Dựa trên những hướng dẫn của TS.GVC. Nguyễn Lan Nguyên; lấy hướng nghiên cứu từ thực tế vấn đề quản lý ô nhiễm biển, tôi đi vào nghiên cứu thực tiễn và có một số đề xuất một số giải pháp quản lý về quản lý ô nhiễm biển, Các giải pháp này dựa trên các nguyên tắc nhất định như: đảm bảo tính liên tục, hệ thống và tính thực tiễn. Các giải pháp bảo vệ môi trường (đặc biệt là môi trường biển), trình bày luận án chính thức, có tính cấp thiết cao. Luận án được hoàn thành với giá trị lý thuyết và thực hành. Luận án sẽ đóng góp không chỉ cho các hệ thống lý thuyết về quản lý hệ thống văn bản pháp luật về môi trường biển mà còn bảo vệ môi trường Bên cạnh đó, điều này sẽ giúp nâng cao chất lượng quản lý ô nhiễm biển.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
CAO THỊ THANH HUYỀN
Pháp Luật Quốc Tế và Pháp Luật Một Số Quốc Gia Điển Hình Về Bảo Vệ Môi
Trường Biển – Liên Hệ Thực Tiễn Việt Nam
Chuyên ngành : Luật Quốc tế
Mã số : 838 010 106
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS.GVC Nguyễn Lan Nguyên
Hà nội – 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của TS.GVC Nguyễn Lan Nguyên Bản luận văn là sự tập trung, nghiên cứu và xây dựng trên cơ sở tìm hiểu của cá nhân tôi Những thông tin và số liệu trong luận văn đều là quá trình tìm hiểu và nghiên cứu của bản thân Tôi cam đoan những thông tin là trung thực, chưa từng sử dụng cho bất cứ đề tài nghiên cứu nào Mọi sự tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và có chỉ dẫn tới tài liệu tham khảo đã sử dụng
Người viết
Cao Thị Thanh Huyền
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 2
MỤC LỤC 3
CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
MỞ ĐẦU 7
1 Đặt vấn đề 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu và tính cấp thiết của đề tài 7
1.2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 8
1.2.1 Mục tiêu tổng quan 8
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 9
1.3 Tính mới và những đóng góp của đề tài 9
1.4 Đối tượng nghiên cứu đề tài 10
2 Nội dung địa điểm và phương pháp nghiên cứu 10
2.1 Nội dung nghiên cứu 10
2.2 Phương pháp nghiên cứu 11
2.3 Địa điểm nghiên cứu 11
3 Kết cấu đề tài 12
Chương 1: Tổng Quan Pháp Luật Quốc Tế Về Bảo Vệ Môi Trường Biển 13
1.1 Môi trường biển và một số khái niệm 13
1.1.1 Môi trường biển và nguồn gây ô nhiễm môi trường biển 13
1.1.2 Một số khái niệm 14
1.2 Pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường biển 17
1.2.1 Các nguyên tắc của pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường biển 17
1.2.2 Một số công ước quốc tế và bảo vệ môi trường biển 23
Chương 2: Pháp Luật Một Số Quốc Gia Điển Hình Về Bảo Vệ Môi Trường Biển Và Một Số Vụ Việc 32
2.1 Pháp Luật Một Số Quốc Gia Điển Hình Về Bảo Vệ Môi Trường Biển 32
2.1.1 Pháp luật Canada 33
2.1.2 Pháp luật nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa ( Trung Quốc)37 2.1.3 Pháp luật về môi trường của Thái Lan 42
2.1.4 Pháp luật về môi trường của Philippines 43
Trang 42.2 Một số vụ việc thực tiễn 45
2.2.1 Tranh chấp giữa tập đoàn Chervon (Mỹ) với chính phủ Ecuador liên quan đền thảm họa môi trường biển tại Ecuador 46 2.2.2 Sự cố của giàn Deepwater Horizon 50 2.2.3 Sự cố biển bốn tỉnh miền trung của Việt Nam (Fumosa Hà Tĩnh) 54
Chương 3: Pháp Luật Bảo Vệ Môi Trường Biển Tại Việt Nam Và Giải Pháp Hoàn Thiện 64 3.1 Pháp luật bảo vệ môi trường biển Việt Nam và viêc thực thi các Điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển 64
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường biển Việt Nam 73
3.2.1 Hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường Việt Nam nói chung 73 3.2.2 Hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường biển Việt Nam, gắn việc bảo vệ môi trường biển với vấn đề quyền con người 79
KẾT LUẬN 90 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 5CÁC TỪ VIẾT TẮT
IUCN Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế
WCED Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
UNCLOS Công ước Quốc tế về luật biển 1982
OPRC Công ước quốc tế về sẵn sàng hợp tác và ứng phó đối với ô nhiễm
dầu năm 1990 SOLAS 74/78 Công ước quốc tế về an toàn sinh mạng con người trên biển 1974 và
Nghị định thư bổ sung 1978 HNS Công ước quốc tế về trách nhiệm và bồi thường thiệt hại liên quan
đến vận chuyển chất độc hại và nguy hiểm bằng đường biển 1996 CLC Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với các tổn thất do ô
nhiễm dầu 1969 Công ước quỹ Công ước quốc tế về thành lập quỹ quốc tế để bồi thường thiệt hại
do ô nhiễm dầu 1971 Basel Công ước về kiểm soát việc vận chuyển qua biên giới chất thải nguy
hại và việc tiêu hủy chúng 1989 MARPOL 73/78 Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm từ tàu
London Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm biển do chất thải và những vật liệu
khác 1972 Công ước can thiệp Công ước về can thiệp ngoài biển cả trong các trường hợp sự cố ô
nhiễm dầu năm 1969 và Nghị định thư liên quan đến việc can thiệp ngoài biển cả trong các trường hợp ô nhiễm do các chất khác không phải dầu năm 1973
CLC Công ước về cứu hộ năm 1989; Công ước về trách nhiệm dân sự đối
với các tổn thất ô nhiễm biển do dầu năm 1969 FUND Công ước quốc tế về thiết lập quỹ quốc tế đền bù các tổn thất ô
nhiễm biển do dầu năm 1971 HNS Công ước về trách nhiệm và bồi thường thiệt hại gắn liền với việc
vận chuyển bằng đường biển các chất nguy hiểm và độc hại 1996
FC Công ước quốc tế về thiết lập Quỹ quốc tế bồi thường thiệt hại ô
nhiễm dầu 1992 AFS Công ước quốc tế về các hệ thống chống hà của tàu năm 2001 BWM Công ước quốc tế về kiểm soát và quản lý nước dằn và cặn nước
dằn tàu năm 2004
SR Công ước quốc tế Hồng Kông về tái sinh tàu an toàn, thân thiện môi
trường năm 2009
Trang 6Canada’s Ocean Act Luật biển Canada
Trung Quốc Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa
ICJ Toà án Công lý Quốc tế - International Court of Justice
OECD Ủy ban Môi trường của Tổ chức Phát triển và hợp tác kinh tế UNEP chương trình môi trường Liên Hợp Quốc
UNFCC Công ước khung về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc 1992 UNCED Hội nghị về môi trường và phát triển của Liên hợp quốc
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
1.1 Tổng quan nghiên cứu và tính cấp thiết của đề tài
Trong quan hệ quốc tế hiện nay, cùng với sự phát triển không nhừng của nền kinh tế, khoa học, kỹ thuật hiện đại … Các quốc gia ngày càng đầy mạnh hơn vấn đề pháp triển kinh tế của mình Đi đôi với vấn đề phát triển kinh tế thì vấn đề môi trường
- phát triển bền vững cũng là một vấn đề quan trọng và cần nhận được sự quan tâm thực sự
Một thực tế của thế giới hiện nay, đó là vấn đề ô nhiễm môi trường, sự xuống cấp trầm trọng môi trường biển nói riêng và môi trường nói chung Những cảnh báo về biến đổi khí hậu, cạn kiệt nguồn tài nguyên… ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống dân sinh Trước những báo động đó thì hơn bao giờ hết vấn đề bảo vệ môi trường mà cụ thể là môi trường biển là vấn đề quan trọng và cấp thiết
Việt Nam của chúng ta là một đất nước có khoảng 3260 km bờ biển, với một vị trí địa lý thuận lợi nên Việt Nam được coi là quốc gia có tiềm năng lớn để phát triển kinh tế biển như hàng hải, du lịch, dịch vụ, công nghiệp đóng tàu, khai thác hải sản,
dầu khí… Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ra "Nghị
quyết về Chiến lược biển đến năm 2020" là "Phấn đấu đưa kinh tế biển đóng góp khoảng 53% - 55% GDP và 55% - 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước"[26]
Những tiêu chí trên thể hiện rõ tầm quan trọng của biển Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Thế nhưng dưới sức ép của phát triển kinh tế, của sự gia tăng dân số… nên biển đang bị suy thoái và ô nhiễm nghiêm trọng từ những hoạt động ngày càng gia tăng của con người Mỗi ngày biển của chúng ta đang nhận hàng nghìn tấn rác từ các hoạt động khai thác, nuôi trồng thủy sản, du lịch, công nghiệp, nước thải sinh hoạt…đổ trực tiếp ra biển không qua xử lý, sự cố tràn dầu…đang khiến môi trường nước biển bị ô nhiễm nặng, khiến cho các nguồn thủy sản đang cạn kiệt dần, nhiều loài hải sản đã được đưa vào sách đỏ, các hệ san hô, hệ động thực vật biển và nguồn lợi hải sản, dầu khí đang có xu hướng giảm dần về trữ lượng, sản lượng, thiếu nước ngọt, xói lở, sa bồi bờ biển với mức độ ngày càng trầm trọng, nhiều bãi biển đẹp đang mất dần Môi trường biển Việt Nam đang ô nhiễm trầm
Trang 8trọng! Đến một lúc nào đó khi biển quá tải vì ô nhiễm môi trường nó sẽ quay lại hủy hoại chính chúng ta
Với tốc độ tăng trưởng không ngừng và nhu cầu ngày càng lớn của con người phải chăng hơn bao giờ hết đây là lúc chúng ta cần nhìn nhận lại, cần tự đặt những câu hỏi: Làm thế nào để phát triển bền vững? Tài nguyên biển có phải là vô tận? Thực trạng sử dụng biển hiện nay đã đúng và hợp lý chưa? Làm thế nào để bảo vệ biển và vẫn giữ vững phát triển kinh tế? Việt Nam học được gì từ những sự cố môi trường, công tác quản lý và bảo vệ biển của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới? … Đứng trước thực trạng cấp bách trên thì các bài học về công tác quản lý và bảo vệ biển cũng như việc khắc phục và xử lý, các sự cố môi trường biển của các nước trên thế giới đề nhìn nhận và tìm bước đi đúng đắn cho môi trường biển Việt Nam sẽ là một chiến lược cần thiêt, một bước đi quan trọng để giải quyết các vấn đề cấp thiết về môi trường biển hiện nay
Trong khuôn khổ luận văn của mình tôi mong muốn có thể nghiên cứu và tìm được một giải pháp thiết thực để góp phần cải tạo và bảo vệ biển của Việt Nam, cũng như có cái nhìn toàn cảnh hơn về vấn đề bảo vệ môi trường biển của các quốc gia trên thế giới Chính vì lý do đó nên tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Pháp Luật Quốc Tế và Pháp Luật Một Số Nước Điển Hình Về Bảo Vệ Môi Trường Biển - Liên Hệ Thực Tiễn Việt Nam”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
1.2.1 Mục tiêu tổng quan
Tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề bảo vệ môi trường biển của một số các quốc
gia điển hình trên thế giới
Phân tích các bài học rút ra từ sự cố ô nhiễm môi trường biển để có được đánh giá, nhận xét chính xác nhất về tầm quan trọng của vấn đề môi trường biển với đời
sống và sản xuất của con người
Đặt vấn đề môi trường biển cũng vấn đề phát triển bền vứng và quyền được sống trong môi trường trong lành của con người để tìm hướng đi đúng đắn cho công tác quản lý, bảo vệ môi trường biển Để việc phát triển kinh tế biển vấn được bảo đảm
mà vấn đề đời sống dân sinh cũng được duy trì
Trang 9 Nhìn nhận công tác bảo vệ môi trường biển dưới góc độ chính sách, quy định pháp luật liên quan để thấy được những việc đã làm được, những việc còn thiếu sót
Từ đó có định hướng hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật liên quan tới bảo vệ
môi trường, góp phần tích cực cho công tác bảo vệ và phát triển biển
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Tìm hiểu và làm sáng tỏ các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường biển, tình hình tham gia và thực hiện các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển mà Việt Nam là thành viên
Tìm ra những điểm bất cập và hạn chế trong quy định của pháp luật trong nước cũng như các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển
Làm nổi bật các nguyên nhân dẫn đến tình trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường và việc thực thi kém hiệu quả các điều ước quốc tế, đặc biệt là các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển
Đưa ra được những giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia; định hướng cho vấn đề kí kết, đàm phán, gia nhập, thực thi các điều ước quốc tế
mà Việt Nam đã, đang và sẽ tham gia
So sánh công tác quản lý của Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới về vấn đề bảo vệ môi trường biển Từ đó, có thêm kinh nghiệm, bài học cho công tác này
1.3 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Vấn đề ô nhiễm môi trường biển không còn phải quá mới mẻ với Việt Nam hay các nước trên thế giới Và các công trình nghiên cứu, các bài viết, luận văn từ trình độ
cử nhân, thạc sỹ … đều có những công trình nghiên cứu đề tài này Song để có thể nhìn nhận vấn đề bảo vệ môi trường biển trong mối liên hệ giữa vấn đề bảo vệ với phát triển bền vững, bảo đảm đời sống, quyền được sống trong môi trường trong lành của con người thì không có nhiều bài viết
Việc nhìn nhận vấn đề bảo vệ môi trường biển từ dưới góc độ chính sách, thông qua các bài học cụ thể và phân tích đánh giá để có các chính sách hợp lý tổng quan cho việc áp dụng vào thực tiễn tại Việt Nam sẽ đòi hỏi một cái nhìn sâu hơn, đòi hỏi một nghiên cứu mang tính ứng dụng nhiều hơn là học thuật
Trang 10Đặt vấn đề môi trường và coi đây như một quyền cơ bản của con ngươi để bao vệ
và phát triển đời sống dân sinh Có thể coi là một cách nhìn mới, cách nghiên cứu mới
để đề tài dù đã có nhiều bài viết song vấn bảo đảm được tính mới của việc nghiên cứu khoa học
Tôi hy vọng những đóng góp và nghiên cứu từ đề tài “Pháp Luật Quốc Tế và Pháp Luật Một Số Nước Điển Hình Về Bảo Vệ Môi Trường Biển – Liên Hệ Thực Tiễn Việt Nam”sẽ có nhiều đóng góp trong công tác bảo vệ và quản lý môi trường biển của Việt Nam hiện nay
1.4 Đối tượng nghiên cứu đề tài
Trong khuôn khổ luận văn các vấn đề được đề cập và tập trung nghiên cưu, phân tích là các quy định, chính sách pháp luật của quốc tế và một số nước điển hình (Canada, Trung Quốc, Thái Lan, Philipppines); Cũng như quy định pháp luật của Việt Nam về công tác bảo vệ môi trường biển
Tìm hiểu và đi vào từng bài học cụ thể từ các sự cố môi trường biển điển hình trên thế giới Để có được những kinh nghiệm đúc kết cho công tác bảo vệ môi trường biển tại Việt Nam
Đặt vấn đề bảo về môi trường biển là vấn đề gắn liền với quyền được sống trong môi trường trong lành của con người; Đưa ra việc pháp triển kinh tế biển đi đối với mục tiêu pháp triển bền vững của kinh tế biển
Nghiên cứu các quy định trong các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển mà Việt Nam đang xem xét để tham gia để từ đó đưa ra các định hướng và đề xuất cụ thể
Nghiên cứu thực tiễn thực thi pháp luật và các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển tại Việt Nam, đưa ra kết luận và tìm ra giải pháp thực thi có hiệu quả
2 Nội dung địa điểm và phương pháp nghiên cứu
2.1 Nội dung nghiên cứu
Đề tài chủ yếu đi vào nghiên cứu các nội dung cụ thể:
Nghiên cứu các quy định pháp luật thể hiện dưới dạng các điều ước quốc tế về vấn đề bảo vệ môi trường biển
Trang 11 Tập trung và quy định và thực tiến thực thi các chính sách bảo vệ môi trường biển tại một số nước điển hình trên thế giới và trong khu vực Thông qua đó để đánh giá được mặt mạnh, mặt yếu của công tác bảo vệ môi trường biển
Tìm hiểu và tập hợp, nghiên cứu một số vụ việc ô nhiễm môi trường biển điển hình trên thế giới, qua đó tìm ra nguyên nhân và những ảnh hưởng to lớn khi sự cố môi trường liên quan tới biển xẩy ra, cách khắc phục, đánh giá hậu quả, bải học kinh nghiệm
Liên hệ thực tế công tác quản lý, bảo vệ môi trường biển tại Việt Nam trong những năm gần đây Chúng ta đã học được gì từ bài học của các nước trên thế giới, thực chất công tác bảo vệ môi trường biển hiện nay của Việt Nam là như thế nào, đánh giá mức độ hiệu quả
Phân tích, tổng hợp về các chính sách trong công tác bảo vệ môi trường biển, định hướng hoàn thiện khung hệ thống pháp luật liên quan tới vấn đề bảo vệ môi trường biển
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng cách tiếp cận truyền thống để nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật lịch sử; chủ nghĩa duy vật biện chứng, phép biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê số liệu
2.3 Địa điểm nghiên cứu
Luận văn được thực hiện phần lớn dựa vào các nguồn tài liệu được cung cấp
từ các báo cáo, thống kê của các cơ quan liên quan; từ các bài viết bình luận trên các táp trí (trong và ngoài nước); từ một số giáo trình nghiên cứu chuyên sâu của khoa luật trường Đại học Quốc Gia Hà Nội
Trong khả năng và khuổn khổ luận văn, tôi đã cố gắng tổng hợp, phân tích để tìm ra những quy định về pháp luật, chính sách liên quan tới vấn đề môi trường; Tìm hiểu đi vào nghiên cứu dựa trên số liệu từ các báo cáo, các thông tin qua báo, qua internet … để có cái nhìn tổng quan, có phân tích của chính mình về tình hình bảo vệ biển tại Việt Nam và một số nước trên thế giới
Trang 12 Luận văn được thực hiện với phần lớn thời gian tại phòng làm việc cá nhân và tại Trung tâm thư viện của Đại học Quốc Gia Hà Nội
3 Kết cấu đề tài
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo nội dung của luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Tổng quan pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường biển
Chương 2: Pháp luật một số quốc gia điển hình về bảo vệ môi trường biển và
một số vụ việc
Chương 3: Pháp luật bảo vệ môi trường biển tại Việt Nam và giải pháp hoàn thiện
Trang 13Chương 1: Tổng Quan Pháp Luật Quốc Tế Về Bảo Vệ Môi Trường Biển
1.1 Môi trường biển và một số khái niệm
1.1.1 Môi trường biển và nguồn gây ô nhiễm môi trường biển
Môi trường biển được hiểu trên nhiều phương diện khác nhau, nếu xét về phương diện phạm vi địa lý, môi trường biển là toàn bộ vùng nước biển của trái đất với tất cả những gì có trong đó Theo Điều 1, khoản 4 Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, môi trường biển được hiểu bao gồm các tài nguyên sinh vật, các hệ sinh thái biển và chất lượng nước biển, cảnh quan biển Tại chương 17 trong Chương trình
hành động 21 định nghĩa: "Môi trường biển là vùng bao gồm các đại dương và các
biển và các vùng ven biển tạo thành một tổng thể, một thành phần cơ bản của hệ thống duy trì cuộc sống toàn cầu và là tài sản hữu ích tạo cơ hội cho sự phát triển bền vững"
Pháp luật Việt Nam không có một định nghĩa riêng về từng thành phần của môi
trường mà Luật bảo vệ môi trường năm 2014 chỉ đưa ra định nghĩa: "Môi trường bao
gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật"
Môi trường biển được hiểu là những phần gắn liền với biển, chịu tác động trực tiếp từ đời sống sinh hoạt Biển là nguồn tài nguyên thiên nhiên to lớn của tạo hóa dành cho con người song đồng thời cũng là một báu vật mà con người cần quan tâm và bảo vệ Trước sức ép của sự phát triển kinh tế, tốc độ đô thị hóa và tác động ngày càng lớn của con người vào tự nhiên thì vấn nạn ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm môi trường biển nói riêng đã và đang là một vấn đề nhức nhối của xã hội hiện đại ngày này Những tác động từ đâu để môi trường biển bị ô nhiễm?
Theo Công ước Luật biển 1982, môi trường biển bị ô nhiễm do 6 nguồn chính sau:
- Ô nhiễm bắt nguồn từ đất liền kể cả các ô nhiễm xuất phát từ các dòng sông, ngòi, cửa sông, ống dẫn và các thiết bị thải đổ công nghiệp
- Ô nhiễm do các hoạt động liên quan đến đáy biển thuộc quyền tài phán quốc gia ven biển, hay xuất phát từ các đảo nhân tạo, các công trình thiết bị thuộc quyền tài phán của họ
- Ô nhiễm do các hoạt động trong vùng (tức vùng đáy biển di sản chung của loài người) lan truyền tới
Trang 14- Ô nhiễm do sự nhấn chìm và trút bỏ chất thải
- Ô nhiễm do hoạt động của các loại tàu thuyền và tai nạn tàu thuyền trên biển
- Ô nhiễm có nguồn gốc từ bầu khí quyển hay qua bầu khí quyển
Các nguồn gây ô nhiễm môi trường biển luôn gắn liền với các lĩnh vực hoạt động của con người Việc xác định nguồn gây ô nhiễm môi trường biển là cần thiết trong quá trình đấu tranh và bảo vệ môi trường biển Tuy nhiên, mỗi nguồn gây ô nhiễm môi trường biển nêu trên lại có mức độ ảnh hưởng khác nhau đến môi trường biển Đánh giá, phân loại nguồn gây ô nhiễm môi trường biển sẽ giúp bảo vệ môi trường biển hiệu
quả hơn, tốt hơn
1.1.2 Một số khái niệm
Đặt ra vấn đề về bảo vệ môi trường biển dưới góc độ quy định của pháp luật, của những chế tài có tính dăn đe cao Thì việc cần hiểu rõ và cụ thể về một số khái niệm được nhắc tới trong vấn đề môi trường nói chung và vấn đề môi trường biển nói riêng
là một việc cần thiết Chỉ khi hiểu một cách chính xác, cụ thể và đưa thành một khái niệm thì nhừng vẫn đề môi trường tưởng như mơ hồ mới có thể đi sâu vào từng hành
vi của mỗi con người; Chỉ khi đó con người có được nhận thức đúng đắn về việc làm của mình có tác động và ảnh hướng thế nào tới môi trường
Bảo vệ môi trường biển là một phạm trù rộng có chứa đựng nhiều khái niệm cơ bản với những đặc thù riêng; Theo đó cách tiếp cận khái niệm dưới những góc độ khác nhau cũng làm cho người nghiên cứu có cách hiểu khác nhau Trong luận văn của tôi, với góc nhìn nghiên cứu của một người học và tìm hiểu về luật, tôi xin được đề cập tới vấn đề bảo vệ môi trường biển, dưới góc độ pháp lý Với những khái niện cơ bản, để
từ đó có thể tiếp cận vấn đề và hiểu rõ hơn về môi trường biển từ góc độ pháp lý Với những khái niện cơ bản như:
Ô nhiễm môi trường biển là sự biến đổi trạng thái lý - hóa - sinh học của môi
trường biển khi thải vào môi trường biển những chất độc hại, vi phạm tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu tới con người và sinh vật Theo tác giả, nên định nghĩa: Ô nhiễm môi trường biển việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển, bao gồm từ các cửa sông, đất liền, trên không trung, đáy biển hoặc do những biến đổi bất thường của tự nhiên, từ đó gây ra hoặc có thể gây
ra những tác hại như gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt
Trang 15động ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương tiện sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị mỹ cảm của biển
Bảo vệ môi trường biển khỏi ô nhiễm đang trở thành một nhiệm vụ bức thiết Dựa trên quan điểm bảo vệ và phát triển bền vững môi trường, bảo vệ môi trường biển
là ngăn chặn những ảnh hưởng tiêu cực của các hoạt động của con người và của tự nhiên đến môi trường biển, làm ô nhiễm và suy thoái môi trường biển
Nói tới vấn đề môi trường biển và những hành động bảo vệ môi trường biển thì
khái niệm về "Phát triển bền vững" là một lĩnh vực luôn song hành và có tính kết nối
với việc bảo vệ môi trường biển:
Xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm “Chiến lược bảo tồn Thế
giới” (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế
IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú
trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và
sự tác động đến môi trường sinh thái học"
Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland
(còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế
giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững
là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng,
tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai " Nói cách
khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường
Có thể hiểu bảo vệ môi trường biển là bảo vệ môi trường sống trong hiện tại và cả tương lai của hệ sinh thái đa dạng của biển Nhìn rộng hơn thì bào vệ môi trương biển
là bảo vệ tất cả những gì thuộc về biển “Môi trường biển bao gồm tất cả mọi thứ mà
có thể có ảnh hưởng trực tiếp đến sự trao đổi chất hay các hành vi của con người và các sinh vật sống trong biển, bao gồm ánh sáng, không khí trên biển, nước biển, đất tại
đáy biển (trầm tích biển) và các cơ thể sống trong biển.”
Trang 16Tiếp cận dưới góc độ pháp luật Việt Nam, thì một lần nữa những khái niệm về vấn đề bảo vệ môi trường mà cụ thể là vấn đề bảo vệ môi trường biển đã được luật hóa vào trong Điều 3 luật bảo vệ môi trường Việt Nam 2014 có đưa ra 13 khái niệm cơ bản
về môi trường, trong đó có những khái niệm sau liên quan tới đề tài luận văn đang nghiên cứu:
1 Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động
đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật
2 Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước,
không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác
3 Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các
tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành
4 Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không
làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường
5 Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù
hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật
6 Chất gây ô nhiễm là các chất hóa học, các yếu tố vật lý và sinh học khi xuất
hiện trong môi trường cao hơn ngưỡng cho phép làm cho môi trường bị ô nhiễm
Môi trường trong lành
Với khái niệm môi trường như trên thì ta có thể hiểu một cách khái quát về môi trường trong lành Đó là một môi trường không bị ô nhiễm, đảm bảo cuộc sống được hài hòa với tự nhiên Ở đây, cần hiểu rằng môi trường không bị ô nhiễm là môi trường
mà con người có thể tồn tại và phát triển chứ không phải là một môi trường trong sạch
lý tưởng Hay nói cách khác thì đó là môi trường đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường theo quy định của pháp luât.Tại khoản 6 điều 3 Luật bảo vệ môi trường thì: tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có
Trang 17thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường”, và theo quy định tại Điều 119 Luật bảo vệ môi trường 2014 thì hệ thống tiêu chuẩn môi trường quốc gia bao gồm: tiêu chuẩn về chất lượng môi trường xung quanh và tiêu chuẩn về chất thải, trong đó: tiêu chuẩn về chất lượng môi trường xung quanh quy định giá trị giới hạn cho phép của các thông số môi trường phù hợp với mục đích sử dụng thành phần môi trường, còn tiêu chuẩn về chất thải quy định cụ thể giá trị tối đa các thông số ô nhiễm của chất thải bảo đảm không gây hại cho con người và sinh vật Như vậy, môi trường trong lành theo nguyên tắc đảm bảo quyền con người được sống trong môi trường trong lành được hiểu là môi trường không bị ô nhiểm, đáp ứng các tiêu chuân vè môi trường theo quy định của pháp luật
Vấn đề ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm môi trường biển nói riêng đã được nhắc tới trên nhiều kênh thông tin đại chùng, được đi vào nhiều hoạt động cộng đồng nhằm góp phần trang bị kiến thức và thái độ tích cực của con người với môi trường Trong khuôn khổ bài làm của bản thân với cái nhìn về vấn đề môi trường từ góc độ pháp luật, ta có thể thấy vấn đề môi trường đã được đúc kết và thu gọn trong những định nghĩa, chế định cụ thể mà tôi đã đề cập trên đây; Để từ đó bản thân mỗi con người sẽ có được hiểu biết cụ thể nhất về hành vi của mình với chính môi trường
mà mình đáng sống
1.2 Pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường biển
1.2.1 Các nguyên tắc của pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường biển
Nhận thức dõ về vấn đề môi trường biển đang ngày càng nguy cấp, vấn đề bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường biển nói riêng không chỉ đơn thuần là việc làm của một quốc gia; Đó là trách nhiệm của cả nhân loại với chính cuộc sống của mình
và con cháu trong tương lai Trách nhiệm về môi trường cần sự chung tay của cả cộng đồng, bởi tác hại từ vấn nạn môi trường là tác hại vượt ra khỏi biên giới của một quốc gia Nó có tầm ảnh hưởng lớn, sự suy thoái của môi trường luôn đòi hỏi thời gian và công sức tôn tạo lâu dài, tốn kém Chính vì lẽ đó, mà việc bảo vệ, tôn tạo để ngăn ngừa, hạn chế ô nhiễm môi trường nói chung và môi trường biển nói riêng, sẽ luôn là chủ đề nóng của công đồng quốc tế Chính vì lẽ đó mà vấn đề môi trường biển và môi trường sống đã được cộng đồng quốc tế thể chế hóa trong những văn kiện có tính pháp quy, có
Trang 18những thỏa thuận, Điều ước quốc tế, những nguyên tắc về vấn đề này đã lần lượt được
ra đời
Trước thực trạng đó Luật môi trường quốc tế ra đời với tư cách một trong những ngành luật mới của Công pháp quốc tế So với pháp luật trong nước, Luật môi trường quốc tế ra đời muộn hơn Và những tác động của luật môi trường quốc tế với vấn đề bảo
vệ môi trường biển là rất rõ ràng và to lớn Ảnh hưởng của luật môi trường quốc tế với vấn đề bảo vệ môi trường biển, được thể hiện bằng những nguyên tắc chung của luật được các quốc gia văn minh thừa nhận
Trước hết có thể kể đến là hội nghị về môi trường và phát triển của Liên hợp quốc (UNCED) đã họp năm 1992 tại Rio de Janeiro, Brazil Tại đây, các đại biểu tham gia đã thống nhất những nguyên tắc cơ bản và phát động một chương trình hành động
vì sự phát triển bền vững có tên “Chương trình nghị sự 21” và đưa ra 27 nguyên tắc chung, xác định những quyền và trách nhiệm của các quốc gia nhằm làm cho thế giới
phát triển bền vững, trong đó nguyên tắc 16 quy định: “Các nhà chức trách quốc gia
riêng cố gắng đẩy mạnh sự quốc tế hoá những chi phí môi trường và sự sử dụng các biện pháp kinh tế, căn cứ vào quan điểm cho rằng về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải chịu phí tổn ô nhiễm, với sự quan tâm đúng mức đối với quyền lợi chung và không ảnh hưởng xấu đến nền thương mại và đầu tư quốc tế” Nguyên tắc này hiện
nay đã được hầu hết các quốc gia thừa nhận
Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền được ghi nhận trong văn kiện của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) được coi là nguồn của pháp luật quốc tế và
đã được các nước thành viên áp dụng
Ngoài các nguyên tắc bắt buộc chung của Luật Quốc tế (jus cogeus) pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường còn được bao trùm bởi một số nguyên tắc đặc thù của luật môi trường quốc tế
Nguyên tắc, các quốc gia có trách nhiệm hợp tác với nhau
Vấn đề hợp tác giữa các quốc gia là vấn đề của riêng luật quốc tế hiện đại Bản thân tên nguyên tăc cũng thê hiện đây đủ nội dung của nó là các quốc gia có nghĩa vụ phải hợp tác với nhau Đây cũng là một trong những mục đích mà Liên hợp quốc hướng tới là thực hiện hợp tác quốc tế, để giải quyết các vấn đề quốc tế trong lĩnh vực
Trang 19kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, muốn đạt hiệu quả cao thì phụ thuộc rất nhiềul vào sự hợp tác của các quốc gia
Nguyên tắc tôn trọng các quyền cơ bản của con người
Về mặt lý luận cũng như trên thực tế, tôn trọng các quyền cơ bản của con người
là tôn trọng các quyền không thể thiếu để cá nhân, con người có thể tồn tại và phát triển bình thường với tư cách là một thành viên cộng đồng xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định Những quyền đó gồm: quyền sống trong môi trường trong lành; quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được tôn trọng danh dự và phẩm giá, tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng v.v Tất cả các quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng, bảo đảm các quyền cơ bản của con người trên tất cả các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế - xã hội
và văn hoá, hợp tác với các quốc gia khác trong việc bảo vệ và phát triển quyền con người, thực hiện các cam kết quốc tế về bảo vệ quyền con người
Quyền được sống trong môi trường trong lành của con người
Tuyên bố của Liên hợp quốc về môi trường đã đưa ra quyền của con người được sống trong một môi trường trong lành thành một nguyên tắc của quan hệ giữa các quốc gia và luôn ở vị trí đầu tiên trong các nguyên tắc Nguyên tắc 1 Tuyên bố của Hội nghị Liên hợp quốc về môi trường con người (Tuyên bố Stockholm – năm 1972) nêu rõ:
“Con người có quyền cơ bản được tự do, bình đẳng và đầy đủ các điều kiện sống, trong
một môi trường chất lượng cho phép cuộc sống có phẩm giá và phúc lợi mà con người
có trách nhiệm long trọng bảo vệ và cải thiện cho các thế hệ hôm nay và mai sau.”
Nguyên tắc 1 Tuyên bố của Hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường và phát triển
(Tuyên bố Rio de Janeiro – 1992) cũng khẳng định: “Con người là trung tâm của
những mối quan tâm về sự phát triển lâu dài Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích, lành mạnh và hài hòa với thiên nhiên.”
Dưới góc độ pháp lý thì chất lượng môi trường xung quanh đạt tiêu chuẩn cho phép Quyền được sống trong một môi trường trong lành là quyền tự nhiên của con người, là quyền rất quan trọng vì nó liên quan trực tiếp đến chất lượng cuộc sống Quyền của con người được sống trong một môi trường trong lành được hiểu là quyền được sống trong một môi trường với chất lượng cho phép, cuộc sống được đảm
Trang 20bảo về mặt vệ sinh môi trường, được hài hóa với tự nhiên Hay nói cách khác, là quyền được sống trong một vùng không bị ô nhiễm, không bị suy thoái môi trường
Quyền con người đối với môi trường là một trong những quyền thuộc nhóm quyền thứ ba (quyền được hưởng hòa bình, quyền phát triển và quyền được sống trong môi trường trong lành) được ghi nhận vào những năm 80 Điều này đã được phản ánh trong Báo cáo phát triển con người năm 2000, một tuyên bố mang tính bước ngoặt về Quyền con người khi được gắn với phát triển con người “Xóa nghèo là một thách thức chính của Quyền con người thế kỷ XXI Một mức sống phù hợp, chăm sóc, giáo dục
tử tế, việc làm và bảo vệ chống lại thiên tai không chỉ là mục tiêu phát triển, mà là Quyền con người” Nhóm quyền thứ ba này là sự thể hiện tốt nhất tính thống nhất của các quyền, vì chúng đòi hỏi phải có hợp tác quốc tế và xây dựng cộng đồng Sự cần thiết phải xây dựng Tuyên ngôn về Quyền con người đối với môi trường đã được nhận thức và hưởng ứng tại nhiều nước trên thế giới
Các nguyên tắc bảo vệ môi trường được quy định tại Điều 4 Luật bảo vệ môi trường năm 2014, trong đó nguyên tắc bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân được đặt lên hàng đầu, qua đó nhấn mạnh hoạt động bảo vệ môi trường cần sự chung tay, góp sức của toàn xã hội và mỗi
cá nhân phải có ý thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường sống của mình Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng thành phần môi trường, được hưởng lợi từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho bảo vệ môi trường Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây
ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường phải khắc phục, bồi thường thiệt hại và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật
Bên cạnh những nguyên tắc chung của pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường, thì pháp luật quốc tế cũng ghi nhận những nguyên tắc đặc thù trong việc bảo vệ môi trường biển như
Công ước quốc tế về luật biển (UNCLOS 1982) được thông qua ngày 30/4/1982,
là công ước tiêu biểu trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Các điều khoản của UNCLOS
1982 về bảo vệ và gìn giữ môi trường biển nhìn chung được áp dụng với các quốc gia, bằng việc quy định những nghĩa vụ và trách nhiệm cũng như quyền hạn mà quốc gia thực hiện đối vói những khu vực trong hoặc ngoài quyền tài phán của mình nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển từ các nguồn: (i) đất liền; (ii)
Trang 21khí quyển; (iii) do hoạt động nhận chìm; (iv) tàu biển; (v) các công trình hoặc phương tiện khai thác hoặc thăm dò tài nguyên đáy biển và lòng đất dưới đáy; (vi) các công trình hoặc phương tiện khác hoạt động ừong môi trường biển
Công ước quốc tế về sẵn sàng hợp tác và ứng phó đối với ô nhiễm dầu năm 1990 (OPRC 1990) được thông qua bởi Tổ chức hàng hải quôc tê vào tháng 11/1990 và có hiệu lực vào tháng 5/1995
Liên quan đến bảo vệ môi trường biển, trong thời gian từ năm 1969 đến 2003 các quốc gia trên thế giới còn soạn thảo nhiều văn bản liên quan đến ô nhiễm môi trường nói chung, ô nhiễm môi trượng biển nói riêng, trong số đó có thể kể đến như: Nghị định thư Montreal về các chất phá hủy tầng ô - zôn 1987; Công ước quốc tế về an toàn sinh mạng con người trên biển 1974 và Nghị định thư bổ sung 1978 (SOLAS 74/78); Công ước ngăn ngừa ô nhiễm biển từ đất liền 1974 (Công ước Paris) cho vùng đông bắc Đại Tây Dương; công ước Ramsar về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế năm 1971; Công ước Viên 1985 về bảo vệ tẫng ô - zôn; Công ước quốc tế về buôn bán các loài động, thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng năm 1973; Công ước quốc tế về khoảng không vũ trụ; Công ước quốc tế về trách nhiệm và bồi thường thiệt hại liên quan đến vận chuyển chất độc hại và nguy hiểm bằng đường biển 1996 (HNS 1996); Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với các tổn thất do ô nhiễm dầu 1969 (CLC 1969); Công ước quốc tế về thành lập quỹ quốc tế để bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu (Công ước quỹ 1971); Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu 1992 (CLC 1992); Công ước quỹ 1992 (Quỹ 1992) là công ước bổ sung cho CLC 1992 nhằm thiết lập cơ chế đền bù thiệt hại cho nạn nhân khi việc đền bù theo CLC 1992 chưa thoả đáng; Công ước quốc tế về trách nhiệm dân
sự đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu nhiên liệu (Bunker 2001) Không phải một sự trung hợp ngẫu nhiên mà trong khoảng thời gian này lại có nhiều văn bản về vấn đề bảo vệ môi trường biển được thông qua tới vậy Bơi đây cũng là thời kỳ mà thế giới chúng ta phải gánh chịu một thực tế đó là hậu quả từ việc ô nhiềm môi trường biển Chính hành
vi coi tài nguyên biển là vô tận, việc khai thác bừa bãi cùng chính sách lỏng lẻo trong vấn đề bảo vệ môi trường biển đã khiến đại dương dần trở thành một bãi rác khổng lồ Bãi rác ấy sẽ được trả lại cho chính con người, những người đang dần hủy hoại biển Với những sai lầm do con người gây ra, thì chính con người lại phải ngồi lại với nhau
Trang 22để giải quyết Và hành động rõ ràng cho lỗ lực ấy là những thỏa thuận về vấn đề môi trường biển đã được thông qua, để trở thành một nguồn quan trọng của luật bảo vệ môi trường quốc tế
Trức thực trạng về vấn đề bảo vệ môi trường biển, bảo vệ môi trường sống của con người Nhận thức dõ thách thức và cơ hội đặt ra cho nước ta – một quốc gia đang pháp triển và hòa nhập Thì dưới góc độ pháp luật của Việt Nam, chúng ta có những hành động trong đường lối chính sách, góp phần tạo hành lang pháp lý; Như việc ban hành những văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường mà đáng chú ý hơn cả là Luật bảo
vệ môi trường năm 2014 chúng ta có đề cấp tới những nguyên tắc cần được bảo đảm thực hiện và duy trì khi xây dựng, triển khai các kế hoạch, chính sách bảo vệ môi trường, như:
- Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với sự phát triển kinh tế, an sinh xã hội, bảo đảm quyền trẻ em, thúc đẩy giới và phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu để bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành
- Bảo vệ môi trường phải dựa trên cơ sở sử dụng hợp lý tài nguyên, giảm thiểu chất thải
- Bảo vệ môi trường quốc gia gắn liền với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu; bảo vệ môi trường bảo đảm không phương hại chủ quyền, an ninh quốc gia
- Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch
sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
- Hoạt động bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên và ưu tiên phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường
Đặt vấn đề bảo vệ môi trường với trọng tâm là bảo vệ môi trường biển như tinh thần của đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên- môi trường biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 phê duyệt bởi Quyết định số 47/2006/QĐ-TTg ngày 1/3/2006; Nghị định 101/2007/NĐ-CP ngày 13/6/2007 về việc thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu tài nguyên, môi trường biển; Góp phần bảo vệ tài nguyên biển của Việt Nam Thì chúng ta có thể thấy tầm ảnh hưởng to lớn của công tác bảo
vệ môi trường biển với tốc độ phát triển kinh tế quốc gia Những nguyên tắc chung trong bảo vệ môi trường của quốc tế, cung như những nguyên tắc mà pháp luật Việt
Trang 23Nam đã đưa ra về vấn đề bảo vệ môi trường, với trong tâm là bảo vệ môi trường biển
đã và đang là công cụ hữu hiện trong công tác bảo vệ môi trường biển
1.2.2 Một số công ước quốc tế và bảo vệ môi trường biển
Với việc tiếp cận vấn đề từ góc độ pháp lý thì một trong những nguồn cơ bản không thể không nhắc tới là những công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển trong
đó cần nói tới trước tiên là
Công ước Luật biển 1982 Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 được đánh
giá là một công cụ đặc biệt trong lĩnh vực bảo vệ và bảo tồn môi trường biển Để bảo
vệ và gìn giữ môi trường biển, Công ước Luật biển 1982 yêu cầu:
- Các quốc gia ven biển phải xác định các nguồn ô nhiễm của mình, áp dụng các biện pháp ngăn ngừa, kiểm soát chúng Các quốc gia không được đùn đẩy thiệt hại của các nguy cơ ô nhiễm và không được thay thế một kiểu ô nhiễm này bằng một kiểu ô nhiễm khác
- Các quốc gia ven biển phải có trách nhiệm đưa ra các biện pháp chống lại ô nhiễm môi trường biển nảy sinh từ việc sử dụng các kỹ thuật trong khuôn khổ quyền tài phán hay dưới sự kiểm soát của mình, hoặc do du nhập cố ý hay vô tình các loài ngoại lai hoặc mới vào một bộ phận môi trường biển gây ra ở đó những thay đổi đáng
kể và có hại và nó cũng bao gồm các ảnh hưởng hoặc các biện pháp trong việc bảo vệ
hệ sinh thái hiếm hoi và đe dọa điều kiện cư trú của các loài sinh vật biển khác
- Các quốc gia được yêu cầu xây dựng các kế hoạch khẩn cấp chống ô nhiễm để đối phó với những tai nạn gây ra ô nhiễm biển trong các vùng biển thuộc quyền tài phán của họ Các điều khoản về giám sát và đánh giá môi trường đặt các quốc gia có nghĩa vụ cần cố gắng hết sức mình trong việc giám sát và đánh giá các ảnh hưởng môi trường của các hoạt động biển được tiến hành dưới quyền tài phán của các quốc gia
đó Họ cũng có nghĩa vụ phải hành động phù hợp nhằm giảm bớt hay ngăn ngừa ô nhiễm có thể xảy ra từ các hoạt động như vậy
- Các luật, quy định và các biện pháp của các quốc gia thông qua không được kém hiệu quả hơn các nguyên tắc và quy phạm quốc tế hay các tập quán và thủ tục đã được kiến nghị có tính chất quốc tế Các quốc gia phải quan tâm làm sao cho luật trong nước của mình có những hình thức tố tụng cho phép thu được sự đền bù nhanh chóng và thích
Trang 24đáng, hay sự bồi thường khác đối với những thiệt hại nảy sinh từ ô nhiễm môi trường biển do tự nhiên nhân, hay pháp nhân thuộc quyền tái phán của mình gây ra
- Các quốc gia cũng được yêu cầu bảo đảm cho tàu mang cờ nước họ, hoạt động
ở trong nước cũng như ở ngoài nước, đáp ứng đầy đủ các luật lệ và tiêu chuẩn quốc tế thích hợp Quốc gia mà tàu mang cờ được yêu cầu tiến hành điều tra mọi vi phạm luật
lệ về ô nhiễm biển do tàu đó gây ra Tất cả tàu thuyền được yêu cầu phải có chứng từ chứng minh điều kiện an toàn phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế về thiết kế, đóng, trang bị và thuyền viên và tính hiệu quả của chúng trong ngăn ngừa, giảm bớt và kiểm soát ô nhiễm Các quốc gia cần tiến hành kiểm tra định kỳ tàu thuyền mang cờ nước mình để bảo đảm rằng chúng đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế Các quốc gia khi đặt các điều kiện đặc biệt cho tàu thuyền nước ngoài đi vào các cảng hay nội thủy của mình hoặc công trình cảng cuối cùng ở ngoài khơi, cần phải công bố đúng thủ tục về các điều kiện này và phải thông báo cho các tổ chức quốc tế có thẩm quyền
- Các quốc gia phải có nghĩa vụ thông báo cho các quốc gia khác về nguy cơ bị ô nhiễm lan tràn đến và các tổ chức quốc tế có thẩm quyền, để kịp thời có những biện pháp ngăn chặn và bảo vệ
- Các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với các quốc gia và các tổ chức quốc tế liên quan theo khả năng của mình, để loại trừ ảnh hưởng của ô nhiễm và ngăn ngừa và giảm đến mức tối thiểu những thiệt hại do ô nhiễm gây ra
Công ước Marpol 73/78 về ngăn ngừa ô nhiễm biển do dầu gây ra Công ước này
được thông qua vào ngày 02/11/1973 tại London, được bổ sung bằng Nghị định thư
1978 về cấm và hạn chế thải chất gây ô nhiễm từ việc thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên Vì vậy, Công ước thường được gọi tắt là Công ước Marpol 73/78 Công ước có hiệu lực năm 1983 và hàng năm đều được sửa đổi bổ sung Công ước gồm có 6 phụ lục và 2 Nghị định thư kèm theo Mục tiêu của Công ước là kiểm soát, chế ngự và hạn chế tới mức thấp nhất việc thải các chất có hại xuống biển
Vì vậy, Công ước quy định nghiêm ngặt về ngăn ngừa ô nhiễm biển do dầu, các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm biển do chất lỏng độc hại chở xô gây ra, các quy định
về ngăn ngừa ô nhiễm biển do chất độc hại đóng trong bao gói, ô nhiễm do nước thải, rác thải từ tàu và các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm không khí từ tàu
Trang 25Ngoài ra, Công ước còn có các quy định về các tiêu chuẩn cho tàu vận chuyển các chất độc hại đóng gói; quy định các tiêu chuẩn về đóng tàu để giảm thiểu mức độ tràn dầu và hóa chất xuống biển; quy định về thanh tra, giám sát, chế độ báo cáo sự cố liên quan đến dầu và các chất độc hại khác…
Công ước về sẵn sàng ứng phó và hợp tác chống ô nhiễm dầu năm 1990 (OPRC)
Mục tiêu của Công ước là giảm thiểu hậu quả của các sự cố ô nhiễm dầu lớn và thúc đẩy hợp tác quốc tế và sự trợ giúp lẫn nhau trong việc ứng phó với các sự cố ô nhiễm dầu lớn
Vì vậy, Công ước yêu cầu các quốc gia phải thiết lập hệ thống quốc gia ứng phó ngay lập tức và có hiệu quả các sự cố ô nhiễm dầu, trong đó có sự phân công trách nhiệm cho cơ quan, đơn vị cụ thể để ngăn ngừa, ứng phó với các sự cố Công ước cũng đưa ra các tiêu chuẩn sẵn sàng ứng phó ô nhiễm dầu có tính bắt buộc cho tàu thuyền, các cảng, các thiết bị dẫn dầu và các thiết bị ngoài khơi
Ngoài ra, theo Công ước các quốc gia còn phải thiết lập hệ thống báo cáo các sự
cố ô nhiễm dầu và nguy cơ ô nhiễm dầu và các quốc gia phải có nghĩa vụ trợ giúp, hợp tác quốc tế và khu vực để đấu tranh với các sự cố tràn dầu…
Công ước về kiểm soát việc vận chuyển qua biên giới chất thải nguy hại và việc
tiêu hủy chúng (Basel 1989) Đây là Công ước điều chỉnh mọi hoạt động vận chuyển
chất thải nguy hại giữa các quốc gia, trong đó có vận chuyển qua đường biển Công ước này có hiệu lực vào năm 1992, Việt Nam là thành viên của Công ước Basel vào năm 1995
Mục tiêu của Công ước là giảm thiểu việc sản sinh các chất thải nguy hại thông qua việc kiểm soát nghiêm ngặt việc vận chuyển qua biên giới các chất này và mọi việc nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh, tiêu hủy các chất thải nguy hiểm phải được tiến hành theo một phương thức hợp lý, đúng quy định Theo đó, Công ước quy định các quốc gia phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ quốc tế liên quan đến bảo vệ môi trường, trong đó có môi trường biển và phải chịu trách nhiệm về vấn đề này trước luật pháp quốc tế; các quốc gia phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật và luật pháp để quản lý các chất thải nguy hại trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mình, đề phòng ô nhiễm môi trường và khắc phục nhanh chóng hậu quả nếu xảy ra ô nhiễm để không ảnh hưởng tới sức khỏe con người và môi trường; các quốc gia phải đảm bảo việc đóng gói, dán nhãn
và vận chuyển các chất thải nguy hại và các chất khác phù hợp với các quy tắc và tiêu
Trang 26chuẩn chung Đồng thời, các quốc gia phải có nghĩa vụ hợp tác quốc tế trong việc quản
lý, xuất nhập khẩu và vận chuyển, tiêu hủy các chất thải nguy hại
Ngoài ra, Công ước còn đưa ra các nguyên tắc và phạm vi áp dụng Công ước để đảm bảo việc kiểm soát việc vận chuyển và tiêu hủy các chất thải nguy hại được thực hiện một cách nghiêm ngặt
Các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển[38]
Hiện nay, có khoảng 300 công ước quốc tế về bảo vệ môi trường, trong đó, có các công ước sau về bảo vệ môi trường biển: Công ước năm 1982 của Liên hợp quốc
về luật biển (UNCLOS); Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm từ tàu (MARPOL 73/78); Công ước quốc tế về an toàn sinh mạng con người trên biển 1974 (SOLAS) - Công ước quốc tế sẵn sàng ứng phó và hợp tác đối với việc xử lý ô nhiễm dầu năm
1990 (OPRC); Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm biển do chất thải và những vật liệu khác (London 1972); Công ước về kiểm soát việc vận chuyển qua biên giới chất thải nguy hại và việc tiêu hủy chúng (Basel 1989); Công ước về can thiệp ngoài biển cả trong các trường hợp sự cố ô nhiễm dầu năm 1969 và Nghị định thư liên quan đến việc can thiệp ngoài biển cả trong các trường hợp ô nhiễm do các chất khác không phải dầu năm 1973 (Công ước can thiệp); Công ước về cứu hộ năm 1989; Công ước về trách nhiệm dân sự đối với các tổn thất ô nhiễm biển do dầu năm 1969 (CLC 1969), Công ước quốc tế về thiết lập quỹ quốc tế đền bù các tổn thất ô nhiễm biển do dầu năm 1971 (FUND 1971), các Công ước sửa đổi CLC 1992 và FC 1992; Công ước về trách nhiệm và bồi thường thiệt hại gắn liền với việc vận chuyển bằng đường biển các chất nguy hiểm và độc hại 1996 (HNS); Công ước quốc tế về trách nhiệm hình sự đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu, 1969; Công ước quốc tế liên quan tới can thiệp vào các biểu
vĩ độ cao trong trường hợp thiệt hại do ô nhiễm dầu 1969; Công ước quốc tế về các hệ thống chống hà của tàu năm 2001 (AFS 2001); Công ước quốc tế về kiểm soát và quản
lý nước dằn và cặn nước dằn tàu năm 2004 (BWM 2004) - Công ước quốc tế Hồng Kông về tái sinh tàu an toàn, thân thiện môi trường năm 2009 (SR 2009)…
Trên đây là những công ước quốc tế điển hình về vấn đề bảo vệ môi trường biển là một trong những nguồn cơ bản, quan trọng của pháp luật quốc tế hiện đại Những công ước quốc tế được hiểu là sự thoả thuận giữa các chủ thể, trước hêt và chủ yếu là giữa các quốc gia, trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng nhằm ấn định, thay đổi hoặc
Trang 27chấm dứt các quyền và nghĩa vụ đối với nhau Công ước quốc tế có thể là điều ước quốc tế song phương, có thể là điều ước quốc tế đa phương; có thể là điều ước quốc tế
có tính chất khu vực hoặc toàn cầu, được cổng nhận là nguồn của luật quốc tế hiện đại nếu được ký kết trên cơ sở các nguyển tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại Như vậy,
có hể hiểu điều ước quốc tế phải được quy định dưới dạng văn bản Điều ước quốc tế
có nhiều tên gọi khác nhau như: Công ước, hiệp ước, hiệp định, định ước, nghị định thư, thỏa thuận
Hệ thống pháp luật quốc tế hiện đại đã hình thành các chế định pháp luật quy đinh về bảo vệ môi trường bởi một loạt các điều ước quốc tế song phương và các điều ước quốc tế đa phương Những công ước này góp phần tích cực trong việc hình thành nên một hệ thống khung pháp lý mang tính quy chuẩn và chất lượng trong hoạt động bảo vệ môi trường biển với mỗi quốc gia (là thành viên)
Các tập quán quốc tế
Song trùng cùng những công ước quốc tế, thì pháp luật môi trường hiện đại chùng thừa nhận một nguồn cơ bản đó là; Tập quán quốc tế, những tập quán này được cộng đồng thừa nhận, áp dụng và trở thành thông lệ, được coi là nguồn và đóng góp vào việc hoàn thiện dần hệ thống pháp lý của pháp luật môi trường
Tập quán quốc tế là quy tắc xử sự do một số quốc gia áp dụng trong quan hệ quốc tế, dần dần được các quốc gia khác chấp nhận và áp dụng như một quy phạm pháp luật quốc tế Tuy nhiên, không phải tất cả các tập quán quốc tế đều được công nhận là nguồn của luật quốc tế hiện đại, trong thực tiễn quan hệ quốc tế có những tập quán chỉ áp dụng trong quan hệ giữa hai hay một nhóm quốc gia và có những tập quán được đại bộ phận hay tất cả các quốc gia thừa nhận và áp dụng
Hiện nay, tập quán được coi là một nguồn pháp luật rất quan trọng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Pháp luật Việt Nam hiện nay thừa nhận tập quán quốc tế là nguồn của pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường và cho phép áp dụng tập quán với điểu kiện việc áp dụng tập quán đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam Tập quán quốc tế cũng được coi là một trong những nguồn của luật quốc tế hiện đại Tập quán được quy định tại Điều 38 Quy chế Tòa án quốc tế của Liên hợp quốc như là nguồn cơ bản của luật quốc tế Thực tiễn cho thấy, pháp luật quốc gia muốn được coi là một quy phạm của luật tập quán quốc tế cần có hai yếu tố:
Trang 28- Thứ nhất, xử sự thực sự theo một cách nào đó của các quốc gia (hay còn gọi là thực tiễn quốc gia) được các quốc gia áp dụng rộng rãi trong thực tiễn;
- Thứ hai, các quốc gia đó tin rằng xử sự của mình theo cách như vậy là một nghĩa vụ theo pháp luật quốc tế - người ta gọi là ý kiến pháp lý hay Opinion Juris Trong Tuyên bố Stockholm năm 1972 về các vấn đề môi trường cũng chứa đựng những quy tắc mà sau này trong một số vụ xét xử, tòa án dẫn chiếu như là nguồn của luật quốc tế
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, tập quán có vai trò rất quan trọng, khi mà trong giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến đầu những năm của thế kỷ XX có quá ít các quy định của pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường, thì các tập quán quốc tế đóng vai trò chủ đạo, là nguồn chính để điều chỉnh các mối quan hệ giữa các quốc gia trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Những nguyên tắc về bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường biển nói riêng; Luôn lấy quyền con người làm trọng tâm Bởi thực tế vấn đề bảo vệ môi trường hay cụ thể thể là bảo vệ môi trường biển, cũng xuất phát từ việc bảo đảm cho con người có một môi trường sống trong lành, lành mạnh, bảo đảm việc mỗi người đều
có cơ hội tận hưởng môi trường sống tốt đẹp Xuất phát từ cách nhìn nhận đó, thì: Bảo vệ môi trường biển và quyền được sống trong môi trường trong lành của con người, là hai vấn đề có tính tương hỗ với nhau, quan hệ qua lại và song hành; Sự phát triển của vấn đề này sẽ có ảnh hưởng tới sự pháp triển của vấn đề còn lại Quyền con người và môi trường được xem xét trên bình diện hệ thống luật pháp được ban hành liên quan đến môi trường, cơ chế thực thi luật pháp Dưới góc độ nhân học cũng như
xã hội học, quan hệ đó được xem xét dưới tác động các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hôi, văn hóa, nhằm đảm bảo thực thi pháp luật vì mục tiêu con người được sống trong môi trường tự nhiên an toàn, trong môi trường phát triển bền vững
Từ phương diện lý luận và thực tiễn bảo vệ môi trường và quyền con người, các học giả, các nhà hoạt động thực tiễn trên lĩnh vực môi trường và quyền con người ở nhiều nước trên thế giới đã chỉ ra sự tương tác qua lại giữa môi trường với sức khỏe và quyền con người Có thể khái quát mối quan hệ này, trên ba khía cạnh chính sau: Thứ nhất, môi trường là vấn đề của quyền con người
Trang 29Hiến chương Liên hợp quốc (LHQ) năm 1945 thiết lập những nguyên tắc cơ bản
về tôn trọng nhân phẩm, giá trị vốn có, bảo vệ quyền và các tự do cơ bản của con người; tiếp sau đó, Đại hội đồng LHQ đã ban hành một loạt các tuyên bố và công ước quốc tế về quyền con người, chính thức đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển ngành luật quốc tế về quyền con người Tuyên bố Stockholm năm 1972 được xác định
là cột mốc đầu tiên cho sự gắn kết hai vấn đề tưởng chừng là hai lĩnh vực riêng biệt trong hoạch định chính sách công, nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
Trong Tuyên bố Stockholm, Nguyên tắc 1 đã thiết lập nền tảng mối quan hệ giữa quyền con người với bảo vệ môi trường, rằng: “con người có các quyền cơ bản về tự
do, bình đẳng và điều kiện sống tối thiểu trong môi trường trong lành, bình đẳng cho phép con người có cuộc sống trong nhân phẩm và hạnh phúc” Tiếp đó, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Môi trường và phát triển bền vững năm 1992, đã đưa ra công thức liên kết giữa quyền con người và bảo vệ môi trường trong một số thuật ngữ có
tính thủ tục Nguyên tắc 10 tuyên bố: “Vấn đề môi trường phải được giải quyết một
cách tốt nhất với sự tham gia của tất cả các cá nhân liên quan, ở cấp độ thích hợp Cấp độ quốc gia, mỗi cá nhân sẽ được tiếp cận thông tin thích hợp liên quan đến môi trường, do các cơ quan công quyền lưu giữ, bao gồm cả thông tin về các chất và hoạt động nguy hiểm trong cộng đồng của họ, và có cơ hội được tham gia trong quá trình ban hành các quyết định…”
Sự gắn kết giữa môi trường và quyền con người được thể hiện khá rõ đối với việc bảo đảm thực hiện các quyền như: quyền được sống; sự toàn vẹn thân thể của mỗi cá nhân, của đời sống mỗi gia đình; quyền đối với sức khỏe, thịnh vượng và phát triển của mỗi cá nhân, cũng như nhóm và cộng đồng xã hội… Tất cả các quyền này đều phụ thuộc vào môi trường sống, môi trường tự nhiên xung quanh con người Và đây được xác định
là cơ sở quan trọng cho cuộc sống của tất cả mọi cá nhân, mọi cộng đồng xã hội
Hiện nay, sức khỏe của con người đang bị ảnh hưởng ngày càng lớn và hệ quả ngày càng trầm trọng do sự xuống cấp nghiêm trọng của môi trường và hệ sinh thái
Và chính sự ô nhiễm môi trường, sự hủy hoại môi trường tự nhiên đều trực tiếp tác động đến việc hưởng thụ quyền con người của tất cả mọi người Vì thế, nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của con người là phải nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm
Trang 30quyền được sống trong môi trường trong lành, bảo đảm sức khỏe môi trường Do vậy, cộng đồng thế giới thừa nhận môi trường chính là vấn đề của quyền con người
Thứ hai, bảo vệ môi trường là điều kiện kiên quyết để hiện thực hóa quyền con người Một sự thật hiển nhiên là, các quyền con người không thể thực hiện được nếu môi trường không được bảo đảm, vì môi trường có liên quan và tác động trực tiếp tới hưởng thụ nhân quyền của mỗi cá nhân và cộng đồng Vì vậy, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường của con người là nhu cầu thiết yếu để bảo vệ cuộc sống con người, điều kiện kiên quyết bảo đảm nhân phẩm và giá trị của con người, phát triển và hoàn thiện nhân cách con người và tạo ra đặc tính thúc đẩy phúc lợi cho mỗi cá nhân, tập thể và cả cộng đồng xã hội
Các hoạt động của con người đã làm cho môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu và chính sự ô nhiễm này đã gây hại cho sức khỏe con người Do vậy quyền sống của con người đang bị ảnh hưởng trực tiếp hàng ngày do sự ô nhiễm
về không khí, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm nguồn đất
Theo pháp luật về môi trường và luật nhân quyền quốc tế, trách nhiệm bảo vệ môi trường và quyền con người trước hết thuộc về Nhà nước Nhà nước có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ và thực hiện các quyền con người về môi trường
Thứ ba, bảo vệ và thực hiện tốt quyền con người là điều kiện thiết yếu để có chính sách tốt về môi trường
Để có chính sách tốt về bảo vệ môi trường, đòi hỏi các quyền con người phải được bảo đảm thực hiện Nhiều nhà nghiên cứu, nhà hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực môi trường cho rằng, để có được chính sách tốt về môi trường chỉ có thể thông qua việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin, sự tham gia của dân chúng trong việc ban hành các quyết định về môi trường và tiếp cận tư pháp liên quan tới môi trường Các quyền này được gọi là các quyền có tính chất thủ tục (Procedural rights)
Thực tiễn cho thấy, quyền tiếp cận thông tin, sự tham của công chúng và tiếp cận
tư pháp có tác động rất lớn đền việc hiện thực hóa các quyền về môi trường Các quyền này nhằm giúp cho công dân đóng vai trò tích cực, chủ động hơn đối với các quyết định, chính sách của Nhà nước có liên quan tới môi trường; thực hiện dân chủ hóa đối với các quyết định, chính sách về môi trường, thông qua việc đưa cá nhân, các
Trang 31nhóm tư nhân và những người thường xuyên hứng chịu sự tác động và ảnh hưởng bởi
sự ô nhiễm môi trường tham gia vào hoạch định chính sách có liên quan tới môi trường Chính sự tham gia này, sẽ hạn chế quyền lực “quan liêu” của những người ban hành chính sách, bảo đảm sự cân bằng giữa lợi ích bảo vệ môi trường - phát triển bền vững với nhu cầu tăng trưởng kinh tế Và vì vậy, việc thực hiện các quyền có tính chất thủ tục này là rất quan trọng để có được chính sách tốt về môi trường và qua đó sẽ tạo
ra một môi trường bảo đảm cho sức khỏe, bảo vệ lợi ích số đông, lợi ích cộng đồng, bảo vệ những người dễ bị tổn thương trong xã hội, như trẻ em, phụ nữ, người nghèo, dân tộc thiểu số
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Môi trường biển và vấn đề bảo vệ môi trường biển là một đề tài không còn mới
lạ Vấn nạn ô nhiếm môi trường biển ngày càng có những diễn biến phức tạp và mức
độ ảnh hưởng sâu sắc với đời sống con người Tác động tương hỗ của vấn đề bảo vệ môi trường biển với tốc độ phát triển kinh tế là một hiện trạng cần được quan tâm Sẽ chỉ có một nền kinh tế bền vững khi phát triển kinh tế đi liền với trách nhiệm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên nói chung, bảo vệ môi trường biển nói riêng Trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã có không ít văn bản pháp luật được ban hành để góp phần tích cực vào công tác bảo vệ môi trường biển Với cách nhìn mới về vấn đề bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường biển nói riêng gắn liền cùng vấn đề bảo đảm quyền con người, môi trường phát sinh, phát triển bền vững và hòa bình; khẳng định quyền bình đẳng của con người đối với môi trường an toàn, sức khỏe và môi trường sinh thái; Khẳng định quyền không phân biệt đối xử liên quan tới các hành động và quyết định có tác động tới môi trường; tính công bằng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ hiện nay và mai sau Bảo đảm phát triển bền vững và vấn đề bảo đảm quyền lời của thế
hệ mai sau
Trong phạm vi bài nghiên cứu cá nhân tôi đã mạnh dạn đề tiếp cận vấn đề bảo vệ môi trường biển dưới góc độ pháp lý Đi vào nghiên cứu khung pháp lý, để từ đó có được cái nhìn tổng quan về hệ thống pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường biển với góc độ quốc tế và bước đầu có những liên hệ tới Việt Nam Quan điểm của tác giả
đề tài là sự đánh giá từ những bài học thực tế, để có vận dụng và hành động cụ thể trong công tác bảo vệ môi trường biển, sẽ cho chúng ta có cái nhìn đa chiều và khách quan
Trang 32nhất Trong phần tiếp theo của bài luận văn, tôi xin đưa ra những tính huống thực tế mà quốc tế đã ghi nhận đó là thảm họa về ô nhiễm môi trường biển Từ những sự cố này, nhân loại có thể tìm thấy ở đó trách nhiệm của mình, tìm thấy bài học không chỉ là bảo
vệ môi trường biển mà còn cả vấn đề ứng phó khi thảm họa xây ra; Đâu mới là hình phạt thực sư cho hành vi hủy hoại môi trường Vai trò của hệ thống pháp luật trong khuôn khổ giải quyết, ứng phó và bảo vệ môi trường biển đã thực sự phát huy được hết
và đủ tính năng vốn có của nó chưa?
Chương 2: Pháp Luật Một Số Quốc Gia Điển Hình Về Bảo Vệ Môi Trường
Biển Và Một Số Vụ Việc
2.1 Pháp Luật Một Số Quốc Gia Điển Hình Về Bảo Vệ Môi Trường Biển
Biển là một thành tố của trái đất hiện nay, với biển cả chúng ta không thể xác định biên giới bởi có tới 2/3 bề mặt trái đất là biển Do đó vấn đề bảo vệ môi trường biển sẽ không thể là công việc của một quốc gia đơn lẻ mà đó là bài toán của cả thế giới Chỉ với sự hợp tác, chung tay của các nước thì việc bảo vệ môi trường biển mới
có thể thành công Song một thực tế là mỗi quốc gia lại có một hệ thống pháp luật khác nhau, việc thi hành luật không giống nhau Do đó, để tìm được tiếng nói chung trong vấn đề bảo vệ môi trường biển không hề đơn giản Để nhìn lại tổng quan công tác bảo vệ môi trường biển hiện nay, dưới góc độ pháp luật tôi xin được đề cập tới pháp luật của một số quốc gia điển hình có mức độ ảnh hưởng lớn tới việc bảo vệ môi trường biển, cũng như có khá nhiều nét tương đồng với pháp luật Việt Nam trong công tác bảo vệ môi trường biển
Khung pháp lý về bảo vệ môi trường biển không chỉ là những công ước quốc tế hay tập quán quốc tế được thừa nhận … Mà để những công ước quốc tế thực sự đi vào đời sống, chúng ta cần một quá trình “nội luật hóa” để đưa tinh thần của những công ước quốc tế và pháp luật quốc gia Quá trình ấy, là một quá trình thực sự đòi hỏi về thời gian và công sức Việc vận dụng phải sao cho phù hợp, linh hoạt và khả dụng với pháp luật quốc gia Cũng nhìn lại bức tranh thế giới về việc bảo vệ môi trường biển, thì chúng ta có thể bắt gặp trong pháp luật Canada; Trung Quốc; Thái Lan; Philippin
Trang 33một sự tương đồng về hệ thống pháp lý, về địa hình, địa lý … Hay bài học về vấn đề quản lý và điều chính vấn đề bảo vệ môi trường biển của những quốc gia này cũng có những mầu sắc và đặc thù riêng
Pháp luật quốc gia có thể coi là phần sinh động nhất của khung pháp lý về vấn đề bảo vệ môi trường biển, bởi tại đây chúng ta có thể nhìn thấy tính chế tài, những quy định pháp quy đi vào đời sống; Trở thành công cụ của việc bảo vệ môi trường biển
2.1.1 Pháp luật Canada
Điểm nổi bật trong pháp luật về bảo vệ môi trường của Canada là phân biệt rõ giữa trách nhiệm cá nhân và pháp nhân trong cùng một hành vi vi phạm Đồng thời, luật hình sự của Canada cũng quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân Theo quy định của Luật chất lượng môi trường Canada, cùng một hành vi vi phạm thì hình phạt tù không áp dụng với pháp nhân mà chỉ áp dụng với cá nhân, tuy nhiên, mức phạt tiền áp dụng đối với pháp nhân cao hơn nhiều so với cá nhân Ở Canada, ngoài hành vi xâm hại trực tiếp đến môi trường, với chủ thể có hành vi có khả năng gây tác động đến môi trường thì trước khi thực hiện hành vi này phải được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền, nếu vi phạm quy định này chủ thể vi phạm sẽ bị phạt
Để bảo đảm cho hình phạt tiền được tiến hành có hiệu quả, đạt được mục đích hình phạt, trong Luật chất lượng môi trường Canada còn có quy định cho phép áp dụng các quy định của pháp luật thế nợ bằng bất động sản Theo đó, những chủ thể bị phạt tiền nếu không chấp hành hình phạt thì tài sản thuộc sở hữu của người đó có thể
bị cưỡng chế để bảo đảm cho hình phạt tiền được thi hành Chủ thể vi phạm bên cạnh việc phải chịu hình phạt tiền hoặc phạt tù hoặc chịu cả hai hình phạt trên, còn có nghĩa
vụ khắc phục hậu quả Việc quyết định buộc chủ thể vi phạm phải thực hiện nghĩa vụ khắc phục là thuộc thẩm quyền quyết định của tòa án Tòa án căn cứ vào mức độ thiệt hại xảy ra trên thực tế để buộc chủ thể vi phạm phải bỏ chi phí để thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm khôi phục lại trạng thái của sự vật trước khi bị vi phạm
Quy định nguyên tắc chủ thể gây tổn hại cho môi trường do hoạt động của mình phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nguyên tắc này bảo đảm rằng những thiệt hại của môi trường luôn được khắc phục
Ngoài ra, theo Luật chất lượng môi trường của Canada thì không chỉ chủ thể trực tiếp vi phạm phải chịu trách nhiệm mà cả những chủ thể liên quan cũng phải chịu trách
Trang 34nhiệm Cụ thể, những người thực hiện hành vi trợ giúp cho người khác vi phạm quy định của luật này, hoặc khuyên bảo, khuyến khích, xúi giục người khác thực hiện hành
vi gây nguy hại cho môi trường cũng bị coi như vi phạm pháp luật và phải chịu hình phạt như chính chủ thể thực hiện hành vi đó Như vậy, có thể thấy rằng trong pháp luật của Canađa có quy định phân biệt rất rõ trách nhiệm của cá nhân với pháp nhân
Mức phạt tiền của pháp nhân bao giờ cũng cao hơn mức phạt tiền đối với cá nhân trong cùng một hành vi và hình phạt tiền là hình phạt chính trong pháp luật môi trường của Canada Điều này thể hiện rõ nguyên tắc trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sử dụng thành phần môi trường: các tổ chức, cá nhân khi sử dụng các thành phần môi trường phải có trách nhiệm đóng góp tài chính và khi có hành vi gây thiệt hại cho môi trường thì phải bồi thường thiệt hại; và việc pháp luật hạn chế việc áp dụng hình phạt tước tự
do, tăng cường hình phạt mang tính chất kinh tế là phù hợp với hướng phát triển chung của hệ thống hình phạt ở các nước tiến bộ
Chính sách, pháp luật về quản lý biển của Canada
Canada là một quốc gia có diện tích tự nhiên lớn với ba mặt giáp biển, là một trong những quốc gia có đường bờ biển dài nhất thế giới Với tổng diện tích vùng biển khoảng 3 triệu km2 và khoảng 24% tổng dân số sinh sống dọc bờ biển, biển từ lâu đã trở thành một lợi thế to lớn cho việc phát triển kinh tế - xã hội ở Canada
Canada là một trong những nước đi đầu trong việc xây dựng chính sách biển tổng thể ở tầm quốc gia, áp dụng phương thức quản lý tổng hợp - một phương thức quản lý hiện đại, thích hợp đối với biển Hệ thống chính sách, pháp luật về biển của Canada được xây dựng và phát triển trong một thời gian dài gắn với quá trình thay đổi tư duy
về quản lý biển
Trước đây, Canada tự xem mình là một quốc gia thủy sản, hàng hải và chú trọng phát triển hai lĩnh vực này trong khai thác và sử dụng biển Với nguồn tài nguyên biển phong phú và tính đa dạng sinh học cao cùng với quan niệm “tài nguyên biển là vô tận”, một thời gian dài, biển là địa bàn cho mọi đối tượng khai thác và sử dụng (open access) Về sau này, do sự phát triển của khoa học - công nghệ, sự gia tăng mạnh mẽ nguồn vốn đầu tư cho các hoạt động khai thác, tài nguyên biển dần dần cạn kiệt và ở một số vùng biển, Chính phủ phải can thiệp bằng nhiều biện pháp khác nhau, kể cả việc đóng cửa các khu vực khai thác nhằm ngăn ngừa nguy cơ suy thoái về nguồn lợi
Trang 35thủy sản Bên cạnh đó, việc xuất hiện và phát triển những ngành, nghề mới đã làm nảy sinh nhiều vấn đề trong quản lý biển ở Canada Chẳng hạn như việc nhiều ngành, nghề cùng sử dụng chung mặt nước biển sẽ dẫn đến tình trạng mâu thuẫn về lợi ích, chồng chéo về trách nhiệm và trùng lặp về thẩm quyền quản lý Việc quá chú trọng vào khai thác mà không hoặc ít chú ý đến bảo tồn dẫn đến nguồn tài nguyên biển bị cạn kiệt, nhiều loại động, thực vật biển có nguy cơ tuyệt chủng, đa dạng sinh học bị đe dọa, hệ sinh thái bị tàn phá ảnh hưởng tới môi trường sống của con người Lúc này, việc quản
lý biển đã không còn đơn giản như trước mà trở nên phức tạp Cơ quan quản lý đòi hỏi phải giải quyết một lúc nhiều vấn đề nếu muốn quản lý hiệu quả nguồn tài nguyên biển, đảm bảo phát triển KT -XH bền vững Vì vậy, Canada phải xây dựng một hệ thống pháp luật, chính sách biển hoàn chỉnh; trong đó nhấn mạnh vai trò của chính sách biển thống nhất ở tầm quốc gia để thực hiện quản lý tổng hợp biển Việc xây dựng chính sách biển quốc gia Canada được bắt đầu bằng việc xây dựng Luật biển Canada (Canada’s Ocean Act) [50]
Dựa trên đạo luật này, Chiến lược biển Canada được xây dựng và ban hành năm
2002 Nó được xem là tuyên bố về chính sách của Chính phủ Canada về quản lý các hệ sinh thái cửa sông, bờ biển và đại dương ở tầm quốc gia Chiến lược biển quy định về việc áp dụng phương pháp quản lý tổng hợp đối với các vùng biển, nhấn mạnh sự hợp tác và hỗ trợ về chính sách và chương trình quản lý giữa các cơ quan và các chủ thể liên quan Đồng thời, Chiến lược biển quốc gia Canada xác định rõ ba mục tiêu lớn trong quản lý biển; đó là: hiểu biết và bảo vệ môi trường biển; hỗ trợ các cơ hội phát triển kinh tế bền vững; và nâng cao vị thế về biển của Canada trên trường quốc tế Để đạt được các mục tiêu này, Chiến lược cũng đã đề ra nguyên tắc chủ đạo cần phải tuân theo trong quá trình xây dựng và thực hiện các chương trình quản lý biển; bao gồm: nguyên tắc quản lý tổng hợp; nguyên tắc phát triển bền vững; nguyên tắc cẩn trọng Nguyên tắc quản lý tổng hợp (Integrated Management) nhấn mạnh việc quản lý các hoạt động của con người có ảnh hưởng đến biển phải được thực hiện một cách tổng thể Đồng thời việc quản lý đó phải xem xét và tính đến tất cả các yếu tố cần thiết cho việc bảo tồn và sử dụng bền vững cũng như chia sẻ các nguồn tài nguyên biển Nguyên tắc quản lý tổng hợp được xem là vấn đề trọng tâm của Chiến lược biển Canada Nguyên tắc này đưa ra mục tiêu xây dựng và thực hiện các chương trình quản
Trang 36lý tổng hợp ở tất cả các vùng biển của Canada, bắt đầu từ những vùng biển ưu tiên và trên cơ sở đó xây dựng những bài học kinh nghiệm cho những vùng biển tiếp theo Thực chất của nguyên tắc quản lý tổng hợp là chia sẻ quyền hạn, trách nhiệm và nhấn mạnh sự hợp tác giữa các ngành và chủ thể liên quan trong hoạch định và thực thi các chương trình quản lý biển nhằm hướng đến những mục tiêu chung, bền vững Chính vì vậy, quản lý tổng hợp không chỉ là sự tổng hợp về chính sách và quyền lực mà còn bao gồm cả việc thiết lập một cơ quan quản lý liên ngành Chiến lược biển Canada cũng nhấn mạnh cơ quan quản lý liên ngành này là điểm mấu chốt của quản lý biển tổng hợp ở Canada
Nguyên tắc phát triển bền vững cũng là một nguyên tắc chủ đạo của Chiến lược biển Canada Có thể nói, đây vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu trong quản lý biển: quản lý tổng hợp nhưng phải đạt được sự phát triển bền vững cho các vùng biển Nguyên tắc này ghi nhận rằng, cần phải có sự tổng hợp và cân đối giữa các yếu tố kinh
tế - xã hội và môi trường trong hoạch định chính sách quản lý Đồng thời, việc quản
lý, sử dụng và phát triển tài nguyên biển của thế hệ hiện tại không được phương hại tới khả năng khai thác và sử dụng của các thế hệ tương lai Nguyên tắc phát triển bền vững còn nhấn mạnh đến khả năng quản lý dựa trên việc ứng dụng các thành tựu phát triển của khoa học - kỹ thuật nhằm thích ứng với các điều kiện mới của môi trường Đây được xem là chìa khóa để hướng tới sự phát triển bền vững các vùng biển ở Canada
Nguyên tắc cẩn trọng cũng được đặt ra trong Chiến lược biển Canada với tư cách
là một phần trong tiến trình hoạt động chính sách và ra quyết định Cụ thể, việc áp dụng nguyên tắc này là khi có một nguy cơ nào đó đe dọa đến việc quản lý bền vững biển và trong điều kiện không có các cơ sở khoa học vững chắc về nguy cơ đó thì việc đưa ra quyết định và các giải pháp quản lý phải được tiến hành một cách thận trọng
Cùng với Chiến lược biển, Chính phủ Canada đã tái khẳng định cam kết của mình về việc áp dụng rộng rãi nguyên tắc cẩn trọng trong bảo tồn, quản lý và khai thác các nguồn tài nguyên biển một cách bền vững Ngoài ra, Chiến lược biển quốc gia Canada cũng đề cập đến một số nguyên tắc khác như: nguyên tắc quản lý dựa vào hệ sinh thái (ecosystem-based), nguyên tắc quản lý dựa vào khoa học (science- based)
Trang 37Về quản lý biển, Chiến lược biển Canada khẳng định đây không phải là công việc và trách nhiệm của riêng chính quyền liên bang Quản lý biển Canada thuộc trách nhiệm chung của cộng đồng Mọi tổ chức, cá nhân có liên quan đều phải chia sẻ trách nhiệm này Chính vì vậy, quản lý biển xác định trong Chiến lược biển là một quá trình làm việc tập thể phối, kết hợp giữa chính quyền liên bang với các cấp chính quyền khác nhằm chia sẻ trách nhiệm để hướng tới những mục tiêu chung Đồng thời, Chiến lược biển cũng thể hiện cam kết của Chính phủ Canada trong việc huy động và tạo điều kiện cho người dân tham gia vào quá trình hoạch định chính sách và ra quyết định đối với những công việc có liên quan theo mô hình đồng quản lý hoặc quản lý dựa vào cộng đồng
Để thực hiện quản lý biển, Chiến lược biển cũng đề ra các phương hướng hoạt động như: thiết lập một cơ chế và bộ máy cho sự liên kết và hợp tác giữa các chủ thể liên quan; tăng cường hoạch định quản lý tổng hợp cho tất cả các vùng biển của Canada kể cả các vùng ven biển; tổ chức tuyên truyền, nâng cao ý thức của người dân
về quản lý biển, vận động các tầng lớp dân cư cùng với Nhà nước tham gia vào việc quản lý biển nhằm hướng đến những mục tiêu chung của đất nước
Ngày 8/2/2018, Chính phủ Canada đã đề xuất một gói dự luật nhằm tập trung hóa việc đánh giá tác động môi trường của các dự án năng lượng như đê đập, đường ống dẫn dầu và khai thác than đá tại nước này Theo kế hoạch này, mọi dự án năng lượng quy mô lớn đều phải đáp ứng các điều kiện bảo vệ môi trường và xã hội thông qua một tiến trình đánh giá do Cơ quan Đánh giá tác động của Canada thực hiện
Đây sẽ là cơ quan chính phủ duy nhất chịu trách nhiệm đánh giá, nghiên cứu những tác động lâu dài về môi trường, sức khỏe, xã hội cũng như kinh tế của các dự án này
2.1.2 Pháp luật nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa ( Trung Quốc)
Là đất nước rộng lớn với nhiều mỏ tự nhiên và có trữ lượng lớn trải dài trên nhiều vùng khí hậu khác nhau nên môi trường ở Trung Quốc rất đa dạng Thực hiện chính sách cải cách và mở cửa kinh tế, Trung Quốc đã đạt được những thành tựu to lớn trong lĩnh vực kinh tế, song cũng đang đứng trước nhiều thách thức to lớn về môi trường cần giải quyết như nạn ô nhiễm môi trường và nạn khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên đang có chiều hướng gia tăng Trước tình hình đó, Chính phủ
Trang 38Trung Quốc đã coi bảo vệ môi trường sinh thái là một nhiệm vụ chiến lược trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của mình Chính phủ Trung Quốc đã tiến hành nhiều biện pháp kiểm soát và bảo vệ thiết thực, trong đó có các biện pháp pháp lý như quy định và thi hành các chế tài dân sự, hành chính và đặc biệt là tăng cường áp dụng các biện pháp hình sự đối với các vi phạm pháp luật môi trường
Một số quy định về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường của Trung Quốc thể hiện ở một số khía cạnh sau:
- Hình sự hóa các hành vi nguy hiểm xâm hại môi trường, Trung Quốc đã xây dựng và thực thi một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường Một trong những biện pháp cứng rắn và hữu hiệu nhất nhằm trực tiếp bảo vệ môi trường là sử dụng các công cụ pháp lý, thông qua đó Nhà nước có thể áp dụng những chế tài nghiêm khắc đối với những người vi phạm pháp luật về môi trường Trong đó,
Bộ luật hình sự năm 1997 đã dành một tiết riêng trong Chương Các tội phạm trật tự quản lý xã hội để quy định các tội xâm phạm việc bảo vệ tài nguyên môi trường: quy định “Các tội xâm phạm việc bảo vệ tài nguyên môi trường”, gồm 9 điều luật từ Điều
338 đến Điều 346[57]
- Về phân loại tội phạm môi trường, thuộc nhóm tội này gồm các điều quy định
về ba nhóm hành vi sau: + Các điều quy định về hành vi gây ô nhiễm môi trường (Điều 338 và Điều 339); + Các điểu quy định về hành vi gây thiệt hại cho tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học (các điều 340, 341, 342, 343, 344); + Các điều quy định hình phạt áp dụng đối với các trường hợp phạm tội cụ thể (Điều 345 và Điều 346), trong đó có quy định rõ các trường hợp phạm tội với số lượng tương đối lớn và đặc biệt lớn Một số điều như Điều 338, Điều 342, Điều 343 quy định những tội danh
có cấu thành vật chất, do đó hậu quả là dấu hiệu bắt buộc trong việc xác định có phạm tội hay không phạm tội Một số điều như Điểu 339, 340, 341 quy định các tội danh có cấu thành hình thức Đối với các tội danh này, thì hậu quả (tương đối nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng) là yếu tố định khung tăng nặng[57]
Những yếu tố định lượng đặc trưng cho các tội phạm về môi trường như thế nào
là gây sự cố ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; diện tích lớn, đặc biệt lớn; số lượng lớn, đặc biệt lớn; hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng là bao nhiêu thì chưa được quy định rõ ngay trong các điều luật này của Bộ luật hình sự Điều này cho thấy,
Trang 39các nhà lập pháp Trung Quốc có thể chưa có điều kiện quy định định lượng cụ thể ngay vào từng điều luật mà để cho các cơ quan áp dụng pháp luật sau này ra các văn bản hướng dẫn thi hành
Một điểm nổi bật ở luật hình sự Trung Quốc đó là pháp nhân có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (Điều 338) Như vậy, ở Trung Quốc, các hình thức trách nhiệm pháp lý được quy định theo ngành luật (luật hình sự, luật dân sự, luật hành chính) Điển hình, Bộ luật hình sự Trúng Quốc đã quy định các tội phạm về môi trường thành một tiết riêng Với cách thức quy định các tội danh rất đa dạng và linh hoạt, Bộ luật hình sự đã liệt kê được các hành vi xâm hại môi trường phổ biến nhất hiện nay, đồng thời nếu pháp nhân gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thì phải chịu trách nhiệm hình sự
Chính sách, pháp luật về quản lý biển của Trung Quốc
Trung Quốc có điều kiện địa lý về biển rất thuận lợi, với đường bờ biển dài 18.000 km Nếu mở rộng ra Đài Loan và Hải Nam thì chiều dài bờ biển của Trung Quốc lên đến 30.000 km, với tổng diện tích mặt biển khoảng hơn 3 triệu km² Dựa trên
bề dày lịch sử khai thác biển (khoảng 5.000 năm trước đây) với nghề khai thác muối biển, Trung Quốc đã sớm quan tâm đến việc xây dựng một chính sách quản lý biển ngay từ khi giải phóng đất nước năm 1949 Trung Quốc đã xây dựng Chiến lược biển với bốn yếu tố cơ bản là: xác định việc mở rộng quản lý biển là hạt nhân của chiến lược chính trị biển; khẳng định việc xây dựng chiến lược cường quốc biển là hạt nhân của chiến lược phát triển kinh tế biển; xác định an ninh biển và an ninh quốc gia là vấn
đề trọng tâm trong chiến lược phòng vệ biển; khẳng định và coi trọng việc sử dụng kỹ thuật cao kết hợp với kỹ thuật thông thường trong chiến lược khoa học - kỹ thuật biển
Về chiến lược phát triển kinh tế biển của Trung Quốc, có thể tóm tắt như sau:
Thứ nhất, Trung Quốc chú trọng phát triển “toàn diện” kinh tế biển, bao gồm:
- Thực hiện đồng thời hoạt động khai thác tài nguyên ở các khu vực ven biển với việc khai thác tại các vùng biển ngoài xa
Cùng với việc khai thác các vùng biển gần, Trung Quốc đã tiến hành thăm dò, khai thác các vùng đất ngập nước ở những vùng biển xa Năm 1991, được sự cho phép của Cơ quan quyền lực đáy đại dương quốc tế, Trung Quốc đã thực hiện khai thác
Trang 40quặng ở khu vực biển rộng 150 ngàn km2 Hiện nay, Trung Quốc đang đề nghị được
mở rộng phạm vi khai thác Ngoài ra, Trung Quốc đã tiến hành 23 cuộc khảo sát tại vùng biển Nam cực và thiết lập các trạm khảo sát ở vùng biển Bắc cực
- Trung Quốc xây dựng và phát triển nhiều ngành, nghề kinh tế biển như nghề cá biển, giao thông vận tải biển, nghề khai thác dầu khí biển, nghề làm muối biển và hóa muối, phát triển nghề đóng tàu biển, nghề du lịch biển gần, phát triển nghề sử dụng nước biển
Thứ hai, Trung Quốc phát triển kinh tế biển “hiệu quả cao” với các nội dung:
- Tích cực xây dựng và phát triển những nghề mới về biển, tăng cường năng lực hoạt động của các nghề khai thác thủy sản truyền thống, nâng cao khả năng cạnh tranh của các nghề và sản phẩm biển trên thị trường trong và ngoài nước
- Không ngừng hoàn thiện các chính sách và pháp luật về quản lý biển, tạo môi trường xã hội công bằng và công khai trong việc phát triển kinh tế biển
Thời gian qua, Trung Quốc đã lần lượt ban hành các chính sách, pháp luật về
biển như: “Quy hoạch phát triển biển quốc gia”, “Đề cương quy hoạch phát triển biển
toàn quốc”, “Luật Nghề cá nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”, “Quy tắc quản lý tầu thuyền nước ngoài của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”, “Điều lệ hợp tác, khai thác dầu mỏ biển với bên ngoài của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”
Những chính sách và quy định pháp luật này đã đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế biển của Trung Quốc
- Kiện toàn, củng cố hệ thống cơ quan quản lý biển, tăng cường xây dựng cơ cấu quản lý hành chính biển, tạo điều kiện để phát triển mạnh kinh tế biển
Ngay từ năm 1949, Tiểu ban lãnh đạo nghiên cứu phát triển, bảo vệ tài nguyên biển thuộc Cục Hải dương quốc gia và Nhóm chuyên gia nghiên cứu phát triển bảo vệ tài nguyên biển toàn quốc (đều thuộc Quốc vụ viện) đã được thành lập Đồng thời, các cơ quan quản lý biển ở các tỉnh, thành phố ven biển trong cả nước và các đơn vị kế hoạch kinh tế độc lập cũng được thành lập Cơ chế quản lý biển kết hợp giữa nhà nước trung ương và địa phương được xác lập nhằm tạo điều kiện phát triển lĩnh vực kinh tế biển
Thứ ba, Trung Quốc chủ trương phát triển kinh tế biển bền vững, gồm các nội
dung sau: