đi ̣nh Đối tác Toàn diê ̣n và Tiến bô ̣ xuyên Thái Bình Dương không có sự tham gia của Hoa Kỳ Đây được xem là nhữ ng hiệp định sẽ có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với kinh tế của Việt Nam, một cột mốc quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

TPP, CPTPP và EVFTA được coi là những FTA có những đặc điểm mới

so với các hiê ̣p đi ̣nh thương ma ̣i mà Viê ̣t Nam đã ký kết trước đây Bên cạnh những cam kết về thương ma ̣i hàng hoá , thương ma ̣i di ̣ch vu ̣, thương ma ̣i điê ̣n

Trang 9

gia Hiê ̣p đi ̣nh và có những đòi hỏi cao mà đáng chú ý nhất là các điều khoản về bảo hộ BMKD Việc tham gia các điều ước quốc tế, một trong những điều kiện để hội nhập kinh tế quốc tế, chính là cam kết của Việt Nam, cả phía chính quyền lẫn khối doanh nghiệp, về việc tuân thủ những yêu cầu rất chặt chẽ trong thực thi các quy định có liên quan đến SHTT Tuy nhiên, nhận thức về SHTT, nhất là với đối tượng bảo hô ̣ là BMKD, của các doanh nghiệp Việt Nam hiện còn nhiều vấn đề vướng mắc

Trong lịch sử nhân loại, bảo mật là một phần của hoạt động kinh doanh đã xuất hiện cách đây hàng ngàn năm trước Trên thế giới, vấn đề bảo hộ BMKD đã được chú ý đến từ năm 1883, từ khi "Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp" có hiệu lực Năm 1994, "Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ"(TRIPS) ra đời cũng đã quy định về việc bảo hộ thông tin bí mật tại Điều 39, Mục 7, các Hiệp định song phương như Hiê ̣p đi ̣nh thương ma ̣i Viê ̣t Nam – Hoa Kỳ năm 2000 Các quốc gia hầu như đều

có các quy định nhằm bảo hộ cho BMKD đă ̣c biê ̣t là các quốc gia phát triển như Anh, Mỹ, Pháp, Đức Còn tại VN, Nghị định 54/2000/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 3/10/2000 sau đó là Luâ ̣t Sở hữu trí tuê ̣ 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009 đã quy định về bảo hộ BMKD

Với những hiê ̣p đi ̣nh FTA v ừa ký kết, một thị trường khổng lồ và nhiều hứa hẹn đã được mở ra với Việt Nam Thị trường này rất tiềm năng, nhưng đòi hỏi của nó cũng rất cao và cạnh tranh trên thị trường cũng khốc liệt Các doanh nghiê ̣p muốn tồn ta ̣i trong thi ̣ trường này phải luôn vâ ̣n đô ̣ng, biến đổi để ta ̣o cho mình một vị trí và chiếm lĩ nh những phần thi ̣ trường nhất đi ̣nh Sự ca ̣nh tranh gay gắt đòi hỏi ho ̣ phải xây dựng cho được mô ̣t chiến lược ca ̣nh tranh có hiê ̣u quả để đứng vững Bên ca ̣nh các yếu tố cơ bản về nguồn vốn , nhân lực , môi trường đầu tư viê ̣c bảo vệ các thông tin bí mật là một yếu tố tạo năng lực cạnh tranh của doanh nghiê ̣p , góp phần vào thành công của doanh nhân Vì vậy, vấn đề về bảo hộ BMKD ngày càng trở nên đáng quan tâm Đây là mô ̣t biê ̣n pháp nhằm thúc đ ẩy khả năng sáng tạo trong kinh doanh , đảm bảo ca ̣nh tranh lành

Trang 10

mạnh giữa các đối thủ kinh doanh , thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp nói riêng và của cả một nền kinh tế - xã hội đất nước nói chung

Tuy nhiên các H iê ̣p đi ̣nh FTA đều có những tiêu chu ẩn cao về bảo hộ SHTT nói chung và bảo hộ BMKD nói riêng, bao gồm quy định phải thực hiện thủ tục tố tụng và chế tài hình sự đối với hành vi xâm phạm tài sản trí tuệ quy

mô thương mại, điều được coi là nghiêm ngặt hơn các quy định trong khuôn khổ WTO mà Viê ̣t Nam gia nhâ ̣p cách đây 10 năm Pháp luât Việt Nam đã được xây dựng và hoàn thiê ̣n với tốc đô ̣ nhanh ch óng nhìn chung tương thích với chuẩn mực quốc tế (Hiê ̣p đi ̣nh TRIPS) Nhưng TRIPS chỉ đặt ra các tiêu chuẩn bảo hộ mang tính chất khung , đi ̣nh hướng cơ bản cho mỗi quốc gia xây dựng pháp luâ ̣t SHTT của mình các quy định chung của TRIPS đã được tiếp nhận trong Luật SHTT năm 2005 không thể đủ sức giải quyết các tranh chấp quyền SHTT vô cùng đa dạng, phong phú trong đời sống Hơn nữa, Luâ ̣t Sở hữu trí tuê ̣ 2005 bô ̣c

lô ̣ rõ những điểm bất câ ̣p và chưa tương thích với các hiê ̣p đi ̣nh thương ma ̣i mới

mà Việt Nam tham gia hiện nay Tại thời điểm hiện tại Việt Na m đã chính thức phê chuẩn CPTPP , Hiê ̣p đi ̣nh này dự kiến sẽ có hiê ̣u lực vào cuối tháng 12 vì

vâ ̣y việc hoàn thiện pháp luật SHTT theo các tiêu chuẩn tiên tiến của các Hiệp

đi ̣nh này là rất cần thiết Trong đó, viê ̣c hoàn thiê ̣n chế đi ̣nh bảo hô ̣ BMKD trở thành vấn đề cấp thiết trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế hiện nay, nó ngày càng tr ở thành một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Trong dài hạn, việc bảo hộ BMKD tốt hơn được kỳ vọng là sẽ giúp các doanh nghiệp có động lực mạnh mẽ hơn để đầu

tư vào các ngành công nghiệp sáng tạo mà Việt Nam đang tìm cách phát triển

Xuất phát từ những lý do trên , tôi xin cho ̣n “Bảo hộ quyền sở hữu công nghiê ̣p đối với bí mật kinh doanh trong bối cảnh thực hiê ̣n các hiệp định thương mại tự do thế hê ̣ mới” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình , với mong

muốn đi sâu tìm hiểu các cam kết về bảo hô ̣ BMKD trong mô ̣t số FTA song phương và đa phương mà Viê ̣t Nam tham gia đánh giá sự tương thích của pháp

Trang 11

luâ ̣t Viê ̣t Nam với các cam kết trên từ đó đưa ra nhưng giải pháp phương hướng hoàn thiện pháp luật cụ thể

Luâ ̣n văn được nghiên cứu ở thời điể m Luâ ̣t Sở hữu trí tuê ̣ 2005 đã được sửa đổi bổ sung năm 2009 Từ đó đến nay có rất ít các tài liê ̣u nghiên cứu về bảo

hô ̣BMKD Chủ yếu các tài liệu này ở dưới dạng bài viết trên các tạp ch í, hay là

mô ̣t phần nhỏ trong các đề tài nghiên cứu hay những cuốn sách về bảo hô ̣ quyền sở hữu công nghiê ̣p Số lượng luâ ̣n văn tâ ̣p trung nghiên cứu về vấn đề này còn

rất ít như : Bài viết “Một số vấn đề về bảo hộ bí mậ t kinh doanh và hoàn thiê ̣n

pháp luật bảo hộ bí mật kinh doanh ở Việt Nam” của PGS.TS Nguyễn Thi ̣ Quế

Anh đăng trên ta ̣p chí khoa ho ̣c Đa ̣i ho ̣c quốc gia Hà Nô ̣i , chuyên san Kinh tế –

Luâ ̣t số 3 năm 2004, hoă ̣c trong cuốn sách “Quyền sở hữu trí tuê ̣” của TS Lê

Nết nhà xuất bản Đa ̣i ho ̣c quốc gia TP Hồ Chí Minh năm 2006 có dành chương 7

để nói về bí mật kinh doanh ; luâ ̣n văn tha ̣c sĩ luâ ̣t ho ̣c “Bảo hộ quyền sở hữu

công nghiê ̣p đối với bí mật kinh doanh theo pháp luật Việt Nam” của ThS

Trương Thi ̣ Ánh Tuyết năm 2011

Thêm vào đó, viê ̣c Viê ̣t Nam tham gia kí kết các FTA là một vấn đề mang tính thời sự nóng bỏng và bảo hộ BMKD trong pháp luâ ̣t Viê ̣t Nam được đánh giá là còn nhiều quy định còn chưa phù hợp với bối cảnh thực tế hiện nay Vì

vâ ̣y, luâ ̣n văn có thể được coi là tài liê ̣u đầu tiên tâ ̣p trung nghiên cứu về vấn đề bảo hộ BMKD trong bối cả nh hô ̣i nhâ ̣p kinh tế quốc tế hiê ̣n nay , để từ đó có được những phương hướng hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t về vấn đề này

1 Phạm vi và mục đích nghiên cứu

Vấn đề về bảo hô ̣ quyền SHTT nói chung và bảo hộ BMKD nói riêng đã được quy đ ịnh tro ng Luâ ̣t Sở hữu trí tuê ̣ 2005 Ngoài ra , pháp luật về bảo hộ BMKD trên thế giớ i đã được ghi nhâ ̣n ở pháp luâ ̣t của rất nhiều các quốc gia tiến

bô ̣ từ rất sớm ví du ̣ như Pháp , Đức ghi nhâ ̣n bởi các Điều ước quốc tế có sự tham gia của mô ̣t số nước trong pha ̣m vi khu vực Trong khuôn khổ luâ ̣n văn thạc sĩ, luâ ̣n văn tâ ̣p trung nghiên cứu quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t Viê ̣t Nam về bảo

Trang 12

hô ̣ BMKD và cam kết giữa các quốc gia về bảo hộ bí mật kinh doanh trong mô ̣t số FTA song phương cũng như đa phương mà Viê ̣t Nam tham gia ký kết và được đánh giá là có tầm ảnh hưởng sâu sắc tới nền kinh tế Viê ̣t Nam khi chính thức gia nhâ ̣p

Thông qua viê ̣c nghiên cứu trong pha ̣m vi luâ ̣n văn được đ ề ra ở trên , tác giả mong muốn cung cấp cho người đọc cái nhìn mới nhất , tổng quan nhất về bảo hộ BMKD trong pháp luâ ̣t SHTT Viê ̣t Nam cũng như trong các FTA mà Việt Nam tham gia ký kết Qua đó rút ra được những bất câ ̣p cần p hải hoàn thiện của pháp luật Việt Nam so với Hiệp định quốc tế

2 Nhiê ̣m vu ̣ nghiên cứu

Để có thể đa ̣t được mu ̣c đích đề ra khi nghiên cứu đề tài , đòi hỏi luâ ̣n văn phải giải quyết các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất , đề cập khái quát nội dung về bảo hộ BMKD trong pháp luâ ̣t SHTT Việt Nam, cũng như các cam kết về bảo hộ BMKD trong mô ̣t số FTA

Thứ hai , đánh giá và chỉ ra được những nô ̣i dung tương thích và chưa tương thích của các quy đi ̣nh về bảo hô ̣ BMKD trong Luâ ̣t Sở hữu trí tuê ̣ 2013 với các cam kết trong mô ̣t số FTA mà Việt Nam tham gia

Thứ ba, từ những đánh giá trên đưa ra những đề xuất , phương hướng hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t về bảo hô ̣ BMKD Viê ̣t Nam trong bối cảnh thực thi các FTA đó

BMKD còn là một vấn đề khá mới mẻ ở Việt Nam Nhưng trong bối cảnh đất nước đang trên đà phát triển , hô ̣i nhâ ̣p kinh tế quốc tế như hiê ̣n nay , thương trường như chiến trường là điều tất nhiên không thể tránh khỏi ; thì nghiên cứu về vấn đề bảo hô ̣ BMKD ngày càng trở nên cấp thiết Bởi nó không chỉ thúc đẩy khả năng sáng tạo của các chủ doanh nghiệp , mà còn tạo nên một môi trường cạnh tranh lành mạnh góp phần thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển

3 Phương pha ́ p nghiên cứu

Trang 13

Để đa ̣t được mu ̣c tiêu nghiên cứu đề tài đã đă ̣t ra , luâ ̣n văn sử du ̣ng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

Phương pháp luâ ̣n nghiên cứu khoa ho ̣c duy vâ ̣t biê ̣n chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đ ường lối quan điểm của Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam Theo đó, người viết đă ̣t các vấn đề về bảo

hô ̣ BMKD trong pháp luâ ̣t SHTT Viê ̣t Nam trong mối liên hê ̣ với các cam kết về bảo hộ BMKD trong mô ̣t số FTA mà Việt Nam tham gia , đồng thời có sự so sánh để có được những phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Mô ̣t số phương pháp chủ yếu được áp du ̣ng

Phương pháp phân tích , diễn giải: được sử du ̣ng để làm rõ quy đi ̣nh của pháp luật Việt Nam cũng như những trong mô ̣t số FTA mà Việt Nam tham gia về bảo hộ BMKD

Phương pháp đánh giá, so sánh: được sử du ̣ng để người viết đưa ra ý kiến nhâ ̣n xét quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t hiê ̣n hành trong mối tương quan với các cam kết trong các FTA về bảo hô ̣ BMKD có tương thích hay không

Phương pháp quy na ̣p , diễn di ̣ch: được vâ ̣n du ̣ng để triển khai hiê ̣u quả các đánh giá bên trên để đưa ra và phân tích các phương hướng hoàn thiện pháp luâ ̣t hiê ̣n hành về bảo hô ̣ BMKD trong bối cảnh đất nước gia nhâ ̣p và thực thi các FTA

4 Ý nghĩa thực tiễn và lý luận của luận văn

Kết quả đa ̣t được của luâ ̣n văn góp phần làm sáng tỏ phương diê ̣n lý luâ ̣n về bảo hô ̣ BMKD trong Luâ ̣t sở hữu trí tuê ̣ 2005, cũng như trong các FTA Từ đó đưa ra được những giải pháp hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t Viê ̣t Nam về bảo hô ̣

BMKD trong bối cảnh thực thi các Hiê ̣p đi ̣nh đó Viê ̣c này đứng trước những cơ

hô ̣i lớn cũng như những thách thức không hề nhỏ

Trang 14

Những giải pháp, phương hướng hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t mà luâ ̣n văn đề câ ̣p đến chính là cơ sở để cơ qu an có thẩm quyền trong pha ̣m vi chức năng , quyền hạn của mình sửa đổi bổ sung pháp luật cho phù hợp với việc thực thi các FTA Luâ ̣n văn sẽ là tài liê ̣u tham khảo cho ho ̣c viên , sinh viên có như cầu nghiên cứu khoa ho ̣c trong lĩn h vực SHTT cũng như các cán bộ nghiên cứu và công tác trong lĩnh vực này

5 Cơ cấu cu ̉ a luâ ̣n văn

Ngoài lời nói đầu , kết luâ ̣n Danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo , nô ̣i dung chính của luận văn gồm 3 chương cu ̣ thể:

Chương I:Khái quát chung quyền SHCN đối vớ i BMKD và bảo hộ

BMKD trong các Hiê ̣p đi ̣nh thương ma ̣i tự do thế hê ̣ mới

Chương II:Đánh giá sự tương thích giữa các quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t Viê ̣t

Nam hiê ̣n hành với các Hiê ̣p đi ̣nh thương ma ̣i tự do thế hê ̣ mới về bảo hô ̣ quyền SHCN đối với BMKD

Chương III: Hoàn thiện các quy định của pháp luật SHTT Việt Nam về

bảo hộ quyền SHCN đối với BMKD trong bối cảnh thực thi các Hiệp định

thương ma ̣i tự do thế hê ̣ mới

Trang 15

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN SHCN ĐỐI VỚI BMKD VÀ BẢO HỘ BMKD TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH

THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI 1.1 Khái niệm và đặc điểm của bí mật kinh doanh

1.1.1 Khái niệm

Từ khi xuất hiê ̣n công cu ̣ lao đô ̣ng, con người đã biết tự làm ra của cải, vâ ̣t chất phu ̣c vu ̣ cho đời sống của mình nhờ hoa ̣t đô ̣ng lao đô ̣ng , sản xuất , kinh doanh, buôn bán Khi xã hô ̣i ngày mô ̣t phát triển , trình độ sản xuất ng ày một nâng cao, con người ngoài làm ra được các giá tri ̣ vâ ̣t chất còn ta ̣o ra được giá tri ̣ tinh thần Trong hoa ̣t đô ̣ng sản xuất kinh doanh đã xuất hiê ̣n bí quyết nghề nghiê ̣p, bí quyết sản xuất lao động riêng Đây chính là yế u tố đem la ̣i lợi ích riêng cho cá nhân người sở hữu nó Vì vậy những bí quyết đó là yếu tố bí mật , không được công khai Trải qua thời gian , người ta lưu giữ nó bằng cách truyền miê ̣ng cho nhau từ đời này sang đời khác tr ong mô ̣t pha ̣m vi nhất đi ̣nh chứ không thể được công bố mô ̣t cách rô ̣ng rãi

Hoạt động kinh doanh và thương mại cũng như các hoạt động xã hội khác, nếu muốn thành thạo, muốn đạt hiệu quả tối ưu thì con người cần phải có kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng trong hoạt động Kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng của con người thường được hình thành dần dần và được tích luỹ từ đời này sang đời khác Quyền tư hữu đối với sản phẩm lao động do mình tạo ra đã dẫn đến việc con người thường chỉ truyền lại kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm cho con cháu mình hoặc những người thân thuộc với mình Trong kinh doanh, kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng đó người ta gọi là bí quyết Mặt khác, nhằm đạt lợi nhuận tối đa trong kinh doanh, thương mại con người cũng luôn phải tìm tòi, sáng tạo ra những cách thức, những phương pháp sản xuất hoặc kinh doanh mới hoặc tạo ra các thông tin có ích khác Vì lợi ích c ủa mình những cách thức,

Trang 16

phương pháp này cũng được các thương nhân giữ bí mật để sử dụng riêng Đó là cội nguồn của bí mật kinh doanh

Trên thực tế kinh doanh hiện nay, các thương nhân có thể coi nhiều loại thông tin khác nhau là bí mật kinh doanh Đó có thể là các thông tin khoa học như: hướng nghiên cứu phát triển khoa học của doanh nghiệp, các kết quả nghiên cứu khoa học, các báo cáo phúc trình về hoạt động nghiên cứu, sáng tạo của doanh nghiệp…; cũng có thể là thông tin công nghệ, kỹ thuật như: các công thức hoặc thành phần phối liệu, tỷ lệ hàm lượng vật liệu, các phương pháp, quy trình sản xuất, cấu trúc của sản phẩm, mã nguồn và các chương trình máy tính, tài liệu thiết kế, thông số kỹ thuật, sơ đồ kiến trúc…; có thể là các thông tin thương mại, như: danh sách các nhà cung cấp, danh sách khách hang, nhu cầu, ước muốn, thái độ, cơ cấu tiêu dùng của khách hang, đặc điểm của khách hàng thân thiết, phương án cung ứng, lưu trữ chăm sóc khách hang, kế hoạch, chiến lược kinh doanh, tiếp thị, quảng cáo, ý tưởng kinh doanh, kết quả nghiên cứu, khảo sát thị trường….Đó cũng có thể là các thông tin tài chính: cấu trúc giá thành, phương án đầu tư, chính sách hoa hồng, chi phí…Ngoài ra, các bí mật về

sơ suất hay thất bại của doanh nghiệp cũng được coi là bí mật kinh doanh: nguyên nhân thất bại trong giải pháp khắc phục kỹ thuật, nguyên nhân thất bại trong sản xuất một sản phẩm mới, kinh nghiệm sai sót trong marketing, các khiếu nại, tranh chấp được xử lý kín… Tất cả những thông tin này đều có giá tri ̣ rất lớn, rất có ý nghĩa đối với hoa ̣t đô ̣ng của doanh nghiê ̣p trong viê ̣c ta ̣o ra lợi thế ca ̣nh tranh riêng của chủ sở hữu bí mâ ̣t kinh doanh, của doanh nghiệp này so với nhiều doanh nghiê ̣p là đối thủ ca ̣nh tranh khác

Ngày nay, khi nói đến các đối tượng sở hữu trí tuê ̣ thông thư ờng chúng ta thường nghĩ tới các đối tượng phổ biến như quyền tác giả, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu mà ít chú ý đến đối tượng thường xuyên xuất hiện trong

hoạt động kinh doanh đó là “bí mật kinh doanh”.Ngoài thuật ngữ bí mật kinh

doanh (Trade secrets) thì còn tồn tại một số thuật ngữ có liên quan đến bí mật

Trang 17

không được tiết lộ”, có thể hiểu như là những thông tin liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, được giữ bí mật và các thông tin đó mang lại cho người nắm giữ những lợi ích kinh tế nhất định Ngoài ra trong kinh doanh, muốn đạt hiệu quả tối ưu thì cần có những kiến thức, kỹ năng và cả những kinh nghiệm được tích lũy, người ta gọi đó là bí quyết hay “know- how”.[16]

Bí mật thương mại (Trade Secret) hay có thể gọi là bí mật kinh doanh(Trade secret), khác với Việt Nam, pháp luật một số nước quy định tương đối rõ ràng về BMKD cụ thể như:

Ở Mỹ, theo khoản 4 Điều 1 của Luật thương mại thống nhất (The Uniform Trade Secret Act – gọi tắt là UTSA) được ban hành vào năm 1979[1], quy định:

“Bí mật thương mại là các thông tin bao gồm công thức, mẫu hình, sưu tập các thông tin, chương trình, phương sách, biện pháp, công nghệ hoặc quy trình, những thông tin mà:

- Đem lại giá trị kinh tế độc lập cho dù là hiện hữu hay tiềm năng khi các

thông tin đó không trở thành hiểu biết chung hoặc không dễ dàng tiếp cận bằng các biện pháp tiếp cận trung thực bởi những người có thể thu được giá trị kinh tế từ việc tiết lộ hoặc sử dụng thông tin đó

- Là đối tượng của sự cố gắng để bảo mật thông tin bằng cách phù hợp

hoàn cảnh” [15]

Tương tự, ở Nhật Bản trong “Luật ngăn ngừa cạnh tranh không lành

mạnh” năm 1993 (The Unfair Competition Prevention Act) định nghĩa: “Bí mật thương mại được định nghĩa là bất kỳ phương pháp sản xuất nào, hệ thống bán hàng, thông tin kỹ thuật hay hoạt động hữu ích khác liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp được doanh nghiệp bảo mật và không được bộc lộ ra ngoài”

Để được gọi là bi mật thương mại theo Luật ngăn ngừa cạnh tranh không lành mạnh Nhật Bản thì phải đầy đủ 3 yếu tố:

- Bí mật phải được kiểm soát;

Trang 18

- Bí mật phải quan trọng và hữu ích;

- Bí mật thương mại không được nhiều người biết đến trong một trạng thái công khai sẵn có hay dễ dàng tiếp cận [2]

Ở Trung Quốc trong “Luật chống cạnh tranh không bình đẳng 1993”

(The Unfair Competition law) định nghĩa: “Bí mật thương mại có thể hiểu là những thông tin kỹ thuật hay hoạt động mà không được công chúng biết đến, có tiềm lực kinh tế và tính khả dụng của chúng trên thực tế[3]”

Theo Điều 10 Nghị định số 240/96 ngày 31 tháng 1 năm 1996 của Pháp thì thông tin bí mật được bảo hộ là tổng thể những những thông tin mang tính kỹ thuật công nghiệp hoặc thương mại có tính chất mật, hữu ích và được người nắm giữ thông tin đó bảo mâ ̣t bằng biê ̣n pháp phù hợp [17]

Những quy định trên được xem như là một định nghĩa khá đầy đủ và chi tiết về bí mật thương mại Theo đó, một số loại thông tin mật được xem là

bí mật thương mại đã được liệt kê tương đối đầy đủ và rõ ràng

Như vậy, các hệ thống pháp luật trên thế giới như luật của Mỹ, Nhật Bản cũng như Trung Quốc quy định khá rõ về bí mật thương mại hay có thể gọi là bí mật kinh doanh Mặc dù, ở các nước cũng có một số điểm khác nhau nhưng điểm chung nhất của các định nghĩa về bí mật thương mại tại các hệ thống pháp luật thông thường những điều kiện đó là:

 Thông tin bí mật đó phải đảm bảo tính bímật;

 Thông tin bí mật phải được chủ sở hữu áp dụng các biện pháp bảomật;

 Thông tin bí mật phải có giá trị trong thương mại và mang lại lợi thế cạnhtranhcho các chủ sở hữu nắm giữ thông tin đó

Theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Hiệp định TRIPS, thông tin bí mật

là một trong các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ mà các nước thành viên của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WTO) có nghĩa vụ bảo hộ Tuy nhiên, các

Trang 19

mật thương mại, thay vào đó Hiệp định chỉ đưa ra các điều kiện để bảo hộ Theo hướng dẫn của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới về thực hiện Hiệp định

TRIPS [4], khi giải thích về Điều 39, văn bản có nêu rõ“thông tin bí mật” có thể được gọi là “bí mật thương mại”[15] Hay tại Điều 2 khoản 1 của Hiệp định Việt – Mỹ thì thông tin bí mật được giải thích “thông tin bí mật bao gồm

bí mật thương mại, thông tin độc quyền, các thông tin không bị tiết lộ khác chưa trở thành đối tượng phải bị tiết lộ công khai cũng không hạn chế theo

phápluật”[5].Trênthựctế,khôngcómộtđịnhnghĩathốngnhấtởtrêntoànthếgiớivềđố

i tượng này Theo từ điển bách khoa toàn thư, bí mật kinh doanh được giải

thích là “phương thức, quy trình, thiết kế, công cụ, mẫu hình hoặc sự tập hợp

các thông tin được sử dụng bởi một doanh nghiệp để có được một lợi thế hơn các đối thủ cạnh tranh trong cùng một ngành công nghiệp hoặc trong cùng một lĩnh vực chuyên môn.” Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới lại đưa ra một định

nghĩa khái quát hơn về bí mật thương mại, theo đó bí mật thương mại là “bất

kỳ thông tin kinh doanh bí mật nào cung cấp cho doanh nghiệp một ưu thế cạnh tranh đều được coi là bí mật thương mại Bí mật thương mại bao gồm những bí mật về sản xuất về công nghiệp và những bí mật về kinh doanh.”[15]

Nhìn chung các bí mật thương mại có thể là:[18]

- Liên quan đến kinh doanh: kế hoạch và chiến lược kinh doanh, mô hình hoạt động được lựa chọn, kế hoạch tiếp thị, danh sách khách hàng, thông tin tài chính, hồ sơ nhân sự, các phương pháp, các quy trình và thời gian biểu vận hành côngviệc

- Liên quan đến kỹ thuật: kế hoạch và chiến lược nghiên cứu phát triển tài liệu hướng dẫn, thiết kế, công thức, bí quyết sản xuất, quy trình sản xuất hoặc sửa chữa, kỹ thuật, nguyên liệu và bản mô tả kỹ thuật, các thuật toán và phương pháp được thực hiện trong chương trình máy tính, bản vẽ kiến trúc, các cơ sở dữ liệu độc quyền, phương pháp tìm tài liệu, bản vẽ, mô hình, vật mẫu, bản thiết kế và sơđồ

Trang 20

Dưới góc độ pháp luật Việt Nam thì theo khoản 10 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2005 [8], bí mật kinh doanh là những thông tin không phải là hiểu biết thông thường, có khả năng áp dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng sẽ tạo cho người nắm giữ thông tin đó có lợi thế hơn so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng thông tin đó, được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để thông tin đó không bị tiết lộ và không dễ dàng tiếp cậnđược Theo khoản 23 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005 [10], bí mật

kinh doanh được giải thích là “thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính,

trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh”.Theo khái

niệm này, một bí mật kinh doanh có 3 dấu hiệu cơ bản:

+ Là kết quả của quá trình đầu tư, nghiên cứu, sáng tạo thể hiện qua các tri thức, thông tin;

+ Chưa được bộc lộ đến mức những người khác có thể dễ dàng có được;

+ Có khả năng tạo ra những giá trị kinh tế khi sử dụng trong kinh doanh

1.1.2 Đặc điểm:

Mặc dù đa dạng về loại hình nhưng tựu chung lại bí mật kinh doanh gồm những đặc điểm sau:

Đặc điểm về tính thông tin của bí mật kinh doanh

Tính thông tin của bí mật kinh doanh thể hiện ở chỗ bí mật kinh doanh phải mang đến cho những người có khả năng tiếp cận nó những nhận thức, những hiểu biết nhất định về một sự vật, một hiện tượng nào đó trong thế giới khách quan Thông tin là bí mật kinh doanh có thể tồn tại hoặc được thể hiện dưới những dạng vật chất hữu hình, cụ thể như tài liệu, sách vở chứa đựng thông tin, mô hình, mẫu vật… nhưng bí mật kinh doanh không đồng nhất với những vật chất đó Bí mật kinh doanh, một mặt, là kết quả của hoạt động nhận thức, trí tuệ của con người được thể hiện, tái tạo lại thông qua các vật chất hữu hình nói

Trang 21

thì phải thông qua hoạt động nhận thức của trí tuệ Chính vì vậy, bí mật kinh doanh là một loại tài sản trí tuệ của người kinh doanh

Đặc điểm về tính bí mật của thông tin

Đây là đặc điểm cơ bản nhất và có tính chất quyết định của bí mật kinh doanh Nếu một loại thông tin mà không có tính bí mật thì không thể được xem

là bí mật kinh doanh được cho dù nó có thể có chức năng thông tin, có thể có giá trị đối với hoạt động kinh doanh

Thông tin có tính chất bí mật nghĩa là phạm vi những người biết đến thông tin rất hạn chế Mặt khác, những người quan tâm đến thông tin cũng không thể

dễ dàng lấy thông tin ở những nguồn thông tin công cộng

Điểm a – Khoản 2 – Hiệp Định TRIPS giải thích về tính bí mật như sau:

“có tính chất bí mật với nghĩa là nó không được biết đến nói chung trên nguyên

tắc, đối với nội dung hoặc trong hình thể chính xác hoặc sự kết hợp của các thành phần thông tin, trong số hoặc bởi những người thường xuyên tiếp cận hoặc thường xuyên xử lý loại thông tin đó.”

Tuy nhiên, tính bí mật không có nghĩa là phải hoàn toàn bí mật Bí mật kinh doanh cũng có thể được biết bởi các nhân viên, người lao động trong công

ty, những người có liên quan đến việc sử dụng thông tin hoặc những người khác

có cam kết bảo mật

Đặc điểm về tính giá trị của thông tin

Thông tin bí mật được người kinh doanh coi là bí mật kinh doanh phải là thông tin có giá trị [16] Đặc điểm này xuất phát từ bản chất của hoạt động kinh doanh Trong quá trình hoạt động của mình, các chủ thể kinh doanh phải thu thập, lưu giữ rất nhiều loại thông tin nhằm đưa ra các quyết định kinh doanh có hiệu quả, mang lại nhiều lợi nhuận Trong vô số các thông tin mà các chủ thể kinh doanh thu thập được, họ chỉ giữ lại những thông tin có giá trị

Trang 22

Tính giá trị cuả thông tin thể hiện trên nhiều khía cạnh Giá trị của thông tin có thể thể hiện ở khoản tiền, vốn mà người có được thông tin đã đầu tư để tạo

ra hoặc có được thông tin đó Giá trị của thông tin cũng có thể thể hiện ở mức độ đầu tư thời gian, công sức để tạo ra hoặc thu thập thông tin Giá trị của thông tin cũng có thể thể hiện ở những khoản lợi mà chủ sở hữu thu được khi biết và sử dụng thông tin Đôi khi, giá trị của thông tin là bí mật kinh doanh còn thể hiện ở

sự mất mát, thiệt hại mà chủ sở hữu phải gánh chịu hoặc khoản lợi mà người không phải là chủ sở hữu được hưởng nếu thông tin đó bị tiết lộ, bị người khác biết hoặc sử dụng

Đặc điểm về khả năng sử dụng của thông tin

Thông tin được coi là BMKD không những mang đặc điểm về giá trị, về công sức thu thập của chủ sở hữu mà còn phải có tính năng sử dụng trong thực

tế Khi được đưa vào sản xuất kinh doanh phải phát huy hết những lợi thế mà thông tin đó có th ể mang lại, phải tạo ra sản phẩm về mặt vật chất là những sản phẩm hoặc dịch vụ là đối tượng trực tiếp trong quá trình sản xuất, kin doanh Nếu thông tin bí mật không thể hiện được giá trị hoặc không còn mang lại lợi thế cho người nắm giữ thì sẽ không được bảo hộ với tư cách BMKD.[22]

Tóm lại B MKD là một loại tài sản trí tuệ có giá trị vì nó tạo ra lợi thế riêng của chủ sở hữu BMKD so với các đối thủ cạnh tranh khác Đối với mỗi một doanh nghiệp các BMKD vô cùng quan trọng, nó ảnh hưởng đến sự tồn tại

và phát triển của doanh nghiệp nhất là trong thời buổi kinh tế cạnh tranh như hiện nay

1.2 Như ̃ng nô ̣i dung cơ bản của pháp luật về bảo hộ quyền SHCN đối với BMKD

1.2.1 Điều kiê ̣n bảo hộ

Trong thời đại ngày nay, những thông tin là sản phẩm của hoạt động trí tuệ con người được pháp luật bảo hộ Tuy nhiên không phải bất kỳ thông tin nào

Trang 23

cũng được bảo hộ với danh nghĩa là bí mật kinh doanh Sản phẩm trí tuệ chỉ được bảo hộ với tư cách là bí mật kinh doanh khi nó đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định Việc tìm hiểu các điều kiện bảo hộ bí mật kinh doanh có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn

Theo quy định tại Điều 84 – Luật SHTT một thông tin được bảo hộ với danh nghĩa là một bí mật kinh doanh nếu thông tin đó đáp ứng các điều kiện sau:

Thứ nhất, thông tin là bí mâ ̣t kinh doanh k hông phải là hiểu biết thông

thường và không dễ dàng có được.Điều kiện này được ghi nhận trong Luật sở hữu trí tuệ và trong Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ nhưng không được quy định tại Hiệp định TRIPs

Với tư cách là một đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ bí mật kinh doanh chỉ được bảo hộ khi nó là sản phẩm của hoạt động trí tuệ Hơn nữa, sản phẩm trí tuệ này không phải là hiểu biết thông thường, có nghĩa là chủ sở hữu bí mật kinh doanh biết mà một người có kiến thức trung bình trong lĩnh vực đó không thể biết được Mặt khác, để biết được thông tin đó con người phải đầu tư về mă ̣t công sức, thời gian, nỗ lực của bản thân, kinh nghiệm vốn có và cả tiền bạc mới

có thể tạo ra thông tin đó

Với nghĩa như vậy kiến thức chung và kiến thức phổ thông có trong các sách giáo khoa, giáo trình hoặc các sách báo có bán rộng rãi trên thị trường không phải là bí mật kinh doanh.Kiến thức mà bất kỳ một người nào quan tâm đến kiến thức đó cũng có thể dễ dàng tìm thấy trong các nguồn thông tin, tư liệu công cộng cũng không phải là bí mật kinh doanh.Tuy nhiên, một kiến thức mới được tạo ra từ những kiến thức chung hoặc kiến thức phổ thông hoặc tạo ra từ nhiều nguồn thông tin, tư liệu công cộng thể hiện sự nỗ lực, công sức và trí tuệ của người tạo ra nó cũng có thể được bảo hộ với tư cách là BMKD

Trên thực tế, điều kiện này là một điều kiện rất khó áp dụng để xem xét một thông tin có phải là hiểu biết thông thường hay không hoặc có dễ dàng có

Trang 24

được hay không Có nhiều lý do dẫn đến sự khó khăn này Trước hết, đây là một điều kiện có tính chất định tính, nó khá chung chung và mơ hồ nên sẽ gây ra sự khó khăn cho việc áp dụng.Hai là, điều kiện này cho phép các thẩm phán hoặc những người áp dụng pháp luật xem xét theo ý chí chủ quan của mình về khả năng có phải là kiến thức thông thường hay không và về sự dễ dàng hay khó khăn để có được nó Thực tế, các thẩm phán không phải là người có kiến thức sâu rộng trong mọi lĩnh vực để có thể dễ dàng đánh giá một tập hợp kiến thức có phải là hiểu biết thông thường hay không Hơn nữa, trình độ các thẩm phán ở nước ta chưa đồng đều giữa các vùng miền khác nhau.Vì vậy, khi xem xét điều kiện này dễ gây ra sự không thống nhất trong áp dụng luật

Thứ hai, thông tin khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người

nắm giữ bí mật kinh doanh lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó

Một trong những đặc điểm cơ bản của bí mật kinh doanh là tính giá trị Giá trị của bí mật kinh doanh có thể được thể hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên giá trị của bí mật kinh doanh sẽ chẳng là gì cả nếu nó không trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra cho chủ sở hữu hoặc người sử dụng nó một lợi thế nào đó so với các đối thủ cạnh tranh khác hoặc so với các chủ thể kinh doanh khác trên thị trường Chính vì vậy, bí mật kinh doanh chỉ được bảo hộ nếu nó tạo

ra lợi thế cho chủ sở hữu hoặc những người biết và sử dụng nó

Lợi thế mà bí mật kinh doanh mang lại có thể là lợi thế trực tiếp hoặc gián tiếp, có thể thấy ngay trước mắt nhưng cũng có thể lợi thế mang tầm chiến lược lâu dài Một bí mật kinh doanh về công thức pha chế nước giải khát, nước hoa, rượu, bia có thể mang lại một lợi thế trực tiếp trên cơ sở chất lượng vượt trội của sản phẩm.Chẳng hạn công thức pha chế nước hoa Chanel 5 của Pháp hay công thức pha chế rượu vang Pháp là những ví dụ điển hình về chất lượng vượt trội nhờ bí mật kinh doanh trong công thức pha chế sản phẩm.Một bí mật kinh doanh về nhu cầu, ước muốn, thói quen tiêu dùng của khách hàng trên thị trường có thể

Trang 25

Một bí mật kinh doanh trong việc quảng cáo thương hiệu có thể tạo ra một dấu

ấn của doanh nghiệp đối với khách hàng, từ đó nâng cao được lợi nhuâ ̣n của doanh nghiệp Một bí mật kinh doanh trong chiến lược kinh doanh có thể tạo ra thói quen, tập quán tiêu dùng của khách hàng đối với hàng hoá, sản phẩm, thậm chí có thể tác động đến cả chính sách, pháp luật của nhà nước

Như vậy, trên thực tế, mỗi bí mật kinh doanh có thể tạo cho chủ sở hữu hoặc những người sử dụng nó một hoặc nhiều lợi thế khác nhau Nhưng nhìn chung, bí mật kinh doanh có thể tạo ra các loại lợi thế sau:lợi thế về chất lượng của sản phẩm,chất lượng của dịch vụ so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại; lợi thế về giá thành của sản phẩm, dịch vụ; lợi thế về giá cả của nguyên, nhiên vật liệu đầu vào;lợi thế về thị phần của sản phẩm, dịch vụ; lợi thế về thương hiệu;lợi thế về ấn tượng của doanh nghiệp trên thương trường; lợi thế trong chiến lược, chính sách đầu tư, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; lợi thế về cơ hội kinh doanh;các lợi thế khác [23]

Thứ ba, thông tin được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết

để bí mật kinh doanh đó không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được.Một điều kiện khác để bí mật kinh doanh được bảo hộ đó là chủ sở hữu BMKD phải tiến hành các biện pháp bảo mật cần thiết để cho bí mật kinh doanh đó không bị tiết lộ và không dễ dàng bị xâm hại.Trên thực tế, các chủ sở hữu bí mật kinh doanh là người áp dụng các biện pháp bảo mật nhằm đảm bảo quyền sở hữu của mình đối với BMKD và tránh sự xâm phạm bất hợp pháp Tuy nhiên, các biện pháp bảo mật mà chủ sở hữu áp dụng phải đủ cần thiết nhằm bảo vệ BMKD của mình

Tính cần thiết của các biện pháp bảo mật cần được xem xét trong từng trường hợp cụ thể Một vấn đề cần lưu ý để có thể xem xét tính cần thiết của các biện pháp bảo mật đã được áp dụng đó là mối tương quan giữa giá trị của bí mật kinh doanh và những lợi thế mà bí mật kinh doanh mang lại cho chủ sở hữu với các biện pháp đã áp dụng Tất nhiên giá trị và lợi thế mà bí mật kinh doanh càng cao thì bí mật kinh doanh càng quan trọng và cần phải có những biện pháp bảo

Trang 26

mật đủ chắc chắn để đảm bảo Trong trường hợp có sự chênh lê ̣ch nhau giữa giá trị của bí mật kinh doanh và các biện pháp bảo mật bí mật kinh doanh đó thì hoặc là chủ sở hữu nó đã không nhận thức được giá trị và tầm quan trọng của bí mật kinh doanh hoặc là cố ý đánh lừa các đối thủ cạnh tranh khác.[23]

1.2.2 Nô ̣i dung bảo hộ quyền SHCN đối với BMKD

Quyền sử du ̣ng và cho phép người khác sử du ̣ng bí mật kinh doanh

Quyền sử dụng bí mật kinh doanh là một quyền quan trọng đối với chủ sở hữu Bỡi lẽ, quyền sử dụng bí mật kinh doanh sẽ mang lại lợi ích một cách trực tiếp cho chủ sở hữu, bù đắp lại các chi phí, sự đầu tư về vốn hoặc thời gian mà chủ sở hữu phải bỏ ra tạo ra hoặc có được bí mật kinh doanh

Khoản 4 Điều 124 Luật SHTT 2005 (SĐBS 2009) quy định: Sử dụng bí mật kinh doanh là việc thực hiện các hành vi sau đây:

“a) Áp dụng bí mật kinh doanh để sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ, thương mại hàng hoá;

b) Bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu sản phẩm được sản xuất

do áp dụng bí mật kinh doanh.”

Sử dụng là việc dùng vật (tài sản) đó nhằm thỏa mãn nhu cầu nhất định của chủ sở hữu hoặc của người đang trực tiếp chiếm hữu, chi phối tài sản Điều

189 BLDS quy định: “Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa

lợi, lợi tức từ tài sản” Nguyên tắc chung là “việc khai thác những giá trị sử dụng của tài sản nhằm để thỏa mãn những nhu cầu về sinh hoạt vật chất hoặc tinh thần cho bản thân mình”

Bí mật kinh doanh là một loại tài sản trí tuệ vì vậy chủ sở hữu bí mật kinh doanh có quyền trực tiếp sử du ̣ng nó Sử du ̣ng tài sản là quyền có ý nghĩa thực tế cao nhất của chủ sở hữu vì vâ ̣y quyền sử dụng bí mật kinh doanh là quyền quan trọng nhất của chủ sở hữu bí mật kinh doanh Quyền sử du ̣ng bí mâ ̣t kinh doanh

Trang 27

giúp cho chủ sở hữu của nó thu lại được những phí tổn để tạo ra nó bằng những lợi thế mà bí mâ ̣t kinh doanh đó mang la ̣i trước những đối thủ ca ̣nh tranh khác Sử dụng bí mật kinh doanh là việc thực hiện áp d ụng bí mật kinh doanh để sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ, thương mại hàng hoá; bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu sản phẩm được sản xuất do áp dụng bí mật kinh doanh Chủ sở hữu bí mật kinh doanh có toàn quyền trong việc áp dụng bí mật kinh doanh Chủ sở hữu có quyền lựa ch ọn áp dụng bí mật kinh doanh để sản xuất loại sản phẩm nào, nhiều hay ít, bán ở đâu; cung ứng dịch vụ ở đâu, cho ai v.v… Đồng thời chủ sở hữu cũng có quyền quảng cáo về việc đã áp dụng bí mật kinh doanh trong việc sản xuất sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ nhằm thúc đẩy việc bán sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ do mình sản xuất hoặc cung ứng nếu hàng hoá hoặc dịch vụ đó được sản xuất hoặc cung ứng có áp dụng bí mật kinh doanh Như vậy, quyền sử dụng của chủ sở hữu bí mật kinh doanh bao gồm việc

áp dụng bí mật kinh doanh và quyền thực hiện các hành vi thương mại liên quan đến việc cung ứng sản phẩm được sản xuất do áp dụng bí mật kinh doanh ra thị trường

Về nguyên tắc, chủ sở hữu tài sản có toàn quy ền trực tiếp khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản để thỏa mãn các nhu cầu theo ý chí của mình Tuy nhiên, chủ sở hữu có thể chuyển giao cho người khác quyền sử dụng tài sản trên cơ sở một hợp đồng hợp pháp của chủ sở hữu Người không phải là chủ sở hữu bí mật kinh doanh cũng có quyền sử dụng bí mật kinh doanh kinh doanh trên cơ sở ý chí của chủ sở hữu Việc cho phép chủ thể khác sử dụng bí mật kinh doanh phải được thực hiện thông qua hợp đồng chuyển quyền sử dụng

bí mật kinh doanh (li – xăng bí mật kinh doanh) Thông qua li – xăng bí mật kinh doanh chủ sở hữu có thể cho phép chủ thể khác sử dụng bí mật kinh doanh của mình Chủ sở hữu có thể cho phép chủ thể khác thực hiện một, hay một số hành vi hoặc toàn bộ các hành vi như : áp dụng bí mật kinh doanh để sản xuất hàng hoá, cung ứng dịch vụ, bán, quảng cáo để bán, nhập khẩu để bán, tàng trữ để bán sản phẩm được sản xuất do áp dụng bí mật kinh doanh

Trang 28

Li – xăng bí mật kinh doanh phải là hợp đồng bằng văn bản (theo khoản 2

- Điều 141 – Luật SHTT), có thể là li – xăng độc quyền hoặc li – xăng không độc quyền Nội dung của li – xăng phải có các điều khoản chủ yếu như: tên và địa chỉ đầy đủ của bên chuyển quyền và bên được chuyển quyền; căn cứ chuyển giao quyền sử dụng; dạng dạng li – xăng; phạm vi chuyển giao, bao gồm giới hạn quyền sử dụng, giới hạn lãnh thổ; thời hạn li xăng; giá chuyển giao quyền sử dụng; quyền và nghĩa vụ của bên chuyển quyền và bên được chuyển quyền

Tuy nhiên, quyền sử dụng bí mật kinh doanh sẽ bị hạn chế trong một số trường hợp theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 7 Luật Sở hữu trí tuệ:

Việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác và không được vi phạm các quy định khác của pháp luật có liên quan

Trong trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh

và các lợi ích khác của Nhà nước, xã hội quy định tại luật này, Nhà nước có quyền cấm hoặc hạn chế chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện quyền của mình hoặc buộc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng một hoặc một số quyền của mình với những điều kiện phù hợp

Như vậy, chủ sở hữu bí mật kinh doanh được quyền quyết định hình thức sử dụng theo ý mình nhưng sự quyết định này không được xâm phạm lợi ích của nhà nước, công cộng và quyền lợi cá nhân khác Cũng như chủ sở hữu bí mật kinh doanh phải tuân theo các quy định của pháp luật khi thực hiện quyền sử dụng của mình Quy định này nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước, cộng đồng, lợi ích chính đáng của cá nhân khác và tránh sự lạm dụng của chủ sở hữu Bên cạnh

đó, khi có sự xung đột giữa lợi ích chủ sở hữu bí mật kinh doanh và lợi ích của nhà nước, lợi ích giữa chủ sở hữu bí mật kinh doanh với lợi ích của người khác

mà việc bảo vệ những quyền lợi này là cần thiết thì quyền của chủ sở hữu bí mật kinh doanh vẫn bị bắt buộc hạn chế thực hiện

Trang 29

Quyền ngăn cấm ngươ ̀ i khác sử du ̣ng bí mâ ̣t kinh doanh

Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh chỉ thực sự có ý nghĩa khi việc sử dụng bí mật kinh doanh đó mang lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thương trường Điều này chỉ được đảm bảo khi chủ sở hữu bí mật kinh doanh có quyền ngăn cấm việc thu thập, bộc lé hay sử dụng bí mật kinh doanh bất hợp pháp từ các chủ thể khác Người không phải chủ sở hữu nhưng được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng cũng có quyền ngăn cấm việc thu thập, bộc lé hoặc sử dụng bí mật kinh doanh từ các chủ thể khác

Chủ sở hữu hoặc người có quyền kiểm soát hợp pháp bí mật kinh doanh

có quyền áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để ngăn cấm các chủ thể khác tiếp cận, thu thập, sử dụng hoặc bộc lé bí mật kinh doanh của mình một cách bất hợp pháp

Chủ sở hữu bí mật kinh doanh và người được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng không được phép cấm người khác bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh trong các trường hợp sau:

- Nếu một người không biết và không có nghĩa vụ phải biết bí mật kinh doanh đó là do người khác thu được một cách bất hợp pháp thì chủ sở hữu không

có quyền ngăn cấm họ bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh đó

- Trong trường hợp cơ quan cấp phép có thẩm quyền bộc lộ dữ liệu thử nghiệm hoặc dữ liệu khác là bí mật kinh doanh do người nộp đơn xin cấp phép kinh doanh, lưu hành sản phẩm, nông hoá phẩm cho các tổ chức cá nhân không nhằm mục đích thương mại không lành mạnh như nghiên cứu, giảng dạy, thực nghiệm hoặc các mục đích phi thương mại khác Đây là một ngoại lệ của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh nói riêng

- Trong trường cơ quan cấp phép có thẩm quyền bộc lộ giữ liệu nhằm bảo

vệ công chúng

Trang 30

- Bộc lộ bí mật kinh doanh được tạo ra một cách độc lập;

- Bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh được tạo ra do phân tích, đánh giá sản phẩm được phân phối hợp pháp với điều kiện người phân tích đánh giá không có thoả thuận khác với chủ sở hữu bí mật kinh doanh

Những trường hợp trên cũng có thể được coi là giới hạn quyền của chủ sở hữu hoặc người sử dụng bí mật kinh doanh Chủ sở hữu bí mật kinh doanh không được ngăn cấm các chủ thể khác sử dụng thông tin, kiến thức, kỹ năng kinh nghiệm là bí mật kinh doanh nếu họ hoàn toàn không cố ý chống lại các biện pháp bảo mật của người kiểm soát hợp pháp bí mật kinh doanh đã được bảo

hộ.Như vâ ̣y, pháp luật quy định về quyền ngăn cấm người khác sử dụng bí mật kinh doanh là cần thiết Nhằm ngăn chặn những hành vi xâm pha ̣m quyền của người thứ ba đối với bí mật kinh doanh Theo đó, chủ sở hữu bí mật kinh doanh

và tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng hoặc quyền quản lý sẽ có quyền ngăn cấm đối với các hành vi xâm pha ̣m quyền sở hữu công nghiê ̣p Và, không

có quyền ngăn cấm đối với các hành vi quy định tại Khoản 3 Điều 125 Luâ ̣t sở hữu trí tuê ̣ 2013

Quyền đi ̣nh đoa ̣t bí mâ ̣t kinh doanh

Chủ sở hữu bí mật kinh doanh có quyền định đoạt đối với bí mật kinh doanh do mình sở hữu Xét trên khía cạnh pháp lý và lợi ích kinh tế của chủ sở hữu, quyền định đoạt bí mật kinh doanh của chủ sở hữu được thực hiện thông qua việc chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp bí mật kinh doanh cho chủ thể khác

Việc chuyển nhượng quyền sở hữu bí mật kinh doanh phải được thực hiện thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh phải bằng văn bản và có các nội dung chủ yếu được quy định tại Điều 140 - Luật SHTT, bao gồm: tên và địa chỉ đầy đủ của bên chuyển nhượng

Trang 31

và bên được chuyển nhượng; căn cứ chuyển nhượng; giá chuyển nhượng; quyền

và nghĩa vụ của bên chuyển nhượng và bên được chuyển nhượng

Trong trường hợp liên doanh, một bên liên doanh hoặc góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh thì hợp đồng liên doanh hoặc hợp đồng góp vốn có giá trị pháp lý như hợp đồng chuyển nhượng quyền

sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh Hành vi liên doanh hoặc hành vi góp vốn trong trường hợp này được coi là hành vi định đoạt bí mật kinh doanh

Trên thực tế, việc định đoạt bí mật kinh doanh còn là sự định đoạt số phận thực tế của bí mật kinh doanh Chủ sở hữu có thể định đoạt số phận thực tế của bí mật kinh doanh bằng cách quyết định bộc lộ công khai bí mật kinh doanh

ra khu vực công cộng hoặc tiêu huỷ các giấy tờ tài liệu chứa đựng các thông tin

là bí mật kinh doanh mà sự tiêu huỷ đó đồng nghĩa với việc chấm dứt sự tồn tại của bí mật kinh doanh

1.2.3 Chủ thể quyền SHCN đối vơ ́ i BMKD

Một trong những nguyên tắc tối cao của pháp luật là quyền chủ thể chỉ được bảo hộ nếu quyền chủ thể đó được phát sinh, được xác lập trên các căn cứ hợp pháp Không nằm ngoài nguyên tắc đó, chủ thể được quyền SHCN đối với BMKD cũng chỉ được bảo hộ nếu nó được xác lập trên cơ sở các căn cứ hợp pháp

Theo quy định tại điểm c - khoản 3 - Điều 6 Luật SHTT thì “quyền sở hữu

công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ bảo mật bí mật kinh doanh” Ngoài ra, tại khoản 3 - Điều 121 - Luật SHTT còng quy định “chủ sở hữu bí mật kinh doanh là tổ chức, cá nhân có được bí mật kinh doanh đó một cách hợp pháp và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh”

Như vậy việc xác lập quyền đối với bí mật kinh doanh bao gồm hai mặt: một mặt, quyền đó phải được xác lập trên các căn cứ hợp pháp; mặt khác, ngay

Trang 32

tại thời điểm có được bí mật kinh doanh đó chủ sở hữu phải tiến hành các biện pháp bảo mật

Trên cơ sở quy định của pháp luật và thực tiễn xác lập quyền đối với bí mật kinh doanh ở nước ta, chủ thể được bảo hộ quyền SHCN đối với BMKDgồm những đối tượng sau:

Người trực tiếp bỏ thời gian, công sức, tiền bạc, trí tuệ của mình để tiến hành hoạt động sáng tạo ra BMKD

Cũng giống như đối với các loại tài sản hữu hình khác, quyền sở hữu đối với các tài sản trí tuệ nói chung và bí mật kinh doanh nói riêng được xác lập

trước hết dựa trên căn cứ “tạo ra tài sản” ở thời kỳ cộng sản nguyên thủy, do

hoàn cảnh lịch sử, sản phẩm lao động do cá nhân làm ra nhưng thuộc sở hữu chung của cả cộng đồng Khi xã hội phát triển đến một mức độ nhất định, con người bắt đầu thừa nhận một nguyên tắc bất cứ tài sản gì là sản phẩm lao động của người nào thì người đó làm chủ sở hữu Người lao động có toàn quyền trong việc bán, tặng cho, trao đổi, hay sử dụng tài sản của mình Nguyên tắc này đúng cho cả tài sản hữu hình và vô hình Người lao động trong quá trình lao động sáng tạo của mình nếu thu được các tri thức, kinh nghiệm hay kỹ năng thì cũng có quyền đối với các sản phẩm trí tuệ đó Người lao động tri óc cũng phải được sở hữu thành quả từ hoạt động trí óc của mình

Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh là loại hoạt động có những đặc thù nhất định Chỉ có những chủ chủ thể thoả mãn những điều kiện do pháp luật quy định mới được thực hiện hoạt động kinh doanh, gọi là chủ thể kinh doanh Chủ thể kinh doanh có thể là cá nhân hoặc pháp nhân Cá nhân hoặc pháp nhân kinh doanh này có thể thuê người lao động hoặc một chủ thể kinh doanh khác để thực hiện các hoạt động của mình Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ do cá nhân hoặc pháp nhân giao hoặc thuê, người lao động hoặc chủ thể kinh doanh được thuê mướn có thể tạo ra bí mật kinh doanh Trong trường hợp này, Luật SHTT

quy định “Bí mật kinh doanh mà bên làm thuê, bên thực hiện nhiệm vụ được

Trang 33

giao có được trong khi thực hiện công việc được thuê hoặc được giao thuộc quyền sở hữu của bên thuê hoặc bên giao, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.”

Trên thực tế, một bí mật kinh doanh có thể do nhiều chủ thể tạo cùng tạo

ra Bởi vì đặc thù của hoạt động lao động và hoạt động kinh doanh là có thể có

sự tham gia của rất nhiều chủ thể khác nhau Trong trường hợp nhiều người cùng lao động hoặc nhiều chủ thể kinh doanh cùng tham gia một hoạt động kinh doanh và mỗi chủ thể đều có những đóng góp nhất định trong việc tạo ra hoặc sử dụng bí mật kinh doanh thì về nguyên tắc là các chủ thể đều có quyền xác lập quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh đó Pháp luật Việt Nam chưa có quy định về đồng sở hữu đối với bí mật kinh doanh Nhằm đảm bảo quyền chủ sở hữu, thực tiễn Việt Nam và thế giới, các chủ thể này thường ký kết các thoả thuận bảo mật để đảm bảo quyền chủ sở hữu của mình Trong trường hợp các bên không có thoả thuận bảo mật thì nếu một bên bộc lộ bí mật kinh doanh đó sẽ không có căn cứ pháp lý để áp dụng các biện pháp chế tài mặc dù việc bộc lộ đó

có thể gây thiệt hại cho các chủ thể khác Để khắc phục sự thiếu hụt này pháp luật Việt Nam cần có quy định về việc đồng sở hữu bí mật kinh doanh và giới hạn quyền của các đồng sở hữu đối với bí mật kinh doanh

Người nhận chuyển giao quyền SHCN đối với BMKD thông qua hợp đồng chuyển nhượng bí mật kinh doanh

Một trong những đặc tính cơ bản của bí mật kinh doanh là có giá trị thương mại, mang lại lợi thế cạnh tranh cho người biết được hoặc sử dụng nó Chính vì vậy, trong hoạt động kinh doanh chủ sở hữu bí mật kinh doanh cũng có thể chuyển nhượng bí mật kinh doanh mà mình sở hữu cho người khác Điều này vừa mang lại lợi ích kinh tế cho chủ sở hữu vừa mang lại ích cho người nhận

chuyển nhượng

Trang 34

Việc chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh làm chấm dứt quyền sở hữu của bên chuyển nhượng và làm phát sinh quyền sở hữu đối với bên nhận chuyển nhượng

Ngươ ̀i nhận thừa kế BMKD

Trong trường hợp cá nhân là chủ sở hữu của bí mật kinh doanh chết, quyền sở hữu bí mật kinh doanh được dịch chuyển cho người thừa kế Việc dịch chuyển này có thể theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật Trong trường hợp được dịch chuyển theo di chúc, người được chỉ định trong di chúc được xác lập quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh kể từ thời điểm mở thừa kế Trong trường hợp cá nhân là chủ sở hữu bí mật kinh doanh chết mà không để lại thừa

kế thì về nguyên tắc, tất cả những người có quyền hưởng thừa kế theo pháp luật của người chết đều có quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh đó Các chủ sở hữu có quyền thoả thuận để cùng sử dụng bí mật kinh doanh hoặc được hưởng thừa kế bằng cách nhận một phần giá trị của bí mật kinh doanh quy thành tiền Người được xác lập quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh có quyền có nghĩa vụ phải trả tiền cho người thừa kế khác

Người nhận kế thừa BMKD

Trong quá trình kinh doanh, các pháp nhân kinh doanh có thể thực hiện việc tổ chức lại pháp nhân nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn Việc tổ chức lại pháp nhân được thực hiện bằng các hình thức như: chia, tách, sáp nhập, hợp nhất pháp nhân

Trong trường hợp một pháp nhân đang hoạt động chia thành hai hoặc nhiều pháp nhân cùng loại, thì các pháp nhân mới được chia có quyền xác lập quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh của pháp nhân bị chia theo quyết định chia pháp nhân (theo quyết định của Hội đồng thành viên nếu pháp nhân bị chia

là công ty TNHH; theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông nếu pháp nhân bị chia là công ty Cổ Phần…) Nếu hợp theo quyết định chia pháp nhân, các pháp

Trang 35

nhân mới đều được kế thừa bí mật kinh doanh của pháp nhân bị chia thì các pháp nhân mới là đồng chủ sở hữu đối với bí mật kinh doanh đó

Trong trường hợp một pháp nhân mới được tách ra khỏi một pháp nhân đang hoạt động, thì pháp nhân mới này có quyền xác lập quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh do pháp nhân đang hoạt động sở hữu theo quyết định tách pháp nhân

Trong trường hợp một pháp nhân đang hoạt động sáp nhập vào một pháp nhân đang hoạt động khác, thì pháp nhân được sáp nhập có quyền xác lập quyền

sở hữu đối với bí mật kinh doanh mà pháp nhân bị sáp nhập sở hữu

Trong trường hợp hai hoặc nhiều pháp nhân đang tồn tại hợp nhất thành một pháp nhân mới thì pháp nhân mới này có quyền xác lập quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh của các pháp nhân bị hợp nhất

Ngươ ̀i nhận chuyển quyền sử dụng bí mật kinhdoanh

Ngoài quyền chuyển nhượng quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh, chủ sở hữu bí mật kinh doanh còn có thể chuyển quyền sử dụng cho chủ thể khác Cách này có thể giúp chủ sở hữu bí mật kinh doanh thu được lợi nhuận, giúp bí mật kinh doanh đến được tay của chủ thể có nhu cầu sử dụng, khai thác để phát huy thế mạnh của bí mật kinh doanh, giúp bí mật kinh doanh nhanh chó ng tiếp cận với thị trường và công nghệ mới Nhưng tư cách chủ sở hữu đối với bí mật kinh doanh lại không bị mất đi Hoạt động chuyển quyền này chỉ là việc chủ sở hữu cho phép sử dụng bí mật kinh doanh chứ không phải là hoạt động bán đứt như đối với chuyển nhượng quyền sở hữu Vì vậy, sau khi chuyển giao quyền này thì tư cách chủ sở hữu đối với bí mật kinh doanh vẫn không mất đi và nếu không phải là hợp đồng độc quyền thì chủ sở hữu bí mật kinh doanh vẫn có quyền sử dụng đối tượng này Chủ thể có tư cách chuyển giao quyền sử dụng đối với bí mật kinh doanh là người có quyền

sở hữu hợp pháp đối với bí mật kinh doanh theo khoản 3 Điều 121 Có thể là tác giả tạo ra bí mật kinh doanh, người nắm một phần hoặc toàn bộ quyền sở

Trang 36

hữu đối với bí mật kinh doanh, người nắm một phần hoặc toàn bộ quyền sử dụng đối với bí mật kinhdoanh

Vậy chuyển quyền sử dụng đối bí mật kinh doanh là việc chủ sở hữu bí

mật kinh doanh “cho phép” tổ chức, cá nhân khác sử dụng một phần hoặc

toàn bộ bí mật kinh doanh trong phạm vi sử dụng của mình

1.2.4 Bảo vệ quyền SHCN đối với BMKD

1.2.4.1.Các dạng hành vi xâm phạm BMKD

Để bảo vệ hữu hiệu bí mật kinh doanh tránh khỏi các hành vi xâm phạm, pháp luật cho phép chủ sở hữu quyền tự bảo vệ bí mật kinh doanh của mình bằng các biện pháp hợp pháp Mặt khác, trong trường hợp bí mật kinh doanh bị xâm hại nghĩa vụ chứng minh hành vi xâm phạm thuộc về các đương sự Vì vậy, theo tác giả, để bảo vệ bí mật kinh doanh một cách tốt nhất, trước hết cần phải xác định được hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh

Trong Luật SHTT năm 2013 hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh được quy định chủ yếu tại Điều 127 Theo đó, hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh tồn tại dưới ba dạng hành vi bất hợp pháp dưới đây:

(i) tiếp cận và thu thập bí mật kinh doanh bất hợp pháp;

(ii) bộc lộ bí mật kinh doanh bất hợp pháp; và

(iii) sử dụng bí mật kinh doanh bất hợp pháp

Tiếp cận, thu thập bí mật kinh doanh bất hợp pháp

Bí mật kinh doanh mang lợi thế cho chủ sở hữu và những chủ thể khác được chủ sở hữu cho phép sử dụng bí mật kinh doanh bí mật kinh doanh sẽ bị giảm sút giá trị nếu nhiều người biết đến nó, sử dụng nó trong kinh doanh và sẽ

bị mất giá trị, mất luôn sự bảo hộ nếu không còn tính bí mật Chính vì vậy, chỉ

có chủ sở hữu hoặc những người được chủ sở hữu cho phép, giao nhiệm vụ mới được tiếp cận, thu thập thông tin

Trang 37

Để đảm bảo tính bí mật của bí mật kinh doanh, chủ sở hữu hoặc người kiểm soát hợp pháp bí mật kinh doanh phải áp dụng các biện pháp bảo mật cần thiết Người không phải là chủ sở hữu, không phải là người được giao nhiệm vụ hoặc cho phép nếu tiếp cận, thu thập thông tin thì có thể được coi là tiếp cận bất hợp pháp trong các trường hợp do pháp luật quy định

Theo quy định tại Điểm a - Điều 40- Luật về bí mật thương mại của Mỹ

quy định thì: “Một chủ thể phải chịu trách nhiệm pháp lý vì chiếm đoạt bí mật

thương mại của người khác nếu có hành động chiếm đoạt thông tin mặc dù biết hoặc pháp luật bắt buộc phải biết đó là bí mật thương mại của người khác bằng cách thức bất hợp pháp theo quy định tại Điều 43” Tiếp đó, Điều 43 – Luật bí

mật thương mại quy định cách thức bất hợp pháp được quy định tại Điều 40 bao gồm các cách thức sau: hành vi ăn trộm (theft), lừa đảo (fraud), tự mình hoặc xui khiến người khác vi nghĩa vụ bảo mật (inducing or knowing participating in a breach of confidence), xâm phạm thư tín, điện thoại, điện tín hoặc các phương tiện thông tin liên lạc khác (unauthorized interception of communications) hoặc các cách thức bất hợp pháp khác [1]

Trên cơ sở quy định tại Khoản 1 - Điều 127 – Luật SHTT, các hành vi tiếp cận thu thập thông tin dưới đây bị coi là tiếp cận thu, thập bất hợp pháp:

- Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người kiểm soát hợp pháp bí mật kinh doanh đó;

- Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách vi phạm hợp đồng bảo mật;

- Lừa gạt, xui khiến, mua chuộc, ép buộc, dụ dỗ, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh;

Trang 38

- Tiếp cận, thu thập thông tin của người nộp đơn theo thủ tục xin cấp phép kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của các cơ quan có thẩm quyền

Như vậy, theo pháp luật Việt Nam tính không hợp pháp của hành vi tiếp cận thu thập được xem xét trong mối tương quan với các biện pháp bảo mật của chủ sở hữu hoặc người kiểm soát hợp pháp của chủ sở hữu Một hành vi có được coi là tiếp cận, thu thập bất hợp pháp hay không phụ thuộc vào việc khi thực hiện hành vi đó, người thực hiện hành vi có chống lại các biện pháp bảo mật hay không Vì vậy, có thể có trường hợp, cùng một hành vi, cùng một cách thức tiếp cận, nhưng căn cứ vào sự bảo mật của chủ sở hữu mà có thể có hai hệ quả khác nhau Hành vi nào chống lại các biện pháp bảo mật của chủ sở hữu mới bị coi là hành vi xâm phạm

Vì pháp luật quy định việc tiếp cận, thu thập thông tin chỉ bị coi là xâm phạm bí mật kinh doanh khi nó chống lại các biện pháp bảo mật của người kiểm soát hợp pháp bí mật kinh doanh cho nên tất cả các hành vi tiếp cận thu thập chỉ

bị coi là xâm phạm bí mật kinh doanh khi nó được thực hiện với lỗi cố ý

Trong một số trường hợp, một người có thể tình cờ biết được bí mật kinh doanh mà không cố ý tiếp cận, thu thập Chẳng hạn, chủ sở hữu hoặc người kiểm soát hợp pháp bí mật kinh doanh vô ý để lộ thông tin cho một bên thứ ba biết Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, người thứ ba thu được thông tin trong trường hợp này có thể được xác lập quyền sở hữu bí mật kinh doanh vì đã có được bí mật kinh doanh nhưng không sử dụng bất kỳ cách thức bất hợp pháp nào

Theo Luật về bí mật thương mại của Mỹ ( Điểm b - Điều 40) thì trường

hợp này được gọi là “bộc lộ ngẫu nhiên” (accidental disclosure) Và cũng theo

quy định tại Điều 40 này, nếu việc bộc lộ ngẫu nhiên này không phải là kết quả của việc không sử dụng đủ các biện pháp bảo mật của chủ sở hữu và người nhận thông tin là người biết hoặc pháp luật bắt buộc phải biết rằng đó là bí mật kinh

Trang 39

doanh của chủ thể khác thì người chiếm đoạt thông tin phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi chiếm đoạt thông tin của mình.[1]

Sử dụng bí mật kinh doanh bất hợp pháp

Theo nguyên tắc chung thì việc sử dụng bí mật kinh doanh thuộc về chủ

sở hữu và những người được chủ sở hữu cho phép Trong trường hợp một người không phải là chủ sở hữu, cũng không phải là người được chủ sở hữu cho phép

mà thực hiện các hành vi như: áp dụng bí mật kinh doanh để sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ, thương mại hàng hoá; bán, quảng cáo để bán tàng trữ để bán hoặc nhập khẩu các sản phẩm được sản xuất do áp dụng bí mật kinh doanh thì bị coi là sử dụng bất hợp pháp bí mật kinh doanh

Theo quy định tại khoản 1 – Điều 127 – Luật SHTT hành vi sử dụng trong các trường hợp sau đây bị coi là sử dụng bất hợp pháp:

- Sử dụng bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu

- Sử dụng bí mật kinh doanh do mình tiếp cận, thu thập một cách bất hợp pháp

- Sử dụng bí mật kinh doanh khi biết hoặc có nghĩa vụ phải biết bí mật kinh doanh do người khác thu thập được bằng các hành vi thu thập bất hợp pháp

Mục đích thu lợi nhuận hay mục đích gây ra thiệt hại không phải là yêu cầu của pháp luật đối với hành vi Trên thực tế, việc sử dụng bí mật kinh doanh bao giờ cũng gây ra thiệt hại cho chủ sở hữu ở khía cạnh này hoặc khía cạnh khác Tuy nhiên, trong một số trường hợp, cần phải xem xét mục đích của hành

vi để quyết định một hành vi sử dụng nào đó có phải là sử dụng bất hợp pháp hay không Theo lẽ thông thường, việc sử dụng không nhằm mục đích thương mại và không gây ra thiệt hại cho chủ sở hữu hoặc sử dụng vì lợi ích công chúng

và xã hội thì không nên coi đó là sử dụng bất hợp pháp

Bộc lộ bí mật kinh doanh bất hợp pháp

Trang 40

Việc bộc lộ bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu sẽ làm thiệt hại cho chủ sở hữu Nếu việc bộc lộ này là việc bộc lộ công khai ra khu vực công cộng thì sẽ làm mất đi tính bí mật của bí mật kinh doanh dẫn đến việc bí mật kinh doanh sẽ không được bảo hộ trong tương lai Thậm chí sự bộc lộ mang tính chất riêng lẻ ( bộc lộ cho một hoặc một số người ) thì sẽ làm tăng nguy cơ của việc sử dụng hoặc bộc lộ không được phép trong hiện tại và tương lai, nghĩa

là nó làm tăng nguy cơ bị xâm phạm

Theo tinh thần của Điều 127 – Luật SHTT thì những hành vi bộc lộ bí mật kinh doanh dưới đây bị coi là hành vi bất hợp pháp:

- Bộc lộ bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu bí mật kinh doanh;

- Bộc lộ bí mật kinh doanh mà vi phạm hợp đồng bảo mật

- Lừa gạt, xui khiến, mua chuộc, ép buộc, dụ dỗ, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật nhằm bộc lé thông tin là bí mật kinh doanh;

- Bộc lộ bí mật kinh doanh dù đã biết hoặc có nghĩa vụ phải biết bí mật kinh doanh đó do người khác thu được do các hành vi bất hợp pháp;

Ngoài ra, theo tinh thần của Điều 128 – Luật SHTT 2005 (SĐBS 2009) thì

cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép bộc lộ thông tin là kết quả thử nghiệm hay dữ liệu bí mật của người nộp đơn xin cấp phép đăng ký kinh doanh, lưu hành sản phẩm, nông hoá phẩm khi họ có yêu cầu bảo mật thông thì việc bộc lộ đó cũng coi là xâm phạm bí mật kinh doanh

Trong một số trường hợp khác, pháp luật cũng quy định về trách nhiệm phải bảo mật thông tin là bí mật kinh doanh hoặc các thông tin bí mật khác (nghĩa vụ bảo mật thông tin của Toà án, của Trọng tài thương mại, của cá nhân hoặc tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp) Trong trường hợp pháp luật có quy định những nghĩa vô như vậy thì hành vi vi phạm nghĩa vụ này cũng được coi là

Ngày đăng: 16/11/2019, 07:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w