1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về tìm kiếm cứu nạn trên biển của Việt Nam và một số nước trên thế giới

123 105 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nêu và phân tích quy định của pháp luật Việt Nam và một số nước trên thế giới về tìm kiếm cứu nạn trên biển Đưa ra các giải pháp, kiến nghị, đề xuất hoàn chỉnh pháp luật Việt Nam. Nêu và phân tích quy định của pháp luật Việt Nam và một số nước trên thế giới về tìm kiếm cứu nạn trên biển Đưa ra các giải pháp, kiến nghị, đề xuất hoàn chỉnh pháp luật Việt Nam.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÙI THỊ PHƯƠNG MAI

PHÁP LUẬT VỀ TÌM KIẾM CỨU NẠN TRÊN BIỂN CỦA VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ

GIỚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÙI THỊ PHƯƠNG MAI

PHÁP LUẬT VỀ TÌM KIẾM CỨU NẠN TRÊN BIỂN CỦA VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ

GIỚI

Chuyên ngành: Luật Biển và quản lý Biển

Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN BÁ DIẾN

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi trên cơ sở kế thừa, phát triển và bổ sung những điểm mới, kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan Các số liệu, ví

dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Bùi Thị Phương Mai

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các sơ đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG TÌM KIẾM CỨU NẠN TRÊN BIỂN 7

1.1 Một số khái niệm cơ bản 7

1.2 Chức năng của hoạt động tìm kiếm cứu nạn trên biển 12

1.3 Đặc trưng của tổ chức tìm kiếm cứu nạn trên biển 13

1.4 Ý nghĩa, vai trò của hoạt động tìm kiếm cứu nạn trên biển 15

1.5 Cơ sở pháp luật về tìm kiếm cứu nạn trên biển 18

1.5.1 Cơ sở pháp luật quốc tế 18

1.5.2 Cơ sở pháp luật trong nước 21

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23

Chương 2: PHÁP LUẬT VỀ TÌM KIẾM CỨU NẠN TRÊN BIỂN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 25

2.1 Pháp luật về tìm kiếm cứu nạn trên biển của Hoa Kỳ 26

2.2 Pháp luật về tìm kiếm cứu nạn trên biển của Trung Quốc 35

2.3 Pháp luật về tìm kiếm cứu nạn trên biển của Nhật Bản 40

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 44

Chương 3: PHÁP LUẬT VỀ TÌM KIẾM CỨU NẠN TRÊN BIỂN CỦA VIỆT NAM VÀ THỰC TRẠNG THỰC THI, CÁC GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 45

3.1 Pháp luật về tìm kiếm cứu nạn trên biển của Việt Nam 45

3.1.1 Các công ước quốc tế Việt Nam tham gia về tìm kiếm cứu nạn trên biển 45

3.1.2 Các văn bản pháp lý của Việt Nam liên quan đến hoạt động tìm kiếm cứu nạn trên biển 56

Trang 5

3.2 Thực trạng thực thi pháp luật về tìm kiếm cứu nạn trên biển

tại Việt Nam 84

3.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật tìm kiếm cứu nạn trên biển Việt Nam 92

3.3.1 Chính sách xã hội hóa hoạt động để mở rộng đối tượng tham gia hoạt động tìm kiếm cứu nạn trên biển 93

3.3.2 Xây dựng luật tìm kiếm cứu nạn trên biển 95

3.3.3 Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về quản lý, bảo vệ vùng biển, tìm kiếm cứu nạn và nâng cao chất lượng hiệu quả biện pháp nghiệp vụ 96

3.3.4 Nâng cao chất lượng, tính chuyên nghiệp của lực lượng tìm kiếm cứu nạn trên biển 97

3.3.5 Bảo đảm trang bị, phương tiện kỹ thuật và chính sách cho lực lượng tìm kiếm cứu nạn trên biển 98

3.3.6 Nâng cao năng lực, hiệu quả trong hợp tác quốc tế về thực thi pháp luật tìm kiếm cứu nạn trên biển 98

3.3.7 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tìm kiếm cứu nạn trên biển 99

3.3.8 Học tập kinh nghiệm thực thi pháp luật trong hoạt động tìm kiếm cứu nạn trên biển từ các nước trên thế giới (Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản) 100

3.4 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật tìm kiếm cứu nạn trên biển Việt Nam 106

3.4.1 Về phía Nhà nước 106

3.4.2 Về phía Ủy ban Quốc gia Ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn 107

3.4.3 Về phía các Bộ, ngành, đơn vị liên quan 108

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 109

KẾT LUẬN 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Trang 6

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 3.1 Tổ chức Hệ thống tìm kiếm cứu nạn trên biển Việt Nam 52

Sơ đồ 3.2 Tổ chức Trung tâm Phối hợp TKCN hàng hải Việt Nam 65

Sơ đồ 3.3 Vùng trách nhiệm TKCN trên biển Việt Nam 66

Sơ đồ 3.4 Sơ đồ phân vùng trách nhiệm chủ trì phối hợp tìm kiếm

cứu nạn người, phương tiện hoạt động trên biển và trong

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Biển Đông với diện tích hơn 3.447.000 km2, một trong 6 biển lớn nhất của thế giới, nối hai đại dương là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, là con đường chiến lược giao thương quốc tế với 05/10 tuyến đường hàng hải lớn nhất hành tinh đi qua Hằng năm, vận chuyển qua biển Đông là khoảng 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu từ Trung Đông và Đông Nam Á, 45% hàng xuất của Nhật, 60% hàng xuất nhập khẩu của Trung Quốc [46]

Vùng biển Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa rộng khoảng 1 triệu km2, án ngữ trên các tuyến hàng hải và hàng không huyết mạch giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, giữa châu Âu, Trung Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực Bờ biển Việt Nam dài hơn 3.260km, bao bọc lãnh thổ ở cả 3 hướng Đông, Nam và Tây Nam Dọc bờ biển

có nhiều đô thị lớn, cảng biển lớn nhỏ và các bãi biển có cảnh quan đẹp để phát triển du lịch biển Bên cạnh đó, ven bờ biển có nhiều loại khoáng sản và vật liệu xây dựng quan trọng phục vụ phát triển công nghiệp, tăng trưởng GDP Phát triển kinh tế biển là nhiệm vụ quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh

tế, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa theo mục tiêu tổng quát của “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” Với vị trí địa lý kinh tế thuận lợi và tốc độ phát triển trong những năm qua, biển Việt Nam đã góp phần đưa vị thế của đất nước trở thành một trong những quốc gia biển có nền công nghiệp hàng hải mạnh ở khu vực và trên thế giới

Mặt khác, khi quy mô, cơ cấu và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế xã hội càng lớn cộng thêm các hiện tượng biến đổi thời tiết, khí hậu khôn lường như hiện nay thì khả năng xảy ra các thảm họa, sự cố càng nhiều, tính chất và thiệt hại gây ra càng trầm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô, cơ cấu của

Trang 8

hoạt động tìm kiếm cứu nạn Do đó, cần phải phát triển, nâng cao hiệu quả của hoạt động tìm kiếm cứu nạn nói chung và tìm kiếm cứu nạn trên biển nói riêng Hiệu quả của hoạt động tìm kiếm cứu nạn sẽ góp phần bảo đảm an toàn, tạo tâm lý an tâm cho người, phương tiện tham gia các hoạt động hàng hải, phát triển kinh tế biển; giảm tới mức thấp nhất thiệt hại về người, phương tiện, tài sản, kinh tế, bảo vệ môi trường biển do thảm họa, tai nạn, sự cố trên biển có thể gây ra Ngoài ra, hiệu quả hoạt động tìm kiếm cứu nạn trên biển còn góp phần thực hiện việc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam trên biển, thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của quốc gia có biển trong việc bảo đảm an toàn, tìm kiếm cứu nạn trên vùng biển của Việt Nam và do Việt Nam đảm trách Nhất là khi Việt Nam đã là thành viên của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, Công ước quốc tế về tìm kiếm cứu nạn (SAR79), Hiệp định ASEAN về Hỗ trợ tìm kiếm Tàu thuyền gặp nạn và Cứu hộ người sống sót trong Tai nạn tàu thuyền 1975, Hiệp định ASEAN về quản lý thảm họa và ứng phó khẩn cấp 2005… liên quan đến lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn trên biển

Tuy nhiên trong thực tiễn, các loại hình tai nạn, sự cố xảy ra trên biển rất

đa dạng về cả quy mô, mức độ, loại hình cũng như yếu tố, nguyên nhân xảy ra hoạt động tìm kiếm cứu nạn trên biển, thể hiện một số mặt còn hạn chế trong hoạt động quản lý nhà nước, hệ thống pháp luật về công tác tìm kiếm cứu nạn trên biển Đặc biệt, hoạt động tìm kiếm cứu nạn còn phức tạp, thậm chí khó thực hiện một cách hiệu quả tại một số vùng biển còn đang tranh chấp

Chính vì những lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài: “Pháp luật về tìm kiếm cứu nạn trên biển của Việt Nam và một số nước trên thế giới” nhằm

đưa ra một cách nhìn toàn diện về hệ thống pháp luật tìm kiếm cứu nạn trên biển của Việt Nam và một số nước trên thế giới, từ đó đề xuất, kiến nghị một

số giải pháp nhằm nâng cao tính pháp lý, hiệu quả của công tác tìm kiếm cứu nạn trên biển Việt Nam, đồng thời phù hợp với các Điều ước quốc tế mà ta đã

ký kết, gia nhập hoặc làm thủ tục gia nhập

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Công tác tìm kiếm cứu nạn trên biển vẫn còn mới mẻ và lạ lẫm với nhiều người dân Việt Nam Và chỉ thời gian gần đây, khi xảy ra liên tiếp các tai nạn, sự

cố của ngư dân trên khu vực biển xảy ra tranh chấp phức tạp, đặc biệt là khu vực Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam thì công tác tìm kiếm cứu nạn trên biển mới thực sự được biết đến Từ những góc độ khác nhau, ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, các cuộc hội thảo, hội nghị chuyên đề, bài viết về thực trạng, đánh giá, nâng cao năng lực hoạt động tìm kiếm cứu nạn trên biển tại Việt Nam cũng như một số nước trên thế giới, đáng chú ý như:

Đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Bộ “Xây dựng Sổ tay tìm

kiếm cứu nạn hàng hải” của Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải Việt

Nam, năm 2007, cung cấp các quy định pháp lý, thông tin, chỉ dẫn về hoạt động phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải Việt Nam Đồng thời, hướng dẫn nghiệp vụ đối với các lực lượng tìm kiếm cứu nạn trên biển chuyên nghiệp và không chuyên của Việt Nam; tuyên truyền, quảng bá sâu rộng trong tầng lớp nhân dân về trách nhiệm, nghĩa vụ của quốc gia và từng cá nhân, tổ chức trong công tác phối hợp tìm kiếm cứu nạn trên biển Năm 2012, Bộ Giao thông vận tải đã nghiên cứu và

xuất bản cuốn “Sổ tay Tìm kiếm cứu nạn Hàng không – Hàng hải” Năm 2014,

cuốn sổ tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung và tái bản lần thứ nhất

Đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Bộ “Nghiên cứu nâng

cao năng lực hoạt động tìm kiếm cứu nạn trên biển” của Cục Hàng hải Việt

Nam, năm 2008, tập trung nêu ra các giải pháp khắc phục những tồn tại để nâng cao năng lực và hiệu quả của hoạt động tìm kiếm cứu nạn

Đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Bộ “Nghiên cứu xây dựng

nội dung đào tạo phù hợp với chức danh sỹ quan thuyền viên, nhân viên cứu nạn

và các chức danh khác trên tàu chuyên dụng tìm kiếm cứu nạn” của kỹ sư

Nguyễn Văn Đợi, năm 2009, nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu chuẩn các chức

Trang 10

danh thuyền viên làm việc trên các tàu tìm kiếm cứu nạn trên biển cũng như các nội dung đào tạo phù hợp với từng chức danh theo các tiêu chuẩn đã xây dựng

Luận văn tiến sĩ chuyên ngành Bảo đảm an toàn hàng hải, Đại học

Hàng hải“Đề xuất nâng cao năng lực tìm kiếm cứu nạn hàng hải tại Việt

Nam” của kỹ sư Lê Vinh Quang, năm 2011, đưa ra các đề xuất, kiến nghị

nâng cao năng lực tìm kiếm cứu nạn Việt Nam phù hợp với thực tiễn, khắc phục những mặt hạn chế còn tồn tại

Đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Bộ “Nghiên cứu, xây

dựng nội dung hướng dẫn nghiệp vụ tìm kiếm cứu nạn đối với ngư dân, thuyền viên tàu vận tải nhỏ và tàu vận tải cao tốc theo tuyến vận tải đường thủy” của kỹ sư Nguyễn Anh Vũ, năm 2015, gồm các nội dung về cơ cấu, hệ

thống tìm kiếm cứu nạn trên biển và hướng dẫn phương pháp phòng tránh, phương thức liên lạc, phương pháp ứng phó khi tai nạn, sự cố xảy ra

Đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Bộ “Nghiên cứu cơ sở

khoa học xây dựng Sổ tay Huấn luyện nghiệp vụ tìm kiếm, cứu nạn hàng hải”

của kỹ sư Vũ Việt Hùng, năm 2015, nhằm tạo tiền đề, cơ sở pháp lý hướng dẫn công tác huấn luyện, đào tạo, nâng cao nghiệp vụ tìm kiếm cứu nạn trên biển cho các đối tượng, đơn vị trong và ngoài ngành hàng hải

Một số hội nghị, hội thảo chuyên đề về tìm kiếm cứu nạn trên biển

cũng được tổ chức, như gần đây nhất là “Hội thảo chia sẻ thông tin, đưa ra

những giải pháp về công tác phối hợp tìm kiếm cứu nạn trên biển” ngày

14/3/2017 tại Hà Nội; “Hội thảo ASEAN – Trung Quốc về tìm kiếm cứu nạn

hàng hải năm 2017” ngày 22/3/2017 tại Myanmar…

Ngoài ra, có một số bài báo tiêu biểu đề cập đến vấn đề tìm kiếm cứu

nạn trên biển, như “Đổi mới và nâng cao năng lực tìm kiếm cứu nạn hàng hải

vì bình yên biển đảo Việt Nam” của Hồng Nhung đăng trên Báo Giao thông

số ra ngày 13/9/2016; “Một số kinh nghiệm để công tác tìm kiếm cứu nạn trên

biển diễn ra đạt hiệu quả” của Cẩm Ly đăng trên Tạp chí Hội người đi biển

Việt Nam số ra ngày 22/10/2016…

Trang 11

Các công trình hoặc bài nghiên cứu nói trên chủ yếu tập trung vào hoạt động tìm kiếm cứu nạn trên biển mà không đi sâu vào hệ thống pháp luật về tìm kiếm cứu nạn trên biển mà Việt Nam và một số quốc gia đang thực thi Vì vậy, có thể nói đề tài “Pháp luật về tìm kiếm cứu nạn trên biển của Việt Nam

và một số nước trên thế giới” của tôi là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống, tương đối toàn diện về tìm kiếm cứu nạn trên biển dưới góc

độ pháp luật Việt Nam và một số nước trên thế giới

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ các vấn đề pháp lý về tìm kiếm cứu nạn trên biển của Việt Nam và một số nước trên thế giới nhằm rút ra những giải pháp nâng cao tính hiệu quả của công tác tìm kiếm cứu nạn trên biển, giúp cho hệ thống pháp luật về tìm kiếm cứu nạn trên biển của Việt Nam ngày càng hoàn thiện, phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay

4 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu hệ thống pháp luật cơ bản về tìm kiếm cứu nạn trên biển mà Việt Nam và một số nước trên thế giới như Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản đang thực thi Bên cạnh đó, phân tích, đánh giá việc thực thi các vấn đề trên trong thực tiễn ở Việt Nam và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, hoàn thiện khung pháp lý về tìm kiếm cứu nạn trên biển

5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu đề tài “Pháp luật về tìm kiếm cứu nạn trên biển của Việt Nam và một số nước trên thế giới” nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về

tìm kiếm cứu nạn trên biển tại Việt Nam, góp phần bảo đảm an toàn an ninh hàng hải và cứu trợ kịp thời, hiệu quả cho những người bị lâm nạn trên biển, đem lại hiệu quả thiết thực trong việc chủ động hội nhập hàng hải với khu vực

và thế giới, cũng như tạo miền hấp dẫn cho tàu thuyền đến cảng biển Việt Nam, góp phần phát triển kinh tế đất nước

Trang 12

6 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình

nghiên cứu luận văn đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan

điểm của Đảng cộng sản Việt Nam

Một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu được áp dụng:

Phương pháp phân tích, phương pháp diễn giải: Những phương pháp này được sử dụng phổ biến trong việc làm rõ các quy định của pháp luật Việt

Nam và một số nước trên thế giới về tìm kiếm cứu nạn trên biển

Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh: Những phương pháp này được người viết vận dụng để đưa ra ý kiến nhận xét quy định của pháp luật hiện hành có hợp lý hay không, đồng thời nhìn nhận trong mối tương quan so

với quy định liên quan hoặc pháp luật của các nước khác…

Phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch: Được vận dụng để triển khai có hiệu quả các vấn đề liên quan đến tìm kiếm cứu nạn trên biển, đặc biệt

là các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện Cụ thể như trên cơ sở đưa ra những giải pháp mang tính khái quát, súc tích người viết dùng phương pháp diễn dịch để

làm rõ nội dung của giải pháp đó…

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung

chính của luận văn gồm 3 chương, cụ thể:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống tìm kiếm cứu nạn trên biển

Chương 2: Pháp luật về tìm kiếm cứu nạn trên biển của một số nước

trên thế giới

Chương 3: Pháp luật về tìm kiếm cứu nạn trên biển của Việt Nam và

thực trạng thực thi, các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG TÌM KIẾM CỨU NẠN TRÊN BIỂN

1.1 Một số khái niệm cơ bản

Việc chinh phục những hiểm họa thiên nhiên trên biển luôn gắn liền với các hoạt động nhằm đảm bảo an toàn cao nhất cho con người Cuộc chiến đấu hàng thế kỷ nay của con người với biển dựa trên cơ sở tổ chức tìm kiếm và cứu nạn Phần lớn vấn đề liên quan đến lĩnh vực này đòi hỏi sự tiêu chuẩn hóa thống nhất về luật pháp trong phạm vi mối quan hệ quốc tế cũng như trong quyền xét

xử của từng quốc gia có biển Cho đến nay, vấn đề tìm kiếm cứu nạn trên biển,

kể cả về mặt luật pháp cũng như về mặt tổ chức, kỹ thuật nghiệp vụ đang hướng tới mô hình toàn cầu hóa nhằm đạt được hiệu quả cao nhất

Để phục vụ việc nghiên cứu luận văn, chúng ta đưa ra một số khái niệm

có liên quan đến hoạt động tìm kiếm cứu nạn trên biển như sau [2]:

Tìm kiếm (Search): Một hoạt động nghiệp vụ, thông thường được phối

hợp bởi một Trung tâm phối hợp tìm kiếm cứu nạn hoặc Trung tâm phối hợp cứu nạn khu vực, thông qua việc sử dụng các phương tiện và nhân lực sẵn có

để xác định vị trí của các nạn nhân

Cứu nạn (Rescue): Một hoạt động cứu người bị nạn thoát khỏi nguy hiểm

đang đe dọa đến tính mạng của họ, sơ tán các nạn nhân và chăm sóc y tế ban đầu hoặc đáp ứng các nhu cầu khác cho họ, sau đó đưa họ đến nơi an toàn

Hoạt động tìm kiếm cứu nạn (Search and rescue operation): Thực

hiện việc giám sát tai nạn, thông tin, phối hợp và các nghiệp vụ tìm kiếm, cứu nạn bao gồm cả tư vấn y tế, hỗ trợ y tế ban đầu hoặc sơ tán y tế thông qua việc sử dụng các nguồn lực công cộng hoặc tư nhân, gồm cả việc phối hợp hoạt động của các máy bay, tàu biển hoặc các phương tiện, cơ sở vật chất khác Trong đó:

Trang 14

- “Tìm kiếm cứu nạn xa bờ” (Offshore SAR service) là tìm kiếm và cứu nạn con người, cứu tàu cũng như những đối tượng tài sản khác đang bị đe dọa nguy hiểm trên vùng biển ở cách xa bờ

- “Tìm kiếm cứu nạn ven bờ” (Coastal SAR service) là tìm kiếm và cứu nạn những người đang bị lâm nạn, các tàu đang bị rủi ro ở ven bờ hoặc các đối tượng khác gặp tai nạn mà hoạt động tìm kiếm cứu nạn có thể tiến hành ngay từ phía đất liền

Cứu nạn trên biển (Rescue at sea) là các hoạt động cứu người bị nạn

thoát khỏi nguy hiểm đang đe dọa đến tính mạng của họ, bao gồm cả tư vấn biện pháp y tế ban đầu hoặc các biện pháp khác để đưa người bị nạn đến vị trí an toàn

Cứu hộ trên biển (Salvage at sea) là hoạt động cứu tàu thuyền hoặc tài

sản trên tàu thuyền thoát khỏi nguy hiểm hoặc hoạt động cứu trợ (bao gồm cả việc kéo, đẩy) tàu thuyền đang bị nguy hiểm trên biển, được thực hiện thông qua giao kết hợp đồng cứu hộ giữa tổ chức, cá nhân thực hiện việc cứu hộ với

tổ chức, cá nhân đề nghị cứu hộ

Phương tiện hoạt động trên biển (viết tắt là phương tiện) bao gồm tàu

thuyền, thủy phi cơ, phương tiện thủy nội địa và các phương tiện di động và không di động trên biển

Chủ phương tiện là tổ chức, cá nhân sở hữu hoặc quản lý, khai thác sử

dụng phương tiện

Tìm kiếm cứu nạn trên biển là việc sử dụng lực lượng, phương tiện,

trang thiết bị để xác định vị trí người, phương tiện bị nạn

Lai dắt tàu thuyền là việc lai, kéo, đẩy (hoặc túc trực bên cạnh) tàu

thuyền trên biển và trong vùng nước cảng biển, được thực hiện thông qua giao kết hợp đồng lai dắt giữa chủ tàu thuyền lai dắt và bên thuê lai dắt

Trang 15

Kênh cấp cứu – khẩn cấp (còn gọi là tần số Cấp cứu – Khẩn cấp) là

kênh thông tin Cấp cứu – Khẩn cấp phục vụ công tác tìm kiếm cứu nạn và các hoạt động công ích, nhân đạo khác có liên quan

Tình huống tìm kiếm cứu nạn trên biển là những sự cố do thiên tai,

thảm họa, tai nạn gây ra trên biển có nguy cơ hoặc thực tế đang đe dọa, gây hậu quả tổn thất về người cần thiết phải có các biện pháp ứng phó kịp thời, thích hợp để giảm tới mức thấp nhất thiệt hại có thể xảy ra

Vùng biển Việt Nam là vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền

của Việt Nam bao gồm vùng nội thủy, lãnh hãi, tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Vùng nước cảng biển là vùng nước thuộc quyền quản lý của Cảng vụ

hàng hải được cơ quan có thẩm quyền công bố, bao gồm vùng nước trước cầu cảng, vùng quay trở tàu, khu neo đậu, khu chuyển tải, khu tránh bão, vùng đón trả hoa tiêu, vùng kiểm dịch, vùng xây dựng luồng cảng biển và các công trình phụ trợ khác

Khu vực hạn chế hoạt động trên biển là khu vực được xác lập bởi các

tọa độ trên hải đồ, thuộc lãnh hải Việt Nam nhằm bảo vệ môi trường, trục vớt, tìm kiếm, cứu nạn hoặc diễn tập quân sự

Vùng cấm trên biển là vùng được xác định bằng tọa độ trên hải đồ,

thuộc lãnh hải Việt Nam để bảo đảm cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, ngăn ngừa thảm họa môi trường và dịch bệnh

Chỉ huy hiện trường tìm kiếm, cứu nạn (gọi tắt là Chỉ huy hiện trường) là người điều phối hoạt động phối hợp tìm kiếm, cứu nạn, duy trì liên

lạc giữa hiện trường với Cơ quan chủ trì tìm kiếm, cứu nạn và thực hiện các chỉ dẫn của Cơ quan chủ trì tìm kiếm, cứu nạn để thực hiện hoạt động phối hợp tìm kiếm, cứu nạn tại hiện trường

Trang 16

Cơ quan chủ trì tìm kiếm, cứu nạn trên biển là cơ quan chịu trách

nhiệm điều phối các hoạt động tìm kiếm, cứu nạn trong một vùng hoặc khu vực biển

Đơn vị tìm kiếm, cứu nạn chuyên trách là đơn vị gồm những người

được đào tạo và được cung cấp trang thiết bị phù hợp cho việc tiến hành khẩn trương các hoạt động tìm kiếm và cứu nạn

Đơn vị phối hợp tìm kiếm cứu nạn trên biển là các cơ quan, tổ chức

theo yêu cầu của cơ quan chủ trì hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền phải điều động lực lượng, phương tiện thuộc quyền tham gia hoạt động tìm kiếm, cứu nạn

Phân biệt rõ ràng giữa “cứu nạn” và “cứu hộ”

Qua khái niệm “Cứu nạn trên biển” và “Cứu hộ trên biển” đã được trình bày ở trên, ta nhận thấy được sự khác nhau về bản chất giữa cứu người gặp nạn trên biển vì mục tiêu nhân đạo mang tính bắt buộc phải thực hiện đối với mọi tổ chức, cá nhân khi phát hiện người lâm nạn nếu không nguy hại đến mình với hoạt động cứu hộ tàu thuyền và các hoạt động dịch vụ khác được thực hiện theo giao kết hợp đồng là quan hệ dân sự không mang tính bắt buộc thực hiện Tuy nhiên, “Cứu nạn trên biển” và “Cứu hộ trên biển” có mối quan

hệ chặt chẽ và phối kết hợp với nhau [2]

Thực tiễn, hoạt động tìm kiếm cứu nạn thường liên quan đến hoạt động cứu hộ tàu thuyền như xác định vị trí tàu thuyền gặp nạn, xác định cứu người

bị nạn hay cứu tàu lâm nạn Trường hợp tàu bị nạn, sự cố chưa ảnh hưởng đến

an toàn, sinh mạng của người trên tàu mà tàu cần yêu cầu cứu tàu thì đây là hoạt động cứu hộ Đây là các trường hợp tàu mắc cạn, chết máy, bị sự cố trôi dạt trên biển…và tàu không có khả năng tự khắc phục được, phải nhờ đến sự trợ giúp nhưng chưa dẫn đến khả năng tàu có thể bị chìm, đắm nên chưa gây mất an toàn sinh mạng cho thuyền viên trên tàu Chẳng hạn, tàu chết máy

Trang 17

không khắc phục được phải đề nghị tàu khác đến kéo tàu vào vị trí an toàn để sữa chữa Đây là cứu hộ chứ không phải là lai dắt hàng hải (có sự khác biệt rất rõ ràng giữa dịch vụ lai dắt hàng hải và dịch vụ cứu hộ hàng hải về tính chất, về mức độ chủ động của hoạt động nên cũng rất khác về chi phí phải trả cho lai dắt và cho cứu hộ hàng hải)

Trường hợp tàu bị tai nạn, sự cố phải cứu hộ nhưng do điều kiện bão tố, sóng gió có thể gây mất an toàn sinh mạng cho thuyền viên trên tàu thì việc cứu được tàu cũng đồng nghĩa với việc đã cứu được thuyền viên trên tàu gặp nạn Nếu không có hành động đến cứu tàu bị nạn kịp thời cũng có thể dẫn đến khả năng tàu sẽ bị chìm, đắm đe dọa đến sinh mạng của thuyền viên trên tàu Trường hợp tham gia cứu hộ mà cứu được người bị nạn, thì người có hành động cứu được tính mạng thuyền viên bị nạn được hưởng một khoản tiền thưởng hợp lý trong tiền công cứu hộ hoặc tiền công đặc biệt, nếu hoạt động

đó liên quan đến việc cứu hộ còn người được cứu tính mạng không có nghĩa

vụ trả bất cứu khoản tiền nào cho người đã cứu mình

Trong nhiều trường hợp, quá trình cứu tàu gặp khó khăn do bão tố, sóng gió hoặc những hoàn cảnh không may khác có thể dẫn tới khả năng không cứu được do có nguy cơ mất an toàn hoặc gây nguy cơ chìm, đắm tàu

bị nạn, có khi cả hai (tàu đến cứu hộ và tàu bị nạn) Vì vậy, để bảo đảm an toàn thì tàu đến cứu nạn sẽ tiến hành cứu người bị nạn mà không cứu tàu Trường hợp gây mất an toàn đến sinh mạng những người trên tàu hoặc tàu có nguy cơ bị chìm, đắm hoặc phải bỏ tàu thì ưu tiên hàng đầu là cứu những người bị nạn, đây là hoạt động cứu nạn Tàu chấp nhận đến cứu hộ cũng phải tính đến yếu tố an toàn cho tàu mình và an toàn cho hoạt động cứu hộ Đương nhiên tiền công cứu hộ là điều đầu tiên cần phải giao kết với nhau

Thực tế, nhiều trường hợp do tình huống khẩn cấp phải cứu ngay tàu để giảm thiểu thiệt hại phát sinh, hoạt động cứu hộ được tiến hành ngay mặc dù

Trang 18

chưa giao kết hợp đồng cứu hộ Tuy nhiên, sau khi kết thúc công việc, các chi phí liên quan đến việc cứu tàu, hàng hóa trên tàu sẽ được làm rõ ràng giữa người đề nghị cứu hộ và người thực hiện cứu hộ Trong trường hợp hai bên không thỏa thuận được tiền công cứu hộ thậm chí còn dẫn đến việc bắt giữ tàu

và kiện lên Tòa án để thu hồi tiền công cứu hộ Đã có trường hợp tàu bị hỏng máy chính ở cảng nước ngoài, bị trôi có khả năng gây đâm va vào tàu khác và cầu cảng đã đề nghị tàu lai dắt đến kéo vào vị trí an toàn Do hai bên không thỏa thuận được tiền công kéo tàu nên Tòa án đã bắt giữ tàu để đảm bảo thu hồi chi phí cứu tàu Kết quả phía chủ tàu lai đã thắng kiện vì chứng minh được đó

là hành động cứu hộ và có được số tiền cao hơn rất nhiều so với cách nghĩ “chỉ

là dịch vụ lai kéo của chủ tàu Việt Nam Đương nhiên, án phí và các chi phí kiện tụng tại Tòa án do chủ tàu chịu, nếu chủ tàu đã mua bảo hiểm thân tàu thì công ty Bảo hiểm phải chi trả chi phí này theo hợp đồng bảo hiểm

Như vậy, trong cứu hộ tàu thuyền có tình huống cứu nạn (cứu người gặp nạn) và trong cứu nạn có tình huống cứu hộ tàu thuyền và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Hai hoạt động này cần phối kết hợp với nhau để đáp ứng việc cung cấp những dịch vụ tìm kiếm cứu nạn một cách hiệu quả để hỗ trợ kịp thời cho tàu thuyền, máy bay bị nạn trên biển

1.2 Chức năng của hoạt động tìm kiếm cứu nạn trên biển

Bất cứ một hệ thống tìm kiếm cứu nạn của bất cứ một quốc gia nào đều phải được tổ chức nhằm thực hiện một cách có hiệu quả các chức năng sau [2]:

- Thu nhận và xử lý các thông tin về tai nạn, sự cố;

- Xây dựng kế hoạch phối hợp tìm kiếm cứu nạn;

- Thực hiện các hoạt động tìm kiếm cứu nạn tại hiện trường

Ở hầu hết các khu vực trên thế giới, các nhanh nhất, thực tế và hiệu quả nhất đề thực hiện các chức năng trên là phát triển một hệ thống tìm kiếm cứu nạn của từng quốc gia có khả năng liên kết với các khu vực, đại dương và lục

Trang 19

địa Cách làm này đòi hỏi các quốc gia có biển phải góp phần tích cực trong việc hợp tác và phối hợp với nhau để cùng phát triển và có thể bao quát toàn

bộ khu vực trách nhiệm của mình

Việc nhận thức tầm quan trọng của hệ thống tìm kiếm cứu nạn quốc gia như là một phần không thể thiếu được của hệ thống tìm kiếm cứu nạn toàn cầu là phương pháp tiếp cận chung trong việc thiết lập, trang bị và hoàn thiện

hệ thống tìm kiếm cứu nạn của mỗi quốc gia

Tính nhân đạo, thực tế và cơ bản nhất ở khía cạnh toàn cầu của hoạt động tìm kiếm cứu nạn là nó loại bỏ được việc mỗi quốc gia phải cung cấp các dịch vụ liên quan đến tìm kiếm cứu nạn cho các công dân của mình tại bất

cứ nơi nào trên toàn thế giới Thay vào đó, hệ thống toàn cầu, mà mỗi mắt xích của nó là hệ thống tìm kiếm cứu nạn của từng quốc gia, sẽ hỗ trợ bất cứ

ai gặp nạn, không phân biệt quốc tịch và hoàn cảnh

1.3 Đặc trưng của tổ chức tìm kiếm cứu nạn trên biển

Cùng với việc đưa ra những chuẩn mực, quy định quốc tế về an toàn hàng hải, Tổ chức Hàng hải quốc tế - IMO đã xem xét, nghiên cứu những vấn

đề cụ thể liên quan đến tổ chức hệ thống tìm kiếm cứu nạn trên biển mang tính toàn cầu IMO đã đưa ra những nét đặc trưng của tổ chức tìm kiếm cứu nạn trên biển [2]:

- Phải có phương tiện cảnh báo, phát hiện tàu, tàu bay và người bị nạn hoặc có nguy cơ bị nạn, có phương tiện chuyên dụng để có thể thực hiện việc ứng cứu;

- Trách nhiệm thực hiện công tác tìm kiếm cứu nạn phải được giao cho một tổ chức, cơ quan hoặc đơn vị cụ thể với đầy đủ thẩm quyền huy động nguồn lực của quốc gia và giải quyết mọi vấn đề liên quan khác Tổ chức này có trách nhiệm xây dựng một hệ thống tìm kiếm cứu nạn quốc gia phù hợp với điều kiện, đặc điểm của vùng hoặc khu vực trách nhiệm tìm kiếm, cứu nạn và sửa dụng

Trang 20

- Lực lượng hành động chính, nòng cốt, chủ lực của cơ quan tìm kiếm cứu nạn trên biển là Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn trên biển; mỗi một vùng hoặc khu vực tìm kiếm, cứu nạn cần có một Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn trên biển Trung tâm này chịu trách nhiệm chính trong việc phối hợp

và chỉ đạo thực hiện các hoạt động tìm kiếm cứu nạn trên biển Trong trường hợp không thể thiết lập được mối quan hệ trực tiếp giữa Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn trên biển với các phương tiện tại một khu vực tìm kiếm cứu nạn nào đó (có thể do sự khó khăn về thông tin, liên lạc) thì phải thiết lập một

cơ quan trung gian gọi là Trung tâm cứu nạn khu vực đặt dưới quyền điều hành trực tiếp của Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn trên biển;

- Đối với mỗi vụ việc tìm kiếm cứu nạn cụ thể, phải chỉ định một người làm chỉ huy phối hợp nghiệp vụ cụ thể Chức danh này chỉ tồn tại trong thời gian xử lý vụ việc;

- Cơ quan tìm kiếm cứu nạn trên biển được sử dụng các phương tiện, lực lượng từ các cơ quan, tổ chức liên quan (kể cả những lực lượng tình nguyện), những lực lượng này thường được cơ quan tìm kiếm cứu nạn trên biển ký hợp đồng nguyên tắc hoặc thỏa thuận trước bằng văn bản để đảm bảo rằng trong quá trình tiến hành tìm kiếm cứu nạn những lực lượng sẽ chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Người Chỉ huy phối hợp tìm kiếm cứu nạn Nếu điều kiện cho phép, có thể được tổ chức thành các đơn vị cứu nạn chuyên nghiệp nhằm tăng tính hiệu quả của công tác tìm kiếm cứu nạn

- Phương tiện hỗ trợ chính của cơ quan tìm kiếm cứu nạn trên biển trong việc thu nhận, xử lý kết nối thông tin liên lạc là các Đài thông tin duyên hải Thông tin do các Đài này thu thập được sẽ được truyền ngay đến Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn trên biển và Trung tâm này sẽ quyết định việc hành động ứng phó

Vì cơ cấu hành chính khác nhau nên các quốc gia không thể có cùng một

Trang 21

mô hình thống nhất cho tổ chức tìm kiếm cứu nạn trên biển Mô hình tổ chức tìm kiếm cứu nạn trên biển phụ thuộc nhiều vào các nguồn lực tìm kiếm cứu nạn sẵn

có, loại hình và mật độ giao thông trên biển cũng như đặc điểm của từng vùng, khu vực Những đặc trưng nói trên là cơ sở để các quốc gia tham khảo, thiết lập

tổ chức cứu nạn trên biển phù hợp với hoàn cảnh của nước mình

1.4 Ý nghĩa, vai trò của hoạt động tìm kiếm cứu nạn trên biển

Bảo đảm an toàn cho người, phương tiện tham gia các hoạt động hàng hải

Việt Nam là một quốc gia nằm ở khu vực Đông Nam Á, có tổng diện tích đất liền là 330.991 km2, phía bắc giáp Trung Quốc với chiều dài biên giới 1.150 km, phía tây giáp Lào với chiều dài biên giới 1.650 km, và với Cam-pu-chia 930 km, phía đông và nam giáp Biển Đông với tổng chiều dài đường ven biển là 3.260 km [47]

Việt Nam nằm bên rìa Biển Đông, một biển lớn thứ hai trên thế giới, có đường hàng hải quốc tế đi từ Ấn Độ Dương lên Thái Bình Dương từ bán đảo Đông Dương lên các quần đảo của Châu Đại dương, là cửa ngõ đi vào vùng Đông Nam Châu Á, Bắc Á giàu có Biển Đông còn là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên biển quan trọng cho đời sống và sự phát triển kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là nguồn tài nguyên sinh vật (thủy sản) và phi sinh vật (dầu khí, khoáng sản) [46] Bên cạnh đó, điều kiện tự nhiên của bờ biển Việt Nam là

sự thúc đẩy to lớn cho ngành du lịch Việt Nam, hiện đang đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế của đất nước Biển Việt Nam có vị trí chiến lược quan trọng, là

vị trí giao lưu quốc tế thuận lợi và tiềm năng phát triển các ngành kinh tế biển phong phú và đa dạng Do đó, hoạt động của các phương tiện tham gia trên khu vực biển Việt Nam luôn sôi động, tấp nập với nhiều loại hình, thuộc nhiều thành phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia Đặc biệt, hàng năm trên biển Đông thường xuất hiện từ 10 – 12 cơn bão, áp thấp nhiệt đới, trong đó có

Trang 22

khoảng 5 – 7 cơn ảnh hưởng trực tiếp đến vùng biển Việt Nam Kết quả là, tình hình tai nạn, sự cố trên biển và các nguy cơ dẫn đến tai nạn sự cố đối với hoạt động giao thông trên biển Việt Nam luôn xảy ra và có chiều hướng tăng lên là điều không thể tránh khỏi Chính vì vậy, hoạt động tìm kiếm cứu nạn trên biển

có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm an toàn cho người, phương tiện tham gia hoạt động hàng hải, là điểm tựa tin cậy, nhanh chóng khắc phục, ngăn chặn trước các sự cố hàng hải có thể xảy ra

Bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam trên biển

Trong những năm qua, bên cạnh những thuận lợi trong việc tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng liên quan đến phát triển kinh tế biển trong đó

có việc nuôi trồng, đánh bắt và chế biến hải sản thì cũng có nguy cơ, thách thức đan xen, gắn giữa việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam với phát triển kinh tế biển trong lĩnh vực này

Những tranh chấp trên biển Đông ảnh hướng rất lớn đến môi trường hòa bình, ổn định để chúng ta phát triển kinh tế biển, chính vì vậy việc gắn kết giữa phát triển kinh tế và bảo đảm quốc phòng, an ninh là yêu cầu có tính chiến lược, cũng là yêu cầu có tính cấp bách trong tình hình hiện nay

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì việc tổ chức thực hiện chính sách pháp luật vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế, chính sách chưa đồng bộ, nguồn lực đầu tư hạn chế, cơ chế phối hợp giữa các lực lượng trên biển chưa thật sự chặt chẽ

Trên biển hiện có rất nhiều lực lượng tham gia bảo vệ chủ quyền Việt Nam nhưng đồng thời cũng có nhiều lực lượng thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trên biển Đối với quân đội có ba lực lượng: hải quân, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển Về mặt quản lý nhà nước có kiểm ngư Ngoài ra có lực lượng cứu nạn trên biển

Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta là cương quyết bảo vệ chủ quyền

Trang 23

trên cơ sở phát triển kinh tế biển, tạo tiềm lực quốc phòng, an ninh, đồng thời tạo thế trận quốc phòng an ninh trên biển Nên sự hiện diện của tất cả các lực lượng trên biển đều góp phần khẳng định chủ quyền của chúng ta, trong đó có lực lượng cứu nạn trên biển

Mặt khác, trong tình hình hiện nay, với chủ trương phát triển lực lượng đánh bắt xa bờ để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế thì rõ ràng ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa là những ngư trường vừa mang tính truyền thống nhưng đồng thời là ngư trường thể hiện chủ quyền khi có sự hiện diện của ngư dân

Do vậy, việc bảo đảm và niềm tin cho người dân đánh bắt xa bờ chính là nhờ các lực lượng bảo hộ chủ quyền trên biển khi có sự cố Khi đó, lực lượng cứu nạn trên biển là lực lượng nòng cốt, chủ chốt để tham gia cứu nạn, tạo niềm tin cho bà con ngư dân vươn khơi, bám biển Vì thế, trong vai trò của các lực lượng bảo đảm an ninh trên biển gắn liền với việc phát triển kinh tế thì vai trò lực lượng tìm kiếm cứu nạn trên biển rất quan trọng

Bảo vệ môi trường biển do thảm họa, tai nạn sự cố trên biển có thể gây ra

Hiện nay, các nguồn gây ô nhiễm trong hoạt động hàng hải, thủy sản,

du lịch, dầu khí… liên quan đến việc sử dụng tài nguyên biển rất đa dạng và phức tạp Đó là các nguồn ô nhiễm do dầu (từ dầu được sử dụng làm nhiên liệu, bôi trơn, thủy lực cho tàu, cho đến dầu hàng do tàu vận chuyển); hóa chất lỏng trên tàu; các loại hàng nguy hiểm (chất nổ, chất phóng xạ, chất cháy, chất độc…) vận chuyển bằng tàu; rác thải; nước thải; sơn chống hà sử dụng cho thân tàu; các vật liệu độc hại dùng để đóng tàu; ô nhiễm do sự di chuyển của các loài thủy sinh vật thông qua nước dằn tàu; các bệnh truyền nhiễm lan truyền qua con đường hàng hải; hoạt động phá dỡ tàu cũ, thăm dò

và khai thác dầu khí trên biển

Hoạt động của tàu biển (bao gồm cả tàu cá và tàu hàng) là một trong

Trang 24

những nguồn nhân tạo đóng góp đáng kể vào sự ô nhiễm không khí Chất lượng của tàu biển Việt Nam thường không cao, nhiều phương tiện đã quá cũ, lạc hậu, hiệu suất đốt cháy nhiên liệu thấp và chưa có hệ thống xử lý chất thải… nên đã phát thải nhiều khí độc như SO2, CO2, CO…

Hiện Việt Nam có trên 1.700 tàu vận tải, cùng với số lượng tàu cá khoảng gần 130 nghìn tàu, tương ứng với lượng nhiên liệu xăng dầu tiêu thụ khoảng gần

4 triệu tấn/năm Có thể nói, đây chính là nguồn gây ra ô nhiễm cho vùng biển, ven biển và nhiều nơi, tác động nghiêm trọng đến hệ sinh thái biển, hủy hoại các nguồn tài nguyên biển, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người

Ngoài ra, các thảm họa, tai nạn sự cố trên biển cũng là nguyên nhân khách quan dẫn đến ô nhiễm biển Đặc biệt, sự cố tràn dầu hiện nay đang là mối hiểm họa tiềm tàng đối với các quốc gia ven biển Các sự cố tràn dầu thường để lại hậu quả rất nghiêm trọng làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, tài nguyên thủy sinh, tài nguyên nước, tài nguyên đất trên một khu vực khá rộng, gây thiệt hải đến các hoạt động kinh tế, đặc biệt là các hoạt động có liên quan đến khai thác và sử dụng các dạng tài nguyên thủy sản [48]

Do vậy, nhiệm vụ đặt ra cho mọi lực lượng tham gia hoạt động hàng hải là phải đi đôi với công tác bảo vệ môi trường biển Khi xảy ra sự cố ô nhiễm biển phải áp dụng mọi biện pháp giảm thiểu tới mức thấp nhất nguy cơ

ô nhiễm môi trường biển

1.5 Cơ sở pháp luật về tìm kiếm cứu nạn trên biển

1.5.1 Cơ sở pháp luật quốc tế

Hiện nay, có khoảng 95 công ước quốc tế về hàng hải, trong đó, có các công ước sau về tìm kiếm cứu nạn trên biển [49]:

- Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển, năm 1982 (UNCLOS 82), được đánh giá là bản Hiến pháp về đại dương, với Điều 98 thuộc Phần VII quy định về nghĩa vụ giúp đỡ Đó là cơ sở pháp lý giúp các quốc gia thiết lập

Trang 25

quy chế chung cho vấn đề nghĩa vụ giúp đỡ bất kỳ ai có nguy cơ hoặc đang gặp tai nạn trên biển [16];

- Công ước quốc tế về Tìm kiếm cứu nạn hàng hải năm 1979 (SAR 79) Đây là Công ước quốc tế quan trọng nhất liên quan đến lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn trên biển Công ước SAR 79 được Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO) thông qua ngày 27/4/1979 tại Hamburg (Đức), trên cơ sở các thỏa thuận đã đạt được trước đó và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 22/6/1985 (với hơn 50 nước tham gia), và chính thức có hiệu lực ngày 22/6/1985 Công ước gồm 8 Điều và Phụ lục có 5 Chương kèm theo Công ước SAR 79 được sửa đổi năm 1998 và sửa đổi này có hiệu lực từ ngày 01/01/2000 [25];

- Công ước quốc tế về An toàn sinh mạng con người trên biển, năm

1974 (SOLAS 74) và Nghị định thư bổ sung năm 1978 (SOLAS 74/78) Công ước nhấn mạnh đến nghĩa vụ của các quốc gia ven biển cần phải tiến hành mọi biện pháp cần thiết để cứu giúp những người đang gặp nạn hoặc cần đến

sự giúp đỡ trên khu vực biển trách nhiệm quốc gia của mình cũng như việc tổ chức hệ thống tìm kiếm cứu nạn một cách hiệu quả và kịp thời [23];

- Quy tắc quốc tế về phòng ngừa đâm va tàu thuyền trên biển (COLREG 1972);

- Công ước Viễn thông quốc tế;

- Công ước về Tổ chức vệ tinh hàng hải, năm 1976 (INMARSAT-76)

và Hiệp ước khai thác về Tổ chức vệ tinh hàng hải quốc tế năm 1976 (OA IMARSAT-1976) Mục đích của hệ thống vệ tinh tìm kiếm cứu nạn INMARSAT

là dịch vụ hỗ trợ cho tìm kiếm cứu nạn trên toàn thế giới thông qua việc cung cấp kịp thời những thông tin về vị trí của người, phương tiện bị lâm nạn cho các tổ chức tìm kiếm cứu nạn liên quan [24];

- Sổ tay Tìm kiếm cứu nạn Hàng không – Hàng hải (IAMSAR Manual);

- Tuyên bố ASEAN về hợp tác tìm kiếm cứu nạn người và tàu thuyền

Trang 26

gặp nạn trên biển được thông qua tại Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao ASEAN ngày 25-30/1/2010 tại Hà Nội;

- Thoả thuận giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hoà Phi-Lip-Pin về hợp tác trong lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn ngày 24/2/2011;

- Hiệp định về tạo điều kiện thuận lợi cho việc tìm kiếm tàu biển bị nạn

và cấp cứu người sốt sót của tàu bị nạn, Kuala Lumpur – 1975;

- Các Hiệp định hàng hải được Chính phủ Việt Nam ký kết với Chính phủ các nước có quy định điều khoản cung cấp mọi sự giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau đối với tàu của các bên bị nạn trên các vùng biển thuộc quyền tài phán của mỗi quốc gia;

- Quy định của IMO về thông tin tìm kiếm cứu nạn

Các công ước quốc tế nêu trên đã và đang góp phần mạnh mẽ vào hoạt động tìm kiếm cứu nạn trên biển Hầu hết các quốc gia có biển hay không có biển đều nhận thức sâu sắc việc tham gia các công ước này chính là một công

cụ hiệu quả trong lĩnh vực hàng hải nói chung và hoạt động tìm kiếm cứu nạn nói riêng Vì thế, trong thời gian qua, quá trình các quốc gia ký kết, gia nhập, phê chuẩn và thực thi hiệu quả các công ước quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ

Có thể nói, Việt Nam là một trong các nước thuộc khu vực Đông Nam Á tham gia nhiều các công ước quốc tế về tìm kiếm cứu nạn trên biển Việc tham gia các công ước này mang lại cho Việt Nam nhiều lợi ích thiết thực về phát triển kinh tế, chính trị và xã hội

Các công ước quốc tế về tìm kiếm cứu nạn đều quy định rõ về tổ chức phối hợp giữa các quốc gia thành viên trong phạm vi bờ biển của mình Do đó, khi tham gia các công ước này, Việt Nam chắc chắn sẽ được học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm trong lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn trên biển cũng như nhận được sự giúp đỡ về nhiều mặt như kinh tế, khoa học kỹ thuật từ các nước phát triển

Trang 27

Bên cạnh đó, là thành viên của các công ước, Việt Nam phải đưa ra những quyết sách quan trọng trong lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn trên biển; phải xây dựng, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các văn bản pháp luật không chỉ trong lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn mà còn trong nhiều lĩnh vực khác phù hợp với các cam kết quốc tế Qua đó, góp phần vào sự phát triển và tiến bộ của hệ thống pháp luật Việt Nam

Ngoài ra, việc thực hiện tốt các nghĩa vụ và cam kết quốc tế mà các công ước quốc tế đã quy định giúp tạo ra uy tín cho Việt Nam, tạo niềm tin đối với bạn bè quốc tế, thúc đẩy quan hệ hợp tác trên toàn thế giới Từ đó, nâng cao hơn vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế

Tóm lại, các công ước quốc tế về tìm kiếm cứu nạn trên biển được xây dựng ngày càng nhiều và được các quốc gia trên thế giới gia nhập, ký kết sẽ tạo nên một khung pháp lý cơ bản, thống nhất về tìm kiếm cứu nạn Có như vậy thì hoạt động tìm kiếm cứu nạn trên biển sẽ được nâng cao và phát huy hiệu quả

1.5.2 Cơ sở pháp luật trong nước

Việt Nam là một quốc gia ven biển, có bờ biển dài trên 3.260 km, kinh

tế biển và các ngành liên quan đến biển đóng góp lớn vào nền kinh tế đất nước Năm 1994, nước ta đã phê chuẩn và chính thức trở thành thành viên của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 Trong Nghị quyết của Quốc hội về việc phê chuẩn Công ước 1982, chúng ta đã khẳng định sẽ thực hiện đầy đủ các quy định của Công ước 1982 và từng bước hoàn thiện các quy định pháp luật để phù hợp với các quy định của Công ước Chính vì vậy, Luật biển Việt Nam 2012 ra đời là nhu cầu tất yếu để hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của nước ta, tạo cơ sở pháp lý để xác định các vùng biển Việt Nam và quy chế pháp lý của các vùng biển đó; góp phần bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và các lợi ích khác của Việt Nam Bên cạnh đó, lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn trên biển cũng được quy định rõ ràng trong bộ Luật này

Trang 28

nhằm nêu cao tầm quan trọng của việc thực thi nghĩa vụ nhân đạo, cứu người trên biển cũng như phương thức báo nạn khi gặp sự cố bất ngờ

Ở Việt Nam, luật áp dụng trong hoạt động tìm kiếm cứu nạn trên biển còn có Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015 đã được Quốc hội thông qua ngày 25/11/2015 tại Kỳ họp thức 10 và được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố ngày 8/12/2015, có hiệu lực từ ngày 1/7/2017, thay thế Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2005 Trong bối cảnh hiện tại, Bộ luật Hàng hải 2015 cùng với những quy định mang tính cải cách thủ tục hành chính mạnh mẽ, đã đưa những chính sách mang tính đột phá, khắc phục những bất cập hiện tại Mặt khác, các quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam, đặc biệt là những quy định liên quan đến tìm kiếm cứu nạn trên biển, là những cơ sở pháp lý quan trọng cho các cá nhân, pháp nhân hoạt động trong lĩnh vực đó Nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong việc thực thi Bộ luật này, văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành đã được Chính phủ và Bộ Giao thông vận tải, Cục Hàng hải Việt Nam ban hành như: Quyết định số 06/2009/QĐ-TTg ngày 15/01/2009 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt kế hoạch thực hiện Công ước quốc tế về tìm kiếm cứu nạn hàng hải năm 1979 (Công ước SAR 79); Nghị định số 95/2010/NĐ-CP ngày 16/9/2010 của Chính phủ quy định về cấp phép và phối hợp hoạt động với lực lượng tìm kiếm cứu nạn nước ngoài; Quyết định số 06/2014/QĐ-TTg ngày 20/1/2014 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế phối hợp tìm kiếm, cứu nạn trên biển và trong vùng nước cảng biển; Quyết định số 2727/QĐ-BGTVT ngày 30/7/2015 của Bộ Giao thông vận tải quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải Việt Nam; Thông tư liên tịch số 15/2015/TTLT-BGTVT-BQP-BCA-BNG ngày 06/5/2015 của Bộ Giao thông vận tải, Bộ Quốc phòng, Bộ Công An, Bộ Ngoại giao quy định về cấp phép cho phương tiện, lực lượng đi kèm theo phương tiện nước ngoài vào tìm

Trang 29

kiếm, cứu nạn tại Việt Nam; Quyết định số 02/QĐ-CHHVN ngày 05/1/2016 của Cục Hàng hải Việt Nam ban hành Quy chế Phối hợp tìm kiếm, cứu nạn trên biển và trong vùng nước cảng biển giữa các cơ quan, đơn vị trực thuộc Cục Hàng hải Việt Nam, Công ty TNHH MTV Thông tin điện tử hàng hải Việt Nam; Nghị định số 30/2017/NĐ-CP ngày 21/3/2017 của Chính phủ quy định tổ chức, hoạt động ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn; Nghị định số 58/2017/NĐ-CP của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều của

Bộ luật Hàng hải Việt Nam về quản lý hoạt động hàng hải…

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Việt Nam là một quốc gia ven biển, có bờ biển trải dài hơn 3.260 km,

án ngữ trên các tuyến hàng hải và hàng không huyết mạch giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương; giữa châu Âu, Trung Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực Bờ biển Việt Nam có nhiều tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản phong phú cùng tiềm năng phát triển ngành du lịch biển đã góp phần đưa vị thế của đất nước trở thành một trong những quốc gia biển có nền công nghiệp hàng hải mạnh ở khu vực và trên thế giới trong thời gian qua Mặt khác, khi quy mô, cơ cấu và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế xã hội càng lớn cộng thêm các hiện tượng biến đổi thời tiết, khí hậu khôn lường như hiện nay thì khả năng xảy ra các thảm họa, sự cố càng nhiều, tính chất và thiệt hại gây ra càng trầm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô, cơ cấu của hoạt động tìm kiếm cứu nạn Do đó, cần phải phát triển, nâng cao hiệu quả của hoạt động tìm kiếm cứu nạn nói chung và tìm kiếm cứu nạn trên biển nói riêng Hiệu quả của hoạt động tìm kiếm cứu nạn sẽ góp phần bảo đảm an toàn, tạo tâm lý an tâm cho người, phương tiện tham gia các hoạt động hàng hải, phát triển kinh tế biển; giảm thiểu mức thấp nhất thiệt hại về người, phương tiện, tài sản, kinh tế, bảo vệ môi trường biển do thảm họa, tai nạn, sự

Trang 30

cố trên biển có thể gây ra Ngoài ra, hiệu quả hoạt động tìm kiếm cứu nạn trên biển còn góp phần thực hiện việc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam trên biển, thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của quốc gia có biển trong việc bảo đảm an toàn, tìm kiếm cứu nạn trên vùng biển của Việt Nam và do Việt Nam đảm trách Việc nâng cao hiệu quả của hoạt động tìm kiếm cứu nạn trên biển được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau Một trong số những biện pháp hữu hiệu được nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng và nó cũng phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị cũng như ý thức của người dân Việt Nam là nâng cao bằng pháp luật Việc tham gia các các công ước quốc

về tìm kiếm cứu nạn trên biển đem lại nhiều lợi ích to lớn cho Việt Nam, việc nội luật hóa, đưa các quy định của các công ước đó vào cuộc sống, nhận sự hợp tác, trợ giúp từ các nước thành viên, học tập kinh nghiệm từ các nước có chính sách quản lý biển hiện đại cũng là biện pháp hiệu quả

Trang 31

Chương 2 PHÁP LUẬT VỀ TÌM KIẾM CỨU NẠN TRÊN BIỂN

CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Tìm kiếm cứu nạn trên biển là hoạt động mang tính nhân đạo, không vì mục đích lợi nhuận và là nghĩa vụ, trách nhiệm của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia ven biển Việc phân định ranh giới vùng tìm kiếm cứu nạn không liên quan cũng như ảnh hưởng đến biên giới lãnh thổ giữa các quốc gia Những vùng này chỉ được thiết lập để đảm bảo trách nhiệm chính là công tác phối hợp tìm kiếm cứu nạn và việc phân chia theo địa lý là không tồn tại giữa các quốc gia Trong một số trường hợp, công tác tìm kiếm cứu nạn được cung cấp bởi quốc gia lân cận có năng lực tìm kiếm cứu nạn thích hợp nhất Nhiều vùng tìm kiếm cứu nạn hàng hải trên thế giới đã đạt được thỏa thuận hoàn toàn giữa các quốc gia láng giềng Tuy nhiên, cũng còn nhiều khu vực chưa đạt được thỏa thuận này

Các vùng tìm kiếm cứu nạn được các quốc gia hoặc đơn phương tuyên

bố, hoặc được hoạt động bởi trách nhiệm của quốc gia đó và được các quốc gia láng giềng ngầm chấp thuận Hiện nay, hệ thống tìm kiếm cứu nạn trên thế giới được tạm tạm thời phân chia thành 05 vùng chính, bao gồm:

- Vùng A: Đông Nam Á;

- Vùng B: Vùng tìm kiếm cứu nạn Vịnh Ca-ri-bê và Trung Mỹ;

- Vùng C: Vùng tìm kiếm cứu nạn Châu Âu và Địa Trung Hải;

- Vùng D: Vùng tìm kiếm cứu nạn Vịnh Pecxich;

- Vùng E: Vùng tìm kiếm cứu nạn Bắc Cực

Theo sự phân chia trên, tại mỗi vùng tìm kiếm cứu nạn bao gồm các tiểu vùng tìm kiếm cứu nạn thuộc các quốc gia, giới hạn trách nhiệm tìm kiếm cứu nạn của các quốc gia chồng lấn lên nhau, được các quốc gia tạm thời

Trang 32

tuyên bố đơn phương về thỏa thuận vùng tìm kiếm cứu nạn tại Hội nghị Thái Bình Dương của IMO về tìm kiếm cứu nạn hàng hải và hệ thống an toàn, báo nạn hàng hải toàn cầu Chính vì vậy, hệ thống pháp luật về tìm kiếm cứu nạn của mỗi quốc gia sẽ căn cứ theo mô hình tổ chức hoạt động tìm kiếm cứu nạn của chính quốc gia đó [2]

2.1 Pháp luật về tìm kiếm cứu nạn trên biển của Hoa Kỳ

Hoa Kỳ là quốc gia có diện tích lớn thứ ba trên thế giới với phía tây giáp Thái Bình Dương và phía đông giáp Đại Tây Dương Hoa Kỳ cũng là một trong những quốc gia có bờ biển dài nhất thế giới, 19.924 km Với diện tích vùng biển rộng lớn và khoảng 39% tổng dân số sinh sống dọc bờ biển, từ lâu biển đã trở thành một lợi thế to lớn trong việc phát triển kinh tế - xã hội ở Hoa Kỳ [50] Hoa Kỳ là một trong những nước đi đầu trong việc quản lý biển

và tìm kiếm cứu nạn

Mô hình tìm kiếm cứu nạn trên biển của Hoa Kỳ được đánh giá cao trên thế giới Theo đó, Ủy ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn (National Search and Rescue Committee, NSARC) là Ủy ban cấp Nhà nước, chịu trách nhiệm cao nhất trong việc phối hợp tất cả các cơ quan dân sự có liên quan tiến hành các hoạt động tìm kiếm cứu nạn trong phạm vi lãnh thổ của Hợp chủng quốc Hoa

Kỳ Các thành viên của Ủy ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn bao gồm [33; 34]:

- Bộ An ninh nội địa (Department of Homeland Security, DHS) thực hiện trách nhiệm bảo vệ và ứng phó trước các mối nguy hiểm gây ảnh hưởng đến quốc gia và con người Lực lượng phòng vệ bờ biển Hoa Kỳ (U.S Coast Guard) và Cơ quan quản lý khẩn cấp liên bang (The Federal Emergency Management Agency, FEMA) thuộc sự chỉ đạo của Bộ An ninh nội địa;

- Bộ Giao thông vận tải (Department of Transportation, DOT) chịu trách nhiệm về an toàn giao thông với các cơ quan chuyên trách là Cục Hàng không liên bang (The Federal Aviation Administration, FAA) và Cục Hàng hải (The Maritime Administration, MARAD);

Trang 33

- Bộ Quốc phòng (Department of Defense, DOD) với các bộ phận có khả năng chuyên biệt và cơ sở vật chất tiên tiến thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến quân sự và dân sự, hỗ trợ các hoạt động tìm kiếm cứu nạn khi cần thiết;

- Bộ Thương mại (Department of Commerce, DOC) tham gia hỗ trợ hoạt động tìm kiếm cứu nạn thông qua Viện Hải dương học và Khí quyển Quốc gia (National Oceanic and Atmospheric Administration, NOAA) và Hệ thống vệ tinh NOAA (NOAA SARSAT) bằng dịch vụ phát hiện, định vị người bị nạn cũng như thông tin về dự báo thời tiết biển được sử dụng lập kế hoạch cho các hoạt động tìm kiếm cứu nạn;

- Bộ Nội vụ (Department of the Interior, DOI)/ Dịch vụ vườn quốc gia (National Park Service) hỗ trợ hoạt động tìm kiếm cứu nạn bằng các dịch vụ trên mặt đất và nước thuộc phạm vi, quyền hạn của Dịch vụ vườn quốc gia;

- Bộ Ngoại giao (The Department of State, DOS) chịu trách nhiệm về các vấn đề đối ngoại và quan hệ quốc tế, giám sát, hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp các hoạt động tìm kiếm cứu nạn của Hoa Kỳ với các nước trên thế giới;

- Ủy ban truyền thông liên bang (Federal Communications Commission, FCC) ban hành các quy tắc, quy định cho giao dịch thương mại giữa các Hoa

Kỳ và các nước bằng hệ thống truyền thông, hỗ trợ vị trí địa lý hoạt động tìm kiếm cứu nạn thông qua hệ thống mạng thuộc Ủy ban;

- Cơ quan Hàng không Vũ trụ Quốc gia (National Aeronautics and Space Administration, NASA) hỗ trợ hoạt động tìm kiếm cứu nạn thông qua việc nghiên cứu, phát triển và áp dụng công nghệ vào việc định vị tàu, máy bay, người bị nạn

Trong Ủy ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn, Lực lượng phòng vệ bờ biển Hoa Kỳ (hay còn gọi Lực lượng Tuần duyên Hoa Kỳ) là cơ quan chịu trách nhiệm chỉ huy phối hợp nghiệp vụ tìm kiếm cứu nạn trên biển, đảm trách các vai trò về an toàn hàng hải, an ninh trên biển, quốc phòng và bảo vệ các

Trang 34

nguồn tài nguyên Nằm trong vai trò an toàn hàng hải, tìm kiếm cứu nạn được coi là một trong những nhiệm vụ cơ bản nhất của Lực lượng phòng vệ bờ biển Hoa Kỳ Việc giảm thiểu số người chết, mất tích, bị thương, giảm thiểu thiệt hại tài sản trong các vụ tai nạn, sự cố hàng hải và giảm thiểu ô nhiễm môi trường biển luôn được đặt mục tiêu ưu tiên hàng đầu trong các hoạt động của Lực lượng phòng vệ bờ biển Hoa Kỳ Hệ thống phối hợp tìm kiếm cứu nạn của Lực lượng phòng vệ bờ biển Hoa Kỳ bao gồm các trạm đa chức năng, các tàu thuyền chuyên dụng, máy bay tìm kiếm cứu nạn…được liên kết với nhau bằng một mạng thông tin hoàn chỉnh Lực lượng phòng vệ bờ biển Hoa Kỳ được công nhận là một trong những tổ chức hàng đầu về tìm kiếm cứu nạn trên toàn thế giới

Với cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động như trên, hệ thống pháp luật về tìm kiếm cứu nạn trên biển của Hoa Kỳ quy định rất rõ ràng và chặt chẽ

Đầu tiên, khi nói đến các vấn đề liên quan đến biển, không thể không nhắc đến Công ước Luật biển năm 1982 (UNCLOS 1982), được coi là hiến pháp của thế giới về các vấn đề biển và đại dương Ra đời từ năm 1982 và có hiệu lực từ năm 1994, Công ước luật biển năm 1982 đã được hơn 160 quốc gia phê chuẩn Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại, Hoa Kỳ vẫn chưa phê chuẩn để trở thành thành viên chính thức của Công ước này mặc dù đã tích cực tham gia vào quá trình đàm phán, soạn thảo Công ước Tại Hoa Kỳ, tồn tại hai luồng ý kiến trái chiều về việc tham gia UNCLOS 1982 Một mặt quan điểm cho rằng, Hoa Kỳ là một trong những quốc gia có đường bờ biển dài nhất thế giới và có thềm lục địa mở rộng rộng nhất thế giới, nên sẽ được lợi nhiều nhất từ việc tham gia UNCLOS 1982 Việc này sẽ tạo cơ sở pháp lý cho Hoa Kỳ có các quyền tự do hàng hải và tiếp cận toàn cầu cho các tàu thuyền thương mại và quân sự, máy bay và các đường cáp quang dưới đáy biển, thay

vì như hiện nay phải thực hiện quyền tự do hàng hải thông qua tập quán quốc

Trang 35

tế Bên cạnh đó, các công ty dầu khí của Hoa Kỳ trước đây chưa có đủ công nghệ để tận dụng những quy định của UNCLOS 1982 về thềm lục địa, nhưng nay các công ty này đã có khả năng và sẵn sàng khai thác các vùng này Nếu tham gia UNCLOS 1982, Hoa Kỳ sẽ nhận được sự công nhận của quốc tế về quyền chủ quyền, trong đó có việc sử dụng các thủ tục nêu trong Công ước, cho phép các công ty dầu lửa cơ sở pháp lý để thực hiện việc khai thác Ngoài

ra, khi tham gia UNCLOS 1982, Hoa Kỳ vừa bảo vệ được lợi ích của mình, vừa chi phối được các cuộc thảo luận để tác động vào các thể chế liên quan tới luật biển Tham gia UNCLOS 1982, Hoa Kỳ có thể mở rộng nguồn tài nguyên và quyền tài phán kinh tế không chỉ trong phạm vi 200 hải lý ngoài khơi bờ biển Hoa Kỳ mà cả thềm lục địa được mở rộng ra ngoài phạm vi 200 hải lý, đặc biệt tại vùng Bắc Cực, một khu vực ngày càng quan trọng về kinh

tế và an ninh Mặt khác, theo quan điểm phản đối tham gia UNCLOS 1982, Hoa Kỳ là một cường quốc biển, hiện diện khắp nơi trên thế giới và có quyền

tự do hàng hải lâu đời Quyền tự do hàng hải mà Hoa Kỳ có được là nhờ sự kết hợp giữa những nguyên tắc hợp pháp lâu đời và sự hiện diện liên tục của hải quân mà chẳng bị ràng buộc bởi bất kỳ công ước, cơ quan hay tổ chức nào Thậm chí, phe phản đối còn cho rằng Hoa Kỳ sẽ tự hạn chế quyền tự do hàng hải nếu tham gia UNCLOS 1982 Theo đó, hiện nay Hoa Kỳ có thể di chuyển đến bất kỳ nơi đâu trên thế giới (trừ vùng nội thủy của các nước khác)

và vẫn có “quyền đi lại không gây hại” ở vùng lãnh hải của bất cứ quốc gia nào Thế nhưng, nếu tham gia UNCLOS 1982, Hoa Kỳ sẽ phải xin phép để được đi qua vùng đặc quyền kinh tế của các nước khác Đây là việc mà một siêu cường như Hoa Kỳ khó có thể chấp nhận Hơn thế nữa, bảo mật quân sự của Hoa Kỳ cũng bị ảnh hưởng khi tham gia UNLOS 1982 vì phải chia sẻ thông tin tình báo, quân sự trên biển với Cơ quan Quản lý lòng biển quốc tế (ISA) nếu được yêu cầu Đồng thời, Hoa Kỳ sẽ phải thông báo và xin phép

Trang 36

ISA khi đi qua các eo biển quốc tế Chỉ riêng việc một tổ chức không phải của Hoa Kỳ có quyền yêu cầu Hoa Kỳ báo cáo các thông tin hàng hải, quân sự đã

là một điều khó có thể thực thi Một ý kiến phản đối còn cho rằng tham gia UNCLOS 1982 không giúp gì cho việc phát triển hoặc đảm bảo vị thế chủ thể của các nguồn tài nguyên khí đốt tại các vùng thềm lục địa mở rộng và Hoa

Kỳ sẽ phải mất một khoản thu lớn do phải nộp phí khai thác tại các khu vực chung của quốc tế

Trái ngược lại với việc trì hoãn gia nhập Công ước luật biển năm 1982, Hoa Kỳ lại là một trong những nước thành viên đầu tiên của Công ước quốc

tế về Tìm kiếm cứu nạn hàng hải năm 1979 (SAR 79), 12/8/1980 Nhằm thực hiện nhiệm vụ quan trọng nhất của Công ước đó là bảo đảm an toàn sinh mạng con người trên biển, Hoa Kỳ đã quy định rõ về trách nhiệm, nghĩa vụ của các lực lượng tham gia tìm kiếm cứu nạn, thực thi các giải pháp cần thiết nhằm giảm thiểu rủi ro cho người và phương tiện hoạt động trên biển Theo

đó, Lực lượng phòng vệ bờ biển Hoa Kỳ là lực lượng nòng cốt, luôn sẵn sàng khi có sự cố xảy ra

Tại chương II của Công ước SAR 79 quy định về tổ chức phối hợp các hoạt động tìm kiếm cứu nạn trên biển, các quốc gia thành viên phải đảm bảo

có những kế hoạch cần thiết trong việc cung cấp các dịch vụ tìm kiếm cứu nạn phù hợp với những người gặp nạn trên biển trong phạm vi bờ biển của mình Cụ thể, Hoa Kỳ đã có sự phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ giữa các phương tiện tìm kiếm cứu nạn hùng mạnh và các trung tâm, tiểu trung tâm phối hợp cứu nạn Ở đây là Lực lượng phòng vệ bờ biển khu vực Đại Tây Dương và khu vực Thái Bình Dương Bên cạnh đó, Hoa Kỳ phân chia vùng trách nhiệm tìm kiếm cứu nạn thành các khu vực tìm kiếm cứu nạn trên biển

và trên đất liền, duy trì các phương tiện thường trực tìm kiếm cứu nạn dọc theo bờ biển và các vịnh, tại Alaska, đảo Hawaii, Guam và Puerto Rico cũng

Trang 37

như hồ Great và vùng nội thủy Hoa Kỳ [35] Thêm vào đó, theo quy định của Công ước, các trung tâm phải có đầy đủ những phương tiện để tiếp nhận thông tin cấp cấp cứu cũng như liên lạc với đơn vị cứu nạn và các trung tâm phối hợp cứu nạn, các tiểu trung tâm trong khu vực lân cận một cách thích hợp nhất Đáp ứng yêu cầu này, Hệ thống tự động hỗ trợ cứu nạn tàu (Automated Mutual-Assistance Vessel Rescue System, AMVER) đã ra đời và trực thuộc Lực lượng phòng vệ bờ biển Hoa Kỳ Đây là hệ thống cơ sở dữ liệu duy nhất như một hệ thống thông báo tàu mang tính toàn cầu và hoàn toàn tự nguyện Các cơ quan chức năng về tìm kiếm cứu nạn trên toàn thế giới

có thể sử dụng hệ thống AMVER để hỗ trợ các hoạt động tìm kiếm cứu nạn trên biển Nhiệm vụ của hệ thống AMVER là cung cấp nhanh chóng, theo yêu cầu, cho các cơ quan chức năng tìm kiếm cứu nạn các thông tin về vị trí và đặc điểm của các tàu đang hoạt động trong khu vực xảy ra tai nạn Với hệ thống này, người chỉ huy phối hợp tìm kiếm cứu nạn có thể nhận dạng được các tàu thuyền đang hoạt động trong khu vực tai nạn để yêu cầu các tàu thuyền này có các hoạt động hỗ trợ cứu nạn

Tại chương III của Công ước SAR 79, sự hợp tác chung giữa các quốc gia trong hoạt động tìm kiếm cứu nạn được quy định rất rõ Để việc phối hợp cứu nạn được thuận lợi, Công ước SAR 79 cũng khuyến cáo các quốc gia trong vấn đề hợp tác giữa các nước về tìm kiếm cứu nạn đó là tăng cường đàm phán, ký kết các hiệp định và thỏa thuận song phương, đa phương giữa các quốc gia trong khu vực nhằm thống nhất, cụ thể hóa với nhau về các vấn

đề liên quan đến hợp tác, phối hợp trong hoạt động tìm kiếm cứu nạn Tính đến thời điểm hiện tại, Hoa Kỳ đã có những thỏa thuận hợp tác với các nước như Mexico, Bồ Đào Nha về tìm kiếm cứu nạn trên biển Nổi bật là thỏa thuận hợp tác về tìm kiếm cứu nạn hàng không – hàng hải trong vùng biển Bắc Cực với các nước thành viên: Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Ai-xơ-len,

Na Uy, Nga và Thụy Điển

Trang 38

Cũng giống như Công ước SAR 79, Hoa Kỳ là một trong những nước phê chuẩn sớm nhất Công ước quốc tế về An toàn sinh mạng con người trên biển (SOLAS 1974) vào ngày 07/9/1978 Liên quan đến tìm kiếm cứu nạn trên biển, trong Chương V, Điều 7, 8, 9 của SOLAS 1974 quy định:

Mỗi chính phủ ký kết có trách nhiệm áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết để đảm bảo việc thông tin và phối hợp cứu hộ những người gặp tai nạn trên biển và xung quanh bờ biển của quốc gia đó Những biện pháp này phải bao gồm việc thiết lập, sử dụng và duy trì phương tiện cứu hộ trên biển, được coi là cần thiết và có thể thực hiện được, căn cứ vào mật độ tàu qua lại và những mối nguy hiểm đối với hàng hải, phải đảm bảo đủ các phương tiện để phát hiện và cứu những người đó [23]

Đó cũng chính là cơ sở ra đời của Lực lượng phòng vệ bờ biển Hoa Kỳ Ngoài các công ước quốc tế nổi bật và quan trọng liên quan đến tìm kiếm cứu nạn trên biển thì Sổ tay tìm kiếm cứu nạn hàng không – hàng hải (IAMSAR Manual) cũng được nhiều nước trên thế giới áp dụng Và Hoa Kỳ cũng không phải ngoại lệ IAMSAR Manual là ấn phẩm phát hành bởi Tổ chức Hàng hải thế giới (IMO) và Tổ chức Hàng không thế giới (ICAO) Đây

là một tài liệu rất tổng hợp, toàn diện, đề cập đến tất cả các mặt như tính nhân đạo, pháp lý, nghiệp vụ… của công tác tìm kiếm cứu nạn, thâu tóm các nội dung cơ bản và tổng quát về công tác phối hợp tìm kiếm cứu nạn trên không

và trên biển, được sử dụng chung trên toàn thế giới Hoa Kỳ đã có một bước tiến lớn so với các nước khác khi Ủy ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn (NSARC) đã phát hành Phụ lục về tìm kiếm cứu nạn quốc gia trong phạm vi khuôn khổ Hoa Kỳ (U.S National Search and Rescue Supplement) bổ sung cho IAMSAR Manual Phụ lục mới nhất được phát hành vào ngày 23/4/2018 Bản phụ lục mới này được coi là đầy đủ, tổng quát hơn phiên bản cũ, cung

Trang 39

cấp một cái nhìn toàn cảnh chung về những điểm chính và hoạt động tìm kiếm cứu nạn, bám sát mô hình tổ chức của hệ thống tìm kiếm cứu nạn Hoa

Kỳ, cũng như hỗ trợ cho Kế hoạch tìm kiếm cứu nạn quốc gia (National SAR Plan) và IAMSAR Manual

Một văn bản pháp luật quan trọng khác mà Hoa Kỳ luôn bám sát, đó là

Kế hoạch tìm kiếm cứu nạn quốc gia (National SAR Plan), một tài liệu về chính sách của Hoa Kỳ nhằm thiết lập vùng tìm kiếm cứu nạn trong nước cũng như các khu vực mà Hoa Kỳ có các cam kết quốc tế Kế hoạch tìm kiếm cứu nạn quốc gia phân chia vùng trách nhiệm tìm kiếm cứu nạn của Hoa Kỳ thành các khu vực tìm kiếm cứu nạn trên biển và trên đất liền Các khu vực tìm kiếm cứu nạn này mang tính quốc tế hóa rất cao Toàn bộ vùng trách nhiệm tìm kiếm cứu nạn trên biển và đất liền của Hoa Kỳ được chia làm 17 khu vực Lực lượng phòng vệ bờ biển chịu trách nhiệm phối hợp tìm kiếm cứu nạn trên biển với 11 khu vực

Cả hai văn bản pháp luật là Phụ lục về tìm kiếm cứu nạn quốc gia trong phạm vi khuôn khổ Hoa Kỳ và Kế hoạch tìm kiếm cứu nạn quốc gia đều quy định rất chi tiết về nghĩa vụ và trách nhiệm của Lực lượng phòng vệ bờ biển Hoa Kỳ Điều đó khẳng định vị trí quan trọng của lực lượng này trong quá trình tìm kiếm cứu nạn trên biển Để hiểu rõ hơn về Lực lượng phòng vệ bờ biển Hoa Kỳ, trong Mục 1, Bộ luật Hoa Kỳ đã định nghĩa:

Lực lượng phòng vệ bờ biển Hoa Kỳ, được thành lập vào ngày 28 tháng 1 năm 1915, sẽ là một lực lượng quân sự và quân chủng của lực lượng vũ trang của Hoa Kỳ trong mọi thời gian Lực lượng phòng vệ bờ biển Hoa Kỳ sẽ là lực lượng nằm trong Bộ An ninh nội địa, trừ lúc hoạt động trong vai trò một lực lượng thuộc Hải quân [32, Điều 14]

Cách thức tổ chức và hoạt động của Lực lượng phòng vệ bờ biển Hoa

Trang 40

Lực lượng phòng vệ bờ biển Hoa Kỳ được đặt dưới quyền của Bộ An ninh nội địa Hoa Kỳ, báo cáo trực tiếp với Bộ trưởng Bộ An ninh nội địa Hoa Kỳ Trước đó, Lực lượng phòng vệ bờ biển Hoa Kỳ thuộc quyền kiểm soát của Bộ Giao thông vận tải Việc chuyển giao đã được hoàn thành vào ngày 01/3/2003 Tuy nhiên, một số điều khoản về hoạt động của Lực lượng phòng

vệ bờ biển Hoa Kỳ đã được sửa đổi vào năm 2006 Theo mục 211, Luật Lực

lượng phòng vệ bờ biển Hoa Kỳ [36], “Khi có chiến tranh xảy ra, dưới sự

hướng dẫn của Quốc hội hoặc Tổng thống, Lực lượng phòng vệ bờ biển có thể được đặt dưới quyền của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ và sẽ trở thành một lực lượng quân sự của Bộ Hải quân Hoa Kỳ” Ngoài vai trò như một lực lượng vũ

trang thì Lực lượng phòng vệ bờ biển Hoa Kỳ còn có vai trò cơ quan thi hành luật pháp Mục 2, Điều 14, Bộ luật Hoa Kỳ cho phép Lực lượng phòng vệ bờ biển thi hành Luật liên bang Quyền lực này còn được nói thêm trong Mục 89, Điều 14, Bộ luật Hoa Kỳ, cho phép các sĩ quan, hạ sĩ quan của Lực lượng phòng vệ bờ biển thi hành luật pháp Chi tiết hơn, tại Mục 1589a, Điều 19, Bộ luật Hoa Kỳ, Lực lượng phòng vệ bờ biển được các quyền như sau:

(1) mang vũ khí;

(2) thi hành và phục vụ bất cứ mệnh lệnh, lệnh khám xét, triệu tập hoặc quy trình nào khác được ban hành theo thẩm quyền của Hoa Kỳ;

(3) thực hiện việc bắt giữ mà không cần lệnh khi có sự hiện diện của nhân viên công vụ đối với bất cứ vi phạm nào chống lại Hoa Kỳ hay đối với một trọng tội mà theo Luật Hoa Kỳ đã xảy ra không có sự hiện diện của nhân viên thi hành công vụ và nếu người thi hành công vụ có cơ sở tin rằng người đó phải bị bắt vì đã thực hiện hay đang thực hiện một trọng tội;

(4) thực thi các nhiệm vụ thi hành luật pháp khác mà Bộ trưởng An ninh nội địa có thể giao phó [36]

Ngày đăng: 15/11/2019, 21:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w