Luận văn là công trình nghiên cứu toàn diện về những ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Civil Law đến các phương diện khác nhau của đời sống pháp luật Việt Nam thời Pháp thuộc. Kết quả nghiên cứu của luận văn thể hiện ở các nội dung sau: Một là, Luận văn xây dựng được hệ thống lý luận khái quát một cách toàn diện về ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Civil Law đến pháp luật của một quốc gia nói chung và ảnh hưởng đến pháp luật Việt Nam thời Pháp thuộc nói riêng. Hai là, Luận văn chỉ ra và phân tích những ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Civil Law đến các thành tố cơ bản của pháp luật và đến một số lĩnh vực pháp luật cụ thể của pháp luật Việt Nam thời Pháp thuộc. Luận văn so sánh các đặc điểm của hệ thống pháp luật ở thời Pháp thuộc với các thời kỳ trước đó để thấy rõ những thay đổi của hệ thống pháp luật khi chuyển từ mô hình phong kiến phương Đông sang mô hình Civil Law. Ba là, Luận văn khái quát và phân tích một số bài học kinh nghiệm của pháp luật thời Pháp thuộc đối với hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay trong việc phát huy những yếu tố tiến bộ và khắc phục những điểm hạn chế của hệ thống pháp luật Civil Law. Bốn là, Luận văn phân tích nhu cầu tiếp nhận pháp luật nước ngoài của pháp luật Việt Nam và nêu một số bài học kinh nghiệm từ pháp luật thời Pháp thuộc đối với hoạt động tiếp nhận pháp luật nước ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn đẩy mạnh việc cải cách hệ thống pháp luật nhằm đáp ứng nhu cầu toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế mọi mặt của đời sống xã hội hiện nay.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN QUỐC BẢO
ẢNH HƯỞNG CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT CIVIL LAW ĐẾN PHÁP LUẬT VIỆT NAM
THỜI PHÁP THUỘC
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số:8380101.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Mai Văn Thắng
HÀ NỘI – 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo
vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trần Quốc Bảo
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 4
Chương 1: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ VỀ ẢNH HƯỞNG CỦAHỆTHỐNG PHÁP LUẬT CIVIL LAW ĐẾN PHÁP LUẬTVIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC 10
1.1 Khái luận về hệ thống pháp luật Civil Law 10
1.2 Ảnh hưởng và các con đường ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Civil Law 20
1.3 Bối cảnh pháp luật Việt Nam trước thời Pháp thuộc 25
1.4 Khái luận về ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Civil Law đến pháp luật Việt Nam thời Pháp thuộc 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36
CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬTCIVIL LAW ĐẾN CÁC THÀNH TỐCƠ BẢN VÀ MỘT SỐLĨNH VỰC CỦA PHÁPLUẬT VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC 37
2.1 Khái quát về pháp luật Việt Nam thời Pháp thuộc 37
2.2 Ảnh hưởng trên phương diện tư tưởng pháp luật 39
2.3 Ảnh hưởng trên phương diện pháp điển hóa 45
2.4 Ảnh hưởng trên phương diện hệ thống cấu trúc pháp luật 47
2.5 Ảnh hưởng trên phương diện nguồn pháp luật 53
2.6 Ảnh hưởng trên phương diện tổ chức tư pháp 57
2.7 Ảnh hưởng trên phương diện đào tạo luật, nghề luật và tư duy pháp lý 62
2.8 Ảnh hưởng trên một số lĩnh vực pháp luật cụ thể 67
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 75
CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ ĐƯƠNG ĐẠI CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ẢNHHƯỞNG CỦAHỆ THỐNG PHÁP LUẬT CIVIL LAW ĐẾN PHÁP LUẬTVIỆT NAM THỜI PHÁPTHUỘC 76
Trang 43.1 Giá trị lịch sử đúc rút từ những ảnh hưởng của hệ thống pháp luật
Civil Law đếnpháp luậtViệt Namthời Pháp thuộc 76
3.2 Bài học kinh nghiệm về tiếp nhận pháp luật nước ngoài từ việc nghiên cứuảnh hưởng của hệ thống pháp luật Civil Law đến pháp luật Việt Nam thời Pháp thuộc 84
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 91
KẾT LUẬN 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thời kỳ Pháp thuộc (1884-1945) là giai đoạn đánh dấu một bước chuyển mình lớn của lịch sửpháp luật Việt Nam Truyền thống pháp luật phong kiến phương Đông lấy Nho giáo là nền tảng tư tưởng được thay thế bởi một hệ thống pháp luật văn minh, tiến bộ của phương Tây chứa đựng nhiều giá trị về bảo đảm tự do cá nhân và quyền con người Đặc biệt, pháp luật của Bắc Kỳ và Trung Kỳ là sự kết hợp độc đáo giữa các yếu tố du nhập từ châu Âu và các giá trị văn hóa pháp lý truyền thống của dân tộc Nhiều quy định, chế định pháp luật của thời Pháp thuộc vẫn còn sức sống đến tận ngày nay và trở thành nguồn tài liệu tham khảo quý báu cho các luật gia trong hoạt động nghiên cứu và xây dựng pháp luật
Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp áp đặt chính sách cai trị lên toàn lãnh thổ Việt Nam Chính quyền thực dân cho ban hành pháp luật và thiết lập các thiết chế pháp luật trên cả ba xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ nhằm phục vụ việc bành trướng lãnh thổ và khai thác thuộc địa của chúng trên lãnh thổ nước ta Nhưng mặt khác, các bộ luật và thiết chế pháp luật của người Pháp mang vào Việt Nam cũng khiến cho hệ thống pháp luật nước ta thoát khỏi những khuôn khổ chật hẹp của kiểu pháp luật phong kiến Á Đông và tiếp cận với những giá trị văn minh, tiến bộ của hệ thống pháp luật Civil Law
Hiện nay, nhu cầu tương tác, học hỏi, tiếp nhận pháp luật nước ngoài đang trở thành một xu thế tất yếu của các hệ thống pháp luật trên thế giới Trong tiến trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế mọi mặt của đời sống xã hội, pháp luật Việt Nam cũng cần đổi mới, chọn lọc và tiếp thu những giá trị văn hóa pháp lý tiến bộ từ các
hệ thống pháp luật, đặc biệt là hệ thống pháp luật Civil Law vốn có nhiều đặc điểm gần gũi với pháp luật truyền thống của Việt Nam
Việc nghiên cứu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Civil Law đến pháp luật Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc chính là dịp để “ôn cố tri tân”, xác định những giá trị tiến bộ mà hệ thống pháp luật này mang lại cho đời sống pháp luật Việt Nam trong quá khứ để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho công cuộc cải cách pháp
Trang 6luật Việt Nam hiện hành cho phù hợp với yêu cầu của thời đại mới Theo tác giả, việc nghiên cứu một cách bao quát và có hệ thống về pháp luật Việt Nam thời Pháp thuộc cũng nhưảnh hưởng của hệ thống pháp luật Civil Law đến pháp luật thời kỳ này là hết sức cần thiết
Vì lý do đó, tác giả lựa chọn đề tài “Ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Civil Law đến pháp luật Việt Nam thời Pháp thuộc” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ Luật học của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Đến nay, đã có nhiều công trình khoa học, sách báo pháp lý chuyên ngành trong nước nghiên cứu đến các khía cạnh khác nhau của lịch sử pháp luật thời kỳ Pháp thuộc
Một số công trình nghiên cứu pháp luật thời Pháp thuộc một cách tổng quát như: “Pháp chế sử” (xuất bản năm 1972) của Vũ Quốc Thông, “Sơ thảo lịch sử nhà nước và pháp quyền Việt Nam” (xuất bản năm 1968) của Đinh Gia Trinh; “Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam” (xuất bản năm 2007) của Vũ Thị Phụng, “Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam” (xuất bản năm 2007) của Trường Đại học Luật Hà Nội; “Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam” (xuất bản năm 2015) của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh;
“Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam” (xuất bản năm 2017) của Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội…
Một số công trình nghiên cứu những thành tố cụ thể của hệ thống pháp luật thời Pháp thuộc như: “Tư tưởng lập hiến Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX” (xuất bản năm 2006) của Phan Đăng Thanh; “Tư tưởng Việt Nam về quyền con người” (xuất bản năm 2016) của GS Phạm Hồng Thái (Chủ biên); “Lịch sử nghề luật sư ở Việt Nam” (xuất bản năm 2015) của Phan Đăng Thanh và Trương Thị Hòa; “Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền” (xuất bản năm 2004) của Nguyễn Đăng Dung (chủ biên)…
Một số công trình nghiên cứu các lĩnh vực cụ thể của pháp luật thời Pháp thuộc như: “Dân luật khái luận” (xuất bản năm 1960) của GS.Vũ Văn Mẫu, “Luật
Trang 7Dân sự tố tụng Việt Nam” (xuất bản năm 1962) của Nguyễn Huy Đẩu, “Hình – Luật” (xuất bản năm 1973) của Nguyễn Huy Chiểu, “Lịch sử Luật Hình sự Việt Nam” (xuất bản năm 2002) của TS.Trần Quang Tiệp, “Lịch sử Luật Tố tụng hình sự Việt Nam” (xuất bản năm 2003) của TS.Trần Quang Tiệp
Ngoài ra còn có nhiều bài viết trong các tạp chí ngành luật học, các luận văn thạc sĩ luật học đề cập những vấn đề chuyên sâu của đời sống pháp luật Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc
Tuy nhiên, các công trình trên vẫn chưa nghiên cứu một cách trực tiếp và có
hệ thống về những ảnh hưởng của truyền thống pháp luật Civil Law đến pháp luật Việt Nam ở thời kỳ này
Một trong những công trình có nội dung gần gũi với đối tượng nghiên cứu của luận văn nhất là cuốn sách “Ảnh hưởng của truyền thống pháp luật Pháp tới pháp luật Việt Nam” của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2016, là tập hợp các bài viết của nhiều nhà nghiên cứu luật học của Việt Nam và Pháp Cuốn sách chứa đựng những bài viết nghiên cứu về ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Civil Law, thông qua pháp luật nước Pháp đến pháp luật Việt Nam thời thuộc Pháp Bài viết “Mối quan hệ của pháp luật Việt Nam và pháp luật Pháp xét từ lôgic của sự tiếp nhận và chuyển hóa pháp luật” của GS.TSKH Đào Trí Úc đã phân tích các kênh ảnh hưởng của pháp luật Pháp đối với pháp luật Việt Nam, trong đó có ảnh hưởng qua sự áp đặt của thực dân Pháp đối với pháp luật Việt Nam Bài viết “Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam” của PGS.TS Ngô Huy Cương phân tích quá trình ảnh hưởng của luật tư của Pháp đến Việt Nam và việc định hình pháp luật dân sự và thương mại ở Việt Nam thời Pháp xâm lược Tác giả cũng khẳng định mô hình pháp điển hóa luật tư kiểu Pháp phù hợp với tư duy pháp
lý của người Việt Nam Bài viết “Những ảnh hưởng của Pháp đối với tư tưởng về quyền con người ở Việt Nam” của TS Nguyễn Linh Giang và bài viết “Ảnh hưởng của văn hóa pháp luật Pháp đối với quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng lập hiến Việt Nam trước Cách mạng tháng tám 1945” của GS.TS Thái Vĩnh Thắng phân tích quá trình truyền bá các tư tưởng pháp luật tiến bộ của Pháp đến Việt Nam
Trang 8vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Ngoài ra, cũng có một số bài viết nghiên cứu ảnh hưởng của pháp luật Pháp đến những lĩnh vực pháp luật cụ thể của thời Pháp thuộc
Như vậy, đã có một số công trình nghiên cứu về pháp luật Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc và ít nhiều có đề cập đến những ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Civil Law đến pháp luật thời kỳ này Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Civil Law đến pháp luật Việt Nam thời Pháp thuộc
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích được đặt ra cho đề tài là nghiên cứu pháp luật Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc trên góc độ chỉ ra và phân tích các đặc trưng của truyền thống pháp luật Civil Law trên các thành tố của pháp luật: hệ thống cấu trúc, nguồn luật, tư tưởng pháp luật, hệ thống tư pháp, đào tạo luật, nghề luật và tư duy pháp lý Từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm để Việt Nam có thể kế thừa trong công tác hoàn thiện
hệ thống pháp luật của thời đại mới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích trên, Luận văn cần phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu khái quát về hệ thống pháp luật Civil Law và tình hình pháp luật Việt Nam trước và trong thời Pháp thuộc, chỉ ra những vấn đề lý luận về ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Civil Law đến pháp luật Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc
- Tìm hiểu và phân tích ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Civil Law đến pháp luật Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc trên các thành tố của hệ thống pháp luật và một
số lĩnh vực pháp luật cơ bản
- Nêu lên những giá trị lịch sử từ các yếu tố pháp luật Civil Law trong pháp luật Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc và qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm từ pháp luật thời kỳ Pháp thuộc trong hoạt động tiếp nhận pháp luật nước ngoài ở Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Trang 94.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những yếu tố thuộc hệ thống pháp luật Việt Nam thời Pháp thuộc: hệ thống cấu trúc pháp luật, hệ thống nguồn luật, tư tưởng pháp luật, hệ thống tư pháp, thủ tục tố tụng, đào tạo luật, nghề luật, tư duy pháp luật…và những đặc điểm của truyền thống pháp luật Civil Law được thể hiện trong các thành tố pháp luật trên
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Civil Law đến pháp luật Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc, bắt đầu từ năm 1884 khi chính quyền thực dân Pháp ép triều đình nhà Nguyễn chấp nhận sự bảo hộ của Pháp, cho đến năm 1945 khi Pháp mất quyền cai trị ở Đông Dương
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Civil Law đến hệ thống pháp luật được áp dụng trên ba xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ theo cách phân chia đơn vị hành chính của thực dân Pháp đối với phần lãnh thổ Việt Nam trong Liên bang Đông Dương
- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu pháp luật thời Pháp thuộc trên khía cạnh những đặc trưng của truyền thống pháp luật Civil Law được du nhập vào pháp luật Việt Nam thời kỳ này
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của Luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Các vấn đề thuộc nội dung của của Luận văn được nghiên cứu trong một tổng thể với những mối liên hệ qua lại lẫn nhau, đặt trong bối cảnh chính trị - kinh tế - xã hội của từng thời kỳ lịch sử
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp như phương pháp trừu tượng khoa học, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp hệ thống và phương pháp so sánh Các phương pháp trên được sử dụng kết hợp với nhau bảo đảm cho nội dung nghiên cứu của Luận văn vừa có tính khái quát, vừa có tính cụ thể để làm sáng tỏ, đánh giá một cách toàn diện về các đối tượng cần nghiên cứu của Luận văn
Trang 106 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần tiếp tục kế thừa, phát triển, hoàn thiện những tri thức về pháp luật Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc, cũng như ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Civil Law đến pháp luật thời kỳ này
Luận văn là một tài liệu hữu ích để các nhà nghiên cứu, học viên, sinh viên chuyên ngành luật tham khảo trong việc thực hiện công trình nghiên cứu, học tập các vấn đề có liên quan
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được các cơ quan xây dựng pháp luật
sử dụng làm luận cứ khoa học phục vụ cho việc tham khảo kinh nghiệm pháp luật
thời Pháp thuộc hoặc pháp luật nước ngoài
7 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm
Trang 11CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ VỀẢNH HƯỞNG CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT CIVIL LAW ĐẾNPHÁP LUẬT VIỆT NAM
THỜI PHÁP THUỘC
1.1 KHÁI LUẬN VỀ HỆ THỐNG PHÁP LUẬT CIVIL LAW
1.1.1 Khái niệm và đặc trưng cơ bản của hệ thống pháp luật Civil Law
Hệ thống pháp luật Civil Law là hệ thống pháp luật lớn nhất trên thế giới, hình thành và phát triển trên nền tảng Luật La Mã cổ đại Hệ thống pháp luật này hình thành và phát triển mạnh mẽ ở các nước châu Âu lục địa Ngày nay, phạm vi ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Civil Lawrất rộng, bao gồm: các quốc gia lục địa châu Âu (Pháp, Đức, Italia, Hà Lan, Tây Ban Nha, các nước Scandinavia…), phần lớn các nước châu Phi, hầu hết các nước Mỹ Latinh (Braxin), nhiều nước châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc…) Trong đó, pháp luật của Pháp và Đức là điển hình và có ảnh hưởng lớn đến pháp luật của các nước khác trong hệ thống
Hệ thống pháp luật Civil Law còn được gọi với nhiều cái tên khác nhau như:
hệ thống pháp luật Roman – Giecmanh, hệ thống pháp luật thành văn, hệ thống pháp luật bắt nguồn từ Luật La Mã
Việc nghiên cứu hệ thống pháp luật Civil Law và phân nhóm pháp luật của các nước vào hệ thống này nhằm mục đích chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật của các nước cùng hệ thống, các nước thuộc các hệ thống khác nhau Điều đó có ý nghĩa lớn trong việc nâng cao hiểu biết pháp luật của những nhà nghiên cứu, hỗ trợ hoạt động cải cách pháp luật quốc gia thông qua việc tiếp thu những giá trị pháp lý tiến bộ của nước khác
Hệ thống pháp luật Civil Law có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, đây là hệ thống pháp luật bắt nguồn từ Luật La Mã và chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của Luật La Mã[37; tr.73].Hệ thống thuật ngữ, cách thức phân loại
và tư duy pháp luật của hệ thống pháp luật Civil Law được kế thừa từ di sản Luật
La Mã Luật La Mã xác định phạm vi điều chỉnh của luật tư, trên cơ sở đó các nước
Trang 12Civil Law xây dựng được hệ thống các quy phạm pháp luật thành văn Sự ảnh hưởng này trải qua một thời gian rất dài, gắn liền với từng giai đoạn phát triển của
hệ thống Civil Law Các bộ luật dân sự lớn của châu Âu lục địa như Bộ luật dân sự Pháp và Bộ luật Dân sự Đức đều là sự kết hợp giữa pháp luật tập quán và Luật La
Mã Bộ luật Dân sự Pháp chứa đựng nhiều chế định được kế thừa từ Luật La Mã như chế định vật quyền, trái vụ, hợp đồng… Bộ luật Dân sự Đức có sự bám sát Corpus juris civilis về tinh thần cũng như cách sắp xếp Việc nghiên cứu và giảng dạy Luật La Mã ở các trường luật chính là cơ sở cho việc các luật gia châu Âu lục địa xây dựng các bộ luật dân sự của nước họ với nền tảng là Luật La Mã
Thứ hai, về mặt hệ thống cấu trúc, hệ thống pháp luật Civil Law có sự phân chia luật công và luật tư Phân chia luật công và luật tư là một nét đặc trưng của truyền thống pháp luật châu Âu lục địa Sự phân chia pháp luật thành luật công và luật tư dựa trên tư tưởng đã trở thành hiển nhiên đối với các luật gia lục địa châu Âu
là những mối quan hệ giữa người cai trị và người bị cai trị đòi hỏi những chế định khác với những mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau[36; tr.68] Luật tư gồm: Luật dân sự, Luật hôn nhân và gia đình, Luật thương mại, Luật lao động Luật công gồm: Luật hiến pháp, Luật hành chính, Luật hình sự, Luật thuế Ở châu Âu, luật tư
đã rất phát triển từ thời La Mã cổ đại với những quy định rất tiến bộ về dân sự, hôn nhân và gia đình La Mã cũng có luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nhưng không hoàn thiện và cũng không có ảnh hưởng đáng kể đối với luật công của các nước sau này[22; tr.9] Đến thế kỷ XVII, XVIII khi trường phái luật tự nhiên phát triển thì dần xuất hiện tư tưởng tôn trọng các quyền cơ bản, đề cao tự do
cá nhân, phân chia quyền lực nhằm hạn chế, kiểm soát quyền lực nhà nước Những luồng tư tưởng này đã củng cố thêm tư duy cho sự phát triển các ngành luật công như luật hiến pháp, luật hành chính Sự phân chia luật công và luật tư có ảnh hưởng lớn đến hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật ở các quốc gia thuộc hệ thống Civil Law Hệ thống tòa án ở các nước này cũng có sự phân định rõ ràng giữa các tòa xét xử các vụ việc theo luật công và các tòa xét xử các vụ việc theo luật tư
Trang 13Thứ ba, đây là hệ thống coi trọng vai trò của luật thành văn trong hệ thống nguồn luật Luật thành văn được xem là nguồn luật quan trọng nhất và được áp dụng đầu tiên Các nguồn luật khác chỉ được áp dụng khi luật thành văn còn thiếu
và chỉ mang tính hỗ trợ cho những khiếm khuyết của luật thành văn Đây là đặc trưng chủ yếu để phân biệt hai hệ thống pháp luật Civil Law và Common Law.Xu hướng ưa chuộng luật thành văn đã trở thành nét văn hóa pháp lý ở hệ thống pháp luật Civil Law từ lâu đời Từ thời La Mã cổ đại, pháp luật thành văn đã rất phổ biến
và tương đối đầy đủ nên việc sử dụng tiền lệ pháp là không cần thiết Sau Cách mạng tư sản Pháp (1789), Napoleon đã tiến hành cải cách pháp luật và xây dựng hàng loạt các bộ luật lớn trên nhiều lĩnh vực với kỹ thuật pháp lý hiện đại và nội dung chi tiết, rõ ràng Theo tư tưởng chung của các luật gia Civil Law,pháp luật là ý chí chung của nhân dân vì thế pháp luật phải do cơ quan lập pháp (cơ quan đại diện cho ý chí của nhân dân) xây dựng Các nước này không thừa nhận chức năng lập pháp của cơ quan tư pháp hoặc của nhà vua Các giải pháp pháp lý trong tập quán hay án lệ nếu phù hợp với thực tiễn xét xử và được áp dụng một cách thường xuyên thì dần dần sẽ được pháp điển hóa thành luật thành văn và được áp dụng chính thức Thứ tư, thủ tục tố tụng hình sự được áp dụng phổ biến tại các nước thuộc hệ thống Civil Law là tố tụng thẩm vấn Mô hình tố tụng thẩm vấn là sự kết hợp giữa các yếu tố của Luật La Mã với những nguyên tắc pháp lý của Giáo hội Thiên chúa giáo [23; tr.50] Đây là loại thủ tục đề cao vai trò chủ động của thẩm phán Thẩm phán là người có trách nhiệm tìm ra sự thật khách quan của vụ án trên cơ sở các chứng cứ thu thập được Thẩm phán cũng là người có vai trò quan trọng trong việc xét hỏi người bị buộc tội tại phiên toà.Xét hỏi là phương thức chủ yếu được áp dụng
ở tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng, đặc biệt là tại phiên tòa Tại phiên tòa, thẩm phán xét xử dựa trên hồ sơ, chứng cứ đã được thu thập ở các giai đoạn trước
đó và chủ động hỏi những người tham gia để xác minh, kiểm tra lại chứ không chỉ dựa trên các chứng cứ trực tiếp được trình bày tại phiên tòa Mô hình này được xây dựng với quan điểm cho rằng tội phạm là hành vi xâm hại đến lợi ích của cả xã hội, Nhà nước phải có trách nhiệm đứng ra giải quyết Nghĩa vụ buộc tội hoàn toàn
Trang 14thuộc về Nhà nước và các công chức nhà nước Người bị hại bị loại khỏi vai trò của bên buộc tội, chỉ tham gia tố tụng như một người làm chứng Thậm chí, sự tham gia của luật sư bào chữa cũng không mang tính bắt buộc và luật sư chỉ có quyền chứ không có nghĩa vụ trình bày chứng cứ
Thứ năm, pháp luật của các nước thuộc hệ thống pháp luật Civil Law có trình
độ pháp điển hóa cao[37; tr.74] Truyền thống pháp điển hóa pháp luật thành các bộ luật thành văn đã có từ thời La Mã cổ đại với sự xuất hiện của Bản tập hợp Corpus Juris Civillis Hoạt động pháp điển hóa ở các nước này được chú trọng và phát triển hơn so với các nước thuộc các hệ thống pháp luật khác Các nước này đã sớm xây dựng được nhiều bộ luật thành văn thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Vào đầu thế kỷ XIX, Pháp xây dựng được nhiều bộ luật quan trọng như Bộ luật Dân sự (1804), Bộ luật tố tụng dân sự (1806), Bộ luật thương mại (1807), Bộ luật tố tụng hình sự (1808), Bộ luật hình sự (1810)… Nửa cuối thế kỷ XIX, Đức cũng xây dựng nhiều
bộ luật như Bộ luật thương mại (1866), Bộ luật hình sự (1871), Bộ luật tố tụng hình
sự (1877), Bộ luật dân sự (1896)…Nhờ việc xây dựng nhiều luật thành văn, việc nghiên cứu và thực hiện pháp luật trở nên dễ dàng bởi hầu hết mọi trường hợp của đời sống đều được điều chỉnh
Thứ sáu, pháp luật của các nước thuộc hệ thống Civil Law đã thoát khỏi sự ảnh hưởng của tôn giáo, luân lý, đề cao công lý và tự do cá nhân[42; tr.100].Pháp luật các nước châu Âu lục địa đề cao tự do cá nhân, bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp khẳng định: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi” (Điều 1) Hướng tới công lý, pháp luật của các nước Civil Law chú trọng việc bảo vệ các quyền tự nhiên của con người, đa dạng hóa các nguồn luật, đa dạng hóa phương thức giải quyết tranh chấp và duy trì nguyên tắc bất khẳng thụ lý trong hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người dân Các bộ luật của hệ thống Civil Law được xây dựng trên nguyên tắc phi tôn giáo, các tôn giáo bình đẳng với nhau
Trang 15về quyền và nghĩa vụ Các thủ tục, tục lệ gắn liền với tôn giáo được thay thế bằng các thủ tục phi tôn giáo như thủ tục về kết hôn
Thứ bảy, tư duy pháp lý của các luật gia thuộc hệ thống Civil Law là tư duy diễn dịch Ở hệ thống Civil Law, các phán đoán và lập luận chủ yếu dựa trên các quan điểm cơ bản được quy định trong quy phạm pháp luật đối với các sự kiện đa dạng của thực tế xảy ra[20; tr.39] Lối tư duy này của các luật gia Civil Law bắt nguồn từ thói quen pháp điển hóa, khái quát hóa các vấn đề của đời sống xã hội thành các quy định cụ thể để đưa vào luật thành văn Các luật gia Civil Law khi cần giải quyết một vấn đề pháp lý nào đó thì trước tiên sẽ tìm kiếm giải pháp trong các văn bản pháp luật sau đó mới đến thực tiễn pháp luật Đây là lối tư duy đi từ cái chung đến cái riêng, đi từ trừu tượng đến cụ thể, đi từ lý luận đến thực tiễn Tư duy này có ảnh hưởng rất lớn đến cách thức xây dựng pháp luật, áp dụng pháp luật và giải thích pháp luật của các nước thuộc hệ thống Civil Law Kiểu tư duy này cũng ảnh hưởng đến các quy phạm pháp luật của hệ thống pháp luật này Quy phạm pháp luật trong hệ thống Civil Law có tính khái quát cao, có thể được áp dụng trong nhiều trường hợp khác nhau, tạo khoảng trống cho thẩm phán thể hiện sự sáng tạo trong áp dụng pháp luật
1.1.2 Lược sử hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật Civil Law
Từ Civil Law trong hệ thống pháp luật Civil Law bắt nguồn từ chữ “jus civile” (Luật tư La Mã)[50].Đây là hệ thống pháp luật tồn tại ở nhà nước La Mã cổ đạitừ năm 449 TCN với sự ra đời của Luật 12 bảng cho đến khi chấm dứt đế quốc vào thời hoàng đế Justinian Luật La Mã là hệ thống pháp luật hoàn chỉnh nhất của nhà nước thời kỳ cổ đại trên thế giới
Nhà nước La Mã được hình thành từ thế kỷ VIII trước Công nguyên Với những điều kiện về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi, nhà nước La Mã đã duy trì trong suốt nhiều thế kỷ và phát triển rực rỡ cả về kinh tế, xã hội, tư tưởng Cùng với sự ra đời và phát triển của nhà nước La Mã là sự xuất hiện của Luật La
Mã Luật La Mã thời kỳ đầu bao gồm jus civile (luật dân sự áp dụng cho công dân
La Mã), jus gentium (luật áp dụng cho người không có tư cách công dân La Mã) và
Trang 16jus praetorium (luật do các thẩm phánrút ra từ hoạt động xét xử)[22; tr.8] Về sau các bộ phận này được hệ thống hóa bởi Hoàng đế Justinian (483-565) trong một bộ tổng luật mang tên Corpus Juris Civilis
Sự kiện hoàng đế Justinian cho ban hành bản tập hợp Corpus Juris Civilis vào thế kỷ VI được xem là dấu mốc quan trọng cho việc phát triển pháp luật ở các nước
châu Âu lục địa Corpus Juris Civilis gồm 4 phần: Institues là tập hợp các luận thuyết về pháp luật dựa trên nền các luận thuyết của luật gia Gaius; Digest là tập hợp những ghi chép, bình luận của các luật gia uyên bác; Code là các bộ luật, sắc lệnh của các hoàng đế La Mã; Novels là các luật thành văn của hoàng đế
Justinian[24; tr.69] Corpus Juris Civilis cung cấp các ý tưởng pháp lý cho các sinh viên và học giả pháp luật thời bấy giờ và cả sau này Nó kết hợp các quy phạm pháp luật và các nguyên tắc pháp luật cùng với những quan điểm và lập luận khác nhau của các học giả nổi tiếng của La Mã thời bấy giờ
Đến thế kỷ XI, công nghiệp và thương mại ở Tây Âu bắt đầu phát triển, các đô thị và tầng lớp thị dân cũng xuất hiện Các quan hệ xã hội mới hình thành đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật mới thống nhất điều chỉnh
Trong bối cảnh xã hội mới, nhu cầu về tri thức của xã hội tăng lên, các trường học của giáo hội không đáp ứng được nhu cầu tăng cao ấy, vì thế các trường học của thị dân bắt đầu được hình thành Việc nghiên cứu, giảng dạy pháp luật ở các trường đại học có vai trò to lớn trong việc phát triển pháp luật ở châu Âu lục địa Đến khoảng thế kỷ XII – XIII, Corpus Juris Civilis được nghiên cứu và đưa vào giảng dạy ở các trường đại học Trường đại học Bologna (Italia) là một trong những nơi đầu tiên giảng dạy Luật La Mã ở châu Âu từ cuối thế kỷ XI
Từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVIII, các trường đại học ở châu Âu không ngừng giảng dạy, nghiên cứu Luật La Mã để đào tạo ra các thẩm phán, luật sư, chuyên gia pháp lý Các chuyên gia pháp lý này đi khắp các vùng của châu Âu làm thẩm phán, làm luật sư cho giáo hội, cho nhà vua Do được đào tạo chung theo một nội dung nên dần dần các luật gia này đã xây dựng được một hệ thống pháp luật chung thống nhất là Jus commune Jus commune được hình thành từ các trường đại học; trên cơ
Trang 17sở kết hợp giữa Luật La Mã, Luật Giáo hội, tập quán của người Giecmanh và pháp luật thời trung cổ Sự ra đời của Jus commune đã giải quyết được tình trạng trước
đó có quá nhiều luật địa phương manh mún, phân tán trên khắp lãnh thổ lục địa châu Âu Jus commune được tiếp nhận và giảng dạy rộng rãi ở khắp lục địa châu
Âu, song sự tiếp nhận Jus commune ở các nước cũng có sự khác nhau Jus commune có ý nghĩa lớn trong việccung cấp cho các luật gia châu Âu các nguyên tắc và phương pháp để tìm kiếm công lý
Có 5 trường phái pháp luật lớn có đóng góp vào sự phát triển của hệ thống pháp luật Civil Law Các trường phái này đều hồi sinh lại Luật La Mã tuy nhiên giữa chúng lại có sự bình luận và giải thích Luật La Mã theo các phương pháp khác nhau:
- Trường phái luật học sư (glossators) ra đời vào thế kỷ XIII ở Italia Các học giả của trường phái luật học sư nghiên cứu Luật La Mã dựa trên tinh thần của Corpus Juris Civilis Một vài chế định bị hủy bỏ và một số lĩnh vực đã được điều chỉnh bởi Luật Giáo hội như kết hôn và thừa kế[13; tr.233]
- Trường phái hậu luật học sư (post-glossators) ra đời vào thế kỷ XIV ở Italia Các học giả theo trường phái này có chủ trương không chỉ giải thích mà còn bình luận Luật La Mã, cắt xén Luật La Mã sao cho phù hợp với xã hội lúc bấy giờ Họ tìm kiếm các giải pháp của Luật La Mã và kế thừa, hoàn thiện nó[13; tr.233]
- Trường phái nhân văn (humanistes) xuất hiện vào thế kỷ XV ở Pháp Các học giả của trường phái này cố gắng phục hồi lại nguyên bản của Luật La Mã[13; tr.233] Họ tìm kiếm và nghiên cứu những khái niệm nguyên thủy của Luật La Mã
cổ đại
- Trường phái pháp điển hiện đại (pandectists) xuất hiện ở Đức vào khoảng thế
kỷ XVI, trường phái này kế thừa sự tiến bộ của trường phái hậu luật học sư và đưa thêm vào các công trình Luật La Mã tính cách của dân tộc Đức[20; tr.227] Sự phát triển trường phái này là động lực thúc đẩy việc pháp điển hóa Bộ luật Dân sự Đức năm 1896
Trang 18- Trường phái luật tự nhiên (natural law) có nguồn gốc từ thời kỳ cổ đại thông qua tư tưởng của các triết gia Hy Lạp, La Mã và thực sự được phát triển vào thế kỷ XVII, XVIII ở châu Âu với các nhà tư tưởng lỗi lạc thời kỳ cách mạng tư sản Trường phái này có sự phân biệt pháp luật thực định và pháp luật tự nhiên Theo đó, bên cạnh pháp luật thực định do nhà nước ban hành còn tồn tại một loại pháp luật là luật tự nhiên cao hơn luật thực định Luật tự nhiên do tạo hóa sáng tạo ra, nằm ngoài ý chí của con người Luật tự nhiên là tổng hợp các quyền mà tất cả mọi người
có được từ tạo hóa tự nhiên, từ lúc sinh ra và bất khả xâm phạm, là lý trí và công bằng không bị giới hạn bởi lãnh thổ các quốc gia, dân tộc [9; tr.261] Pháp luật thực định của nhà nước phải tuân thủ luật tự nhiên, không được trái luật tự nhiên, phải lấy luật tự nhiên làm nền tảng Đây là trường phái đặt nền móng cho việc giới hạn quyền lực nhà nước, sự phân chia luật công và luật tư, góp phần nhận thức lại vai trò của pháp luật trong mối quan hệ với nhà nước[20; tr 228]
Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, các nước thuộc hệ thống Civil Law tiến hành các cuộc pháp điển hóa pháp luật mạnh mẽ Pháp và Đức là hai quốc gia tiên phong và đã xây dựng được nhiều bộ luật thành văn đồ sộ với những quy định pháp
lý tiến bộ, kế thừa được giá trị của Luật La Mã cổ đại đồng thời khẳng định và bảo
vệ các quyền cơ bản của con người, hạn chế sự lạm quyền từ phía Nhà nước
1.1.3 Phân nhóm hệ thống pháp luật Civil Law
Hệ thống pháp luật Civil Law thường được phân chia thành3 nhóm khác nhau dựa trên kỹ thuật pháp điển hóa: Civil Law kiểu Pháp, Civil Law kiểu Đức và Civil Law kiểu Bắc Âu[49]
- Nhóm Civil Law kiểu Pháp (Napoleonic Law)
Nhóm này bao gồm: Pháp, Italia, Tây Ban Nha, Bỉ, Bồ Đào Nha, Quebec (Canada), Louisiana (Hoa Kỳ), những nước là thuộc địa cũ của Pháp Trong đó Pháp là nước có hệ thống pháp luật điển hình, có ảnh hưởng tới pháp luật của các nước khác trong nhóm Đây là nhóm các nước có pháp luật chịu ảnh hưởng từ Bộ luật Dân sự Pháp
Trang 19Bộ luật Dân sự Pháp được xem là xây dựng dựa trên cuốn Instituestrong
Corpus Juris Civillis Cuốn này phân chia các quy phạm pháp luật thành ba nhóm chính: Chủ thể, Vật và quyền tài sản, Đơn kiện[11; tr.69] Bộ luật Dân sự Pháp bao gồm 2283 Điều, chia thành Thiên mở đầu và 3 Quyển: Quyển 1 – Về người, Quyển
2 – Về tài sản và những thay đổi về sở hữu, Quyển 3 – Các phương thức xác lập quyền sở hữu Theo đúng tinh thần của Institues, Bộ luật Dân sự Pháp là tập hợp hóa đơn giản các chế định của luật dân sự, nên không có một quyển riêng về phần chung của luật dân sự Kiểu pháp điển hóa này khác hẳn Bộ luật Dân sự Đức với tính trừu tượng hóa cao
Bộ luật Dân sự Pháp là công trình do các luật gia đầy kinh nghiệm thực tiễn xây dựng nên Bộ luật Dân sự Pháp có ngôn ngữ giản dị, tinh tế, dễ tiếp cận cho tất
cả mọi người Về nội dung, Bộ luật Dân sự Pháp những tư tưởng của cách mạng dân chủ tư sản Pháp trong việc bảo vệ các quyền và tự do cá Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật, nguyên tắc tự do hợp đồng, các quy định chặt chẽ về bảo hộ quyền
sở hữu tài sản tư, là những giá trị tạo nên sức sống lâu bền của bộ luật này
Bộ luật Dân sự Pháp là bộ luật mẫu mực trong số các bộ luật của xã hội tư sản,
nó khẳng định và bảo vệ các quyền cơ bản của con người, thứ có được từ các cuộc cách mạng đấu tranh vì chế độ dân chủ của người dân nhiều quốc gia trên thế giới Chính vì thế, Bộ luật Dân sự Pháp đã ảnh hưởng lớn đến sự hình thành pháp luật dân sự của nhiều quốc gia khác
- Nhóm Civil Law kiểu Đức (Germanistic Law)
Nhóm này bao gồm Đức và các quốc gia có pháp luật dân sự chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Bộ luật Dân sự Đức như: Hy Lạp, Áo, Thụy Sĩ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc)
Bộ luật Dân sự Đức ra đời năm 1896, sau Bộ luật Dân sự Pháp gần 100 năm,
vì thếnhững người soạn thảo đã tiếp thu những ý kiến của các nhà pháp điển hiện đại Đức – những người đã có công rất lớn trong việc hệ thống lại, sàng lọc và hiện đại hóa pháp luật trong suốt thế kỷ XIX Kết quả là Bộ luật Dân sự Đức có đặc điểm rất khác so với Bộ luật Dân sự Pháp: cấu trúc hiện đại hơn, ngôn ngữ khúc
Trang 20chiết hơn và có tính khái quát cao hơn Bộ luật Dân sự Đức được xem là “thiên đường của các khái niệm và thuật ngữ” hay “Bộ luật của các giáo sư” (Professorenrecht)[42; tr.177] So với Bộ luật dân sự Pháp với ngôn từ giản dị, dễ hiểu thì Bộ luật dân sự Đức trừu tượng, khoa học hơn và khó hiểu đối với người không phải luật gia chuyên nghiệp Kết cấu của bộ luật rất hợp lý, bao gồm phần chung và các phần riêng, để tránh được sự trùng lặp về nội dung cũng như tạo cơ sở cho cơ quan lập pháp soạn thảo các đạo luật chuyên ngành Bộ luật Dân sự Đức được xem là dựa trên Digesta trong Bộ tập hợp Corpus Juris Civillis với cách phân chia rõ ràng giữa quy phạm luật nội dung và quy phạm luật tố tụng[11; tr.69]
Bộ luật Dân sự Đức chính là thành tựu của các luật gia Đức thế kỷ XIX và là hình mẫu để các nước khác trong nhóm Civil Law kiểu Đức xây dựng Bộ luật Dân
sự của nước mình Nhóm Civil Law kiểu Đức còn được xem là tiến bộ hơn nhóm Civil Law kiểu Pháp về mặt kỹ thuật pháp lý với cách phân chia Phần chung và Phần riêng trong Bộ luật Dân sự[11; tr.70]
Ngày nay, hai nhóm Civil Law kiểu Pháp và Civil Law kiểu Đức đã phát triển
và xích lại gần nhau và khó có thể phân biệt rõ ràng đây là hai nhóm riêng biệt,đặc biệt trong điều kiện châu Âu hợp nhất[11; tr.70]
- Civil Law kiểu Bắc Âu (Scandinavian Law):
Nhóm này bao gồm Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch và Iceland Pháp luật của các nước này không được pháp điển hóa như Bộ luật Dân sự Pháp hay Bộ luật Dân sự Đức
Pháp luật của các nước Bắc Âu được phát triển trên cơ sở của luật cổ Đức chứ không phải là Luật La Mã Nguyên nhân chính khiến cho Luật La Mã thời Trung cổ không tác động đến pháp luật các nước Bắc Âu vì những nước này phát triển công tác pháp điển hóa rất sớm dựa trên truyền thống luật của nước mình[42; tr.93] Bên cạnh đó, pháp luật Bắc Âu cũng thiếu những cuộc pháp điển hóa luật tư lớn và có
hệ thống Vì thế pháp luật dân sự ở các nước Bắc Âu không được pháp điển hóa như ở Pháp hay Đức Vai trò của các nguyên tắc pháp lý trong nhóm pháp luật Bắc
Âu cũng hạn chế hơn so với các nhóm Civil Law kiểu Đức hay Pháp Bên cạnh đó,
Trang 21các quy phạm pháp luật ở các nước Bắc Âu có xu hướng cụ thể hóa chứ không có tính khái quát, trừu tượng cao như Đức hay Pháp[54]
Pháp luật các nước Bồ Đào Nha, Braxin và Italia ban đầu ảnh hưởng từ pháp luật Pháp, về sau chịu ảnh hưởng từ Đức Các Bộ luật Dân sự của họ ở thế kỷ XIX của các nước này gần gũi với Bộ luật Dân sự Pháp, tuy nhiên các Bộ luật Dân sự được ban hành vào thế kỷ XXI lại gần gũi với Bộ luật Dân sự Đức hơn Pháp luật của các quốc gia này được xem là có tính chất pha trộn
Pháp luật của Hà Lan, hay ít nhất là Bộ luật Dân sự Hà Lan, không thể dễ dàng được xếp vào một trong 3 nhóm trên và bộ luật này cũng ảnh hưởng lớn đến luật tư hiện đại của một số quốc gia khác Bộ luật Dân sự Nga có một phần được dịch từ Bộ luật Dân sự Hà Lan [20; tr.228]
Pháp luật Trung Quốc đôi khi được xếp vào một nhóm riêng biệt do đặc thù pháp luật của quốc gia này chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tư tưởng Nho giáo Tuy nhiên, sau Cách mạng Tân Hợi năm 1911 thì Trung Quốc đã ban hành hàng loạt các đạo luật được mô phỏng theo hình mẫu của các bộ luật của các nước châu Âu lục địa Về sau, pháp luật Trung Quốc chuyển sang theo mô hình Liên Xô, trở thành một thành viên của hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa Tuy vậy, trong bối cảnh hiện nay pháp luật nước này đang trong quá trình chuyển đối, nếu căn cứ vào các tiêu chí nguồn luật, tư duy pháp lý, quy tắc pháp lý, và tính pháp điển của hệ thống thì pháp luật Trung Quốc cũng được xếp vào hệ thống Civil Law
1.2 ẢNH HƯỞNG VÀ CÁC CON ĐƯỜNG ẢNH HƯỞNG CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT CIVIL LAW
1.2.1 Định nghĩavề ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Civil Law đến pháp luật của một quốc gia
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, khái niệm “ảnh hưởng”được hiểu là “tác động có thể để lại kết quả ở sự vật hoặc người nào đó”[44; tr.7] Theo cách định nghĩa này khi nói đến “ảnh hưởng” tức là tồn tại hai hoặc nhiều hiện tượng khác nhau Trong đó, hiện tượng này sẽ tác động đến các hiện tượng khác
Trang 22dẫn đến việc bản chất của các hiện tượng bị tác động thay đổi theo chiều hướng giống với hiện tượng tác động
Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng của Mác-Lênin, các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất đều có mối liên hệ phổ biến Không có bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối biệt lập với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác Các sự vật, hiện tượng luôn có sự quy định lẫn nhau, tác động lẫn nhau
và làm chuyển hóa lẫn nhau[4; tr.70] Không chỉ trong thế giới tự nhiên mà trong cả trong đời sống xã hội, các sự vật, hiện tượng cũng không tồn tại biệt lập, tách rời nhau mà luôn luôn tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau một cách trực tiếp hay gián tiếp
Pháp luật là một hiện tượng xã hội, là sản phẩm của xã hội có giai cấp Theo nghĩa rộng, pháp luật được hiểu là bao gồm tất cả các hiện tượng pháp luật, trong đó
có hệ thống các quy phạm pháp luật, tư tưởng pháp luật, ý thức pháp luật, văn hóa pháp luật, thực tiễn pháp luật[9; tr.292].Pháp luật của của quốc gia khác nhau sẽ có những đặc trưng khác nhau do sự khác biệt về lịch sử, văn hóa, chính trị, xã hội, tư tưởng và bản chất nhà nước
Các hệ thống pháp luật trên thế giới luôn có sự ảnh hưởng, tương tác lẫn nhau
và có xu hướng tiếp nhận, xích lại gần nhau thông qua nhiều con đường, cách thức
và hoàn cảnh lịch sử khác nhau Sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau giữa các hệ thống pháp luật sẽ làm giảm đi sự khác biệt và tăng tính tương đồng giữa các hệ thống pháp luật đó Thông qua quá trình đó, pháp luật của một quốc gia có thể tiếp nhận những yếu tố văn minh, tích cực, hạn chế được những khiếm khuyết còn tồn tại trong hệ thống pháp luật của mình
Có thể đưa ra một định nghĩa chung nhất về sự ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Civil Law như sau:
Ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Civil Law đến pháp luật của một quốc gia
là sựchuyển hóacác yếu tố pháp luật củahệ thống pháp luật Civil Law vào trong cấu trúc pháp luật của một quốc gia nằm ngoài hệ thống đó, làm thay đổi những đặc trưng truyền thống của pháp luật quốc gia đó
Trang 231.2.2 Các con đường ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Civil Law
Về các kênh ảnh hưởng của pháp luật nước này với pháp luật nước khác, GS TSKH Đào Trí Úc cho rằng:
Khi nói về ảnh hưởng của pháp luật nước này đối với pháp luật của nước khác, ít nhất cần làm rõ ba yếu tố của cơ chế ảnh hưởng: sự áp đặt của bên gây ảnh hưởng đối với bên chịu ảnh hưởng; sự tiếp nhận chủ động của bên tiếp nhận; và cuối cùng là ảnh hưởng bởi hấp lực tự nhiên như con người ta vẫn thường hấp dẫn nhau bởi những giá trị của chính mình [1; tr.16]
Nhận định trên cho thấy có các con đường ảnh hưởng chính: sự cưỡng bức và
sự tiếp nhận chủ động Một là sự cưỡng bức pháp luật được thực hiện khi một quốc gia chịu sự tác động của các cuộc chiến tranh và mở rộng thuộc địa khiến cho pháp luật của quốc gia đó bị áp đặt bởi một quốc gia khác Hai là sự tiếp nhận chủ động xuất phát từ nhu cầu cải cách pháp luật của một quốc gia với mong muốn học hỏi các giá trị văn hóa pháp lý tiến bộ từ các quốc gia khác Ba là sự gần gũi của các yếu tố lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa pháp lý, ý thức pháp luật giữa các quốc gia
Hệ thống pháp luật Civil Law đã phát triển ra ngoài lãnh thổ châu Âu, du nhập vào các nước có truyền thống pháp luật khác hẳn với châu Âu thông qua những con đường khác nhau Trong cuốn “Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại”, René David viết:
Do quá trình thuộc địa hóa, hệ thống pháp luật Roman – Giecmanh được phổ biến trên một lãnh thổ rộng lớn hơn, nơi mà ngày nay những hệ thống pháp luật thuộc hệ này hoặc gần với nó đang tồn tại Cùng với đó diễn ra sự tiếp nhận tự nguyện hệ pháp luật này tại những nơi khác, và kết quả là chúng ta gặp hệ Roman – Giecmanh ở một loạt nước không chịu sự thống trị của người châu Âu, nhưng tư tưởng châu Âu và xu hướng thân Âu khá mạnh ở đó[36; tr.24]
Trang 24Để trở thành hệ thống pháp luật lớn nhất thế giới như hiện nay, hệ thống pháp luật Civil Law đã có một quá trình phát triển vượt qua khỏi lãnh thổ châu Âu và ảnh hưởng sang các nước châu Phi, châu Mỹ Latinh và châu Á
Bên cạnh đó, Réne David cũng khẳng định rằng: “Ở những nước này trước lúc tiếp nhận pháp luật châu Âu đã tồn tại một nền văn minh riêng có những quy tắc ứng xử và những chế định của mình Bởi vậy sự tiếp nhận đó ở nhiều nước chỉ là từng phần, một phần nhất định (đặc biệt là quy chế cá nhân) của những quan hệ pháp lý do các quy phạm truyền thống điều chỉnh” [36; tr.24-25]
- Ảnh hưởng qua sự áp đặt từ các nước châu Âu lục địa đối với các thuộc địa của mình
Vào thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa đế quốc, các nước châu Âu ráo riết tìm kiếm những vùng đất ở châu Phi, châu Mỹ, châu Á và biến những vùng đất ấy thành thuộc địa của mình Các chính sách thuộc địa của các đế quốc có tác động rất lớn đến tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của các nước thuộc địa Hệ thống pháp luật của các nước thuộc địa cũng bị ảnh hưởng lớn từpháp luật các nước đế quốc thực dân Các nước thực dân cho ban hành luật hoặc phê chuẩn việc ban hành luật của chính quyền nước sở tại, cho xây dựng bộ máy lập pháp, hành pháp, tư pháp tại thuộc địa nhằm phục vụ quá trình cai trị của mình
Các nước châu Âu lục địa như Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Bỉ bành trướng hệ thống thuộc địa của mình sang châu Phi, Madagascar, Mỹ Latinh, Đông Nam Á và một số quốc đảo ở châu Đại Dương Cùng với các chính sách khai thác thuộc địa tàn bạo, các đế quốc thực dân cũng mang truyền thống pháp luật Roman – Giecmanh đến các quốc gia này và thay đổi hệ thống pháp luật truyền thống của các nước thuộc địa
Ở châu Mỹ, các thuộc địa của Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Hà Lan là những vùng đất hoặc là gần như không có người ở hoặc nền văn minh bản địa có nguy cơ bị diệt vong, do vậy đã tiếp nhận những khái niệm đặc thù của hệ thống Roman – Giecmanh một cách tự nhiên[36; tr.64] Tuy nhiên, các thuộc địa của Tây
Trang 25Ban Nha và Pháp ở Bắc Mỹ đến nay về cơ bản đã theo truyền thống pháp luật Common Law Chỉ có một vài vùng như bang Louisiana (Hoa Kỳ), bang Quebec (Canada) có sự pha trộn giữa truyền thống Civil Law và truyền thống Common Law
Các nước thực dân Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Bỉ, Italia bằng các chính sách thuộc địa của mình đã du nhập truyền thống pháp luật Civil Law vào châu Phi Trước khi phương Tây đô hộ, những nước này không có hệ thống pháp luật phát triển nên họ dễ dàng tiếp nhận pháp luật của những người đô hộ như là tiếp nhận một nền văn hóa pháp luật cao hơn
Ở châu Á, các thuộc địa của Pháp, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha cũng chịu sự ảnh hưởng sâu sắc truyền thống pháp luật Civil Law từ tổ chức chính quyền,
tư tưởng pháp luật, tư duy pháp lý đến các chế định pháp luật cụ thể Các thuộc địa
cũ của châu Âu lục địa như Việt Nam, Lào, Campuchia, Indonesia, Philippines đều chịu ảnh hưởng từ các yếu tố pháp luật của Civil Law mặc dù sự ảnh hưởng ở từng nước diễn ra với mức độ khác nhau
- Ảnh hưởng qua sự tiếp nhận tự nguyện
Do nhu cầu cần phải cải cách pháp luật và mong muốn phương tây hóa hệ thống pháp luật nên một số quốc gia mặc dù chưa từng là thuộc địa của các nước châu Âu, nhưng vẫn tự nguyện tiếp nhận truyền thống pháp luật Civil Law vào nước mình Các nước này tiến hành pháp điển hóa dựa trên hình mẫu là những bộ luật thành văn của châu Âu lục địa, tổ chức bộ máy chính quyền, hệ thống tư pháp theo mô hình giống như các nước châu Âu lục địa
Nhật Bản là một trong những quốc gia tự nguyện tiếp nhận truyền thống Civil Law kể từ thời Minh Trị Để cải cách pháp luật, người Nhật Bản đứng trước sự lựa chọn giữa việc tiếp nhận Civil Law hay Common Law Và do họ nhận thấy hệ thống pháp luật kiểu Civil Law gần gũi với pháp luật truyền thống của Nhật Bản hơn cả và việc pháp điển hóa và ban hành các bộ luật thành văn sẽ mang lại hiệu quả hơn là việc tiếp nhận Common Law Từ thế kỷ XIX, Nhật Bản đã cho biên dịch
Trang 26các bộ luật của Pháp, Đức và một số nước châu Âu và xây dựng nên các bộ luật dân
sự, bộ luật hình sự, luật tổ chức hệ thống tòa án của nước mình
Bên cạnh Nhật Bản, các quốc gia khác như Trung Quốc, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ… cũng tiếp nhận những học thuyết, tư tưởng pháp luật và các chế định pháp lý
cụ thể của cả luật công và luật tư từ châu Âu lục địa
1.3 BỐI CẢNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRƯỚC THỜI PHÁP THUỘC
Theo cách phân loại hệ thống pháp luật của Réne David, pháp luật các nước vùng Viễn Đông (điển hình là Trung Quốc, Nhật Bản) được chia thành một hệ thống riêng biệt với đặc điểm chung là “pháp luật chỉ đóng vai trò không đáng kể, chỉ được áp dụng khi mọi phương tiện khác để giải quyết xung đột và khôi phục trật
tự phải bó tay” [36; tr.388] Pháp luật ở các nước này xem luân lý là căn nguyên của pháp luật, giữa luân lý và pháp luật không có ranh giới rõ rệt Pháp luật Việt Nam thời cổ, trung đại chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi các tư tưởng chính trị Trung Hoa cổ đại và hệ thống pháp luật của các triều đại phong kiến Trung Quốc Có thể nói trước khi bị cưỡng bức theo pháp luật của Pháp, Việt Nam theo truyền thống pháp luật Viễn Đông [1; tr.96-97]
Pháp luật ở Việt Nam thời cổ, trung đại phát triển tương đối muộn, song cũng
đã có những quy định rất tiến bộ, nhân văn Đặc biệt, việc ra đời của các bộ luật thành văn đã thể hiện bước phát triển rất cao trong hoạt động lập pháp thời phong kiến Pháp luật Việt Nam trước thời Pháp thuộc có kỹ thuật pháp lý khác hẳn kỹ thuật pháp lý của hệ thống pháp luật Roman – Giecmanh Hệ thống pháp luật Việt Nam thời kỳ này bên cạnh việc tiếp nhận truyền thống pháp luật Trung Hoa nhưng cũng phản ánh những đặc trưng văn hóa dân tộc Pháp luật Việt Nam thời cổ, trung đại có những đặc điểm nổi bật sau:
Thứ nhất, pháp luật thời kỳ này chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo
và Phật giáo
Nho giáo được truyền bá vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc (179 TCN – 938 CN) từ chính sách đồng hóa người Việt của các chính quyền phong kiến phương
Trang 27Bắc Bước sang thời kỳ độc lập, tự chủ và thống nhất (905-1527), các chính quyền phong kiến Việt Nam đã nhận thấy những điểm tích cực của Nho giáo trong việc củng cố quyền lực, tổ chức bộ máy nhà nước quân chủ tập quyền và quản lý xã hội bằng mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà nước và nhân dân Các bộ luật lớn được xây
dựng vào thời kỳ này như Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ… đều chứa đựng
tinh thần của Nho giáo trong việc bảo vệ các giá trị cốt lõi của Nho giáo như chế độ quân trị, nề nếp gia phong, đạo đức con người Các quy định trong các bộ luật đều hướng tới việc trừng trị bằng hình phạt những kẻ phạm vào đạo Tam cương ngũ thường, Tam tòng tứ đức, những kẻ xâm hại đến sự tồn vong của chính quyền chuyên chế tập quyền Các quy định về hình sự, quan chế, hôn nhân và gia đình là những lĩnh vực thể hiện rõ ràng nhất tinh thần Nho giáo trong các bộ luật phong kiến Tinh thần Nho giáo mang lại cho các bộ luật cổ nhiều giá trị nhân văn, tiến bộ Nhờ đó mà người dân biết tôn trọng và tuân thủ các lễ giáo nghiêm ngặt trong quan
hệ với chính quyền, gia đình và xã hội, biết hướng đến nhân nghĩa và tu dưỡng đạo đức bản thân Tuy vậy, hạn chế của Nho giáo đó là quá coi trọng việc dùng đạo đức của quân vương để quản lý đất nước mà xem nhẹ vai trò của pháp luật Do ảnh hưởng của triết lý trọng đức khinh pháp của Nho giáo, trong nhà nước phong kiến Việt Nam, nhân dân không coi pháp luật là công cụ bảo vệ mình mà như là đối lập với mình, thiếu đi một thái độ tôn trọng và sống theo các pháp luật [14; tr.86]
Tư tưởng Phật giáo với tinh thần từ bi hỉ sả cũng ảnh hưởng sâu sắc đến pháp luật Việt Nam thời kỳ trung đại, đặc biệt ở thời nhà Lý Sự ảnh hưởng đó thể hiện trong các chính sách khoan hồng, tha miễn hình phạt của nhà vua đối với người phạm tội nhằm giáo dục, cảm hóa họ
Thứ hai, pháp luật không có sự phân chia các ngành luật, coi trọng vai trò của hình luật và có xu hướng hình sự hóa các quan hệ xã hội
Các bộ luật nổi tiếng được xây dựng từ các triều đại phong kiến như Hình thư của nhà Lý, Hình luật của nhà Trần, Quốc triều hình luật của nhà Hậu Lê, Hoàng
Việt luật lệ của nhà Nguyễn mặc dù là những bộ luật tổng hợp điều chỉnh nhiều lĩnh
vực khác nhau, nhưng về cơ bản đó vẫn là những bộ hình luật Nguyên nhân là do
Trang 28tư tưởng Nho giáo đã bám rễ vào đời sống chính trị - xã hội Việt Nam suốt thời kỳ phong kiến Nho giáo chủ trương lấy đạo đức của nhà vua và quan lại để quản lý xã hội, cảm hóa dân chúng bằng đạo đức của mình Trong xã hội đó, pháp luật chỉ giữ vai trò thứ yếu, trong trường hợp bất đắc dĩ để trừng trị những kẻ vi phạm đạo của thánh hiền bằng những hình phạt nghiêm khắc Suốt thời kỳ cổ đại và trung đại ở Việt Nam, pháp luật vẫn được đồng nhất với hình phạt Vì vậy, lĩnh vực pháp luật quan trọng nhất chính là luật hình sự Các vi phạm pháp luật trong xã hội hầu hết đều bị xử lý bằng hình phạt Thậm chí các vi phạm liên quan đến khế ước, trách nhiệm dân sự cũng nghiêng về vấn đề trừng phạt thói vô đạo đức hơn là áp đặt chế tài cho vi phạm hợp đồng [1; tr.103]
Trong nhà nước tập quyền phong kiến, các lĩnh vực luật công như luật hiến pháp, luật hành chính cũng chưa có điều kiện ra đời Xã hội Việt Nam xưa đề cao sách vở thánh hiền, và xem đó như là những chuẩn mực cao nhất Không một ai trong xã hội dám đặt ra vấn đề giới hạn quyền lực của nhà vua, quyền lực của triều đình Vua chính là “thiên tử” và nghĩa vụ của con dân là phải trung với vua Mô hình “lục bộ” học hỏi từ triều đình phong kiến Trung Hoa là mô hình tổ chức bộ máy nhà nước tồn tại suốt nhiều triều đại Trong chế độ chuyên quyền đó, không có
ai dám yêu cầu nhà vua hay triều đình phải công nhận và tôn trọng các quyền lợi cá nhân của mình Pháp luật chính là thánh ý của nhà vua Vì thế, suốt thời kỳ cổ, trung đại Việt Nam không có Hiến pháp và cũng chưa có tư tưởng lập hiến
Các lĩnh vực luật tư như luật dân sự, luật thương mại cũng chưa có điểu kiện
phát triển Tuy vậy, trong các bộ Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ cũng có
dung lượng đáng kể dành cho các quy định về lĩnh vực dân sự với các chế định cơ bản về sở hữu, khế ước, thừa kế, trách nhiệm dân sự, hôn nhân và gia đình Các quy định này dù không bao quát được tất cả các quan hệ xã hội có nhu cầu điều chỉnh và cũng thiếu tính bình đẳng và tự do ý chí của quan hệ dân sự nhưng cũng có vai trò quan trọng trong việc duy trì tôn ti trật tự trong xã hội [1; tr.98] Ngoài ra, các nhà lập pháp thời xưa cũng đã có tư duy về việc phân biệt các quy phạm luật nội dung với các quy phạm luật thủ tục Đặc biệt là sự ra đời của một bộ luật tố tụng riêng
Trang 29biệt – Quốc triều khám tụng điều lệ thời Hậu Lê là một trong những điểm tiến bộ của hoạt động xây dựng pháp luật thời trung đại
Thứ ba, nguồn pháp luật chủ yếu là luật thành văn và tập quán
Ở thời kỳ trung đại, hoạt động xây dựng pháp luật rất được chú trọng, đặc biệt
ở thời Hậu Lê và thời nhà Nguyễn Các văn bản pháp luật ở thời kỳ trung đại có số lượng lớn, hình thức đa dạng, nhiều văn bản chứa đựng những nội dung tiến bộ,
nhân văn Bên cạnh các bộ luật thành văn nổi tiếng như Hình thư, Hình luật, Quốc
triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ…, còn có các văn bản đơn hành mang tính quy
phạm hoặc tính cá biệt như chiếu, lệ, lệnh, dụ, sắc… Phạm vi điều chỉnh của các văn bản này rất rộng, bao quát hầu khắp các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội thời bấy giờ như: quan chế, hình sự, tố tụng, khế ước, sở hữu, thừa kế, hôn nhân và gia đình
Cùng với luật thành văn, tập quán có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì trật tự xã hội phong kiến Việt Nam Thậm chí, các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, tập quán là nguồn luật chính trong giai đoạn này [45; tr.20] Mỗi vùng miền của đất nước đều tồn tại những tập quán hết sức dồi dào, phong phú Tư tưởng “phép vua thua lệ làng” được hình thành trong tâm trí của người Việt Nam thể hiện sự thừa nhận và áp dụng rộng rãi của tập quán nhiều hơn so với quy định pháp luật của các
nhà nước phong kiến Các bộ luật nổi tiếng như Quốc triều hình luật và Hoàng Việt
luật lệ cũng đều thừa nhận nhiều quy tắc xử sự dưới dạng tập quán, chủ yếu là các
tục lệ, lệ làng [45; tr.21]
Thời kỳ cổ và trung đại ở Việt Nam, các quy phạm phi quan phương như đạo đức, phong tục, tập quán, hương ước… đã chiếm ưu thế so với các định chế quan phương – pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội [14; tr.86] Hiện tượng này xuất phát từ những nguyên nhân sau: (1) suốt thời kỳ cổ đại, Việt Nam không
có pháp luật hoàn thiện và thống nhất nên các tập quán địa phương đã được hình thành, phát triển và bám rễ vào đời sống người dân từ đời này sang đời khác; (2) nước ta trải qua hơn 1000 năm bị các triều đại phong kiến phương Bắc đô hộ và chúng sử dụng pháp luật để bóc lột nhân dân ta, đàn áp các cuộc khởi nghĩa và đồng
Trang 30hóa xã hội Việt vì thế tư tưởng chống đối pháp luật vẫn còn đâu đó trong tiềm thức của người dân; (3) ảnh hưởng sâu sắc bởi tư tưởng Nho giáo và Phật giáo nên vai trò của pháp luật bị xem nhẹ, chỉ được coi là công cụ bất đắc dĩ khi việc cảm hóa người dân bằng đạo đức của vua quan không có hiệu quả Ngoài văn bản pháp luật
và tập quán, các nguồn luật khác như học thuyết, án lệ không có điều kiện phát triển
do quan niệm phong kiến - pháp luật là ý chí tối thượng của nhà vua nên việc phục tùng là tuyệt đối Việc diễn giải pháp luật bởi thẩm phán hay bởi bất kỳ một người nào cũng không được chấp nhận, thậm chí còn bị coi là phạm thượng với triều đình [21; tr.371-372]
Thứ tư, không tồn tại một thiết chế tài phán độc lập đảm nhiệm chức năng xét
xử các vi phạm pháp luật trong xã hội
Hoạt động tư pháp – xét xử trong chế độ phong kiến Việt Nam có đặc trưng là không có một bộ phận độc lập đảm nhiệm, mà do các cơ quan hành chính thực hiện luôn cả chức năng xét xử, thậm chí chức năng xét xử trở thành một chức năng quan trọng hơn cả chức năng hành chính [43; tr.100] Không có một ngạch quan chức riêng thực hiện nhiệm vụ xét xử Các viên quan trông coi việc hành chính cũng kiêm luôn nhiệm vụ xét xử [14; tr.140] Các thời kỳ nhà Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, quyền xét xử cao nhất là nhà vua Các quan địa phương thực hiện chức năng hành chính kiêm luôn việc xét xử các vụ án Thời Hậu Lê, đã xuất hiện một số cơ quan được phân định thẩm quyền tài phán chuyên trách như: Thừa ty, Hiến ty, Ngự sử đài, Đại lý tự…Đây là một trong những dấu hiệu ban đầu của việc tách quyền tài
phán ra khỏi cơ quan hành pháp Điều 672 Quốc triều hình luật có quy định: “Nhân
dân trong lộ, trong huyện có việc tranh kiện nhau, việc rất nhỏ, đến kiện ở xã quan; việc nhỏ đến kiện ở lộ quan; việc trung bình đến kiện ở quan phủ; các quan kể trên phải xét xử cho công bằng đúng pháp luật; còn việc lớn phải đến kinh” Như vậy, thời nhà Lê, tổ chức tài phán đã có sự phân định thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ (lộ, huyện) và thẩm quyền của các cấp theo mức độ nghiêm trọng của tranh chấp [37; tr.97] Thời nhà Nguyễn, hệ thống cơ quan xét xử được tổ chức lại Cấp xét xử thấp nhất là các nha môn cấp huyện hay phủ Ở trung ương, các bộ đều có quyền
Trang 31phúc thẩm các vụ án quan trọng thuộc thẩm quyền riêng của mình [43; tr.99] Cấp tài phán tối cao là Tam pháp ty xét xử lại các bản án tử hình và những vụ án có điều nghi khó giải quyết Đối với những đơn khiếu nại dâng trước mặt nhà vua hoặc do đương sự đệ nộp vào kinh sẽ do Đại lý tự xét xử Tuy nhiên, nhìn chung các cơ quan chuyên trông coi việc kiện tụng, hình pháp vẫn có chức năng chính là hành pháp, hoạt động xét xử vẫn chưa được độc lập với chức năng hành chính Việc phân định đúng sai có thể chưa căn cứ vào pháp luật do triều đình ban hành mà phần nhiều vào đạo đức, sự liêm khiết của các viên quan xử kiện Vậy nên đã có rất nhiều trường hợp oan sai xảy ra được sử sách ghi chép lại
Thứ năm, tư duy pháp lý của các quan lại phong kiến Việt Nam là tư duy diễn dịch
Các quan xử án ở Việt Nam trước kia cũng tư duy theo lối diễn dịch Tuy nhiên, lối tư duy đó lại đi từ quy tắc tới các trường hợp cụ thể mà không ưa sự trừu tượng, chỉ quen dùng các giải pháp định sẵn cho các trường hợp cụ thể xảy ra trong tương lai Cách thức tư duy này bị áp đặt bởi ý thức hệ phong kiến tập quyền phương Đông lấy chủ nghĩa nhân trị làm nền tảng [1; tr.102] Các quan lại ở Việt Nam chưa phát huy được sự sáng tạo trong hoạt động áp dụng pháp luật bởi quan điểm pháp luật chính là ý chí tối thượng của nhà vua Kiểu tư duy này còn ảnh hưởng đến việc xây dựng các quy tắc pháp lý thời phong kiến Các quy tắc pháp lý của thời kỳ này rất cụ thể, không có được trình độ trừu tượng hóa, khái quát cao như pháp luật phương tây Cách diễn đạt câu chữ trong các bộ cổ luật khá cụ thể - nhiều điều luật dường như trích lại từ án văn, khó tạo ra những quy tắc chung để áp dụng pháp luật [21; tr.354] Bên cạnh đó, trong hoạt động áp dụng pháp luật còn tồn tại lối tư duy bất bình đẳng, phân biệt đối xử giữa quan lại và thứ dân Tồn tại kiểu
tư duy như vậy cũng là do sự áp đặt của chế độ quân chủ chuyên chế tập quyền cho rằng hoàng đế chính là pháp luật và nghĩa vụ của người dân là phải phục tùng thứ pháp luật ấy một cách vô điều kiện
Tóm lại, pháp luật Việt Nam trước thời Pháp thuộc mặc dù có nhiều sự tiến
bộ, nhân văn, song vẫn mang đặc trưng của kiểu pháp luật phong kiến phương
Trang 32Đông Pháp luật được ban hành nhằm phục vụ việc duy trì và củng cố chế độ trung ương tập quyền Pháp luật chịu ảnh hưởng rất sâu sắc từ những lễ giáo phong kiến
và những chuẩn mực đạo đức của Nho giáo và Phật giáo Các chế tài chủ yếu là chế tài hình sự với mục đích trừng phạt, răn đe những kẻ xâm hại đến sự tồn vong của chế độ và nền tảng đạo đức xã hội
1.4 KHÁI LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT CIVIL LAW ĐẾN PHÁP LUẬT VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC
Việt Nam là một trong những nước ở châu Á chịu ảnh hưởng từ hệ thống pháp luật châu Âu lục địa kể từ thế kỷ XIX bởi chính sách thuộc địa của Pháp Sự ảnh hưởng đó đã thay đổi hoàn toàn cấu trúc pháp luật truyền thống của Việt Nam và làm cho hệ thống pháp luật nước ta có những yếu tố gần gũi với pháp luật phương tây hơn Pháp luật Việt Nam dần thoát khỏi sự ảnh hưởng của Nho giáo và tiếp cận dần với các giá trị bình đẳng, tự do, hướng tới công lý và tôn trọng các quyền cơ bản Sự ảnh hưởng đó được thể hiện thông qua những con đường, nội dung và phạm
vi khác nhau
1.4.1 Con đường ảnh hưởng
Vào thế kỷ XIX, sau những cuộc pháp điển hóa diễn ra mạnh mẽ ở châu Âu lục địa với thành tựu là sự ra đời của nhiều bộ luật thành văn tiến bộ, hệ thống pháp luật Civil Law bắt đầu phát triển vượt ra khỏi lãnh thổ châu Âu đi ra khắp thế giới Chủ nghĩa thực dân đã có vai trò rất lớn trong việc giúp các nước châu Âu đưa truyền thống Civil Law đến các nướcthuộc địa Pháp đã chọn Đông Dương (bao gồm các nước Việt Nam, Lào và Campuchia) làm thuộc địa của mình và đưa đến quân xâm lược Việt Nam khi đó với một chế độ phong kiến lạc hậu đã để mất chủ quyền vào tay thực dân Pháp Kể từ sau Hiệp ước Patenotre năm 1884, Pháp xác lập chế độ thực dân – phong kiến trên lãnh thổ Việt Nam Cùng với việc duy trì triều đình nhà Nguyễn, Pháp cho xây dựng bộ máy chính quyền ở Việt Nam và cho ban hành pháp luật riêng nhằm mục đích khai thác thuộc địa và quản lý người dân
Trang 33Hệ thống pháp luật Civil Law đã bắt đầu ảnh hưởng đến pháp luật Việt Nam
kể từ giai đoạn lịch sử này Sự ảnh hưởng đó đến từ cả hai con đường cưỡng ép và
tự nguyện
Sự ảnh hưởng hệ thống pháp luật Civil Lawđến pháp luật Việt Nam thời Pháp thuộc chủ yếu bằng con đường cưỡng ép Chính quyền thực dân chia cắt Việt Nam làm ba vùng và áp đặt những quy chế pháp lý khác nhau cho người dân ba vùng đất nước Chính quyền thực dân cho xây dựng, ban hành pháp luật và yêu cầu người dân ta phải tuân thủ pháp luật của họ Thực dân Pháp cũng cho tổ chức hệ thống Tòa án, nhà tù, cảnh sát nhằm bảo đảm cho pháp luật của họ đặt ra được thực thi
Sự cưỡng ép đó có thể bằng cách thức trực tiếp thông qua việc chính quyền Pháp ban hành pháp luật và cưỡng chế thi hành ở Việt Nam; hoặc bằng cách thức gián tiếp thông qua việc triều đình nhà Nguyễn ban hành các văn bản pháp luật của riêng mình nhưng chỉ là hình thức Thực tế, các văn bản đó vẫn do người Pháp soạn thảo
và phải được Toàn quyền Đông Dương phê chuẩn
Tuy nhiên, thời kỳ này cũng có sự ảnh hưởng truyền thống Civil Law bằng con đường tự nguyện, chủ yếu là sự ảnh hưởng từ các tư tưởng pháp lý từ hệ thống này.Cuối thế kỷ XIX, nhiều nhà trí thức và nhà cách mạng Việt Nam như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn An Ninh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Ái Quốc…
đã tiếp thu nhiều tư tưởng tự do, dân chủ tư sản tiến bộ Họ được truyền cảm hứng
bởi Cách mạng tư sản Pháp (1789) với Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền nổi
tiếng, Cách mạng Duy tân của Thiên hoàng Minh Trị Nhật Bản và Cách mạng Tân Hợi năm 1911 của Trung Quốc Nhờ trào lưu tân thư, họ tiếp xúc qua các tác phẩm
như Tinh thần pháp luật của Montesquieu hay Khế ước xã hội của Rousseau Thậm
chí, họ còn trực tiếp sang các nước châu Âu, Nhật Bản, để học hỏi, đúc kết và mang
về truyền bá tư tưởng đó ở Việt Nam Và kết quả của quá trình truyền bá này là các cuộc cách mạng diễn ra nhằm lật đổ chế độ thực dân – phong kiến đầu thế kỷ XX Bên cạnh đó, việc chính quyền thực dân thay đổi nền giáo dục từ Nho học sang Tây học, mở trường đào tạo luật ở Việt Nam cũng góp phần làm thay đổi tư duy pháp lý của người Việt Nam Thế hệ trí thức của Việt Nam được tiếp xúc với
Trang 34nền khoa học pháp lý tiến bộ của châu Âu trên nền tảng Luật La Mã Tư duy về một
hệ thống pháp luật công bằng, bình đẳng, nhân quyền và tự do dần được hình thành
1.4.2 Phạm vi ảnh hưởng
Khi nói đến phạm vi ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Civil Law đến pháp luật Việt Nam thời Pháp thuộc là ta nói đến giới hạn về mức độ, thời gian và không gian mà các yếu tố pháp luật của hệ thống pháp luật này tác động đến cấu trúc pháp luật của Việt Nam
Về mức độ ảnh hưởng, có thể nói ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Civil Law
ở nước ta thời thuộc Pháp diễn ra cả ở mức độ vĩ mô và vi mô Ở mức độ vĩ mô, sự ảnh hưởng đó bao trùm toàn bộ các yếu tố của hệ thống pháp luật – từ luật thực định cho đến các hoạt động thực hiện pháp luật, tổ chức quyền lực nhà nước, ý thức hệ,
tư duy pháp lý, thủ tục tư pháp, quan niệm về nguồn pháp luật, nhận thức về vai trò của pháp luật trong xã hội, quan hệ giữa pháp luật với các hiện tượng xã hội khác
Ở mức độ vi mô, đó là những ảnh hưởng trực tiếp đến các chế định, các quy phạm pháp luật cụ thể
Về không gian, nhìn chung truyền thống pháp luật châu Âu lục địa ảnh hưởng
bao trùm toàn lãnh thổ Việt Nam Tuy nhiên, do người Pháp chia Việt Nam thành 3 miền với các quy chế pháp lý khác nhau nên mức độ ảnh hưởng của hệ thống Civil Law ở 3 miền đất nước cũng có sự khác biệt
Nam Kỳ và 3 thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng được đặt dưới quy chế thuộc địa Vì thế pháp luật được áp dụng ở đây là pháp luật Pháp hoặc luật do người Pháp xây dựng riêng nơi này Vì thế, ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Civil Law đối với pháp luật của những vùng này là đậm nét hơn cả Từ các quy phạm pháp luật cụ thể, kỹ thuật pháp lý và thủ tục tư pháp chủ yếu được sao chép từ pháp luật của Pháp lúc bấy giờ
Còn ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, pháp luật được áp dụng bao gồm cả văn bản do chính quyền Pháp ban hành và văn bản do triều đình phong kiến ban hành Vì vậy, bên cạnh các yếu tố của truyền thống Civil Law, pháp luật của hai xứ này vẫn có
Trang 35phần nào đó vẫn thể hiện được tính dân tộc, gắn liền với phong tục tập quán của người Việt
Về thời gian, sự ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Civil Law được tính từ khi
thực dân Pháp áp đặt những quy chế pháp lý đầu tiên lên Việt Nam
Ngày 5/6/1862, chính quyền Pháp và triều đình nhà Nguyễn ký kết Hiệp ước Nhâm Tuất, theo đó phía nhà Nguyễn cam kết nhượng 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp Đến ngày 25/7/1864, Sắc lệnh về tổ chức tư pháp tại các vùng thuộc Pháp
đã được Chính phủ Pháp ban hành Truyền thống Civil Law đã được du nhập vào miền Nam Việt Nam Và kể từ sau Hiệp ước Quý Mùi năm 1883 và Hiệp ước Patenotre năm 1884, Pháp chính thức đặt 3 miền của Việt Nam với 3 chế độ pháp lý khác nhau, việc pháp điển hóa theo mô hình pháp luật Pháp diễn ra mạnh mẽ ở cả 3 miền đất nước
Dấu ấn của pháp luật châu Âu lục địa còn tồn tại ở Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám 1945 Thậm chí, ở miền nam Việt Nam trước năm 1975 (phía nam vĩ tuyến 17), truyền thống pháp luật châu Âu lục địa còn đậm nét đến tận cuối những năm 70 của thế kỷ XX Đó là do thời gian đầu khi mới giành được độc lập, Việt Nam vẫn duy trì việc áp dụng các văn bản pháp luật của thời Pháp thuộc Đến những năm 1950, khi pháp luật Việt Nam chịu sự chi phối mạnh mẽ của học thuyết Mác – Lênin thì những yếu tố của truyền thống Civil Law bị pha trộn và trở nên mờ nhạt hơn
1.4.3 Nội dung ảnh hưởng
Sự ảnh hưởng của một hệ thống pháp luật đến pháp luật của một quốc gia có thể chỉ là ảnh hưởng đến một quy phạm pháp luật, một thiết chế pháp luật cụ thể, cũng là ảnh hưởng đến một chế định pháp luật, hoặc là ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống pháp luật của quốc gia đó Ở thời kỳ Pháp thuộc, hệ thống pháp luật Civil Law đã ảnh hưởng đến toàn bộ các yếu tố pháp luật thuộc hệ thống pháp luật nước
ta
Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của GS TS Hoàng Thị Kim Quế đưa ra định nghĩa về hệ thống pháp luật theo quan điểm rộng, hiện đại như sau:
Trang 36Hệ thống pháp luật là chỉnh thể thống nhất các yếu tố pháp luật (các hiện tượng pháp luật) bao gồm các quy phạm pháp luật, chế định pháp luật và các ngành luật, các loại nguồn pháp luật, các thiết chế pháp luật; xây dựng pháp luật; thực hiện, áp dụng pháp luật, văn hóa pháp luật, dịch
vụ pháp luật, giáo dục và thông tin, tiếp cận pháp luật, tư tưởng pháp luật[9; tr.381]
Theo đó, khi nói đến pháp luật của một quốc gia thì không chỉ có các quy phạm pháp luật, các chế định pháp luật, các loại nguồn pháp luật mà còn bao gồm
cả các thiết chế pháp luật (đặc biệt là thiết chế tư pháp), tư tưởng pháp luật, văn hóa pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật, dịch vụ pháp lý, đào tạo, giáo dục pháp luật Khi nghiên cứu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Civil Law đến pháp luật Việt Nam thời Pháp thuộc ta cần xem xét sự ảnh hưởng đến toàn bộ các thành tố pháp luật cơ bản nói trên Sự ảnh hưởng của bất kỳ yếu tố pháp luật nào cũng cần được quan tâm, đánh giá bởi các thành tố pháp luật luôn có mối quan hệ khăng khít với nhau, tác động qua lại với nhau, cùng nhau tạo nên sự thống nhất, hoàn chỉnhcủa đời sống pháp luật của một xã hội trong một thời kỳ nhất định Mỗi thành
tố pháp luật thời Pháp thuộc lại thể hiện sự ảnh hưởng hệ thống pháp luật Civil Law
ở những khía cạnh khác nhau
Trang 37KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Từ những nghiên cứu trên cho ta thấy, hệ thống pháp luật Civil Law là một trong những hệ thống pháp luậtchính trên thế giới được hình thành và phát triển trên nền tảng Luật La Mã cổ đại, pháp luật tôn giáo và các tập quán địa phương ở châu
Âu lục địa Hệ thống pháp luật này lấy luật thành văn làm nguồn pháp luật cơ bản
và có trình độ pháp điển hóa rất cao.Các bộ luật thành văn đồ sộ với các quy tắc pháp lý tiến bộ của các quốc gia thuộc hệ thống này chính là những thành tựu văn hóa pháp lý lớn của nhân loại, đã và đang góp phần rất lớn vào phát triển khoa học pháp lý hiện đại
Nhờ những giá trị tiến bộ, hiện đại của mình và sự phát triển chủ nghĩa thực dân ở các nước châu Âu, hệ thống pháp luật này đã du nhập đi khắp thế giới, ảnh hưởng sâu rộng đến pháp luật của nhiều quốc gia ở châu Mỹ Latinh, châu Phi và châu Á Nóđã trở thành hệ thống pháp luật lớn nhất trên thế giới Việt Nam cũng là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng sâu sắc của truyền thống pháp luật Civil Law kể từ thời kỳ thực dân Pháp xâm lược nước ta vào thế kỷ XIX Sự ảnh hưởng
đó không chỉ được thể hiện trong hệ thống pháp luật thực định mà còn ở trong các yếu tố pháp luật khác như tư tưởng pháp lý, thiết chế tư pháp, tư duy pháp luật, dịch
vụ pháp lý, đào tạo luật, ý thức hệ
Trước khi thực dân Pháp xâm lược, Việt Nam có một truyền thống pháp luật khác hẳn với các nước châu Âu lục địa Pháp luật Việt Nam gần gũi với truyền thống pháp luật phương Đông cổ, lấy Nho giáo làm nền tảng tư tưởng Cấu trúc pháp luật, kỹ thuật pháp lý, tư duy và thiết chế tài phán đều mang đậm màu sắc của
mô hình tổ chức nhà nước và pháp luật phong kiến Trung Quốc Nghiên cứu về pháp luật Việt Nam thời kỳ trước khi thực dân Pháp xâm lược nhằm so sánh và làm
rõ hơn việc du nạp truyền thống Civil Law sẽ làm biến đổi hệ thống pháp luật truyền thống của Việt Nam từ mô hình pháp luật Viễn Đông sang truyền thống pháp luật Civil Law như thế nào
Trang 38CHƯƠNG 2:
ẢNH HƯỞNG CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT CIVIL LAW ĐẾN CÁC THÀNH TỐ CƠ BẢN VÀ MỘT SỐ LĨNH VỰC CỦA PHÁP LUẬT
VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC
2.1 KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC
Sau các cuộc phát kiến địa lý lớn ở thế kỷ XV và XVI, chủ nghĩa tư bản được xác lập, giai cấp tư sản châu Âu bắt đầu đẩy mạnh các cuộc xâm lăng các vùng đất
ở châu Mỹ, châu Phi và châu Á Việt Nam trở thành đối tượng xâm lược của Pháp vào thế kỷ XIX nhờ vị trí địa lý quan trọng, giàu tài nguyên thiên nhiên cùng với chế độ phong kiến đang dần suy yếu Triều đình nhà Nguyễn lúc này liên tiếp thua trận trước quân Pháp và bắt đầu chuyển sang chính sách hòa hoãn, nhượng bộ với Pháp Pháp đã ký 4 bản hiệp ước với triều đình nhà Nguyễn nhằm hợp pháp hóa việc xâm lược của Pháp ở Việt Nam Sau Hiệp ước Patenôtre năm 1884, triều đại phong kiến nhà Nguyễn với tư cách là một quốc gia độc lập sụp đổ Thay vào đó, thực dân Pháp xác lập chế độ thuộc địa nửa phong kiến ở Việt Nam kéo dài đến Cách mạng tháng Tám năm 1945
Trong hơn 50 năm chi phối, thực dân Pháp áp dụng chính sách “chia để trị” nhằm phục vụ việc cai trị của mình và làm chia rẽ dân tộc ta Từ năm 1887-1889, Liên bang Đông Dương được thành lập bao gồm Bắc Kỳ (Tonkin), Trung Kỳ (Annam), Nam Kỳ (Cochinchine), Cao Miên, Ai Lao và Quảng Châu Loan với các quy chế chính trị khác nhau Trong đó, Nam Kỳ và 3 thành phố Hà Nội, Hải Phòng
và Đà Nẵng là quy chế thuộc địa Trung Kỳ là quy chế bảo hộ Bắc Kỳ là quy chế nửa bảo hộ
Cùng với việc thiết lập quy chế chính trị và bộ máy chính quyền ở 3 vùng trên đất nước Việt Nam, thực dân Pháp cũng áp đặt 3 kiểu quy chế pháp lý riêng biệt tương ứng Nam Kỳ là xứ thuộc địa nên đặt dưới thẩm quyền lập pháp của Pháp Khi xét xử, tòa án áp dụng luật của Pháp Trung Kỳ được đặt dưới chế độ bảo hộ, và thẩm quyền lập pháp thuộc về hoàng đế An Nam Bắc Kỳ cũng đặt dưới chế độ bảo
Trang 39hộ, nhưng quy chế hướng đến kiểu quản lý hành chính trực tiếp bởi người Pháp Một phần pháp luật của Hoàng đế An nam cũng được áp dụng tại Bắc Kỳ[21; tr.351]
Quy chế pháp lý đối với người bản địa, người Pháp và người dân các nước khác sinh sống tại Việt Nam cũng khác nhau Người Việt Nam và người châu Á không thuộc đối tượng được biệt đãi thì áp dụng pháp luật và các tập quán bản địa của Việt Nam Đối với người Pháp, người dân các nước châu Âu, châu Á được hưởng biệt đãi như người Pháp và người Việt Nam sinh ra ở vùng đất thuộc địa được điều chỉnh bởi pháp luật Pháp và được xét xử tại Tòa án Pháp tại Việt Nam
Có thể nói, chính quyền Pháp rất xem trọng xây dựng pháp luật và luôn xem
đó là một phương tiện cai trị có hiệu quả Ở những năm đầu, chính quyền thực dân còn sử dụng pháp luật triều Nguyễn Sau khi đã bình định Việt Nam, thực dân Pháp
đã thực hiện pháp điển hóa trên quy mô lớn trên khắp 3 vùng của Việt Nam, trên nhiều lĩnh vực khác nhau Ở Nam Kỳ, do là xứ thuộc địa nên hoạt động xây dựng pháp luật được chú trọng khá sớm Các bộ luật được ban hành ở Nam Kỳ chủ yếu được sao chép từ các bộ luật của Pháp nên thể hiện được cơ bản các nguyên tắc pháp lý của pháp luật Pháp Ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, do tinh thần duy trì pháp luật bản xứ nên việc pháp điển hóa diễn ra muộn hơn Tuy vậy cũng có nhưng các đạo luật do người Pháp xây dựng được ban hành ở 2 vùng này đều có sự kế thừa nhiều giá trị văn minh, tiến bộ của pháp luật phương tây, khắc phục được đáng kể tình trạng thiếu thốn, lạc hậu của pháp luật bản xứ
Thực tế, pháp luật của chính quyền thực dân lại là công cụ hữu hiệu nhằm phục vụ cho các chính sách bóc lột, khai thác thuộc địa tàn khốc và đàn áp đẫm máu các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta Tuy vậy, pháp luật mà người Pháp mang vào Việt Nam cũng có ý nghĩa tiến bộ, đã góp phần làm cho hệ thống pháp luật Việt Nam tiếp cận được với các giá trị văn minh pháp lý nhân loại [1; tr.18] Có rất nhiều chế định pháp lý chứa đựng trong các bộ luật mà thực dân Pháp cho soạn thảo mà trước đây pháp luật Việt Nam chưa hề có Người Pháp đã đem những yếu tố pháp luật tiến bộ, hiện đại của hệ thống pháp luật châu Âu lục địa vào Việt Nam và làm
Trang 40thay đổi hoàn toàn diện mạo đời sống pháp luật nước ta Các giá trị ấy còn được kế thừa rộng rãi sau khi nước ta thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp
2.2 ẢNH HƯỞNG TRÊN PHƯƠNG DIỆN TƯ TƯỞNG PHÁP LUẬT
Tư tưởng pháp luật là hệ thống các tư tưởng, học thuyết, các khái niệm, phạm trù chính trị - pháp luật thể hiện quan điểm, thái độ và sự đánh giá của con người về pháp luật[9; tr.426] Trong suốt thời gian dài, tư tưởng pháp luật của Việt Nam bị chi phối mạnh mẽ bởi Nho giáo với nền tảng là chủ nghĩa nhân trị Kể từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam giữa thế kỷ XIX thì tư tưởng Nho giáo đã dần mất vị trí độc tôn trong đời sống chính trị Triết lý chính trị Nho giáo không còn là hệ tư tưởng chính thống của chính trị Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc nữa Thay vào đó, những tư tưởng tiến bộ về quyền con người, về tổ chức quyền lực nhà nước, về chủ nghĩa lập hiến đã được truyền bá rộng rãi Đó chính là động lực cho các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc nhằm lật đổ chính quyền thực dân – phong kiến, đem lại quyền tự do thật sự cho nhân dân thời kỳ này
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, bằng phương tiện tân thư, tư tưởng phương tây được truyền bá, thâm nhập vào Nhật Bản rồi sang Trung Quốc và đi vào Việt Nam bằng cách thâm nhập vào tư tưởng và tác phẩm tuyên truyền vận động cách mạng của các nhà yêu nước Việt Nam[29; tr.77]
2.2.1 Tư tưởng về tự do cá nhân và quyền con người
Do ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo và sống trong xã hội phong kiến hà khắc, con người Việt Nam trước thời Pháp thuộc hoàn toàn không có tự do cá nhân
mà phải hy sinh tự do của mình cho cộng đồng Pháp luật thời kỳ này cũng không nhằm mục đích bảo vệ quyền con người mà chủ yếu vì sự tồn vong của chế độ chuyên chế tập quyền Tư tưởng về tự do cá nhân và quyền con người chỉ bắt đầu xuất hiện và phát triển ở Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc – khi mà tình hình thế giới đang có nhiều biến chuyển Tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái của Cách mạng
tư sản Pháp năm 1789 được phổ biến rộng rãi cùng các tư tưởng về quyền con người, quyền công dân Cùng với đó, nhân dân Việt Nam đang sống trong ách nô lệ