Luận văn góp phần nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận có liên quan đến thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, đánh giá kết quả cũng như thiếu sót, tồn tại và đề ra một số giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng của việc thực hiện chức năng này của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN ĐÌNH THIỆN
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ
ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN (TRÊN CƠ SỞ THỰC TIỄN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN ĐÌNH THIỆN
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ
ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN (TRÊN CƠ SỞ THỰC TIỄN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Mạnh Hùng
Hà Nội - 2018
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu nêu trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa
vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Đình Thiện
Trang 4THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 8
1.1 Một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các
vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện 8 1.1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện 81.1.2 Phân biệt hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra trong giai đoạn điều tra với hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát trong giai đoạn tố tụng khác 19 1.1.3 Căn cứ của việc quy định thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các
vụ án hình sự 21 1.1.4 Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự 311.2 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự 341.2.1 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự 34 1.2.2 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về kiểm sát điều tra vụ án hình sự 51
ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH 59
Trang 52.1 Một số đặc điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của tỉnh Bắc Ninh 59 2.2 Kết quả đạt được trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện 61 2.3 Đánh giá kết quả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện 66 2.4 Những hạn chế, tồn tại trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự và nguyên nhân 73 2.4.1 Những tồn tại, hạn chế 73 2.4.2 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 76
LƢỢNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC
3.1 Hoàn thiện pháp luật về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ
án hình sự 80 3.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện 843.2.1 Tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện 843.2.2 Tăng cường quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra, nâng cao trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với điều tra 88 3.2.3 Chủ động công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, trình độ và năng lực chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán
bộ, Kiểm sát viên cấp huyện 923.2.4 Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc cho Viện kiểm sát cấp huyện và hoàn thiện chính sách đãi ngộ phù hợp với đặc thù của ngành Kiểm sát nhân dân 94
KẾT LUẬN 98 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự CQĐT : Cơ quan điều tra
KSĐT : Kiểm sát điều tra THQCT : Thực hành quyền công tố TTHS : Tố tụng hình sự
VKS : Viện kiểm sát VKSND : Viện kiểm sát nhân dân
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả hoạt động THQCT trong khởi tố vụ án hình sự của Viện
kiểm sát cấp huyện tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2012 - 2017 63
Bảng 2.2 Số liệu so sánh tổng số kết thúc điều tra trên tổng số khởi tố vụ án
và khởi tố bị can giai đoạn 2012 - 2017 64
Bảng 2.3 Số liệu Viện kiểm sát trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ
sung giai đoạn 2012 - 2017 65
Bảng 2.4 Số vụ án Toà án trả hồ sơ Viện kiểm sát để điều tra bổ sung giai
đoạn 2012 - 2017 65
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là đặc trưng riêng
có của bộ máy Nhà nước xã hội chủ nghĩa, là một trong những thiết chế kiểm soát quyền lực nhà nước Ở nước ta, Hiến pháp năm 1959 đã quy định: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hoà kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan Nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân” và đến nay Hiến pháp năm 2013 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” Trải qua từng giai đoạn lịch sử, chức năng, nhiệm vụ của VKSND đã được điều chỉnh, nhưng chức năng thực hành quyền công tố (THQCT) và kiểm sát hoạt động tư pháp là không thay đổi (mặc dù được quy định ở phạm vi khác nhau), phản ánh nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước xã hội chủ nghĩa và cũng là sự tin tưởng của Đảng, Nhà nước và nhân dân giao trọng trách cho VKSND Nhìn lại chặng đường cải cách tư pháp, VKSND đã đạt được rất nhiều thành tựu quan trọng Đó là thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, góp phần giữ vững an ninh, chính trị, trật
tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế xã hội và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, đồng thời đã khẳng định được vị trí, vai trò là cơ quan trọng yếu không thể thiếu trong bộ máy nhà nước Trước yêu cầu ngày càng cao của công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, Đảng và Nhà nước liên tục yêu cầu Viện kiểm sát (VKS) phải tăng cường trách nhiệm công tố Điều này được thể hiện ngay từ những năm đầu VKSND mới thành lập, năm 1967,
đồng chí Trường Chinh đã kết luận: “ Không có cơ quan nào có thể thay thế
ngành Kiểm sát để sử dụng quyền công tố Bắt giam, điều tra, tha, truy tố, xét
xử, có đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay không, có đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước hay không, điều đó chính là Viện kiểm sát
Trang 9phải trông nom, bảo đảm, làm tốt ” [23] Đến giai đoạn tiến hành công cuộc
cải cách tư pháp, ngày 21/3/2000, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số
53-CT/TW trong đó đã xác định: “Tăng cường trách nhiệm pháp lý của Viện
kiểm sát nhân dân với công tác bắt, giam, giữ, việc bắt, giam phải được xem xét phê chuẩn đối với từng trường hợp, từng đối tượng cụ thể; đối với trường hợp bắt, giam cũng được hoặc không bắt, giam cũng được thì không bắt, giam Sai sót trong việc giam giữ ở địa phương nào thì trước hết Viện kiểm sát nhân dân ở địa phương đó phải chịu trách nhiệm” [6] Tiếp đến các Nghị
quyết của Bộ Chính trị như: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết
số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đều nhấn mạnh vai trò công tố, tăng cường công tác kiểm sát việc bắt, giam, giữ đảm bảo đúng luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm, người phạm tội, VKS phải chịu trách nhiệm về những oan, sai theo quy định của pháp luật Đặc biệt, lần đầu tiên trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XI của Đảng đã yêu cầu Viện kiểm sát “ bảo đảm tốt hơn các
điều kiện để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp tăng cường trách nhiệm công tố, gắn công tố với hoạt động điều tra ” [10] Điều này thể hiện Đảng
và Nhà nước rất quan tâm đối với công tác kiểm sát, trong đó yêu cầu phát huy vai trò, trách nhiệm công tố trong đấu tranh phòng, chống tội phạm
Nhận thức và quán triệt nghiêm túc tinh thần Nghị quyết của Đảng trước yêu cầu cải cách tư pháp, ngành Kiểm sát cần phải tiếp tục đổi mới, khắc phục những tồn tại, hạn chế, mà thực tiễn cho thấy thời gian qua đã xảy
ra việc bỏ lo ̣t tô ̣i pha ̣m, làm oan, sai người vô tô ̣i ở mô ̣t số nơi, tại một số thời điểm, trong đó có lỗi của VKS Một trong những nguyên nhân là do việc nghiên cứu lý luận về quyền công tố và THQCT trong tố tụng hình sự
Trang 10(TTHS), trong đó có THQCT và kiểm sát điều tra (KSĐT) các vụ án hình sự, còn chưa được quan tâm đúng mức Bên ca ̣nh đó những vấn đề về THQCT và KSĐT các vụ án hình sự cũng còn nhiều vấn đề cần đượ c giải quyết như : Thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, mối quan hệ giữa THQCT và KSĐT, những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi THQCT và KSĐT Nhất là tránh sự thụ động trong hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án hình sự khi những đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước đã được luật hoá trong BLTTHS năm
2015, bổ sung về nhiệm vụ và trách nhiệm đối với Viện kiểm sát
Để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án hình sự của VKSND, đồng thời làm sáng tỏ hơn một số vấn đề lý luận
và thực tiễn thông qua hoạt động của VKSND cấp huyện, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng của hoạt động này theo quy định của BLTTHS năm 2015,
tác giả chọn đề tài: “Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án
hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Bắc Ninh)” làm Luận văn thạc sĩ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu
Thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp là chức năng hiến định của VKSND Để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ đặt ra cho VKSND, pháp luật đã quy định cụ thể thẩm quyền của VKSND các cấp trong từng giai đoạn để thực hiện chức năng hiến định này Về vấn đề này, đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả khác nhau đã được công bố Đáng chú ý là các công trình sau:
- Luận án tiến sĩ Luật học “Quyền công tố ở Việt Nam”, của Lê Thị
Tuyết Hoa, 2002
- “Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong
giai đoạn điều tra”, của Lê Hữu Thể (chủ biên), Nhà xuất bản Tư pháp, 2005
Trang 11- Luận văn thạc sĩ Luật học: “Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền
công tố ở giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân”, của Trịnh Duy
Tám, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2005
- Luận văn thạc sĩ Luật học: “Chất lượng thực hành quyền công tố và
kiểm sát điều tra các vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội”, của Hà Thị
Minh Hạnh, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2007
- Luận văn thạc sĩ Luật học: “Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát
nhân dân”, của Phan Thị Thuý Lan, Học viện Hành chính Quốc gia, 2007
- Luận văn thạc sĩ Luật học: “Nâng cao chất lượng thực hành quyền
công tố của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong cải cách tư pháp ở nước ta”, của Lương Thuý Hà, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012
- Luận văn thạc sĩ Luật học: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thực
hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội”, của Cao
Việt Cường, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013
- Luận văn thạc sĩ Luật học: “Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều
tra đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội”, của Dương Thị
Thu Hoà, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015
- Luận văn thạc sĩ Luật học: “Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều
tra vụ án gây rối trật tự công cộng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên”, của Phạm
Thị Thuý, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015
- Luận văn thạc sĩ Luật học: “Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều
tra các vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn thành phố Hà Nội”, của Nguyễn
Ngọc Ánh, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2016
Trang 12- Luận văn thạc sĩ Luật học: “Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều
tra các vụ án về ma tuý ở thành phố Hà Nội”, của Nguyễn Mạnh Tùng,
Trường Đại học Luật Hà Nội, 2016
Ngoài ra, còn có các bài viết của các tác giả khác với các ý kiến và quan điểm khác nhau được đăng trên các báo và Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Luật học, các báo cáo tổng kết công tác, các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ
Trong Luận văn, tác giả đã kế thừa có chọn lọc các kết quả của những công trình nghiên cứu có trước, tiếp tục bổ sung, phát triển hơn nữa, góp phần làm sáng tỏ vấn đề khi BLTTHS năm 2015 đã bổ sung nhiệm vụ và trách
nhiệm của VKSND đối với hoạt động này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Để đạt được mục tiêu trên, Luận văn tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, mối quan hệ giữa THQCT và KSĐT, những quy định của BLTTHS năm 2015 về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi THQCT và KSĐT, tìm hiểu thực trạng của hoạt động này ở VKSND cấp huyện trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Trên cơ sở đó, đánh giá chất lượng của công tác này, những kết quả đã đạt được, những vấn đề thiếu sót, tồn tại và làm
rõ nguyên nhân của chúng, đồng thời đề xuất các giải pháp khắc phục để nâng cao chất lượng hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án hình sự
Trang 13- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn hoạt động THQCT và KSĐT của Viện kiểm sát cấp huyện trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, đồng thời phân tích làm rõ những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
- Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án hình sự
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, mối quan hệ giữa THQCT và KSĐT, những quy định của BLTTHS năm 2015 về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi THQCT
và KSĐT, thực tiễn hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án hình sự của VKSND cấp huyện trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh từ năm 2012 đến năm 2017
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm và tư tưởng chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới toàn diện đất nước nói chung về cải cách tư pháp nói riêng, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước ta trong TTHS, Luận văn sử dụng các phương pháp logic và lịch sử, kết hợp lý luận và khảo sát thực tiễn, phân tích và tổng hợp, thống kê và so sánh
6 Tính mới và những đóng góp của đề tài
- Điểm mới của đề tài: Luận văn đã làm rõ một số vấn đề lý luận và
thực tiễn về hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án hình sự
- Về mặt lý luận: Luận văn góp phần nghiên cứu làm rõ một số vấn đề
lý luận có liên quan đến THQCT và KSĐT của VKSND cấp huyện trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, đánh giá kết quả cũng như thiếu sót, tồn tại và đề ra các giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng việc thực hiện chức năng này của VKSND cấp huyện
Trang 14- Về mặt thực tiễn: Luận văn góp phần nhận thức đúng đắn vai trò công
tố, THQCT, tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, chủ động hơn trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về thực
hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
Chương 2: Thực tiễn thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ
án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và kiến nghị nâng cao chất lượng thực
hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
Trang 15CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ
ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
1.1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các
vụ án hình sự hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
1.1.1.1 Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra là hai chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong đó có Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
Việc nhận thức đúng đắn về khái niệm, đặc điểm, phạm vi của hoạt động THQCT trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự có ý nghĩa quan trọng
cả về lý luận và thực tiễn, bảo đảm tính khách quan, truy tố đúng người, đúng tội, góp phần chống oan, sai và bỏ lọt tội phạm
Trước khi tìm hiểu về khái niê ̣m , đă ̣c điểm, phạm vi của THQCT trong giai đoa ̣n điều tra các vu ̣ án hình sự, chúng ta cần phải xác định được khái niê ̣m và phạm vi của thực hành quyền công tố
- Quyền công tố
Để hiểu rõ về thực hành quyền công tố, trước hết cần tìm hiểu về quyền
công tố: Khái niệm, nội dung và phạm vi của nó cả trên phương diện lý luận
và thực tiễn ở Việt Nam
Trong khoa học luật TTHS, việc xác định khái niệm quyền công tố và THQCT có ý nghĩa xác định chính xác vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của VKS trong hệ thống cơ quan nhà nước
Trang 16Khái niệm quyền công tố trong khoa học luật ở Việt Nam được các nhà nghiên cứu đưa ra trong các công trình nghiên cứu và có nhiều quan điểm khác nhau
Theo nghĩa hẹp, quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội, quyền công tố chỉ
có trong lĩnh vực TTHS Được thể hiện trong phạm vi (giới hạn) từ sau khi kết thúc việc điều tra tội phạm và vụ án hình sự được chuyển sang VKS để truy tố người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm trước Tòa án kết thúc bằng một bản án có hiệu lực pháp luật (hoặc quyết định đình chỉ của Toà án) đối với người đó, tức là trong hai giai đoạn của TTHS, truy tố bị can và buộc tội bị cáo của VKS tại phiên tòa xét xử của Tòa án
Theo nghĩa rộng, quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội, quyền công tố chỉ
có trong lĩnh vực TTHS Được thể hiện trong phạm vi (giới hạn) từ khi tiếp nhận giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra đến truy tố bị can ra Toà, tranh tụng tại phiên toà và kết thúc bằng một bản án có hiệu lực pháp luật (hoặc quyết định đình chỉ của Toà án) đối với người hoặc pháp nhân thương mại đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm, tức là tất cả các giai đoạn của TTHS; khởi tố, điều tra tội phạm, truy tố bị can
và buộc tội bị cáo của VKS tại phiên tòa xét xử của Tòa án
Tác giả đồng tình với cách phân tích, quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người hoặc pháp nhân thương mại có hành vi phạm tội, quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự; phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi tiếp nhận giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra đến truy tố bị can ra Toà, tranh tụng tại phiên toà và kết thúc bằng một bản án có hiệu lực pháp luật (hoặc quyết định đình chỉ của Toà án) Trong hoạt động TTHS luôn tồn tại ba chức năng tố tụng cơ
Trang 17bản đó là chức năng buộc tội; chức năng gỡ tội và chức năng xét xử Buộc tội
là một chức năng tố tụng nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội Cơ quan thực hiện chức năng buộc tội có trách nhiệm và có quyền đưa ra lời cáo buộc cụ thể đối với cá nhân cụ thể và có nhiệm vụ đưa ra những tài liệu, chứng cứ cụ thể cho sự buộc tội đó Bởi các lý do sau:
Thứ nhất, quan điểm này phù hợp với quan điểm truyền thống nghiên
cứu lịch sử nhà nước và pháp luật về quyền công tố: “Quyền công tố là quyền của Nhà nước, nhân danh Nhà nước buộc tội đối với người có hành vi
vi phạm pháp luật hình sự”
Thứ hai, các quy định pháp luật của Nhà nước ta qua các thời kỳ khác
nhau về quyền công tố phù hợp với quan điểm này, cụ thể:
- Hiến pháp và pháp luật nước ta qua các thời kỳ đều khẳng định
“Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố…”[15, 16]
- Khi nói về vai trò, nhiệm vụ của VKSND, đồng chí Trường Chinh đã kết
luận: “Không có cơ quan nào có thể thay thế ngành Kiểm sát để sử dụng quyền
công tố Bắt, giam, điều tra, tha, truy tố, xét xử, có đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay không, đúng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước hay
không, điều đó chính là Viện kiểm sát phải trông nom, bảo đảm, làm tốt” [23]
- Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị nêu rõ:
“Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp” [7, tr 2]
- Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Điều 3 quy định:
“Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi
tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự” [29]
Trang 18- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 159, 161, 165, 236, 266 quy định: “Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm; trong việc khởi tố vụ án hình sự; trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự; trong giai đoạn truy tố; trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự” [30]
Như vậy, theo quy định của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
2014 và BLTTHS năm 2015 thì phạm vi quyền công tố xuất hiện từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật (hoặc khi có quyết định đình chỉ vụ án)
Qua các phân tích nêu trên, tác giả đi đến kết luận: Quyền công tố là
quyền truy cứu trách nhiệm hình sự thuộc về Nhà nước, cơ quan được nhà nước giao cho quyền này (ở nước ta là VKSND) thực hiện các hoạt động nhằm phát hiện tội phạm, truy tố người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa
Về nội dung quyền công tố vẫn có ý kiến còn nhầm lẫn với nội dung THQCT, đó là: Nội dung của quyền công tố được hiểu là tổng hợp các quyền năng pháp lý do luật định nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện và xử lý theo pháp luật, không để lọt người, lọt tội, không làm oan người vô tội [37, tr 85-87] Theo tác giả, nội dung của quyền công tố là sự buộc tội còn việc tiến hành những biện pháp gì do luật định và cơ quan nhà nước nào được giao nhiệm vụ thực hiện các biện pháp pháp lý ấy để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội lại là THQCT
- Thực hành quyền công tố
Cũng như khái niệm về “quyền công tố”, khái niệm “thực hành quyền
công tố” cũng như đặc điểm, phạm vi của nó còn ít được đề cập đến và chưa
rõ ràng
Trang 19“Thực hành” theo nghĩa tiếng Viê ̣t được hiểu là “làm để lý thuyết áp dụng vào thực tế” [50, tr 897] Như vâ ̣y, thực hành quyền công tố thực chất là hoạt động đưa những quy định của pháp luật về quyền công tố thuộc chức năng của VKS vào thực tế nhằm truy cứu trách nhiê ̣m hình sự người thực hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm
Xuất phát từ quan niệm quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước để phát hiện tội phạm , truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa, nên có quan điểm cho rằng “ Thực hành quyền công tố chính
là thực hiện các hành vi tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, đưa người phạm tội
ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó” [11]
Có thể đưa ra khái niệm về thực hành quyền công tố như sau : Thư ̣c hành quyền công tố là viê ̣c Viê ̣n kiểm sát /Viê ̣n công tố sử dụng các quyền năng pháp lý mà pháp luật quy đi ̣nh để đưa người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội ra truy tố và buộc tội trước Tòa án
BLTTHS năm 2015 đã xác lập nội dung THQCT kể từ khi xét phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ và các biện pháp hạn chế quyền công dân, quyền con người Thời điểm này chưa khởi tố vụ
án, khởi tố bị can, mới là giải quyết nguồn tin về tội phạm Đây chính là yêu cầu của pháp luật giao cho VKSND trong việc kiểm sát và xử lý tin báo tội phạm Bởi vì, bản chất việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp và việc phê chuẩn bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp chính là việc bắt và tạm giữ hình sự Việc vào cuộc sớm của công tố chính là sự khẳng định vai trò, vị trí của Viện kiểm sát trong việc phân loại, xử lý nguồn tin về tội phạm Nếu không phân loại,
xử lý đúng nguồn tin về tội phạm từ đầu thì dễ xảy ra oan, sai Có trường hợp hành vi không cấu thành tội phạm, có yếu tố dân sự nhưng lại bị tạm giữ hình sự
và ngược lại, hành vi có dấu hiệu tội phạm nhưng lại tiến hành xử lý hành chính
Trang 20- Kiểm sát điều tra
Kiểm sát điều tra có nguồn gốc từ thuật ngữ “Kiểm sát việc tuân theo
pháp luật” Tuy nhiên, kiểm sát việc tuân theo pháp luật có phạm vi rộng hơn.
Kiểm sát điều tra được hiểu là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước của VKSND theo luật định để kiểm tra, giám sát hoạt động của CQĐT và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (giai đoạn điều tra) cũng như toàn bộ các hoạt động khác xảy ra khi các cơ quan này điều tra
vụ án hình sự có đúng quy định của pháp luật không, nhằm đảm bảo pháp chế thống nhất, chống bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội
Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và pháp luật nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam thì Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố,
kiểm sát hoạt động tư pháp; góp phần bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con
người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất [16]
Theo khoản 3 Điều 41 của Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định:
“Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong phạm vi địa phương mình” [29]
Như vậy, VKSND cấp huyện có đầy đủ hai chức năng cùng với VKSND tối cao, VKSND cấp cao, VKSND cấp tỉnh và VKS quân sự các cấp
đó là thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
1.1.1.2 Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình
sự là hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Hoạt động công tố của VKS được thực hiện xuyên suốt quá trình khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử Trong giai đoạn điều tra, hoạt động công tố của
Trang 21VKS có ý nghĩa hết sức quan trọng, có tính chất quyết định việc buộc tội, gỡ tội, đảm bảo truy tố đúng người, đúng tội, không để xảy ra oan, sai, không để lọt tội phạm Trước yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và cải cách tư pháp hiện nay, hoạt động công tố của VKS càng phải được tăng cường, đổi mới mạnh mẽ hơn nữa
Trước khi tìm hiểu về khái niê ̣m , đă ̣c điểm, phạm vi của THQCT trong giai đoạn điều tra các vu ̣ án hình sự , chúng ta cần phải xác định được khái niê ̣m và phạm vi của giai đoạn điều tra các vụ án hình sự
Giai đoạn điều tra vụ án hình sự là một trong các giai đoạn TTHS trong
đó CQĐT căn cứ vào các quy định của pháp luật TTHS tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập chứng cứ, chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội, xác định thiệt hại do tội phạm gây ra, nghiên cứu các tình tiết của vụ án hình sự, nhằm phát hiện nhanh chóng, kịp thời và đầy
đủ tội phạm, cũng như người hoặc pháp nhân thương mại có lỗi trong việc thực hiện tội phạm, tạo điều kiện cần thiết giải quyết đúng đắn vụ án
Giai đoạn điều tra vụ án hình sự được xác định thời điểm bắt đầu khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT hoặc cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và kết thúc khi có một trong các quyết định tố tụng đánh dấu kết thúc giai đoạn này như: Kết luận điều tra đề nghị truy
tố hoặc kết luận điều tra đình chỉ vụ án Tuy nhiên, có một số hoạt động điều tra được tiến hành trước khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự, do có những yêu cầu cấp bách, cần thiết như: Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, giám định pháp y, định giá tài sản Do đó, đây cũng chính là một số hoạt động điều tra trong TTHS
Nhiệm vụ của giai đoạn điều tra là rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, bởi kết quả của hoạt động điều tra là căn cứ cho hoạt động truy tố, trong hoạt động xét xử của Tòa án, mọi quyết định của Tòa án về sự việc
Trang 22phạm tội và người hoặc pháp nhân thương mại thực hiện tội phạm đều phải dựa trên cơ sở các chứng cứ đã thu thập được ở giai đoạn điều tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa Trong giai đoạn điều tra, CQĐT và cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để chứng minh tội phạm và người hoặc pháp nhân thương mại thực hiện tội phạm, các tình tiết khác có liên quan đến vụ án, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội để kiến nghị với các cấp, các ngành thực hiện biện pháp phòng ngừa tội phạm Tất cả các hoạt động tố tụng được thực hiện bởi chủ thể của giai đoạn điều tra đều phải tuân theo đúng các quy định của BLTTHS, góp phần giải quyết vụ án hình sự được nhanh chóng, khách quan và đúng pháp luật
Như vậy, giai đoạn điều tra vụ án hình sự được hiểu là một trong các giai đoạn của TTHS được bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự cho đến khi CQĐT hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc kết luận điều tra đình chỉ
vụ án Trong đó CQĐT và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được sử dụng các biện pháp do BLTTHS quy định để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội và những vấn đề khác có liên quan đến vụ án làm cơ sở cho việc truy tố tội pha ̣m của VKS ra trước Tòa án Đồng thời thông qua hoạt động điều tra xác định nguyên nhân điều kiện phạm tội đối với từng vụ án cụ thể và kiến nghị các biện pháp phòng ngừa với các cơ quan và tổ chức hữu quan [3, tr.102]
Mục đích của hoạt động THQCT trong hoạt động điều tra là để chứng minh tội phạm, người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội, đảm bảo mọi hành
vi phạm tội đều phải được phát hiện, xử lý kịp thời, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, không làm oan pháp nhân thương mại vô tội
Trang 23Xuất phát từ khái niê ̣m thực hành quyền công tố đã được phân tích ở trên và khái niệm giai đoạn điều tra vụ án hình sự, tác giả đưa ra khá i niê ̣m
THQCT trong giai đoa ̣n điều tra như sau: Thực hành quyền công tố trong giai
đoạn điều tra là việc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để xem xét quyết định truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội , được thực hiện từ khi khởi tố vụ án đến khi kết thúc điều tra , đề nghị truy tố hoặc đến khi kết thúc điều tra, đình chỉ điều tra
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra có những đặc điểm cơ bản sau:
Một là, trong khi hoạt động điều tra có nhiệm vụ chứng minh toàn bộ
sự việc phạm tội một cách khách quan, toàn diện, cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội thì hoạt động công tố nhằm thực thi quyền truy cứu trách nhiệm hình sự, quyết định việc buộc tội , việc gỡ tội ; quyết định hạn chế các quyền con người như bắt , tạm giữ , tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác; kết luâ ̣n điều tra , đề nghị truy tố hoă ̣c đình chỉ điều tra THQCT trong giai đoa ̣n điều tra luôn phải gắn liền với nhiê ̣m vu ̣ của giai đoa ̣n điều tra và thể hiê ̣n rõ ở nhiê ̣m vu ̣, quyền ha ̣n của VKS trong TTHS Đó là viê ̣c phát hiê ̣n ki ̣p thời, nhanh chóng tô ̣i pha ̣m , thu thâ ̣p chứng cứ chứng minh tô ̣i pha ̣m , người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội
Hai là, THQCT bao gồm hành vi và các quyết định tố tụng mang tính
công khai theo trình tự, thủ tục, thẩm quyền tố tụng do pháp luật quy định Các quyết định trong THQCT thể hiện dưới dạng văn bản của người có thẩm quyền như: Quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án; Quyết định không khởi tố vụ
án của CQĐT; Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; Quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can Các quyết định tố tụng của VKS đều được gửi cho người có liên quan theo quy định của pháp luật
Trang 24Ba là, hoạt động công tố là nhân danh quyền buộc tội Nhà nước, chịu
sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Viện trưởng VKSND tối cao VKS cấp trên có quyền rút, hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của VKS cấp dưới và yêu cầu ra quyết định đúng pháp luật Điều này khác với tổ chức hoạt động điều tra, CQĐT cấp trên không có quyền rút, hủy bỏ các quyết định tố tụng của CQĐT cấp dưới
Bốn là, THQCT có đặc điểm khác với hoạt động kiểm sát điều tra Tuy
cùng một chủ thể tiến hành là VKS nhưng THQCT chủ yếu nhằm vào việc buộc tội, yêu cầu bắt, giam giữ và áp dụng các biện pháp cưỡng chế khác đối với người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội, còn hoạt động kiểm sát điều tra hướng đến sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra; nếu phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, VKS có quyền kiến nghị, yêu cầu các chủ thể chấm dứt vi phạm, khôi phục lại trật tự pháp luật bị vi phạm
Năm là, mục đích của hoạt động THQCT tuy vẫn phải xem xét, đánh
giá cả những chứng cứ gỡ tội đối với người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội nhưng thực hiện quyền buộc tội vẫn là chủ yếu Mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện, xử lý kịp thời, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
Như vậy, phạm vi hoạt động THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự của VKS bắt đầu từ khi khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi CQĐT kết luâ ̣n điều tra , đề nghị truy tố hoặc khi có kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra
Đối tượng của hoạt động THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hính ự nói riêng cũng như đối tượng của hoạt động THQCT nói chung đó là tội phạm
và người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội
Nội dung của hoạt động THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
là việc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội
Trang 25dung quyền công tố để xem xét quyết định truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội
Kiểm sát điều tra là kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự
để phát hiện vi phạm trong hoạt động điều tra, kiến nghị, yêu cầu kịp thời khắc phục vi phạm, kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, chủ thể tiến hành hoạt động điều tra, đảm bảo việc điều tra được tuân thủ theo trình tự, thủ tục của pháp luật Làm tốt công tác kiểm sát điều tra sẽ hỗ trợ, tạo điều kiện cho hoạt động THQCT được phát huy
Như vậy, có thể rút ra khái niệm kiểm sát điều tra vụ án hình sự như
sau: Kiểm sát điều tra vụ án hình sự là hoạt động của VKS kiểm sát việc tuân
theo pháp luật của các chủ thể tiến hành hoạt động điều tra và các chủ thể khác tham gia quan hệ pháp luật TTHS phát sinh trong giai đoạn điều tra bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự cho đến khi CQĐT hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc kết luận điều tra đình chỉ vụ án, nhằm đảm bảo cho quá trình điều tra vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật
Kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có những đặc điểm và đặc trưng
cơ bản sau:
Thứ nhất, kiểm sát điều tra bắt đầu từ khi cơ quan tiến hành tố tụng ra
quyết định khởi tố vụ án hình sự cho đến khi CQĐT chuyển toàn bộ hồ sơ vụ
án và kết luận điều tra sang VKS đề nghị truy tố hoặc CQĐT ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án
Thứ hai, kiểm sát điều tra là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các
chủ thể tiến hành hoạt động điều tra và các chủ thể khác tham gia quan hệ pháp luật TTHS phát sinh trong giai đoạn điều tra Các tài liệu được các chủ thể tiến hành tố tụng thu thập phải theo đúng quy định của pháp luật mới được
sử dụng là những chứng cứ trong vụ án hình sự
Trang 26Thứ ba, chủ thể tiến hành kiểm sát điều tra là VKS, căn cứ vào quy
định của BLTTHS và các văn bản quy phạm pháp luật quy định về trình tự, thủ tục TTHS Được thực hiện thông qua các hình thức cơ bản như kiến nghị, yêu cầu
Phạm vi của hoạt động kiểm sát điều tra bắt đầu từ khi cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án hình sự cho đến khi CQĐT chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án và kết luận điều tra sang VKS đề nghị truy tố hoặc CQĐT
ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án
Đối tượng của hoạt động KSĐT là sự tuân thủ pháp luật của các chủ thể tiến hành hoạt động điều tra (về thẩm quyền, thời hạn, thủ tục, việc tiến hành các hoạt động điều tra cụ thể ) và các chủ thể khác tham gia quan hệ pháp luật TTHS phát sinh trong giai đoạn điều tra
Nội dung của hoạt động KSĐT vụ án hình sự là việc VKS sử dụng tất
cả các quyền năng pháp lý do luật định để phát hiện vi phạm của các chủ thể thuộc đối tượng bị kiểm sát, kịp thời yêu cầu chấm dứt hoặc có biện pháp xử
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra là hoạt động của VKSND trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự để chứng minh sự thật của vụ
án được khách quan, toàn diện và đầy đủ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội, nhằm
Trang 27bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không làm oan pháp nhân thương mại
vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội; không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật KSĐT để phát hiện vi phạm trong hoạt động điều tra, kiến nghị, yêu cầu kịp thời khắc phục vi phạm, kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, chủ thể tiến hành hoạt động điều tra, đảm bảo việc điều tra được tuân thủ theo trình tự, thủ tục của pháp luật, đảm bảo pháp chế thống nhất, chống bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội hoặc pháp nhân thương mại vô tội
Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng Việc xác định dấu hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đúng đắn sẽ tạo tiền đề cho các hoạt động tố tụng tiếp theo nhằm xác định sự thật
vụ án khách quan, toàn diện, đầy đủ Hành vi tố tụng, văn bản tố tụng trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự phải đảm bảo có căn cứ, tuân thủ đúng quy định của pháp luật về hình thức, thủ tục, thẩm quyền Hoạt động của VKS sẽ góp phần vào tính hợp pháp của hành vi và văn bản tố tụng hình sự Mục đích của việc thực hiện chức năng công tố là phát hiện tội phạm, người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội để xử lý theo quy định của pháp luật Khi kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, VKS có thể ban hành văn bản kiến nghị yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khắc phục vi phạm trong hoạt động khởi tố vụ án hình sự
Trong giai đoạn truy tố, VKS tiến hành nghiên cứu hồ sơ vụ án, tiếp tục kiểm tra, đánh giá chứng cứ do CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc do VKS trực tiếp thu thập được, chứng cứ do người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác cung cấp, kịp thời khắc
Trang 28phục những hạn chế, thiếu sót trong việc thu thập chứng cứ và giải quyết những vấn đề mới phát sinh, bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội Khi kiểm sát việc truy tố vụ án hình sự, VKS có thể ban hành văn bản kiến nghị yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật; tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật; kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng
Trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, VKS có trách nhiệm THQCT nhằm bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội, không làm oan người vô tội, pháp nhân thương mại vô tội VKS có trách nhiệm kiểm sát việc xét xử nhằm kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của Toà án,
cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động xét xử, bảo đảm việc xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật; nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi kiểm sát xét xử quy định tại Điều 267 BLTTHS
1.1.3 Căn cứ của việc quy định thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự
1.1.3.1 Chủ trương đường lối của Đảng về thực hành quyền công tố
và kiểm sát điều tra
Trong mọi giai đoạn cách mạng, cùng với việc đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, Đảng ta luôn chú trọng đến việc đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp trong đó có VKS Thời gian qua, công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng đã mang đến cho đất nước ta những cơ hội và điều kiện thuận lợi mới Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường với xu thế hội nhập cũng bộc lộ những mặt trái của nó với những ảnh hưởng tiêu cực không nhỏ, là mảnh đất tốt cho rất nhiều loại tội phạm phát triển với
Trang 29quy mô ngày càng lớn và tính chất ngày càng nguy hiểm, trong khi đó công tác quản lý nhà nước của ta còn nhiều yếu kém, trình độ dân trí còn thấp, ý thức chấp hành pháp luật của người dân còn chưa cao nên nhiệm vụ đặt ra cho các cơ quan tư pháp rất nặng nề Trong bối cảnh đó, với nhận thức về vai trò quan trọng của các cơ quan tư pháp, Đảng ta đã chủ trương cải cách tư pháp nhằm củng cố và tăng cường hiệu quả hoạt động của nền tư pháp nước nhà
Chủ trương đúng đắn đó thể hiện tại Chỉ thị 53-CT/TW ngày 21/3/2000 về
một số công việc cấp bách các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm
2000 Để ngành Kiểm sát thực hiện tốt hơn nữa chức năng công tố, giảm thiểu
oan, sai và bỏ lọt tội phạm trong TTHS; trong giai đoạn này, Đảng ta đã có nhiều văn bản chỉ đạo về chủ trương và định hướng hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung cũng như ngành Kiểm sát nói riêng Nghị quyết 08-
NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm
công tác tư pháp trong thời gian tới đã nêu rõ: “Viện kiểm sát các cấp thực
hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ
án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội ” [7] Nghị quyết 49-NQ/TW
ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Các chỉ thị,
nghị quyết này, nhất là Nghị quyết 08 nghị quyết đầu tiên của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp đã đánh giá một cách khách quan tình hình an ninh chính trị
và trật tự an toàn xã hội trong bối cảnh đổi mới của đất nước, xác định rõ vị trí và tầm quan trọng của công tác tư pháp trong giai đoạn hiện nay, đánh giá đúng mức các kết quả và những đóng góp của công tác tư pháp trong thời gian vừa qua Nhìn nhận một cách khách quan những vấn đề yếu kém tồn tại trong công tác tư pháp, xác định rõ nguyên nhân của các yếu kém tồn tại đó
và nêu rõ các quan điểm chỉ đạo nhằm khắc phục để tạo ra những bước
Trang 30chuyển biến mạnh mẽ trong công tác tư pháp; Nghị quyết đề ra các yêu cầu nhiệm vụ cụ thể của công tác tư pháp:
Nâng cao chất lượng hoạt động và đề cao trách nhiệm của các cơ quan
và cán bộ tư pháp: Nâng cao chất lượng của công tác điều tra, thực hiện tốt công tác tiếp nhận, xử lý tin báo, tố giác tội phạm, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can trong một
số loại tội VKS thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp; hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm đảm bảo không
bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội; tăng cường công tác kiểm sát việc bắt, giam, giữ, đảm bảo đúng pháp luật; Viện kiểm sát các cấp chịu trách nhiệm về những oan, sai trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam thuộc thẩm quyền phê chuẩn của mình…; nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa…; xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh…; tăng cường cán bộ lãnh đạo chủ chốt của các cơ quan tư pháp, chú trọng đề bạt những cán bộ có quan điểm chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, đã được đào tạo cơ bản và có kinh nghiệm trong thực tiễn công tác đảm nhiệm các chức vụ lãnh đạo các cơ quan tư pháp…; tăng cường đầu
tư cơ sở vật chất đảm bảo cho các cơ quan tư pháp có đủ điều kiện để hoàn thành nhiệm vụ, có chế độ chính sách hợp lý đối với cán bộ tư pháp… [7]
Tiếp tục tiến trình cải cách tư pháp, ngày 02/6/2005 Bộ Chính trị ban
hành Nghị quyết 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Đây là sự thể hiện cao độ quyết tâm của Đảng trong cải cách tư pháp Trên cơ
sở đánh giá đúng mức các kết quả đã đạt được của việc thực hiện Nghị quyết
08, Nghị quyết xác định: “Những kết quả đó mới là bước đầu và mới tập trung vào giải quyết những vấn đề bức xúc nhất” và nhận định: “Công tác tư pháp còn bộc lộ nhiều hạn chế Chính sách hình sự, chế định pháp luật dân sự
Trang 31và pháp luật về tố tụng tư pháp còn nhiều bất cấp, chậm được sửa đổi, bổ sung Tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động của các cơ quan tư pháp còn bất hợp lý Đội ngũ cán bộ tư pháp còn thiếu, trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của một số bộ phận cán bộ còn yếu…Vẫn còn tình trạng oan, sai trong điều tra, bắt, giam giữ, truy tố, xét xử Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc của cơ quan tư pháp còn thiếu thốn, lạc hậu…” [9, tr 3]
Đồng thời, Nghị quyết xác định: “Nhiệm vụ cải cách tư pháp đứng trước nhiều thách thức Tình hình tội phạm diễn biến phức tạp với tính chất và hậu quả ngày càng nghiêm trọng, các khiếu kiện hành chính, các tranh chấp…
có chiều hướng gia tăng về số lượng và phức tạp, đa dạng hơn Đòi hỏi của công dân và xã hội đối với các cơ quan tư pháp ngày càng cao; các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời phải là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm” [9, tr 4]
Nghị quyết nhấn mạnh các quan điểm cải cách tư pháp như tại Nghị quyết 08 và tiếp tục khẳng định mục tiêu và quyết tâm của Đảng cải cách tư pháp xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đề ra phương hướng của cải cách tư pháp và các nhiệm
vụ cải cách tư pháp: “Sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp phù hợp với mục tiêu của chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử
lý người phạm tội; giảm hình phạt tù, mở rộng hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm; hạn chế áp dụng hình phạt tử hình, giảm bớt khung hình phạt tối đa quá cao trong một số loại tội phạm; khắc phục tình trạng hình sự hóa quan hệ dân sự và bỏ lọt tội phạm, quy trách nhiệm và xử lý nghiêm khắc hơn đối với những tội phạm là người có chức vụ; xây dựng cơ chế
Trang 32phát huy sức mạnh của nhân dân, các tổ chức quần chúng trong phát hiện, phòng ngừa tham nhũng…; phân định và tăng quyền và trách nhiệm cho các Điều tra viên, các Kiểm sát viên và Thẩm phán; xác định rõ các căn cứ tạm giam, thu hẹp đối tượng có thẩm quyền quyết định việc áp dụng biện pháp tạm giam , Trướ c mắt , Viê ̣n kiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiê ̣n nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoa ̣t đô ̣ng tư pháp…tăng cường trách nhiê ̣m của công tố trong hoa ̣t đô ̣ng điều tra VKS các cấp thực hiện tốt chức năng công tố… Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi
tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm
và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng khi thi hành nhiệm vụ, …tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, … thực hiện cơ chế công
tố gắn với hoạt động điều tra” [9] Đặc biệt, lần đầu tiên trong Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã yêu cầu Viện kiểm sát “ bảo
đảm tốt hơn các điều kiện để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp tăng cường trách nhiệm công tố, gắn công tố với hoạt động điều tra ” [10] Đó là, những
chủ trương đường lối quan trọng của Đảng về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, là căn cứ để Nhà nước thể chế hoá các chủ trương và đường lối chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp trong hệ thống pháp luật Việt Nam, đưa những chủ trương đường lối đó vào hoạt động thực tiễn
1.1.3.2 Căn cứ quy định của Hiến pháp năm 2013
Thực hiện tinh thần của các chỉ thị, nghị quyết nêu trên, Hiến pháp năm
2013 với những nội dung phù hợp, thể chế hóa các chủ trương và đường lối chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp Hiến pháp năm 2013 ra đời là đạo luật cơ bản và quan trọng nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam Tất cả các ngành
Trang 33luật khác đều được hình thành và phát triển trên cơ sở những nguyên tắc của Hiến pháp
Hiến pháp năm 2013 quy định: Chế độ chính trị; quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; kinh tế; văn hoá; xã hội; quốc phòng; an ninh; cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, trong đó có cơ quan thực hành quyền công tố là VKSND, cụ thể:
“Điều 107: Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao
và các Viện kiểm sát khác do luật định Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Điều 108: Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, nhiệm kỳ của Viện trưởng các Viện kiểm sát khác và của Kiểm sát viên do luật định
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp, chịu trách nhiệm
và báo cáo công tác trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước Chế độ báo cáo công tác của Viện trưởng các Viện kiểm sát khác do luật định
Điều 109: Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; Viện trưởng các Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân” [16]
Trang 34Như vậy, Hiến pháp năm 2013 hiện hành đã quy định Viện kiểm sát có hai chức năng rất cụ thể là thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp
và có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo
vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Để đảm bảo cho VKS thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của mình; Hiến pháp quy định nguyên tắc hoạt động tập trung thống nhất; hệ thống cơ quan VKS gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các VKS khác do luật định, Viện trưởng VKSND cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng VKSND cấp trên; nhiệm kỳ của Viện trưởng VKSND tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội và chịu trách nhiệm, báo cáo công tác trước Quốc hội
1.1.3.3 Căn cứ quy định của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014
Trên cơ sở các nguyên tắc, nội dung cơ bản của Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức VKSND năm 2014 đã cụ thể hoá chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, hoạt động của VKSND Luật Tổ chức VKSND hiện hành có 06 chương, 101 điều Tại Điều 2 quy định chức năng, nhiệm vụ của VKSND: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm
vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” [29] Tại Điều 3 quy định chức năng thực hành quyền công tố của VKSND: “Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra,
Trang 35truy tố, xét xử vụ án hình sự” [29] Tại Điều 4 quy định chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND: “Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi
tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật” [29] Hệ thống VKSND gồm có VKSND tối cao; các VKSND cấp cao; các VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; các VKSND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; các VKS quân sự các cấp
Như vậy, Luật Tổ chức VKSND năm 2014 đánh dấu sự thay đổi lớn trong nhận thức và thực hiện chức năng THQCT khi là văn bản pháp lý đầu tiên chính thức đưa ra khái niệm thực hành quyền công tố, trong đó xác định rõ: Về nội dung, đó là hoạt động buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội; về phạm vi: Hoạt động THQCT được thực hiện từ giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và xuyên suốt trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, hoạt động THQCT chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự, vì gắn liền với đặc điểm là hoạt động buộc tội mang tính nhà nước đối với người phạm tội; về chủ thể thực hiện, chỉ có duy nhất cơ quan VKS các cấp mới là chủ thể của hoạt động THQCT Bên cạnh khái niệm về thực hành quyền công tố, Luật cũng đã liệt kê các nội dung THQCT của VKSND trong từng giai đoạn cụ thể khác nhau, căn cứ ban hành kháng nghị, kiến nghị và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát Cùng với đó là các quy định cụ thể nhằm thể chế hoá chủ trương: “Tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt
Trang 36động điều tra” của Đảng Với xu thế cải cách tư pháp, cải cách bộ máy nhà nước hiện nay, chức năng THQCT của VKSND ngày càng được coi trọng, nhằm xây dựng một nền công tố mạnh, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay
Thực hiện chiến lược cải cách tư pháp, trên cơ sở tình hình thực tế cơ cấu tổ chức các đơn vị trong ngành Kiểm sát, việc đổi mới tổ chức, hệ thống của Viện kiểm sát đã được điều chỉnh, xuất phát từ các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng về xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước nói chung và cải cách tư pháp nói riêng, nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và hội nhập quốc tế Quá trình đổi mới tổ chức, hệ thống của VKSND trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất Tiến hành đổi mới đồng bộ với cải cách lập pháp và cải cách hành chính, được đặt trong tổng thể và đồng bộ với việc cải cách bộ máy Nhà nước nói chung với việc đổi mới và kiện toàn các cơ quan bảo vệ pháp luật nói riêng, đồng thời nhằm nâng cao và đảm bảo tính độc lập của hoạt động tố tụng hình sự Là căn
cứ quan trọng để VKSND các cấp thực hiện tốt chức năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp
1.1.3.4 Căn cứ quy định phân định thẩm quyền tố tụng giữa Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện với Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
Theo Điều 163 BLTTHS, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện
có thẩm quyền điều tra vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chương
từ chương XIV đến chương XXIV của Bộ luật hình sự khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện, trừ các tội thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra VKSND tối cao và Cơ quan An ninh điều tra của Công an nhân dân (khoản 2 Điều 21 Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015)
Trang 37Theo Điều 239 BLTTHS, Viện kiểm sát cấp huyện THQCT và KSĐT thì VKS cấp huyện quyết định việc truy tố Viện kiểm sát cấp tỉnh THQCT và KSĐT thì VKS cấp tỉnh quyết định việc truy tố Thẩm quyền truy tố của VKS được xác định theo thẩm quyền xét xử của Toà án đối với vụ án Trường hợp tiếp nhận hồ sơ vụ án nhưng nhận thấy vụ án không thuộc thẩm quyền truy tố của mình, thì VKS phải ra ngay quyết định chuyển vụ án cho VKS có thẩm quyền Việc chuyển vụ án cho VKS ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do VKSND cấp tỉnh quyết định Đối với vụ án do VKS cấp trên THQCT và KSĐT nhưng thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án cấp dưới thì VKS cấp trên quyết định việc truy tố và phân công cho VKS cấp dưới THQCT
và kiểm sát xét xử
Theo khoản 1 Điều 268 BLTTHS: “Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa
án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm: Các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; các tội quy định tại các điều 123,
và tội phạm chiến tranh được quy định tại chương XXVI của Bộ luật hình sự;
Trang 38các tội được quy định tại các điều 123, 125, 126, 227, 277, 278, 279, 280,
282, 283, 284, 286, 287, 288, 337, 368, 369, 370, 371, 399 và 400 của Bộ luật hình sự; các tội phạm được thực hiện ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Đây là căn cứ quan trọng phân định rạch ròi thẩm quyền tố tụng giữa Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện với Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh tạo cơ
sở để VKSND cấp huyện thực hiện hoạt động THQCT và KSĐT đúng thẩm quyền, đảm bảo nguyên tắc xác định thẩm quyền điều tra vụ án hình sự, đúng quy định của pháp luật, không để xảy ra oan, sai và bỏ lọt tội phạm
1.1.3.5 Thực tiễn hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
Việc quy định VKSND cấp huyện có thẩm quyền THQCT và KSĐT đối với phần lớn những vụ án hình sự (về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng) xuất phát từ yêu cầu giải quyết kịp thời, hiệu quả các vụ án hình sự và căn cứ vào chất lượng của đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên trong giai đoạn hiện nay
Hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án hình sự góp phần phát hiện nhanh chóng, xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật các hành vi phạm tội, bảo đảm việc điều tra chất lượng, hiệu quả, là căn cứ quan trọng để truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm; bảo vệ quyền con người, quyền công dân góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
1.1.4 Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự
Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức VKSND năm 2014 và BLTTHS năm 2015 tiếp tục xác định VKSND có hai chức năng là THQCT, kiểm sát
Trang 39hoạt động tư pháp Đây là hai chức năng độc lập, nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau Mối quan hệ đó được thể hiện ở các phương diện sau:
Để thực hiện tốt quyền công tố thì phải bảo đảm việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn; phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định tố tụng khác của CQĐT được chính xác, đúng pháp luật, đòi hỏi phải kiểm tra chặt chẽ tính có căn cứ và tính hợp pháp của các biện pháp cưỡng chế TTHS mà CQĐT quyết định áp dụng, hoạt động kiểm tra này chính là thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động
tư pháp Trên cơ sở kết quả của hoạt động kiểm sát thấy rằng, quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế hình sự có căn cứ và hợp pháp thì VKS sẽ quyết định phê chuẩn để thi hành, ngược lại nếu xét thấy quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế về hình sự của CQĐT không có căn cứ và không hợp pháp, VKS sẽ quyết định không phê chuẩn hoặc quyết định huỷ bỏ quyết định
tố tụng trái pháp luật của CQĐT, đồng thời yêu cầu CQĐT chấm dứt ngay các hoạt động tố tụng Với việc thực hiện công tác kiểm sát hoạt động tư pháp sẽ làm tiền đề cho hoạt động THQCT được thực hiện một cách chính xác, nếu có sai sót, vi phạm trong việc thực hiện kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra sẽ kéo theo sự vi phạm pháp luật của hoạt động THQCT Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra khi hoạt động THQCT của VKS được thực hiện cũng sẽ làm tiền đề phát sinh hoạt động kiểm sát
Kiểm sát hoạt động tư pháp và THQCT trong lĩnh vực tư pháp hình sự luôn có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó hữu cơ và biện chứng với nhau, nhiệm
vụ của hoạt động này làm tiền đề cho nhiệm vụ của hoạt động kia và ngược lại, kết quả của hoạt động này là cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động kia
và ngược lại Mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp chỉ song song tồn tại trong phạm vi bắt đầu từ khi khởi tố
Trang 40vụ án hình sự cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị (hoặc khi có quyết định đình chỉ vụ án)
Trong hoạt động điều tra vụ án hình sự, THQCT là việc VKS thực hiện các biện pháp pháp luật và trực tiếp quyết định các vấn đề về tố tụng trong hoạt động điều tra nhằm mục đích chứng minh tội phạm và người phạm tội cũng như hành vi phạm tội của họ, kết thúc giai đoạn này hoặc là truy tố người phạm tội ra trước Toà án hoặc là đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật (khởi tố vụ án, khởi tố bị can; phê chuẩn, không phê chuẩn hoặc huỷ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của CQĐT; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn của CQĐT; quyết định truy tố
bị can hoặc đình chỉ vụ án, bị can…) Kiểm sát điều tra là việc VKS thực hiện các biện pháp nhằm bảo đảm các hoạt động điều tra được tiến hành một cách đúng đắn, đầy đủ, khách quan theo đúng trình tự, thủ tục, nội dung của pháp luật quy định, không trực tiếp ra quyết định, chỉ ra kiến nghị khi có vi phạm pháp luật tố tụng xảy ra hoặc kiến nghị yêu cầu khắc phục các nguyên nhân, điều kiện dẫn đến tội phạm Hai lĩnh vực này song song tồn tại từ khi khởi tố cho đến khi kết thúc việc điều tra và VKS ra quyết định truy tố, giữa chúng tuy độc lập về chức năng, nhưng có tác động qua lại lẫn nhau Nếu làm tốt nhiệm vụ THQCT sẽ hỗ trợ đắc lực cho KSĐT thực hiện vai trò của mình, như tạo điều kiện cho KSĐT tiếp cận các biện pháp điều tra nhằm duy trì pháp luật, phát hiện, khắc phục vi phạm pháp luật về tố tụng; làm tốt nhiệm
vụ KSĐT sẽ giúp cho công tác THQCT phát huy khả năng quyết định quá trình tố tụng, như bảo đảm việc khởi tố, yêu cầu khởi tố, quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, huỷ các quyết định trái pháp luật của CQĐT một cách có căn cứ, đúng pháp luật Như vậy, hoạt động THQCT
và KSĐT phải được tiến hành song song và hỗ trợ lẫn nhau nhằm không để bất kỳ người nào bị bắt giữ, khởi tố trái pháp luật, không để lọt tội và không